- Thực vật: là sinh vật sản xuất trong bậc dinh dưỡng của hệ sinh thái, những sinh vật thực hiện quá trình quang hợp để tạo nên nguồn thức ăn sơ cấp từ những chất vô cơ đơn giản lấy từ m
Trang 1KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC
PHÂN LOẠI CÁC LOÀI THỰC VẬT CÓ HOA Ở
KHU DU LỊCH SINH THÁI TÂY ĐÔ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành SƯ PHẠM SINH HỌC
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S ĐẶNG MINH QUÂN NGUYỄN THỊ THANH HÀ
MSSV: 3072251
Lớp: Sư phạm Sinh K33
NĂM 2011
Trang 2Sau bốn năm học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Cần Thơ Nhờ
sự hướng dẫn, chỉ dạy tận tình của quý thầy cô trong trường Đại Học Cần Thơ, quý thầy cô trong khoa sư phạm Nhất là thầy, cô ở Bộ môn Sinh, mà em có được ngày hôm nay Công lao đó không gì đền đáp được
Em xin chân thành cảm ơn:
Tất cả quý thầy, cô đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu
Thầy Đặng Minh Quân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Đội ngũ nhân viên ở Khu du lịch sinh thái Tây Đô đã cung cấp những thông tin, tài liệu cần thiết trong việc khảo sát thực tế
Sự giúp đỡ, động viên của tất cả các bạn
Xin kính chúc quý thầy cô luôn dồi dào sức khỏe và luôn thành công!
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Hà
Trang 3Đề tài: “ Phân loại các loài thực vật có hoa ở Khu du lịch sinh thái Tây
Đ ô” đựợc thực hiện từ tháng 10 năm 2010 và kết thúc vào tháng 5 năm 2011 Qua
thực tế điều tra, chúng tôi đã mô tả, phân loại, chụp ảnh và làm bộ sưu tập ảnh được 180 loài thuộc 75 họ, trong đó: nhóm bóng mát có 37 loài thuộc 20 họ, nhóm cây ăn trái có 22 loài thuộc 17 họ, nhóm cây trang trí có 137 loài thuộc 65 họ, nhóm cây mọc hoang 50 loài thuộc 28 họ, nhóm cây khác (cây lương thực và cây công nghiệp) có 2 loài thuộc 2 họ
Trang 4CẢM TẠ a
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
CHƯƠNG I 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
CHƯƠNG II 3
1 Hệ sinh thái 3
1.1 Khái niệm hệ sinh thái 3
1.2 Đặc điểm hệ sinh thái (Phạm Bình Quyền và csv, 2002) 4
1.3 Các kiểu hệ sinh thái 4
1.4 Tính bền vững của hệ sinh thái 5
1.5 Vai trò của hệ sinh thái 5
1.5.1 Bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu 6
1.5.2 Bảo tồn đa dạng sinh học 6
1.5.3 Phục hồi điều kiện môi trường sau những biến cố, sự cố 6
1.5.4 Chức năng sản xuất – giá trị kinh tế 6
1.5.5 Chức năng xã hội và nhân văn 7
2 Vườn sinh thái 7
2.1 Cấu trúc của một vườn sinh thái điển hình 7
2.2 Vai trò của vườn sinh thái đối với đời sống con người 8
2.2.1 Điều hòa khí hậu (Cao Liêm và csv, 1998) 8
2.2.2 Phát triển du lịch và phát triển kinh tế (Thế Đạt, 2003) 9
2.2.3 Bảo tồn đa dạng sinh học (Cao Liêm và csv, 1998) 9
3 An ninh sinh thái (Nguyễn Lanh, 2010) 9
3.1 Khái niệm 9
3.2 Các nội dung nghiên cứu về an ninh sinh thái trên thế giới 10
Trang 54.1 Khái niệm DLST (Lê Huy Bá, 2009) 12
4.2 Nhiệm vụ của DLST (Lê Huy Bá, 2009) 14
4.3 Nguyên tắc DLST bền vững 14
4.4 Các tên gọi khác nhau của DLST (Lê Huy Bá, 2009) 16
4.5 Tính tất yếu phát triển DLST tại Việt Nam (Phạm Trung Lương, 2002) 16
4.6 Các nguyên tắc trong quy hoạch phát triển DLST (Phạm Trung Lương, 2002) 18
4.7 Các yêu cầu để lựa chọn khu vực quy hoạch, tổ chức phát triển DLST (Phạm Trung Lương, 2002) 19
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu về du lịch sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam 19
5.1 Trên thế giới 19
5.2 Ở Việt Nam 20
6 Đa dạng các loài thực vật và vai trò của chúng đối với vườn DLST và đối với con người 21
6.1 Vai trò của thực vật đối với vườn DLST và đối với con người.21 6.1.1 Trang trí cảnh quang (Cao Liêm và ctv, 1998) 21
6.1.2 Cung cấp lương thực, thực phẩm, dược liệu (Cao Liêm và csv, 1998) 22
6.2 Đa dạng các nhóm thực vật chính trong một vườn sinh thái 22
6.2.1 Cây bóng mát 22
6.2.2 Cây trang trí 23
6.2.3 Cây ăn quả 26
6.2.4 Cây mọc hoang 26
6.2.5 Nhóm cây khác 27
7 Giới thiệu tổng quan về khu du lịch sinh thái Tây Đô 27
CHƯƠNG III 29
1 Phương tiện 29
2 Phương pháp 29
Trang 61 Tổng hợp thành phần loài 30
2 Phân nhóm cây 47
2.1 Nhóm cây bóng mát 47
2.2 Nhóm cây ăn trái 51
2.3 Nhóm cây trang trí 54
2.4 Nhóm cây mọc hoang 63
2.5 Nhóm cây khác 67
3 Kết quả so sánh về sự đa dạng các loài thực vật có hoa ở khu DLST Tây Đô với một số khu DLST khác Ở ĐBSCL 68
CHƯƠNG V 70
1 Kết luận 70
2 Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC I
PHỤ LỤC 1: Mô tả đặc điểm chính các loài thực vật có hoa ở khu DLST Tây Đô I
PHỤ LỤC 2: Một số hình ảnh các loài thực vật có hoa ở Khu DLST Tây Đô LXXIV
Trang 7Bảng 1: Thành phần loài thực vật có hoa trong Khu DLST Tây Đô 31
Bảng 2: Phân loại nhóm cây bóng mát ở khu DLST Tây Đô .47
Bảng 3: Phân loại nhóm cây ăn trái ở khu DLST Tây Đô 51
Bảng 4: Phân loại nhóm cây trang trí ở khu DLST Tây Đô 54
Bảng 5: Phân loại nhóm cây mọc hoang ở khu DLST Tây Đô 63
Bảng 6: Phân loại nhóm cây khác ở khu DLST Tây Đô 67
Bảng 7: Bảng so sánh giữa Khu DLST Tây Đô với các Khu DLST khác ở ĐBSCL 68
Trang 8Hình 1: Một số loài thuộc nhóm cây bóng mát ở Khu DLST Tây Đô 50
Hình 2: Một số loài thuộc nhóm cây ăn trái ở Khu DLST Tây Đô 53
Hình 3: Một số loài thuộc nhóm cây trang trí ở Khu DLST Tây Đô 62
Hình 4: Một số loài thuộc nhóm cây mọc hoang ở Khu DLST Tây Đô 66
Hình 5: Một số loài thuộc nhóm cây khác (lương thực, công nghiệp) ở Khu DLST Tây Đô 67
Trang 9GIỚI THIỆU
1 Đặt vấn đề
Thực vật rất phong phú và đa dạng, nó được xem là “nguồn sống” là “lá phổi xanh” của nhân loại Thực vật không chỉ là nguồn cung cấp cho con người thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, các sản phẩm dùng trong công nghiệp, mà còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa không khí và làm sạch môi trường nhờ quá trình quang hợp của chúng
Với mức độ đô thị hóa ngày càng cao như hiện nay, có rất nhiều nhà máy, khu công nghiệp, công ty được xây dựng làm cho môi trường sống của chúng ta ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi các tiếng ồn, các khí thải công nghiệp và đặc biệt diện tích cây xanh bị thu hẹp đến mức báo động Cây xanh trong thành phố giờ đây được trồng chủ yếu ở hai bên đường (vỉa hè), ở những dãy phân cách hay trong công viên để lấy bóng mát hay để trang trí Nhưng với số lượng công viên còn rất hạn chế thì chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu nghỉ ngơi của người dân Từ đó, việc mong muốn có một nơi vui chơi giải trí trong lành sau những ngày cuối tuần lao động mệt nhọc là rất cần thiết
