1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên

84 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƯỢC Đề tài: “Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên” được thực hiện tại trường Đại học Cần Thơ ĐHCT, trong thời gian từ

Trang 1

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC

KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT

SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ CƠ BẢN LÊN KHẢ NĂNG

HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành SƯ PHẠM SINH – KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP

MSSV: 3072315 TRẦN NGỌC THẨM MSSV: 3072366 Lớp: Sư phạm Sinh – KTNN K33

NĂM 2011

Trang 2

CẢM TẠ

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn có rất nhiều khó khăn và trở ngại nhưng nhờ sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tận tình của quý Thầy, quý Cô, Cha mẹ, Anh chị, bạn bè và sự cố gắng của bản thân mà chúng tôi đã hoàn thành luận văn này Qua đây, chúng tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến với: Thầy Th.s Nguyễn Trọng Hồng Phúc, người Thầy đã tận tình hướng dẫn khoa học, định hướng đề tài và dành thời gian quý báu giúp chúng em hoàn thành luận văn này Cám ơn Thầy đã luôn động viên, nhắc nhở chúng em trong quá trình thực hiện đề tài

Cô Th.s Võ Thị Thanh Phương, Trưởng Bộ môn Sư phạm Sinh học, Cô Phan Thị Thanh Thủy, Bộ môn Di truyền học, Thầy Trương Chí Sơn, Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Thầy Th.s Nguyễn Minh Thành, Bộ môn

Sư phạm Sinh học đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn và cung cấp tài liệu cho chúng

em

Thầy Th.s Nguyễn Thanh Tùng, Cô Th.s Phùng Thị Hằng, Thầy Trương Văn Mục Bộ môn Sư phạm Sinh học đã luôn động viên tinh thần và góp ý nhắc nhở để chúng em có thể khắc phục những sai sót trong quá trình thu mẫu

Bạn Dương Hoàng Kha, bạn Đặng Quốc Tú, bạn Trần Thị Bích Chi, bạn Hồ Văn Thừa, bạn Nguyễn Thị Ngọc Phúc, đã hỗ trợ chúng tôi trong quá trình đi thu mẫu

Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn lớp Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp khóa 33 đã nhiệt tình giúp đỡ, ủng hộ về tinh thần để chúng tôi có thể hoàn thành luận văn này

Cảm ơn các bạn sinh viên đã dành thời gian giúp chúng tôi hoàn thành các phiếu điều tra

Chân thành cảm ơn!

Trang 3

TÓM LƯỢC

Đề tài: “Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên” được thực hiện tại trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT), trong thời gian từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011 Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và điều tra về các chỉ tiêu sinh lý cơ bản, chế độ ăn uống và luyện tập thể dục thể thao hằng ngày; kết quả học tập tích lũy và khả năng nhạy bén trong tư duy của 152 đối tượng là sinh viên đang theo học tại trường ĐHCT Qua thống kê và đánh giá kết quả điều tra cho thấy:

Số đo các chỉ tiêu sinh lý cơ bản của 152 sinh viên thuộc 12 khoa trực thuộc trường ĐHCT là tương đối giống với các thống kê của những nghiên cứu khác Khả năng học tập, nhanh nhẹn trong tư duy và các yếu tố như giới tính, nhóm máu, chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) được phân tích và cho thấy có mối liên hệ với nhau Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thấy rằng phương pháp học, trạng thái tâm lý, tình cảm, các chỉ số sinh lý có mối tương tác với kết quả học tập của sinh viên

Trang 4

MỤC LỤC

Chương I GIỚI THIỆU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu đề tài 1

Chương II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

1 Tổng quan về các chỉ tiêu sinh lý cơ bản 2

1.1 Các chỉ tiêu về thể trạng 2

1.2 Các chỉ tiêu huyết học 3

1.3 Các chỉ tiêu hô hấp 12

2 Chỉ số thông minh 14

2.1 Khái niệm chỉ số thông minh IQ 14

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến IQ 15

3 Dinh dưỡng 16

3.1 Khái niệm về dinh dưỡng 17

3.2 Vai trò của dinh dưỡng đối với sức khỏe 17

4 Luyện tập thể dục thể thao 24

Chương III PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN 25

1 Phương tiện và hóa chất 25

1.1 Địa điểm và thời gian thực hiện đề tài 25

1.2 Phương tiện và hóa chất 25

2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.1 Phương pháp thu mẫu 26

2.2 Phương pháp điều tra các chỉ tiêu sinh lý cơ bản 29

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 33

3 Tóm tắt các bước thực hiện 33

4 Các trở ngại và biện pháp khắc phục 33

Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

1 Kết quả 36

2 Thảo luận 37

2.1 Kỹ thuật 37

2.2 Kết quả điều tra 39

Trang 5

Chương V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

1 Kết luận 60

1.1 Ưu điểm 60

1.2 Khuyết điểm 60

2 Kiến nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1: Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo thang phân loại của WHO (1995) 3

Bảng 2: Phân loại nhóm máu theo hệ ABO 4

Bảng 3: Tỷ lệ % các nhóm máu của người Việt Nam theo dân tộc 5

Bảng 4: Số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi của người Việt Nam 6

Bảng 5: Hằng số sinh lý người Việt Nam 14

Bảng 6: Phân loại chỉ số IQ trong dân số 15

Bảng 7: Tóm tắc các bước thực hiện đề tài 33

Bảng 8: Khó khăn và biện pháp khắc phục khi tiến hành thu mẫu 33

Bảng 9: Thống kê sơ bộ kết quả điều tra 36

Bảng 10: Số lượng sinh viên thống kê theo chỉ số BMI 40

Bảng 11: Tỉ lệ các nhóm máu theo hệ ABO của sinh viên ĐHCT 41

Bảng 12: Thống kê kết quả học tập của sinh viên ĐHCT 41

Bảng 13: Các chỉ tiêu sinh lý của sinh viên ĐHCT phân theo giới tính 43

Bảng 14: Ảnh hưởng của nhóm máu đến số đo các chỉ tiêu sinh lý và kết quả học tập của sinh viên 45

Bảng 15: Ảnh hưởng của chỉ số BMI đến số đo các chỉ tiêu sinh lý và kết quả học tập của sinh viên 48

Bảng 16: Ảnh hưởng của dung tích sống, nhịp tim và số lượng hồng cầu đến kết quả học tập, khả năng nhanh nhẹn trong tư duy của sinh viên 51

Bảng 17 Ảnh hưởng của việc luyện tập thể dục thể thao đến dung tích sống và kết quả học tập của sinh viên ĐHCT 52

Bảng 18: Ảnh hưởng của phương pháp học lên kết quả học tập của sinh viên 54

Bảng 19: Ảnh hưởng của tâm lý tình cảm đến kết quả học tập của sinh viên 55

Bảng 20: Ảnh hưởng của mức độ dinh dưỡng đến các chỉ tiêu sinh lý và kết quả học tập của sinh viên ĐHCT 57

Bảng 21: Chiều cao và dung tích sống của sinh viên ĐHCT 58 Bảng 22: Nhu cầu của một số vitamin cần thiết cho cơ thể người XI Bảng 23: Nhu cầu về các chất khoáng của cơ thể người XV Bảng 24: So sánh các chỉ tiêu sinh lý của nam và nữ sinh viên ĐHCT với thanh niên cả nước và thanh niên khu vực ĐBSCL XVIII

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Kháng nguyên và kháng thể trong hệ thống nhóm máu ABO 4

Hình 2: Đo huyết áp động mạch bằng phương pháp gián tiếp 10

Hình 3: Sơ đồ phản ứng của cơ thể đối với ăn uống, sự thay đổi của khẩu phần ăn và các yếu tố khác có ý nghĩa bệnh lý và hệ thống (FAO/WHO/1974) 18

Hình 4: Cân sức khỏe 29

Hình 5: Bộ dụng cụ đo huyết áp 30

Hình 6: Ống nghe nhịp tim 30

Hình 7: Dung dịch Anti A, Anti B xác định nhóm máu 32

Hình 8: Anti A, Anti B nguyên chất (A) và Anti A, Anti B sau khi pha máu 38

Hình 9: Buồng đếm chưa có hồng cầu (A) và có hồng cầu (B) 38

Hình 10: Thao tác cho máu vào eppendoft (A) và trộn máu (B) 39

Hình 11: Biểu đồ biễu diễn tỉ lệ sinh viên phân theo chỉ số BMI 40

Hình 12: Tỉ lệ xếp loại học lực của sinh viên ĐHCT 42

Hình 13: Biểu đồ biễu diễn kết quả học tập của sinh viên ĐHCT 42

Hình 14: Ảnh hưởng của nhóm máu đến số câu trắc nghiệm đúng/phút 46

Hình 15: Ảnh hưởng của nhóm máu đến kết quả học tập của sinh viên ĐHCT 47

Hình 16: Ảnh hưởng của nhóm máu đến huyết áp tối thiểu của sinh viên ĐHCT 47

Hình 17: Ảnh hưởng của chỉ số BMI lên huyết áp của sinh viên ĐHCT 49

Hình 18: Ảnh hưởng của chỉ số BMI đến dung tích sống của sinh viên ĐHCT 49

Hình 19: Ảnh hưởng của chỉ số BMI lên nhịp tim của sinh viên ĐHCT 50

Hình 20: Ảnh hưởng giữa mức độ luyện tập TDTT và dung tích sống 53

Hình 21: Ảnh hưỏng của mức độ luyện tập TDTT lên kết quả học tập của sinh viên 53

