ĐẶT VẤN ĐỀ Tầm gửi còn gọi Chùm gửi, Tầm gởi, Chùm gởi là tên gọi chỉ các loài thực vật kí sinh hay bán kí sinh trên một hay một số loài cây khác nhau ở những vùng ôn đới, nhiệt đới thu
Trang 1ơn đến TS Phạm Văn Ngọt, ThS Nguyễn Hoàng Hạt người đã hết lòng chỉ dẫn tận tình, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong phòng thí nghiệm Di truyền – Thực vật và phòng thí nghiệm Vi sinh - Sinh hóa đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn cô Trần Thị Minh Định - phòng thí nghiệm Vi sinh - Sinh hóa, anh Hoàng Văn Tới đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường, các thầy cô trong Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có thể thực hiện khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn lớp sinh K33 đã động viên, giúp đỡ tôi trong học tập và hoàn thành khóa luận
Con xin tỏ lòng biết ơn tới bố mẹ và gia đình luôn là hậu phương vững chắc cho con trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2011
Sinh viên
Phạm Xuân Bằng
Trang 2MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN I MỤC LỤC II CÁC CHỮ VIẾT TẮT III DANH MỤC CÁC BẢNG IV DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ V
MỞ ĐẦU 9
I ĐẶT VẤN ĐỀ 9
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 10
III PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 10
IV NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 10
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12
1.1 Những nghiên cứu về họ Tầm gửi (Loranthaceae) 12
1.2 Những nghiên cứu về loài Tầm gửi năm nhị 16
1.2.1 Vị trí phân loại 16
1.2.2 Đặc điểm loài nghiên cứu 17
1.2.3 Sinh thái và phân bố 17
1.2.4 Giá trị 18
1.3 Những nghiên cứu về hình thái, sinh lý, sinh hoá của loài TGNN 18
1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới 18
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 19
1.4 Các cây chủ 20
Trang 31.4.1 Mít 20
1.4.2 Xoài 21
1.4.3 Dâu tằm 21
1.4.4 Sao đen 22
1.4.5 Tràm liễu 23
1.4.6 Bàng 24
1.4.7 Sứ 25
1.4.8 Sung 26
1.4.9 Xoan 27
1.4.10 Trứng cá 27
Chương 2 ĐỊA ĐIỂM THU MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Thời gian nghiên cứu và địa điểm thu mẫu 29
2.1.1 Thời gian nghiên cứu 29
2.1.2 Địa điểm thu mẫu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp thu mẫu 30
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu hình thái, giải phẫu lá 30
2.2.3 Phương pháp điều chế mẫu thử hoạt tính 31
2.2.4 Phương pháp thử hoạt tính kháng khuẩn của nước sắc 32
2.2.5 Phương pháp thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư của cao khô 35
2.2.6 Phương pháp xử lí số liệu 38
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 40
3.1 Hình thái và kích thước lá TGNN 40
3.1.1 Hình thái lá 40
Trang 43.1.2 Kích thước lá 45
3.2 Giải phẫu lá TGNN 46
3.3 Hoạt tính kháng khuẩn 52
3.4 Hoạt tính gây độc tế bào ung thư 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
I KẾT LUẬN 62
II KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Kí hiệu các mẫu cao Tầm gửi năm nhị 32
Bảng 3.1 Các chỉ số kích thước lá TGNN kí sinh trên 10 cây chủ 46
Bảng 3.2 Độ dày các lớp tế bào lá TGNN kí sinh trên 10 loại cây trồng (µm) 47
Bảng 3.3 Kết quả hoạt tính kháng khuẩn của các mẫu thử (n = 3) 53
Bảng 3.4 Kết quả thử nghiệm hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thư cổ tử cung Hela ở nồng độ 1000 µg/ml của các mẫu thử 57
Bảng 3.5 Kết quả thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào ung thư phổi NCI – H460 ở nồng độ 1000µg/ml của các mẫu thử 58
Bảng 3.6 Kết quả thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào ung thư phổi NCI – H460 ở nồng độ 100 µg/ml của các mẫu thử 59
Bảng 3.7 Kết quả thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào ung thư vú MCF – 7 ở nồng độ 1000 µg/ml của các mẫu thử 60
Bảng 3.8 Kết quả thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào ung thư vú MCF – 7 ở nồng độ 100µg/ml của các mẫu thử 61
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ Trang Hình 1.1 Sự phân bố của Tầm gửi trên thế giới 12
Hình 1.2 Cấu tạo hoá học của quercitrin và querceti 19
Trang 6Hình 1.3 Cấu trúc hợp chất MM1 19
Hình 1.4 Cấu trúc hợp chất MM2 19
Hình 1.5 TGNN kí sinh trên cây Mít 20
Hình 1.6 TGNN kí sinh trên cây Xoài 21
Hình 1.7 TGNN kí sinh trên cây Dâu tằm 22
Hình 1.8 TGNN kí sinh trên cây Sao đen 23
Hình 1.9 TGNN kí sinh trên cây Tràm Liễu 24
Hình 1.10 TGNN kí sinh trên cây Bàng 25
Hình 1.12 TGNN kí sinh trên cây Sứ 25
Hình 1.11 TGNN kí sinh trên cây Sung 26
Hình 1.13 TGNN kí sinh trên cây Xoan 27
Hình 1.14 TGNN kí sinh trên cây Trứng cá 28
Hình 2.1 Bản đồ tự nhiên Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh 29
Hình 2.2 Vị trí thu hái lá trên cành 31
Hình 2.3 Vị trí đo kích thước (A) và cắt giải phẫu lá (B) 31
Hình 2.4 Vị trí đục lỗ thạch và vòng vô khuẩn 34
Hình 3.1 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Mít 40
Hình 3.2 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Dâu tằm 41
Hình 3.3 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Xoài 41
Hình 3.4 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Sao đen 42
Hình 3.5 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Tràm liễu 42
Hình 3.6 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Bàng 43
Hình 3.7 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Sứ 43
Hình 3.8 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Sung 44
Trang 7Hình 3.9 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Xoan 44
Hình 3.10 Các kiểu lá TGNN kí sinh trên cây Trứng cá 45
Hình 3.11 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Mít (x 100) 48
