1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của công dân trong việc tố giác tội phạm

74 468 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, có thể hiểu khái niệm tố giác tội phạm như sau: Tố giác tội phạm là việc công dân trình báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của một người nào đó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Nguyễn Chí Hiếu Lư Trường Tây

Bộ môn Tư pháp MSSV: 5075142

Lớp: Luật Tư pháp 2 – K33

Cần Thơ, 11/2010

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục tiêu nghiên cứu luận văn 6

3 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu luận văn 6

5 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG DÂN VÀ TỐ GIÁC TỘI PHẠM 7

1.1 Khái quát về công dân và vai trò của công dân 8

1.1.1 Khái niệm về công dân 8

1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của công dân 9

1.1.3 Vai trò của công dân trong Tư tưởng Hồ Chí Minh 12

1.1.4 Vai trò của công dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội 15

1.1.5 Vai trò của công dân trong giữ gìn an ninh trật tự 16

1.2 Khái quát về tố giác tội phạm và vai trò của tố giác tội phạm 18

1.2.1 Khái niệm về tố giác tội phạm 18

1.2.2 Vai trò của tố giác tội phạm 19

1.2.2.1 Giúp cơ quan có thẩm quyền kịp thời, phát hiện xử lý nhanh, tránh bỏ lọt tội phạm 19

1.2.2.2 Vai trò phòng, chống tội phạm trong công dân 20

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỐ GIÁC TỘI PHẠM VÀ GIẢI QUYẾT, KIỂM SÁT THÔNG TIN TỐ GIÁC TỘI PHẠM 21

2.1 Quy định của pháp luật về tố giác tội phạm 21

2.1.1 Chủ thể tố giác tội phạm 21

2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người tố giác tội phạm 22

2.1.3 Hậu quả của việc không tố giác tội phạm 23

2.1.4 Pháp luật về bảo vệ người tố giác tội phạm 25

2.1.5 Các hình thức tố giác tội phạm 27

2.2 Quy định pháp luật về giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội phạm 31

2.2.1 Chủ thể tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm 31

2.2.2 Quy định của pháp luật về giải quyết thông tin tố giác tội phạm 32

2.2.3 Quy định của pháp luật về kiểm sát thông tin tố giác tội phạm 34

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÔNG DÂN TRONG VIỆC TỐ GIÁC TỘI PHẠM 36

Trang 4

3.1 Thực trạng và hạn chế của công dân trong việc tố giác tội phạm 36

3.1.1 Thực trạng tố giác tội phạm ở nước ta 36

3.1.2 Những hạn chế trong việc tố giác tội phạm 41 3.1.2.1 Công dân chưa nhận thức được vai trò của mình trong việc tố giác tội phạm 41 3.1.2.2 Một số bất lợi của các hình thức tố giác tội phạm 45 3.1.2.3 Công dân còn tâm lý sợ sự trả thù khi pháp luật bảo vệ người tố giác chưa hoàn thiện 46 3.2 Thực trạng và hạn chế trong việc giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội phạm 49 3.2.1 Thực trạng giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội phạm 49 3.2.2 Những hạn chế trong việc giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội

phạm 51 3.2.2.1 Những hạn chế trong việc giải quyết thông tin tố giác tội phạm 51 3.2.2.2 Những hạn chế trong việc kiểm sát thông tin tố giác tội phạm 53 3.3 Giải pháp phát huy vai trò của công dân và giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội phạm 54 3.3.1 Một số giải pháp phát huy vai trò của công dân trong việc tố giác tội phạm 55 3.3.1.1 Tuyên truyền pháp luật cho công dân 55 3.3.1.2 Phát huy hiệu quả hơn nữa các hình thức tố giác tội phạm trong những năm tới 60 3.3.1.3 Cần tạo tâm lý an toàn cho người tố giác tội phạm 61 3.3.2 Một số giải pháp khắc phục hạn chế việc giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác 65 3.3.2.1 Một số giải pháp khắc phục hạn chế việc giải quyết thông tin tố giác tội phạm 65 3.3.2.2 Một số giải pháp khắc phục hạn chế việc kiểm sát thông tin tố giác tội phạm 66

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta trải qua hàng ngàn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm, đã có biết bao người dân ngã xuống để bảo vệ nền hòa bình cho tổ quốc Trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm đó người dân là lực lượng nồng cốt và có vai trò chủ đạo làm nên chiến thắng Trong hai cuộc kháng chiến thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy được tầm quan trọng của người dân trong cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc và đã vận dụng, phát huy sức mạnh ấy một cách sáng tạo phù hợp với tình hình, hoàn cảnh cách mạng để giành lại nền hòa bình độc lập, cho con cháu chúng ta có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc Trong bối cảnh hiện nay đất nước ta đang trong thời

kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế xã hội hướng đến mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh Trong quá trình chuyển đổi đi lên Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ như là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO… Tuy nhiên, bên cạnh nhũng thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc thì tình hình xã hội vẫn còn những mặt hạn chế, những tiêu cực đáng kể là tội phạm ngày càng tăng với hành vi phạm tội tinh vi, sảo nguyệt hơn gây khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc phát hiện tội phạm Do đó, tội phạm đã trở thành nguy cơ đe dọa và thách thức với Đảng và Nhà nước ta Để loại bỏ tội phạm trong xã hội thì phải xác định được tội phạm đang xảy ra ở đâu, trên lĩnh vực nào để có biện pháp cần thiết để ngăn chặn tội phạm Vì vậy, rất cần một lực lượng phòng, chống tội phạm để góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức…đồng thời giáo dục mọi người tuân theo pháp luật Một trong những lực lượng góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm,

hạn chế sự gia tăng của tội phạm là công dân Những năm qua, trong lĩnh vực đấu tranh

phòng, chống tội phạm, người dân đã cung cấp nhiều thông tin tố giác tội phạm có giá trị cho cơ quan chức năng có thẩm quyền nhưng thật sự vẫn còn hạn chế so với số tội phạm xảy ra trên thực tế Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do người dân ta chưa hiểu được vai trò của mình trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm và pháp luật quy định trách nhiệm của công dân Nhưng phần lớn vẫn là người dân còn có tâm lý lo sợ người phạm tội hoặc thân nhân người phạm tội trả thù người tố giác hoặc khi muốn tố giác thì

họ lại không biết tố giác ở đâu Ngoài ra, pháp luật quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm chưa chặt chẽ, chưa bảo vệ được người tố giác khi họ bị đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cũng như việc giải quyết và kiểm sát thông tin tố giác tội phạm còn nhiều vướng mắc, bất cập, từ đó làm giảm lòng tin của người dân đối với các

cơ quan chức năng Chính vì những lý do trên người viết đã chọn nghiên cứu đề tài “Vai

Trang 6

trò của công dân trong việc tố giác tội phạm” để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến hạn

chế trên

2 Mục tiêu nghiên cứu luận văn

Với mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ hơn về vai trò của công dân có tầm ảnh

hưởng như thế nào trong việc cung cấp thông tin tố giác tội phạm, để giải quyết nhanh vụ

án hình sự cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nhằm thấy rõ hơn sự cần thiết của công dân trong hoạt động phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay Từ

đó đối chiếu vào thực tiễn để chỉ ra những hạn chế trong việc tố giác tội phạm của công dân, cũng như những khó khăn vướng mắt trong quá trình giải quyết, kiểm sát thông tin

tố giác tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền Thông qua đó người viết đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế, góp phần cho công dân phát huy hết vai trò của mình trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

4 Phương pháp nghiên cứu luận văn

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác phát huy vai trò của công dân, tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân, hoàn thiện các quy định của pháp luật

Ngoài ra, người viết còn sử dụng các phương pháp như:

 Phương pháp phân tích

 Phương pháp tổng hợp tài liệu

 Phương pháp sưu tầm

 Phương pháp thống kê

5 Kết cấu luận văn

Bên cạnh mục lục, lời mở đầu, tài liệu tham khảo và kết luận Bố cục luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Giới thiệu chung về công dân và tố giác tội phạm

Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành về tố giác tội phạm và giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội

Trang 7

Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của công dân trong việc tố giác tội phạm

Lời cảm ơn!

Em xin chân thành gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Chí Hiếu trong thời

gian qua đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kiến thức cần thiết cũng như giải đáp những thắc mắc mà em gặp phải trong quá trình nghiên cứu đề tài, giúp em hoàn thành tốt bài Luận văn của mình Đồng thời em cũng xin gởi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô khoa Luật, thư viện khoa, cùng các bạn đã quan tâm giúp đỡ em, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình làm nghiên cứu đề tài Mặc dù, trong quá trình nghiên cứu viết Luận văn,

em đã có nhiều cố gắng, nỗ lực, nhưng do hạn chế về khả năng nghiên cứu, kiến thức của bản thân cho nên không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót và hạn chế nhất định Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và các bạn để đề tài Luận văn của em được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô và các bạn!

Sinh viên thực hiện

Lư Trường Tây

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG DÂN VÀ TỐ GIÁC TỘI PHẠM

Trang 8

Trong xã hội hiện nay tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi Chính vì vậy, mà việc phát hiện tội phạm của các cơ quan chức năng cũng gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, những khó khăn đó được giải quyết một phần là nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của công dân trong việc phát hiện và tố giác tội phạm Thấy được tầm quan trọng của công dân trong công tác bảo vệ an ninh tổ quốc, trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi để công dân phát huy vai trò của mình một cách tích cực Để hiểu biết thêm về vai trò của công dân trong việc tố giác tội phạm, trong Chương

1 này người viết tập trung nêu lên khái quát về công dân và tố giác tội phạm để làm cơ sở cho việc nghiên cứu những chương tiếp theo

1.1 Khái quát về công dân và vai trò của công dân

1.1.1 Khái niệm về công dân

Trước hết, công dân là người dân của một nước có chủ quyền thể hiện mối quan hệ pháp lý bền vững giữa nhà nước và cá nhân Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam, quyền và nghĩa vụ công dân thể hiện quan hệ lợi ích giữa nhà nước

và cá nhân1 Ở thời kỳ phong kiến, mỗi cá nhân trong một quốc gia điều bị coi là “thần dân” của vua chúa phong kiến, không được hưởng các quyền lợi về chính trị Khái niệm công dân chỉ được sử dụng rộng rãi vào thời kỳ cách mạng tư sản Khi cách mạng tư sản thắng lợi, kể từ đó người dân của một quốc gia được gọi là “công dân” được hưởng quyền dân sự và chính trị trong một “xã hội công dân” Với khái niệm “Công dân” ta có thể hiểu một người sinh ra và lớn lên tại một nước nào đó, và đương nhiên trở thành công dân của nước đó Nhưng nếu một người di cư sang sống tại một nước khác, thì tư cách công dân tại nước nhập cư không còn đương nhiên nữa Người di cư phải tuân theo một

số các thủ tục và làm đơn xin nhập quốc tịch để trở thành công dân của nước đó Công dân một nước, có thể là người sinh ra tại nước đó hay là những người đã xin nhập và được chấp thuận quốc tịch Theo quy định tại Chương V Điều 49 Hiến pháp Việt Nam

