Có 2 thí nghiệm được thực hiện để đáp ứng mục tiêu trên là 1: Ảnh hưởng của hóa chất xử lý mầm bệnh và sáp đến tỷ lệ thối của cành gấc trong quá trình giâm và 2 Ảnh hưởng của chế độ tưới
Trang 1PHẠM THÀNH LUÂN
NGHIÊN CỨU KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG THỐI
CÀNH GIÂM GẤC (Momordica cochinchinensis
(Lour.) Spreng.)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Ngành: NÔNG HỌC
NGHIÊN CỨU KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG THỐI
(Lour.) Spreng.)
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
MSSV: 3073166 Lớp: Nông Học K33
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học với đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG THỐI CÀNH GIÂM GẤC
(Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.)
Do sinh viên Phạm Thành Luân thực hiện và đề nạp
Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày….tháng… năm 2011
Cán bộ hướng dẫn khoa học
TS Lê Văn Bé
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn tốt nghiệp kỹ sư nông học với đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG THỐI CÀNH GIÂM GẤC
(Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.)
Do sinh viên Phạm Thành Luân thực hiện và bảo vệ trước hội đồng vào ngày……tháng … năm 2011
Ý kiến của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:………
Luận văn tốt nghiệp được hội đồng đánh giá ở mức:………
DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày….…tháng ….năm
Trưởng khoa Nông Nghiệp và SHỨD Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kì công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Phạm Thành Luân
Trang 6LỜI CẢM TẠ
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
- Cha mẹ đã sinh ra và nuôi con khôn lớn, đã hết lòng lo cho con nên người
- Ts Lê Văn Bé, cảm ơn thầy đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện và động viên em trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này
- Toàn thể thầy cô khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, toàn thể thầy cô trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu
Chân thành cảm ơn!
- Cô Lê Thị Điểu, anh Nguyễn Văn Kha, anh Nguyễn Nhựt Nam và tập thể nhà lưới
Bộ môn Sinh Lý Sinh Hóa đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cố vấn học tập Nguyễn Lộc Hiền, thầy Nguyễn Phước Đằng cảm ơn thầy đã dìu dắt
em trong suốt quá trình học tập tại trường
Tập thể lớp Nông Học khóa 33, cảm ơn các bạn đã gắn bó giúp đỡ nhau trong suốt
thời gian hoc
Trang 7TIỂU SỬ CÁ NHÂN
Tên: Phạm Thành Luân Giới tính: nam
Sinh ngày 29 tháng 09 năm 1989 Dân tộc: kinh
Quê quán: Thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Tên cha: Phạm Văn Quỳ Sinh năm 1968
Tên mẹ: Trần Thị Thanh Xuân Sinh năm 1970
E-mail: PhamthanhluanTT0719A1@gmail.com
Tóm tắt quá trình học tập:
- Tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông năm 2007, tại trường Trung Học Phổ Thông Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
- Trúng tuyển vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2007
- Tốt nghiệp kỹ sư Nông Học niên khóa 2007-2011
Trang 8MỤC LỤC
1.1.1 Nguồn gốc và phân loại cây gấc 2
1.2.1 Thành phần dinh dưỡng có trong thịt trái 4 1.2.2 Công dụng của các thành phần dinh dưỡng bên trong thịt trái 5
1.3.1 Các phương pháp nhân giống cây gấc 6
Trang 9CHƯƠNG 2 PHƯỢNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP 18
2.3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của hóa chất xử lý mầm bệnh và sáp tỷ lệ thối của
2.3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của chế độ nước tưới đến tỷ lệ sống của cây gấc con sau khi giâm ở giai đoạn vườn ươm 21
3.1 Ảnh hưởng của hóa chất xử lý mầm bệnh và sáp (paraphin) đến tỷ lệ thối của
3.2 Ảnh hưởng của chế độ nước tưới đến tỷ lệ sống của cây gấc con trong giai đoạn
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Cây (A) và trái (B) giống gấc cao sản do trường Đại học Cần Thơ tuyển
chọn được sử dụng làm vật liệu thí nghiệm 19
Hình 2.2 Bồn giâm cành gấc với hệ thống phun sương 20
Hình 3.1 (A): Đầu cành giâm được nhúng với sáp và (B): Cành giâm không bị thối
và hình thành rễ sau 3 tuần giâm khi xử lý với (1): sáp, (2): Apppencard + Physan
và (3): sáp + Appencard + Physan 25
Hình 3.2 Các kiểu thối cành gấc trong quá trình giâm (A): Thối lá, (B): Thối cả
cành và lá và (C): Thối từ đầu cành xuống 26
Hình 3.3 Cành giâm ra rễ nhưng vẫn bị thối 27
Hình 3.4 Cành gấc ra rễ vào thời điểm 3 tuần sau khi giâm 29
Hình 3.5 Một số cây con tiếp tục chết khi ra bầu (A) và số khác sinh trưởng và phát
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của hóa chất xử lý mầm bệnh và sáp đến tỷ lệ (%) cành gấc bị
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của các biện pháp xử lý đến sự quá trình ra rễ và phát triển
của rễ cành giâm ở điểm 3 tuần sau khi giâm 27
Bảng 3.3 Tỷ lệ (%) cành gấc sống sau 4 tuần ra bầu 31
Trang 12PHẠM THÀNH LUÂN, 2011 “NGHIÊN CỨU KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG
THỐI CÀNH GIÂM GẤC (Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.)”
