Điều trị bệnh phong thấp bằng y học Á Châu.
Trang 1ĐIỀU TRỊ BỆNH PHONG THẤP
Bằng Y Học Á-Châu (Rhumatologie et Médecine Asiatique)
Bác Sĩ Trần Đại Sỹ
Trang 3PHẦN THỨ NHẤT
NGHIÊN CỨU TỔNG QUÁT
1 DẪN NHẬP
Bệnh phong thấp bình dân gọi là là tê thấp Từ y học là Tý chứng Khi Phong, Hàn,
Thấp, Nhiệt thừa lúc cơ thể yếu đuối xâm nhập, lưu trú tại kinh lộ, cơ nhục, khớp
xương, làm tổn thương huyết mạch và tâm, đưa đến : cơ thể, các khớp xương, chân
tay sưng đỏ đau nhức, nặng nề, tê dại vv bệnh nhân cảm thấy hàn nhiệt, biểu
chứng Tùy theo sự cảm nhiễm bệnh, chia ra làm bốn loại khác nhau :
– Hành tê (hành tý)
– Thống tê (thống tý)
– Trứ tê (trứ tý)
– Nhiệt tê (nhiệt tý)
Tý chứng có nghĩa là chứng bị bế tắc, khí huyết bị ngưng đọng lại Nếu trị bệnh
không đúng phép, hoặc bệnh thế nặng, thì bệnh sẽ chuyển vào tâm do mạch, xuất
hiện :
– Tâm ủy (hồi hộp lo âu)
– Khí đoản (hơi thở ngắn)
– Đau căng lồng ngực
Lâu ngày quá sẽ tổn hại tới tâm tạng, thành ra chứng Phong thấp tim (Tâm tý).
Chứng tê thấp thường xuất hiện ở những xứ ẩm thấp, hàn lạnh; nhất là vùng bùn
lầy Bởi bệnh phát sinh do Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt, trong đó Phong làm chủ Bởi
vậy vùng hàn, lãnh thì đương nhiên ẩm thấp, do vậy khi gặp Phong là mắc bệnh
ngay
Nguyên do : Phong là một loại tà khí, thường gọi tắt là Dương tà Phong thường
phát sinh trong không gian vào các Quý tiết Quý tiết là gì? Theo lịch Á châu, mỗi
năm có 24 tiết Mỗi tiết khoảng 15 ngày Quý tiết là 1 hay 2 ngày cuối tiết Hai mươi
bốn tiết là :
Mùa xuân có các tiết :
Lập-xuân, Vũ-thủy, Kinh-trập,
Mùa đông có các tiết :
Lập-đông, Tiểu-tuyết, Đại-tuyết,
Đông-chí, Tiểu-hàn, Đại-hàn
Trang 4Mỗi tiết dài hơn mười lăm ngày Hai tiết dài hơn một tháng Mỗi người trong chúng
ta phải mua một cuốn lịch Á-châu Khi trị Phong thấp cho thân chủ : vào lúc bệnh
đang giảm, tới cuối tiết lại trầm trọng hơn là vì Phong tà mới nảy sinh nhập cơ thể,
đừng ngạc nhiên Tốt hơn hết, ta nên báo cho thân chủ biết trước, để tránh cho họ
những lo âu khi Phong tái nhập cơ thể, gây phiền nhiễu cho họ
Về tuổi mắc bệnh thì tùy theo địa phương và dinh dưỡng
2 NGUỒN GỐC TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN
Y học cổ truyền Đông phương đã sớm nói đến Sách đầu tiên còn lưu truyền lại là
Hoàng Đế Nội Kinh.
"Phong, Hàn, Thấp, tam khí tạp chí, hợp nhi vi tý giã
Kỳ Phong khí thắng giả vi hành tý
Hàn khí thắng giả vi thống tý,
Thấp khí thắng giả vi trứ tý dã"
(Nội Kinh, thiên Tý Luận)
Nghĩa là : Phong, Hàn, Thấp ba tạp khí đó xâm nhập, hợp lại thành Tý chứng.
– Nếu Phong khí mạnh hơn thì là Hành tý,
– Nếu Hàn khí mạnh hơn thì là Thống tý,
– Nếu Thấp khí mạnh hơn thì là Trứ tý.
Tóm lại : Gọi là Phong thấp (Tý chứng) khi cơ thể bị ba tà khí cùng tấn công Ba tà
khí đó là Phong, Hàn, Thấp Còn khi trị, nếu làm mất đi một Tà khí là coi như đã có
kết quả ngừng cơn đau, nhưng chưa khỏi Y học Tây phương, dùng thuốc trấn
thống, trấn viêm tức giải được Phong, ngừng dau Nhưng Hàn, Thấp còn, thì chỉ vài
ngày Phong tái nhập, bệnh vẫn như cũ.
Biểu hình dưới :
– Vòng tròn phân ra Âm-Dương, tượng trưng cho cơ thể con người Phần bên trái là
Âm Phần bên phải là Dương
– Trong Phong thấp, Âm là huyết, giúp cơ thể chống Phong tà Khi huyết hư (khuyết
một miếng) không đủ sức phòng vệ, Phong tà nhập
– Phần bên phải là Dương Trong Phong thấp, Dương là Tỳ dương và Thận dương
Tỳ dương giúp cơ thể chuyển vận thấp ra khỏi cơ thể Khi Tỳ dương yếu (hư, khuyết
một miếng) thấp nhập cơ thể Thận dương giúp cơ thể chống lại Hàn (lạnh) Khi
thận dương yếu (hư, khuyết một miếng) thì Hàn nhập cơ thể
Khi huyết hư, Tỳ dương hư, Thận dương hư thì Phong, Hàn, Thấp cùng tấn công cơ
thể Cơ thể bị Phong thấp
Trang 5Lại nói :
"Ngũ tạng giai hữu hợp, bệnh cửu nhi bất khứ giả, nội hãm vu kỳ hợp giã
Mạch tý bất di, phục cảm vu tà, nội hãm vu tâm"
(Nội Kinh, thiên Tý Luận)
Nghĩa là : ngũ tạng đều có "hợp", nếu người bệnh lâu mà không dứt, thì chuyển
vào trong mà hợp lại Mạch tý không khỏi, lại cảm tà, thì chuyển vào tâm.
Nói tóm lại thì chứng Tê thấp ngày càng nặng, không trị đúng phép, thì chuyển vào
tim, rất nguy hại Y học Tây phương không trị được tận gốc, mà chỉ làm cho ngưng
phác tác, làm trấn tĩnh mà thôi Y học Đông phương từ cổ thời đã trị được hoàn
toàn Từ sau Nội kinh, thì các nhà y học Trung hoa, Việt nam, Nhật bản, Triều tiên
đã có những phương pháp luận trị rất uyên thâm, kết quả tốt đẹp.
Y Học Cổ Phương nói :
"Chứng tê thấp thường thấy trong dân gian, trị cũng dễ, mà chúng nhân không mấy
kiên nhẫn, trị cho tận gốc
Nhân Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt xâm nhập có thể mà thành bệnh Chủ yếu là Phong
Nhưng một tà xâm nhập thì không thành chứng Tê thấp Tùy theo tà nào mạnh, mà
bệnh có nhiều triệu chứng khác nhau Nếu Phong mạnh thì có chứng Tê thấp không
nhất định, nay đau chỗ này, mai đau chỗ khác Bởi Phong là Dương tà, tính của nó là
"chạy giỏi" mà "hay biến đổi" Nếu Hàn xâm nhập mạnh thì đau nhức như dần như
cắt cố định một nơi Nếu Thấp thắng thì nước trong người nhiều, người úng những
nước tưởng như béo, đi đứng nặng nề, tê mà đau Nếu Nhiệt mạnh thì có Phong
nhiệt "
Sách Thương Hàn Luận và Kim Quỹ Yếu Lược cũng nói nhiều về chứng Tê thấp.
"Người bị bệnh, đau nhức, phát nhiệt, ngày càng nặng, bệnh gọi là Phong Thấp
Bệnh này do Phong nhập hoặc vì do hàn lạnh lâu ngày nhập vậy", "Phong thấp
truyền vào cơ thể, khớp xương đau nhức, đau như cắt, không co duỗi được các khớp
xương, sờ tay vào thấy đau Mồ hôi xuất, hơi thở ngắn, tiểu tiện bất lợi, ác phong
Trang 6mà không muốn bỏ y phục Hoặc thân hơi phù thủng, dùng Camthảo phụ tử thang
mà chữa"
Ngoài ra Trương Cảnh Nhạc, chú giải Nội Kinh, bàn về Tý chứng còn đặt ra một tên
nữa là Thương Tiết Chứng (chứng đau khớp xương).
Bên Trung Hoa từ đời Đường, Tống về sau, bên Việt nam từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần,
Lê, Nguyễn về sau đều có những nhà y học nghiên cứu về các căn bệnh này.