Hình 22: Ảnh hưởng của phương pháp học đến kết quả học tập của sinh viên 55

Hình 23: Ảnh hưởng của yếu tố tâm lý đến kết quả học tập của sinh viên 56

Hình 24: Ảnh hưởng của chiều cao lên dung tích sống của sinh viên 58

Trang 8

TỪ VIẾT TẮT

ĐHCT : Đại học Cần Thơ

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

IQ : Chỉ số thông minh (Intelligence Quotient)

BMI : Body Mass Index

Trang 9

Ở Việt Nam hiện vẫn chưa có những thống kê mang tính hệ thống và vẫn chưa có những nghiên cứu khoa học nhằm khảo sát và đánh giá sự tương tác giữa các yếu tố sinh l ý cơ bản, cường độ rèn luyện thân thể, chất lượng bữa ăn và khả năng học tập, tư duy ở các lứa tuổi đặc biệt là ở thanh niên (từ 18 đến 22 tuổi) Trường Đại học Cần Thơ là một trường Đại học có quy mô lớn với số lượng sinh viên lên đến 20000 sinh viên Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các chỉ tiêu sinh

lý, chất lượng bữa ăn đến khả năng học tập của sinh viên là cần thiết

Chính vì những thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên” nhằm đưa ra những nhìn nhận ban đầu về ảnh hưởng của các vấn đề

sinh lý lên sinh viên từ đó có những kết luận và đề xuất phù hợp nhằm hỗ trợ cho việc nâng cao năng lực học tập và nghiên cứu của sinh viên ĐHCT nói riêng và thanh niên cả nước nói chung

Trang 10

Chương II

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1 Tổng quan về các chỉ tiêu sinh lý cơ bản

lý giúp nâng cao thể trạng và sức khỏe của học sinh, sinh viên nhằm phục vụ cho công tác giáo dục ngày càng hiệu quả

Theo nghiên cứu điều tra của Viện dinh dưỡng quốc gia và Uỷ ban dân số gia đình và Trẻ em vừa công bố tại lễ tổng kết “Quỹ sữa vươn cao Việt Nam” vừa qua, chiều cao trung bình người Việt Nam hiện nay thấp nhất khu vực Chiều cao trung bình của nam là 1,63 m (thấp 13 cm so với chuẩn) và nữ là 1,53 m (thấp hơn 11 cm

so với chuẩn) (Viện dinh dưỡng Quốc gia, 2011)

Ngoài các yếu tố di truyền, việc luyện tập thể thao và chế độ dinh dưỡng hợp

lý có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chiều cao và tầm vóc người Việt Nam chủ yếu là thế hệ thanh, thiếu niên Chiều cao và cân nặng như thế nào là hợp lý và được xem là chuẩn về sức khỏe cũng như tầm vóc cân đối Để xác định vấn đề này người ta dùng chỉ số khối lượng cơ thể BMI (Body Mass Index) Theo tổ chức y tế thế giới WHO (World Health Orgranization) thì BMI được tính bằng công thức:

BMI = W/H2

W: Khối lượng cơ thể (kg)

H: Chiều cao cơ thể (m)

(Lê Doãn Diên và Vũ Thị Thư, 1996)

Dưới đây là bảng đánh giá cho thanh niên từ 20 tuổi trở lên

Trang 11

Bảng 1: Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo thang phân loại của WHO (1995)

Thiếu năng lượng trường diễn (gầy) < 18,5

Trang 12

Hình 1: Kháng nguyên và kháng thể trong hệ thống nhóm máu ABO

(Nguồn: Đại học Colorado, 2008) Trong hệ thống này có 2 loại kháng nguyên là A và B nằm trên màng hồng cầu Ngoài ra trong huyết tương còn có 2 loại kháng thể là kháng thể kháng A (kháng thể a) và kháng thể kháng B (kháng thể b) Kháng thể a có khả năng ngưng kết kháng nguyên A, kháng thể b có khả năng ngưng kết kháng nguyên B

Người ta dựa vào sự hiện diện kháng nguyên A, B trên màng hồng cầu để phân loại hệ thống nhóm máu ABO (Bảng 2)

Bảng 2: Phân loại nhóm máu theo hệ ABO

Anti B Anti A Không Anti AB

Trang 13

Bảng 3: Tỷ lệ % các nhóm máu của người Việt Nam theo dân tộc

14,2 45,54 6,68 33,56

32,46 35,93 0,86 30,73 (Nguồn: Nguyễn Quang Mai, 2004)

Sự xuất hiện kháng nguyên A, hoặc kháng nguyên B trên màng hồng cầu được quy định bởi gen Kháng thể a và b được tạo ra bởi các tế bào sản xuất kháng thể Sau khi sinh, kháng thể chưa xuất hiện trong huyết tương Hai đến tám tháng sau cơ thể đứa trẻ mới bắt đầu sản xuất kháng thể (người nhóm máu A thì sản xuất kháng thể b, tương tự cho các nhóm máu khác) Nồng độ kháng thể đạt tối đa vào những năm 8 – 10 tuổi, sau đó nó sẽ giảm dần (Nguyễn Tấn Gi Trọng, 1996)

Để xác định nhóm máu theo hệ thống này người ta sử dụng các huyết thanh mẫu có chứa các kháng thể nhất định: Huyết thanh anti A, huyết thanh anti B và anti AB để xác định nhóm máu cho mọi người (Trịnh Hữu Hằng, 2001)

Các bước xác định nhóm máu (Trịnh Hữu Hằng, 2001)

Bước 1: Lau khô lame, đặt lên một tờ giấy trắng và phẳng dùng ống hút khác

nhau lấy 3 giọt huyết thanh mẫu nhỏ lên lame có đánh dấu bằng các chữ A, O, B, mỗi giọt cách nhau 1 – 1,5 cm

Bước 2: Sát trùng đầu ngón tay, ngón tay và trích máu

Bước 3: Dùng que thủy tinh quẹt một giọt máu nhỏ rồi khoấy đều giọt máu

với một giọt huyết thanh mẫu Lau sạch que thủy tinh và lập lại với 2 giọt huyết thanh mẫu còn lại

Bước 4: Cầm lame lên lắc nhẹ nhàng vài vòng

Bước 5: Đọc kết quả

1.2.2 Số lượng hồng cầu

Hồng cầu là một trong 3 loại tế bào quan trọng của máu, số lượng lớn nhất, ở người Việt Nam bình thường có khoảng 3,8 – 4,2 triệu/ml máu Số lượng hồng cầu

Trang 14

trong một thể tích nhất định phải luôn luôn ổn định, nếu dao động tăng hay giảm nhiều điều thể hiện bệnh lý (Trịnh Hữu Hằng, 2001)

Theo Viện huyết học và truyền máu trung ương, số lượng hồng cầu nữ là 4,05 – 4,96 triệu hồng cầu/ml máu, số lượng hồng cầu ở nam là 4,25 – 5,46 triệu hồng cầu/ml máu (Viện huyết học và truyền máu trung ương, 2011)

Chức năng của hồng cầu: Chức năng chủ yếu của hồng cầu là vận chuyển

oxy tới các tổ chức Ngoài ra hồng cầu còn có các chức năng sau: Vận chuyển một phần CO2 (nhờ hemoglobin), giúp huyết tương vận chuyển CO2 (nhờ enzym carbonic anhydrase), điều hoà cân bằng pH máu nhờ tác dụng đệm của hemoglobin, tham gia vào chức năng miễn dịch (Nguyễn Tấn Gi Trọng và ctv, 1996) Vì thế, trong các xét nghiệm lâm sàng, việc thử máu và định lượng hồng cầu trong cơ thể sinh vật là một tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe cũng như kiểm tra các yếu tố có thể dẫn đến rối loạn cân bằng nội môi

Theo kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của người Việt Nam năm 1996, số lượng hồng cầu trong máu của người Việt Nam bình thường có khác nhau tuỳ theo thống kê của các tác giả Sau đây là một bảng thống kê số lượng hồng cầu trung bình ở người Việt Nam

Bảng 4: Số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi của người Việt Nam

Tác giả Đỗ Trung Phấn (miền Bắc)

lý Ở trẻ sơ sinh, số lượng hồng cầu cao trong vòng một hai tuần đầu, sau đó có hiện tượng vỡ hồng cầu gây vàng da sinh lý Ngoài ra, số lượng hồng cầu có thể tăng ở những người lao động nặng, những người sống ở vùng cao Một số bệnh

Trang 15

liên quan đến tăng số lượng hồng cầu đến 6 hoặc 7 triệu hồng cầu/ml máu được xem như bệnh đa hồng cầu Số lượng hồng cầu nhiều có thể làm cản trở sự lưu thông của dòng máu, làm chậm trễ việc vận chuyển oxy đi nuôi cơ thể (Nguyễn Tấn Gi Trọng và ctv, 1996; Nguyễn Quang Mai, 2004)

Để xác định số lượng hồng cầu có thể dùng các phương pháp như đếm trực tiếp hoặc dùng máy đếm hồng cầu (Trịnh Hữu Hằng, 2001)