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Bé
TÓM LƯỢC
Đề tài “Nghiên cứu khắc phục hiện tượng thối cành giâm Gấc (Momordica cochinchinesis (Lour.) Spreng.)” được thực hiện nhằm mục tiêu hạn chế tỷ lệ cành giâm bị thối trong cả quá trình giâm cành và thuần dưỡng cây Có 2 thí nghiệm được thực hiện để đáp ứng mục tiêu trên là (1): Ảnh hưởng của hóa chất xử lý mầm bệnh và sáp đến tỷ lệ thối của cành gấc trong quá trình giâm và (2) Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến tỷ lệ sống của cây gấc con ở giai đoạn vườn ươm
Kết quả từ thí nghiệm 1 cho thấy khi nhúng đầu cành giâm với sáp, hoặc ngâm cành trong hỗn hợp thuốc xử lý Appencard 50 FL + Physan 20 L hoặc kết hợp nhúng sáp với ngâm thuốc đều có hiệu quả giảm tỷ lệ thối cành có ý nghĩa so với đối chứng Tất cả các biện pháp xử lý cành không làm ảnh hưởng đến quá trình ra
rễ cũng như sinh trưởng của rễ Giai đoạn thuần dưỡng cây con được tiến hành tại điều kiện nhà lưới cho thấy tỷ lệ cây con sống sót sau 4 tuần giâm bằng cách tưới phun sương hoặc tưới thùng vòi sen là như nhau lần lượt là 63% và 68% Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây con như số chồi bên, chiều dài chồi bên và số lá/chồi là như nhau ở hai chế độ tưới nước
Trang 13MỞ ĐẦU
Gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.) là một cây thực phẩm của
Việt Nam Trong thịt trái gấc có chứa nhiều lycopen và β - caroten với hàm lượng cao gấp nhiều lần các thực phẩm đang được sử dụng phổ biến trên thế giới Gấc thường được dùng để nấu xôi và tạo màu cho thực phẩm thay thế các phẩm màu hóa học khác Các bộ phận của cây đều có thể sử dụng để chữa bệnh trong dân gian cũng như trong y học hiện (Nguyễn Thị Trang, 2010) Từ những ưu thế về giá trị dinh dưỡng cũng như dược liệu trong trái gấc mà những trái khác không thể có được
Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2003) cho rằng khi trồng gấc bằng hom sẽ đem lại
hiệu quả cao hơn trồng bằng hạt nhưng không được tưới quá ẩm vì hom giống rất dễ
bị thối do vi khuẩn và nấm tấn công Theo quan sát của chúng tôi cho thấy cành giâm gấc rất dễ ra rễ nhưng tỷ lệ thành công của phương pháp giâm cành rất thấp (khoảng 20-30%) Nguyên nhân là do hom bị thối trong bồn giâm rất cao (khoảng 70-80%) Khi quan sát triệu chứng cho thấy hầu hết đầu hom giâm bị mọng nước và thối từ trên xuống đáy cành giâm, mặc dù cành giâm này đang ra rễ Do vậy, tỷ lệ thành công của phương pháp giâm cành không cao Hơn nữa, cành giâm sau khi ra
rễ, vô bầu (giai đoạn thuần dưỡng) cây con tiếp tục chết do nhiều nguyên nhân Một giả thiết được đặt ra là mầm bệnh do nấm hoặc vi khuẩn trong điều kiện nước phun liên tục là nguyên nhân gây thối cành giâm Để hạn chế tỷ lệ thối cành trong thời gian nhân giống Đề tài “Nghiên cứu khắc phục hiện tượng thối cành giâm gấc
(Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.)” được thực hiện với mục tiêu hạn chế
tỷ lệ thối cành giâm để gia tăng hệ số nhân giống
Trang 14CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY GẤC
1.1.1 Nguồn gốc và phân loại cây gấc
Cây gấc có tên khoa học Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng., thuộc
lớp song tử diệp (Dicotyledones), thuộc bộ hoa tím (Vioales), họ bầu bí
(Cucurbitaceae), chi Momordica L., loài cochinchinensis (Đỗ Tất Lợi, 1986)
Chi Momordica L có khoảng 45 loài trên thế giới, tập trung chủ yếu ở vùng
nhiệt đới Châu Phi, Châu Mỹ, và Châu Á có 5 -7 loài, trong đó Việt Nam có 4 loài (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003) Cây gấc ở Việt Nam mọc hoang dại và được trồng khắp nơi nhiều nhất là vùng Trung Du Bắc Bộ Trên thế giới, cây gấc cũng được tìm thấy ở Philippines, miền Nam Trung Quốc và ở Campuchia Ngoài ra cây gấc cũng xuất hiện ở Ấn Độ và Lào (Đỗ Huy Bích và ctv,, 2003)
Theo Đỗ Huy Bích và ctv (2003) cho rằng theo kinh nghiệm của người nông dân ở một vùng thuộc tỉnh Hải Dương gấc được chia ra 2 loại là gấc nếp và gấc tẻ được phân biệt như sau:
- Gấc tẻ : tên khác là gấc giun (Hưng Yên), ruột màu đỏ, ăn không ngấy (màu này nhạt đi khi đồ chín), quả to, rất sai, gai quả mau, nhiều hạt