Hình 3.12 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Dâu tằm (x 100) 48
Hình 3.13 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Xoài (x 100) 49
Hình 3.14 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Sao đen (x 100) 49
Hình 3.15 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Tràm liễu (x 100) 49
Hình 3.16 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Bàng (x 100) 50
Hình 3.17 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Sứ (x 100) 50
Hình 3.18 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Sung (x 100) 50
Hình 3.19 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Xoan (x 100) 51
Hình 3.20 Cấu tạo giải phẫu lá TGNN kí sinh trên cây Trứng cá (x 100) 51
Hình 3.21 Kết quả hoạt tính kháng Bacillus subtilis của các mẫu thử (26/12/2010)
54
Hình 3.22 Kết quả hoạt tính kháng Staphylococcus aureus của các mẫu thử (26/12/2010) 55
Hình 3.23 Kết quả hoạt tính kháng Pseudomonas aeruginosa của các mẫu thử (25/01/2011) 56
Hình 3.24 Kết quả hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thƣ cổ tử cung Hela sau 48 giờ cảm ứng mẫu thử (10/03/2011) 57
Hình 3.25 Kết quả hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thƣ phổi: NCI – H460 sau 48 giờ cảm ứng mẫu thử ở nồng độ 1000µg/ml (19/03/2011) 58
Hình 3.26 Kết quả hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thƣ phổi: NCI – H460 sau 48 giờ cảm ứng mẫu thử ở nồng độ 100 µg/ml (07/04/2011) 59
Trang 8Hình 3.27 Kết quả hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thƣ vú: MCF – 7 sau 48 giờ cảm ứng mẫu thử ở nồng độ 1000 µg/ml (19/03/2011) 60Hình 3.28 Kết quả hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thƣ vú: MCF – 7 sau 48 giờ cảm ứng mẫu thử ở nồng độ 100µg/ml (07/04/2011) 61 Biểu đồ 3.1 So sánh sự khác nhau về độ dày trung bình của lá TGNN ký sinh trên các loài cây chủ khác nhau 51
Trang 9MỞ ĐẦU
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tầm gửi (còn gọi Chùm gửi, Tầm gởi, Chùm gởi) là tên gọi chỉ các loài thực vật kí sinh hay bán kí sinh trên một hay một số loài cây khác nhau ở những vùng ôn đới, nhiệt đới thuộc họ Tầm gửi (Loranthaceae) [5] Có ý kiến cho rằng, Tầm gửi là loài sống bám và là loài không mong muốn trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên,
từ nhiều thế kỷ trước, Tầm gửi đã được dùng để chữa tai biến mạch máu, đau đầu
và một số bệnh khác Ngoài ra, Tầm gửi còn được sử dụng rộng rãi ở châu Âu để trị bệnh ung thư [6][21]
Mới đây trên báo Tuổi trẻ có bài viết “Hái tiền … trên cây Gạo” (Thứ Tư, 13/04/2011, 14:04 (GMT+7), viết về những nông dân ở xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ bỗng dưng kiếm được hàng trăm triệu đồng nhờ bán một loại tầm gửi mọc trên thân cây Gạo được cho là để chữa bệnh Bài báo cũng dẫn lời Bác sĩ Trần Xuân
Trường, chuyên khoa y học dân tộc Trạm y tế Gia Cẩm, Việt Trì, Phú Thọ: “Theo nhiều sách về y học dân gian, một số loại cây Tầm gửi có tính mát và có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, thường được sử dụng như một vị thuốc nam Người dân thường dùng trong các trường hợp bị cao huyết áp, lở ngứa và các bệnh hậu sản của phụ nữ” Đến nay vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào về loài Tầm gửi này Một số loài Tầm gửi như loài Tang kí sinh (Loranthus parasiticus (L.) Merr.)
kí sinh trên cây Dâu tằm (Morus alba (L.)) đã được dùng làm thuốc từ xa xưa với
cái tên “Cây thần kỳ” Trong thần thoại cổ của dân tộc Đức người ta gọi Tầm gửi là
“Cành chữa bệnh” Ở châu Âu đã dùng liềm bằng vàng để cắt Tầm gửi chế tạo
“Nước uống thần kỳ” Đầu thế kỷ 20, bác sĩ người Pháp Rone Gothiê nhận thấy nước ép lá Tầm gửi có tác dụng chữa bệnh tim mạch (giai đoạn đầu) Năm 1920 nhà triết học Đức, Ruđônphơ Stâyne đã đề nghị dùng nước ép Tầm gửi để chữa bệnh ung thư nhưng chưa được công nhận Hiện nay, Tang kí sinh mới chỉ được dùng làm nguyên liệu cho các chế phẩm của công ty Bảo Long và các phòng mạch của công ty Trong đó, Trà Takysi BL là một mặt hàng mới đang ở thời gian thử nghiệm Tổng giám đốc công ty Đông dược Bảo Long - Nguyễn Hữu Khai đã làm
Trang 10chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu phát triển nguồn cung cấp chủ động Tang kí sinh thật” và loài này đã được công ty trồng ở Hà Tây để cung cấp nguồn nguyên liệu
cho công ty [35]
Đối với loài Tầm gửi năm nhị (TGNN) (Dendrophthoe pentandra (L.) Miq.)
trong dân gian thường dùng lá phối hợp với lá chè nấu nước uống trị ho Ở Ấn Độ, người ta dùng lá giã đắp trị chỗ đau và loét [32] Ở Java thuộc Indonesia người ta còn sử dụng TGNN để trị bệnh ung thư [29] Vì vậy, đề tài của chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm hình thái giải phẫu lá, hoạt tính kháng khuẩn và kháng
ung thư của loài TGNN (Dendrophthoe pentandra (L.) Miq.) kí sinh trên một số
loài cây chủ khác nhau
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Tìm hiểu một số đặc điểm hình thái giải phẫu lá, khả năng kháng khuẩn,
kháng ung thư của loài TGNN (Dendrophthoe pentandra (L.) Miq.) nhằm cung cấp
những dẫn liệu về loài này cho những nghiên cứu tiếp theo
III PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về hình thái, giải phẫu lá của loài TGNN kí sinh ở 10 loài cây chủ
khác nhau ở Quận Thủ Đức TP HCM: Mít (Artocarpus heterophyllus Lamk.), Xoài (Mangifera indica L.), Dâu tằm (Morus alba L.), Sao (Hopea odorata Roxb.), Tràm liễu (Callistemon citrinus (Curtis) Skeels.), Bàng (Terminalia catappa L.), Sứ (Plumeria rubra L.), Sung (Ficus racemosa L.), Xoan (Melia azedarach L.), Trứng
cá (Muntingia calabura L.)
Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên đề tài bước đầu tiến hành thử hoạt tính kháng khuẩn và kháng ung thư của loài TGNN kí sinh trên vài cây chủ
IV NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu hình thái, giải phẫu lá loài TGNN kí sinh ở 10 loài cây chủ
- Thử hoạt tính kháng khuẩn trên nước sắc li trích từ loài TGNN kí sinh ở 10 loài cây chủ: Mít, Xoài, Dâu tằm, Sao đen, Tràm Liễu, Bàng, Sứ, Sung, Xoan, Trứng cá
Trang 11- Thử hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thƣ cổ tử cung trên năm mẫu cao khô
li trích từ TGNN kí sinh ở 05 loài cây chủ Mít, Xoài, Dâu tằm, Sao đen, Tràm Liễu
- Thử hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thƣ phổi và tế bào ung thƣ vú trên ba mẫu cao khô li trích từ TGNN kí sinh trên 03loài cây chủ Mít, Xoài, Dâu tằm
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những nghiên cứu về họ Tầm gửi (Loranthaceae)
Họ Tầm gửi (Loranthaceae) là một trong những họ thực vật hạt kín lớn nhất,
có khoàng 70 chi với 950 loài, sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới Tầm gửi được biết đến rộng rãi ở Braxin với cái tên ''Erva - de passarinho '' do sự phụ thuộc của chúng vào sự phát tán của chim Chỉ có một loài biết đến được phát tán bằng một nhóm khác, thú có túi (Amico và Aizen, 2000 ) Ở Việt Nam, họ này có 5 chi đó là:
Dendrophthoe, Elytranthe, Helixanthera, Macrosolen, Taxillus với 35 loài [1]
Từ Mistletoe (cây Tầm gửi) bắt nguồn từ thực tế rằng loài cây này thường xuất hiện ở những nơi chim muông để lại chất thải của mình Theo tiếng Anglo - Saxon, mistel có nghĩa là phân và toe có nghĩa là cành cây Vì vậy tên thông thường của nó
có nghĩa là “phân trên cành cây” Tên khoa học của tầm gửi trong tiếng Hy Lạp, phoradendron có nghĩa là “ kẻ trộm trên cành cây” Hạt của Tầm gửi được phát tán qua mỏ, chân và cơ quan tiêu hoá của loài chim Đó là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi: Nhiều loài chim sử dụng Tầm gửi để làm tổ [33]
Hình 1.1 Sự phân bố của Tầm gửi trên thế giới
(Nguồn: http://www.parasiticplants.siu.edu/Loranthaceae/index.html )
Trang 13Họ Tầm gửi gồm những loài cây sống bán kí sinh trên các nhánh, cành non hoặc rễ của các loài cây khác ở vùng nhiệt đới hoặc những nơi có khí hậu ôn hòa (Calder và Bernhardt, 1983; Norton và Carpenter, 1998; Overton, 1994)
Cấu trúc xâm nhập vào gỗ cây chủ của các loài trong họ Tầm gửi được gọi là giác mút hay rễ mút Rễ mút hút nước và chất khoáng của cây chủ (Venturelli, (1981), Venturelli và Kraus (1989), Sargent (1995), Calvin and Wilson (2006); similarly in related Viscaceae: Zuber, 2004) để cung cấp chất dinh dưỡng cho Tầm gửi Năm 1998, Calvin và Wilson đã phân biệt rễ mút ở Tầm gửi thành 4 kiểu và đã được công nhận rộng rãi đó là:
+ Kiểu 1: rễ Tầm gửi ở phía ngoài vỏ cành cây chủ, mọc dọc theo bề mặt của cành và có rễ mút đâm vào libe của cây chủ để lấy chất dinh dưỡng
+ Kiểu 2: nơi rễ mút đâm vào cây chủ phồng lớn gồm mô của rễ mút là chủ yếu và một phần mô của cây chủ
+ Kiểu 3: nơi rễ mút đâm vào cây chủ phồng lớn gồm mô của cây chủ là chủ yếu và một phần mô của rễ mút
+ Kiểu 4: rễ cây kí sinh đâm vào vỏ cây chủ, lan truyền trong vỏ và đi đến vùng gỗ của cây chủ để hút chất dinh dưỡng [19]
Hệ thống rễ mút của một số loài trong họ Tầm gửi đã được nghiên cứu và mô
tả Qua nghiên cứu của Blakely (1922), Calvin và Wilson (1998), Hamilton và Barlow (1963), Kuijt (1969) đã chỉ ra rằng có một sự thay đổi đáng kể về rễ mút của các loài Tầm gửi Hình thái rễ mút không chỉ biến đổi từ lúc non đến khi trưởng thành mà còn thay đổi với loài cây chủ cũng như tuổi của cây (Thoday, 1961), (Bhojwani và Johri, 1977) Có thể, các loài cây chủ góp phần hình thành một phần hoặc toàn bộ về sự phát triển của rễ mút (Docters Van Leeuwen, 1954) [20]
Một số loài của họ Tầm gửi có sự tiêu giảm cơ quan sinh dưỡng và chỉ xuất hiện rễ mút xâm nhập vào libe cây chủ (Martı´nez del Rio et al., 1995, 1996; Mauseth et al., 1984, 1985; Medel et al., 2002; Silva and Martı´nez del Rio, 1996) [23]
Trang 14Tầm gửi lấy được dinh dưỡng đáng kể bằng cách kết nối tới libe của cây chủ, nhưng phần lớn chúng lấy chất dinh dưỡng bằng cách xâm nhập vào mô gỗ của cây chủ Marshall và Ehleringer (1990) cho rằng Tầm gửi có thể có được một phần đáng
kể nhu cầu về carbon trực tiếp từ gỗ cây chủ Điều này được đưa ra để ước lượng tỷ
lệ đạt được carbon dị dưỡng của Tầm gửi (ví dụ, Richter et al., 1995) Raven (1983) cho rằng Tầm gửi nhận được nitơ chủ yếu thông qua các hợp chất chứa nitơ hữu cơ
từ nhựa gỗ của cây chủ [26]
Dù Tầm gửi có khả năng quang hợp nhưng sự có mặt của chúng cũng gây nguy hại cho cây chủ, ảnh hưởng tới chất và lượng của quả cây chủ và có thể làm chết cả cây chủ (Reid et al., 1994; Silva and Martı´nez del Rio, 1996; Sinha and Bawa, 2002; Venturelli, 1981) Do đó Tầm gửi bị coi là kẻ phá hoại cho hệ thống nông nghiệp thế giới (Norton and Carpenter, 1998; Norton and Reid, 1997) [23]
Sự tác động của Tầm gửi trên loài hoang dại ít được quan tâm (Silva và Martı'nez del Rio, 1996) Ngoài ra, một vài loài Tầm gửi có thể được coi là loài
“quan trọng” (Sensu Watson, 2001) cho động vật hút mật hoa (chim) và ăn quả của chúng (Aukema, 2003) [23]