1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” Cụm từ “Công dân” lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1946 và được sử dụng cho các bản Hiến pháp năm 1959, năm

1980 và bản Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Nhằm xác định giá trị pháp lý cho người dân Việt Nam

Như vậy, Công dân là bộ phận cư dân chủ yếu của một Nhà nước bao gồm những người xác định lệ thuộc pháp lý đối với Nhà nước đó Một người là công dân của một

1

Theo trang thông tin điện tử bách khoa toàn thư, khái niệm công dân,

http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1EC9aWQ9MzIyMTEmZ3JvdXBpZD0ma2luZD1le GFjdCZrZXl3b3JkPUMlYzMlOTRORytEJWMzJTgyTg==&page=1, ( truy cập ngày 10/8/2010)

Trang 9

nước sở tại thì được hưởng đầy đủ quyền và lợi ích tương xứng đồng thời phải gánh vác những nghĩa vụ do nhà nước quy định Những cá nhân không phải là công dân thì chỉ hưởng một số quyền lợi và gánh vác nghĩa vụ không đầy đủ so với những người là công dân theo quy định của pháp luật nước sở tại và các hiệp ước đã được ký kết hoặc phê chuẩn 2

1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của công dân

Công dân là cư dân của một quốc gia, do vậy họ cũng có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một công dân, những quyền và nghĩa vụ đó luôn tồn tại khi là công dân của một nước Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đươc quy định tại điều 51 Hiến pháp năm

1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Ở nước ta, quyền công dân luôn là một chế định quan trọng của Hiến pháp và là đối tượng chủ yếu của nền Hiến pháp dân chủ - Hiến pháp xã hội chủ nghĩa Đảng và Nhà nước ta luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và học thuyết quyền con người, quyền công dân trong việc soạn thảo, xây dựng, sửa đổi và ban hành Hiến pháp, phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể Quyền công dân là những quyền hạn của một cá nhân được pháp luật của một nhà nước quy định hoặc thừa nhận Tùy thuộc vào mỗi quốc gia và từng giai đoạn lịch sử cụ thể cũng như tùy thuộc vào chính thể, vào tính chất và mức độ dân chủ thật sự của mỗi quốc gia mà quyền công dân sẽ được quy định khác nhau Quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và Luật

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp là các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Các quyền và nghĩa vụ cơ bản đó được cụ thể hóa bằng các Bộ luật và Luật như: Bộ luật Hình sự, Bộ Luật Tố tụng dân sự, luật Thuế… Cụ thể Hiến pháp quy định quyền về chính trị, quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội và quyền tự do cá nhân

 Quyền về chính trị

Điều 53 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân

Quyền bầu cử và ứng cử: Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần

xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật

2

Giáo trình Luật Hiến PhápViệt Nam năm 1999 – Trường Đại học Luật Hà Nội – trang 165

Trang 10

Quyền khiếu nại, tố cáo: Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất kỳ cá nhân nào

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do biểu tình, tự do hội họp Điều 69 của

Hiến pháp quy định: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật

 Quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội

Quyền lao động: Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội

có kế hoạch tạo ngày càng nhiều công ăn việc làm cho người lao động Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật

Quyền học tập: Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân Bậc tiểu học là bắt

buộc, không phải trả học phí Công dân có quyền học văn hóa và học nghề bằng nhiều hình thức Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng Nhà nước có chính sách học phí, học bổng Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hóa

và học nghề phù hợp

Quyền được bảo vệ sức khỏe: Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức

khỏe Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí Tuy nhiên, công dân có nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tùy khác Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm

Quyền xây dựng nhà ở: Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và

pháp luật Quyền lợi của người thuê nhà và người có nhà cho thuê được bảo hộ theo pháp luật

Quyền bình đẳng nam nữ: Công dân nữ và công dân nam có quyền ngang nhau về

mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ

mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong

Trang 11

xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ

Quyền về hôn nhân và gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội Do đó, Nhà nước

bảo hộ hôn nhân và gia đình nhưng phải tuân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử với các con Trẻ em được gia đình, Nhà nước

và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc sáng tạo vào bảo vệ Tổ quốc Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khỏe và có đời sống ổn định Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ

 Quyền tự do cá nhân

Quyền tự do đi lại và cư trú: Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước,

có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật và quyền được thông tin

Quyền tự do tín ngưỡng: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc

không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ

tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về

thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Không ai

bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Người bị bắt, bị giam giữ, bị tuy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh

Trang 12

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ

ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép Việc khám xét chỗ ở của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật

Quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín: Thư tín, điện thoại, điện tín của công

dân được đảm bảo an toàn bí mật Việc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thầm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật

Quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và Luật ở Nhà nước ta thể hiện tính dân chủ và nhân đạo sâu sắc Quyền công dân bao giờ cũng đi đôi với nghĩa vụ Đó

là tính tất yếu, thể hiện tính công bằng xã hội Một người không thể chỉ biết lợi ít riêng của mình, chỉ biết quyền lợi cá nhân mà quên đi trách nhiệm với nhà nước, với xã hội Phải đảm bảo quyền lợi của cá nhân không ảnh hưởng đến lợi ít của người khác, không cản trở việc thực hiện quyền công dân của người khác Việc thực hiện nghĩa vụ là cơ sở đảm bảo tính lâu dài và thiết thực cho các quyền lợi mà mỗi cá nhân được hưởng Đồng thời Nhà nước cũng đảm bảo tính thực thi của các quyền công dân

Nghĩa vụ là phần việc mà đạo đức hay pháp luật buộc một người phải thi hành Sống trong xã hội khi mỗi người được hưởng những quyền do pháp luật quy định, thì mỗi người cũng có trách nhiệm thi hành những nghĩa vụ đóng góp trở lại cho xã hội, cho quốc gia Tại nhiều nước, Hiến pháp liệt kê hẳn bao nhiêu nghĩa vụ người công dân phải làm Một cách tổng quát, nghĩa vụ công dân trong Hiến pháp Việt Nam có thể được liệt

kê sau đây:

Trung thành với Tổ quốc: Bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao

quý của công dân Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân Tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng Tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng Đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật

Nói chung, quyền và nghĩa vụ công dân của các nước hầu như giống nhau và quan trọng như nhau; nhưng có lẽ, nghĩa vụ quan trọng nhất là tham gia vào sinh hoạt xã hội một cách tích cực, từ những công tác xã hội tại địa phương tới các vấn đề xã hội thuộc tầm vóc quốc gia Các hoạt động này là nền tảng xây dựng một xã hội dân sự sinh động, trong đó không những quyền lợi của công dân được quan tâm, mà nghĩa vụ của cả dân lẫn chính quyền đều được thực thi một cách minh bạch và có trách nhiệm

1.1.3 Vai trò của công dân trong Tư tưởng Hồ Chí Minh3

3

ThS Nguyễn Thị Ngọc Hân - Cơ sở tư tưởng Hồ chí Minh về vai trò của công dân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa - Giảng viên Khoa Quản lý Hành Chính Trường cán bộ TPHCM

Trang 13

Đã có nhiều công trình khoa học, nhiều bài viết về Tư tưởng Hồ Chí Minh với vai trò của người dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Khi nghiên cứu tư tưởng của Người, việc nắm vững cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành nên tư tưởng đó là hết sức quan trọng, cần thiết và mang tính khoa học Trong bối cảnh đất nước bị đô hộ, người dân lao động bị áp bức bóc lột nặng nề, mặc dù rất khâm phục các sĩ phu yêu nước, các nhà cách mạng tiền bối nhưng Hồ Chí Minh không đồng ý với con đường cứu nước mà

họ đã đưa ra và thực hiện Người đã ra đi tìm đường cứu nước, trong suốt quá trình sống

và làm việc hơn 30 năm ở nước ngoài Người đã đến khoảng 26 nước, phải thay tên đổi

họ với hơn 160 bí danh, bút danh, hai lần bị bắt giam và bị lưu đày trên 30 nhà tù Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước ở nước ngoài Người đã có dịp tiếp xúc với nhiều nhà văn hoá, trí thức, người dân lao động bị áp bức, bóc lột ở nhiều nước khác nhau Người đến Liên xô và bắt gặp “Luận cương về các vấn đề thuộc địa và dân tộc” của V.I Lênin, đây chính là cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người dân của một nước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước; có thể nói Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người dân được hình thành trên cơ sở giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hoá nhân loại và Chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của người dân lao động bị áp bức, bóc lột

Thứ nhất, Hồ Chí Minh xác định được sức mạnh to lớn của người dân: Giá trị

truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước, trước hết là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết của mọi tầng lớp dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước là chuẩn mực đạo lý và đứng đầu trong bậc thang giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam là động lực nội sinh của cộng đồng dân tộc Việt Nam tạo nên sức mạnh to lớn trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và trong công cuộc xây dựng đất nước Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết tương thân tương ái đã làm nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam Truyền thống đó đã ngấm vào máu thịt của con người Việt Nam, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sức mạnh thường trực trong lòng dân tộc, đây là yếu tố quan trọng để Hồ Chí Minh xác định sức mạnh to lớn của người dân Việt Nam đồng thời tìm cách khơi dậy, phát huy tiềm năng tinh thần đó thành sức mạnh vật chất trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Truyền thống trọng dân, dân

là gốc trong tiến trình lịch sử Việt Nam và những bài học kinh nghiệm qua các triều đại Phong kiến Việt Nam cũng là cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của công dân của một nước Lịch sử đã chứng minh: Mỗi triều đại phong kiến Việt Nam trong thời

kỳ hưng thịnh đều có quan điểm về dân đúng đắn, tích cực nên được dân ủng hộ, tập trung được sức mạnh của dân, đánh thắng được giặc ngoại xâm xây dựng được đất nước phồn thịnh Lịch sử cũng cho thấy vào cuối mỗi triều đại Phong kiến, an ninh xã hội

Trang 14

thường rơi vào tình trạng bất ổn Kết quả này do nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản nhất

là Vua, Quan không quan tâm đến Dân, không đủ năng lực điều hành đất nước, quan lại kéo bè cánh, đục khoét, từ đó lòng dân ly tán, chính quyền sụp đổ Truyền thống trọng dân, dân là gốc, trong các giai đoạn lịch sử dân tộc là tiền đề để Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của người dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước

Thứ hai, Hồ Chí minh luôn luôn có quan điểm “trọng dân”: Tư tưởng Hồ Chí

Minh về vai trò của công dân không chỉ bắt nguồn từ những truyền thống của dân tộc mà còn là sự kế thừa tinh hoa văn hoá của nhân loại Trong tư tưởng của Người có quan

điểm “trọng dân” coi dân là gốc của nước Trong triết học nho giáo, chủ nghĩa “tam dân”

đề cao lợi ích của người dân của Tôn Trung Sơn Có thể thấy, dân tộc độc lập, dân quyền

tự do, dân sinh hạnh phúc, chính là ba nguyên tắc “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” của

nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh sáng lập Hồ Chí Minh cũng đã chọn lọc, kế thừa những quan điểm hợp lý của triết học Phật giáo Trong tư tưởng của Người

luôn có cái “Tâm từ bi”, “Hạnh vô ngã”, “Đức hiếu sinh” của Phật giáo Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của người dân chúng ta thấy tư tưởng dân chủ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” trong văn hoá phương Tây có tác động rất lớn trong việc hình thành

tư tưởng của Người Trên các chặng đường bôn ba tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã làm giàu trí tuệ của mình bằng nhiều tri thức văn hoá phương Tây, đó là chủ nghĩa nhân văn, văn hoá dân chủ của những lý luận gia của cách mạng Pháp như Môngtexkiơ,

Rutxô, Vônte… Từ khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” đến thực tiễn của các cuộc

cách mạng thế giới: Cách mạng Mỹ (1776), cách mạng Pháp (1789), cách mạng tháng mười Nga 1917, cùng với những tuyên ngôn sau khi các cuộc cách mạng này thành công,

Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận về sức mạnh của người dân “Lịch sử thế giới đã chứng tỏ rằng không một lực lượng phản động nào có thể chống lại lực lượng đoàn kết và đấu tranh của người dân”

Thứ ba, Hồ Chí Minh luôn luôn vận dụng đúng vai trò của người dân: Những

quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của người dân đã thể hiện sự vượt trội

so với các quan điểm khác trong lịch sử xã hội loài người cả về góc độ lý luận lẫn thực

tiễn Chính vì thế Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác – Lê nin là “cẩm nang thần kỳ” cho

dân tộc Việt Nam Người đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Nhận thức đúng đắn vai trò của người dân, Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và hạnh phúc của dân tộc Hiểu rõ sức mạnh của người dân lao động trong cách mạng giải phóng dân tộc Người đã thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi trong nhiều thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau nhưng tất cả đều nhằm liên hiệp hết thảy đồng bào yêu nước không phân biệt giàu, nghèo, già, trẻ, gái, trai, không phân biệt tôn giáo, xu hướng chính trị, khơi dậy lòng yêu nước tinh thần đoàn

Trang 15

kết dân tộc ở họ để cùng nhau giải phóng dân tộc Với nhận thức “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết, bài

nói về sức mạnh của dân tộc Việt Nam Trong các bài viết, bài nói và trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng cực kỳ sôi nổi và phong phú của mình Bác luôn thể hiện quan

điểm “của dân”, “do dân”, “vì dân”, “cho dân”, “dân là chủ nhân đất nước” Chính tư

tưởng đó đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính Đảng do Người sáng lập và lãnh đạo đã tập hợp được đông đảo người dân thành đội quân hào hùng, bách chiến, bách thắng lập nên những chiến công bất hủ trong Cách mạng tháng tám năm 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

1.1.4 Vai trò của công dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội

Các trường phái triết học trước Mác đều chưa nhận thức được vai trò của người dân lao động Tư tưởng tôn giáo cho rằng mọi sự thay đổi trong lịch sử xã hội là do ý chí của đấng tối cao, do mệnh trời tạo nên, và trao quyền cho các cá nhân thực hiện Chủ nghĩa duy tâm trong triết học đề cao vai trò của các vĩ nhân, còn người dân chỉ là công cụ, phương tiện để sai khiến Chủ nghĩa duy vật trước Mác vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm của xã hội khi cho rằng, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân và chỉ có họ mới sớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu Có nhà tư tưởng lại đề cao vai trò của người dân, phủ nhận vai trò của các vĩ nhân hoặc không lý giải được một cách khoa học vai trò người dân

Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định con người là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử Tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội mà phải thông qua hành động cách mạng, hoạt động thực tiễn của người dân, để biến lý tưởng ước mơ thành hiện thực trong đời sống xã hội

Thứ nhất, công dân một nước là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội: Công dân

là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội của quốc gia Con người muốn tồn tại phải có các điều kiện vật chất cần thiết, mà những nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng được thông qua sản xuất Lực lượng sản xuất cơ bản là đông đảo người dân lao động bao gồm cả lao động chân tay và lao động trí óc Cách mạng khoa học kĩ thuật hiện nay có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Song vai trò của khoa học chỉ có thể phát huy thông qua thực tiễn sản xuất của người dân lao động, nhất là đội ngũ công nhân hiện đại và trí thức trong nền sản xuất xã hội, của thời đại kinh tế tri thức Điều đó khẳng định rằng hoạt động sản xuất của người dân lao động là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội

Thứ hai, công dân của một nước là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội Lịch sử đã chứng minh rằng, không có cuộc chuyển biến cách mạng nào mà không

Trang 16

cần hoạt động đông đảo của công dân quốc gia đó Họ là lực lượng cơ bản của cách mạng, đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng xã hội Trong các cuộc cách mạng làm chuyển biến xã hội từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế

- xã hội khác, người dân động là lực lượng tham gia đông đảo Tất nhiên, suy đến cùng, nguyên nhân của mọi cuộc cách mạng là bắt đầu từ sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến mâu thuẫn với quan hệ sản xuất, nghĩa là bắt đầu từ hoạt động sản xuất vật chất của người dân Bởi vậy, người dân lao động là chủ thể của các quá trình kinh tế, chính trị,

xã hội, đóng vai trò là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội

Thứ ba, công dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh thần cho đất nước và có thể phát triển ra thế giới Công dân đóng vai trò to lớn trong sự phát triển

của khoa học, nghệ thuật, văn học, đồng thời áp dụng những thành tựu đó vào hoạt động thực tiễn Những sáng tạo về văn học, nghệ thuật, khoa học, y học, quân sự, kinh tế, chính trị, đạo đức của dân tộc vừa là cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hoá tinh thần của các dân tộc trong mọi thời đại Hoạt động của người dân

từ trong thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hội Mặt khác, các giá trị văn hoá tinh thần chỉ có thể trường tồn khi được đông đảo người dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trở thành giá trị phổ biến

Tóm lại, xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến hoạt động tinh thần, người dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện lịch sử

mà vai trò chủ thể của công dân cũng biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau Chỉ có trong chủ nghĩa xã hội, công dân mới có đủ điều kiện để phát huy tài năng và trí sáng tạo của mình

1.1.5 Vai trò của công dân trong giữ gìn an ninh trật tự

Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị Để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự được giữ vững không có tội phạm xảy ra giữa công an - Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp và cần phải

có sự phối hợp với người dân Trong quá trình thực bảo vệ an ninh tổ quốc, người dân phải nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật

tự

Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh rằng, có chiến tranh xảy ra thì toàn thể người dân luôn sát cánh bên nhau đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, không tiếc xương máu, tiền của, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự nghiệp độc lập tự do của nước nhà Người dân dù ở bất cứ đâu, lúc nào cũng hiểu rõ khi nền an ninh quốc gia không được giữ vững thì cuộc sống của họ cũng sẽ mất tự do, mất đi lợi ích vật chất lẫn tinh thần Cuộc sống

ấm no hạnh phúc là điều không thể thiếu nên việc đấu tranh giải phóng đất nước, xây

Trang 17

dựng nền an ninh ổn định và phát triển kinh tế là điều tất yếu Chính nhờ vai trò to lớn của người dân mà chúng ta mới có thể giành được thắng lợi to lớn vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp

Ngày nay, công dân có vai trò quan trọng trong việc chủ động ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu can thiệp nội bộ, lật đổ, xâm lược của các thế lực thù địch Đối với công dân ở các vùng sâu, vùng xa xôi, hẻo lánh lại đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ an ninh tổ quốc Các thế lực thù địch sẽ không thể lợi dụng sự kém hiểu biết của người dân để lôi kéo kích động, gây thù hằn dân tộc nếu người dân nêu cao tinh thần cảnh giác với mọi loại tội phạm Ngược lại, nếu người dân không cảnh giác với các loại tội phạm thì các bọn phản động có điều kiện lợi dụng cơ hội để xuyên tạc, chống phá, lật

đổ chính quyền nhà nước Công dân vừa là người trực tiếp chấp hành và cũng là người giám sát việc chấp hành pháp luật Chính vì vậy, công dân đóng vai trò rất quan trọng trong công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Công dân bảo vệ an ninh Tổ quốc góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch Trong những năm qua, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn, lật đổ hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc Chúng triệt để lợi dụng khó khăn của các địa bàn trọng điểm, vùng tập trung đồng bào tôn giáo, dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, lợi dụng mặt trái của nền kinh tế thị trường và những sơ hở, thiếu sót, yếu kém của ta trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội để chống phá, xuyên tạc đường lối của Đảng, Nhà nước ta và kích động, lôi kéo người dân tham gia Trong các cuộc đấu tranh của công dân với kẻ địch và tội phạm, luôn luôn có sự gắn kết chặt chẽ giữa lực lượng công an nhân dân với Mặt trận

Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, thanh niên, phụ nữ, nông dân và công đoàn đã đem lại hiệu quả cao, sớm ổn định tình hình, làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của kẻ địch Qua đó, đã vận động được toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm, phát hiện, tố giác tội phạm, quản lý giáo dục, cảm hóa người phạm tội tại gia đình

và cộng đồng dân cư, đem lại kết quả thiết thực góp phần giữ vững trật tự an toàn xã hội của đất nước Điều này đã tạo ra được mặt trận rộng rãi thu hút đông đảo người dân ở mọi lứa tuổi, giới tính, các tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp, cơ quan, doanh nghiệp, trường học tham gia tích cực vào phòng ngừa các hành vi vi phạm, đấu tranh với các loại tội phạm, góp phần làm giảm án hình sự, các tệ nạn xã hội, phát hiện nhiều

vụ án ma túy lớn, tiếp tục củng cố nền trật tự an toàn xã hội của đất nước

Nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của công dân xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc trong tình hình mới Phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh trật tự phải kết hợp tăng cường sức mạnh các cơ quan bảo vệ pháp luật