- Gấc nếp: (gấc gạch), ruột màu vàng, ăn ít ngấy, quả nhỏ, cây ít quả, gai quả thưa, ít hạt
Điều này cũng phù hợp với Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính, 2002, cây gấc có 2 giống thường trồng là gấc nếp và gấc tẻ Gấc nếp cho quả to, thịt quả dày, hàm lượng carotene cao hơn gấc tẻ Vì vậy gấc nếp được nhiều người ưa thích hơn gấc tẻ
Trang 151.1.2 Đặc điểm về hình thái
Gấc là một loại dây leo sống nhiều năm, leo cao nhờ tua cuốn ở nách lá Mỗi năm héo một lần nhưng năm sau vào mùa xuân, từ gốc mọc ra nhiều thân mới, mỗi gốc có nhiều dây, mỗi dây có nhiều đốt, mỗi đốt có nhiều thân mới (Phạm Hoàng
Hộ, 1999; Võ Văn Chi, 2000 và Đỗ Tất Lợi, 2003)
Rễ gấc thuộc loại rễ chùm, chiều ngang tương đối rộng, khi bộ rễ lớn phát triển thành nhiều rễ phụ
Thân thuộc nhóm cây thân thảo dây leo,có nhiều nhánh Thân dây có tiết diện góc và leo rất khỏe, chiều dài có thể dài đến 15m
Lá nhẵn, chìa thùy hình chân vịt sâu vào đến ½ lá và phân ra làm 3 –5 thùy màu lục, dài 8 – 18cm.Trên thân, lá mọc so le nhau
Hoa gấc là loại cây đơn tính biệt chu có hoa đực và hoa cái riêng trong cùng một cây Hoa nở vào các tháng 4 – 5, hoa đực mọc ở kẽ lá, lá bắc hình thận to và rộng, đài có ống ngắn, các thuỳ hình tam giác nhọn, màu lam sẫm, tràng có 5 cánh màu trắng hoặc ngà vàng, hình trứng thuôn, có lông dày ở mặt trong; nhị Hoa cái
có lá bắc nhỏ, bầu xù xì sẽ phát triển thành quả (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003; Phạm
Hoàng Hộ, 1999) (Hình 1.1)
Trái hình tròn sắc xanh, khi chín chuyển sang màu đỏ cam, đường kính 15 – 20cm, Vỏ gấc có gai rậm Khi bổ ra quả thường có 6 múi Thịt có màu đỏ hoặc cam Hạt có hình dạng gần giống con ba ba nhỏ, màu đen hoặc hơi xám, vỏ ngoài rất cứng, mép có răng cưa, dày từ 5 – 6 mm, trong hạt có nhân trắng chứa nhiều dầu (Phạm Hoàng Hộ, 1999; Đỗ Tất Lợi, 2003, Võ Văn Chi, 2000)
1.1.3 Đặc điểm về sinh thái
Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính, (2002) cây gấc thích hợp với khí hậu ấm
áp, độ ẩm không khí cao, chịu hạn và chịu rét kém, không chịu được úng ngập, đọng nước Cây gấc thích hợp với nhiều loại đất, đất đồi, đất sỏi, đất cát pha nhưng tốt nhất là trồng trên đất thịt nhẹ, đất phù sa bồi, có đủ ẩm và thoát nước tốt, pH
Trang 16khoảng từ 6,0 – 7,0 Gấc cũng là loại cây ưa sáng ưa ẩm, sinh trưởng và phát triển nhanh trong điều kiện chăm sóc tốt và có đủ giá thể leo (Đỗ Huy Bích và ctv., 2003) Cũng theo Viện dược liệu (1976) gấc được trồng vào mùa xuân, lúc thời gian
ấm áp, có nhiệt độ từ 20 - 25o
C, cây sẽ mọc khỏe nếu dưới 15oC hạt nảy mầm chậm
Hình 1.1 Hoa và trái gấc (A) Hoa đực; (B) Hoa cái; (C) Trái
Hiện nay gấc mới chỉ được trồng ở phạm vi gia đình để lấy quả đồ xôi vào các ngày lễ hội, giỗ tết, cưới xin Trồng bằng hạt hay giâm cành vào các tháng 2 – 3, trồng một năm nhưng thu hoạch nhiều năm, mùa thu hoạch quả từ tháng 8, 9 đến hết tháng 1,2 năm sau Hằng năm khi thu hoạch, cây có hiện tượng rụng lá Muốn cây ra chồi nhiều và khoẻ, người ta chặt bỏ toàn bộ phần thân leo, chỉ chừa lại phần gốc, từ gốc sẽ sinh ra thế hệ cây mới có sức sống mạnh mẽ hơn Đỗ Huy Bích và ctv., 2003)
1.2 THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG VÀ CÔNG DỤNG CỦA GẤC
1.2.1 Thành phần dinh dưỡng có trong thịt trái
Theo Stephen và ctv (2002) (trích dẫn bởi Trang Ngọc Diệp, 2006), thành phần dinh dưỡng chính trong quả gấc gồm: ß-carotene (175 µg/g thịt quả), lycopene (802 µg/g thịt quả), tổng carotenoids (977 µg/g thịt quả), lipid (102 µg/g thịt quả), hàm lượng nước của thịt quả (78 % khối lượng) Theo Vuong Thuy Le (2003) (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phương Dung, 2006) cho rằng gấc có hàm lượng ß-carotene cao nhất trong tất cả các loại trái cây với nồng độ 35,5 mg/100 g thịt quả Thịt quả
Trang 17gấc chứa nhiều acid béo (đa số là các acid béo chưa no) như: oleic acid, palmitic acid, linoleic acid Ngoài ra, phần thịt quả còn chứa nhiều dưỡng chất khác như: lycopene, zeaxanthin, ß-cryptoxanthin Trong đó, hàm lượng lycopene đạt đến 380
µg/g thịt quả, cao gấp 76 lần khoai tây (Ishida và ctv., 2003)