Việc phân bố Tầm gửi trên cây chủ có thể được xác định bởi đặc trưng của cây chủ, khoảng cách giữa các cây chủ, điều kiện môi trường (Garcı'a-Franco và RicoGray, 1996), cấu trúc cây chủ (Martı'nez del Rio et al., 1995; Monteiro et al, 1992; Sargent, 1995), phương thức dinh dưỡng (Davidar, 1983; Martı'nez del Rioet
al, 1996; Monteiro et al, 1992; Murphy et al, năm 1993; Reid, 1989) Một số loài Tầm gửi chỉ kí sinh trên một vài loài cây chủ khác nhau, trong khi nhiều loài sống
kí sinh trên nhiều cây chủ (Lo'pez de Buen và Ornelas, 2002; Norton và Carpenter, Năm 1998, Norton và De Lange, 1999) Kích thước và đường kính của các cành, nhánh cây chủ có thể tác động mạnh đến sự bám của Tầm gửi vào cây chủ (Lo'pez
de Buen và Ornelas, 2002; Reid, 1989; Sargent, 1995; Yan và Reid, 1995) Lamont (1983) cho rằng sự nảy mầm của hạt Tầm gửi ít chịu ảnh hưởng của chất nền, ví dụ như vỏ cây chủ ít ảnh hưởng so với điều kiện nước, oxy, nhiệt độ và ánh sáng [22]
Trang 15Các nhà khoa học thuộc Đại học Charite (Đức) cho biết chất chiết xuất từ một
loài Tầm gửi (Loranthus), có khả năng kích hoạt một số tế bào miễn dịch tấn công
virut viêm gan C và có khả năng lọc sạch các tế bào bệnh, làm cho gan bệnh nhân sớm phục hồi Cây Tầm gửi kí sinh trên cây Dâu (Tang kí sinh): có tác dụng trị các chứng đau nhức xương cốt, lợi sữa, an thai Để trị chứng phong thấp thường phối hợp với các vị thuốc khác (trong bài thuốc độc hoạt Tang kí sinh) [26]
Từ nhiều thế kỷ trước Tầm gửi được dùng để chữa tai biến mạch máu, đau đầu
và một số bệnh khác Ngoài ra, Tầm gửi được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu để chữa bệnh ung thư [6]
Cách dùng Tầm gửi phổ biến là: lá non, trái (chiết xuất) có thể ăn trực tiếp, dùng làm thuốc chích ở Châu Âu Tầm gửi còn có khả năng gây độc tính tế bào ung thư và tăng cường hệ thống miễn dịch [15]
Trong Y học cổ truyền loài Tầm gửi Mộc vệ Trung Quốc - Taxillus chinensis
(DC.) Danser thường được dùng trị phong thấp, tê bại, lưng gối mỏi đau, gân xương nhức mỏi, thai động không yên, đau bụng huyết áp cao Liều dùng 12-20g sắc uống
ở Quảng Tây, Trung Quốc, toàn cây dùng trị phế nhiệt sinh ho, phong thấp tê đau,
lá dùng trị đòn ngã tổn thương [Võ Văn Chi - Từ điển cây thuốc (1999): tr 1100]
Mộc vệ Trung Quốc biểu hiện tác dụng ức chế sự tổng hợp axit béo và làm giảm trọng lượng ở chuột thông qua một thí nghiệm sàng lọc được các nhà khoa học Trung Quốc tiến hành Dựa trên cơ sở này, năm 2006, Wang Y và cộng sự đã xác định các đặc tính ức chế và thông số động lực học của tác dụng này ở Tầm gửi Kết quả thí nghiệm cho thấy dịch chiết Tầm gửi ức chế sự tổng hợp axit béo thuận
nghịch và không thuận nghịch với giá trị IC50 là 0,48µg/ml, với giá trị này Taxillus chinensis (DC.) Danser được xem là cây thuốc có khả năng ức chế sự tổng hợp axit
béo tiềm năng nhất đã được báo cáo từ trước tới nay [34]
Loài Tầm gửi Tang kí sinh (Loranthus parasiticus (L.) Merr.) kí sinh trên cây
Dâu đã được tác giả Đỗ Huy Bích và các cộng sự nghiên cứu và cho biết: “Tầm gửi
kí sinh trên cây Dâu có vị đắng, tính bình, có tác dụng mạnh gân cốt, lợi huyết
mạch, an thai, xuống sữa” Bên cạnh đó, trong báo cáo “ Nghiên cứu tác dụng của
Trang 16viên nén độc hoạt Tang kí sinh trên bệnh nhân thoái hóa khớp gối” của bác sỹ Đỗ
Tấn Khoa, Bệnh viện Y học cổ truyền TP Hồ Chí Minh, dùng bài thuốc cổ Độc hoạt Tang kí sinh dạng viên nén có tác dụng giảm đau và cải thiện chức năng vận động khớp, khảo sát trên 63 bệnh nhân, 11 nam, 52 nữ, trong đó 81,39% giảm đau; 91,9% cải thiện vận động khớp gối [37]
Gần đây có những phát hiện mới về dược tính của Tang kí sinh trong quá trình điều trị của một số thầy thuốc đông y: Bệnh nhân bị cao huyết áp sau điều trị huyết
áp trở lại bình thường Bệnh nhân kèm chứng đường huyết cao, sau điều trị đường huyết giảm rõ rệt Bệnh nhân kèm chứng co thắt mạch vành thường có cơn đau thắt ngực như dùi đâm, sau điều trị triệu chứng đau mất hẳn Bệnh nhân kèm chứng chức năng thận suy yếu, sau điều trị chức năng thận trở lại bình thường Tầm gửi trên cây bưởi được dùng chữa các bệnh khớp, ăn uống khó tiêu [38]
Loài Tầm gửi Mộc kí cong (Dendrophthoe falcata (L.f.) Dans.) thường tìm
thấy ở Thủ Đức TP, Hồ Chi Minh, cây được sử dụng trong dân gian để điều trị bệnh lao, mụn nhọt, hen suyễn, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn tâm thần, ngăn ngừa sỏi thận, bệnh về bàng quang, xuất huyết, trừ giun sán, lọc máu, bệnh về da và vết thương [24]
Tầm gửi là vị thuốc nam rất tốt cho sức khoẻ được lưu truyền trong dân gian, Mỗi loài Tầm gửi đều có công dụng riêng như: Tầm gửi cây Na, cây Mít chữa sốt rét; Tầm gửi cây Xoan chữa kiết lỵ, táo bón; Tầm gửi cây Chanh chữa ho Cách dùng các loại Tầm gửi đều giống nhau, cành và lá đều được cắt thang, đem phơi nắng già hoặc sao khô, rồi đun nước uống Tầm gửi cây Gạo có mặt trong rất nhiều các bài thuốc nam, thuốc bắc Công dụng: mát gan, giải độc cho người bị thận (viêm cầu thận); chữa sỏi thận, phù thận, chức năng gan yếu; tăng thể lực cho người mệt mỏi, gây thèm ăn, dễ ngủ, tiêu phù Cách dùng: đun, sắc uống hằng ngày [38]
1.2 Những nghiên cứu về loài Tầm gửi năm nhị
1.2.1 Vị trí phân loại
NGÀNH: Ngọc lan – Magnoliophyta
LỚP: Ngọc lan - Magnoliopsida (Brongniart, 1843 – Dicotyledons)
Trang 17PHÂN LỚP: Hoa hồng - Rosidae (Takhtajan, 1967 )
BỘ: Đàm hương - Santalales (Dumortier, 1829)
HỌ: Tầm gửi- Loranthaceae (A.l De Jussieu, 1808)
Chi: Dendrophthoe (Martius, Flora 13: 109 1830.)
