Trên cơ sở đúc kết những quan niệm và do nhu cầu tất yếu cần đổi mới phương pháp dạy học, tôi quyết định chọn đề tài: “Thiết kế một số bài giảng về truyện ngắn Việt Nam trong sách giáo k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN MINH CHÍNH
Cần Thơ, tháng 5 - 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN …
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Minh Chính, là cán bộ hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Và chân thành cảm
ơn các thầy cô trong Bộ môn Ngữ Văn đã truyền dạy kiến thức, kinh nghiệm cũng như
rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho tôi
Trải qua những tháng ngày học tập ở trường, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn được sự chỉ dạy nhiệt tình của nhiều thầy cô Mỗi thầy cô có những phương pháp, chuyên môn riêng nhưng tất cả đều tâm huyết cho việc truyền dạy kiến thức với sinh viên nói chung, bản thân tôi nói riêng Kết thúc bốn năm học, tôi đã học được những kinh nghiệm quý báu và đó sẽ là hành trang trên con đường sự nghiệp sau này Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, được sự hướng dẫn của thầy trên cơ bản đã hoàn thành
Một lần nữa, xin được gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô
Người viết
Trang 3QUY ƯỚC VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU TRONG LUẬN VĂN
1 Quy ước viết tắt
2 Quy ước ký hiệu
Giáo viên hỏi, yêu cầu
Giáo viên giảng
Trang 4A ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc sống luôn vận động không ngừng Mỗi giờ có biết bao sự đổi thay Và vì thế, cái mới sẽ liên tục thay thế cái cũ, cái cũ không đổi mới ngay lập tức trở thành cái lỗi thời, cái lạc hậu Điều này đúng với quy luật của cuộc sống, và với nhân loại hôm nay Không nằm ngoài xu hướng đó, Việt Nam đã và đang không ngừng đổi mới Đặc biệt trong đó sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, thông tin ảnh hưởng rất nhiều
đến các lĩnh vực khác Là một lĩnh vực được quan tâm hàng đầu, giáo dục và đào tạo cũng
cùng chung yêu cầu cần đổi mới Trong đó, việc giảng dạy môn Ngữ Văn trong nhà trường hiện nay có thể được xem là cần thiết áp dụng phương pháp mới
Công bằng mà nói, không phải môn Ngữ Văn dễ hơn các môn khác, mà chính phương pháp giảng dạy đã không còn phù hợp Dẫn đến tình trạng học sinh chán, thờ ơ với môn này, học qua quýt như để trả nợ cho thầy Hàng năm, trong các kì thi tốt nghiệp,
đại học, ta lại bắt gặp những bài viết với cách hiểu sai lệch đến dở khóc dở cười Trước
tình trạng trên, đòi hỏi ngành giáo dục phải đặt ra hướng thay đổi, chuyển mình nếu như muốn tồn tại và phát triển Nó cũng cấp bách không kém gì các lĩnh vực khác Vậy đổi mới giáo dục là đổi mới cái gì? Để giải bài toán khó này, thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa
ra nhận định: “phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải sáng tạo, phải xây dựng một phương pháp
giảng dạy thích hợp, đem lại hiệu quả tốt” Thủ tướng qua nhận định trên đã nhấn mạnh
vai trò của phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả và đúng hướng Khi đạt được giờ dạy như vậy, học sinh sẽ yêu thích môn Ngữ Văn hơn Từ đó, hình thành nhân cách, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em Hướng các em tới cái Chân, Thiện, Mĩ trong cuộc sống
Việc dạy Văn, học Văn giữ vị trí quan trọng như vậy Trên cơ sở đúc kết những quan niệm và do nhu cầu tất yếu cần đổi mới phương pháp dạy học, tôi quyết định chọn
đề tài: “Thiết kế một số bài giảng về truyện ngắn Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ văn 12 - tập hai (Bộ cơ bản)” Thực hiện đề tài này, trước tiên tôi có thể vận dụng những