Để đáp ứng được mong muốn đó và tạo cho con người có cảm giác gần gũi với thiên nhiên, tạm cách xa với cuộc sống ồn ào nhộn nhịp của thành phố, một mô hình du lịch mới đã ra đời và trở nên khá phổ biến là Du lịch sinh thái (DLST) Vườn sinh thái, nơi mà khi đến đây con người có thể tận hưởng không khí mát dịu, trong lành và chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên, và cùng với những “vườn cây ăn trái” có thể tận hưởng hương vị ngọt ngào của các loại trái cây đặc sản của vùng sông nước Cửu long DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực phát triển bền vững, với
sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương Du lịch nói chung và DLST nói riêng có ảnh hưởng rất nhiều đến việc bảo vệ môi trường Vì thế quan điểm phát triển DLST và bảo vệ môi trường luôn có sự hỗ trợ cho nhau giữ vững phát triển
Trang 10Hiệp - tỉnh Hậu Giang Nằm trên quốc lộ 61 cách Cần Thơ về hướng Vị Thanh 28
km, là đơn vị trực thuộc công ty công trình đô thị Cần Thơ Với diện tích 175.000
m2 có gần 100.000 m2 trồng cây ăn trái đủ loại như: Nhãn, Sầu riêng, Xoài, Bưởi, Mít, Măng cụt, Mận…đặc trưng cho vùng Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) và hơn 75.000 m2 ao hồ, sông mương, cảnh quan thiên nhiên mát mẻ có nhà hàng khách sạn Nơi đây hàng năm thu hút hàng ngàn lượt khách du lịch trong và ngoài nước bởi cảnh quan thiên nhiên đẹp, gần gũi Nhằm phát triển bền vững các giá trị sinh thái môi trường, việc “Phân loại các loài thực vật có hoa Khu DLST Tây Đô”
là rất cần thiết Ngoài ra, việc điều tra và phân loại các loài thực vật ở khu du lịch này sẽ cung cấp thêm nguồn thông tin quan trọng và bộ ảnh phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập các môn Phân loại học thực vật, Hình thái và giải phẩu thực vật, Thực vật học,…
2 Mục tiêu của đề tài
- Mô tả, phân loại và chia nhóm (cây bóng mát, cây trang trí, cây ăn quả, cây mọc hoang,…) các loài thực vật có hoa trong Khu DLST Tây Đô
- Chụp ảnh và làm bộ sưu tập ảnh các loài thực vật có hoa trong Khu DLST Tây Đô
- Lập bảng so sánh mức độ đa dạng, diện tích,… của Khu DLST Tây Đô so với một số khu du lịch sinh thái khác
Trang 11LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1 Hệ sinh thái (Vũ Trung Tạng, 2000)
Hệ sinh thái được nghiên cứu từ lâu và vì vậy, khái niệm này đã ra đời ở cuối thế kỷ thứ XIX dưới các tên gọi khác nhau như “Sinh vật quần lạc” (Dakuchaev, 1846, 1903; Mobius, 1877) Sukatsev (1944) mở rộng khái niệm
“Sinh vật quần lạc” thành khái niệm “Sinh vật địa quần lạc hay Sinh địa quần lạc” (Biogeocenose) Thuật ngữ “Hệ sinh thái” (Ecosystem) được A Tansley nêu ra vào năm 1935 và trở thành phổ biến, được sử dụng rộng rãi nhất vì nó không chỉ bao hàm các hệ sinh thái tự nhiên mà cả các hệ sinh thái nhân tạo, kể cả con tàu vũ trụ (Nguồn http://thuviensinhhoc.com/chuyen-de-sinh-hoc/sinh-thai-hoc/2254-khai-niem-he-sinh-thai)
1.1 Khái niệm hệ sinh thái
Theo Dương Hữu Thời (1998): Hệ sinh thái là một đơn vị chức năng và cấu
trúc cơ sở Nó gồm 2 thành phần chính: sinh vật và môi trường mà trong đó sinh
vật tồn tại và phát triển Các sinh vật này tác động lẫn nhau, đồng thời quan hệ qua lại với môi trường vật lý, hóa học, sinh học và tạo ra các vòng tuần hoàn vật chất
và các dòng năng lượng xuyên qua các bậc dinh dưỡng, làm ra những sản phẩm
tươi sống hay vật tiêu dùng
Theo Vũ Trung Tạng (2000): Hệ sinh thái là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để tạo nên các chu trình vật chất (chu trình sinh - địa - hoá) và sự chuyển hóa năng lượng Ví dụ: Ao, hồ, một khu rừng, một con sông, thậm chí một vùng biển, là những hệ sinh thái điển hình Hệ sinh thái lại trở thành một bộ phận cấu trúc của một hệ sinh thái duy nhất toàn cầu hay còn gọi
là sinh quyển (Biosphere)
Trang 12- Hệ sinh thái là một hệ thống, luôn vận động và biến đổi không ngừng, trạng thái tĩnh chỉ là tương đối và tạm thời
- Hệ sinh thái là một hệ thống cân bằng động và có khả năng tự điều chỉnh,
cơ chế điều chỉnh thông qua sự điều chỉnh về số lượng sinh vật trongquần xã và điều chỉnh tốc độ của chu trình vật chất và dòng năng lượng
- Hệ sinh thái có tính đa dạng càng cao thì tính bền vững càng lớn
1.3 Các kiểu hệ sinh thái
Theo Dương Hữu Thời (1998) có 2 kiểu hệ sinh thái gồm hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân tạo
*Hệ sinh thái tự nhiên gồm 2 loại:
- Hệ sinh thái nguyên sinh: Là hệ sinh thái được hình thành trong tự nhiên,
chưa có sự can thiệp của bàn tay con người, bao gồm hệ sinh thái đồng cỏ tự nhiên,
hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển,
- Hệ sinh thái đã được cải tạo: Là hệ sinh thái đã được tạo điều kiện thuận
lợi để phát triển sức sinh sản tiềm năng của nó bằng các biện pháp khoa học, kỹ thuật hiện đại, chuyên ngành hay liên ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
hay các xí nghiệp chế biến ra các sản phẩm tiêu dùng
* Hệ sinh thái nhân tạo
Là hệ sinh thái do con người tạo ra mới hoàn toàn hoặc dựa trên nền tảng của hệ sinh thái nguyên sinh đã bị thủ tiêu Nhiều hệ có cấu trúc đa dạng chẳng kém các hệ sinh thái tự nhiên (như thành phố, hồ chứa, ) song cũng có những hệ
có cấu trúc đơn giản, trong đó, quần xã sinh vật với loài ưu thế được con người lựa chọn cho mục đích sử dụng của mình, chẳng hạn như đồng ruộng, nương rẫy,… Những hệ như thế thường không ổn định Sự tồn tại và phát triển của chúng hoàn toàn dựa vào sự chăm sóc của con người Nếu không có sự chăm sóc, hệ sẽ suy thoái và nhanh chóng được thay thế bằng một hệ tự nhiên khác ổn định hơn
Tất cả hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo đều phụ thuộc vào những qui luật như nhau
Trang 13chia ra 2 kiểu sau
* Các hệ sinh thái trên cạn
- Đài nguyên hay đồng rêu đới lạnh (Tundra)
- Rừng lá kim (Rừng Taiga)
- Rừng lá rộng rụng theo mùa của vùng ôn đới
- Hoang mạc
- Savan
- Rừng mưa nhiệt đới
* Các hệ sinh thái dưới nước
- Hệ sinh thái nước mặn
- Hệ sinh thái nước ngọt
1.4 Tính bền vững của hệ sinh thái
Một hệ được xem là bền vững khi hệ duy trì được trạng thái của nó không đổi theo thời gian, hay tính bền vững của nó trước những huỷ hoại, hay sự mềm dẽo, tức là khả năng quay trở lại trạng thái ban đầu sau khi bị tác động huỷ hoại của ngoại lực, hay cuối cùng là biên độ (độ lệch) biến động của hệ để phản ứng lại những biến đổi của môi trường mà trong giới hạn đó hệ vẫn có thể quay trở lại trạng thái ban đầu
Dạng đặc trưng của tính bền vững đối với một hệ là sự biến đổi có chu kỳ
ổn định khi những yếu tố giới hạn của môi trường cũng xuất hiện một cách tuần hoàn
(Nguồn ben-vung-cua-he-sinh-thai)
http://thuviensinhhoc.com/chuyen-de-sinh-hoc/sinh-thai-hoc/2257-tinh-1.5 Vai trò của hệ sinh thái
Có thể nói hệ sinh thái là ngôi nhà chung của tất cả các sinh vật trong đó có con người Vai trò của hệ sinh thái là tổng hợp vai trò của các sinh vật có mặt trong
hệ sinh thái