Trong quả gấc có dầu gấc Màng đỏ bao quanh hạt (áo hạt) của quả gấc chứa đựng một lượng dầu gấc màu đỏ sẫm, chất sánh có mùi vị thơm đặc biệt, 100 g dầu gấc có 150-175 mg β-carotene, 4 g lycopene và 12 g α-tocopherol (vitamin E thiên nhiên), 33,4% palmitic acid, 7,9% stearic acid Đặc biệt là 44% oleic acid và 14,7% linoleic acid là hai loại acid béo rất cần thiết cho cơ thể Dầu gấc còn chứa các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể như: Sắt, Đồng, Colbalt, Kali, và Kẽm,… hàm lượng vitamin A trong dầu gấc cao gấp 1,8 lần so với dầu gan cá thu, gấp 15 lần so với củ cà rốt và gấp 68 lần so với quả cà chua
1.2.2 Công dụng của các thành phần dinh dưỡng bên trong thịt trái
Theo cách truyền thống người dân trồng gấc dùng quả để nấu xôi vì cho màu
đỏ rất đẹp lại bổ dưỡng hoặc dùng để nhuộm màu hạn chế sử dụng phẩm màu hóa học có hại cho sức khỏe
Dầu gấc có tác dụng như những vị thuốc có vitamin A, dùng bôi lên các vết thương, vết loét, vết bỏng làm cho da mau lành Uống dầu gấc, người bệnh chóng lên cân, tăng sức đề kháng cho cơ thể, chống oxy hoá, làm chậm quá trình lão hoá, dùng cho trẻ em chậm lớn, phòng trị các chứng bệnh khô mắt, quáng gà Ngoài ra trong dầu gấc còn chứa các sắc tố tự nhiên có tác dụng kích thích sự tạo lập melanin
và chống lại các gốc tự do Chúng kích thích hệ miễn dịch và góp phần vào sự đổi mới các tế bào β-carotene là tiền chất của vitamin A giúp chống lại sự hình thành collagen là loại enzyme huỷ hoại cấu trúc của làn da Khi vào cơ thể, β-carotene trong quả gấc sẽ biến thành carotene kích thích sự phân chia các tế bào ở đáy biểu
mô làm cho tế bào da luôn được tái tạo Vì thế nếu thiếu vitamin A thì da dễ bị hiện tượng tăng sừng da vảy cá, dày sừng chân lông, rụng tóc, tóc bạc sớm Trẻ em thiếu vitamin A sẽ giảm sức đề kháng, khô mắt dẫn tới mù loà,…Vitamin A còn giúp tạo lập tế bào lympho làm tăng khả năng kháng nhiễm của cơ thể, do đó hạn chế các
Trang 18bệnh nhiễm trùng, α - tocopherol có trong dầu gấc phòng ngừa sự lão hoá tế bào bằng cách khử các hoá chất độc hại cho cơ thể và cho da do tia cực tím và cải thiện
sự dung nạp của da với ánh nắng mặt trời
Le Thuy Vuong và ctv (2000) (trích dẫn bởi Nguyễn Thị Phương Dung, 2006), đã khảo sát thực nghiệm tác dụng của β-carotene trong dầu gấc đến trẻ em (ở miền Bắc Việt Nam) cho thấy, lượng hồng cầu, β-carotene, vitamin A trong máu của nhóm ăn xôi gấc tăng lên rõ rệt so với hai nhóm ăn dầu gấc và β-carotene tổng hợp
1.3 PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG VÀ CHĂM SÓC CÂY GẤC
1.3.1 Các phương pháp nhân giống cây gấc
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000), nhân giống là tạo ra các cá thể mới từ một cây mẹ đầu dòng, các cá thể có khả năng sống độc lập với cây mẹ, sinh trưởng và phát triển bình thường, có khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt với các đặc tính vốn có của giống và đã được kiểm tra ở cây mẹ đầu dòng Nhân giống cây ăn quả có thể chia làm hai dạng: Nhân giông vô tính và nhân giống hữu tính
1.3.1.1 Nhân giống hữu tính
Chọn những trái chín to, từ những dây cho sai trái để lấy hạt, chọn những hạt đầy đặn sẽ cho tỷ lệ cây cái cao, còn những hạt nhỏ, dài, vặn vẹo thường là cây đực Hạt gấc sau khi đã chọn thì cần được chà rửa cho sạch lớp nhớt bọc quanh vỏ hạt, bóc vỏ cứng, dùng nhân trắng bên trong để trồng Khi bóc vỏ cần tránh không làm xay xát nhân bằng cách dùng dao tách vào cạnh hạt và nạy vỏ hạt ra, nhưng không nhất thiết phải tách hết vỏ hạt ra khỏi nhân Hoặc hạt gấc được ngâm trong dung dịch acid sulfuric 10% trong một ngày cho vỏ hạt mềm ra nên khi gieo hạt sẽ rất dễ nảy mầm Sau khi xử lý ngâm hạt trong nước có thể đem gieo hạt trực tiếp ở các hố đào (Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính, 2002)
Trang 191.3.1.2 Nhân giống vô tính
* Chiết cành
Chiết cành là phương pháp dùng đất bọc quanh một đoạn thân hoặc cành đã bóc lớp vỏ Khi chỗ đó mọc rễ sẽ cắt rời cành đem trồng (Vũ Công Hậu, 2000) Trồng cây bằng cách chiết cành chóng cho thu hoạch, cây con mang đầy đủ đặc tính của di truyền của bố mẹ So với cây giâm cành và cây ghép, cây chiết mau “cỗi” hơn (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