3 BIỂU HÌNH PHONG THẤP.
3.1 Biểu hình1, cơ thể bình thường : nửa bên phải là dương, là khí, có thể là thận
dương, hay tỳ dương Nửa bên trái là âm, là huyết
3.2 Biểu hình 2, Thận dương hư (phần dương khuyết một miếng)
3.3 Biểu hình 3, Tỳ dương hư ( phần dương dưới khuyết một miếng)
3.4 Biểu hình 4, Huyết hư, phần âm bị khuyết một miếng
3.5 Biểu hình 5, Tà khí Hàn (Lạnh)
3.6 Biểu hình 6, Thấp (Ướt)
Trang 73.7 Biểu hình 7, Phong (Virus, siêu vi trùng)
3.8 Biểu hình 8, Nhiệt (nóng)
Trang 8PHẦN THỨ NHÌ
BIỆN CHỨNG và DƯỢC TRỊ
MỤC LỤC
1 TRIỆU CHỨNG, PHƯƠNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TRONG SÁCH CỔ
1.1 Sách Thiên Kim Phương Tôn Tư Mạo (581-682) đời Đường
1.2.2 Thang thuốc điều trị
1.3 Sách Tam Nhân Phương của Trần Vưu Trạch (1174) đời Tống
1.3.1 Nguyên nhân phát bệnh
1.3.2 Triệu chứng của bệnh
1.3.3 Thang thuốc điều trị
1.4 Sách Nho Môn Sự Tán của Lưu Hà Giản (1217 - 1221) đời Kim, Nguyên
1.4.1 Nguyên nhân phát bệnh
1.4.2 Triệu chứng của bệnh
1.4.3 Thang thuốc điều trị
1.5 Sách Chứng Nhân Mạch Trị của Trần Cảnh Minh (1644) đời Minh
1.5.1 Nguyên nhân phát bệnh
1.5.2 Triệu chứng của bệnh
1.5.3 Thang thuốc điều trị
1.6 Sách Chứng Trị Hối Bổ của Lý Dụng Túy (1687) đời Thanh
1.6.1 Nguyên nhân phát bệnh
1.6.2 Triệu chứng của bệnh
1.6.3 Thang thuốc điều trị
1.7 Sách Y Tông Kim Giám của Ngô Khiêm (1742) đời Thanh
1.7.1 Nguyên nhân phát bệnh
1.7.2 Triệu chứng của bệnh
1.7.3 Thang thuốc điều trị
2 NGUYÊN DO PHÁT SINH
Trang 92.1 HOÀN CẢNH SINH HOẠT : Thấp tà nhập
2.2 KHÍ HẬU THAY ĐỔI : Phong tà, Hàn tà nhập
2.3 NGƯỜI YẾU DƯƠNG HƯ : Phong, Hàn, Thấp nhập
2.4 BIỂU HÌNH NGUYÊN DO CHỨNG PHONG THẤP
3.6 CHÂN TAY RUN
3.7 MẠCH VÀ LƯỠI CỦA CHỨNG PHONG THẤP
4 CHỨNG PHONG THẤP THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
7.1 THỨ NHẤT : Sơ phong trừ thấp, ôn kinh thông lạc
7.2 THỨ NHÌ : Thanh nhiệt trừ thấp, ôn kinh thông lạc
7.3 THỨ BA : Trị bệnh Phong thấp cần phải có phụ trợ
7.4 LỜI KHUYÊN CĂN BẢN
7.5 TÓM LƯỢC BỐN LOẠI PHONG THẤP
7.5.1 HÀNH TÝ, phong thấp chạy, tê thấp chạy
7.5.2 THỐNG TÝ, phong thấp lạnh, tê thấp lạnh
7.5.3 TRỨ TÝ, phong thấp tê, tê thấp tê
7.5.4 NHIỆT TÝ, phong thấp nhiệt, tê thấp nhiệt
8 LIỆT KÊ 17 DANH GIA CỔ TRỊ BỆNH PHONG THẤP
8.1 Ô DẦU THANG trong sách Kim Quĩ Yếu Lược
8.2 QUẾ CHI PHỤ TỬ THANG trong sách Thương Hàn Luận
8.3 ĐỘC HOẠT KỲ SINH THANG trong sách Thiên Kim Phương
8.4 TIỂU HOẠT LẠC ĐƠN trong sách Cúc Phương
8.5 CAN TÝ THANG trong sách Thọ Thế Bảo Nguyên
8.6 ĐẠI TẦN GIA TÝ THANG trong sách Chứng Nhân Mạch Trị
8.7 KHƯƠNG HOẠT THẮNG THẤP THANG trong sách Chứng Trị Hối Bổ
8.8 CẢI ĐỊNH TÂM TÝ THANG trong sách Trương Thị Y Thông
Trang 108.9 HÀNH TÝ CHỦ PHƯƠNG trong sách Cố Thị Y Cảnh
8.10 QUYÊN TÝ THANG trong sách Y Học Tâm Ngữ
8.11 TAM TÝ THANG trong sách Y Tông Kim Giám
8.12 XẢ CÂN TÁN trong sách Lan Đài Qui Hoàn
8.13 THÂN THỐNG TRỤC Ô THANG trong sách Y Lâm Cải Thác
8.14 GIA VỊ TAM DIÊU TÁN trong sách Nghiệm Phương
8.15 HỔ TIỀM HOÀN trong sách Đơn Khê Phương
8.16 KHU PHONG THANG, TÁN HÀN THANG, TÁO THẤP THANG, TÁN NHIỆT
THANG trong Y Học Cổ Phương
8.17 PHONG THẤP ĐƠN trong sách Y Học Cải Phương
Trang 11PHẦN THỨ NHÌ
BIỆN CHỨNG và DƯỢC TRỊ
1 TRIỆU CHỨNG, PHƯƠNG THUỐC ĐIỀU TRỊ TRONG SÁCH CỔ
Chứng phong thấp đã được nói đến trong bộ sách cổ nhất là Nội Kinh Nội Kinh ra
đời trước Thiên Chúa Người sau, học Nội Kinh, nghiên cứu rộng thêm, thu thái kinh
nghiệm, đưa ra phương pháp diều trị, mỗi thời một hoàn hảo hơn Trong bài nghiên
cứu này, chỉ xin trình bầy những nghiên cứu có giá trị nhất để độc giả có cái nhìn
rộng hơn Đa số những lý thuyết này nay chỉ còn dùng được một phần. Nhưng,
những nhà nghiên cứu hay những thầy vườn, đọc đâu dó, được một phần trong các
sách này, vội cho rằng đó là thuốc tiên, thuốc thánh, rồi khoe rằng gia truyền Thực
là hủ lậu, thực là ngớ ngẩn Một số nhà nghiên cứu Tây phương không biết chữ
Trung quốc, được một người dịch cho vài bộ sách cổ dưới đây, rồi cho rằng đó là bộ
sách toàn khoa Phong thấp.
Tuy chứng Phong thấp sớm tìm ra, nhưng phải đến thế kỷ thứ sáu, Tôn Tư Mạo mới
thực sự đặt thành cơ sở vững chắc:
– Nguyên do mắc bệnh (lý)
– Triệu chứng của bệnh (pháp)
– Phương thuốc điều trị (phương)
Kể ra có ít nhất vài trăm y gia để lại công trình, nhưng tôi chỉ trình bày mỗi thời một
công trình tiêu biểu nhất Tuy nhiên những công trình này, ngày nay hầu như lỗi
thời.
1.1 Sách Thiên Kim Phương của Tôn Tư Mạo (581-682) đời Đường
1.1.1 Nhuyên nhân phát bệnh
Dương khí ít mà âm khí nhiều, làm cho thân mình hàn, lạnh Người dương khí nhiều
mà âm khí ít thì sinh tý nhiệt,
1.1.2 Triệu chứng của bệnh
Chân như đi vào đôi giày lạnh, lúc nào cũng như ở trong nước Gân cốt yếu, lạnh,
tâm phiền, nhức đầu, mồ hôi xuất, hơi thở ngắn, tinh thần hỗn loạn, da, thịt đau
nhức, khớp xương nóng sưng, không thể tự di chuyển được.
1.1.3 Thang thuốc điều trị
Độc hoạt kỳ sinh thang
Khương hoạt thang
Tiêu độc hợp thang
1.2 Sách Y Học Cổ Phương (thế kỷ thứ 11-12)
1.2.1 Nguyên nhân phát bệnh
Cơ thể suy nhược vì khí, huyết hư, do Tiên thiên hoặc Hậu thiên Cư trú trong vùng
bùn lầy, gặp phong, hàn, thấp, nhiệt phong, hàn, thấp cùng xâm nhập mới sinh
bệnh Phong mạnh thì đau nhức không định, bởi phong là dương tà, "giỏi chạy" và
"hay biến", đó là Phong thấp chạy Nếu hàn lãnh, thì đau tại một chỗ nhất định Bởi
hàn la âm tà, vì vậy khi đau, gặp nóng giảm ngay, đó là Phong thấp lạnh Nếu thấp
Trang 12mạnh, thì người nhiều nước, đi đứng nặng nề, cơ thể khớp xương đau ít, nhưng cảm
giác tê nhiều, đó là Phong thấp tê Nếu như nhiệt mạnh thì là Phong thấp nhiệt.
1.2.2 Triệu chứng của bệnh
Toàn người đau nhức, các khớp xương đau nhức Khi đau khi không Phong thấp
chạy thường nhẹ, Phong thấp lạnh thường gây ra Phong thấp xương, Phong thấp tê
thường gây ra phù thủng Bệnh lâu nhập tim thành Phong thấp tim, nhập phổi thành
suyễn.
1.2.2 Thang thuốc điều trị
Khu phong thang,
Phong, hàn, thấp, ba tạp khí đều xâm nhập, hợp lại là tý chứng Tam khí làm bế tắc
kinh lạc, nhập vào kinh mạch, da thịt, lâu ngày không chữa trị nhập vào tim.
1.3.2 Triệu chứng của bệnh
Các khớp xương đau nhức, da sần sùi, bắp thịt tê đau ngâm ngẩm Tứ chi chậm
chạp, chân tay, mình phù sưng Trong lồng ngực khò khè có đờm, có phong.
1.3.3 Thang thuốc điều trị
Chứng bệnh này phát tác đa số do mưa khí nặng nề, vào tháng 3, tháng 9 (Âm lịch),
đó là tháng Thái dương gặp thủy, cho nên cây cỏ khô, thủy hàn nhiều, hoặc ở vào
đất ẩm ướt, người lao lực tân khổ nhiều, bị cảm mạo mưa bão, ngủ ở chỗ ướt,
chứng phong thấp do đó nhập vào người.
1.4.2 Triệu chứng của bệnh
Các tà xâm nhập có thứ ít, có thứ nhiều, hoặc đau, hoặc không đau, hoặc gân cốt
không co duỗi được, hàn thì chạy nhiều, nhiệt thì chậm hoãn.
1.4.3 Thang thuốc điều trị
Phòng phong thang,
Thăng ma thang,
1.5 Sách Chứng Nhân Mạch Trị của Trần Cảnh Minh (1644) đời Minh
1.5.1 Nguyên nhân phát bệnh
Tý chứng là do nguyên khí không đầy đủ, sau khi bị bệnh, cơ thể hư nhược, làm việc
quá độ, đói khát, phong tà nhân đó xâm nhập Hàn tý là do lao khí không đủ, vệ khí
Trang 13phía dương biểu không chắc chắn, bì mao không có khí luân lưu, hoặc bị trúng hàn,
mạo, mưa, sương, do vậy, phong, hàn tà nhập.
Thấp tý, làm tỳ bị ướt, thấp khí vào người, trúng phong, cảm mạo mưa thấp đọng lại
ở da thịt, hoặc gặp năm mà mưa, thấp nhiều, Nhiệt tý, do âm huyết bất túc, dương
khí vượng lên, nhiết quá thì sinh hàn, phong hàn từ ngoài nhập vào phong nhiệt từ
đó phát.