Trang 14Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa (thủy vực): oxy và các nguyên tố cơ bản khác như cacbon, nitơ, photpho Chúng duy trì sự ổn định và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm
giảm nhẹ sự ô nhiễm, thiên tai
Các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ mức độ hạn hán, lũ lụt cũng như
duy trì chất lượng nước
Quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu địa phương, khí hậu vùng và cả khí hậu toàn cầu: tạo bóng mát, khuyếch tán hơi nước, giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết nóng, hạn chế sự mất nhiệt khi khí hậu lạnh giá, điều hòa nguồn khí O2 và CO2 cho môi trường trên cạn cũng như dưới nước thông qua khả năng quang hợp của hệ thực vật và vi sinh vật quang hợp,…
Các quần xã sinh vật, đặc biệt các loài nấm và vi sinh vật có khả năng hấp thụ và phân hủy các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hại khác, giúp làm sạch môi trường
1.5.2 Bảo tồn đa dạng sinh học
Thành phần loài trong hệ sinh thái rất đa dạng, góp phần làm tăng đa dạng sinh học Trong hệ sinh thái các loài có quan hệ với nhau tạo nên cấu trúc hệ sinh thái bền vững Những loài sinh vật trong hệ sinh thái được bảo tồn góp phần bảo tồn sự đa dạng loài, đa dạng kiểu hình và đa dạng kiểu gen trong hệ sinh thái
1.5.3 Phục hồi điều kiện môi trường sau những biến cố, sự cố
Duy trì một hệ sinh thái khoẻ mạnh và đa dạng góp phần phục hồi các điều kiện môi trường ban đầu sau những sự cố môi trường hay thiên tai như lũ lụt, cháy, bão …
1.5.4 Chức năng sản xuất – giá trị kinh tế
Từ xưa con người đã thuần hoá và nuôi dưỡng những loài sinh vật tự nhiên
để nhằm cung cấp thức ăn cho họ Ngày nay, những vật nuôi và cây trồng này được nuôi dưỡng và trồng trọt tập trung, tạo thành những hệ sinh thái nhân tạo như các
Trang 15phẩm quan trọng của con người Lương thực - thực phẩm con người ăn hàng ngày
là khai thác từ các hệ sinh thái
1.5.5 Chức năng xã hội và nhân văn
Trong các nền văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới, một số loài độngvật hoang dã được coi là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại hoặc các tác phẩm hội họa, điêu khắc Sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên vàtài nguyên sinh vật đã hình thành các lễ hội của một số bộ tộc ít người như lễ hội săn bắn theo mùa, hoặc hình thành sự quản lý tài nguyên theo tính chất cộngđồng như vai trò của già làng, trưởng bản trong việc phân định phạm vi, mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng
(Nguồn C%E1%BB%A6A-H%E1%BB%86-SINH-THAI)
http://www.scribd.com/doc/51088910/70/C%E1%BA%A4U-TRUC-2 Vườn sinh thái
2.1 Cấu trúc của một vườn sinh thái điển hình
Theo Vũ Trung Tạng (2000) vườn sinh thái là một hệ sinh thái trong sinh quyển, mang đầy đủ đặc điểm cấu trúc của một hệ sinh thái đặc trưng Cấu trúc gồm các thành phần chính:
Nhân tố vô sinh: gồm có
- Các chất vô cơ và các chất hữu cơ
- Các yếu tố khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, luợng mưa, gió,…
Nhân tố hữu sinh: bao gồm các loài sinh vật
- Thực vật: là sinh vật sản xuất trong bậc dinh dưỡng của hệ sinh thái, những sinh vật thực hiện quá trình quang hợp để tạo nên nguồn thức ăn sơ cấp từ những chất vô cơ đơn giản lấy từ môi trường ngoài và một số vi sinh vật có khả năng hóa tổng hợp Trong vườn DLST, thực vật còn có vai trò làm đẹp cảnh quang, những loài cây thường gặp bao gồm những cây có dáng đẹp, có hoa, quả đẹp, có hương thơm, những loài cây ăn quả quen thuộc hay những loài cây đặc sản vừa để trang
Trang 16sản hay những món ăn miền quê giản dị
- Động vật: là sinh vật tiêu thụ trong bậc dinh dưỡng của hệ sinh thái, đó là những loài sống dị dưỡng, nhờ vào nguồn thức ăn do sinh vật sản xuất tạo ra Khởi đầu của động vật tiêu thụ là những động vật ăn cỏ, các mảnh vụn của thực vật và
ăn phế liệu Những loài tiếp theo là loài ăn thịt hay còn gọi là vật dữ thuộc các bậc dinh dưỡng khác nhau Trong vườn DLST, những loài động vật thường được nuôi dưỡng trong những chiếc lồng, chuồng, những khu vực riêng được bảo vệ… để không gây nguy hiểm cho khách tham quan du lịch Đồng thời góp phần tạo sự hài hòa giữa các loài động vật và thực vật trong vườn du lịch
- Sinh vật phân hủy: gồm chủ yếu những loài Nấm, Vi khuẩn sống hoại sinh Chúng cũng là những sinh vật dị dưỡng Trong quá trình sử dụng nguồn thức ăn để lấy năng lượng, chúng đã biến đổi vật chất có thành phần cấu tạo phức tạp thành những vật chất vô cơ đơn giản nhất Do vậy, quá trình này còn được gọi là khoáng hóa vật chất
2.2 Vai trò của vườn sinh thái đối với đời sống con người
2.2.1 Điều hòa khí hậu (Cao Liêm và ctv, 1998)
Khác hẳn với không khí ồn ào, náo nhiệt thường ngày nơi đô thị, khung cảnh thiên nhiên yên bình, thoáng đãng là điểm đặc biệt vốn có và cũng là nét đặc trưng của những vườn DLST
Vào một khu vườn sinh thái điều mà không ai có thể phủ nhận được đó là không khí trong lành, mát mẻ, không gian yên tĩnh,…Nhờ có hệ thực vật đa dạng
mà không khí trong vườn DLST luôn luôn trong lành, mát mẽ Qua quá trình quang hợp hệ thực vật trong vườn sinh thái đã góp phần điều hòa, lọc sạch không khí bằng việc hấp thụ khí CO2 và năng lượng ánh sáng mặt trời và sinh ra khí O2 cần thiết cho hoạt động hô hấp của tất cả các sinh vật khác trong đó có con người Giúp cân bằng hàm lượng khí O2 và khí CO2 trong không khí Bên cạnh đó, hệ thực vật còn tạo bóng mát, hấp thụ nhiệt từ bức xạ của ánh sáng mặt trời và hạn chế được bụi và tiếng ồn
Trang 17Không khí trong lành, mát mẻ cùng với những vườn cây ăn trái là nét hấp dẫn đối với khách du lịch của vườn sinh thái Khi đến với vườn sinh thái khách du lịch có thể tận hưởng những cảnh đẹp hoang sơ của thiên nhiên, cùng với những món ăn được chế biến tại vườn, đặc biệt là có thể tận hưởng không khí trong lành,
có thể thư giản sau những ngày làm việc vất vả bằng các hình thức cắm trại hay tổ chức những bữa tiệc cho gia đình, bạn bè…
Vườn DLST là mô hình du lịch thu hút đông đảo khách tham quan du lịch,
là mô hình kinh tế có thu nhập cao, góp phần giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, làm tăng thu nhập cho người dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội, giảm tệ nạn xã hội, làm cho con người gắn bó với thiên nhiên, giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Vai trò của vườn DLST được xét đến như một mắc xích với cơ cấu phát triển bền vững, vừa phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội theo xu hướng chung của thế giới vừa đảm bảo mục tiêu bảo tồn các hệ sinh thái
2.2.3 Bảo tồn đa dạng sinh học (Cao Liêm và csv, 1998)