Phương pháp đếm trực tiếp: Pha loãng máu và đếm dưới kính hiển vi trong

Các bước thực hiện đếm hồng cầu bằng phương pháp đếm trực tiếp

Bước 1: Vảy và vuốt nhẹ bàn tay (thường là tay không thuận), sát trùng ngón

tay thứ tư (ngón đeo nhẫn) bằng cồn 90o

Bước 2: Dùng kim trích máu đã được tiệt trùng, chích một vết sâu khoảng từ

1 – 2 mm, ở đầu ngón tay, tay trái người trích máu giữ chặt và căng da đầu ngón tay người được trích máu trước khi tay phải cầm kim chọc thẳng và nhanh

Trang 16

Bước 3: Nặn giọt máu đầu, dùng bông vô trùng lau khô và nặng giọt máu thứ

2 sao cho giọt máu tròn, gọn

Bước 4: Ngậm miệng vào ống cao su đã được nối vào ống trộn, đặt nghiêng

45o đầu ống mao quản dài của ống trộn sát với giọt máu (nếu để thẳng đứng, đầu ống mao quản dễ bị bịt kín lại, nghiêng quá 45o bọt khí dễ tràn vào ống) rồi hút nhẹ nhàng một cột máu liên tục (không bị bọt làm cách đoạn đến vạch 0,5 Nếu lượng máu vượt quá vạch thì dùng bông khô vuốt nhẹ ở đầu ống để rút máu ra đến vạch chính xác Làm nhẹ nhàng, nhanh và chính xác để máu không bị đông

Bước 5: Nhanh chóng cho vào dung dịch pha loãng máu và hút dung dịch

liên tục đến vạch 101 Dùng đầu ngón tay cái và giữa bịt chặt hai đầu ống trọn lắc nhẹ, tháo bỏ ống cao su và đặt ống trộn máu nằm ngang trên gạc mềm

Bước 6: Buồng đếm được lau sạch Dùng 2 giọt nước rất nhỏ dán lammelle

vào buồng đếm Lắc nhẹ ống trộn máu, thổi bỏ giọt đầu rồi chấm nhẹ đầu dài ống trộn máu vào cạnh lammelle trên buồng đếm Theo sức mao dẫn, dung dịch máu pha loãng sẽ tràn đều vào buồng đếm Nếu dung dịch thừa nhiều phải dùng bông khô thấm nhẹ cạnh bên của buồng đếm để rút bớt dung dịch ra khỏi buồng đếm

Bước 7: Đặt buồng đếm lên kính hiển vi và đếm với bội giác nhỏ (10x10

hoặc 15x10), đếm số lượng hồng cầu có trong 5 ô lớn hay 5 x 16 = 80 ô nhỏ

Chọn 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở chính giữa buồng đếm để được xác suất đồng đều

Bước 8: Tính số lượng hồng cầu

Gọi tổng số hồng cầu đếm được trong 80 ô nhỏ là A Máu được pha loãng

200 lần, thể tích mỗi ô nhỏ là 1/4.000 ml

Vậy số lượng hồng cầu trong 1 ml máu sẽ là:

n = (A x 4.000 x 200)/80 hay n = A x 1.000 Phương pháp dùng máy đếm: Chủ yếu được dùng trong các bệnh viện khi

xét nghiệm máu tổng thể Phương pháp này ứng dụng các đặc tính lý hóa của hồng cầu và các tế bào máu khác để tiến hành xử lý tổng hợp và cho ra kết quả khá chính xác về các chỉ tiêu huyết học trên Bằng phương pháp dùng máy, ngoài đếm được

số lượng hồng cầu còn có thể xác định được số lượng bạch cầu, tiểu cầu, hàm lượng hemoglobin,…Chỉ với khoảng 5 – 10 ml máu người ta có thể làm một xét

Trang 17

nghiệm tổng thể về máu rất nhanh, có thể trong 30 phút là có kết quả Các loại máy đếm thường dùng là máy đếm tế bào 8 chỉ số, máy đếm tế bào 18 chỉ số, máy đếm

laser (Viện huyết học và truyền máu trung ương, 2011)

1.2.3 Huyết áp

Huyết áp (HA) là áp suất máu trong động mạch Máu chảy được trong động mạch là kết quả của hai lực đối lập, lực đẩy máu của tim và lực cản của thành động mạch, trong đó lực đẩy máu của tim mạnh hơn nên máu chảy được trong động mạch với một tốc độ và áp suất nhất định

Huyết áp tâm thu: Còn gọi là huyết áp tối đa, thể hiện khả năng co bóp của

tim, là giới hạn cao nhất của những dao động có chu kỳ của huyết áp trong mạch Huyết áp tối đa thay đổi tùy tuổi, thường từ 90 – 140 mmHg

Huyết áp tâm trương: Còn gọi là huyết áp tối thiểu, thể hiện sức cản của

thành mạch, là giới hạn thấp nhất của những dao động có chu kỳ của huyết áp trong mạch Huyết áp tối thiểu thay đổi từ 50 – 90 mmHg

Huyết áp trung bình: Còn gọi là huyết áp hữu hiệu, là trung bình của tất cả

áp suất máu được đo trong một chu kỳ thời gian, nó thể hiện sức làm việc thực sự của tim Huyết áp trung bình gần với huyết áp tâm trương hơn huyết áp tâm thu trong chu kỳ hoạt động của tim

HA trung bình = HA tâm trương + 1/3 HA hiệu số Hiệu áp: Là khoảng chênh lệch giữa huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu, là

điều kiện cần cho tuần hoàn máu Bình thường khoảng 50 mmHg Hiệu áp tùy thuộc lực bóp của tim và sức cản của mạch máu từ tim đến mao mạch Hiệu áp còn gọi là áp lực mạch (pulse pressure) Áp lực mạch ở người ít có nguy cơ biến cố tim mạch là 50 mmHg

Ở người Việt nam trưởng thành bình thường huyết áp tối đa là 110 – 115 mmHg, huyết áp tối thiểu là 60 – 70 mmHg (Nguyễn Quang Mai, 2004; Trịnh Hữu Hằng, 1998; Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001)

Cách đo huyết áp: có 2 cách là đo trực tiếp và đo gián tiếp:

Đo trực tiếp: Năm 1932 Stophen Halen đã nối động mạch đùi của con ngựa

vào một ống thủy tinh đường kính 4 mm, cao 3 m Thấy cột máu dâng lên 2,7 m và

Trang 18

dao động theo nhịp tim Ludwig đã lắp một ống thủy tinh hình chữ U có đựng thủy ngân và nối với cái phao cùng bút ghi và ghi được HA (Trịnh Hữu Hằng, 2001)

Đo gián tiếp: Thường đo bằng máy đo HA thủy ngân theo phương pháp

Korotkov Đây là loại máy chính xác nhất, nhưng vì hơi cồng kềnh nên người ta cải tiến, tạo ra những máy đo HA gọn hơn như máy dạng đồng hồ, máy đo HA bằng điện tử, không cần nghe mà các chỉ số hiện lên trên màn hình

Phương pháp nghe mạch của Korotkov :

Dùng túi cao su quấn quanh cánh tay và ống nghe đặt trên động mạch cánh tay bên dưới túi cao su Bơm căng túi cao su để ép vào động mạch cánh tay đến khi không nghe thấy mạch đập Sau đó cho giảm áp lực túi cao su dần, khi nghe mạch đập lại, đó chính là HA tối đa, còn gọi là tiếng thứ nhất của Korotkov Tiếp tục cho giảm áp, lúc bắt đầu không nghe mạch đập nữa, gọi là tiếng cuối của Korotkov, đó chính là HA tối thiểu Như vậy, những tiếng mạch đập nghe được (những tiếng Korotkov), sinh ra do máu đi qua động mạch cánh tay bị hẹp, do sự rung động của thành động mạch đàn hồi nằm giữa hai chế độ áp suất bằng nhau ở trong bao và trong động mạch, xảy ra ở thời điểm khi HA lớn hơn HA tâm trương

và nhỏ hơn HA tâm thu (Mai Văn Hưng, 2004)

Hình 2: Đo huyết áp động mạch bằng phương pháp gián tiếp

(Nguồn: Trung tâm giáo dục Pearson, 2003)

Trang 19

1.2.4 Nhịp tim

Tim co bóp do một nhóm tế bào đặc biệt nằm ở vách sau của tâm nhĩ phải phát xung và quyết định số nhịp đập của tim Ðó là nút xoang – nhĩ (sino – atrial node), một máy điều hòa nhịp tim (pacemaker) tự nhiên Nút phát ra những xung lực điện, được những sợi cơ tim đặc biệt dẫn truyền tới kích thích các ngăn của tim

co bóp Nhịp tim trung bình của người Việt Nam là 75 nhịp/phút Ở nam khoảng 70 – 80 nhịp/phút, nữ 75 – 85 nhịp/phút Nhịp tim thay đổi theo tùy loài Nhịp tim còn thay đổi theo lứa tuổi, sức khỏe, điều kiện môi trường và tình trạng thái sinh lý: Khi ngủ nhịp tim giảm (khoảng 20 %), khi lao động nhịp tim tăng, nhiệt độ cơ thể

và môi trường tăng nhịp tim tăng Trong ngày, nhịp tim buổi sáng chậm hơn buổi chiều,… (Trịnh Hữu Hằng, 1998; Nguyễn Quang Mai, 2004)