Trang 5kiến thức, kỹ năng đã học về phương pháp giảng dạy tích cực để thiết kế giáo án Bài giảng có những kiến thức đảm bảo, phương pháp hay sẽ giúp học sinh hiểu bài sâu hơn Góp phần giúp các em thay đổi dần quan niệm về môn Ngữ Văn Từ đó, phát huy tinh thần tự giác học tập cho môn học này Sau cùng là tôi có thể thực hiện tốt công việc giảng dạy trong tương lai
2 Lịch sử vấn đề
Từ lâu, môn Ngữ Văn đã trở thành môn học quan trọng trong nhà trường Bởi nó góp phần hình thành, giáo dục nhân cách con người Và trước tình hình phát triển của thế giới, nhất là cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật mang lại những thành tựu đáng kể, việc
đổi mới phương pháp giảng dạy môn Văn ngày càng được chú ý hơn Vấn đề đặt ra cho
các nhà giáo dục đổi mới phương pháp dạy là đổi mới những gì? Và đổi mới như thế nào Theo dòng lịch sử, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
Trước hết, người viết sẽ sơ lược những công trình nghiên cứu qua các giai đoạn Sau đó, đi vào nghiên cứu sâu hơn các ý kiến của các nhà giáo dục để thấy rõ tầm quan trọng trong việc đổi mới dạy và học môn Văn Bên cạnh đó, tìm hiểu thêm một số tài liệu cần thiết cho việc thiết kế bài giảng hiệu quả Việc chọn lọc và kết hợp những tài liệu cần thiết sẽ giúp cho sự nhìn nhận lịch sử vấn đề rõ ràng hơn
Phương pháp dạy học với tư cách là một khoa học ở Việt Nam vốn còn rất trẻ nhưng đã chứng tỏ được tầm quan trọng của nó Mốc lịch sử Cách mạng tháng Tám đã
mở ra cho nhà trường và khoa học giáo dục những tiền đề cho sự phát triển ngành này Những kinh nghiệm giảng dạy bắt đầu được đúc kết từ những thầy cô tận tụy với nghề Bắt đầu là công trình nghiên cứu của giáo sư Đặng Thai Mai năm 1850 với quyển:
“Giảng văn Chinh Phụ Ngâm” Có thể xem đây là cánh cửa đầu tiên đưa ta bước vào con
đường tìm phương pháp giảng dạy văn chương Liên tục sau đó, nhiều công trình ra đời
Đó là quyển: “Mấy vấn đề giảng văn trong trường phổ thông” của Tạ Phong Châu, “Mấy vấn đề giảng dạy văn học sử cấp III” do Phan Trọng Luận chủ biên Cuối năm 1960,
nhiều công trình nghiên cứu nâng rõ về chất lượng như: “Con đường nâng cao hiệu quả
dạy Văn” và “Rèn luyện tư duy học sinh qua giảng dạy văn học” của Phan Trọng Luận
Trang 6Hay “Dạy Văn – dạy cái hay, cái đẹp” của Nguyễn Duy Bình Trong những năm gần đây,
với việc thay sách giáo khoa ở trường phổ thông, đã dấy lên phong trào đổi mới phương pháp mạnh mẽ và hướng đi đầy lạc quan Nhìn chung, các tác giả đều có những công trình
đóng góp tích cực, hiệu quả Sau đây, người viết sẽ đi vào tìm hiểu sâu những đánh giá
của các nhà giáo dục về vấn đề này
Thứ nhất là những bài lý luận nghiên cứu về phương pháp dạy học Văn
Bàn về cách dạy truyền thống, sau đó chỉ ra những mặt còn hạn chế, dẫn đến tình trạng môn Văn kém thu hút Đưa ra giải pháp cho vấn đề trên, nhóm tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt đã khái quát khá đầy đủ về
thực trạng dạy Văn của ta “Theo cách nói của Blônki, tức là sự áp đặt hoàn toàn máy
móc ngôn ngữ sách vở gượng gạo của người lớn vào cho các em Tình trạng trên kéo dài rất lâu ở nhà trường chúng ta Các giờ trên lớp học đã tạo ra một kiểu học như thủ tướng Phạm Văn Đồng nói là “lối múa chữ điệu sáo” Lối học, lối viết này phản ánh nếp suy nghĩ sách vở, công thức trong học sinh” [16;Tr.142] Điều này dẫn đến các em bị gò ép
trong những khuôn khổ nhất định Không sáng tạo được cái mới, gây trở ngại cho việc thể hiện tư tưởng, tình cảm, rèn luyện ngôn ngữ của học sinh Thấy được sự bất cập như vậy,
nhóm tác giả đề ra giải pháp Nguyên tắc hàng đầu cho sự đổi mới là “làm sao tạo điều
kiện cho học sinh được thực sự sáng tạo, được thực sự bộc lộ mình” [16;Tr.149] Điều
này nhấn mạnh vai trò của học sinh làm trung tâm, chúng ta sẽ bàn sau Ở đây, đổi mới về cách dạy, cách học và cả tài liệu học tập là cần thiết Các tác giả còn đề cập đến thực
trạng dạy Văn chỉ thiên về nội dung “những nguyên tắc hơn là chỉ dẫn về phương pháp,