1.5.2 Triệu chứng của bệnh
Hành tý thì chạy, đọng lại, đau nhức, trên dưới, phải trái, chạy không ngừng Hàn tý
thì đau đớn khổ sở, chân tay buốt nhức, gặp nhiệt thì giảm, gặp lạnh thì tăng Nhiệt
tý thì cơ nhục nóng, lưỡi môi khô nóng, gân cốt đau không thể đụng vào được, trên
người cảm thấy như chuột chạy.
1.5.3 Thang thuốc điều trị
Đại tần gia thang,
Gia bì khương hoạt thang,
Tứ vị lưu cân thang,
Hổ tiềm hoàn,
1.6 Sách Chứng Trị Hối Bổ của Lý Dụng Túy (1687) đời Thanh
1.6.1 Nguyên nhân phát bệnh
Nguyên khí, tinh khí bên trong hư, tam khí xâm nhập, không biết cách làm tan đi, để
tam khí lưu trú tại kinh lạc, lâu ngày thành chứng tê thấp.
1.6.2 Triệu chứng của bệnh
Xương cử động khó khăn, huyết ngưng không lưu thông, co duỗi khó khăn, tứ chi
đau nhức, ngoài da như bị tê, quá hàn, hoặc nhiệt nặng thì suyễn, mửa, tâm phiền,
Da bị tê, thịt, mạch, mầu sắc thay đổi, gân tê, xương đau
1.7.3 Thang thuốc điều trị
Tăng vị ngũ thang,
Tam tý thang,
Ngoài ra, do ở ngoại cảm phong, hàn, thấp, tà xâm nhập toàn thân, tổn hại đến cơ
biểu, kinh lạc, khớp xương mà thành Lại phải kể đến do ở :
– Hoàn cảnh khí hậu địa phương,
Trang 14– Sự dinh dưỡng,
Gây ra bệnh đau ở gân, xương, da, mạch, thịt, ngày xưa gọi là bệnh Phong thấp
chung cho tất cả Những danh xưng đó, chẳng qua là tùy theo các y gia cổ Nhưng
nguyên nhân và bệnh trạng thì vẫn giống nhau.
2 NGUYÊN DO PHÁT SINH
Chứng Phong thấp, phát sinh do tạp khí phong, hàn, thấp xâm nhập gây tổn hại cho
toàn thân Ngoại tà nhập được là do hoàn cảnh sinh hoạt, khí hậu, cơ thể có khả
năng chống bệnh hay không?
2.1 HOÀN CẢNH SINH HOẠT : Thấp tà nhập
– Sinh sống trong vùng ao hồ, bùn lầy, hoặc sống trên mặt nước, dễ bị thấp tà nhập
– Hoặc ăn uống không điều độ, tổn thương tỳ vị, vận hóa không đủ, sinh ra thủy
thấp ngưng lại ở trong, rồi thấp ở trong và ở ngoài cùng dẫn đến
Nội Kinh nói :
"Ẩm thực, cư xứ, vị kỳ bệnh bản"
Nghĩa là ăn uống, nơi ở là gốc rễ của sự phát bệnh.
2.2 KHÍ HẬU THAY ĐỔI : Phong tà, Hàn tà nhập
– Khí hậu thay đổi, đêm lạnh, ngày nóng vệkhí phía ngoài không thể chống đỡ nổi,
dễ bị hàn khí và phong lạnh xâm nhập gây bệnh.
Trương Tử Hòa nói :
"Bệnh tê thấp do 4 mùa mưa ấm, gặp tháng 3 tháng 9, là tháng Thái dương gặp
thủy cho nên cây cỏ khô héo, thủy hàn nhiều"
Đó là nói vì thời khí thay đổi mà sinh ra bệnh.
– Bởi vậy tại các nước Âu châu, các nước Bắc Mỹ, những vùng núi non khí hậu hàn
lãnh, thay đổi đột ngột nhiều, khiến cho cơ thể dễ sinh bệnh, các vùng này Phong
thấp phát sinh trầm trọng
– Hoặc những người đang từ vùng nhiệt đới tới vùng ôn đới hoặc hàn đới, cơ thể
vốn quen với khí hậu nhiệt, nay gặp hàn khí, vệ khí không đủ giữ cơ thể nên dễ sinh
bệnh.
2.3 NGƯỜI YẾU DƯƠNG HƯ : Phong, Hàn, Thấp nhập
– Người yếu đuối, dương khí hư, vệ khí dương không đủ bảo vệ cơ thể, phong, hàn,
thấp tà xâm nhập.
Y Tông Kim Giám nói :
"Do nguyên khí, tinh khí bên trong trống rỗng, cho nên 3 khí tà phong, hàn, thấp
xâm nhập, không biết giải trừ đi, thì nó sẽ lưu trú tại kinh lạc, lâu ngày thành chứng
tê thấp".
Đây là nguyên do chủ yếu của chứng bệnh.
Nhiệt tý hình thành là do ngoại cảm phong, hàn, thấp tà ứ đọng lâu ngày hóa nhiệt,
hoặc phong thấp nhiệt tà từ ngoài xâm nhập, vào người mà cơ thể vốn có dương
thịnh, trong người vốn đã ôn nhiệt Cho nên Y Học Cổ Phương nói :
Trang 15" Tạng, phủ, kinh lạc, trước vốn đã tích nhiệt, sau còn bị phong, hàn, thấp ở ngoài
kinh nhập vào, nhiệt bị hàn làm ứ đọng lại, khí không thông được, lâu quá hàn hóa
nhiệt mà thành Phong thấp Nhiệt".
Chứng Phong thấp không khỏi, trị bệnh không đúng cách, hoặc lại bị cảm tà, nhiễm
trùng, từ cơ biểu nhập vào huyết mạch, do huyết mạch chạy vào tâm tạng Cho nên
Nội Kinh đã nói:
"Ngũ tạng giai hữu hợp mạch tý bất di, nội xá vu kỳ hợp dã" "Mạch tý bất di,
ngoại phục vu tà, nội xá vu tâm "
2.4 BIỂU HÌNH NGUYÊN DO CHỨNG PHONG THẤP
2.4.1 Biểu hình huyết hư, không đủ sức chống bệnh, phong là dương tà,
thừa cơ nhập vào người.
2.4.2 Biểu hình thận dương hư, hàn là âm tà, thừa cơ nhập cơ thể.
2.4.3 Biểu hình tỳ dương hư, không đủ sức vab hóa thấp ra khỏi cơ thể
Hoặc không đủ sức phòng vệ, ngoại thấp nhập cơ thể.
2.4.4 Biểu hình : Tỳ dương, thận dương hư, huyết hư Ba tà khí phong,
hàn, thấp nhập cơ thế, thành chứng Phong thấp.
3 ĐẶC TÍNH CỦA CHỨNG PHONG THẤP
3.1 BỆNH PHÁT TOÀN THÂN : Diễn tiến
Trang 16Chứng Phong thấp thường thì các khớp xương tổn hại là nhân tố chính yếu Bệnh
nhân trình diện thầy thuốc, với một vài khu đau nhức Nhưng toàn thân cơ thể bị
bệnh, nơi đau là chỗ trầm trọng nhất mà thôi Bệnh toàn thân đa số là lúc mới phát,
thường là biểu chứng.
Phát nhiệt, ác phong
Ác hàn, tiếng nói nặng
Toàn thân đau nhức
Khớp xương sưng nóng đau
Cổ hầu khô nóng
Miệng đắng, khô hoặc trơn nhẵn
Sau đó thường thấy các chứng trạng :
Tự nhiên mồ hôi xuất
Người yếu không có lực
Ăn vào đầy ứ
Tiểu tiện bất lợi
Sắc mặt trắng nhợt
Tâm ủy, phiền táo
Lồng ngực nghẹn khí
Bệnh khi hoãn, khi phát
Khỏi rồi lại phát
3.2 KHỚP XƯƠNG TỔN THƯƠNG
Sau đó trị không đúng, hoặc không trị, tà khí nhập xương, có triệu chứng:
Khớp xương sưng đau hoặc nhức như dao cắt
Co duỗi khó khăn hoặc không được
Hoặc các khớp xương sưng đỏ
Phát nhiệt, đau nhức
Hoặc khớp xương chân tay đau, tại khu vực đau hàn, lạnh
Xương biến dạng : Các ngón chân tay, cùi chỏ, đầu gối, vai, xương sống
Thường thấy gót chân, đầu gối, cườm tay, cùi chỏ, bả vai, cần cổ bị nhiều nhất Các
bộ phận khác thì ít Bệnh có thể phát tác toàn thể các khớp xương hoặc một vài
khớp xương Có thể bệnh nhân nay sưng khớp xương này, mai sưng khớp xương
khác, chân tay nặng nề, hoặc tê hoặc co rút, hoạt động không linh hoạt.
3.3 TÂM TẠNG BỊ TỔN THƯƠNG
Bệnh lâu, tà khí nhập tâm, phát sinh Tâm tý chứng:
Tự nhiên mồ hôi xuất dầm dề
Hô hấp khó khăn
Bệnh nhẹ thì khi lao lực chứng phát
Bệnh nặng thì bất cứ lúc nào cũng phát được
Trang 17Lồng ngực đau ngâm ngẩm hoặc đau thốn
Phía bên trái của tim đau nặng hơn
Bệnh nặng thì tim lớn
Lồng ngực thường đau, tâm âm, tâm dương tổn thương
Tâm khí bị hao tổn Khi phát nhiệt, thì tâm ủy, phiền táo, hoặc lo sợ kinh hãi vô lý
Mạch, nhịp tim không đều Chứng này không trị thì sinh ra bệnh phù thủng do tim
hoặc tình trạng tâm khí thoát ra ngoài : Tâm lực suy yếu, Phong thấp tim.
3.4 THẤP KẾT LẠI (calcification)
Tại cùi chỏ, đầu gối, sau gáy, và khu vực trán thịt phù ra như mập, ít ngày sau biến
mất Hiện tượng này thường xuất hiện sau những cơn đau nhức Lâm sàn thường
thấy bệnh nhân sưng ở gót chân, đến độ không thấy xương mắt cá đâu Phía cùi
chỏ, đầu gối tròn to lớn lên, nhất là sau cổ từ C5 đến D4 thường sưng lên như chiếc
bát úp vào Bệnh lâu thì xương cốt biến dạng thay đổi kỳ lạ, hoặc mục nát.