Nhịp tim có thể được xác định bằng 2 cách đó là nghe tiếng tim và bắt mạch

Nghe tiếng tim: Tiếng tim là một loại âm thanh được phát ra khi tim hoạt

động, đặt ống nghe vào ngực đúng vị trí sẽ nghe được hai loại âm thanh phát ra trong chu kì tim Tiếng thứ nhất gọi là tiếng tâm thu Nó xuất hiện ở giai đoạn đầu của giai đoạn tâm thu Tiếng tim này có đặc điểm là mạnh, trầm, kéo dài (0,08 – 0,12 s) và nghe rõ nhất là ở vùng mõm tim Nguyên nhân tiếng tim thứ nhất là do

sự đóng của van nhĩ thất, do cơ tâm thất và do máu được đẩy vào động mạch Tiếng tim thứ hai hay còn gọi là tiếng tâm trương, nó xuất hiện ở giai đoạn đầu của tâm trương Tiếng này có đặc điểm là nhẹ, thanh, ngắn (0,05 – 0,08 s) Nguyên nhân tiếng tim thứ hai là do đóng của van bán nguyệt ở gốc động mạch chủ và động mạch phổi (Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001; Nguyễn Quang Mai, 2004)

Bắt mạch: Mạch (pulse) là do sóng áp suất chuyển tới động mạch mỗi khi

trái tim co bóp, đẩy máu ra ngoài Mạch được nhận ra dễ dàng trên các động mạch nổi gần mặt da như động mạch quay (radial artery) ở cổ tay, động mạch cảnh (carotid artery) ở cổ, động mạch ở cổ chân Mạch được tính theo số lần tim đập trong một phút và có thể đếm dễ dàng bằng cách đặt đầu ngón tay giữa và trỏ lên một động mạch nổi trên da Ngón tay sẽ cảm thấy tiếng chuyển động nhè nhẹ của sóng áp lực trên mạch máu đó Mỗi sóng tương ứng với một lần tim bóp

Trang 20

Trong y học, việc xác định nhịp tim hay nghe tiếng tim có ý nghĩa sinh lý trong việc chẩn đoán về lâm sàng Nhịp tim nhanh hay chậm, mạnh hay yếu đều cho biết khả năng hoạt động của tim và tình trạng sức khỏe của người được xác định nhịp tim (Nguyễn Quang Mai, 2004)

1.3 Các chỉ tiêu hô hấp

Nhịp thở: Nhịp thở (lần/phút) của người Việt Nam là nam: 16 ±3, nữ 17 ±3 nhịp thở thay đổi theo trạng thái hoạt động, hoạt động mạnh nhịp thở nhanh, thay đổi theo trạng thái sinh lý, xúc cảm, nhiệt độ tăng làm tăng nhịp thở (Trịnh Hữu

Hằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001)

1.3.1 Các loại thể tích khí trong hô hấp

Theo Trịnh Hữu Hằng và Đỗ Công Huỳnh (2001) thì các loại thể tích khí trong hô hấp bao gồm:

Khí lưu thông: là lượng khí vào hoặc ra khỏi phổi sau mỗi lần hít vào hoặc thở ra bình thường Người trưởng thành, trạng thái sinh lý bình thường thì lượng khí lưu thông khoảng 0,5 lít

Khí dự trữ thở ra: là lượng khí sau một lần thở ra bình thường mà chưa hít

vào mà mỗi người còn có khả năng thở ra tận lực thêm với thể tích khoảng 1,5 lít

Khí dự trữ hít vào: là lượng khí mà sau mỗi lần hít vào bình thường, chưa

thở ra mà một người còn có thể hít vào tận lực thêm với thể tích 1,5 – 2,5 lít

Khí cặn: là lượng khí còn lại trong phổi sau khi đã thở ra tận lực, khoảng 1 lít

1.3.2 Dung tích sống

Là thể tích tối đa của một lần hít vào và thở ra gắng sức Dung tích sống bằng tổng khí lưu thông, khí dự trữ thở ra, khí dự trữ hít vào Người Việt Nam dung tích sống ở nam từ 3.400 – 3.500 ml, nữ từ 2.400 – 2.600 ml (www.thuviensinhhoc.com, 2011) Việc luyện tập thường xuyên có thể làm tăng dung tích sống Dung tích sống được coi là một trong các chỉ số phát triển thể lực Ở những người có thể lực phát triển tốt thì dung tích sống có trị số lớn, đạt tới 4,5 – 5 lít Ở những người có thể lực kém, dung tích sống nhỏ, trung bình chỉ từ 2,5 – 3 lít Dung tích sống phụ thuộc vào tuổi Ở trẻ em, khi tuổi tăng thì dung tích sống tăng Ở người cao tuổi, khi tuổi tăng thì dung tích sống giảm Ngoài ra, dung tích sống còn phụ thuộc vào

Trang 21

kích thước cơ thể đặc biệt là phụ thuộc vào chiều cao Mối tương quan giữa chiều cao, tuổi và dung tích sống tuân theo những quy luật nhất định (Tạ Thúy Lan và

Trần Thị Loan, 2000)

Để xác định thể tích các loại khí trên cũng như dung tích sống người ta dùng phế dung kế Để chính xác người ta thực hiện đo nhiều lần (3 lần) và lấy trị số trung bình của các giá trị đo được (Trương Xuân Dung và ctv, 1996)

Phương pháp đo các loại khí hô hấp bằng hô hấp kế (Trịnh Hữu Hằng, 2001)

Bước 1: Đổ nước sạch vào bình của hô hấp kế, dùng bông và cồn sát trùng

đầu ngậm của ống cao su

Bước 2: Người được thở ở tư thế đứng, ngậm đầu vòi ống cao su vào miệng,

một tay giữ ống và một tay bịt mũi hoặc dùng kẹp để kẹp hai lỗ mũi

Bước 3: Thở ra bình thường 5 lần vào hô hấp kế (mỗi lần thở thì mở khóa của

ống thông, thở xong đóng khóa đến khi thở nữa thì lại mở khóa ra Lấy thể tích của

5 lần thở rồi chia cho 5 ta được thể tích khí lưu thông

Bước 4: Đo thể tích khí dự trữ thở ra: Ở tư thế như trên, sau khi thở ra bình

thường, chưa hít vào, ngậm miệng vào vòi thở, tiếp tục thở ra hết sức vào hô hấp kế thể tích khí tăng lên trong hô hấp kế là thể tích khí dự trữ thở ra

Bước 5: Đo thể tích khí dự trữ hít vào: nâng bình trong lên để không khí qua

ống cao su vào hô hấp kế Người được đo ở tư thế như trên, sau khi hít vào bình thường, chưa thở ra, tiếp tục hít vào hết sức Thể tích trong hô hấp kế giảm chính là thể tích khí dự trữ hít vào

Bước 6: Đo dung tích sống hay dung lượng phổi: Ở tư thế đứng sau khi hít

vào hết sức, ngậm miệng vào vòi cao su thở ra từ từ và liên tục một hơi cho đến khi gập mình không thể thở được nữa Thể tích ở hô hấp kế là dung tích sống

Trang 22

Bảng 5: Hằng số sinh lý người Việt Nam

Sinh lượng nam (ml) Sinh lượng nữ (ml)

3.125

3.500

3.625

- 2.900 3.150 3.400 3.650

-

- 2.725 3.025 3.325

-

- 2.400 2.550 2.700

2.150 2.350 2.550

-

2.075 2.250 2.425

-

2.000 2.175 2.350

-

1.550 1.650 1.750

-

(Nguồn: Trịnh Hữu Hằng, 1998)

2 Chỉ số thông minh

2.1 Khái niệm chỉ số thông minh IQ

Chỉ số thông minh, hay IQ (Intelligence Quotient) Chỉ số này của mỗi người nói lên năng lực trí tuệ hay trí lực của người đó

Trí lực không phải là một loại năng lực đơn nhất mà là một cấu trúc toàn vẹn bao gồm nhiều nhân tố năng lực Căn cứ vào ý kiến chung của các nhà tâm lý cũng như những cuộc điều tra trong học sinh, trí lực mà chúng ta đề cặp tới về cơ bản bao gồm những nhân tố trí lực đại loại như óc quan sát, trí nhớ, tư duy, óc tưởng tượng, trí sáng tạo và kỹ năng thực tiễn,…có điều chúng ta không được nghĩ một cách đơn giản rằng, cứ gộp mấy loại năng lực đó là có thể tạo thành trí lực cao Ở đây cần phải biết phối hợp khéo léo những năng lực kể trên, tạo thành một cấu trúc hoàn chỉnh, đạt hiệu suất cao

IQ biểu thị trình độ trí lực cao thấp của một người, chỉ số thông minh của đại đa

số người trong cộng đồng thường là 100

Cách tìm chỉ số thông minh của một người: đầu thế kỷ 19 hai nhà tâm lý học pháp là Binet và Simon đưa ra phép đo trí lực đầu tiên trên thế giới Như vậy là người ta đã tìm ra được một loại thước đo trí lực con người Thước này có tên là Test, nghiệm pháp hay trắc nghiệm Trắc nghiệm trí lực gồm một loạt tiểu nghiệm sắp đặt theo hạng tuổi Căn cứ vào kết quả hoàn thành các khoảng trong tiểu nghiệm, rồi đối