biện pháp cụ thể” [16;Tr 146] Do đó, tài liệu giảng dạy cũng cần được đổi mới, không
nặng nề về lượng kiến thức mà nên xen vào trong đó nhiều hoạt động khác, hấp dẫn và hay hơn Công trình nghiên cứu này góp phần không nhỏ và tạo tiền đề cho những công trình sau chất lượng hơn
Vậy, làm thế nào thay đổi phù hợp với sự phát triển của xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh – người quan tâm rất nhiếu đến sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước nhà, đã đưa ra những ý kiến chỉ đạo giá trị cho công tác giảng dạy nói chung, môn Văn nói riêng Tác
giả Đỗ Đức Hinh trong bài viết: “Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng một
nền giáo dục Việt Nam hiện đại” có nói đến việc đổi mới phương pháp gắn bó với những
Trang 7tư tưởng giáo dục của Bác Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa thì việc thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch để xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại là không thể thiếu Và vì thế, tác giả đưa ra hướng cải cách trên mọi mặt và định hướng để có hiệu quả Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, ở
“hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” [22;Tr 412]
Theo V.A – T.T.Q trong bài viết “Sơ kết thí điểm chương trình và sách giáo khoa
THPT phân ban” có nói rằng năm 2006 – 2007 triển khai đại trà chương trình phân ban
thực sự đã có những điểm tích cực: đổi mới phương pháp dạy học, phát huy năng lực học sinh Nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế Do đó, cần nâng cao hơn nữa chất lượng của phương pháp mới Tác giả còn đưa ra những kiến nghị Bộ Giáo dục cần triển khai chương trình phân ban xuống bậc THCS để học sinh, giáo viên và phụ huynh có định hướng theo cách học mới sớm Nhìn chung, tác giả đã đề ra được sự cần thiết và cách đổi mới
Phan Trọng Luận là tác giả có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về phương
pháp giảng dạy Văn Với quyển: “Thiết kế bài học văn chương trong nhà trường phổ
thông” – NXB Giáo dục năm 2000, đem lại những tư tưởng khoa học về giảng dạy Văn
mới được bước đầu ứng dụng và thể nghiệm cụ thể vào các giờ học tác phẩm Trong công
trình này, tác giả viết: “Phương pháp sáng tạo đã bước đầu hình thành trong nhiều giờ
giảng của giáo viên” Tiến trình giờ dạy được sắp xếp cho phù hợp với đặc điểm từng bài
giảng, từng đối tượng khác nhau, nhằm mục đích tạo điều kiện tối đa để phát huy năng lực nhận thức và phẩm chất trí tuệ cho học sinh Một đổi mới trong quan niệm và cách cấu tạo giờ dạy đưa đến quan niệm là cách cấu tạo mới về giáo án Giáo án bao giờ cũng
thể hiện cụ thể quan điểm dạy học, cơ chế lên lớp và cấu tạo giờ dạy “Một giáo án theo
quan niệm phát huy chủ thể học sinh là một giáo án trong đó có sự kết hợp hài hòa hữu
cơ giữa hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp, là một giáo án trong đó vận dụng nhiều phương pháp và biện pháp rèn luyện tư duy học sinh” [11;Tr 14] Trong quyển
này, tác giả cũng đưa ra phương hướng thiết kế một giờ dạy học tác phẩm văn chương:
“Bản thiết kế giờ học không phải là một đề cương nội dung cần truyền thụ qua lời diễn giảng của giáo viên” [11;Tr 62] Kết cấu giờ dạy học là kết cấu của những tình huống
học tập và hệ thống thao tác tương ứng chứ không phải là việc sắp xếp những việc làm
Trang 8của giáo viên trên lớp để truyền thụ một phía cho học sinh Tác giả còn nhận định về tình hình dạy học môn Ngữ Văn hiện nay Việc đổi mới phương pháp cần được hoàn thiện trên cả hai phương diện lý thuyết và thực hành Lý thuyết cần được hoàn thiện trên cơ sở hiểu biết khoa học vững chắc về các dữ kiện tâm lý học hoạt động, tâm lý cảm thụ văn chương, tư tưởng dạy học hiện đại, lý luận tiếp cận văn chương Thực hành ứng dụng đòi hỏi mẫu hình thiết kế giờ dạy mới và giờ dạy mẫu để giáo viên tham khảo