3.5 BỆNH CHẨN NGOÀI DA
Phong thấp còn sinh ra chứng bệnh ngoài da, y học ngày nay gọi là Hoàn trạng hồng
ban, vết thấp chẩn sắc lợt ở giữa, xung quanh hồng mà sắc thâm, thường thấy ở
chân tay, bệnh xuất hiện ít tháng rồi mất, hoặc lâu ngày không biến đi, nay chỗ này,
mai chỗ khác Sách Tố Vấn thiên Tứ thời nghịch lượng luận đã nói đến bệnh này gọi
là Bì tý ẩn chẩn tức là chứng tê thấp đã ẩn thấp chẩn.
Y Học Cổ Phương nói:
"Phong, hàn, thấp hợp lại mà ra chứng tê thấp Chứng xuất ở da thì thành thấp
chẩn, khi hiện khi ẩn, khi ở chỗ này, khi chạy chỗ khác Lâu ngày không chữa trị thì
chạy vào máu, thành chứng chung ẩn chẩn, thành mụn bọc, ấn vào không thấy đau”
3.6 CHÂN TAY RUN
Chân tay run, hoặc nhiều khi có những cử động không tự chủ được:
" Bệnh mới phát không chữa trị, để lâu thì nhập gân, xương Hoặc nhập vào địa
phận gan Gan chủ cân, bởi vậy sinh ra chứng chân tay run rẽ, hoặc hoạt động
không tự chủ được như người điên loạn Hoặc định làm cử chỉ này thì lại làm cử chỉ
khác " (Y Học Cổ Phương, chứng Phong thấp)
3.7 MẠCH VÀ LƯỠI CỦA CHỨNG PHONG THẤP
- Nếu Phong thấp mà Phong mạnh, mạnh hơn thì mạch Phù xác hoặc Phù khẩn
Chất lưỡi lợt, bợn lưỡi trắng hoặc vàng
- Nếu Phong thấp mà Hàn mạnh thì mạch Trầm khẩn hoặc Trầm trì Chất lưỡi lợt
hoặc xanh, bợn lưỡi trắng hoặc trắng dầy
- Nếu Phong thấp mà thấp mạnh thì mạch Nhu hoặc Hoạt Chất lưỡi lợt, bợn lưỡi
trắng hoạt hoặc trắng trơn
- Nếu Phong thấp mà nhiệtø mạnh thì mạch Phù xác hoặc Sác khẩn Bợn lưỡi vàng,
trơn hoặc vàng khô, hoặc vàng dầy
- Nếu Phong thấp xâm nhập tổn thương tới tim thì mạch đa số Thoát tật hoặc Kết
đai hoặc Trì hư Bợn lưỡi trắng hoặc vàng, hoặc ít bợn lưỡi chất lưỡi hồng có vằn
hoặc tím hoặc có ố điểm Bộ phận lưỡi dầy, lớn, sắc trắng lợt.
4 CHỨNG PHONG THẤP THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Trang 18Chứng Phong thấp y học hiện đại gọi là Phong thấp (Rhumatology) Phong thấp là
một bệnh phát tác cấp tính hoặc mãn tính trên toàn thân, nguyên nhân phát bệnh
hoàn toàn chưa minh bạch Khi bệnh phát thì liên hệ tới nhiễm trùng hoặc tới tốc độ
(VS, Vitesse de sédimentation) và số lượng huyết quản (NFS Numérotation de la
formule sanguine)
Trước khi phát tác, thường thấy thịt dư ở cổ sưng, hầu sưng, đường hô hấp nhiễm
trùng, sau đó thấy toàn thân phát bệnh liên hệ tới khớp xương, tâm tạng Hệ thống
trung khu thần kinh, và các chứng phát nhiệt, ác hàn, khớp xương sưng đỏ, có
những vết hồng ban, dưới da kết lại từng khu sưng cứng Sau cùng đưa tới : Phong
Thấp tim, các mạch sưng, thận sưng, phế sưng, vv
5 PHƯƠNG PHÁP CHẨN BỆNH
5.1 TỨ CHẨN
5.1.1 VỌNG
Sắc mặt, sắc lưỡi, các vết ban chẩn, trạng thái tinh thần, và những chỗ sưng đau,
họng sưng, vận động đi đứng nằm ngồi, còn phải quan sát miệng, hầu, nhất là xem
những chỗ sưng để giải đoán.
– Hiện trạng sức khỏe vào quí tiết
– Bệnh mới phát có bị mụn trong miệng, trong cổ họng, ho hoặc phát nhiệt không
– Hỏi chứng trạng hiện tại, như biểu hiện hàn nhiệt, khớp xương đau, sưng, đau
nóng hoặc đau lạnh Chỗ đầu cổ di chuyển hay không
– Sau đó giải đoán toàn thân và phân chứng thẳng âm dương, biểu lý, hư thực, hàn
nhiệt Cuối cùng quyết định phương thức điều trị.
– Nghe nhịp tim Tim đập mau, tiếng đập cải biến Động mạch phế khu thứ nhì âm
thanh lớn Khu đầu tim thì tiếng đập nhu, hoặc luôn luôn có những tạp âm, đệ nhất
tâm âm giảm nhược
– Quang tuyến X Hình dạng quả tim đa số không có gì đặc biệt Hoặc đôi khi phía
ngăn trái lớn hơn, hoặc lưng quả tim đầy ứ
Trang 19– Tâm điện đồ ECG Không có gì đặc biệt hoặc đôi khi P-R dài, tâm luật hỗn loạn
chuyển vận bị ngăn trở ứ đọng, QS dài, ST tới T cải biến.
6 BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH PHONG THẤP
6.1 BIẾN CHỨNG THỨ NHẤT
Bệnh chạy vào xương Chủ yếu là các khớp xương sưng, tổn hại Đa số thấy co các
các ngón chân tay, bàn chân tay, cần cổ Nếu không điều trị, chứng bệnh chạy vào
địa phận của tim thì hóa ra điên giản Trong sách Kim Quĩ Yếu Lược, thiên Trúng
phong thương tiết, sách Thương Hàn Luận cũng luận về Phong thấp nhiệt, cũng đưa
ra luận chứng như trên.Thông thường : cột sống mọc gai (Bec de perroquet), xương
đầu gối, bàn chân, bàn tay dị dạng.
6.2 BIẾN CHỨNG THỨ NHÌ
Biến chứng nữa là xương cốt dính liền với nhau Lúc đau thì chỉ thấy sưng nhức đau
tại các khớp xương Bệnh xuất hiện tại biểu, lâu ngày không trị chạy vào tới xương,
xương thay hình đổi dạng, mục nát, chân tay co rút, người nóng, mồ hôi xuất, ăn
vào đầy ứ, phiền táo không ngủ được.
7 NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Trị bệnh tê thấp, trong y sử Trung, Việt thực là phong phú, triều đại nào cũng có
những danh y nghiên cứu điều đã qua, phát minh phương thức mới Những phương
thức điều trị bao gồm :
Dược trị : Trung Hoa, Việt Nam
Châm cứu trị : Trung Hoa, Việt Nam (bao gồm cả lấy máu)
Tẩm quất : Trung Hoa, Việt Nam
Khí công trị : Việt Nam
Dinh dưỡng : Việt Nam, Trung Hoa,
Giác hơi : Việt Nam.
" Người luyện tập võ, trước hết là đạt được cái đạo, khi đạo cao, thì không còn lo
sợ tà khí nhập người Muốn đạo cao thì phải luyện sao cho thăng bằng tinh, thần,
khí Muốn tinh, thần khí sung mãn, thì phải biết tìm ở khí công Trong khoa khí công,
các tư thức luyện tập như rừng như biển, người luyện phải nắm vững từng tư thức
Trước khi chọn tư thức phải trở về với bản thân, tìm nguyên do Tiên thiên, Hậu
thiên, cái nào yếu đuối, thì luyện tập những thức phụ trợ
Người bị Phong thấp do tiên thiên, dù cha mẹ, ông bà mấy đời bị di truyền lại,
nhưng biết luyện từ nhỏ, há sợ gì bệnh
Bản bệnh phát sinh do khí, huyết hư hao Người bị bệnh Tiên thiên, thì bất quá cha
mẹ, tổ tiên vốn đã có khí huyết hư nhược Nếu con cháu không biết điều trị bệnh sẽ
nặng thêm lên Ngược lại con cháu biết dùng khí công luyện tập ngay từ nhỏ, thì
không đáng lo sợ
Người bị tê thấp do Hậu thiên khí thì cũng giống như trường hợp thông thường :
Bị thọ lãnh phong, hàn, nhiệt, thấp mà thành Nhưng sở dĩ phong, hàn, nhiệt, Thấp
xâm nhập vì chân khí yếu, vệ khí ngoại biệt không đủ che cho cơ thể
Bởi vậy bệnh mới phát của Hậu thiên hoặc Tiên thiên đều có thể luyện khí công mà
phòng vệ Khí công để điều hòa tinh, thần, khí, làm cho vệ khí sung mãn "
Trang 20Nhưng khoa Khí công là một khoa nửa võ học nữa y học, trình bày phương thức điều
trị vào đây sẽ rất dài Các võ sư cũng nhận xét giống các y gia : Người ta sở dĩ bị
Phong thấp là do khí, huyết hư hao vệ khí không đủ che cho cơ thể.