Trang 23

chiếu với một thang đo đã chuẩn hóa cho từng hạng tuổi là ta có thể tìm ra được chỉ

số thông minh của một người

Công thức: Chỉ số thông minh = tuổi khôn/tuổi đời x 100

Tuổi khôn: được tính theo kết quả hoàn thành các tiểu nghiệm

Tuổi đời là tuổi khai sinh, tuổi thật

Bảng 6: Phân loại chỉ số IQ trong dân số

Trang 24

số IQ cao và ngược lại, những cặp bố mẹ có chỉ số IQ thấp thì có xu hướng sinh ra con cái cũng có chỉ số IQ thấp Theo Devlin và ctv thì họ đã tiến hành 212 cuộc điều tra và kết quả cho thấy rằng có mối tương quan giữa chỉ số IQ của những cặp song sinh cùng trứng Người ta tiến hành nghiên cứu trên các cặp song sinh cùng trứng trong những điều kiện môi trường nhất định và những cặp anh em cùng bố

mẹ, anh em họ để xác định mức độ ảnh hưởng của gen lên chỉ số IQ Kết quả cho thấy ảnh hưởng của gen đến IQ chưa được 50 % và gen thì ảnh hưởng đến chỉ số

IQ từ lúc ấu thơ cho đến khi cơ thể lớn lên và tăng dần theo độ tuổi (Devlin et al, 1997; Posthuma et al, 2001).

2.2.2 Giới tính

Sự khác biệt giữa chỉ số IQ của nam và nữ không có ý nghĩa thống kê, đó là kết luận của các cuộc khảo sát đầu thế kỷ 20 (Jackson và Rushton, Cyril Burt và Lewis Terman, Hedges và Nowell, Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ,…) Theo Posthuma

và ctv (2001) thì giới tính không có ảnh hưởng tới IQ, nghĩa là điểm số các bài test thì như nhau, tuy nhiên tốc độ trả lời các câu hỏi thì nghiêng về nam giới

2.2.3 Môi trường

Nghiên cứu về vai trò của môi trường trong phát triển trí tuệ của trẻ em đã chứng minh rằng môi trường có ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của trẻ Đặc biệt là môi trường bên trong cơ thể mẹ (môi trường trong tử cung) ở giai đoạn phôi thai có ảnh hưởng sâu sắc đến trí thông minh và cân nặng của trẻ lúc mới sinh Bằng cách nuôi những trẻ song sinh cùng trứng trong những môi trường giáo dục khác nhau thì người ta cũng đã thấy rằng trí thông minh của một người tỉ lệ thuận

với nguồn giáo dục mà người đó nhận được (Devlin et al, 1997)

3 Dinh dưỡng

Để tồn tại và phát triển thì cơ thể phải thu nhận những chất cần thiết từ môi trường để làm vật liệu xây dựng tạo nên các cấu trúc, làm nhiên liệu, để sử dụng như các chất điều hòa và điều chỉnh các quá trình sống Các chất dinh dưỡng khi được hấp thu vào tế bào và cơ thể sẽ được chuyển hóa bằng các phản ứng tổng hợp hoặc phân giải được gọi là quá trình trao đổi chất và trên cơ sở đó cơ thể mới tồn tại, sinh trưởng và sinh sản được Phải có hiểu biết đầy đủ về dinh dưỡng và trao

Trang 25

đổi chất chúng ta mới lựa chọn chế độ ăn uống đầy đủ và phù hợp với lứa tuổi, giới tính và thể trạng cũng như hoạt động nghề nghiệp của mỗi chúng ta nhằm chống lại bệnh tật (Nguyễn Như Hiền và Chu Văn Mẫn, 2004)

3.1 Khái niệm về dinh dưỡng

Dinh dưỡng là sự cung cấp các dưỡng chất cho cơ thể thông qua các thực phẩm ăn uống Theo dinh dưỡng học, để có đầy đủ chất dinh dưỡng thì cơ thể phải được cung cấp đầy đủ các vitamin cần thiết Tuy nhiên, để đảm bảo một chế độ dinh dưỡng hợp lý ngoài cung cấp đầy đủ các loại vitamin cần thiết thì cơ thể cần được bổ sung thêm các chất: đạm (protein), béo (lipid), đường (carbohydrate), chất khoáng và nước với một liều lượng hợp lý Nếu việc cung cấp chất dinh dưỡng không đầy đủ hoặc thừa cũng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta

3.2 Vai trò của dinh dưỡng đối với sức khỏe

Con người từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ, được sinh ra, lớn lên trưởng thành cho đến khi tuổi già đều có thể bị ảnh hưởng hoặc mắc bệnh bởi chế độ dinh dưỡng không hợp lý Điều này không những ảnh hưởng đến một thế hệ con người

mà còn để lại hậu quả cho cả thế hệ mai sau:

Người phụ nữ khi mang thai thiếu dinh dưỡng, tăng cân ít thì đứa trẻ sinh ra

sẽ có nguy cơ: cân nặng sơ sinh thấp, tỉ lệ tử vong cao, trưởng thành dễ mắc các bệnh mãn tính, phát triển trí tuệ kém

Trẻ em sinh ra được nuôi dưỡng kém sẽ có nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cao, chậm tăng trưởng, thấp còi khi trưởng thành, giảm năng lực trí tuệ

Từ tuổi thiếu niên đến tuổi thanh niên và trưởng thành là giai đoạn cơ thể sinh trưởng và phát triển mạnh về thể chất và tinh thần, đáp ứng các hoạt động học tập, lao động, hoạt động xã hội, nếu thiếu hụt chất dinh dưỡng, thiếu hụt calo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể, đến khả năng học tập, lao động hay bị ốm đau bệnh tật (Nguyễn Như Hiền và Nguyễn Hồng Hạnh, 1999)

Ở người già các hoạt động chuyển hóa và dinh dưỡng có xu hướng giảm, khả năng cảm thụ, chức năng của các cơ quan trong cơ thể bị suy yếu theo quy luật của quá trình lão hóa Ví dụ ở hệ tiêu hóa có những biến đổi đáng kể như vị giác kém, ảnh hưởng đến sự ngon miệng, răng dần lão hóa, sức nhai kém, tuyến nước bọt

Trang 26

giảm tiết, dạ dày và ruột có những biểu hiện bị teo, lượng men tiêu hóa pepsin giảm, nhu động ruột và sức co bóp của dạ dày giảm,… dẫn đến tiêu hóa kém Vì vậy để đảm bảo và duy trì một sức khỏe tốt thì việc tiếp nhận và sử dụng các chất dinh dưỡng cũng đòi hỏi phải có những điều chỉnh thích hợp

Muốn có một chế độ dinh dưỡng hợp lý thì điều kiện cần là phải có một chế

độ ăn uống hợp lý và đầy đủ chất Vì ăn uống là một trong các nhu cầu quan trọng nhất của mọi cơ thể sống, kể cả con người Đây là nhu cầu hàng ngày, một nhu cầu cấp bách Cơ thể con người cần sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, để tăng trưởng

và thực hiện các chức phận bình thường của các cơ quan, các mô trong cơ thể, cũng như để tạo ra năng lượng cho lao động và các hoạt động khác Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, dinh dưỡng không hợp lý, không đảm bảo vệ sinh thì cơ thể con người kém phát triển, không khỏe mạnh và dễ mắc bệnh

Hình 3: Sơ đồ phản ứng của cơ thể đối với ăn uống, sự thay đổi của khẩu

phần ăn và các yếu tố khác có ý nghĩa bệnh lý và hệ thống (FAO/WHO/1974)

(Nguồn: Phạm Duy Tường, 2008) Trong thức ăn có chứa các thành phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể, đó

là các chất protein, lipid, gluxid, các vitamin và khoáng chất Sự thiếu một trong các chất này trong khẩu phần ăn có thể gây ra nhiều bệnh tật, giảm sức đề kháng,

dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và thậm chí chết người Các bệnh do thiếu chất dinh dưỡng gây ra thường là: thiếu protein – năng lượng, thiếu vitamin A và bệnh khô mắt, thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt, bệnh bướu cổ do thiếu iod,… được gọi là các bệnh thiếu dinh dưỡng đặc hiệu Trái lại, sự dư thừa về dinh dưỡng cũng là

Trang 27

nguyên nhân gây bệnh tật và các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, bệnh ung thư, tiểu đường… đặc biệt là bệnh béo phì nguyên nhân của nhiều chứng bệnh nguy hiểm khác (chiếm 20 – 40 % dân số trưởng thành ở nhiều nước phát triển) (Phạm Duy Tường, 2008)

Như vậy, để phát huy tối đa vai trò của chất dinh dưỡng cần phải đảm bảo đủ nhu cầu về chất và nhu cầu về đủ lượng thức ăn Dưỡng chất cần phải được cung cấp đầy đủ và phù hợp với từng lứa tuổi, giới tính, giai đoạn sinh trưởng, phát triển, tình trạng sinh lý cũng như tính chất hoạt động của cơ thể