Quan tâm đến chất lượng giáo dục nước ta vốn là nhiệm vụ hàng đầu chung của mọi người Bộ Giáo dục đào tạo cũng không nằm ngoài sự quan tâm đó Hướng đến việc
đầu tư cho giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo
đã ra phương hướng chỉ đạo từ năm 2006 trong “Chương trình giáo dục THPT” là phải
phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng môn học Đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh Làm được điều đó, thực sự giáo dục nước ta đã khẳng định được tầm quan trọng cũng như thành công trong quá trình đổi mới
Thứ hai, các tạp chí, kỷ yếu cũng đề cập nhiều về vấn đề này trong những năm qua
Tạp chí Giáo dục và thời đại là cơ quan ngôn luận về lĩnh vực giáo dục của Việt Nam Tạp chí luôn bắt kịp những đổi thay của giáo dục để có những bài viết, những bài nghiên cứu chi tiết Trong tờ Chủ nhật số 1 (ngày 3 tháng 1 năm 2010), có bàn về nguyên
nhân sự chậm phát triển là “Lực cản từ thói quen học tập thụ động của học sinh” Ở đây, tác giả Trần Quang Đại đề cập đến tình trạng dạy học “đọc – chép” vốn rất phổ biến ở
trường phổ thông Hậu quả của tình trạng này là hình thành thói quen xấu của học sinh
“Học sinh quen với việc ghi chép theo những gì giáo viên ghi trên bảng, kỹ năng trình bày, diễn đạt của học sinh còn yếu” [27;Tr.13] Môn Văn đòi hỏi sự sáng tạo, sự khám
phá ở mỗi cá nhân Với khuôn mẫu như vậy, tác giả đáng giá sẽ chết dần những cái mới,
cái sáng tạo “Mặt khác, đa số học sinh không có tài liệu tham khảo, và chưa biết phương
pháp tự học qua tham khảo tài liệu ngoài sách giáo khoa và sách bài tập” [27;Tr.13]
Vấn đề cấp thiết là giúp học sinh chủ động hơn trong học tập Vậy giáo viên và học sinh
Trang 9cần làm gì? Cả hai phía đều phải thay đổi, bài viết khẳng định Về phía giáo viên, một trong những phần quan trọng là rèn luyện cho các em năng lực diễn đạt, trình bày khả năng tư duy sáng tạo Học sinh học tập tích cực, chủ động Làm được điều đó, đòi hỏi ở phần bài giảng phải thật sự đổi mới, không thụ động truyền giảng mà cần có chiều ngược lại
Ở tạp chí “Dạy và học ngày nay”, tác giả Nguyễn Quang Tuấn có bài viết: “Đổi mới và nâng cao phương pháp dạy học tích cực bằng đối thoại, đàm thoại” đã khảo sát
thực trạng dạy và học của giáo viên, học sinh ngày nay Qua đó, tìm ra hướng đi mới cho ngành Giáo dục Đó là giáo viên phải từng bước chuyển từ phương pháp dạy truyền thụ kiến thức một chiều sang phương pháp dạy học mới Giảm tải chương trình một cách hệ thống và đồng bộ Đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học Đây có thể xem là hướng đi đúng đắn cho việc đổi mới có được những hiệu quả tốt
Bài viết: “Vài suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học Văn ở trường Đại học sư
phạm hiện nay”, tác giả Trần Đình Thích khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học một cách sâu rộng là lối thoát duy nhất cho tình trạng dạy học Văn hiện nay ở các trường đại học và phổ thông nói chung Hướng đi ấy là lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm” [26, Tr 35] Tác giả bàn đến vấn đề đổi mới và cải tiến phương pháp là nhu cầu
thường xuyên của quá trình dạy học Và cho người đọc thấy được hiệu quả của phương pháp dạy học mới mà ở đó học sinh làm trung tâm Cách học mới này đem lại những hiệu quả khả quan cho thầy và trò, để từ đó khuyến khích họ tích cực áp dụng dạy theo phương pháp mới và việc dạy học sẽ ngày một đạt hiệu quả cao hơn
Trong quyển “Kỷ yếu hội thảo khoa học về đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học ở các trường Đại học Sư phạm”, tiến sĩ Nguyễn Văn Lộc và tiến sĩ Phạm Hồng
Quang nhấn mạnh: “Đến thời đại kinh tế tri thức, khi này xã hội đang đòi hỏi chất lượng