Loài: Dendrophthoe pentandra (L.) Miq [4], [21]
- Các tên đồng nghĩa:
Dendrophthoe farinosus Mart., Dendrophthoe leucobotrya Miq.,
Dendrophthoe venosus Mart., Elytranthe farinosa & rigida G Don., Loranthus crassus Hook f., Loranthus farinaceous Griff., Loranthus flavus Bl., Loranthus pentandrus L., Loranthus shawianus Elm., Loranthus venosus Bl., Loranthus zimmermanni Warb., Meiena axillaris Rafin., Scurrula pentandra G Don [26]
- Tên bản xứ:
Kemlandean, Mangandeuh, Pasilan (Indonesia.) [26]
Ka fak ma muang (Thailand.) [26]
Tầm gửi năm nhị, Mộc kí ngũ hùng (Việt Nam) [4]
1.2.2 Đặc điểm loài nghiên cứu
TGNN còn được gọi là Mộc kí ngũ hùng là cây bán kí sinh có nhánh to, hình trụ, xù xì Lá mọc so le, có khi gần như đối; phiến đa dạng, chóp tù hay nhọn, gốc
tù, không lông, dày như da, dài 5-9cm, rộng 3-6cm Hoa xếp thành chùm, đơn độc hoặc từng đôi ở nách lá; lá bắc 1, nhỏ; cánh hoa 5, đính thành ống hơi phình, phía trong đỏ Quả xoan tròn, cao đến 1cm, bao bởi các thùy của đài [4], [32]
1.2.3 Sinh thái và phân bố
Cây mọc thông thường ở đồng bằng trung du cho tới rừng ngập mặn ven biển,
từ Hà Tây tới Khánh Hoà, Lâm Ðồng, Ninh Thuận, Tây Ninh, Ðồng Nai, thành phố
Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang Thường gặp kí sinh trên nhiều cây hoang dại đến cây trồng như cây Tràm, Giá, Bàng, Còng, Mít, Xoài, Mãng cầu và
có khi cả trên cây Dâu
Trên thế giới loài này được phân bố ở Ấn Độ, Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Malaixia, Indonesia (Sumatra, Borneo, Java), Philippines [32]
Trang 18Theo bài viết “Các cây thuốc được dùng trong trung tâm nghiên cứu phát triển hoàng gia Kungkrabaen, tỉnh Chanthaburi” của Wongsatit Chuakul và cộng
sự, toàn bộ cây TGNN kí sinh trên cây Gòn (Ceiba pentadra (L.) Gaertn.) được giã
nát với nước vo gạo dùng để trị tiêu chảy; nước sắc từ cây TGNN kí sinh trên cây
Xoài (Mangifera indica L.) dùng để trị bệnh đái tháo đường [29]
Ở Java thuộc Indonesia, người ta dùng TGNN (Dendrophthoe pentandra (L.)
Miq) để trị bệnh ung thư [29]
1.3 Những nghiên cứu về hình thái, sinh lý, sinh hoá của loài TGNN 1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới
- Năm 2005, Sylvia L P Ang & Jean W H Yong đã tiến hành nuôi cấy mô
với vật liệu là phôi hạt và mô callus trên hai loài Tầm gửi là Dendrophthoe pentandra (L.) Miq và Macrosolen cochinchinensis (Lour.) Blume kết quả cho thấy
Tầm gửi với rễ mút của nó sống trong môi trường Murashige và Skoog (MS) có bổ sung với nước dừa (15-20%) với bình nuôi cấy thông thoáng Trong môi trường cơ
bản MS có chứa hormone thì thời gian cần thiết cho sự nảy mầm Dendrophthoe pentandra (L.) Miq ngắn hơn nhiều so với Macrosolen cochinchinensis Sau khi
nảy mầm, Tầm gửi cần được bổ sung kích thích tố tăng trưởng Hai ông nhận thấy
rằng ở môi trường 20 µM 6-benzylaminopurine (BA), Dendrophthoe pentandra (L.)