* Ghép cành
Ghép là sự kết hợp một bộ phận của cây này với một bộ phận của cây khác để tạo thành một tổ hợp ghép, cùng sinh trưởng và phát triển như một cây thống nhất (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
* Nuôi cấy mô
Ở Việt Nam đã ứng dụng thành công kỹ thuật nuôi cấy mô để nhân giống nhiều loại cây trồng, trong đó có những cây quan trọng về mặt kinh tế như: lúa, bắp, khoai tây, rau, các loại hoa, cà phê, cao su, một số cây thân gỗ có giá trị, (Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Theo Lê Văn Hoà và ctv., (2009) cho rằng môi trường cơ bản MS có bổ sung
0,2 mgBA/lít + 0,02 mg/l IBA là thích hợp để nhân chồi in vitro Trong khi đó, MS
+ 0,2 mg/l NAA + 2 g/l than hoạt tính thích hợp cho sự tạo rễ chồi gấc in vitro
* Giâm cành
Chọn những cành bánh tẻ (không non quá không già quá) của những cây gấc cái, quả to và sai quả Cắt những đoạn dài 15 – 20 cm gọi là hom, mỗi hom một đốt, trên đốt có mầm ngủ Phần phía trên đốt dài khoảng 1 – 1,5cm, phía dưới đốt dài 5
cm, dùng dao sắc vát hai đầu Với độ nghiêng 30 – 450, sau đó đem giâm vào vườn ươm giống, phải thường xuyên giữ ẩm để các mầm ngủ nảy mầm tốt và mau bén rễ Theo cách truyền thống thì gấc có thể nhân giống bằng hạt hay giâm cành, nhưng trong thực tế ít trồng bằng hạt vì cây lâu cho quả, năng suất thấp và phẩm
Trang 20chất kém, thêm vào đó gấc là loại cây đơn tính biệt chu (cây đực và cây cái riêng), nếu trồng bằng hạt thì sau một thời gian mới xác định được là cây đực hay cây cái
mà cây đực thì không cho quả, trồng bằng cách giâm cành thì có hiệu quả hơn (Đỗ Tất Lợi, 2003)
1.3.2 Chăm sóc
Theo Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính, (2002) sau khi trồng, thấy cây đã nảy mầm cần tiến hành làm giàn để cây leo, cần chú ý hướng cho dây gấc phân bố đều trên giàn, cần để lại trong vườn hoặc trong xóm một số cây đực để tăng cường khả năng thụ phấn.Gấc là loài đơn tính biệt chu (cây đực và cây cái riêng biệt) nên ngoài việc thụ phấn tự nhiên nhờ gió và côn trùng thì cần tiến hành thụ phấn nhân tạo bắng cách dùng bông ướt lấy phấn trên đầu nhị của hoa đực bôi lên đầu nhụy của hoa cái với điều kiện hoa đực và hoa cái đã trổ đều Đến thời kì cây ra hoa lại tiếp tục bón thúc mạnh để cây ra hoa nhiều và khả năng đậu quả
Gấc có thể leo trên tường nhà, những cây cao,…nhưng cần bắc giàn thì gấc mới ra nhiều quả, đạt năng suất cao Vật liệu làm giàn rất đơn giản, có thể tận dụng chàm, tre, bạch đàn làm cọc và giàn đỡ, chăng dây thép tạo thành ô rộng 30x30cm Khi cây dài 30-40cm, theo dõi bắt ngọn leo vào giàn và thường xuyên phân tán đều ngọn trên giàn Gốc gấc được kiểm tra định kỳ để phát hiện ra gốc nào sai quả, trồng vào vụ sau
Cách làm: sau khi thu hoạch quả và cuối năm, chọn cành bánh tẻ của cây có 2
- 3 năm tuổi, cắt thành những đoạn dài 40 - 50 cm, khoanh tròn lại rồi cho vào hốc sâu 50 - 60 cm với mỗi bề rộng 50 cm được chuẩn bị sẵn với phân chuồng, mùn rác mục trộn lẫn với đất tốt đã lấp đầy gần miệng hố, sau khi đặt hom lấp đất lại dày khoảng 3 - 5 cm bằng rơm hay rác và tưới ẩm Tuy nhiên không được tưới quá ẩm
vì hom giống sẽ bị thối Khi mầm cao 40 – 50 cm cần tiến hành làm giàn hay lợi dụng những cây cao xung quanh cho cây leo, nếu có ánh sáng đầy đủ thì quả sẽ nhiều và ít bị thối rụng Năm đầu cây đã có quả nhưng rất ít, càng về sau quả càng nhiều Nếu gấc được trồng trên đất tốt, ít sâu bệnh và được chăm sóc chu đáo có thể sống và cho quả từ 10-15 năm (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Trang 211.4 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH
Dựa vào hiện tượng cực tính, khả năng tái sinh mạnh mẽ ở thực vật đã gợi những ứng dụng hiệu quả cho con người trong việc nhân giống vô tính từ các cơ quan sinh dưỡng khác nhau Từ những bộ phận độc lập của cây như bộ rễ, thân, cành, lá và ngay cả một tế bào nhỏ bé trong các mô (mô phân sinh) cũng có thể tái sinh phân chia tế bào để tạo nên một cơ thể mới hoàn chỉnh Như vậy, phương pháp giâm cành là phương pháp nhân giống thực vật bằng cơ quan sinh dưỡng khi đặt cơ quan đó trong điều kiện thích hợp thì chúng có khả năng khôi phục những bộ phận còn thiếu để trở thành một cơ thể hoàn chỉnh