của giáo dục phải đáp ứng yêu cầu của xã hội, thậm chí phải đi trước sự phát triển của kinh tế - xã hội Trước đòi hỏi này, cách dạy cũ sẽ không còn phù hợp nữa” [25;Tr.28]
Các tác giả đã nhận định được thực trạng cần thay đổi Đưa ra hướng thay đổi hiện nay
“căn bản là về nguyên tắc chứ không chỉ dừng lại ở việc cải tiến theo kiểu tăng giá hoặc thêm bớt tùy tiện” [25;Tr 28] Tức sự thay đổi phải quyết liệt, thực chất, không phải hình
Trang 10thức bên ngoài Có như thế, giáo dục mới thực sự được “lột xác”, mang lại diện mạo
mới, trong đó có môn Ngữ Văn của chúng ta
Thứ ba, người viết tìm hiểu ở các giáo trình, các sách tham khảo về vấn đề soạn giáo án
Với giáo trình “Lý luận dạy hoc Ngữ Văn”, nhóm tác giả: thạc sĩ Nguyễn Minh
Chính, tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Nam, thạc sĩ Trần Đình Thích và thạc sĩ Hà Hồng Vân
cùng giáo trình “Lý luận dạy học” của giáo sư Lê Phước Lộc đã đưa ra cơ sở lý thuyết
cho việc dạy học Ngữ Văn Những phương pháp dạy học mới, tích cực và xu hướng dạy
học hiện đại có thể đạt được kết quả “khuyến khích sự hưởng ứng tích cực trong giờ học”
[9;Tr 85] Những kiến thức trên giúp ích nhiều cho việc tổ chức giờ dạy hiệu quả, đặc biệt là thiết kế giáo án thuận lợi hơn
Trong chuyên đề: “Tổ chức học hợp tác trong giảng dạy Ngữ Văn”, tiến sĩ Nguyễn
Thị Hồng Nam cho thấy hiệu quả tích cực của hình thức học tập mới: học hợp tác Tiến sĩ còn đưa ra những phương pháp để vận dụng thiết kế bài tập mới, sáng tạo làm bài giáo án sinh động hơn rất nhiều Mô hình này đã được áp dụng ở nhiều nước tiên tiến trên thế
giới Áp dụng vào nước ta, tin rằng sẽ đạt hiệu quả cao “Học hợp tác tạo điều kiện cho
học sinh phát triển năng lực tư duy bằng những cách mà không giáo viên nào, dù tốt nhất
có thể làm được với những phương pháp truyền thống” [17;Tr 4] Đây thật sự là một
bước chuyển mình cho việc đổi mới phương pháp dạy và học vốn đã tồn tại những bất cập
Giáo trình “Văn học Việt Nam hiện đại 3, 4” (Bộ môn Ngữ Văn, khoa Sư phạm,
Đại học Cần Thơ), các tác giả Nguyễn Lâm Điền, Trần Văn Minh đã đi sâu nghiên cứu về
truyện ngắn Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Qua đó, người viết có thể hiểu thêm về thể loại này và vận dụng tốt hơn cho việc thiết kế giáo án
Quyển “Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12” do Nguyễn Văn Đường chủ biên (NXB
Hà Nội – 2009) đã thiết kế những bài học theo phương pháp mới tương đối đầy đủ Ngoài
ra, tác giả còn đưa ra hệ thống câu hỏi, bài tập phát huy tính sáng tạo của học sinh Tham khảo tài liệu này giúp ích cho việc soạn giáo án hoàn chỉnh hơn Tuy nhiện, ở một mức độ nào đó, phụ thuộc nhiều tài liệu này sẽ hạn chế khả năng sáng tạo của giáo viên Cần có
Trang 11sự chọn lọc những cái hay, cần thiết cộng với cho những điều phát hiện của bản thân sẽ
đạt những hiệu quả cao hơn
Nhìn chung, các tác giả với những bài viết đã giúp người đọc thấy được tầm quan trọng của việc đổi mới cũng như cách đổi mới phương pháp dạy học nói chung, môn Ngữ Văn nói riêng Tuy nhiên, các tác giả vẫn chỉ dừng lại ở mức độ khái quát về lý luận chứ
chưa đi sâu vào nghiên cứu từng bài cụ thể Vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Thiết kế một số
bài giảng về truyện ngắn Việt Nam trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 12 – tập 2 (Bộ cơ bản)” để có thể vận dụng những kiến thức đã học vào thiết kế bài cụ thể Mỗi giáo viên
không lặp lại bài giảng và có ý thức sáng tạo sẽ có những bài giáo án hay Điều này còn cần năng lực của mỗi cá nhân trong quá trình tìm hiểu, ghi nhận và năng lực sáng tạo riêng
3 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, trước hết bản thân tôi sẽ rèn luyện được kỹ năng nghiên cứu