" Người bản chất yếu đuối, do Tiên thiên hay Hậu thiên khí, hoặc vì lao sinh quá
độ, hoặc vì thần chí, hoặc vì cư trú trong vùng ẩm thấp, khí hậu thay đổi
Phong, hàn, thấp, nhiệt xâm nhập mà thành tê thấp Vậy bản bệnh sở dĩ phát sinh
hầu hết do khí huyết hư hao Trị bệnh phải trị tận gốc : Ngoài thì giải phong, hàn,
thấp, nhiệt, trong phải bổ dưỡng khí, huyết Bổ dưỡng khí huyết bằng dược vật,
bằng ăn uống Giải phong, hàn, thấp, nhiệt bằng dược vật, bằng châm cứu Nhưng
bổ dưỡng khí không gì mạnh bằng Khí công”
Dương Cảnh Nhạc nói :
" Người bị phong, vũ, âm ám mạnh, thì đó là bệnh âm tà che mất dương Hoặc
gặp nhiệt quá, đó là chứng thấp nhiệt, làm âm bị thương Chứng nhiệt thì phải giải
nhiệt, chứng hàn thì phải làm ôn nhiệt Nếu gân mạch đều bị ứ đọng, đó là huyết
hư, huyết táo vậy, nếu không dưỡng huyết dưỡng tâm thì không xong"
Lý Dụng Túy đời Thanh nói :
" Phong thì phải sơ tán, hàn thì làm ôn kinh, thấp thì phải thanh táo, hư thực thì
tìm về gốc mà trị Nếu dư thì làm tản, đánh tan tà đi, nếu không đủ thì bổ dưỡng khí
huyết"
Đó là ba luận cứ trị liệu, đời sau theo đó làm áp dụng Riêng về Y Học Cổ Phương thì
có lời khuyên thực nghiệm hơn Ngoài thì giải phong, hàn, thấp, nhiệt, trong bổ
dưỡng khí huyết Bổ huyết bằng dược vật ăn uống, bổ khí bằng Khí công và cũng
bằng dược vật ăn uống Còn giải ngoại tà bằng châm cứu, mau hơn bằng các
phương pháp khác
Dưới đây là bảng liệt kê phương thuốc điều trị chứng tê thấp qua các thời đại Trong
bảng này, thu tóm lại được các nguyên lý sau :
7.1 THỨ NHẤT : Sơ phong trừ thấp, ôn kinh thông lạc
Phong, hàn, thấp ba khí làm thành tê thấp Trong đó :
– Phong mạnh, thì Sơ phong thông lạc làm chủ, trừ thấp, ôn kinh là phụ
– Hàn mạnh, thì Tán hàn, ôn kinh làm chủ, sơ phong lợi thấp là phụ.
– Thấp mạnh, hơn thì Trục thấp, xả cân làm chủ, tán phong trừ hàn là phụ.
7.2 THỨ NHÌ : Thanh nhiệt trừ thấp, ôn kinh thông lạc
Phong hàn từ ngoài nhập vào ứ đọng lại lâu thì hóa thành nhiệt Hoặc thấp nhiệt tà
ứ đọng trong người, đưa đến Nhiệt Hấp Trị Pháp phải thanh nhiệt trừ thấp, sơ phong
thông lạc.
7.3 THỨ BA : Trị bệnh Phong thấp cần phải có phụ trợ
– Một là cơ dược vật lý huyết (điều hòa huyết).
Phong, hàn, thấp, nhiệt tà nhập vào kinh lạc, làm ngăn trở ứ đọng khí huyết đưa
đến khí huyết ô đới, kinh lạc ngăn trở, trị pháp phải:
"Trị phong tiên trị huyết, huyết hành phong tự phân" (chữa phong thì trước phải
chữa huyết, huyết lưu thông được thì phong tự chạy mất)
Trang 21Bởi phong là dương tà, gặp hàn, thấp thì ứ đọng lại gây ra sưng nhức, nên nếu làm
cho Phong tà thoát ra hoặc thông đi thì huyết lưu thông được Vì vậy phải dùng
những vị thuốc Sơ phong, tá dĩ dưỡng huyết hoạt huyết để phụ trợ huyết lưu hành.
– Hai là có dược vật bổ can, thận.
Can chủ cân, thận chủ cốt, chứng tê thấp thường làm tổn thương gân cốt Cho nên
bổ can ích thận là làm mạnh gân cốt, thì trợ cho việc trừ phong, hàn, thấp, nhiệt Vì
vậy trong các thang thuốc trị tê thấp thường có những vị thuốc bổ can ích thận,
cường cân, kiên cốt, để lợi cho khớp xương.
– Ba là phải có dược vật kiên tỳ, ôn thận.
Tỳ vận hành, chuyển thấp ra ngoài, thận dương để ôn nhiệt "Ôn thận, kiên tỳ" thì
thận dương đầy đủ, tỳ vận hóa chắc chắn, thấp tà không có chỗ đọng lại, lưu lại,
nghĩa là bị tiêu trừ, thì Phong thấp được trị vậy.
7.4 LỜI KHUYÊN CĂN BẢN
Bởi vậy khi lâm sàn trị bệnh phải biết giải đoán, phân loại bệnh cho rõ ràng :
– Phong, hàn, thấp, nhiệt tà nào mạnh,
– Phải xét cho kỹ bệnh thuộc âm dương, hàn nhiệt, hư thực, biểu lý,
– Phân biệt bệnh : Phong thấp chạy, lạnh, tê và tê, nhiệt
Tùy theo tình trạng bệnh nhân mà dùng dược liệu bồi bổ khí, huyết, can, tỳ, thận
Cái khuyết điểm trầm trọng của các y sĩ Tây phương khi học Rhumatologie là:
– Lúc dùng biện chứng và phương thức thực nghiệm Tây phương nghiên cứu y học
Đông phương Chỉ biết, chỉ học cách trấn áp, đàn áp cơn đau, cho là đủ, không chịu
đi xa hơn, tìm về nguồn gốc phát sinh ra bệnh để điều trị
– Chứng Phong thấp trong y học Tây phương không chịu đào sâu để điều trị, chỉ tìm
cách làm trấn tĩnh cơn đau, bệnh nhân tái phát, cứ phải suốt đời chạy theo y sĩ
– Những năm gần đây khoa Châm cứu học truyền sang Âu Mỹ, có nhiều y sĩ Âu Mỹ
đã đi nghiên cứu áp dụng trị bệnh, nhưng một số đông chỉ biết trị cho giảm cơn đau,
tức là chỉ trị một phần mười mà thôi
– Cũng có một số y sĩ Tây phương bỏ nhiều thời giờ nghiên cứu, trị bệnh theo đúng
phương pháp Á Châu, kết quả rất tốt đẹp
7.5 TÓM LƯỢC BỐN LOẠI PHONG THẤP
7.5.1 HÀNH TÝ, phong thấp chạy, tê thấp chạy
– Huyết hư nặng, phong tà nhập nhiều hơn,
– Thận dương, tỳ dương hư ít hơn, hàn, thấp nhập ít hơn
Trang 227.5.2 THỐNG TÝ phong thấp lạnh, tê thấp lạnh,
– Thận dương hư nhiều hơn, hàn tà nhập nhiều hơn,
– Huyết hư, tỳ dương hư ít hơn, thấp, phong nhập ít hơn
7.5.3 TRỨ TÝ, phong thấp tê, tê thấp tê,
– Tỳ dương hư nặng hơn, thấp nhập nhiều hơn,
– Thận dương, huyết hư t hơn, phong, hàn nhập ít hơn
7.5.4 NHIỆT TÝ, phong thấp nhiệt, tê thấp nhiệt
– Huyết hư nhiều hơn, phong, nhiệt cùng nhập,
– Tỳ dương, thận dương hư ít hơn, hàn, thấp nhập ít hơn
8 LIỆT KÊ 17 DANH GIA CỔ TRỊ BỆNH PHONG THẤP
Dưới đây xin trình bày 17 phương thuốc cổ, đã được cập nhật hóa, ngày nay các đại
học y khoa vẫn còn giảng dạy Các phương thuốc được các dược phòng chế thành
viên (hoàn), tễ, bán trên thị trường.
8.1 Ô DẦU THANG trong sách Kim Quĩ Yếu Lược
Phương pháp :
Sơ phong trừ thấp,
Trang 23Ôn kinh, thông lạc,
Lý huyết, bổ khí
Dược trị :
Ma hoàng, Ô đầu, Bạch thược, Hoàng thị, Cam thảo
Dùng trị Hành tý Được chế thành viên bán trên thị trường Giá rất rẻ.
8.2 QUẾ CHI PHỤ TỬ THANG trong sách Thương Hàn Luận
Quế chi, Phụ tử, Sinh khương, Đại táo, Cam thảo
Dùng cho Hành tý Được chế thành viên bán trên thị trường Giá rất rẻ.
8.3 ĐỘC HOẠT KỲ SINH THANG trong sách Thiên Kim Phương
Độc hoạt, Phòng phong, Tần gia, Phục linh, Quế chi, Tế tân, Đương qui, Xuyên
khung, Bạch thược, Sinh địa, Thường sâm, Tang kỳ sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất, Cam
thảo,
Được chế thành viên Dùng trong Thống tý, hoặc Trứ tý kinh niên Xương dị dạng.
8.4 TIỂU HOẠT LẠC ĐƠN trong sách Cúc Phương
Chích nam tinh, Địa long, Phụ phiến, Xuyên ô, Nhũ hương, Mộc dược
Rất phổ thông, chế thành viên, tễ Dùng trị Hành tý (Phong thấp chạy), Thống tý
Giá rất rẻ.
8.5 CAN TÝ THANG trong sách Thọ Thế Bảo Nguyên
Phương pháp :
Sơ phong trừ thấp,
Trang 24Ôn thông linh lạc,
Lý huyết, lý khí,
Dược trị :
Khương hoạt, Địa long, Nhũ hương, Mộc dược, Đào nhân, Hồng hoa, Đương qui,
Linh chi, Hương phụ, Cam thảo
Khương hoạt, Độc hoạt, Phòng phong, Tần gia, Uy linh tiên, Thương thuật, Phục
linh, Trạch tả, Đương qui, Thăng ma
Ô đầu, Quế tâm, Sinh khương, Đương qui, Xuyên khung, Bạch thược, Nhân sâm,
Bạch thuật, Hoàng thị, Đại táo
Dùng trị người gìa bị Thống tý, hoặc trẻ bệnh kinh niên.
Tần gia, Tòng tiết, Linh tiên, Tang chi, Khương hoạt, Phòng phong, Đương qui, Mộc
dược, Xuyên đoạn, Hổ cốt
Trang 25Dùng trị Hành tý kinh niên Hoặc dùng cho người già bị Hành tý.
8.10 QUYÊN TÝ THANG trong sách Y Học Tâm Ngữ
Khương hoạt, Độc hoạt, Tang chi, Tần gia, Hải phong tất, Quế tâm, Đương qui,
Xuyên khung, Nhũ hương, Mộc hương
Phòng phong, Độc hoạt, Phục linh, Quế chi, Tế tân, Phụ phiến, Đương qui, Xuyên
khung, Sinh địa, Bạch thược, Đỗ trọng, Tục đoạn
Khương hoạt, Tần gia, Địa long, Nhũ hương, Linh chi, Đương qui, Đào nhân, Hồng
hoa, Hương phụ, Ngưu tất
Trang 26Dùng trị bệnh kinh niên, tà khí nhập tâm.