Các chất dinh dưỡng là các chất hữu cơ được hình thành và tích lũy trong những bộ phận nhất định của cơ thể động vật và thực vật, nó cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của cơ thể người và cơ thể động vật khác (Nguyễn Minh Thủy, 2005) Các loài động vật và con người đều cần các loại thức ăn có chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng chủ yếu và cần thiết cho nhu cầu hàng ngày như protein, lipit, gluxit, nước, muối khoáng và các vitamin,… Do vậy, trong khẩu phần ăn cần phải

có nhiều loại thức ăn và phải thường xuyên thay đổi các loại thức ăn trong khẩu phần (Nguyễn Quang Mai, 2004)

3.2.1 Protein

Protein là hợp chất hữu cơ có chứa nitơ, đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe con người Đơn vị cấu thành là các axit amin, có 22 loại axit amin hay gặp trong thức ăn Trong đó có 8 loại axit amin cần thiết đối với người lớn là: valine, leucine, isoleucine, methionine, tryptophan, threonine, lysine, phenylalanine Đối với trẻ em còn cần thêm 2 loại axit amin nữa là histidin và arginin Đối với những axit amin này, cơ thể không tự tổng hợp được mà phải lấy vào từ thức ăn Protein từ thức ăn động vật có nguồn gốc thường có khá đầy đủ các axit amin cần thiết và tỉ lệ các axit amin khá cân đối Trong đó protein trứng và sữa có đầy đủ các axit amin cần thiết và tỉ lệ các axit amin cân đối nhất Do vậy, chúng được gọi là

“protein chuẩn”

Protein từ thức ăn có nguồn gốc thực vật thường thiếu một hoặc nhiều axit amin cần thiết nào đó, những axit amin thiếu hụt này được gọi là “yếu tố hạn chế” của protein (Phạm Duy Tường, 2008)

Trang 28

Protein là thành phần cơ bản của vật chất sống, nó tham gia vào thành phần của mỗi một tế bào và là yếu tố tạo hình chính Ngoài ra, protein còn có một số chức năng quan trọng khác: bảo vệ và giải độc cho cơ thể; kích thích ngon miệng trong bữa ăn; là thành phần nguyên sinh chất của tế bào; tham gia vào cân bằng năng lượng, chuyển hóa nước và cân bằng axit bazơ của cơ thể; đặc biệt protein cần thiết cho sự chuyển hóa bình thường của các chất dinh dưỡng khác Như vậy, quá trình sống là sự thoái hóa và tân tạo thường xuyên của protein (Nguyễn Minh Thủy, 2005)

Do có vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người nên việc bổ sung protein đầy đủ và hợp lý là rất cần thiết Tuy nhiên, nhu cầu protein còn thay đổi rất nhiều

tùy thuộc vào lứa tuổi, trọng lượng cơ thể, giới tính, tình trạng sinh lý và bệnh lý

Theo nhu cầu khuyến nghị cho người Việt Nam (1996), năng lượng do protein cung cấp chiếm từ 12 – 14 % tổng năng lượng khẩu phần, trong đó protein có nguồn gốc động vật nên có khoảng 30 – 50 % tổng protein Nếu thiếu protein trong khẩu phần sẽ làm cho cơ thể gầy, ngừng lớn, giảm thể lực và tinh thần, giảm nồng

độ protein trong máu, giảm khả năng miễn dịch,… Ngược lại, nếu protein cung

cấp lớn hơn nhu cầu cơ thể, protein sẽ được chuyển hóa thành lipid và dự trữ ở mô

mỡ của cơ thể, lâu dài sẽ gây bệnh thừa cân, béo phì, tim mạch, gút (Goutte), ung

thư đại tràng,… Trong thực phẩm, protein có nhiều trong thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, ốc hến, phủ tạng,… và protein có ít hơn

trong thức ăn có nguồn gốc thực vật như đậu, vừng, lạc, gạo, ngô,… (Phạm Duy

Tường, 2008)

3.2.2 Lipid

Lipid là hợp chất hữu cơ không có nitơ mà thành phần chính là triglyceride Căn cứ vào các mạch nối đôi trong phân tử mà người ta phân axit béo thành các axit béo no (không có nối đôi) có nhiều trong thực phẩm có nguồn gốc động vật và axit béo không no (có chứa ít nhất một nối đôi) có nhiều trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật, dầu và mỡ cá Các axit béo không no chứa nhiều nối đôi như axit linoleic, anpha – linolenic, arachidonic và đồng phân của chúng là các axit béo không no cần thiết vì cơ thể không thể tự tổng hợp được (Phạm Duy Tường, 2008)

Trang 29

Tương tự protein, lipid cũng giữ vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người Do lipid có chứa nguồn năng lượng cao, 1 g lipid cho 9 kcal Thức ăn giàu lipid cần thiết cho người lao động nặng, cho những đối tượng trong thời kỳ phục hồi dinh dưỡng, cho phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú và trẻ nhỏ Lipid trong mô

mỡ còn là nguồn dự trữ năng lượng sẽ được giải phóng khi nguồn cung cấp từ bên ngoài tạm thời bị ngừng hoặc giảm sút Ngoài việc cung cấp năng lượng cho cơ thể thì lipid còn có góp phần vào việc: tạo hình do lipid là cấu trúc quan trọng của tế bào và của mô trong cơ thể Mô mỡ dưới da và quanh phủ tạng là một mô đệm có vai trò bảo vệ, nâng đỡ các mô của cơ thể khỏi những tác động bất lợi của môi trường bên ngoài như nhiệt độ; điều hòa hoạt động của cơ thể: lipid trong thức ăn cần thiết cho sự tiêu hóa và hấp thu của những vitamin tan trong dầu như vitamin A,

D, E, K Cholesterol là thành phần của axit mật và muối mật, rất cần cho quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng ở ruột Lipid còn tham gia vào thành phần của một số hormone loại steroid, lipid còn cần cho hoạt động bình thường của hệ nội tiết và sinh dục Một vai trò khác của lipid là giúp con người chế biến thực phẩm: lipid rất cần thiết cho chế biến nhiều loại thức ăn, tạo cảm giác ngon miệng

và làm chậm có cảm giác đói sau bữa ăn (Phạm Duy Tường, 2008)

Theo nhu cầu khuyến nghị của người cho Việt Nam (1996), năng lượng do lipid cung cấp hằng ngày cần chiếm từ 18 – 30 % tổng nhu cầu năng lượng của cơ thể Trong đó, lipid có nguồn gốc thực vật nên chiếm khoảng 30 – 50 % tổng số lipid để đảm bảo lượng axit béo no không vượt quá 10 % năng lượng khẩu phần và lượng axit béo không no chiếm từ 4 – 10 % năng lượng khẩu phần Nếu lượng lipid chỉ chiếm dưới 10 % năng lượng khẩu phần, cơ thể có thể mắc một số bệnh lý như giảm mô mỡ dự trữ, giảm cân, chàm da Thiếu lipid còn làm cho cơ thể không hấp thụ được các vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E, K), do đó cũng có thể gián tiếp gây nên các biểu hiện của bệnh do thiếu các vitamin này Trẻ em thiếu lipid, đặc biệt là các axit béo không no cần thiết, có thể bị chậm phát triển chiều cao và cân nặng Ngược lại, chế độ ăn có quá nhiều lipid có thể dẫn tới thừa cân, béo phì, bệnh tim mạch và một số loại ung thư như ung thư đại tràng, vú, tử cung và tuyến tiền liệt Trong thực phẩm lipid có nhiều trong cả thức ăn có nguồn gốc động vật

Trang 30

(mỡ, mỡ cá, bơ, sữa, phomat, kem, lòng đỏ trứng,…) và thực vật (dầu thực vật, lạc,

vừng, đậu tương, hạt điều, hạt dẻ, cùi dừa, sôcôla,…) (Phạm Duy Tường, 2008)

3.2.3 Glucid

Glucid là hợp chất không có nitơ, có vai trò quan trọng nhất, đó là cung cấp năng lượng cho cơ thể Căn cứ vào số lượng các phân tử đường, người ta phân glucid thành đường đơn như glucose, fructose, galactose; đường đôi như saccarose, lactose và đường đa như tinh bột, glycogen, chất xơ Ngoài ra, trong cơ thể glucid còn tồn tại dưới dạng kết hợp như mucopolysaccarid, glucopolysaccarid là thành phần cấu tạo các mô nâng đỡ, mô liên kết, màng tế bào, dịch nhày,…có vai trò quan trọng đối với cơ thể