và trình bày vấn đề mang tính khoa học Qua đó, tôi có thể có được những phương pháp thiết kế giáo án Ngữ Văn 12 nói riêng, giáo án nói chung Để từ đó, có sự chuẩn bị tốt cho công tác giảng dạy ở nhà trường sau này Và mong muốn góp một phần công sức của mình cho công trình nghiên cứu chung về những đổi mới chương trình của ngành giáo dục
Về yêu cầu nghiên cứu, cần nắm vững nội dung, cấu trúc chương trình SGK 12 (Bộ cơ bản) Vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực vào việc thiết kế một
số bài giảng truyện ngắn SGK 12
4 Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi nhất định của đề tài, người viết tập trung nghiên cứu chủ yếu ở SGK Ngữ Văn 12 Ngoài ra, còn tìm hiểu thêm một số tài liệu liên quan vấn đề nghiên cứu Theo yêu cầu của đề tài, người viết sẽ thiết kế một số bài giảng về truyện ngắn trong SGK
và thiết kế tuần tự theo phân phối chương trình Đó là những bài:
Trang 12- Vợ nhặt (2 tiết)
5 Phương pháp nghiên cứu
Bước đầu thực hiện đề tài, tôi sử dụng những phương pháp: lập kế hoạch, sưu tầm tài liệu, thống kê tài liệu, nghiên cứu tài liệu liên quan
Sau đó, vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu Bên cạnh
đó, tôi sử dụng một số phương pháp khác như: chứng minh, so sánh, đối chiếu và giải
thích
Ngoài ra, kết hợp các phương pháp dạy học hiện đại, tích cực để đưa vào thiết kế bài giảng
Trang 13B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC THIẾT KẾ BÀI GIẢNG
VỀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 12 (TẬP HAI - BỘ CƠ BẢN)
1 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả J.J Roussean từng nói: “Mục đích của tôi không phải là truyền thụ khoa
học cho trẻ mà dạy trẻ giành lấy khoa học” Qua câu nói này, ta thấy tác giả đã khái quát
xu hướng dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm (student – centered) Đây là một phương pháp mới So với cách dạy học truyền thống, nó có nhiều ưu điểm hơn
Như ta đã biết, phương pháp dạy học tích hợp thường xuyên các mối quan hệ giáo dục như trò – lớp – thầy trong quá trình dạy học Và xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm đáp ứng đầy đủ yêu cầu này Trong xu hướng này, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức hướng dẫn, theo dõi, khích lệ học sinh trong việc tìm tòi kiến thức Học sinh là người chủ động hoàn toàn trong việc giải quyết vấn đề mà giáo viên đặt ra Hoặc học sinh cũng có thể tự đưa ra vấn đề và giải quyết vấn đề mình đặt ra thông qua việc quan sát, suy nghĩ, tra cứu tài liệu, làm thí nghiệm và phán đoán Đối với xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm thì lớp học không còn là một nhóm học riêng biệt, cá nhân thụ động tiếp thu kiến thức mà một tập thể có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau Về công việc đánh giá, không còn là công việc duy nhất của giáo viên mà đổi mới hơn, đảm bảo sự khách quan Đó là tự giáo viên và học sinh đánh giá, học sinh đánh giá lẫn nhau và cuối cùng giáo viên nhận xét Kỷ yếu hội thảo khoa học đổi mới nội dung và phương
pháp dạy học ở các trường Đại học Sư phạm – 2004 đề cập: “Khi ta nói đến dạy học lấy
học sinh làm trung tâm tức là đề cao vai trò của người học trong quá trình học tập Đồng thời cũng đề cao vai trò định hướng, chủ đạo, dẫn dắt của hoạt động dạy với vai trò, trách nhiệm ngày càng cao của người thầy” [25;Tr 29]
Trang 14Ta hoàn toàn tin tưởng rằng xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm sẽ đem lại giờ học tích cực, hiệu quả Tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo Diện mạo giáo dục ngày càng khởi sắc Theo xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm, đã có rất nhiều phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp dạy học theo năm định hướng của Mazano, phương pháp dạy học theo hình thức thảo luận nhóm Đây
là những phương pháp dạy học tích cực, sinh động, đề cao năng lực tự tìm tòi kiến thức của học sinh