Từ lâu, nhân dân ta đã sử dụng phương pháp giâm cành để nhân giống nhiều đối tượng như khoai lang, mía, hồ tiêu,… (Hoàng Ngọc Thuận, 2000), phương pháp giâm cành dựa trên khả năng hình thành rễ phụ (rễ bất định) của các đoạn cành đã cắt rời khỏi thân mẹ (hoặc các đoạn rễ)
1.4.1 Sự tái sinh
Khi tách rời một bộ phận nào đó khỏi cây mẹ, tức tính nguyên vẹn của cây bị
vi phạm; đặc tính vốn có của cây là khôi phục lại tính nguyên vẹn đó bằng sự tái sinh
Theo Vũ Văn Vụ và ctv (2007), sự tái sinh thực vật gồm sự tái sinh sinh lý và
sự tái sinh bệnh lý
Sự tái sinh sinh lý là sự thay thế những bộ phận đã mất đi và cần thiết cho chúng trong đời sống Chẳng hạn như cây rụng lá vào mùa thu, sang xuân lại tái sinh lá mới để thực hiện chức năng quang hợp
Sự tái sinh bệnh lý là tái sinh do thương tổn gây ra, chẳng hạn như tái sinh làm lành vết thương hoặc phục hồi các phần đã mất đi hay tái sinh cơ quan mới để khắc phục tính nguyên vẹn của cây
Khả năng tái sinh của thực vật khác nhau phụ thuộc vào đặc tính của loài, giống, các giai đoạn sinh trưởng, phát triển, mùa vụ và các điều kiện sinh thái khác
Trang 22Vì vậy, trong kỹ thuật giâm cành, bao giờ cũng phải cắm phần gốc vào giá thể
vì nếu không phù hợp về cực tính thì không thể tái sinh và không thành cây hoàn chỉnh được
Theo Nguyễn Du Sanh (1995) và Mai Trần Ngọc Tiếng (1996), rễ bất định là những rễ xuất phát từ bất cứ nơi nào trên cơ thể thực vật ngoại trừ từ rễ chính, tức là những rễ không xuất phát từ rễ mầm của hột
+ Giai đoạn 1: Cảm ứng và hình thành sơ khởi rễ (mụt rễ) Giai đoạn này rất
khó thấy được bằng mắt thường Từ dưới đáy cành giâm (chỗ vết thương), trong những vùng chứa các mô còn sống hoạt động mạnh (như tượng tầng nhu mô libe, nhu mô gỗ…), một vài tế bào quay lại chức năng sinh mô, chỉ làm nhiệm vụ sinh
Trang 23sản tạo thành một đám tế bào (thường được gọi là mô sẹo) Đám tế bào này tổ chức lại hình thành sơ khởi rễ
+ Giai đoạn 2: Các sơ khởi rễ phân hóa và tăng trưởng thành rễ con chui ra
khỏi vỏ Các loài dễ ra thường có đủ hai giai đoạn như trên
Sự thành lập rễ bất định là sự tái phát triển đầu tiên cần thiết, là điều kiện bắt buộc để thành công trong nhân giống bằng phương pháp giâm cành Cành là một phần quan trọng của thân, trên cành có sẵn chồi, lá, thân, chỉ cần có thêm rễ là thành cây hoàn chỉnh Khi cắt cành rời khỏi thân thì yêu cầu kĩ thuật chính là làm cho ra
rễ Sự thành lập rễ bất định xuất hiện trên nhiều loại cây: bắp, dứa hoang,… Ở những vị trí khác nhau: cây đơn tử diệp thường phát triển các rễ phụ, phát triển từ vòng quanh và gốc các đốt cây Cây mọc từ thân ngầm, chồi và các bộ phận khác cũng phát sinh rễ bất định Rễ bất định có hai dạng là rễ thành lập trước và rễ thành lập do vết thương
- Rễ thành lập trước
Thường xuất hiện ở các vị trí riêng như đốt thân Đầu tiên rễ bắt đầu phát triển
tự nhiên trên thân, chúng gắn chặt vào thân, có thể nhô hoặc không nhô ra trước để tách ra một mảnh thân Có thể sống tiềm sinh cho đến khi thân được hình thành lập
từ cành giâm và dưới điều kiện môi trường thích hợp sẽ phát triển tốt hơn Mầm rễ bất định xuất hiện ở một số cây dễ ra rễ như liễu, dương, lài,… Vị trí đầu tiên của mầm rễ thành lập trước giống như sự thành lập rễ bất định Trong vài loại rễ củ và trên cây già của một vài loài táo và cây trồng khác mầm ngủ thành lập trước làm phồng lên những nốt tròn Những loài có mầm rễ thành lập trước mọc nhanh chóng
và dễ dàng
- Rễ tạo bởi vết thương
Chỉ phát triển khi cành được giâm Quá trình của sự kích thích vết thương và
rễ được tái sinh gồm 3 bước:
* Ở vị trí mặt cắt, một số tế bào bên ngoài bị chết, một số tự làm lành vết thương và bảo vệ mặt cắt khỏi bị xâm nhập của nấm bệnh
Trang 24* Các tế bào sống phía sau vết cắt này bắt đầu phân chia sau vài ngày và một lớp tế bào nhu mô được tạo thành một nhu bì vết thương
* Vài tế bào kế cận vùng thượng tầng và libe bắt đầu phân chia và hình thành