Vườn sinh thái là ngôi nhà chung cho các loài sinh vật Hệ thực vật trong vườn sinh thái ngoài việc cung cấp thức ăn cho các loài sinh vật khác trong hệ sinh thái còn là nơi trú ẩn của các loài động vật trong hệ sinh thái, nhờ vậy mà các loài động vật được bảo vệ
Trong quá trình xây dựng vườn DLST, ngoài những loài động thực vật vốn
có trong hệ sinh thái Vườn DLST còn được con người cung cấp thêm nhiều loài động vật, thực vật khác, đặc biệt là những loài động vật, thực vật quý hiếm Từ đó góp phần bảo tồn sự đa dạng loài trong hệ sinh thái, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học
3 An ninh sinh thái (Nguyễn Lanh, 2010)
3.1 Khái niệm
Có hai cách hiểu về an ninh sinh thái
Trang 18coi an ninh sinh thái là đảm bảo an ninh cho các hệ sinh thái trên Trái đất Với cách hiểu này, đối tượng nghiên cứu chính của an ninh sinh thái là các hệ động, thực vật
và môi trường tồn tại của chúng trong mối liên quan với các tác động do con người gây ra do các hoạt động phát triển kinh tế và xã hội của mình, và do vậy, đến khoảng cuối thế kỷ 20, với sự xuất hiện của khái niệm an ninh môi trường, an ninh sinh thái đã trở thành một phần nằm trong an ninh môi trường
Cách hiểu thứ hai về an ninh sinh thái liên quan tới cách quan niệm chú trọng nhiều hơn về an ninh toàn cục cho nhân loại, là mục tiêu được đề cao từ khoảng đầu những năm 1990, và chủ yếu là từ đầu những năm 2000 trở đi, trong đó con người (và xã hội loài người) trở thành đối tượng chính cần được đảm bảo an ninh trong bối cảnh thế giới diễn biến ngày càng phức tạp
Định nghĩa điển hình về an ninh sinh thái theo quan niệm mới do Viện Nghiên cứu Phân tích Hệ thống Ứng dụng Quốc tế của Hoa Kỳ (IIASA -
International Institute of Applied System Analysis) đưa ra là: An ninh sinh thái có nghĩa là không có những đe doạ đối với con người về cuộc sống, sức khỏe, sự thoải mái, các quyền lợi cơ bản, các nguồn đảm bảo cho cuộc sống, các tài nguyên cần thiết, hậu quả về xã hội và các khả năng thích nghi với các thay đổi môi trường, v.v., bao gồm an ninh sinh thái tự nhiên, an ninh kinh tế và an ninh xã hội,
Liên bang Nga định nghĩa về an ninh sinh thái như sau: “An ninh sinh thái
là sự bảo vệ môi trường tự nhiên và những quyền lợi sống còn của các công dân,
xã hội và quốc gia chống lại các tác động từ bên trong và bên ngoài, các quá trình
và xu thế xấu sinh ra do sự phát triển làm đe doạ sức khỏe con người, đa dạng sinh học, các chức năng chịu đựng của các hệ sinh thái, và sự sống còn của nhân loại
An ninh sinh thái là một phần tổng thể của an ninh quốc gia” (The Security
Council of the Russian Federation, 1996)
3.2 Các nội dung nghiên cứu về an ninh sinh thái trên thế giới
- Các vấn đề về dân số học: Thứ nhất là nguy cơ xảy ra xung đột giữa các
nhóm/chủng tộc người khác nhau để tranh giành tài nguyên trên một vùng lãnh thổ
cụ thể, và thứ hai là sự tăng dân số quá mức dẫn đến nguy cơ không có đủ tài
Trang 19Thứ hai là nguy cơ về dân số gia tăng đã từng được gọi là quả bom dân số, từ lâu
đã được coi là nguồn gốc của những bất ổn trong tiến trình phát triển của loài người và được cho rằng sẽ là tâm điểm của tương lai nhân loại Tuy nhiên, điều bất
ngờ về dân số học đã xuất hiện là hiện tượng tốc độ tăng dân số bằng không (zero population growth (ZPG)), hay thậm chí nhỏ hơn không ở nhiều nước công nghiệp
hóa
- An ninh lương thực: Nhu cầu cung cấp đầy đủ lương thực cho dân số ngày càng tăng của thế giới không phải là mối quan tâm mới Nỗi lo về nạn đói và thiếu dinh dưỡng tăng lên cùng với sự gia tăng bùng nổ dân số đã xuất hiện từ cuối những năm 1960, thậm chí nó vẫn tiếp tục ngay cả khi người ta đã dự báo được sản xuất lương thực sẽ tăng ổn định ở mức 2,2%/năm cho giai đoạn 1970 – 2000 và trong khoảng giữa các năm 1982 – 1997, giá lúa mỳ thế giới đã giảm 28%, giá gạo giảm 29%, và ngô giảm 30% theo giá thực
- Nguồn nước: Hiện tại, lượng nước được sử dụng hàng năm đã chiếm tới 54% tổng lượng nước có thể tiếp cận được Hiện trên thế giới có hơn 1 tỷ người vẫn còn đang thiếu nước sạch để uống và khoảng 2 tỷ người đang còn thiếu những điều kiện vệ sinh cơ bản
- Năng lượng: Hiện tại, thế giới có vẻ chưa có nguy cơ về việc hết dầu mỏ
và khí tự nhiên do các nỗ lực nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng cũng như các tiến bộ về công nghệ trong tìm kiếm và khai thác tài nguyên Tuy nhiên, nếu quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ tại Trung Quốc và Ấn Độ và những quốc gia đông dân khác, nhu cầu sẽ tăng nhanh chóng và trữ lượng sẽ bị cạn kiệt nhanh Nhu cầu cao về năng lượng cũng sẽ làm nảy sinh các nguy cơ về địa chính trị liên quan tới nguồn cung cấp dầu – khí (các khu vực: Trung Đông, Vùng Trung Á thuộc Liên Xô cũ và những khu vực khác) Quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo sẽ bị chậm do các lý do về kinh tế - xã hội và chính trị, và các chu kỳ dao động về giá năng lượng trên thế giới trong thực tế đã cản trở sự phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo
Trang 20vấn đề khoa học mơ hồ đã trở thành mối quan tâm chính sách nổi bật trên toàn cầu Đây là sự chuyển biến có tính then chốt: coi sinh thái thuộc những ưu tiên chính về chính sách Biến đổi khí hậu dài hạn sẽ có những tác động lớn hơn tới những người nghèo trên thế giới vì phần lớn những nước có nền kinh tế kém phát triển phải dựa vào những lĩnh vực có độ nhậy cảm cao với khí hậu, ví dụ như nông nghiệp Tị nạn môi trường do nước biển dâng dường như sẽ trở thành hiện thực đối với một số quốc gia đảo nhỏ cũng như tại những nước có vùng đồng bằng ven biển thấp
- Vấn đề môi trường và sự tuyệt chủng của các loài: Đây là tập hợp của hàng loạt các vấn đề nảy sinh do các hoạt động của con người tác động vào môi trường phục vụ cho quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người Các nội dung ở đây cũng tương tự như của an ninh môi trường Một số nội dung được đề cập nhiều là:
+ Ô nhiễm và suy thoái môi trường đất và nước + Suy thoái các hệ sinh thái ven biển
+ Nạn phá rừng và suy thoái rừng + Khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo và ô nhiễm công nghiệp
+ Bảo vệ đa dạng sinh học và ngăn ngừa các loài ngoại lai xâm lấn
Theo Boo (1991): DLST là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng,
Trang 21Huy Bá, 2009)
Theo L Hens (1998): DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi Nó phải đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi của dân địa phương (Lê Huy Bá, 2009)
Theo Hiệp hội DLST Hoa kỳ (1998): DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương (Lê Huy Bá, 2009)
“DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững’’ (Lê Huy Bá, 2000)
Theo Hiệp hội DLST Australia: “DLST là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lí một cách bền vững và có lợi cho sinh thái” (Lê Huy Bá, 2000)