Miq phát triển bình thường, còn môi trường có nước dừa (15-20% ) thì cả hai loài đều phát triển hoàn chỉnh trong bình nuôi cấy [26]
- Năm 2006, nhóm tác giả người Indonesia, Nina artani, Yelli Ma’arifa and Muhammad Hanafi đã tách được quercitrin (C21H20O11) và querceti (C15H10O7) từ
Trang 19cao ethanol của cây TGNN -Dendrophthoe pentandra (L.) Miq kí sinh trên cây Khế (Averrhoa carambola) [21]
Hình 1.2 Cấu tạo hoá học của quercitrin và querceti
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh
lý, sinh hóa của loài này [6], [14], [15], [18]
Năm 2009, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hạt, khoa Hoá học, Trường ĐHSP TP, Hồ Chí Minh tách được 2 hợp chất kí hiệu là MM1 và MM2 từ lá TGNN
kí sinh trên cây Mít [6]
111213 14
151617
19202122
O
17 18
19
22
5
24 26
27
28 29
3
O HO
HO
OH
HO
2 1
7 8 9 11 12 13
14 1615
21
20 23
1' 2' 3'
4' 5' 6'
10
25
Fridelane Daucosterol
Trang 20Staphylococcus aureus ATCC 29213, Staphylococcus aureus đề kháng methycilin (MRSA) ATCC 43300 và Bacillus subtilis PY 79 ở nồng độ 1024 μg/ml [14]
1.4 Các cây chủ
1.4.1 Mít
Cây Mít có tên khoa học: Artocarpus heterophyllus Lamk., thuộc họ Dâu tằm
(Moraceae) Là loài cây ăn quả rất quen thuộc ở khắp các vùng nông thôn ở nước ta,
có 2 thứ: Mít dai, Mít mật
Đặc điểm hình thái: Đại mộc, có thể rất to, vỏ ít nứt, mủ trắng Lá không
lông, đơn, ở cây con có thùy, lá bẹ dài 2-3 cm, phát hoa là dái đực màu vàng vàng dài 3-6cm với 1-2 tiểu nhị trong đài nhỏ Dái cái trên cọng to, đơm trên thân Trái (hợp giả quả) rất to, dài 40-60cm, có gai vàng vàng, mỗi múi mít và gai mít ứng với
1 hoa, xơ mít là do các lá bắc và bao hoa của các hoa không được thụ tinh tạo nên Quả thật là bì mỏng bao quanh hạt Hạt có hai tử diệp không bằng nhau, không có phôi nhũ Gỗ màu vàng chanh, tốt, dùng đóng đồ đạc và làm cột nhà [8]
Hình 1.5 TGNN kí sinh trên cây Mít
Trang 211.4.2 Xoài
Cây Xoài có tên khoa học Mangifera indica L., thuộc họ Điều (Đào lộn hột)
(Anacardiaceae)
Đặc điểm hình thái: Cây to cao 15-20m Lá nguyên, mọc so le, đơn, phiến to,
thuôn, không lông, bóng, dài 15-30cm, rộng 5-7cm Chùm tụ tán to vàng; hoa nhỏ; đài nhỏ; cánh hoa 5; đĩa mật to, hoa màu vàng nhạt, thành chùy ở đầu cành Quả hạch khá to, hạch dẹt, hình thận, cứng trên có những thớ sợi khi nẩy mầm thì hơi
mở ra Khi chín có màu vàng, chua ngọt, thơm Hạt có lớp vỏ mỏng, màu nâu, không nội nhũ, phôi cong, lá mầm không đều [8]
Hình 1.6 TGNN kí sinh trên cây Xoài
1.4.3 Dâu tằm
Dâu tằm tên khoa học Morus alba L thuộc họ Dâu tằm (Moraceae)
Đặc điểm hình thái: Cây nhỏ, cây cao 6 m hay hơn ở trạng thái hoang dại,
thường giảm xuống 1,5 – 2 m ở cây trồng Cành mềm, lúc non có lông, sau nhẵn và
có màu xám trắng Lá mọc so le, hình bầu dục, hình tim hoặc hình trứng rộng, có mũi nhọn ở đầu, phiến mỏng, mềm dài 3-7 cm, rộng 2,5-4 cm, mép có răng cưa nhỏ
Trang 22đều, đôi khi chia 3-5 thuỳ, 3 gân ở gốc, hai mặt có màu lục sáng, cuống dài mỏng, hơi có lông; lá kèm hình dải nhọn Hoa đơn tính, không có cánh hoa; cụm hoa đực
là đuôi sóc dài 1,5-2 cm, hoa đực có 4 lá đài tù, hơi có lông, nhị 4, xếp đối diện với
lá đài và đài gấp đôi, chỉ nhị mảnh, bao phấn gần hình cầu, cụm hoa cái là bông ngắn hình trứng hoặc gần hình cầu dài 1cm, hoa có 4 lá đài, bầu có một noãn Quả bế bao bọc trong các lá đài mọng nước tụ họp thành quả phức, khi chín màu đỏ hay hồng sau đen
Mùa hoa quả: tháng 5-7 [2], [13]
Hình 1.7 TGNN kí sinh trên cây Dâu tằm
1.4.4 Sao đen
Cây Sao đen tên khoa học Hopea odorata Roxb thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae)
Đặc điểm hình thái: Cây gỗ lớn, thường xanh, thân hình trụ thẳng cao 30-40
m, đường kính 60-80 cm hay hơn, chiều cao dưới cành 15-25 m.Vỏ ngoài màu nâu đen, nứt dọc sâu thành mảnh sù xì, thịt vỏ màu nâu đỏ, nhiều sợi, có nhiều dầu màu vàng, thơm Lá có phiến xoan thon, hay trái xoan ngọn giáo, đáy hơi bất xứng, không lông, mặt dưới có domatie, cuống đen lúc khô Hoa tự hình chuỳ mang nhiều bông ở nách lá hay đầu cành Mỗi bông có 4 - 6 hoa tràng nhỏ dài 4 – 5 mm, cong, màu vàng nhạt có mùi thơm dịu, tiểu nhụy 15 Quả nhỏ, hình trứng, đài có 2 cánh
to, vàng dài 5 - 6 cm [7]
Trang 23Hình 1.8 TGNN kí sinh trên cây Sao đen
1.4.5 Tràm liễu
Tràm liễu hay Tràm bông đỏ, tên khoa học: Callistemon citrinus (Curtis)
Skeels thuộc họ Sim (Myrtaceae)
Đặc điểm hình thái: Là loài cây gỗ nhỡ, cao 5-7 m, thân thẳng, vỏ thân màu
xám nâu, nhiều cành nhánh, cành dài, rủ xuống nhƣ Liễu rủ (Salix babylonica) nên
đƣợc gọi là Tràm liễu Cành non phủ lông dài Lá đơn mọc cách, mọc vòng theo cành, tập trung ở đầu cành Phiến lá dạng thuôn hẹp dài, dài 8-10 cm, rộng 1 cm, đầu lá nhọn, gốc thuôn, màu xanh lục bóng Lá non có lông dày Gân lá 3.Cụm hoa dạng bông, mọc ở đầu cành, mang nhiều hoa xếp vòng theo cành, phần đầu cành lại tiếp tục ra lá non Hoa nhỏ, lá đài hợp lại thành ống ngắn Nhị đực nhiều, chỉ nhị dài 1-2,5 cm Hoa màu đỏ đẹp nhờ các chỉ nhị màu đỏ Quả nang hình chuông Vỏ quả cứng Hạt nhiều Ra hoa quả hầu nhƣ quanh năm [8]
Trang 24
Hình 1.9 TGNN kí sinh trên cây Tràm Liễu
1.4.6 Bàng