rễ bất định Quá trình này có thể chia thành 4 giai đoạn: (1) làm mất sự chuyên hóa của các tế bào chuyên hóa, (2) thành lập mầm rễ từ các tế bào gần bó mạch, (3) sự phát triển liên tục của các mầm rễ để trở thành mầm rễ có tổ chức, và (4) sự xuất hiện và phát triển của mầm rễ thường xuyên qua các mô bao quanh ra ngoài
1.4.4 Vị trí xuất hiện rễ
Sự thành lập rễ bất định trong tự nhiên ở các loài thực vật khác nhau ở những
vị trí khác nhau (Mai Văn Trầm, 2009) Rễ bất định cùa cây thân thảo mọc bên ngoài và giữa bó mạch Còn đối với cây thân gỗ đa niên, rễ bất định có nguồn gốc
từ các tế bào nhu mô ở các phần non, đôi khi ở mô libe thứ cấp, ở mạch, tượng tầng libe gỗ, mô sẹo (callus) hoặc ở vết sần của vỏ cây Theo Nguyễn Bảo Toàn (2007) thì một vòng cương mô liên tục giữa libe và vỏ nằm ngoài các vị trí phát sinh rễ bất định, sự hiện diện của những vòng cương mô này thường thấy ở những loài khó tạo
rễ Với phần lớn các loài khó tạo rễ, cấu trúc thân không ảnh hưởng đến khả năng tạo rễ trong khi các mô bị lignin hóa ở thân hoạt động như một hàng rào cản sự phát triển rễ
1.4.5 Callus
Theo Nguyễn Bảo Toàn (2007), callus (mô sẹo) là khối tế bào vô định hình, trong quá trình thành lập rễ đối với những loài dễ ra rễ thì sự thành lập rễ và callus độc lập nhau Tuy nhiên, ở những loài khó ra rễ thì sự thành lập callus là tiền đề thành lập rễ Rễ thường phát triển qua callus, điều quan trọng hàng đầu là sự thành lập callus rất cần thiết cho sự tạo rễ Callus sinh sản nhanh chóng từ tế bào gốc của cành giâm, đầu tiên từ vùng tượng tầng, xuyên qua các tế bào của vỏ và lõi cũng có thể được tạo ra từ đây
Trang 251.4.6 Ưu khuyết điểm của phương pháp giâm cành
1.4.6.1 Ưu điểm
+ Cây nhân ra hoàn toàn đồng nhất với cây mẹ, có khả năng tồn tại lâu dài một kiểu gen, không có sự thay đổi về di truyền, giữ được đặc tính sinh học và đặc tính kinh tế của giống mong muốn
+ Các cá thể có độ đồng đều với số lượng vô tận mà không phụ thuộc vào mức
độ dị hợp của các kiểu gen
+ Tạo ra cây giống sau khi trồng sớm ra hoa kết trái, thường thì sớm hơn cây trồng từ hạt 2- 3 năm tùy theo giống
+ Tốc độ nhân giống cao, sớm có cây giống phục vụ cho nhu cầu sản xuất của + Các đột biến gen có lợi khó bị mất vì không trải qua quá trình phân bào giảm nhiễm
1.4.6.2 Khuyết điểm
+ Đối với những cây khó ra rễ, phương pháp giâm cành đòi hỏi phải có những trang thiết bị cần thiết và kỹ thuật cao để có thể khống chế được điều kiện ngoại cảnh trong nhà giâm như: ẩm độ, ánh sáng, nhiệt độ,…
+ Thông thường thân của các cây ở vùng đất ẩm ra rễ tốt hơn; chúng có khả năng sinh sản vô tính, ngay cả trong điều kiện tự nhiên, đây là điểm đặc trưng Các cây hạn sinh, đặc biệt là các cây có cấu tạo dạng chịu hạn (ngoài các cây mọng nước) sự ra rễ rất khó
1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÂM CÀNH GẤC
1.5.1 Môi trường giâm
Theo Hartman và Kester (1968) thì môi trường giâm phải xốp, thoáng khí tốt,
có khả năng giữ ẩm cao và thoát nước tốt Oxy có sẵn trong môi trường giâm rất cần thiết cho sự ra rễ nhưng nhu cầu thay đổi tùy theo loại cây
Trang 261.5.2 Điều kiện phun sương
Sach và ctv (1964) cho rằng, giâm cành trong điều kiện phun sương cùng với việc xử lý Auxin sẽ làm tế bào giãn nở lớn và tăng sinh mô ngoài nhu mô vỏ, libe
và tượng tầng Kết quả làm phá vỡ vòng cương mô làm cho những cành dễ tạo rễ hơn
Các cành gỗ mềm khi giâm trong điều kiện phun sương gián đoạn sẽ cho nhiều rễ hơn trong điều kiện nhà kính (Hess, 1965)
1.5.3 Ánh sáng
Theo Hartman và Kester (1968), sản phẩm quang hợp rất quan trọng cho việc tạo lập rễ ban đầu Cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng phải đủ để tích lũy Carbohydrate vận chuyển xuống thành lập rễ và dự trữ Carbohydrate có sẵn từ trước của cây cũng cần cho việc thành lập rễ
1.5.4 Nhiệt độ
Nhiệt độ có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo cho cành giâm ra rễ Theo Nguyễn Phi Long (1978), nhiệt độ không khí nơi giâm cành ban ngày từ 27-290C, ban đêm 150
C thích hợp cho cành giâm ra rễ Tuy nhiên, Có một số loài đòi hỏi nhiệt độ thấp hơn Ngoài ra, nhiệt độ không khí quá cao sẽ làm hư cành giâm