Định nghĩa về DLST ở Việt Nam: “DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Lê Huy Bá, 2000)
Nhưng gần đây, người ta cho rằng nội dung căn bản của DLST là tập trung vào mức độ trách nhiệm của con người đối với môi trường Quan điểm thụ động cho rằng DLST là du lịch hạn chế tối đa các suy thoái môi trường do du lịch tạo ra,
là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ Quan điểm chủ động cho rằng DLST còn phải đóng góp vào quản lý bền vững môi trường lãnh thổ du lịch và phải quan tâm đến quyền lợi của nhân dân địa phương
Do đó, người ta đã đưa ra một khái niệm mới tương đối đầy đủ hơn: "DLST là du
Trang 22phúc lợi cho nhân dân địa phương"
4.2 Nhiệm vụ của DLST (Lê Huy Bá, 2009)
Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên
Bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ đang chiêm ngưỡng
Thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng địa phương, người dân bản địa trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm
du lịch, khu du lịch v.v
4.3 Nguyên tắc DLST bền vững
- Theo Lê Huy Bá (2009) DLST có những nguyên tắc cơ bản sau:
DLST nên khởi đầu với sự giúp đỡ của những thông tin cơ bản nhưng đa dạng của cộng đồng và cộng đồng nên duy trì việc kiểm soát sự phát triển của du lịch
Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã hội, văn hóa Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển DLST bền vững
Chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản và các tài nguyên thiên nhiên nên được thành lập Giảm tiêu thụ, giảm chất thải một cách triệt
để nhằm nâng cao chất lượng môi trường
Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa… (chủng loài thực vật, động vật, bản sắc văn hóa dân tộc…)
Lồng ghép các chiến lược phát triển du lịch của địa phương với quốc gia Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, tránh gây thiệt hại cho các hệ sinh thái ở đây
Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn nhằm tăng cường khả năng đáp ứng các thị hiếu của du khách
Trang 23nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh
Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch
Nghiên cứu hỗ trợ cho du lịch Phải cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường
tự nhiên, xã hội và văn hóa khu du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn các nhu cầu của
du khách
- Theo Phạm Trung Lương (1996) DLST gồm các nguyên tắc cơ bản sau: DLST phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trường tự nhiên
DLST là không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó
DLST phải tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này
Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu do đó mỗi người khách DLST sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân
DLST phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay khoa học)
DLST phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi trường
tự nhiên, đó là những kinh nghiêm được hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể Ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham gia
Trang 24chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trước, trong và sau chuyến đi)
Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng
Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng xử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng Nó đòi hởi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động
Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ quốc tế cho ngành
4.4 Các tên gọi khác nhau của DLST (Lê Huy Bá, 2009)
- Du lịch thiên nhiên (Natural tourism)
- Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural-based tourism)
- Du lịch môi trường (Environmental tourism)
- Du lịch đặc thù (Particular tourism)
- Du lịch xanh (Green tourism)
- Du lịch thám hiểm (Adventure tourism)
- Du lịch bản xứ (Indigenous tourism)
- Du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism)
- Du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism)
- Du lịch nhà tranh (Cottage tourism)
- Du lịch bền vững (Sustainable tourism)
4.5 Tính tất yếu phát triển DLST tại Việt Nam (Phạm Trung Lương, 2002)
Ở Việt Nam, ngành du lịch phát triển tương đối muộn Hoạt động du lịch chỉ thực sự diễn ra sôi nổi từ sau năm 1990 gắn liền với chính sách mở cửa của Đảng
và Nhà nước Theo số liệu thống kê từ năm 1990 đến 2002 lượng khách quốc tế tăng 10,5 lần (từ 250.000 đến 2.620.000) khách nội địa tăng 13 lần (từ 1.000.000 tăng lên 13.000.000) Thu nhập xã hội cũng tăng đáng kể, năm 1991 là 2.240 tỷ
Trang 25tồn và vườn quốc gia và du lịch biển đóng góp một tỷ trọng lớn Các số liệu thống
kê ở một số vườn quốc gia như Cúc Phương, Cát Bà, Côn Đảo, Bạch Mã các khu bảo tồn thiên nhiên như Phong Nha- Kẻ bàng, Hồ kẻ gỗ bình quân mỗi năm tăng 50% khách nội địa và 30 % khách quốc tế Trong giai đoạn từ 1995 – 1998 DLST đạt tăng trưởng 16,5 % Vì vậy hiện nay phát triển DLST là một xu thế tất yếu
DLST phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu ngày một tăng của khách dulịch, của cộng đồng Nhu cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của
xã hội, đảm bảo về tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái, với tư cách là một ngành kinh tế Bên cạnh xu thế phát triển DLST do nhu cầu khách quan, xu thế này còn không nằm ngoài xu thế chung về phát triển xã hội của loài người khi các giá trị tài nguyên ngày càng bị suy thoái, khai thác cạn kiệt Việt Nam là một đất nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo
Vị trí đó đã tạo nên một nền nhiệt độ cao, độ ẩm không khí cao, mưa nhiều Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3000 km, lưng dựa vào dãy Trường Sơn Chính các điều kiện đó đã mang lại cho Việt Nam một hệ động thực vật vô cùng phong phú,
đa dạng và độc đáo Kết hợp vào đó có rất nhiều nét văn hoá dân tộc đặc sắc, đậm
đà Những yếu tố đó đã tạo nên cho Việt Nam một lợi thế to lớn trong việc phát triển loại hình DLST Cùng với việc nỗ lực bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên và văn hoá phục vụ phát triển kinh tế thông qua DLST là một xu thế tất yếu Với tư cách là một ngành kinh tế mũi nhọn
Du lịch trong đó có du lịnh sinh thái ngày càng khẳng định vị thế của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước DLST ở Việt nam cũng đã có những đóng góp lớn cho sự phát triển cộng đồng, bảo vệ tài nguyên môi trường Nhờ phát triển DLST mà đồng bào một số dân tộc, cư dân sinh sống trong vùng đệm các vườn quốc gia, khu bảo tồn có được việc làm, nâng cao mức sống, các lễ hội, tập tục, ngành nghề thủ công được bảo tồn và phát triển
Trang 262002)
Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào công tác bảo tồn Thông qua việc giáo dục diễn giải nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của du khách và cộng đồng các giá trị của tài nguyên môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Từ đó họ có thể có những thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường và có đóng góp tích cực cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị về tự nhiên sinh thái
và văn hóa bản địa
Bảo vệ và duy trì hệ sinh thái Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường
tự nhiên và hệ sinh thái điển hình Sự suy thoái môi trường và hệ sinh thái đồng nghĩa với sự suy giảm của hoạt động DLST Vì vậy mọi hoạt động DLST phải được quản lý để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập
từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư để bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoa cộng đồng, giá trị văn hóa bản địa vừa
là tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách vừa là nguồn lực để phát triển DLST Song các giá trị văn hoa bản địa là một bộ phận không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự suy giảm, mai một những giá trị văn hoa truyền thống của cộng đồng địa phương nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái của khu vực và sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Điều này sẽ tác động tiêu cực đến DLST
Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Đây vừa
là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Từ việc mang lại lợi ích chia
sẻ lợi nhuận với cộng đồng địa phương, huy động cộng đồng địa phương tham gia làm việc, cung ứng dịch vụ, hàng hoa cho du lịch, sẽ làm cho người dân giảm sự lệ thuộc vào việc khai thác tự nhiên, đã làm cho họ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên và các giá trị văn hoa Do vậy sẽ giảm sức ép của cộng đồng địa phương với tài nguyên môi trường tự nhiên và họ sẽ là những chủ nhân của các nguồn tài nguyên du lịch, tích cực bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn hoa bản địa, sẽ giúp cho hoạt động DLST thành công
Trang 27(Phạm Trung Lương, 2002)
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được DLST là sự tồn tại các hệ sinh thái
tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa hình, khí hậu, đất đai, nguồn nước và động, thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên, sinh thái động, thực vật, sinh thái nông nghiệp, sinh thái khí hậu và sinh thái nhân văn
DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural-based tourism), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính năng đa dạng sinh học cao Vì vậy DLST thường được tổ chức phát triển ở các khu bảo tồn, đặc biệt là các vườn quốc gia, nơi bảo tồn những khu rừng với sự đa dạng sinh thái và sinh học cao Ngoài ra DLST có thể phát triển ở những khu vực trang trại, miệt vườn điển hình ở nông thôn
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu về du lịch sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam
5.1 Trên thế giới
Từ những năm 1990 trở lại đây, các chương trình nghiên cứu DLST khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở các nước Châu Á - Thái Bình Dương, Đông Nam Á Một số chương trình nghiên cứu của Hội DLST (1992 – 1993); chương trình môi trường Liên hợp quốc (1979), Tổ chức du lịch thế giới (1994), đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Burns, Holden (1995); PATA (1993); Cater (1993); Glaser (1996); Wright (1993) Đáng chú ý là công trình nghiên cứu “ DLST hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” của Kreg Lindberg (1999) và các chuyên gia của Hội DLST quốc tế Những công trình nghiên cứu trên đã tạo cơ sở khoa học và
mở hướng cho việc nghiên cứu DLST ở Việt Nam
Trang 28Ngành du lịch ở Việt Nam chỉ thực sự phát triển trong khoảng 20 năm trở lại đây Chính vì vậy việc nghiên cứu về các vấn đề du lịch vẫn còn hạn chế, đặc biệt
là vấn đề DLST
Trong những năm qua, các công trình nghiên cứu như “ Đánh giá tài nguyên
du lịch Việt Nam “ do Viện nghiên cứu và Phát triển Du lịch; công trình “ Đánh giá
và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch” của Đặng Duy Lợi (1992); công trình “ Những định hướng lớn về phát triển du lịch Việt Nam theo các vùng lãnh thổ” của Tổng cục du lịch (1993); và công trình “Thiết kế các tuyến điểm du lịch trong và ngoài TP Hồ Chí Minh đến năm 2010” của công ty Du lịch Sài Gòn Tourist (1995) chỉ mới phác họa lên bức tranh du lịch ở Việt Nam và một phần nào đó đánh giá chung hiện trạng phát triển du lịch ở trong nước, nhưng chưa nói rõ về loại hình DLST Bên cạnh đó, trong những năm gần đây,ở nước ta đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về DLST
- Năm 1995, Viện nghiên cứu Phát triển du lịch đã thực hiện đề tài “Hiện trạng và những định hướng cho công tác qui hoạch phát triển du lịch vùng ĐBSCL” (1996 -2010) với mục tiêu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển du lịch và đề xuất phương hướng phát triển du lịch vùng ĐBSCL cùng các phương án phát triển cụ thể Nghiên cứu này căn cứ vào tiềm năng du lịch đã đề xuất các loại hình du lịch vùng ĐBSCL như DLST, du lịch sông nước, tham quan, vui chơi giải trí và du lịch biển, nhưng chưa nghiên cứu sâu về loại hình DLST cụ thể
- Cho đến năm 1998 đã có công trình nghiên cứu của Phan Huy Xu và Trần Văn Thanh về “ Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên và định hướng khai thác DLST ở ĐBSCL” Công trình nghiên cứu này đã xây dựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế các điểm, tuyến, cụm DLST ở vùng ĐBSCL Các tác giả đã thiết kế các sản phẩm DLST đa dạng nhằm phát triển du lịch bền vững…
Trang 29nhiên vùng ĐBSCL” của Trần Văn Thành và Phạm Thị Ngọc đã điều tra bổ sung các điểm DLST, thiết kế các tuyến, cụm DLST tự nhiên vùng ĐBSCL
- Năm 2001, công trình nghiên cứu của Ngô Văn Phong về “Phân tích cảnh quan vùng ven biển Bà Rịa - Vũng Tàu và giải pháp quản lí, phát triển cảnh quan thiên nhiên để phục vụ cho DLST” Tác giả đã ứng dụng phương pháp luận trong phân tích cảnh quan để cung cấp những cơ sở khoa học cho việc tổ chức không gian DLST theo 3 vùng với 4 cụm DLST và đề xuất các giải pháp quản lí DLST về
cơ chế quản lí, thị trường, quy hoạch, đào tạo, xã hội
(Nguồn sinh-quyen-rung-ngap-man-can-gio-6141 )
http://updatebook.vn/du-lich-18/phat-trien-du-lich-sinh-thai-tai-khu-du-tru-6 Đa dạng các loài thực vật và vai trò của chúng đối với vườn DLST và đối với con người
6.1 Vai trò của thực vật đối với vườn DLST và đối với con người
Trong hệ sinh thái vườn du lịch thì thực vật chiếm thành phần chủ yếu trong cấu trúc hệ sinh thái Thực vật trong vườn DLST rất đa dạng và được phân loại, trồng theo những mục đích khác nhau phục vụ cho nhu cầu sử dụng của con người