Chức năng của glucid bao gồm: cung cấp năng lượng, đây là chức năng quan trọng nhất của glucid Trong cơ thể động vật, glucid được dự trữ dưới dạng glycogen Chế độ ăn có đủ glucid sẽ giúp cơ thể giảm phân hủy và tập trung protein cho chức năng tạo hình; glucid cũng tham gia vào quá trình tạo hình đặc biệt là các glucid phức tạp tham gia cấu tạo nên tế bào và các mô của cơ thể; điều hòa hoạt động của cơ thể: glucid liên quan chặt chẽ với chuyển hóa lipid, glucid sẽ được cơ thể chuyển thành lipid Glucid giúp cơ thể chuyển hóa thể cetonic có tính chất acid, do đó giúp cơ thể giữ được cân bằng nội mô Ngoài ra glucid còn cung cấp một khối lượng lớn chất xơ cho cơ thể: chất xơ làm khối thức ăn lớn hơn, do đó tạo cảm giác no, tránh việc tiêu thụ quá nhiều chất sinh năng lượng Chất xơ trong thực phẩm làm phân mềm, khối phân lớn hơn và nhanh chóng di chuyển trong đường tiêu hóa Chất xơ còn hấp phụ những chất có hại trong ống tiêu hóa, ví dụ như cholesterol, các chất oxy hóa, chất gây ung thư, (Phạm Duy Tường, 2008) Theo khuyến nghị của người Việt Nam (1996), năng lượng do glucid cung cấp hằng ngày cần chiếm 56 – 70 % tổng nhu cầu năng lượng của cơ thể Không nên ăn quá nhiều glucid tinh chế như đường, bánh kẹo, bột tinh chế hoặc đã xay xát

kỹ Nếu khẩu phần thiếu glucid, người ta có thể bị sụt cân và mệt mỏi Khẩu phần thiếu nhiều sẽ có thể dẫn tới hạ đường huyết hoặc kiềm hóa máu do tăng thể cetonic trong máu Nếu ăn quá nhiều glucid thì lượng glucid thừa sẽ được chuyển hóa thành lipid, tích trữ trong cơ thể gây nên béo phì, thừa cân Sử dụng đường tinh

Trang 31

chế quá nhiều còn làm ảnh hưởng tới cảm giác ngon miệng, gây sâu răng, kích thích dạ dày, gây đầy hơi

Nguồn glucid trong thực phẩm: glucid có chủ yếu trong những thực phẩm có nguồn gốc thực vật như ngũ cốc, đường mật, hoa quả và rau Trong thức ăn có nguồn gốc động vật, chỉ có sữa có nhiều glucid (Phạm Duy Tường, 2008)

3.2.4 Vitamin

Vitamin là một nhóm chất hữu cơ mà cơ thể không thể tự tổng hợp được Nhu cầu vitamin hằng ngày rất thấp khoảng 0,01 – 100 mg là đủ nhưng lại rất cần thiết cho nhiều chức phận quan trọng của cơ thể Thiếu vitamin ảnh hưởng tới sự phát triển, sức khỏe của cơ thể và gây nhiều bệnh đặc hiệu (Phạm Duy Tường, 2008) Cho đến nay, người ta đã xác định được 13 loại vitamin cần thiết cho cơ thể Chúng thực hiện nhiều chức năng sinh lý quan trọng khác nhau và được chia thành

2 nhóm (Nguyễn Như Hiền và Nguyễn Hồng Hạnh, 1999)

Vitamin tan trong dầu gồm: vitamin A, D, E, K Vì quá trình tiêu hóa và hấp thụ các vitamin này cần có chất béo Sau khi được hấp thu, vitamin tan trong dầu sẽ được vận chuyển trong máu nhờ licoprotein, nếu thừa sẽ được tích trữ ở gan Do cơ thể có khả năng tích lũy nhóm vitamin này nên những biểu hiện thiếu vitamin tan trong dầu thường xuất hiện chậm hơn so với nhóm vitamin tan trong nước, tuy nhiên nếu dùng liều cao có thể lại tích lũy gây ngộ độc

Vitamin tan trong nước bao gồm: vitamin C, B1, B2, PP, B6, B12, acid folic, Những vitamin này có cùng đặc điểm chung là tan trong nước, dễ bị biến tính dưới tác dụng của ánh sáng, không khí và nhiệt độ Vitamin tan trong nước không tích lũy trong cơ thể như các vitamin tan trong dầu, nêu các biểu hiện thiếu hụt thường diễn ra sớm, tuy nhiên ít có khả năng gây ngộ độc khi dùng quá liều (Phạm Duy Tường, 2008) Nhu cầu của một số vitamin cần thiết cho cơ thể người (Bảng 22)

3.2.5 Chất khoáng

Chất khoáng là chất dinh dưỡng vô cơ có nhu cầu với hàm lượng rất ít từ 1

mg đến 2.500 mg một ngày Cũng như nhu cầu về vitamin, nhu cầu về chất khoáng thay đổi tùy loài động vật Cơ thể người và các động vật có xương sống khác có nhu cầu canxi và photpho với một lượng lớn để xây dựng và duy trì bộ xương

Trang 32

Canxi cũng cần thiết cho sự hoạt động bình thường của hệ thần kinh và cơ, còn photpho là thành phần của ATP và axit nucleic Sắt có trong thành phần của các cytocrom hoạt động hô hấp tế bào và trong hemoglobin chứa trong hồng cầu Magie, sắt, kẽm, đồng, mangan, selen, molipden là các cofactor của nhiều enzim

Ví dụ, magie có trong enzim phân giải ATP, cơ thể động vật có xương sống cần iod

để tạo hormon tuyến giáp có tác dụng điều chỉnh tốc độ trao đổi chất Natri, kali và clo rất quan trọng đối với hoạt động và duy trì cân bằng thẩm thấu giữa tế bào và dịch ngoại bào

Đa số con người tiêu thụ nhiều muối ăn hơn nhu cầu Tiêu thụ dư thừa muối hoặc chất khoáng khác có thể gây nên sự rối loạn cân bằng nội môi và dẫn đến ngộ độc Ví dụ, ăn quá nhiều natri có thể làm tăng huyết áp, tiêu thụ quá nhiều sắt sẽ gây tổn thương ở gan (Nguyễn Như Hiền và Nguyễn Hồng Hạnh, 1999)

Chất khoáng thường được phân thành 2 nhóm theo nhu cầu hằng ngày: chất khoáng đa lượng khi nhu cầu hằng ngày lớn hơn 100 mg và chất khoáng vi lượng khi nhu cầu hằng ngày không vượt quá 100 mg Những chất khoáng có liên quan tới sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam là sắt, kẽm, canxi và iod (Phạm Duy Tường, 2008) Nhu cầu về các chất khoáng của cơ thể người (Bảng 23)

khỏi máu (Fletcher et al, 1992)

Trang 33

Chương III

PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN

1 Phương tiện và hóa chất

1.1 Địa điểm và thời gian thực hiện đề tài

Đề tài được thực hiện trong phòng thí nghiệm Sinh lý động vật – Bộ môn Sư phạm Sinh học, trường Đại học Cần Thơ Đối tượng điều tra là sinh viên trường Đại học Cần Thơ

Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 11/2010 đến tháng 5/2011

1.2 Phương tiện và hóa chất

Để thực hiện đề tài ''Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh

lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên'' cần những phương tiện và hóa chất như sau:

1.2.1 Phương tiện

2 Phần mềm SPSS 16.0 for windows 1 phiên bản

Trang 34

12 Đầu type 10 micromet 1.000 cái

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp thu mẫu

2.1.1 Phương pháp thiết kế phiếu điều tra

- Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát:

Trang 35

Tham khảo tài liệu, liệt kê các chỉ tiêu sinh lý nghi ngờ có ảnh hưởng đến khả năng tư duy của con người sau đó sắp xếp theo thứ tự các chỉ tiêu sẽ điều tra Tổng hợp các tài liệu liên quan đến dinh dưỡngsau đó xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý để khảo sát chế độ ăn uống và luyện tập thể dục, thể thao của sinh viên Bảng câu hỏi khảo sát ở phần phụ lục bảng

- Thiết kế bảng câu hỏi IQ

Tham khảo tài liệu trong sách, báo và trên các Website, tham gia trả lời trắc nghiệm IQ trực tuyến, sau đó chọn lọc những câu hỏi phù hợp với mục tiêu của đề tài và lứa tuổi của đối tượng nghiên cứu là sinh viên

2.1.2 Phương pháp thu mẫu

- Ước tính kích thước mẫu và chọn mẫu:

Ta có:

Số lượng mẫu thu được n = 152 mẫu (kích thước mẫu > 30)

Biết được phương sai của các chỉ tiêu điều tra: D(X) = σ2 và X có phân phối chuẩn

Chọn độ tin cậy: 1 – α = 95 %, ta có mức ý nghĩa: α = 5 %

→ Độ chính xác hay sai số của ước lượng được tính theo công thức:

n

 2

Trang 36

Các chỉ tiêu sinh lý Kích thước mẫu

Các chỉ tiêu như cân nặng, chiều cao, dung tích sống, huyết áp, nhịp tim, nhóm máu, số câu IQ đúng được ghi nhận tại chỗ, riêng số lượng hồng cầu thì việc định lượng được thực hiện trong phòng thí nghiệm sinh lý động vật

Trang 37

2.2 Phương pháp điều tra các chỉ tiêu sinh lý cơ bản

2.2.1 Đo chiều cao

Ở mỗi địa điểm thu mẫu cố định một nơi để tiến hành đo chiều cao Nơi cố định là mép tườnghay mép cột và được chia sẵn vạch cm

Yêu cầu người được đo bỏ dép, đứng thẳng người vào nơi cố định có chia vạch cm Dùng thước thẳng đặt lên đỉnh đầu của người được đo, chiếu thẳng góc vào mép tường hay mép cột, đọc số đo trên mép tường, mép cột ta được chiều cao của người được đo