Trang 18

trong phòng, chống tội phạm có bước phát triển mới, nhiều mô hình, điển hình tiên tiến được nhân rộng theo từng vùng, lĩnh vực Qua phong trào, nhiều mô hình tự phòng, tự quản, tự bảo vệ, mang tính xã hội hóa được phát triển đa dạng, phong phú, có hiệu quả, phát huy được vai trò làm chủ, tính tích cực của công dân trong phòng ngừa đấu tranh tố giác tội phạm, xây dựng củng cố thế trận quốc phòng toàn dân ngày một vững chắc

Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói chung và bảo vệ an ninh nói riêng là sự nghiệp của toàn dân, được đông đảo người dân tham gia và đã mang lại những kết quả to lớn, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Công dân có vai trò quan trọng trong việc tham gia bảo vệ tổ quốc vì vậy công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho công dân về đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự được chú trọng, đã nâng cao được nhận thức, trách nhiệm của công dân trong bảo vệ đường lối, chính sách, pháp luật và nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự Điều này có tác dụng tích cực không chỉ về nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự mà còn có tác dụng tăng cường các hoạt động văn hóa lành mạnh trong trong xã hội

1.2 Khái quát về tố giác tội phạm và vai trò của tố giác tội phạm

1.2.1 Khái niệm về tố giác tội phạm

Tố giác tội phạm là việc một người trình báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền

về việc phát hiện một người (hoặc một nhóm người) đang, đã hoặc chuẩn bị thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự4

Theo quy định tại điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định “Công dân

có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản

và có chữ ký của người tố giác…” Như vậy, tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2003 không nêu lên được khái niệm tố giác tội phạm mà chỉ nêu lên công dân có thể tố giác hành vi phạm tội với cơ quan chức năng có thẩm quyền

Cũng theo Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “Tố giác tội phạm là việc công dân tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của một người nào đó mà họ cho rằng đó là tội phạm”5 Từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

có hiệu lực thì chưa có một văn bản hướng dẫn thực hiện nào nêu lên khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm6 Do không được giải thích đầy đủ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tố giác tội phạm Trong thực tế ngày nay việc xác định thế nào là tố

Trang 19

giác tội phạm cũng còn nhiều cách hiểu khác nhau và gây nhiều tranh cãi Có nơi cho rằng tố giác tội phạm là tất cả các thông tin về tội phạm mà cơ quan có thẩm quyền có thể nhận được qua đơn thư tố giác của công dân, qua các phương tiên thông tin đại chúng hoặc do cơ quan điều tra tự khám phá…Một số nơi khác lại cho rằng, tố giác tội phạm chỉ là những thông tin do công dân cung cấp hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng cung cấp Nhưng theo quy định tại điều 22 Bộ Luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung

2009) quy định: “Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không

tố giác tội phạm…”

Như vậy, có thể hiểu khái niệm tố giác tội phạm như sau: Tố giác tội phạm là việc công dân trình báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của một người nào đó mà họ cho rằng hành vi đó đã vi phạm pháp luật hình sự đang được chuẩn bị, đang được thực hiện, hoặc đã được thực hiện mà họ có nghĩa vụ phải thông báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền để ngăn chặn, truy bắt người phạm tội

1.2.2 Vai trò của tố giác tội phạm

1.2.2.1 Giúp cơ quan có thẩm quyền kịp thời, phát hiện xử lý nhanh, tránh bỏ lọt tội phạm

Trong giai đoạn hiện nay tội phạm càng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp,

cố tình tránh sự phát hiện của Cơ quan công an và các cơ quan có thẩm quyền Chính vì vậy, mà các cơ quan có thẩm quyền rất khó phát hiện ra tội phạm trong xã hội Việc tố giác tội phạm có vai trò quan trọng trong công tác phát hiện sớm tội phạm, giúp cơ quan điều tra nhanh chóng phá án

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa7 Chính những hành vi xâm phạm đó làm cho xã hội phức tạp với nhiều loại tội phạm có tính chất nguy hiểm cao Các cơ quan nhà nước lại không đảm bảo hết việc nắm bắt thông tin về tình hình tội phạm đang diễn ra trong xã hội mà chỉ hạn chế về một số lượng thông tin nhất định Để các cơ quan nhà nước nắm bắt đầy đủ thông tin về tình hình tội phạm cần phải có sự tố giác của công dân Tố giác tội phạm giúp cho

7

Tiến sĩ Phạm văn Beo – Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung – trang 67

Trang 20

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền biết được tội phạm đang diễn ra trên lĩnh vực nào Nhằm có biện pháp cụ thể xử lý tội phạm trên lĩnh vực đó

Việc tố giác tội phạm giúp cho các cơ quan có thẩm quyền phát hiện nhanh tội phạm Tuy nhiên, một số loại tội phạm xảy ra bất ngờ trong xã hội mà các cơ quan có thẩm quyền không biết được như: tội giết người, cướp tài sản, cố ý gây thương tích Tố giác tội phạm giúp cho các cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng đến hiện trường nơi xảy

ra vụ án để thu thập xác minh làm rõ sự việc phạm tội Trong một số trường hợp người phạm tội sau khi gây án xong lại bỏ trốn khỏi hiện trường, gây khó khăn cho việc truy bắt hung thủ gây án cũng như công tác điều tra phá án

Tố giác tội phạm là cơ sở xác định có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Điều 100

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau: “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: Tố giác của công dân ” Như vậy, khi một vụ án hình sự đã diễn ra hoặc đang diễn

ra, nếu công dân biết được thì phải tố giác với cơ quan có thẩm quyền Nếu có dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ngay từ khi tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm, và phải ghi rõ những thông tin cần thiết về thông tin tố giác tội phạm của công dân

Tố giác tội phạm sẽ hạn chế xảy ra tình trạng tội phạm ẩn Nguyên nhân của vấn đề

bỏ lọt tội phạm có nhiều, song cơ bản tập trung vào: Chủ thể của hành vi phạm tội đã sử dụng thủ đoạn gây án mới tinh vi nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng như tính toán kỹ lưỡng trước, trong và sau khi gây án; hợp thức hóa hành vi phạm tội; xóa sạch mọi dấu vết hành vi phạm tội Người bị hại, nhân chứng không muốn tố giác hành vi phạm tội, cung cấp tài liệu về hành vi phạm tội với cơ quan chức năng do tính chất hậu quả hành vi phạm tội không lớn; do mối quan hệ ruột thịt, dòng họ, quan hệ công tác, cấp trên, cấp dưới, sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, sợ bị trả thù Để khắc phục tình trạng lọt tội phạm, thực hiện được nguyên tắc tối cao của pháp luật là “mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh” Vì vậy, việc tố giác tội phạm

sẽ góp phần làm cho các hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm

1.2.2.2 Vai trò phòng, chống tội phạm trong công dân

Tố giác tội phạm không chỉ giúp cơ quan có thẩm quyền kịp thời, phát hiện xỷ lý nhanh tránh bỏ lọt tội phạm mà còn giúp cho mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước và công dân gắn bó nhau hơn, cùng đấu tranh phòng ngừa tội phạm Công dân tố giác tội phạm là công dân có lòng tin vào các cơ quan cơ thẩm quyền có khả năng ngăn chặn tội phạm xảy ra Trong quá trình xây dựng, bảo vệ tổ quốc hiện nay phải có sự chung sức của tất cả người dân Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được tin tố giác của

Trang 21

công dân phải giải quyết nhanh, để tạo niềm tin cho người dân Khi tố giác tội phạm, công dân muốn cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết tin tố giác đó Công việc đấu tranh phòng chống tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà là nhiệm vụ của toàn thể công dân, của toàn xã hội Phần lớn các tin tố giác về tội phạm là do công dân cung cấp Nếu công dân không tố giác tội phạm thì sự chung tay của nhà nước trong việc phòng chống tội phạm sẽ không mang lại hiệu quả cao Công dân là tai mắt của cơ quan công an, mọi hoạt động của tội phạm là từ trong dân, trong xã hội

Tố giác tội phạm là một dạng phòng ngừa tội phạm Phòng ngừa tội phạm là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có sự đầu tư nhằm hạn chế sự hình thành và phát triển của tội phạm Thời gian qua, phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam cũng được xây dựng thành các chương trình, kế hoạch cụ thể bên cạnh các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội Có rất nhiều cách phòng, chống tội phạm trong đó tố giác tội phạm cũng là cách phòng, chống tội phạm nhằm hạn chế sự gia tăng của tội phạm Tố giác tội phạm không chỉ nêu cao tinh thần phòng, chống tội phạm của công dân mà giúp các cơ quan nhà nước cùng phòng, chống tội phạm Như vậy, tố giác tội phạm có vai trò quan trọng trong công tác phát hiện tội phạm, làm giảm sự gia tăng của tội phạm hiện nay, làm cho nhà nước và công dân gắn bó nhau hơn cùng nhau đấu tranh chung vì mục tiêu giữ cho xã hội lành mạnh, trong sạch không có tội phạm

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỐ GIÁC TỘI PHẠM VÀ GIẢI

QUYẾT, KIỂM SÁT THÔNG TIN TỐ GIÁC TỘI PHẠM

Trong Chương 1, người viết đã nêu lên khái quát về công dân và tố giác tội phạm

Ở Chương 2 người viết tập trung nêu lên các quy định hiện hành của pháp luật về tố giác tội phạm và hoạt động giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội phạm của các cơ quan chức năng có thẩm quyền

2.1 Quy định của pháp luật về tố giác tội phạm

2.1.1 Chủ thể tố giác tội phạm

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có quy định về chủ thể cung cấp thông tin

tố giác tội phạm Theo quy định tại Điều 101 thì: “Công dân có thể tố giác tội phạm…”

Như vậy, theo quy định tại Điều 101 thì chủ thể tố giác tội phạm là công dân

Theo quy định của pháp luật thì công dân là chủ thể tố giác tội phạm, nhưng “công dân” ở đây không phải hiểu theo nghĩa hẹp là công dân Việt Nam đang sinh sống trên

lãnh thổ nước Việt Nam, mà công dân ở đây được hiểu là: Công dân bao gồm tất cả công dân Việt Nam, bao gồm công dân Việt Nam đang sinh sống trên lãnh thổ nước Việt Nam, công dân Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài Ngoài ra, khi người

Trang 22

không quốc tịch và người mang quốc tịch nước ngoài khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trên lãnh thổ nước Việt Nam thì cũng có thể tố giác người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

Như vậy, chủ thể tố giác tội phạm ở đây bao gồm: Công dân Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài, người không có quốc tịch, người có quốc tịch nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài

So sánh giữa “tố giác” với “tố cáo” trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Tố giác tội phạm tại Điều 101: “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản” Điều 334 quy định tố cáo như sao:“Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất

kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.