8.14 GIA VỊ TAM DIÊU TÁN trong sách Nghiệm Phương
Dược chế thành bột, bán trên thị trường Dùng trị Nhiệt tý.
8.15 HỔ TIỀM HOÀN trong sách Đơn Khê Phương
Được chế thành viên Giá tương đối Dùng trị Nhiệt tý.
8.16 KHU PHONG THANG, TÁN HÀN THANG, TÁO THẤP THANG, TÁN NHIỆT
THANG trong Y Học Cổ Phương
Hoàng thị, Khương hoạt, Độc hoạt, Phòng phong, Ô đầu, Sinh khương, Địa long,
Đương qui, Xuyên khung, Bạch thược, Đào nhân, Hồng hoa, Thục địa, Hoàng thị, Đại
táo, Thường sâm, Tang kỳ sinh, Đỗ trọng, Hoàng bách, Cam thảo
Dùng trị bệnh kinh niên, bệnh nhập tâm, hoặc xương dị dạng.
8.17 PHONG THẤP ĐƠN trong sách Y Học Cải Phương
Phương pháp :
Trang 27Đã được chế thành viên, tễ bán trên thị trường Giá hơi dắt, dùng trị : Phong thấp
cho người cao niên, bệnh kinh niên.
9 BIỆN CHỨNG DƯỢC TRỊ
Trên đã trình bầy những phương thuốc cổ Tuy còn giá trị Nhưng không phải là
những phương tốt nhất Dưới đây là những phương thuốc điều trị hữu hiệu nhất, tùy
theo loại phong thấp
9.1 PHONG MẠNH : Phong thấp chạy, Tê thấp chạy, Hành tý, Hầu tý, vv
9.1.1 CHỦ CHỨNG
Phát nhiệt ác hàn
Mình đau, tay chân đau,Khớp xương đau nhức
Chỗ đau thay đổi không chừng
Khớp xương hoặc hồng đỏ hoặc sưng
Gân mạch co rút
Khúc gập chận tay, cổ bất lợi
Trong đó đầu gối, mắt cá, cùi chỏ, cườm tay tổn hại nhiều nhất
MẠCH : Phù xác, Phù khẩn
CHẤT LƯỠI : Lợt, bợn lưỡi trắng ướt (nhuận)
Biểu hình : Phong mầu xanh, mạnh hơn hàn (mầu đen) và thấp (mầu xanh lơ)
9.1.2 PHÂN TÍCH BỆNH LÝ
Đó là hiện tượng phong, thấp xâm nhập Phong là dương tà, thấp là âm tà Khi
phong thấp nhập vào cơ biểu, kinh lạc, khớp xương, thì thấy phát nhiệt ác hàn Khi
dương tà xâm nhập gặp âm tà thì bị ngưng lại, nên khí huyết không thông được, bất
thông tất thống vì vậy khớp xương mới sưng đỏ đau đớn Khi kinh mạch không được
thông, thì các khúc gập bất lợi.
Trang 28Khi phong tà mạnh thì có hiện tượng Phong giả, thiện hành nhi đa biến Phong tà
thịnh thì khớp xương đau, và chạy khắp cơ thể.
Về mạch và lưỡi, mạch Phù xác và Phù khẩn là hiện tượng của Phong thấp xâm
nhập, phong tà thịnh Bợn lưỡi lợt trắng nhuận là hiện tượng biểu chứng, phong
(1) ĐẠI TẦN GIA THANG trong Chúng Nhân Mạch Trị : Khương hoạt, Độc hoạt,
Phòng phong, Uy linh tiên, Tần gia, Thăng ma, Thương thuật, Phục linh, Trạch tả,
Đương qui
(2) TIỂU BẠCH PHỤ TỬ THANG trong Nghiệm Phương : Tiểu bạch, Phụ tử, Thiên
ma, Nhuy nhân, Xuyên khung, Đương qui, Khương hoạt, Độc hoạt, Quế chi, Bạch
thược, Kiều bản, Bạch chỉ, Sinh khương, Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Cam thảo, Đại
táo
(3) KHU PHONG THANG trong Y Học Cổ Phương:Khương hoạt, Độc hoạt, Phòng
phong, Quế chi, Xuyên ô, Đương qui, Hương phụ, Hoàng thị, Đỗ trọng, Cam thảo
Khớp xương sưng đỏ, nhức nóng dùng thang (1) thêm Dĩ nhân, Phòng kỷ, Xích
thược Nếu đau nhức chạy khắp nơi thì dùng thang (1) thêm Địa long Nếu Phong
mạnh mà thấy người lạnh, thì thế thang (1) bằng thang (2) Ngoài ra người suy
Chỗ đau thì da không hồng, không nóng
Thường phát vào những ngày mưa, u ám
MẠCH : Trầm khẩn hoặc Trầm huyền
CHẤT LƯỠI : Lợt, bợn lưỡi trắng hoặc trắng dầy
Trang 29Biểu hình: Hàn (mầu đen) mạnh hơn phong (mầu xanh) và thấp (mầu xanh lơ)
9.2.2 PHÂN TÁCH BỆNH LÝ
Đây là trường hợp Phong thấp : Phong, hàn, thấp xâm nhập, nhưng hàn mạnh, ứ
đọng tại cơ biểu, khớp xương Hàn thấp là âm tà, tính của nó là "Ngưng đọng nặng
nề và đục" làm cản trở kinh lạc, khớp xương, khí huyết, bế tắc, không thông được
mà bất thông tắc thống cho nên khớp xương đau, chỗ đau nhất định, Hàn tà mạnh,
tính của nó là "Thu và Dẫn", cho nên khớp xương, khúc gập bất lợi Nếu Hàn tà
thịnh bên trong thì sợ lạnh, chân tay lạnh, khớp xương cảm thấy lạnh, trời mưa, âm
u thì âm khí tăng, nên bệnh nặng Hàn tà thịnh nên khi gặp nhiệt thì giảm đau, vì
hàn bị tản đi, khí huyết thông được.
(1) PHỤ TỬ QUẾ CHI THANG trong Nghiệm Phương : Phụ phiến, Quế chi, Xuyên
khung, Đương qui, Khương hoạt, Độc hoạt, Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Ngưu tất,
Hương phụ, Tần gia, Sinh khương, Cam thảo, Đại táo
(2) CẢI ĐỊNH TAM TÝ THANG trong Trương Thị Y Thông : Ô đầu, Quế tâm, Sinh
khương, Đương qui, Xuyên khung, Thược dược, Nhân sâm, (hoặc Thường sâm),
Bạch thuật, Hoàng thị, Đại táo, Cam thảo
(3) TÁN HÀN THANG trong Y Học Cổ Phương : Quế chi, Ô đầu, Xuyên ô, Sinh
khương, Ma hoàng, Độc hoạt, Đương qui, Sinh địa, Trần bì, Nhân sâm, Đỗ trọng,
Cam thảo
Thang thứ (3) đôi khi còn thêm Lộc nhung, dành cho sản phụ mới sinh, hoặc người
già yếu, người bị bệnh mất máu nhiều quá.
9.3 THẤP MẠNH, Còn gọi là Phong thấp tê, Tê thấp tê, Trứ tý
9.3.1 CHỦ CHỨNG
Toàn thân cảm thấy ớn lạnh
Chân tay, khớp xương đau nhức ê ẩm, nặng nề
Cơ nhục cảm thấy như tê hoặc sưng phù lớn lên
Trang 30Người nặng nề đi đứng khó khăn
Hoạt động bất tiện
Đau tại từng khu vực nhất định, thấp kết có nướcKhi nằm trở mình khó khăn
Ăn uống đầy ứ
MẠCH : Trầm hoạt hoặc Nhu hoãn
LƯỠI CHẤT : lợt, bợn lưỡi trắng trơn hoặc trắng đầy
Biểu hình: Thấp (mầu xanh lơ) mạnh hơn hàn (mầu đen), và phong (mầu xanh)
9.3.2 PHÂN TÍCH BỆNH LÝ
Đây là trường hợp phong, hàn, thấp xâm nhập mà thấp mạnh hơn Các hiện tượng
trên là do thấp, hàn xâm nhập bì phu, cơ nhục cùng khớp xương Thấp hàn là âm tà,
tính của nó là "nặng nề" và "đục, cản", ứ đọng không tản đi được, cho nên chân tay
mình mẩy nặng nề, tê tái, đau nhức hoạt động bất tiện, da bị sần sùi Thấp tà thịnh
bên trong, dương khí không thể chuyển thông, thì sinh ra phù thủng Hàn thấp làm
cho tỳ vị bên trong khốn khó vận hoá, cho nên ăn uống vào đầy ứ, vùng bao tử lồng
ngực nghẽn Thấp kết lại là do hàn thấp ứ đọng ở kinh lộ, không phân tán đi được.
Mạch Trầm-Hoạt, Nhu-Hoãn Bợn lưỡi trắng dầy, trắng trơn là hiện tượng của hàn
(1) ĐỘC HOẠT KỲ SINH THANG trong Thiên Kim Phương : Độc hoạt, Tang kỳ sinh,
Tần gia, Phòng phong, Tế tân, Xuyên khung, Đương qui, Địa hoàng, Bạch thược,
Quế chi, Phục linh, Đỗ trọng, Ngưu tất, Nhân sâm, Cam thảo
THÊM : Thương thuật, Dĩ Nhân, để sơ phong, trừ thấp.
THÊM : Khương hoàng, Tang chi, để chữa tay đau.
THÊM : Phụ phiến, Ô đầu, để Ôn kinh thông lạc, tán hàn, trừ thấp.
(2) KHƯƠNG HOẠT THẮNG THẤP THANG trong Chứng Trị Hối Bổ : Khương hoạt,
Độc hoạt, Xuyên khung, Kiều bản, Phòng phong, Cam thảo.
THÊM : Bán hạ, Nam tinh, Thương thuật để trừ thấp, tán hàn.
Trang 31THÊM : Tế tân, Quế chi, để Ôn kinh thông lạc.
(3) TÁO THẤP THANG trong Y Học Cổ Phương : Khương hoạt, Độc hoạt, Xuyên
khung, Phòng phong, Cam thảo, Thương thuật, Bán hạ, Quế chi, Tế tân.