Bàng (tên khoa học: Terminalia catappa L.) là một loài cây thân gỗ lớn sinh
sống ở vùng nhiệt đới, thuộc họ Trâm bầu (Combretaceae) Nguồn gốc của loài này hiện vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi, nó có thể có nguồn gốc từ Ấn Độ, bán đảo
Mã Lai hay New Guinea
Đặc điểm hình thái: Đại mộc cao 7 - 10m, không lóng, tán lá mọc thẳng, đối
xứng và các cành nằm ngang Khi cây già hơn thì tán lá của nó trở nên phẳng hơn
để tạo thành hình dáng giống như cái bát trải rộng Lá to, dài khoảng 15-25 cm và rộng 10-14 cm, hình trứng, xanh sẫm và bóng Đây là loài cây có lá sớm rụng về mùa khô; trước khi rụng thì các lá chuyển màu thành màu đỏ ánh hồng hay nâu vàng, do các sắc tố như violaxanthin, lutein hay zeaxanthin [8]
Hoa đơn tính cùng gốc, với các hoa đực và hoa cái mọc trên cùng một cây Cả hai loại hoa có đường kính khoảng 1 cm, có màu trắng hơi xanh, không lộ rõ, không
có cánh hoa; chúng mọc trên các nách lá hoặc ở đầu cành Quả thuộc loại quả hạch dài 5-7 cm và rộng 3-5,5 cm, khi non có màu xanh lục, sau đó ngả sang màu vàng
và cuối cùng có màu đỏ khi chín, chứa một hạt
Trang 25Hình 1.10 TGNN kí sinh trên cây Bàng
1.4.7 Sứ
Sứ cùi hay Đại (tên khoa học Plumeria rubra L.) thuộc họ Trúc đào
(Apocynaceae), có nguồn gốc từ châu Mỹ (Mexico)
Đặc điểm hình thái: Cây gỗ nhỡ, thân xù xì cao 8 – 12 m Vỏ màu nâu nhạt,
có nhánh mập, có nhựa mủ trắng Tán lá rậm, thân nghiêng, chai cành lớn, gãy khúc, đỉnh mang đám lá Lá có phiến to, không lông, thon Chùm tụ tán trên cọng dài, mang hoa nhiều màu; vành dày; nhụy gắn ở đáy ống tràng Hoa lớn, 5 cánh, màu sắc đẹp [8][30]
Hình 1.12 TGNN kí sinh trên cây Sứ
Trang 261.4.8 Sung
Cây Sung (tên khoa học: Ficus racemosa L., đồng nghĩa Ficus glomerata
Roxb., 1802), thuộc họ Dâu tằm (Moraceae)
Đặc điểm hình thái: Đại mộc trung song có thể cao tới 30 m, đường kính
thân cây tới 60 – 90 cm; hoa đơn tính cùng gốc Vỏ thân cây màu nâu ánh xám, nhẵn Lá có phiến xoan ngược (hình elip-trứng ngược, elip hay elip hẹp), mỏng, thường có nốt (phản ứng khi bị côn trùng đẻ) Các lá sớm rụng, mọc so le; cuống lá dài 2-3 cm; phiến lá, kích thước 10 - 14 x 3 - 4,5 (-7) cm, dai như da, lục nhạt ở xa trục, có lông tơ khi còn non, không lông và hơi xù xì khi già, màu lục sẫm ở gần trục và nhẵn nhụi, gốc lá hình nêm hơi cùn, mép lá nguyên, nhọn đỉnh tới hơi cùn; gân bên cơ sở 2, gân thứ cấp 4 - 8 ở mỗi bên của gân giữa [8]
Cây không có rễ phụ Cụm hoa mọc trên thân hay cành già, hoa đực ở gần đỉnh cụm hoa cái có cuống Quả phức xếp dày đặc ở thân cành, khi chín màu đỏ Cây mọc nơi
ẩm ướt, ven sông, hồ ao Quả ăn được Toàn thân có nhựa trắng Nhựa là vị thuốc dân gian, chữa nhức đầu, chốc, nhọt, sưng đau [31]
Hình 1.11 TGNN kí sinh trên cây Sung
Trang 271.4.9 Xoan
Cây Xoan có tên khoa học Melia azedarach (L.); đồng nghĩa M australis, M japonica, M sempervivens), là một loài cây thân gỗ lá sớm rụng thuộc họ Xoan
(Meliaceae), có nguồn gốc ở Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Australia
Cây này tiếng Anh gọi là Chinaberry, Bead tree, Persian lilac (Đinh hương
Ba Tư), White cedar (Tuyết tùng trắng) và một vài tên gọi khác
Đặc điểm hình thái: Đại mộc nhỏ, cây trưởng thành cao từ 7 đến 20 m Lá 2
lần kép, dài tới 50 cm, mọc so le, cuống lá dài với 2 hoặc 3 nhánh lá phức mọc đối; các lá chét có màu lục sẫm ở mặt trên và xanh nhạt hơn ở mặt dưới Mép lá có khía răng cưa Chùm – tụ tán to Hoa có năm cánh, sắc tía nhạt hoặc tím hoa cà, mọc thành chùm Hoa có hương thơm Trái Xoan loại quả hạch, to cỡ hòn bi, vỏ có màu vàng nhạt khi chín, không rụng ngay mà giữ trên cành suốt mùa đông Trái dần chuyển sang màu trắng [8]
Hình 1.13 TGNN kí sinh trên cây Xoan
1.4.10 Trứng cá
Cây Trứng cá hay còn gọi là Mật sâm (tên khoa học: Muntingia calabura L.),
là loài duy nhất trong chi Muntingia thuộc họ Côm (Elaeocarpaceae) là một loài
thực vật có hoa có nguồn gốc ở miền nam Mexico, Caribe, Trung Mỹ và miền tây
Trang 28Nam Mỹ về phía nam của Peru và Bolivia Chi này đã từng được các hệ thống phân
loại khác nhau xếp trong các họ khác nhau, như họ Đoạn (Tiliaceae) hay họ Côm (Elaeocarpaceae), nhưng trong phân loại của APG và sau này là APG II thì người
ta đã tách nó ra thành một họ riêng trong bộ Cẩm quỳ (Malvales) với danh pháp Muntingiaceae cùng các chi Dicraspidia, Neotessmannia với mỗi chi này chỉ có 1
loài [7]
Đặc điểm hình thái: Là cây thân gỗ nhỏ, cao khoảng 7-12 m với các cành xếp
chồng lên nhau và hơi rủ xuống Lá song dính có lông trĩn, phiến bất xứng, mặt dưới có lông trắng; lá bẹ như kim, có mép khía răng cưa, dài 2,5-15 cm và rộng 1-6,5 cm Hoa đơn độc, nhỏ màu trắng, có cọng dài 2 – 3 cm, tạo quả khi chín có màu
đỏ nhạt đường kính khoảng 1-1,5 cm Quả ăn được, có vị ngọt và mọng nước, chứa nhiều hạt nhỏ (0,5 mm) màu vàng trông như trứng cá [7]
Trong y học truyền thống của một số tộc người Trung Mỹ, hoa của nó có thể dùng làm chất khử trùng và điều trị chứng chuột rút ở vùng bụng
Gỗ từ cây Trứng cá có màu nâu đỏ, khá rắn chắc, bền và nhẹ, có thể dùng làm
đồ mộc Nó cũng được dùng làm củi đun Vỏ có thể dùng làm dây thừng