2.2.2 Đo cân nặng

Dùng cân sức khỏe có giá trị max = 120 kg để đo cân nặng

Hình 4: Cân sức khỏe

2.2.3 Đo huyết áp

Áp dụng phương pháp nghe mạch của Korotkov

Dùng túi cao su quấn quanh cánh tay và ống nghe đặt trên động mạch cánh tay bên dưới túi cao su Bơm căng túi cao su để ép vào động mạch cánh tay đến khi không nghe thấy mạch đập Sau đó cho giảm áp lực túi cao su dần, khi nghe mạch đập lại, đó chính là HA tối đa Tiếp tục cho giảm áp, lúc bắt đầu không nghe mạch đập nữa, đó chính là HA tối thiểu

Trang 38

Hình 5: Bộ dụng cụ đo huyết áp

2.2.4 Đo nhịp tim

Xác định nhịp tim bằng phương pháp nghe tiếng tim

Dùng ống nghe áp vào ngực phía bên trái người được đo và tiến hành nghe nhịp tim, một nhịp tim đập sẽ có hai tiếng: tiếng thứ nhất là tiếng tâm thu (mạnh, trầm và kéo dài 0,08 – 0,12 s), tiếng thứ hai là tiếng tâm trương (nhẹ, thanh, ngắn khoảng 0,05 – 0,08 s)

Hình 6: Ống nghe nhịp tim

Xác định nhịp tim bằng phương pháp nghe mạch (nếu trường hợp nghe tiếng tim không rõ Nghe mạch của động mạch quay (radial artery) ở cổ tay Mạch được tính theo số lần tim đập trong một phút và có thể đếm dễ dàng bằng cách đặt đầu ngón tay giữa và trỏ lên một động mạch nổi trên da Ngón tay sẽ cảm thấy tiếng chuyển động nhè nhẹ của sóng áp lực trên mạch máu đó Mỗi sóng tương ứng với một lần tim bóp

Trang 39

2.2.5 Đo dung tích sống

Xác định dung tích sống bằng phương pháp thủ công

Chuẩn bị một cái xô có thể tích là 14 lít, trên thành có chia vạch ml có giá trị

từ 0,5 – 6 lít Sau đó cho nước vào đến vạch chia đầu tiên (0 lít) và đặt nơi có bề mặt tiếp xúc bằng phẳng, độ cao ngang với tầm nhìn của người xem

Phát cho đối tượng đo một cái bong bóng, hướng dẫn cách sử dụng và thổi bong bóng (hít một hơi thật sâu bằng mũi và thở ra gắng sức một hơi bằng miệng,

cố gắng không cho hơi ra ngoài theo đường mũi, sau đó giữ chặt miệng bong bóng) Đặt bong bóng đã được thổi vào xô nước đã chuẩn bị sẵn sao cho bong bóng chìm ngập trong nước, số đo mực nước dâng lên tương đương dung tích sống của người được đo

2.2.6 Xác định nhóm máu

Bước 1: Vảy và vuốt nhẹ bàn tay (thường là tay không thuận), sát trùng ngón

tay thứ tư bằng cồn 90o

Bước 2: Tay trái giữ chặt và căng da đầu ngón tay người được trích máu sau

đó dùng kim trích máu (mới, vô trùng) chích một vết sâu 1 – 2 mm ở đầu ngón tay

đã được sát trùng (thao tác phải nhanh và đầu kim phải được chích thẳng)

Bước 3: Nặn giọt máu đầu cho vào 2 giọt kháng thể A và B đã nhỏ sẵn trên

lame, dùng kim trích máu trộn đều máu và kháng thể, có thể gõ nhẹ và quan sát kết tủa Kết luận nhóm máu như sau:

- Kết tủa ở cả 2 loại kháng thể: máu AB

- Không kết tủa ở cả 2 loại kháng thể: máu O

- Kết tủa kháng thể A, không tủa ở kháng thể B: máu A

- Kết tủa ở kháng thể B, không tủa ở kháng thể A: máu B

Trang 40

Hình 7: Dung dịch Anti A, Anti B xác định nhóm máu

2.2.7 Xác định số lượng hồng cầu

Bước 1: Vảy và vuốt nhẹ bàn tay (thường là tay không thuận), sát trùng ngón

tay thứ tư (ngón đeo nhẫn) bằng cồn 90o

Bước 2: Tay trái giữ chặt và căng da đầu ngón tay người được trích máu sau

đó dùng kim trích máu (mới, vô trùng) chích một vết sâu 1 – 2 mm ở đầu ngón tay

đã được sát trùng (thao tác phải nhanh và đầu kim phải được chích thẳng)

Bước 3: Nặn giọt máu đầu, dùng bông vô trùng lau khô và nặn giọt máu thứ 2

sao cho giọt máu tròn, gọn

Bước 4: Dùng pipette đã chỉnh sẵn thể tích 0,005 ml và gắn đầu type hút máu

cho vào eppendoft đã hút sẵn 0,995 ml dung dịch sinh lý 1 % Sau đó dùng pipette trộn đều dung dịch trong eppendoft và đậy chặt nắp, chuyển vào phòng thí nghiệm chuẩn bị đếm (trong vòng 12 giờ)

Bước 5: Dùng pipette trộn lại dung dịch cho hồng cầu phân bố đều trong

dung dịch sau đó hút khoảng 0,01 ml cho vào buồng đếm đã được sấy khô và có đậy sẵn lamele Đặt buồng đếm lên kính hiển vi và đếm hồng cầu ở vật kính 10X

Bước 6: Nếu dung dịch thừa nhiều phải dùng giấy thấm cho khô sau đó mới

đặt lên kính để đếm Đếm 5 ô lớn trong 25 ô của buồng đếm (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa)

Bước 7: Tính số lượng hồng cầu: Với 0,005 ml máu trộn trong 0,995 ml dung

dịch sinh lý như vậy máu được pha loãng 200 lần Gọi A là tổng số hồng cầu đếm

được trong 80 ô nhỏ thì số lượng hồng cầu là: n = (A x 4.000 x 200)/80

Ngày đăng: 15/12/2015, 18:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Kháng nguyên và kháng thể trong hệ thống nhóm máu ABO - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 1 Kháng nguyên và kháng thể trong hệ thống nhóm máu ABO (Trang 12)
Hình 2: Đo huyết áp động mạch bằng phương pháp gián tiếp - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 2 Đo huyết áp động mạch bằng phương pháp gián tiếp (Trang 18)
Hình 3: Sơ đồ phản ứng của cơ thể đối với ăn uống, sự thay đổi của khẩu - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 3 Sơ đồ phản ứng của cơ thể đối với ăn uống, sự thay đổi của khẩu (Trang 26)
Hình 9: Buồng đếm chưa có hồng cầu (A) và có hồng cầu (B) - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 9 Buồng đếm chưa có hồng cầu (A) và có hồng cầu (B) (Trang 46)
Hình 8: Anti A, Anti B nguyên chất (A) và Anti A, Anti B sau khi pha máu - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 8 Anti A, Anti B nguyên chất (A) và Anti A, Anti B sau khi pha máu (Trang 46)
Hình 10: Thao tác cho máu vào eppendoft (A) và trộn máu (B) - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 10 Thao tác cho máu vào eppendoft (A) và trộn máu (B) (Trang 47)
Hình 13: Biểu đồ biễu diễn kết quả học tập của sinh viên ĐHCT - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 13 Biểu đồ biễu diễn kết quả học tập của sinh viên ĐHCT (Trang 50)
Hình 12: Tỉ lệ xếp loại học lực của sinh viên ĐHCT - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 12 Tỉ lệ xếp loại học lực của sinh viên ĐHCT (Trang 50)
Hình 14: Ảnh hưởng của nhóm máu đến số câu trắc nghiệm đúng/phút - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 14 Ảnh hưởng của nhóm máu đến số câu trắc nghiệm đúng/phút (Trang 54)
Hình 15: Ảnh hưởng của nhóm máu đến kết quả học tập của sinh viên ĐHCT - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 15 Ảnh hưởng của nhóm máu đến kết quả học tập của sinh viên ĐHCT (Trang 55)
Hình 17: Ảnh hưởng của chỉ số BMI lên huyết áp của sinh viên ĐHCT - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 17 Ảnh hưởng của chỉ số BMI lên huyết áp của sinh viên ĐHCT (Trang 57)
Hình 18: Ảnh hưởng của chỉ số BMI đến dung tích sống của sinh viên ĐHCT - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 18 Ảnh hưởng của chỉ số BMI đến dung tích sống của sinh viên ĐHCT (Trang 57)
Hình 20: Ảnh hưởng giữa mức độ luy ện tập TDTT và dung tích sống - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 20 Ảnh hưởng giữa mức độ luy ện tập TDTT và dung tích sống (Trang 61)
Hình 22: Ảnh hưởng của phương pháp học đến kết quả học tập của sinh viên - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 22 Ảnh hưởng của phương pháp học đến kết quả học tập của sinh viên (Trang 63)
Hình 23: Ảnh hưởng của yếu tố tâm lý đến kết quả học tập của sinh viên - Khảo sát và đánh giá ảnh hưởng của một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản lên khả năng học tập của sinh viên
Hình 23 Ảnh hưởng của yếu tố tâm lý đến kết quả học tập của sinh viên (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w