Như vậy, giữa tố giác tội phạm và tố cáo chỉ khác nhau ở một điểm là tố cáo thì đối tượng là mọi hành vi vi phạm pháp luật còn tố giác thì đối tượng chỉ bao gồm tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cao và được quy định trong Bộ Luật hình

sự Nhưng trên thực tế, việc phân biệt hành vi vi phạm đến mức độ nào là vấn đề cực kỳ khó khăn, nhất là đối với người dân đi tố cáo hay tố giác Với quy định như hiện nay, khi phát hiện một hành vi vi phạm pháp luật, người dân hoàn toàn có thể thực hiện việc tố cáo hoặc tố giác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người tố giác tội phạm

Bảo vệ tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam ta từ khi Cách mạng Tháng tám thành công Nhiệm vụ đó không chỉ thể hiện trong các cơ quan Nhà nước mà cần sự chung tay của mỗi công dân Trong bối cảnh hiện nay, nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường, cùng với những thuận lợi

mà nền kinh tế thị trường mang lại, kéo theo đó là các loại tội phạm mới, có tính chất nguy hiểm cao, sử dụng công nghệ hiện đại Trước những diễn biến phức tạp của các loại tội phạm thì trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và công dân ngày càng được đề cao

Tố giác tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện của công dân Quyền và nghĩa vụ đó được quy định tại Điều 74 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ

sung năm 2001) quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào…” Việc quy

Trang 23

định quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp cho thấy Nhà nước đã nhận thức

rõ tầm quan trọng của công dân Quyền và nghĩa vụ trong Hiến pháp được cụ thể hóa tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là trách nhiệm của các tổ chức và công dân

trong đấu tranh phòng, chống tội phạm cụ thể là: “Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân,

tổ chức” Việc cụ thể hóa như trên tạo điều kiện cho công dân phát huy quyền và nghĩa

vụ tố giác tội phạm của mình trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Công dân

có quyền tố giác tội phạm nếu hành vi vi phạm pháp luật đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Còn khi quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân khác, tổ chức bị xâm phạm thì công dân có nghĩa vụ tố giác hành vi phạm pháp đó với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Quyền và nghĩa vụ đó phải được công dân sử dụng thường xuyên vào trong tình hình đất nước hiện nay, việc công dân phát huy quyền và nghĩa vụ của mình sẽ góp phần làm cho tình hình tội phạm ngày càng giảm Ngoài ra, Nhà nước cũng tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc tố giác tội phạm Có như vậy, quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tố giác tội phạm mới phát huy và đảm bảo được thực hiện

2.1.3 Hậu quả của việc không tố giác tội phạm

Tố giác tội phạm là quyền và nghĩa vụ của công dân, mọi hành vi vi phạm pháp luật được công dân phát hiện phải báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, có một số trường hợp công dân phát hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng không thông báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Những trường hợp như vậy tùy theo mức độ nguy hiểm của loại tội phạm mà người không tố giác tội phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật Người có hành vi không tố giác tội phạm không chỉ phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự mà còn tạo điều kiện cho đối tượng phạm tội trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, xử lý tội phạm

Theo quy định ở khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng quy định trách nhiệm của công dân khi thấy có hành vi vi phạm pháp luật mà không tố giác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba

tháng đến ba năm: “Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều

313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”

Ngoài ra, những trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự khi công dân không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố giác của mình với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc

Trang 24

chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định

tại khoản 1 Điều này Tại khoản 2 điều luật cũng nêu rõ: “Người không tố giác là ông,

bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này” Với việc quy

định như vậy là phù hợp với truyền thống, đạo đức của dân tộc Việt Nam luôn coi trọng ông, bà, cha, mẹ, anh, em

Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt Đây

là một quy định nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng cũng ràng buộc nếu công dân không tố giác tội phạm (khoản 3 điều 314)

Tuy nhiên, thời gian gần đây, trong các phiên tòa xét xử vụ án hình sự, có một thực

tế là nhiều người khi tham gia vào hành vi phạm tội nhưng lại không biết mình đang phạm tội Chỉ đến khi bị cơ quan điều tra triệu tập lấy cung và giải thích thì họ mới biết, hành vi mà họ thực hiện đã cấu thành tội phạm Sau đó, họ phải ra trước vành móng ngựa

và phải nhận bản án tù mà lẽ ra, nếu hiểu biết về pháp luật thì bản án đó đã không có với

họ Thực tế tại các phiên tòa đã chứng minh, nhiều người khi phạm tội "không tố giác tội phạm" có thể một phần do họ chưa ý thức đầy đủ trách nhiệm công dân, hoặc có thể cố

tình che dấu người thân có hành vi phạm tội Việc không tố giác tội phạm có thể do nhiều nhiều nguyên nhân, thông qua ví dụ dưới đây ta có thể hiểu thêm nguyên nhân dẫn đến không tố giác tội phạm

Vụ đối tượng Nguyễn Huy Hoàng, ở Hà Nội trong lúc cùng đồng bọn đi chơi do xô xát với anh Nguyễn Văn Thành, ở quận Hai Bà Trưng trong lúc trên đường Nghi Tàm,

Hà Nội nổi máu côn đồ dùng súng K59 bắn đã vào đầu anh Thành làm anh Thành bị thương nặng Nhưng anh Thành không chết khi bị viên đạn xuyên qua tai là do được đưa đến bệnh viện kịp thời Tháng 3/2010, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử vụ án này và tuyên phạt các đối tượng phạm tội mức án tương xứng với hành vi phạm tội Nhưng điều chúng tôi muốn nói là cả sáu đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm trong vụ án, trong đó có 2 cô gái còn rất trẻ là Phạm Thế Ngọc và Phạm Thị Thanh Huyền đều sống ở giữa Thủ đô Khi vụ án xảy

ra cả 6 đối tượng đều biết rất rõ hành vi phạm tội đặc biệt nguy hiểm của Hoàng và đồng bọn, nhưng không tố giác tới cơ quan điều tra (dù rằng, các đối tượng không có quan hệ gần gũi) Khi Hội đồng xét xử hỏi: "Vì sao biết rõ hành vi phạm tội của Hoàng và đồng bọn nguy hiểm như thế mà các bị cáo không tố giác?" Các bị cáo trả lời: "Thưa tòa, bị cáo nghĩ đó là việc của Công an Và Công an sẽ bắt ai phạm tội, chứ bị cáo có phạm tội

Trang 25

đâu" Hội đồng xét xử hỏi tiếp "Bị cáo có biết luật quy định, không tố giác tội phạm và che giấu tội phạm cũng là phạm tội không?" Các bị cáo trả lời: "Thưa tòa, trước khi bị

cơ quan điều tra triệu tập do liên quan đến vụ án này thì bị cáo không biết điều đó ạ Trong quá trình lấy cung, bị cáo nghe điều tra viên giải thích thì lúc đó bị cáo mới biết mình phạm tội" Trong vụ án này, đối tượng bị phạt nặng nhất là 12 tháng tù, nhẹ nhất là

6 tháng cải tạo không giam giữ 8

Như vậy, do không nhận thức được tầm quan trọng của tố giác tội phạm mà một số người đã trở thành người phạm tội, chịu sự truy cứu của pháp luật Đó là lỗi cố ý của người phạm tội không tố giác tội phạm Bởi vì điều luật quy định người phạm tội dù biết

rõ một tội phạm đang chuẩn bị, đang hoặc đã thực hiện các tội phạm này phải được liệt

kê tại khoản 1 Điều 313, mà không tố giác thì mới cấu thành tội phạm Tuy nhiên, khi tội phạm đó đang chuẩn bị, hoặc đang thực hiện, người không tố giác rất khó có thể xác định được đó là tội phạm gì, có cần phải tố giác hay không Chính vì thế, trường hợp một tội phạm đang được chuẩn bị, hoặc đang được thực hiện mà một người biết được đã không

tố giác, chỉ cấu thành tội phạm khi người không tố giác biết rõ đó là một trong các tội phạm được liệt kê tại khoản 1 điều 313 Bộ luật Hình sự

2.1.4 Pháp luật về bảo vệ người tố giác tội phạm

Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay, việc bảo vệ người tố giác tội phạm đang là một vấn đề khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tố tụng hình sự Đặt ra yêu cầu với cơ quan thực thi pháp luật cần có cơ chế và các biện pháp hữu hiệu, đầy đủ thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Ở nước ta, những nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân

đã từng bước được pháp luật ghi nhận và hoàn thiện

Việc bảo vệ người tố giác tội phạm là một yêu cầu tất yếu của thực tiễn tư pháp ở Việt Nam hiện nay Theo quy định tại Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì:

“Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật”, khoản 3 Điều 55

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: “Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm

8

Theo

http://news.socbay.com/hanh_vi_che_giau_toi_pham_khong_the_do_loi_do_vo_thuc-632112239-251658240.html, (cập nhật ngày 20/8/2010)

Trang 26

quyền tiến hành tố tụng; Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật” và khoản 3 Điều 103: “Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm” Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2003 đã quy định những đối tượng trực tiếp cần bảo vệ bao gồm: Người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại trong vụ án hình sự, và cả những người thân thích của những đối tượng trên Song chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể nên còn nảy sinh nhiều vấn đề vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Tiếp đến, Pháp lệnh Tổ chức điều

tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Cơ quan điều tra phải xem xét, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị, người đã tố giác tội phạm biết và phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người

đã tố giác tội phạm” (khoản 3, Điều 7) Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện các quy

định của pháp luật trong việc bảo vệ người tố giác tội phạm đang đặt ra vấn đề cấp thiết Trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia, Luật An ninh quốc gia quy định: các cơ

quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm “áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các

vụ án xâm phạm an ninh quốc gia” (điểm h khoản 1 Điều 24) Nhằm cụ thể hóa và

hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật An ninh quốc gia, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 151/2005/NĐ-CP ngày 14/12/2005 về quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan

và cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó quy định tương đối chi tiết, cụ thể về công tác bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án khác do cơ quan chuyên trách bảo vệ

an ninh quốc gia thụ lý

Lĩnh vực phòng, chống ma tuý là nơi mà người tố giác tội phạm, có nguy cơ bị tấn công hoặc bị xâm hại đặc biệt lớn Chính vì vậy, Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000 đã quy định: Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý trong Công an nhân

dân được “Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong các vụ án về ma tuý” (điểm e khoản 1 Điều 13) Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 99/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân và đã dành riêng Chương VII để quy định về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 09/2004/TT-BCA(V19) ngày 16/6/2004 hướng dẫn áp dụng một số biện pháp bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án về ma tuý

Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng năm

2005 chỉ mới đề cập tới trách nhiệm của “Người đứng đầu cơ quan tổ chức có thẩm

Trang 27

quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lí theo thẩm quyền, giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo;

áp dụng đồng thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu” (khoản 2 Điều 65)

Ngoài ra, trong Luật Công an nhân dân năm 2005, khi quy định về chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an

nhân dân cũng đã khẳng định: “Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội” (khoản 1, Điều 13)

Như vậy, tuy các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ người tố giác tội phạm được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, nhưng tựu trung lại là đều xác định quyền được bảo vệ của họ và nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan Song, điều đáng lưu ý là hầu hết các quy định chỉ mới dừng lại ở nguyên tắc, thiếu hướng dẫn cụ thể, nhất là về các biện pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, lực lượng tiến hành bảo vệ, kinh phí để bảo vệ; đồng thời, cũng như chưa có quy định trong những trường hợp cụ thể nào thì người tố giác và những người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ được bảo vệ, trường hợp bản thân họ từ chối bảo vệ hoặc vi phạm thoả thuận được bảo vệ thì xử lý ra sao

2.1.5 Các hình thức tố giác tội phạm

Tố giác tội phạm là cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền những thông tin cần thiết về tội phạm để cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Trong bối cảnh cuộc sống hiện nay tình hình tội phạm càng phức tạp kéo theo với sự phát triển của xã hội Sự phát triển của xã hội ngày này cùng với đó là sự bùng nổ các phương tiện công nghệ thông tin, kỹ thuật, khoa học…Ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin vào phòng, chống tội phạm là một nhu cầu tất yếu của Nhà nước Qua đó công dân đã sử dụng những thành tựu khoa học để tố giác tội phạm qua các phương tiện công nghệ thông tin như điện thoại, mạng thông tin điện tử Ngoài việc tố giác tội phạm theo cách truyền thống là tố giác trực tiếp bằng miệng và gởi đơn tố giác, cùng với sự tiến bộ khoa học hiện nay thì công dân có thêm các hình thức tố giác tội phạm khác như là: tố giác qua điện thoại, tố giác qua mạng thông tin điện tử

 Tố giác tội phạm bằng hình thức trực tiếp

Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì chỉ đề cập đến

hình thức tố giác bằng miệng: “Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác” và khoản 1 Điều 65 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:“công dân tố cáo trực tiếp” Tố giác tội phạm bằng miệng

Trang 28

có thể hiểu là hình thức tố giác tội phạm trực tiếp Khi đó công dân đến trực tiếp cơ quan Nhà nước có thẩm để tố giác hành vi vi phạm pháp luật Cơ quan nhận thông tin tố giác tội phạm phải có trách nhiệm ghi lại những gì mà người tố giác trình bày, nhằm làm căn

cứ để khởi tố vụ án hình sự Tố giác trực tiếp bằng miệng giúp cơ quan Nhà nước biết rõ được đối tượng đến tố giác, tránh được tình trạng lợi dụng tố giác để gây phiền hà cho cơ quan nhà nước Khi đó người tố giác không đúng sự thật sẽ tùy mức độ mà bị xỷ lý theo quy định của pháp luật

 Tố giác tội phạm bằng hình thức gởi đơn

Gởi đơn tố giác tội phạm là hình thức tố giác tội phạm được sử dụng phổ biến hiện

nay được ghi nhận tại khoản 1 Điều 65 Luật phòng, chống tham nhũng: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để gửi đơn tố cáo ” Công

dân muốn tố giác tội phạm thì làm đơn gởi trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền hoặc bỏ vào hòm thư tố giác tội phạm Hòm thư tố giác tội phạm thường được treo ngay ngoài các cơ quan như: Viện kiểm sát, Cơ quan công an…Việc treo hòm thư phải công khai, nhận thông tin tố giác tội phạm trong những năm qua do công dân cung cấp đã thu được những kết quả nhất định: số lượng đơn thư tăng lên, người dân có thể trực tiếp liên hệ với

cơ quan chuyên trách Ở một số địa phương việc treo hòm thư tố giác đang được nhân rộng

Đến năm 2010 nhân dân các địa phương trong tỉnh Nam Định đã xây dựng 572 hòm thư tố giác tội phạm9

Tỉnh Đắk lắk đã xây dựng được 2.156 hòm thư tố giác tội phạm10

Toàn tỉnh Nghệ An đã đặt được 2.880 hòm thư tố giác tội phạm11

Tỉnh Bắc Ninh đã xây dựng 577 hòm thư tố giác tội phạm12

Số lượng hòm thư ở các Tỉnh và Thành phố không giống nhau do tùy thuộc vào địa bàn từng Tỉnh và Thành phố là không giống nhau, cũng như tình trạng tội phạm diễn ra không giống nhau Nhưng mục đích cuối cùng của hòm tố giác tội phạm là tiếp nhận những thông tin tố giác tội phạm do công dân cung cấp Tố giác tội phạm bằng hình thức gởi đơn không chỉ giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền biết nhanh về tội phạm, mà cũng là cầu nối giữa Nhà nước và người dân

 Tố giác tội phạm bằng hình thức gọi điện thoại

9

Theo phong-chong-toi-pham.aspx, (cập nhật ngày 03/9/2010)

http://www2.namdinh.gov.vn/Home/Tintrongtinh/2010/2020/Day-manh-thuc-hien-Chuong-trinh-quoc-gia-10

Theo http://www.sotuphapdaklak.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1456&Itemid=4, (cập nhật ngày 03/9/2010)

Trang 29

Trong xã hội hiện nay, nhu cầu sử dụng điện thoại trong người dân ngày một nhiều

và càng được phổ biến đối với mọi lứa tuổi Điện thoại là một phương tiện liên lạc rất tiện ích hiện nay, điện thoại không chỉ là phương tiện trao đổi giao tiếp qua lại với nhau trong công việc, quan tâm hỏi thăm lẫn nhau…Mà điện thoại cũng được dùng để công dân tố giác tội phạm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Khoản 1 Điều 65 Luật phòng,

chống tham nhũng quy định “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân tố cáo qua điện thoại…” Và trong thực tiễn hiện nay tội

phạm diễn ra ngày càng nhanh và nguy hiểm Chính vì vậy, việc tiếp nhận nhanh thông tin tội phạm từ công dân là rất cần thiết để nhanh chóng đến nơi tội phạm thực hiện hành

vi phạm tội Vì thế, điện thoại trong trường hợp này là rất cần thiết Mỗi Tỉnh và Thành phố đều có số điện thoại tố giác tội phạm khác nhau nhưng cũng có chung số điện thoại nóng là 113 Ngoài số điện trên công dân có thể tố giác qua các số điện thoại của cơ quan Nhà nước hoặc số điện thoại của một số tội phạm cụ thể như tội phạm môi trường, kinh tế Vừa qua thì Cục Cảnh sát môi trường ngày 4/6/2010 đã công bố số điện thoại đường dây nóng về lĩnh vực môi trường và các hoạt động buôn bán bất hợp pháp động thực vật hoang dã Theo đó, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và người dân có thể thông báo các hành vi vi phạm về môi trường tới số điện thoại miễn phí 1800.588.87513 Hình thức

tố giác tội phạm bằng điện thoại là công dân gọi trực tiếp đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để trình báo về tội phạm đang diễn ra, đã diễn ra nhưng cơ quan chức năng chưa biết được thông tin về tội phạm Mọi thông tin tố giác tội phạm của công dân khi gọi đến

số điện thoại trên thì sẽ được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý nhanh

 Tố giác tội phạm bằng hình thức qua mạng thông tin điện tử

Tại khoản 1 Điều 65 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân tố cáo qua mạng thông tin điện tử…” Như vậy, cùng với sự phát triển của điện thoại là sự phát triển của

mạng thông tin điện tử (Internet) Internet là hình thức thông tin truyền thông trực tuyến cung cấp nhiều nguồn thông tin cần thiết cho sự phát triển chung của xã hội Sử dụng những thành tựu khoa học vào việc phòng chống tội phạm là việc làm đang được Nhà nước áp dụng vào trong thực tiễn và đã đạt được nhiều thành tựu như là: Ngành Kiểm sát

và ngành Công an đang áp dụng…Tố giác tội phạm qua mạng thông tin điện tử thì công dân có thể tố giác trực tiếp qua Website hoặc gởi Email, công dân có thể trực tiếp cung cấp các thông tin tố giác tội phạm qua các trang thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như:

13

Theo trang thông tin điện tử báo Kinh tế, day-nong-to-giac-toi-pham-moi-truong.htm, (truy cập ngày 25/9/2010)

Trang 30

http://baokinhteht.com.vn/home/20100609035031498_p0_c139/duong-Tố giác tội phạm qua website của Viện Kiểm Sát Nhân Dân http://baokinhteht.com.vn/home/20100609035031498_p0_c139/duong-Tối cao nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại địa chỉ: http://www.vksndtc.gov.vn14 Trang tin thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng hỗ trợ việc tra cứu, tìm kiếm văn bản của Đảng và Nhà nước từ 1945 đến nay; nhất là những văn bản có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân; văn bản quy phạm pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành nhanh chóng và tiện lợi Ngoài các nội dung trên, trang Website còn mở chuyên mục “Diễn đàn khoa học pháp lý” để giới Luật gia, Luật sư, cán

bộ ngành tư pháp và những người quan tâm đến khoa học pháp lý trao đổi kinh nghiệm,

bổ sung lý luận gắn với thực tiễn về công tác

Ngoài trang thông tin Điện tử của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phục vụ cho việc

tố giác tội phạm còn có Trang thông tin của Tổng cục cảnh sát và Viện kiểm sát các Tỉnh

Hộp thư điện tử có địa chỉ: gopycanhsat@canhsat.vn nhằm tiếp nhận góp ý của công dân, các cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị - xã hội ở trong và ngoài nước đối với hoạt động, công tác, chiến đấu của lực lượng Cảnh sát nhân dân15

Hộp thư điện tử là sáng kiến của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an Hà Nội Hai hộp thư điện tử theo địa chỉ canhsathinhsu@fpt.vn hoặc

thammucshshn@fpt.vn đã được thành lập để tiếp nhận các thông tin nóng Hai địa chỉ trên đã được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để đông đảo người dân được biết16