1.5.5 Ẩm độ
Trong quá trình giâm cành, lá của cành giâm cực kỳ nhạy cảm với sự mất nước do thoát hơi nước Theo Evans (1951), sự mất nước không thể bù lại bằng sự hấp thu nước từ đáy cành giâm và cho rằng cành giâm phải được giữ trong môi trường không khí có ẩm độ khá cao, gần như bão hòa
Do đó, khi giâm cành người ta đặt nghiêng đầu dưới của cành giâm vào giá thể
và cắt bỏ 1/3-1/2 phiến lá để hạn chế sự thoát hơi nước
Độ ẩm thích hợp trồng gấc là 70 - 80 độ
Trang 271.5.6 Chất kích thích sinh trưởng trong kỹ thuật giâm cành
Theo Nguyễn Bảo Toàn (2004), các chất điều hòa sinh trưởng ảnh hưởng trên
sự ra rễ của cành giâm có rất nhiều Tuy nhiên, Auxin vẫn được xem là chất có hiệu quả nhất Thực vật có thể được chia làm nhiều kiểu có liên quan đến chất điều hòa sinh trưởng trên sự tạo rễ của cành giâm
Thực vật có tất cả các chất nội sinh cơ bản cộng với Auxin Khi cành giâm được đặt trong điều kiện thuận lợi sẽ nhanh cho ra rễ
Những thực vật có các chất nội sinh nhiều nhưng Auxin bị giới hạn, khi áp dụng Auxin thì rễ được thành lập nhanh
Theo Trần Thế Tục và Nguyễn Ngọc Kính, 1998, để xúc tiến sự phát triển của
bộ rễ cành giâm: hom giâm sớm ra rễ, tốc độ ra rễ nhanh, tỷ lệ ra rễ cao, chất lượng
bộ rễ tốt hơn, …Trong kỹ thuật giâm cành người ta sử dụng các chất kích thích sinh trưởng: a-NAA (a-Napthalene Acetic Acid), IAA (Indole-3-Acetic Acid), IBA (Indole-3-Butyric Acid),…
Kết quả nghiên cứu trên nhiều đối tượng cây ăn quả ở trường Đại Học Nông Nghiệp I cho thấy, xử lý chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm Auxin (a-NAA, IAA, IBA) ở nồng độ 2000-6000 ppm trong thời gian ngắn rất có hiệu quả cho sự ra
rễ của cành giâm
1.5.7 Yếu tố sâu bệnh
Trong quá trình sản xuất, cây gấc được xác định là loại cây ít bị sâu bệnh tấn công Tuy nhiên, hiện nay đã phát hiện nhiều loại sâu bệnh phá hại cây gấc cần phòng trừ, nhưng phòng bệnh vẫn là phương pháp làm giảm khả năng gây hại của các tác nhân đến mức tối thiểu Bên cạnh đó, biện pháp phòng bệnh góp phần làm gia tăng hiệu quả kinh tế
Hiện nay, các loại sâu bệnh hại cây gấc đã được phát hiện và cần phải tiến hành phòng trừ đó là:
Trang 281.5.7.1 Sâu hại
* Rầy mềm (Aphid gossypii Glover)
Ấu trùng và thành trùng tập trung mặt dưới lá, nhất là đọt non, bông, chồi hút nhựa làm cho các phần ấy bị khô héo hoặc để lại vết thâm đen trên lá Đối với gấc, trong giai đoạn có hoa nếu bị loài này tấn công với mật số cao thì hoa dễ bị rụng, nhất là vào thời kỳ cho trái non, gây hiện tượng rụng trái hay trái bị méo mó
Biện pháp phòng trị: nhặt và chôn vùi những phần nào có rầy gây hại, phủ rơm lên líp từ khi có cây con đến khi cây trổ hoa và không nên bón nhiều đạm Ngoài ra, rầy mềm nhân mật số rất nhanh nên có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu để trị như: Bassa 50EC pha 15cc/bình 8 lít, phun 5-6 bình/1000 m2; Decis Repel 2.5EC; Actara 25WG;…
* Ruồi đục trái (Dacus cucurbitae Coquillet)
Sau khi hoa gấc thụ phấn, ruồi cái chọn các trái non và dùng bộ phận đẻ trứng
để đục vỏ trái và đẻ trứng vào bên trong Dòi nở đục thành đường hầm bên trong trái làm cho trái bị hư thối Khi sắp làm nhộng dòi đục vỏ trái chui ra ngoài và búng mình rơi xuống mặt đất để làm nhộng Trong mùa mưa, dòi làm nhộng ngay bên trong trái và làm trái rất dễ bị hư Nên cần có biện pháp phòng trị hợp lí
Biện pháp phòng tỏ ra rất hiệu quả là bao trái lại không cho ruồi đẻ trứng vào Bên cạnh đó, những trái đã bị ruồi tấn công phải gom lại nhằm thu hút thành trùng của ruồi tới Sau đó dùng thuốc trừ sâu để tiêu diệt, và đốt những trái đó đi
* Nhện đỏ (Tetranychus sp.)
Nhện di chuyển rất nhanh và nhả tơ mỏng bao quanh thành một lớp ở mặt dưới lá nên trông lá có màu trắng.Nhện đỏ chích hút mô của lá gấc làm cây mất màu xanh và có màu vàng và sau cùng lá sẽ bị khô đi, dây gấc mọc cằn cỗi
Do nhện đỏ rất nhỏ và thường sống ở gần gân lá nên việc phòng trị rất phức tạp.Thuốc trừ sâu sau khi được phun vào không thấm được đến nơi cư trú của nhện.Cho nên, để tăng hiệu quả tiêu diệt nhện, thuốc trừ nhện cần phải được pha