* Năm định hướng dạy học của Robert J.Mazano
Nhà giáo dục người Mỹ Robert J.Mazano đã đóng góp công trình nghiên cứu quan trọng trong quá trình phát triển xu hướng học hiện đại Trong đó, ông đưa ra năm định hướng dạy học giúp giáo viên có thể thực hiện tốt giờ giảng, nắm vững và vận dụng linh hoạt các phương pháp tích cực Đây là nguồn tài liệu quan trọng giáo viên có thể tham khảo Năm định hướng đó là:
Định hướng 1: thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học
Có nhiều nhân tố tác động đến thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học, giúp học sinh đạt hiệu quả cao trong học tập Đó là:
- Tạo bầu không khí thích hợp: không khí, môi trường tác động rất lớn cho tâm lý con người Không khí lớp học thoải mái tạo điều kiện tốt cho học sinh phát huy năng lực của mình Để làm được điều đó, giáo viên cần yêu thương, nhiệt tình và đối xử công bằng với học sinh Học sinh có ý thức học tập tốt, có tinh thần hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Quan trọng nữa, lớp học phải trật tự và thoải mái Dưới sự quản lý của giáo viên, học sinh nghiêm túc nhưng vẫn có sự tự do nhất định, có quyền trao đổi, thắc mắc để hiểu
rõ hơn vấn đề Ngoài ra, thái độ giáo viên vui vẻ, hóm hỉnh dễ tạo tâm lý tích cực cho giờ học
- Nuôi dưỡng thái độ và sự nhận thức tích cực về nhiệm vụ học tập:
Trang 15+ Thứ nhất, giáo viên cần giao nhiệm vụ học tập gắn liền với hứng thú của học sinh và gợi tính tò mò cho các em Qua đó, thấy được giá trị của nhiệm vụ học tập Học sinh ngày càng tích cực hơn khi thấy nhiệm vụ có liên quan đến mục tiêu cá nhân của mình
+ Thứ hai, nhiệm vụ học tập cần rõ ràng Học sinh có thể thấy được cố gắng của mình là hiệu quả, thúc đẩy hơn nữa sự quyết tâm ở các em
+ Thứ ba, giáo viên giúp học sinh phát huy nguồn lực từ bên trong bản thân mình Có sự tin tưởng vào khả năng bản thân và cố gắng vươn lên để đạt kết quả học tập cao
Định hướng 2: thu nhận và tổng hợp kiến thức
Theo Marzano, kiến thức có hai loại: kiến thức thông báo và kiến thức quy trình
Sử dụng định hướng này giúp học sinh được cung cấp kiến thức và biết cách thu nhận tổng hợp kiến thức có hiệu quả Về hai loại kiến thức ta thấy:
- Kiến thức thông báo: là loại kiến thức nhớ, hiểu Đó là những khái niệm, sự kiện, quy luật…
- Kiến thức quy trình: là loại kiến thức vận dụng như cách giải bài tập, làm thí nghiệm…
Quá trình thu nhận, tổng hợp kiến thức thông báo và kiến thức quy trình là nền tảng của quá trình học tập Giáo viên cần có cách dạy kiến thức thông báo và kiến thức quy trình thích hợp để đạt hiệu quả tốt nhất
* Dạy kiến thức thông báo:
- Tìm hiểu vấn đề chính là gì?
- Vấn đề chính gồm những phần cụ thể nào?
- Phương pháp giúp học sinh nắm bắt vấn đề
* Dạy kiến thức quy trình:
- Những kỹ năng và các bước thực hiện quy trình học sinh cần nắm vững
- Giáo viên cần làm mẫu cho học sinh và sau đó yêu cầu học sinh làm theo
Trang 16Định hướng 3: mở rộng và tinh lọc kiến thức
Ở cách học cũ, học sinh đa phần ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Cần phải đổi mới kiểu tư duy này Do đó, Marzano muốn học sinh tăng khả năng mở rộng và tự
chắt lọc những kiến thức và kỹ năng cần thiết Nói cách khác, người học phải có năng lực
tư duy sáng tạo để có thể tự học và học suốt đời Không ngừng đổi mới để thích nghi tốt hơn với cuộc sống thay đổi hàng ngày
Có hai cách giúp học sinh:
- Sử dụng các loại câu hỏi: câu hỏi so sánh, câu hỏi quy nạp, câu hỏi diễn dịch, câu hỏi phân tích lỗi, câu hỏi khái quát hóa và câu hỏi phân tích quan điểm
- Hướng dẫn học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức bằng các hành động: so sánh, phân tích, phân loại, quy nạp, suy luận, phân tích lỗi, xây dựng sự ủng hộ, khái quát hóa và phân tích quan điểm