Trang 31

Công an Quảng Ninh đã đưa vào sử dụng hộp thư điện tử để tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm và góp ý xây dựng lực lượng công an nhân dân tại địa chỉ

Công an tỉnh Hậu Giang đã chính thức đưa vào hoạt động hộp thư điện tử, địa chỉ: haugiang@canhsat.vn để phục vụ thuận tiện cho các cơ quan tổ chức, người dân đóng góp ý kiến cho ngành, đồng thời tố giác tội phạm18

Mọi thông tin liên quan đến việc tố giác tội phạm trên mạng thông tin điện tử sẽ được bảo đảm bí mật và chuyển tới các cơ quan chức năng để kịp thời xử lý Những thông tin góp ý của công dân đối với lực lượng Cảnh sát nhân dân sẽ được chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền xử lý và trả lời tới công dân nhằm bảo đảm thông tin hai chiều, công khai, minh bạch

Như vậy, các hình thức tố giác tội phạm trên đều được công dân sử dụng để tố giác tội phạm Để các hình thức tố giác tội phạm trên đạt được hiểu quả cao thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần tuyên truyền cho công dân hiểu rõ tác dụng của các hình thức tố giác tội phạm Đây là việc làm nhằm nâng cao chất lượng trong công tác phòng ngừa đấu tranh, ngăn chặn các loại tội phạm, đảm bảo, ổn định tình hình an ninh trật tự, đồng thời phát huy tinh thần cảnh giác, tố giác tội phạm của người dân đối với các hành

vi vi phạm pháp luật, cảnh giác các loại tội phạm trong tình hình mới

2.2 Quy định pháp luật về giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội phạm 2.2.1 Chủ thể tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau:

“Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến” Ngoài ra, công dân còn có thể tố giác tội phạm với Tòa án hoặc với các cơ quan

khác, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền

Cũng theo Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung có hiệu lực ngày 01/6/2009) quy định từ Điều 19 đến Điều 24 thì có nhiều Cơ quan điều tra và rất nhiều Cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu có thẩm quyền tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm do công dân cung cấp như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát Biển, các Cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát và

An ninh trong Công an nhân dân

17

Theo http://www.baoquangninh.com.vn/?lang=V&func=newsdetail&newsid=19808&CatID=38&MN=14, (cập nhật ngày 10/8/2010)

18

Theo http://www.baohaugiang.com.vn/detailvn.aspx?item=3772, (truy cập ngày 11/8/2010)

Trang 32

Như vậy, theo quy định của pháp luật có hai loại Cơ quan có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin tố giác tôi phạm từ công dân là Cơ quan tiến hành tố tụng và Cơ quan có thẩm quyền điều tra ban đầu

Loại thứ nhất là Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan Điều tra, Viện

kiểm sát và Tòa án Đây là những cơ quan bảo vệ pháp luật nên mọi thông tin xảy ra trên địa bàn mình, các cơ quan này phải nắm được để có biện pháp phòng ngừa và đấu tranh,

xử lý tội phạm Vì vậy, khi có công dân đến tố giác tội phạm, các cơ quan này phải tạo điều kiện thuận lợi cho người tố giác và nhanh chóng tiếp nhận để có biện pháp giải quyết tiếp theo Trong trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình cũng không được từ chối mà phải tiếp nhận rồi chuyển đến cơ quan có thẩm quyền Nếu cần phải tiến hành các biện pháp cần thiết để ngăn chặn hành vi phạm tội thì trong phạm

vi quyền hạn của mình phải tiến hành để hạn chế tác hại của tội phạm

Loại thứ hai là các Cơ quan có thẩm quyền điều tra ban đầu bao gồm: Bộ đội

biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát Biển, các cơ quan khác của lực lượng Cảnh sát và An ninh trong Công an nhân dân cơ quan, tổ chức khác tuy không phải là cơ quan,

tổ chức chuyên trách đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng đều có quyền và nghĩa vụ phát hiện tội phạm Những cơ quan, tổ chức này cũng có trách nhiệm tiếp nhận thông tin

tố giác tội phạm của công dân, sau đó thông báo ngay bằng văn bản cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát về thông tin tố giác tội phạm mà công dân cung cấp

Khi tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm trực tiếp mà công dân cung cấp người tiếp nhận phải ghi rõ lại nội dung thông tin tố giác tội phạm, họ, tên, địa chỉ người tố giác tội phạm Bản ghi nội dung thông tin tố giác phải đọc lại cho người tố giác tội phạm nghe và

ký xác nhận Thời điểm tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm tính từ ngày người tố giác ký vào biên bản xác nhận nội dung tố giác tội phạm

Khi tiếp nhận thông tin tố giác bằng hình thức đơn tố giác qua hòm thư thì người tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm ghi vào sổ theo dõi là ngày người tiếp nhận được đơn

tố giác tội phạm Trường hợp người cung cấp thông tin tố giác đến trực tiếp gởi đơn tố giác tội phạm thì người tiếp nhận phải làm giấy biên nhận, thời điểm tiếp nhận đơn tố giác tội phạm là ngày ghi trên giấy biên nhận

Đối với hình thức tiếp nhận thông tin qua điện thoại, qua Internet thì Cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm phải tiến hành xác minh lại họ tên, địa chỉ của người tố giác theo thông tin người tố giác tội phạm cung cấp Đối với những trường hợp người tố giác tội phạm, không nêu rõ họ tên, địa chỉ, bằng chứng cụ thể, cơ sở

để thẩm tra, xác minh thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo thông tin được cung cấp để phục vụ công tác phòng, chống tội phạm

2.2.2 Quy định của pháp luật về giải quyết thông tin tố giác tội phạm

Trang 33

Để xác định một thông tin tố giác nào của công dân có tính chất tội phạm thì phải xác minh, kiểm tra thông tin tố giác tội phạm mà công dân cung cấp Việc xác minh, kiểm tra đó do Cơ quan điều tra thực hiện theo quy định của pháp luật, được quy định trong Bộ luật Tố tung hình sự năm 2003 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Khoản 2 Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp sự việc

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra xác minh tại nhiều đại điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng”

Cũng theo quy định tại Pháp lệnh Điều tra năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì nhiệm vụ kiểm tra, xác minh thông tin tố giác tội phạm thuộc Cơ quan điều tra Cụ thể

theo khoản 3 Điều 7 pháp lệnh: “Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Cơ quan điều tra phải xem xét, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị, người đã tố giác tội phạm biết và phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm”

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì khi nhận được thông tin tố giác tội phạm của công dân thì Cơ quan điều tra có nhiệm vụ phải kiểm tra, xác minh nguồn thông tin

mà công dân cung cấp

Pháp luật cũng quy định thời hạn để Cơ quan điều tra, xác minh nguồn thông tin tố giác tội phạm là hai mươi ngày kể từ ngày nhận được thông tin tố giác tội phạm mà công dân cung cấp Luật quy định thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn thông tin tố giác tội phạm nhằm đề cao trách nhiệm của Cơ quan điều tra Mỗi khi nhận được nguồn thông tin

tố giác tội phạm thì Cơ quan điều tra phải chủ động, khẩn trương áp dụng các biện pháp

do pháp luật quy định để xác định nguồn thông tin tố giác tội phạm mà công dân cung cấp có chính xác không Khi tiến hành xác minh, kiểm tra Cơ quan điều tra có thể tiến hành kiểm tra giấy tờ tùy thân của người tố giác, những tài liệu có thể là những hiện vật

có giá trị chứng minh sự việc phạm tội, yêu cầu người tố giác giải thích rõ sự việc… Tất

cả các thông tin tố giác tội phạm mà công dân cung cấp phải được kiểm tra kỹ để xác định có dấu hiệu tội phạm không Khi kiểm tra phải tuân theo những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Sau khi kiểm tra, xác minh thì kết quả giải quyết thông tin tố giác tội phạm phải được cơ quan điều tra gởi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho

người cung cấp thông tin tố giác tội phạm biết: “Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghi khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gởi cho Viện kiểm sát

Trang 34

cùng cấp và thông báo cho cơ quan tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết” được quy định tại khoản 3 Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

2.2.3 Quy định của pháp luật về kiểm sát thông tin tố giác tội phạm

Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan thuộc hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (Điều 137 Hiến pháp và Điều 1 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân nhân) Trong Bộ luật Tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được xử lý kịp thời

Để mọi hành vi phạm tội điều phải được xử lý kịp thời, không để bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội thì hoạt động kiểm sát việc giải quyết thông tin tố giác tội phạm của công dân có ý nghĩa rất quan trọng và đó là một trong những hoạt động nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Hoạt động kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với thông tin tố giác tội phạm gắn bó chặt chẽ

và hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát

Trong thực tiễn hiện nay, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ kiểm sát thông tin tố giác tội phạm căn cứ vào quy quy định tại Điều 10, Điều 103 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Thông

tư liên tịch Liên ngành tư pháp Trung ương cũng như quy chế hoạt động của ngành: Khoản 4 Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với

thông tin tố giác tội phạm mà công dân cung cấp: “Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”

Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định: “Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội phạm do các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân chuyển đến Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm thực hiện việc thống kê tội phạm Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng khác có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ này”

Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP ngày 01/7/2005 của liên ngành tư pháp Trung ương hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm được quy định tại điểm a Mục 1 Phần

II thông tư như sau: “Cơ quan Công an có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc ghi chép, tổng hợp số liệu, lập báo cáo thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và thông bào kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp”

Trang 35

Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự được ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định (gọi

tắc là Quy chế số 07): “Kiểm sát viên được phân công phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận và giải quyết của Cơ quan điều tra cùng cấp đối với các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Hàng tuần, Kiểm sát viên yêu cầu Cơ quan điều tra cùng cấp thông báo đầy đủ cho Viện kiểm sát các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

mà Cơ quan điều tra đã tiếp nhận được; đồng thời phối hợp để phân loại, xử lý kịp thời Hàng tháng, Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Cơ quan điều tra cùng cấp nắm số lượng, kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận Nếu phát hiện có tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa được giải quyết theo thời luật định thì yêu cầu Cơ quan điều tra nêu rõ lý do, hướng giải quyết và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự”

(khoản 2 Điều 10 Quy chế số 07)

Với những quy định nêu trên, công tác kiểm sát thông tin tố giác tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm vừa qua đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Viện kiểm sát trong việc chống oan sai,

bỏ lọt tội phạm Viện kiểm sát nhiều nơi đã chủ động đề ra những biện pháp, phương thức để nắm được các thông tin tố giác tội phạm mà công dân cung cấp Ngoài ra, một số Viện kiểm sát địa phương đã chủ trì xây dựng quy chế phối hợp liên ngành trong công tác tiếp nhận, phân loại xử lý, giải quyết thông tin tố giác tội phạm Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và các cơ quan chức năng khác ngày càng chặt chẽ, tạo điều kiện cho nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cơ sở chức năng của mỗi ngành