Từ đó vai trò của thực vật đối với đời sống con người càng được thể hiện một cách sâu sắc, làm cho con người ngày càng gắn bó với thiên nhiên
6.1.1 Trang trí cảnh quang (Cao Liêm và ctv, 1998)
Trong hệ sinh thái vườn, thực vật ngoài chức năng bảo vệ môi trường: hút khí CO2 và cung cấp O2, chống xói mòn, điều hoà mực nước ngầm Cây xanh còn
có tác dụng hạn chế tiếng ồn, cải tạo, điều hòa không khí giúp cho không khí trong lành, mát mẻ thì bóng cây, tán lá làm cho cảnh vườn thêm phần tươi mát, làm dịu
đi sự ôi ức ngột ngạt của chốn đô thành Hình dạng, màu sắc của thân, của lá, của hoa, quả… càng làm tô thêm vẻ đẹp trong không gian của hệ sinh thái Người ta không chỉ sử dụng những hình dạng tự nhiên của thực vật mà còn tạo ra những hình dạng khác nhau bằng đôi bàn tay khéo léo của mình như tạo ra những cây bonsai, hình những con thú, những bức tranh…làm tăng giá trị và tăng hiệu quả sử dụng của cây xanh trong việc trang trí cảnh quang môi trường
Trang 30Nguồn lợi từ thực vật là vô cùng, vô tận Trong đời sống hằng ngày thực vật cung cấp cho con người một lựợng lương thực rất lớn nuôi sống tất cả mọi người trên thế giới và tất cả những sinh vật khác trong hệ sinh thái nhờ khả năng tổng hợp các chất hữu cơ từ các chất vô cơ đơn giản Không chỉ vậy, thực vật còn cung cấp nguồn dược phẩm quý giá từ các loại quả, hạt Quả hạt chứa nhiều dưỡng chất cần thiết cho sức khỏe con người như vitamin và khoáng chất Trong thành phần của trái cây còn chứa một lượng đường rất cao cung cấp năng lượng cho hoạt động của con người mà không gây hại cho sức khỏe con người
Thực vật luôn là nguồn nuôi sống các sinh vật khác, là mắc xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái Các bộ phận như thân, lá, hoa, quả…điều có thể được sử dụng và như thế càng làm cho con người ngày càng gần gũi với cây xanh và yêu thiên nhiên sâu sắc
6.2 Đa dạng các nhóm thực vật chính trong một vườn sinh thái
Thực vật trong vườn sinh thái rất đa dạng, con người có thể sử dụng để che mát, trang trí cảnh quan, làm cảnh….Tùy theo mục đích sử dụng khác nhau và đặc điểm của từng loại cây mà người ta có thể chia thành nhiều nhóm khác nhau Có thể chia cây xanh thành 5 nhóm:
6.2.1 Cây bóng mát
Là những loài có thân gỗ lớn, tán rộng, chiều cao tầng tán dày, độ kín tầng tán cao, lá thường xanh khi rụng ít gây ô nhiễm, chúng có chiều cao từ 5m đến 40 m, sống lâu 30 - 40 năm, có loài sống hàng nghìn năm Cây bóng mát có nhiều loại, thường được chọn trồng cho đường phố, khu nhà ở, các công sở, vườn hoa,…Cây bóng mát còn có thể chia làm 4 loại là: Cây bóng mát thường, cây bóng mát có hoa đẹp, cây bóng mát ăn quả và cây bóng mát có hoa thơm
- Cây bóng mát thường
Đặc điểm: những cây thân gỗ lớn thuộc loài lá kim hay lá rộng, thường xanh hay rụng lá trơ cành Nhiều loài cho bóng râm tốt lại có dáng cây đẹp Chúng thường được trồng đơn, trồng từng nhóm hay từng mảng phối kết với các công trình kiến trúc đường phố, khu nhà ở, công sở
Trang 31Roxb ex G.Don), Sến cát (Mimusops elengi L.), Sao đen (Hopea odorata Roxb.)…
- Cây bóng mát có hoa đẹp
Đặc điểm: Gồm những cây thân gỗ lớn hay nhỏ, cho bóng mát, nhưng đặc biệt có hoa đẹp Hoa có tác dụng trang trí ở tầng cao Chúng thường được trồng làm cảnh phối kết với công trình kiến trúc
Một số loài cây bóng mát có hoa đẹp: Phượng vĩ (Delonix regia (Bojer ex Hook.) Raf.), Bằng lăng nuớc (Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.),…
- Cây bóng mát ăn quả
Đặc điểm: Gồm những cây than gỗ lớn hay nhỏ, cho bóng mát và cho quả Quả của một số loài khi chín hợp với tán tạo thành một khối màu sắc trong thời gian dài Có loài quả phân bố trên than, trên ngọn tạo thành những chùm quả với hình dáng độc đáo tăng thêm giá trị trang trí của cây
Một số cây bóng mát ăn quả: Xoài (Mangifera indica L.), Dừa (Cocos
nucifera L.), Sầu riêng (Durio zibethinus Murr), Vú sữa (Chrysophyllum cainito
L.),
- Cây bóng mát có hoa thơm
Đặc điểm: Gồm những cây thân gỗ lớn hay nhỏ có hoa thơm dễ chịu
Một số loài cây bóng mát có hoa thơm: Hoa sữa (Alstonia schlaris (L.) R
Trang 32Đặc điểm: bao gồm những loài cây có một thân chính cao từ 1 – 2 m và 15 – 20 m, mọc thành bụi Các loài Tre, Trúc có thân đẹp, ngọn mềm mại uốn cong Tre, Trúc gần gũi với con người Việt Nam, mang đậm sắc thái dân tộc Chúng thường được trồng để trang trí tạo cảnh
Một số loài thường được trồng: Trúc quan âm (Bambusa ventricosa McClure), Tre mỡ (Bambusa vulgaris Schrad in Wendl.),…
- Các loài Cau, Dừa
Đặc điểm: Cây cao từ 5 – 20 m, thân cột đứng thẳng hài hòa với công trình kiến trúc Một số loài thuộc họ Cau, Dừa còn cho quả ăn và làm thuốc, chế biến dầu Cau, Dừa thuộc loại cây cao nhưng có hình dáng đẹp nên xếp vào loại cây trang trí
Một số cây thường được trồng: Tán cây gồm những lá có bẹ xòe ra mềm mại hợp lại ở ngọn cây tạo nên tán hình chùm thưa, thoáng rất đẹp như Chà là
nghiêng (Chrysalidocarpus lutescens H Wendl.), Cau tua (Dypisis pinnatiffrons
Mart.),… là những cây tượng trưng cho khí hậu nhiệt đới và dùng trang trí cảnh sắc độc đáo
- Cây cảnh dáng đẹp
Đặc điểm: bao gồm những cây thân gỗ mọc đơn hay mọc thành bụi có dáng cây, hoa hay lá có màu sắc đẹp Chúng thường được trồng làm cây trang trí phối kết tạo cảnh ở tầng thấp Sử dụng những loài cây cảnh dáng đẹp để trang trí đỡ tốn chi phí so với trồng những cây hàng năm
Một số cây cảnh dáng đẹp: Cau sâm banh (Mascarena lagenicaulis), Vương tùng (Araucaria exelsa R Br.), Sộp (Ficus pumila L.),…
- Cây cảnh hoa đẹp
Đặc điểm: Gồm những cây thân thảo, cây thân gỗ nhỏ mọc đơn hay mọc bụi
có hoa Hoa có nhiều màu sắc sử dụng phối kết tạo cảnh bằng cách trồng đơn lẻ hay trồng thành từng mảng lớn Chúng thường được trồng ở vườn hoa, chậu cảnh bên các công trình kiến trúc
Trang 33chinensis Jacq.), Trâm ổi (Lantana camara L.), Dừa cạn (Catharanthus roseus (L)
G Don), …
- Cây cảnh leo giàn
Đặc điểm: Gồm những cây leo có thân, lá, hoa đẹp có tác dụng trang trí và tạo bóng râm tốt, có một số loài có mật độ thưa thoáng vừa ít che khuất vừa trang trí công trình Nhiều loài có hoa đẹp với mật đọ hoa dày được dùng trang trí cho giàn leo, vòm cổng mảng tường, mái che Cây leo giàn có tác dụng tạo thảm xanh theo chiều đứng, mặt phẳng, mặt nghiêng của công trình kiến trúc làm công trình kiến trúc thêm sinh động
Một số loài cây cảnh leo giàn: Cát đằng (Thunbergia grandiflora Roxb.), Hoa giấy (Buogainvillia spectabilis Willd), Tigon (Antigonon leptopus Hook &
Arn.),…
- Cây cảnh quả đẹp
Đặc điểm: gồm những cây gỗ nhỡ có dáng đẹp, đặc biệt có quả với hình dáng và màu sắc đẹp Khi quả chín phân bố trên tán tạo thành những khối màu đẹp trong thời gian dài Chúng thường được trồng làm cảnh trang trí