9.4 NHIỆT MẠNH, Còn gọi là Phong thấp nhiệt, Tê thấp nhiệt, Nhiệt tý
Hoặc thấy những vết hồng ban, ẩn chẩn,
Khớp xương nhiều chỗ đau nhức
MẠCH : hoặc Phù xác hoặc Thoát tật, Hoạt xác
LƯỠI : Chất hồng dầy vàng và trơn, hoặc vàng trắng lẫn lộn hoặc vàng táo hoặc
vàng dầy
9.4.2 PHÂN TÍCH BỆNH LÝ
Đây là chứng thấp nhiệt ứ đọng mà nhiệt tà thịnh, hoặc Phong thấp nhưng nhiệt
thịnh cho nên phát nhiệt miệng khô, lồng ngực căng, đó là thắng Khớp xương sưng
đỏ mà đau, đó là nhiệt ứ tại khớp xương, thực chứng cho nên gặp hàn lạnh thì giảm
Làm việc quá độ, vệ khí không đủ bảo toàn cơ thể, kinh lạc ô trở, khí huyết vận hành
không tốt, cho nên đau khốn khổ Bợn lưỡi vàng, mạch Hoạt xác, Phù xác là chủ
nhiệt chứng.
9.4.3 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
Thanh nhiệt,
Trừ thấp,
Trang 32Sơ phong, thông lạc.
9.4.4 DƯỢC TRỊ
(1) BẠCH HỔ GIA QUẾ CHI THANG trong Kim Quĩ Yếu Lược : Thạch cao, Tri mẫu,
Kiên mễ, Cam thảo, Quế chi
(2) GIA VỊ TAM DIỆU TÁN trong Nghiệm Phương : Thương thuật, Hoàng bách, Ngưu
tất, Dĩ nhân, Hải đông bì, Tần gia, Phòng kỷ, Mộc thông, Xuyên khung, Nhũ hương
(3) TÁN NHIỆT THANG trong Y Học Cổ Phương : Thạch cao, Tri mẫu, Quế chi, Tang
chi, Hoàng bách, Dĩ nhân, Tần gia, Phòng kỷ, Xuyên khung, Cam thảo
Khi Hàn, Kinh mà nhiệt mạnh thì dùng, có thể thêm Hoàng linh, Xích thược, Đơn
sâm, Tần gia, Mộc thông để thanh nhiệt, kinh huyết, thông lạc
Mọi trường hợp có thể dùng (2) hoặc (3) Thang thứ ba là thang thuốc ghé bổ nhiều
Chân tay các khớp đau nhức,
Hoặc sưng đau tại một chỗ,
Hoặc sắc da không biến đổi,
Hoặc thấp chẩn ẩn hiện thấp kết,
Ăn vào đầy ứ,
Sắc mặt lợt lạt,
Tinh thần nóng nảy hoặc chân tay co giật, không tự chủ được
MẠCH : Kết đại, hoặc Thoát tật, hoặc Trầm nhược,
LƯỠI : Hồng nhạt, hoặc hồng có vằn, hoặc tím xanh, hoặc có điểm ô
9.5.2 PHÂN TÍCH BỆNH LÝ
Phong, hàn, thấp, nhiệt tà làm ngăn trở kinh lạc, kinh mạch, khí huyết vận hành khó
khăn, tâm mạch thông với phế, khi tâm tổn thương, phế bị liên lụy, cho nên hô hấp
khó khăn Thấp làm cho tỳ, vị khốn khó, vận hóa không có lực, cho nên ăn uống vào
đầy ứ Tâm mạch bị ngăn trở bế tắc, khí huyết không phân lên mặt được, cho nên
sắc mặt không tươi Thấp kết, vết ban chẩn ẩn, chân tay cử động không tự chủ được
đó là phong, hàn, thấp, nhiệt tà làm bế tắc kinh mạch, đọng lại mà không đi, thành
ra có những hoạt động ngoài ý muốn.
Mạch, lưỡi có triệu chứng trên đều chủ về chứng Phong thấp làm tổn thương đến
tâm.
9.5.3 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
Sơ phong, trừ thấp thêm:
– hoặc Ôn kinh, thông lạc,
– hoặc Thanh nhiệt, trừ thấp, thông lạc xả cân,
Trang 33– hoặc Dưỡng âm ích huyết, an thần,
– hoặc Hoạt huyết sơ ô, thông lạc
9.5.4 DƯỢC TRỊ
(1) Hàn mạnh dương hư dùng SÂM PHỤ ÔN TÂM THANG trong Trung Dược Học
Giảng Nghĩa : Nhân sâm, Phụ phiến, Nhục quế, Can khương
TÂM ỦY : Thêm Long cốt, Táo nhân, Đơn sâm để dưỡng tâm trừ phiền
CHÂN PHÙ THỦNG : Thêm Phục linh, Bạch thuật, Dĩ nhân, Thương thuật để trừ
thấp, tiêu phù thủng
(2) Nhiệt mạnh dùng TRÌ GIÁC THANG trong Thiên Kim Phương: Trì giác, Hoàng
liên, Thăng ma, Chi tử, Nhân trần
Có thể thêm : Tần gia, Dĩ nhân, Đơn sâm, Địa long
(3) Tâm âm bất túc dùng HỔ TIÊM HOÀN trong Đơn Khê Tâm Pháp : Hoàng bách,
Qui bản, Tri mẫu, Thục địa, Tỏa dương, Trần bì, Bạch thược, Can khương, Hổ cốt
Thêm Ngưu tất, bổ Can khương
(4) Huyết ô dùng THÂN THỐNG TRỤC Ô THANG trong Y Lâm Cải Thác : Đào nhân,
Hồng hoa, Đương qui, Cam thảo, Khương hoạt, Địa long, Long chi, Nhũ hương,
Ngưu tất, Hương phụ, Tần gia
Trang 342.2 HUYỆT CHUYỂN KINH
2.3 HUYỆT THÔNG KINH
3 HUYỆT CHUYÊN KHOA
7 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU KHÁC
8 SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU
8.1 CHÂM THÂN
8.2 ĐIỆN CHÂM
8.3 NHĨ CHÂM
8.4 CỨU TRỊ
Trang 36CHÂM CỨU TRỊ
1 KHÁI THUYẾT
Theo quan niệm cổ của y học Việt Nam và Trung Hoa, châm cứu trị bao gồm :
1.1 CHÂM
Thường người ta chỉ biết có châm thân, tức dùng các huyệt của 12 đường kinh và Kỳ
kinh bát mạch Nhưng vào đầu thế kỷ thứ 20, căn cứ theo khoa Anatomy của Tây y,
các châm cứu gia tìm ra trên loa tai, bàn tay, bàn chân, mũi, đầu có những điểm
phản xạ tương ứng với các bộ phận của cơ thể Châm vào những điểm đó, cũng các
kết quả như châm thân Hiện có các loại châm sau :
Châm thân, châm các huyệt đạo của 12 đường kinh và Kỳ kinh bát mạch
Nhĩ châm, châm trên loa tai Trên loa tai có hình một người nằm ngược
Thủ châm, châm trên bàn tay Trên bàn tay cũng có hình một người nằm co chân
Dùng kim châm vào các huyệt đặc biệt trên bàn tay,cũng có kết quả
Túc châm, cũng như nhĩ châm, thủ châm, túc châm là châm trên bàn chân Khoa
này dùng những huyệt đặc biệt trên bàn chân, chứ không phải những kinh huyệt tại
bàn chân.
1.2 CỨU : Ôn cứu, nhiệt cứu, giác hơi, xông hơi
Bởi vậy trong phần này bao gồm tất cả phương pháp châm, cứu trên.
Trái với những trình độ trước, khi học điều trị về chứng đau nhức, chỉ học cách châm
sao cho cơn đau nhức giảm, không đi vào những biện chứng sâu xa Ở đây châm
cứu trị được sử dụng vào việc điều trị tận căn nguyên của bệnh.
Biện chứng và nguyên tắc thi trị cũng giống như phần dược trị.
Bệnh Phong thấp thấp do bốn tà :
Dương tà : Phong, nhiệt,
Âm tà : Hàn, thấp,
2 HUYỆT TỔNG TRỊ : Trấn thống, hay Thông lạc, Xả cân
Phong thấp làm cho sưng đau Vì vậy trị pháp đầu tiên là sao tuyệt sưng đau Tuyệt
sưng đau phải dùng huyệt tổng trị Huyệt tổng trị là những huyệt áp dụng chung cho
tất cả các loại Phong thấp, dù là Hành tý, Thống tý, Trứ tý hay Nhiệt tý Huyệt tổng
trị dùng để chống sưng (viêm), triệt tiêu đau nhức Hay nói theo chuyên môn :
Thông lạc, Xả cân.Y kinh định rõ : Bất thông tắc thống Nghĩa là không thông thì
đau Ngược lại, thông tắc bất thống. Nghĩa là thông thì hết đau Lâm sàn, có ba loại
huyệt tổng trị : Áp thống, Thông kinh, Chuyển kinh.
– Huyệt Áp thống đánh tan các tà khí Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt tại khu đau
Trang 37– Huyệt Chuyển kinh, giúp tà khí tản ra khắp kinh
– Huyệt Thông kinh làm tà khí thoát ra khỏi cơ thể
Ba huyệt này dùng để trấn thống hay trong khoa Phong thấp còn gọi là
Thông lạc, Xả cân.
2.1 ÁP THỐNG
Huyệt Áp thống, cổ y học gọi là dĩ thống vi du, tức lấy chỗ đau làm huyệt Bệnh
Phong thấp gây ra đau là do kinh lạc huyết mạch bế tắc, gây sưng nhức và đau nhất
định Muốn thông lạc phải châm huyệt áp thống Nguyên tắc định huyệt Áp thống
như sau : Trong khu đau nhất định đó, có :
– Một, hai hay ba kinh chạy qua Trên các kinh ấy, đoạn nằm trong khu đau có
những huyệt nào thì gọi là huyệt Áp thống có tên
Tỷ dụ : Đầu gối sưng, thì huyệt áp thống là : Độc tỷ(E35), Tất nhãn (Kỳ huyệt),
Dương lăng tuyền (VB34), Âm lăng tuyền (RP9), Khúc tuyền (F8), Tất
dương quan (VB33), Huyết hải (RP10), Lương khâu (E34) Như cả bàn tay
sưng thì dùng huyệt : Hiệp cốc (GI4) hướng bàn tay, Thủ bát phong, Dương
khê (GI5), Dương trì (TR4), Dương cốc (IG5).