Trang 36

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÔNG DÂN

TRONG VIỆC TỐ GIÁC TỘI PHẠM

Các quy định của pháp luật về tố giác tội phạm và giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội phạm được nêu trong Chương 2, nhưng trên thực tế thì các quy định của pháp luật quá trình thực hiện còn gây nhiều khó khăn cho người dân trong việc tố giác tội phạm, cũng như việc giải quyết, kiểm sát của các cơ quan chức năng có thẩm quyền Chính vì vậy, trong Chương 3 này người viết tập trung nêu lên thực trạng và hạn chế trong việc tố giác tội phạm để từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao vai trò của công dân trong việc tố giác tội phạm cũng như vai trò của các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong công tác giải quyết, kiểm sát thông tin tố giác tội phạm Qua đó, làm cho công dân nhận thức rõ được vai trò cùa mình và góp phần nâng cao tính hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

3.1 Thực trạng và hạn chế của công dân trong việc tố giác tội phạm

3.1.1 Thực trạng tố giác tội phạm ở nước ta

Trong những năm gần đây, Chính phủ đã có nhiều biện pháp cấp bách tăng cường bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới; các Bộ, các ngành, các cấp và toàn thể người dân đã tích cực hưởng ứng và tham gia, tình hình trật tự an toàn xã hội nói chung đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả nhất định, góp phần ổn định tình hình chung của đất nước

Tuy nhiên, tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Đặc biệt là tình trạng phạm tội có tổ chức như tham nhũng, buôn lậu, mua bán phụ nữ, xâm hại trẻ em phạm tội có sử dụng bạo lực, cướp của, giết người, chống người thi hành công vụ, đâm thuê, chém mướn, bảo kê nhà hàng và các hành vi phạm tội khác có tính chất côn đồ hung hãn; gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng gây lo lắng cho toàn xã hội

Trang 37

Tình hình trên do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường cùng với những yếu kém trong việc quản lý, kinh tế, văn hóa,

xã hội của các cơ quan Nhà nước tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, chúng ta chưa đánh giá đúng tính chất phức tạp nghiêm trọng sự phát triển tội phạm trong thời kỳ mới, để đề ra những chủ trương, biện pháp đấu tranh phù hợp Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, việc thi hành pháp luật lại chưa nghiêm, sự phối hợp hoạt động của cơ quan bảo vệ pháp luật còn thiếu chặt chẽ, nhiều ngành, nhiều cấp chưa coi trọng đúng mức công tác tham gia phòng, chống tội phạm Một bộ phận cán bộ, kể cả cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật

bị tha hóa, làm mất lòng tin trong dân; công tác phòng ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư chưa được quan tâm đúng mức

Để phong trào toàn dân tham gia phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội đạt kết quả, trong thời gian tới các cấp chính quyền cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng, các cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức thành viên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật bằng các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của nhà nước tới mọi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và người dân, nâng cao ý thức cảnh giác,

phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội Người dân là “tai mắt” của

các cơ quan nhà nước trong việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm Mọi tin tức về tội phạm có thể nói người dân là người biết rõ nhất Phát huy tinh thần phòng chống và tố giác tội phạm, người dân đã cung cấp nhiều nguồn tin có giá trị giúp Công an và Viện kiểm sát nhanh chống giải quyết các vụ án phạm pháp hình sự

Trong năm 2008, người dân đã cũng cấp hàng triệu nguồn tin có liên quan đến công tác đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, trong đó có khoảng 50-60% tin có giá trị giúp các cơ quan chức năng phát hiện, điều tra, xử lý nhiều vụ phạm tội nghiêm trọng19

Trong xã hội đã xuất hiện hàng ngàn tấm gương dũng cảm, mưu trí, sẵn sàng hi sinh tính mạng truy bắt tội phạm, không ngại hi sinh như tấm gương của anh Trần Đình Hổ dưới đây20:

Anh Trần Đình Hổ (SN 1977), trú thôn Bình Thạnh, xã Xuân Bình, Thị xã Sông Cầu

là một người năng nổ nhiệt tình, tích cực tham gia công tác đấu tranh, tố giác tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự địa bàn, được cấp ủy, chính quyền địa phương tin cậy, bà con thôn xóm quý mến

19

Theo tin/2000875.epi, (truy cập ngày 20/9/2010)

http://www.baomoi.com/Home/HinhSu/www.vtc.vn/60-toi-pham-duoc-phat-hien-la-do-dan-cung-cap-20

Theohttp://www.baophuyen.com.vn/Trangch%E1%BB%A7/X%C3%A3h%E1%BB%99i/tabid/141/GId/141/item Index/-1/NId/50185/Default.aspx, (cập nhật ngày 20/9/2010)

Ngày đăng: 15/12/2015, 18:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam – Trường Đại học Luật Hà Nội 3. Tiến sĩ Phạm văn Beo – Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam phần chung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam – T
2. Trang thông tin điện tử bách khoa toàn thư, khái niệm công dân, http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1EC9aWQ9MzIyMT Sách, tạp chí
Tiêu đề: khái niệm công dân
3. Theo http://vnexpress.net: Quyền và nghĩa vụ tố giác tội phạm, http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/Tu-van/2008/09/3BA06145/, (cập nhật ngày 13/8/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền và nghĩa vụ tố giác tội phạm
4. Hành vi che giấu tội phạm không thể do lỗi vô thức, http://news.socbay.com/hanh_vi_che_giau_toi_pham_khong_the_do_loi_do_vo_thuc-632112239-251658240.html, (cập nhật ngày 20/8/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi che giấu tội phạm không thể do lỗi vô thức
5. Báo điện tử Nam Định, Đẩy mạnh chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, http://www2.namdinh.gov.vn/Home/Tintrongtinh/2010/2020/Day-manh-thuc-hien-Chuong-trinh-quoc-gia-phong-chong-toi-pham.aspx, (cập nhật ngày 03/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm
6. Báo điện tử Sở tư pháp Đaklak, Kết quả công tác phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh theo Nghị quyết 09/1998/NQ-CP của Chính phủ,http://www.sotuphapdaklak.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1456&Itemid=4, (cập nhật ngày 03/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả công tác phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh theo Nghị quyết 09/1998/NQ-CP của Chính phủ
7. Báo điện tử Nghệ An, Nghệ An: 2.800 hòm thư tố giác tội phạm, http://www.vinhcity.gov.vn/?url=detail&id=21971&date=7/10/2009&language=1, (cập nhật ngày 25/7/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An: 2.800 hòm thư tố giác tội phạm
8. Mặt trận tổ quốc, Xây dựng mô hình, nhân điển hình, khâu đột phá trong phòng chống tội phạm,http://www.mattran.org.vn/Home/thongtinCTMT/So%2062/HIV-AIDS.htm#8, (cập nhật ngày 04/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình, nhân điển hình, khâu đột phá trong phòng chống tội phạm
9. Kinh tế, Đường dây nóng tố giác tội phạm môi trường, http://baokinhteht.com.vn/home/20100609035031498_p0_c139/duong-day-nong-to-giac-toi-pham-moi-truong.htm, (truy cập ngày 25/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường dây nóng tố giác tội phạm môi trường
10. Người lao động, Tố giác tội phạm qua website của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,http://nld.com.vn/196824P0C1002/to-giac-toi-pham-qua-website-cua-vien-ksnd-toi-cao.htm, (truy cập ngày 25/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố giác tội phạm qua website của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
11. Báo Tiền phong, tố giác tội phạm và góp ý cho cảnh sát qua email, http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/86778/To-giac-toi-pham-va-gop-y-cho-Canh-sat-qua-email.html, (truy cập ngày 25/8/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: giác tội phạm và góp ý cho cảnh sát qua email
12. Việt Báo, họp thư điện tử tiếp nhận thông tin phát huy tác dụng, http://vietbao.vn/Xa-hoi/Hop-thu-dien-tu-tiep-nhan-thong-tin-to-giac-toi-pham-phat-huy-tac-dung/45218644/157/, (truy cập ngày 25/8/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: họp thư điện tử tiếp nhận thông tin phát huy tác dụng
14. Hậu Giang, Đã có hộp thư điện tử tố giác tội phạm, http://www.baohaugiang.com.vn/detailvn.aspx?item=3772, (truy cập ngày 11/8/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đã có hộp thư điện tử tố giác tội phạm
15. Báo mới, Tội phạm được phát hiện là do dân cung cấp, http://www.baomoi.com/Home/HinhSu/www.vtc.vn/60-toi-pham-duoc-phat-hien-la-do-dan-cung-cap-tin/2000875.epi, (truy cập ngày 20/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm được phát hiện là do dân cung cấp
16. Phú Yên, Anh Hổ tích cực tố giác tội phạm, http://www.baophuyen.com.vn/Trangch%E1%BB%A7/X%C3%A3h%E1%BB%99i/tabid/141/GId/141/itemIndex/-1/NId/50185/Default.aspx, (cập nhật ngày 20/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh Hổ tích cực tố giác tội phạm
17. Công an, Sức mạnh lòng dân, http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=681&p=&id=130615, (truy cập ngày (14/8/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh lòng dân
18. Hải Phòng, Quần chúng cung cấp 2814 tin về an ninh trật tự, http://hoaphuongdo.vn/news/tin-tuc-su-kien/phap-luat-doi-song/30221-quan-chung-cung-cap-2814-tin-ve-antt.html, (truy cập ngày 04/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quần chúng cung cấp 2814 tin về an ninh trật tự
19. Bắc Giang, Phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác bảo vệ an ninh Tổ quốc, http://www.baobacgiang.com.vn/51/59115.bgo, (truy cập ngày 26/7/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác bảo vệ an ninh Tổ quốc
20. Yên Bái, Nhân dân cung cấp trên 1500 nguồn tin có giá trị, http://www.baoyenbai.com.vn/13/64799/Nhan_dan_cung_cap_tren_1500_nguon_tin_co_gia_tri.htm (truy cập ngày 08/8/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân dân cung cấp trên 1500 nguồn tin có giá trị
21. Nam Định, Đẩy mạnh chương trình Quốc gia phòng, chống tội phạm, http://www2.namdinh.gov.vn/Home/Tintrongtinh/2010/2020/Day-manh-thuc-hien-Chuong-trinh-quoc-gia-phong-chong-toi-pham.aspx, (truy cập ngày 03/9/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh chương trình Quốc gia phòng, chống tội phạm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w