Hình 1.14 TGNN kí sinh trên cây Trứng cá
Trang 29Chương 2 ĐỊA ĐIỂM THU MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian nghiên cứu và địa điểm thu mẫu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2010 đến tháng 4/2011
2.1.2 Địa điểm thu mẫu
Phường Bình Chiểu, Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Hình 2.1 Bản đồ tự nhiên Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
(Nguồn: http://www.hochiminhcity.gov.vn )
( : Địa điểm thu mẫu)
2.1.1.1 Vị trí địa lý:
Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển
Trang 30Đông 50 km theo đường chim bay Quận Thủ Đức nằm ở ngoại thành giáp với Bình Dương và Đồng Nai
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình:
Địa hình thành phố Hồ Chí Minh phần lớn bằng phẳng, thấp, có một ít dạng đồi gò ở phía Bắc và Đông Bắc, với độ cao giảm dần theo hướng Đông Nam Quận Thủ Đức có địa hình khá bằng phẳng độ cao 2- 4 m
2.1.1.3 Đất đai:
Đất xám và đỏ vàng phát triển trên phù sa cổ
2.1.1.4 Đặc điểm khí hậu, khí tượng:
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm, nắng trung bình 6,8 giờ/ngày Khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm 1.979 mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm 27,55oC, không có mùa đông [36]
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu mẫu
Mẫu TGNN được thu hái từ 10 loài cây chủ: Mít, Xoài, Dâu tằm, Sao đen, Tràm liễu, Bàng, Sung, Sung, Xoan, Trứng cá (thu vào tháng 10 - 11/2010) trồng ở quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh Mẫu thu hái là cành TGNN mang lá kí sinh
ở bề mặt tán cây chủ, được bảo quản với giấy báo ẩm, sau đó cho vào túi nilon đem
về phòng thí nghiệm Ứng với mỗi loài cây chủ, thu hái 30 cành TGNN kí sinh trên
10 cây chủ
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu hình thái, giải phẫu lá
Chọn 30 lá bánh tẻ TGNN (từ 30 cành) cho mỗi loài cây chủ để mô tả các dạng lá, kích thước lá và màu sắc của lá Lấy lá thứ 7 từ ngọn cành xuống của từng đối tượng kí sinh khác nhau đo chiều rộng và dài, sau đó tính trung bình
Trang 31Hình 2.2 Vị trí thu hái lá trên cành
Chúng tôi lấy 15 lá bánh tẻ nằm trên các cành khác nhau trên mỗi cây chủ khác nhau, các lá này có khả năng nhận được ánh sáng là tương đương nhau Ở đây, chúng tôi chọn lá thứ 7 tính từ ngọn xuống, sau đó giải phẫu lá, cắt lá thành từng lát mỏng bằng dao lam, nhuộm kép với phẩm nhuộm là dung dịch carmin – phèn chua
và xanh methylen để khảo sát vi phẫu tại phòng thí nghiệm Thực vật trường Đại Học Sư Phạm Tp HCM [12]
Hình 2.3 Vị trí đo kích thước (A) và cắt giải phẫu lá (B)
2.2.3 Phương pháp điều chế mẫu thử hoạt tính
Rửa sạch mẫu TGNN, tách lấy lá và cành; cành cắt thành từng đoạn 2 - 3 cm,
lá đem thái nhỏ làm 4 Tạo 5 mẫu TGNN ứng với mỗi loài cây chủ
Mẫu TGNN tươi được sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 80oC Lấy 100g mẫu khô (50g cành khô và 50g lá khô) hòa với 500ml nước cất đem đun bằng ấm điện cho tới khi còn khoảng 50ml (khoảng 70 phút) Sau đó chế nước sắc vào cốc đong
Để thử hoạt tính kháng khuẩn thì dùng luôn mẫu thử dạng nước sắc: pha 50ml nước sắc TGNN vào 50 ml nước cất vô trùng
Lá thu hái
Trang 32Để thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư thì tiếp tục đặt cốc đong chứa nước sắc vào nồi đun cách thủy cho tới khi mẫu thử được cô cạn thành cao khô
Ghi kí hiệu từng mẫu thử như sau:
Bảng 2.1 Kí hiệu các mẫu cao Tầm gửi năm nhị
2.2.4 Phương pháp thử hoạt tính kháng khuẩn của nước sắc TGNN
Môi trường
Môi trường làm kháng sinh đồ MHA (Mueller Hinton Agar) mua tại công ty Nam Khoa, môi trường này đã được đổ sẵn vào các đĩa pêtri, đã đảm bảo các yêu cầu chất lượng
Thành phần môi trường (g/l):
Acid Casein Pepton (H): 17,50
Tầm gửi năm nhị Nước sắc Cao khô
Kí sinh trên cây Mít TMcw TMcd
Kí sinh trên cây Xoài TXcw TXcd
Kí sinh trên cây Dâu tằm TDcw TDcd
Kí sinh trên cây Sao đen TScw TScd
Kí sinh trên cây Tràm liễu TTLcw TTLcd
Kí sinh trên cây Bàng TBcw -
Kí sinh trên cây Sứ TSUcw -
Kí sinh trên cây Sung TSNcw -
Kí sinh trên cây Xoan TXNcw -
Kí sinh trên cây Trứng cá TTCcw -
Trang 33Starch: 1,50
Beef Infusion: 2,00
Bacteriological Agar: 17,00
Môi trường làm kháng sinh đồ MPA (Malt-Peptone-Agar) chế tạo tại phòng
thí nghiệm Vi sinh – Sinh hóa trường Đại Học Sư Phạm Tp HCM, môi trường này
được cung cấp dưới dạng bột khô, khi sử dụng hòa tan vào nước theo hướng dẫn của nhà sản xuất, đun nóng cho thạch tan sau đó hấp tiệt trùng ở 121o
2.2.4.2 Phương pháp thử hoạt tính kháng khuẩn:
Định tính khả năng kháng khuẩn của các chất thử nghiệm bằng phương pháp khếch tán trong thạch [17] :
- Để thử hoạt tính kháng khuẩn của các mẫu thử trên các chủng vi khuẩn
Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus và Klebsiella pneumoniae
chúng tôi sử dụng môi trường MHA, sau khi mua về được bảo quản ở tủ đông và sử dụng trong ngày
- Để thử hoạt tính kháng khuẩn của các mẫu thử trên các chủng Bacillus subtilis và Escherichia coli chúng tôi sử dụng môi trường MPA:
Các đĩa pêtri được rửa sạch và sấy vô trùng ở 180o
C trong 30 phút