Cần cổ sưng đau thì dùng Hoa Đà giáp tích huyệt tương ứng với khu đau nhức.
Gót chân sưng đau thì dùng huyệt Giải khê (E41), Khâu hư (VB40), Thương
khâu (RP5), Trung phong (4), Thủy tuyền R5), Thân mạch (V62)
– Nhưng khu đau nhức nhiều khi không có kinh chạy qua, hoặc khu này quá lớn,
nằm xa huyệt Áp thống có tên, trường hợp này y sĩ tự định lấy những huyệt, gọi là
huyệt Áp thống không tên Cách định huyệt Áp thống không tên gọi là dĩ thống vi du
tức lấy chỗ đau làm huyệt Khi lâm sàn, thầy thuốc lấy mỗi cm 2 là một huyệt.
Tùy theo khu, dù huyệt Áp thống có tên hay không đều dùng kim lớn, nhập kim
nhanh, mạnh
2.2 HUYỆT CHUYỂN KINH
Huyệt chuyển kinh là huyệt nằm trên kinh chạy qua khu đau nhức Trên đoạn kinh
chạy qua khu đau nhức, hai huyệt tiếp giáp với khu đau gọi là huyệt chuyển kinh.
Tỷ dụ : Khu đau là phần giữa xương sống từ D2 đến D5 Khu này có Túc thái dương
bàng quang kinh và Đốc mạch.
Huyệt Áp thống có tên :
– Trên Bàng quang kinh gồm : Phong môn (V12), Phế du (V13), Khuyết âm du
(V14) Tâm du (V15).
– Trên Đốc mạch gồm : Đào đạo (VG13), Thân trụ (VG12), Thần đạo (VG11).
Huyệt Áp thống không tên :
Trang 38– Trên Bàng quang kinh : Không cần, vì huyệt Áp thống có tên đã đầy đủ.
– Trên Đốc mạch : Vưu danh (Nằm giữa Đào đạo (VG13) và Thân trụ
(VG12)), Cự khuyết du (Nằm giữa Thân trụ (VG12) và Thần đạo (VG11)).
Huyệt chuyển kinh : :
– Trên Đốc mạch gồm : Đào đạo (VG13), Linh đài (VG10).
– Trên Bàng quang kinh gồm : Đại trữ (V11), Cách du (V17).
Hầu như tất cả các châm cứu gia dù trình độ thấp hay cao đều biết xử dụng hai loại
huyệt này Tuy nhiên nếu không biết xử dụng huyệt Thông kinh nói dưới đây thì :
– Không trấn áp cơn đau tại chỗ được,
– Bệnh lâu khỏi hay không khỏi
2.3 HUYỆT THÔNG KINH
Huyệt Thông kinh, phải châm sau huyệt Áp thống và Chuyển kinh Huyệt Thông
kinh, không có nguyên tắc nào cả Dưới đây là những huyệt Thông kinh dùng cho
từng khu :
– HẬU KHÊ (IG3) : Khu phía ngoài lưng bàn tay, cánh tay, sau vai sau, cần cổ, sau
đầu, đỉnh đầu, trán.
– HIỆP CỐC (GI4) : Khu phía trong lưng bàn tay, cánh tay, vai trước, phía trước
cổ, toàn bộ khu mặt từ mắt trở xuống.
– NỘI QUAN (MC6), CÔNG TÔN (RP4) : Toàn bộ mặt trong bàn tay, cánh tay,
lồng ngực Mặt trong bàn chân, ống chân, đùi Tâm, Phế, Vị, Tỳ, Can.
– TAM ÂM GIAO (RP6) : Mặt trong ống chân, đùi, bộ phận sinh dục, tiểu trường,
đại trường Bụng dưới.
– TRƯỜNG CƯỜNG (VG1), NHÂN TRUNG (VG25) : Thông Đốc mạch bao gồm
khu mặt, đầu, cổ, sống lưng, ngang lưng, mông.
– TÚC TAM LÝ (E36) : Hiệp huyệt của Túc dương minh vị kinh Dùng cho toàn bộ
bụng trên, bụng dưới.
Ngoài ra còn có thể dùng Kinh huyệt của các kinh Vì Y kinh nói : Sở hành vi Kinh
Nghĩa là khí có thể chạy khắp kinh kể từ Kinh huyệt.
3 HUYỆT CHUYÊN KHOA
Huyệt chuyên khoa là huyệt đặc trị dành cho bốn loại Phong thấp khác nhau : Hành
tý, Thống tý, Trứ tý, Nhiệt tý Nếu chỉ châm các huyệt Áp thống, Thông kinh, Chuyển
kinh thì :
– Bệnh lâu khỏi hay đôi khi không thuyên giảm,
Trang 39– Bệnh tuy bớt, nhưng mau tái phát.
3.1 PHONG MẠNH (Phong phong thấp chạy, Tê thấp chạy, Hành tý)
3.1.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
Sơ phong làm chính,
Thông lạc, lợi thấp, xả cân làm phụ
3.1.2 HUYỆT TỔNG TRỊ : Trấn thống để Thông lạc, Xả cân.
Đã trình bày ở trên, mục đích thông lạc, xả cân, gồm Áp thống, Chuyển kinh, Thông
kinh.
3.1.3 HUYỆT CHUYÊN KHOA
Huyệt sơ phong :
Phong, Hàn, Thấp cùng xâm nhập mà phong mạnh Phong là Dương tà, tính của
phong là Thiện hành, đa biến Nên thường nay sưng chỗ này mai sưng chỗ khác
Nếu cứ châm huyệt áp thống, chuyển kinh, thông kinh thì khó trị được Sau khi châm
huyệt tổng trị, thêm một số huyệt chuyên khoa sơ phong và lợi thấp nữa.
Phong là Dương tà, nên khi nhập vào cơ thể thường theo các Dương kinh, nhất là
Thái dương kinh và Đốc mạch Bởi vậy dùng một số huyệt trên dương kinh, để giải
biểu thì Phong sẽ nhạt đi.
TAM PHONG HUYỆT, tức ba huyệt có tính năng khu phong : PHONG TRÌ
(VB20), Giao hội huyệt của Túc thiếu dương và Dương duy, hiệu năng để Sơ phong,
và giải nhiệt PHONG PHỦ (VG16), PHONG MÔN (V12)
ĐẠI TRÙY (VG14), BÁCH HỘI (VG20), Giao hội huyệt của Lục dương kinh (sáu
kinh dương) và Đốc mạch hiệu năng là Giaỉ biểu, thông dương bởi ngoại phong là
biểu chứng.
HIỆP CỐC (GI4), Nguyên huyệt của thủ dương minh kinh, hiệu năng Sơ phong,
giải biểu, thông lạc
HẬU KHÊ (IG3), Du huyệt của Thủ thái dương; một trong Bát mạch giao hội huyệt
thông với Đốc mạch, hiệu năng để xả cân mạch
KHÚC TRÌ (GI11), Hiệp huyệt của Thủ dương minh kinh Hiệu năng Sơ phong giải
biểu, thanh nhiệt lợi thấp
KIÊN NGUNG (GI15), Giao hội của Thủ dương minh và Dương kiêu mạch Hiệu
năng để thông dương khí giữa Thủ dương minh kinh và Duơng duy.
Trang 40DƯƠNG LĂNG TUYỀN (VB34), Hiệp huyệt của Thủ thiếu dương kinh, hội huyệt
của cân Hiệu năng để thanh thấp nhiệt, cường cân cốt.
HUYỀN CHUNG (VB39) còn có tên là Tuyệt cốt, Thuộc Túc thiếu dương kinh,
cũng là Lạc huyệt của ba kinh dương chân Đây là huyệt tổng hội tủy trong cơ thể Y
kinh nói Tủy hội tuyệt cốt Hiệu năng thông ba kinh dương chân, làm mạnh gân,
tủy
Sau khi trị một vài lần như vậy, thì Phong dương tà đã bị sơ tán đi, ba tà Phong,
Hán, Thấp còn lại bằng nhau, trên thân chỉ ứ đọng lại một vài chỗ đau Bây giờ còn
phải châm huyệt áp thống, chuyển kinh, thông kinh để Thông lạc, Xả cân mà thôi
Lợi thấp : Tỳ chủ vận hóa thấp, vì vậy phải thêm huyệt kích thích tỳ Nhưng tỳ và vị
tương thông biểu lý Tỳ thuộc lý, vị thuộc biểu, nên dùng huyệt Túc tam lý (E36) là
Hiệp huyệt của Túc dương minh vị kinh hầu kích thích vị Thêm huyệt Trung uyển
(VC12) là mộ huyệt của vị.
Tóm lược trị Hành tý
Huyệt khu phong, giải biểu :
Tam phong (Phong phủ VG16, Phong trì VB20, Phong môn V12), Đại chùy (VG14),
Hiệp cốc (GI4), Hậu khê (IG3), Khúc trì (GI11), Kiên ngung (GI15), Dương lăng
tuyền (VB34), Huyền chung (VB39),
Huyệt thông lạc xả cân : Huyệt Áp thống, chuyển kinh, thông kinh.
Huyệt lợi thấp, Túc tam lý (E36), Trung uyển (VC12)
3.2 HÀN MẠNH, Phong thấp lạnh,Tê thấp lạnh, Thống-tý
3.2.1 NGUYÊN TẮC THI TRỊ
Ôn kinh, thông lạc, tán hàn, trừ thấp,
3.2.2 HUYỆT CHUYÊN KHOA
Phong, Hàn, Thấp cùng xâm nhập, mà Hàn mạnh thì sinh ra Thống-tý Hàn là Âm tà
Khi Âm tà nhập được vào thì tức là Khí bị hư Bởi nguyên do mắc bệnh là trong
người khí, huyết hư. Khi khí hư, thì dương biểu không đủ để bảo vệ cơ thể Khí đây
là Nguyên khí Gốc của Nguyên khí là thận Khi thận dương hư thì Nguyên dương hư,
sinh ra Phong-thấp-lạnh.
Huyệt sơ phong
Phong thấp lạnh, tuy Hàn mạnh, Phong và Thấp nhẹ, nhưng Phong tà là thủ phạm
đầu tiên gây ra, nên vẫn phải dùng huyệt sơ phong : Tam phong huyệt (Phong
trì (VB20), Phong phủ (VG16), Phong môn (V12) Phong là dương tà, sễ làm
biến đi, nên khi trị ba, bốn lần, thì không cần nữa.