Một số cây cảnh quả đẹp: Kim quýt (Triphasia trifolia (Burm f.) P Wils.), Nguyệt quới (Murraya paniculata (L.) Jack),…
- Cây hàng rào
Đặc điểm: gồm những cây thân gỗ, mọc bụi và nhiều cành nhánh Cây có mật độ lá dày, xanh quanh năm và sống lâu năm, đặc biệt có loài lá và thân có gai Chúng thường được trồng làm hàng rào xanh, cắt xén thành những khối theo ý muốn Cây hàng rào được trồng làm cây vệ sinh, cách ly, ngăn bụi, cản tiếng ồn bảo vệ công trình Điều kiện khí hậu nước ta rất nóng, cần dùng những cây hàng rào thay thế tường gạch, bê tông để giảm bức xạ nhiệt
Một số loài cây hàng rào như: Ác ó (Acanthus integrifolius T Anders.), Mắt nai (Alternanthera dentate),…
Trang 34Đặc điểm: Gồm những cây thân gỗ nhỏ hoặc cây thân thảo sống một năm hay nhiều năm Cây có nhiều cành nhánh, chịu cắt xén Một số loài có lá mang màu sắc đẹp có tác dụng trang trí đường viền cho những vườn hoa, bãi hoa
Một số cây viền bồn bãi: Tai tượng trổ (Acalypha wilkesiana Muell.-Arg),
Ác ó (Acanthus integrifolius T Anders.), Mắt nai (Alternanthera dentate), Chuỗi ngọc (Duranta erecta L.), Cẩm tú mai (Cuphea hyssopifolium Kunth.),…
- Cây thủy sinh: là những cây bụi có hoa đẹp dùng để trang trí trong các hồ
trong vuờn như Sen (Nelumbo nucifera Gaertn.), Súng đỏ (Nymphaea rubra Roxb
ex Salisb),…
- Cỏ: là mảng màu trang trí cuối cùng trong phối kết cây xanh Cỏ có chức năng làm “nền” xanh cho đất, có tác dụng tạo nên một không gian rộng lớn hơn
thực, chống xói mòn và lắng lọc bụi, tạo sự yên tĩnh, phục vụ nghỉ ngơi
Một số loài cỏ trang trí: Cỏ lá gừng (Axonopus compressus (Sw.) Beauv.),
Cỏ Lạc (Arachis glabrata Benth.), …
6.2.3 Cây ăn quả
Gồm những cây thân gỗ lớn hay nhỏ, cho quả theo mùa hay quanh năm Quả của một số loài khi chín hợp với tán tạo thành một khối màu sắc trong thời gian dài Có loài quả phân bố trên thân, trên ngọn tạo thành những chùm quả với hình
dáng độc đáo tăng thêm giá trị trang trí của cây
Một số cây ăn quả được trồng phổ biến ở ĐBSCL: Xoài (Mangifera indica L.), Dừa (Cocos nucifera L.), Sầu riêng (Durio zibethinus Murr), Dâu da (Baccaurea ramiflora Lour.), Măng cụt (Garcinia mangostana L.), Nhãn (Dimocarpus longan Lour.), Chôm chôm (Nephelium lappaceum L.), Vú sữa (Chrysophyllum cainito L.),…
6.2.4 Cây mọc hoang
Là những cây tự phát thường là cây cỏ nhỏ, mọc đơn hay mọc bụi, nhóm cây này ít có tác dụng trang trí mà chủ yếu là để làm thuốc, phổ biến là những loài cỏ dại thuộc họ Hòa bản, họ Lác (cói), hay những loài cỏ lá rộng như: Cỏ chua lè
Trang 35tượng xanh (Acalypha indica L.), Lục lông (Chloris barbata (L.) Sw.), …
6.2.5 Nhóm cây khác
Gồm cây lương thực và cây công nghiệp là những cây thân gỗ hay thân cỏ được trồng và thu hoạch với quy mô lớn
- Cây lương thực phổ biến như Lúa (Oryza sativa L.), Bắp (Zea mays L)…
- Cây công nghiệp phổ biến như Tràm (Melaleuca leucadendton L.), Bạch đàn (Eucalyptus citriodora Hook.f.),…
7 Giới thiệu tổng quan về khu du lịch sinh thái Tây Đô
Khu DLST Tây Đô là một trong những khu du lịch có diện tích rộng nhất ở ĐBSCL với khoảng 175.000 m2 Khu DLST Tây Đô tọa lạc tại ấp Tân Long A, Xã Tân Bình, huyện Phụng Hiệp- tỉnh Hậu Giang Nằm trên quốc lộ 61 cách Cần Thơ
28 km về hướng Vị Thanh
Được hình thành từ năm 1995, khu này do một thương nhân đầu tư xây dựng với 175.000 m2 trên cơ sở ruộng và vườn tạp, lung đầm Đến 12/2004 được công ty công trình đô thị Cần Thơ mua lại và đổi tên thành khu DLST Tây Đô Khu
du lịch đươc chia ra thành khu bán sinh thái và khu sinh thái
Khu bán sinh thái với hòn non bộ mang hình long – phụng, khu công viên hoa kiểng, cá cảnh, xung quanh là nhà xây theo kiểu Nam Bộ để tiếp khách gia đình hoặc những đoàn khách ít người Ở đây không khí thoáng mát, yên tĩnh Hiện
có 23 phòng nghỉ tiện nghi nằm trên bờ hồ thoáng đãng Khu DLST Tây Đô có đủ điều kiện để quý khách nghỉ ngơi, tham quan, giải trí, an dưỡng sau những ngày làm việc cuối tuần
Có trên 30 loài thú quý hiếm: cá sấu, gấu, khỉ, dê lùn, đà điểu, ngựa, nai, cừu, heo rừng, nhím, kỳ đà, trăn, baba, beo gấm và một số loài chim hoang dã
Có nhiều loại cây kiểng cổ, cau vua, sộp, sao, dầu, viết và các loại hoa kiểng và hàng ngàn m2 cỏ trang trí, không chỉ làm đẹp và tô điểm để phục vụ khách
du lịch mà còn phục vụ kinh doanh như trang trí cho các công trình khi khách có yêu cầu
Trang 36thái và sinh thái hoàn toàn Khách du lịch có dịp ở đêm, khi lên đèn khu du lịch sẽ rực rỡ như hội hoa đăng ở vùng sông nước
Riêng đối với khu sinh thái diên tích trên 100.000m2 có vườn cây ăn trái với trên 2.000 gốc nhãn và trên 2.000 cây ăn quả khác như Sầu riêng, Xoài, Bưởi, Mít, Măng cụt, Mận…
Phía bên phải khu vườn ăn trái là đồng ruộng với diện tích trên 20.000 m2
Trang 37PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đi khảo sát điều tra thực tế tại Khu DLST Tây Đô để tìm hiểu:
- Đặc điểm sinh thái, điều kiện tự nhiên của Khu du lịch
- Phân loại các loài cây dựa trên các tài liệu phân loại thực vật: ”Cây cỏ Việt Nam”, Quyển I, II, III của Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000); ”Tài nguyên gỗ Việt Nam” của Trần Hợp (2002); ”Danh lục các loài thực vật Việt Nam” của nhà xuất bản Nông Nghiệp (2005);
- Phân thành nhóm theo mục đích sử dụng tại nơi khảo sát (nhóm cây bóng mát, nhóm cây trang trí, nhóm phủ nền, nhóm cây ăn quả, nhóm cây mọc hoang, nhóm cây lương thực và nhóm cây công nghiệp)
- Đếm số lượng cây gỗ sử dụng để trang trí, bóng mát, ăn quả, cây công nghiệp
- Chụp ảnh, làm bộ sưu tập ảnh các loài thực vật có hoa ở Khu DLST Tây
Đô
- Lập bảng so sánh về sự đa dạng các loài thực vật có hoa của Khu DLST Tây Đô với các khu DLST khác ở ĐBSCL
Trang 38KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Tổng hợp thành phần loài
Qua kết quả khảo sát thực tế tại khu DLST Tây Đô, chúng tôi đã phân loại được 180 loài thuộc 75 họ Số lượng cây thân gỗ 26.604 cây được chia thành nhiều nhóm: cây bóng mát, cây trang trí, cây ăn quả, cây mọc hoang và nhóm cây khác (cây lương thực và cây công nghiệp) Trong đó có một số loài được trồng với số
lượng lớn: Xoài (Mangifera indica L.) là 305 cây, Dừa (Cocos nucifera L.) là 660 cây, Cau vua (Roystonia regta O.F Cook) là 776 cây, Tràm (Melaleuca leucadendton L.) 20.000 cây, Nhãn (Dimocarpus longan Lour.) là 2.044 cây,…
Trang 39Bảng 1: Thành phần loài thực vật có hoa trong Khu DLST Tây Đô
Số lượng cây/
diện tích
Khu bán sinh thái
Khu sinh thái
Cây bóng mát
Cây trang trí
Cây
ăn quả
Cỏ phủ nền
Cây mọc hoang
Cây lương thưc/ cây công nghiệp
8
Alternanthera sessilis (L.) Rau dệu
Amaranthaceae
Trang 40A DC
15 Spondias cytherea Sonn Cóc
20 Centella asiatica (L.) Urb
21
Adenium obesum (Forssk.) Sứ thái
Apocynaceae