Tùy theo từng nội dung bài học mà giáo viên lựa chọn những phương pháp cho phù hợp
Định hướng 4: sử dụng kiến thức có hiệu quả
Sử dụng kiến thức có hiệu quả là bước củng cố cho việc mở rộng và tinh lọc kiến thức Nó thể hiện ở các hoạt động:
- Ra quyết định, sau đó là nhận biết tầm quan trọng của các hiệu quả có thể xảy
ra và tính mối quan hệ giữa chúng với những quyết định có thể thực hiện
- Hoạt động điều tra có ba loại:
+ Điều tra xác định
+ Điều tra lịch sử
+ Điều tra dự đoán
- Kiểm chứng bằng thực nghiệm: sử dụng những câu hỏi kiểm tra lại những
điều mình đã thực hiện (dẫn câu hỏi)
Trang 17- Giải quyết vấn đề: giải quyết những khó khăn vướng mắc Giúp học sinh hiểu rộng hơn, giải quyết vấn đề là những cố gắng để đạt được mục đích (dẫn thêm vào những câu hỏi)
- Phát minh: hoạt động phát minh là một nhiệm vụ học tập mới và đầy tính sáng tạo Nó có thể sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Định hướng 5: rèn luyện thói quen tư duy
Thói quen tư duy là mục đích cao nhất mà quá trình dạy học muốn đạt được Với thói quen này, học sinh có thể tự học bất cứ cái gì học muốn ở bất cứ khi nào, bất cứ nơi
đâu Thói quen tư duy bao gồm:
- Tư duy tự điều chỉnh
- Tư duy phê phán
- Tư duy sáng tạo
Để rèn luyện thói quen tư duy cho học sinh, giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm
những ví dụ trong thực tế, những cái tồn tại quanh cuộc sống hàng ngày để các em dễ hiểu hơn Hoặc hướng dẫn những tình huống có sử dụng thói quen tư duy Học sinh cần được khuyến khích những công việc thỏa mãn mục đích cá nhân Như thế, giúp ích rất nhiều để các em phát triển khả năng tư duy Giáo viên cần hướng dẫn, ủng hộ, nhận xét và khen ngợi khi cần thiết Ngoài ra, đối thoại, tranh luận là những hoạt động thiết thực làm tăng thêm năng lực sáng tạo và phê phán của học sinh
Tóm lại, năm định hướng dạy học của Marzano có tầm quan trọng và một vị trí nhất định trong giảng dạy Giúp người giáo viên thực hiện tốt việc tổ chức lớp học Trong
đó, định hướng 1 và 5 là hai định hướng chủ đạo nhất Tuy nhiên, tùy theo nội dung cụ
thể của từng bài học mà giáo viên có sự lựa chọn định hướng cho phù hợp
2 Các phương pháp dạy học Ngữ Văn
Trong giảng dạy môn Ngữ Văn, có nhiều phương pháp khác nhau và mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, hạn chế nhất định Việc lựa chọn những phương pháp phù
Trang 18hợp đòi hỏi ở người giảng sự cân nhắc kỹ càng Một giáo án khoa học vốn bị chi phối bởi nhiều vấn đề như: nội dung, vị trí bài học, lượng thời gian, trình độ học sinh và mục đích
cần đạt được của bài học Chọn được phương pháp phù hợp cũng như tạo được “linh hồn
của một nội dung đang vận động” Dưới đây là những phương pháp giảng dạy tích cực,
giáo viên có thể sử dụng trong giờ giảng của mình
2.1 Phương pháp đọc tác phẩm
Đọc là phương pháp quan trọng trong giờ giảng Văn Bởi, muốn học về tác phẩm,
trước hết chúng ta phải tiếp nhận văn bản của tác phẩm đó Việc đọc bao gồm đọc thành
tiếng và không thành tiếng Thực trạng hiện nay là học sinh “đọc chay” để tránh tốn thời
gian, điều này làm giảm hiệu quả thẩm mĩ của tác phẩm Ta biết, ngôn ngữ văn học là loại ngôn ngữ đặc biệt có năm thuộc tính: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính biểu cảm và tính tạo hình Do đó, vận dụng phương pháp dạy học này, giáo viên có thể rèn luyện cho học sinh có cách nhìn đúng về việc đọc Từ đó, đọc và hiểu sâu sắc hơn về
các tác phẩm văn chương Các tác giả kết luận: “Đọc là một hình thức giảng dạy trực
quan tác động đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người nghe, làm sống dậy những ngôn từ chết, làm cho người nghe nhìn thấy cái đã nghe được” [2;Tr 59] Thực hiện phương pháp
đọc hiệu quả ta đã tạo được bầu không khí thuận lợi cho việc tiếp nhận tác phẩm, lôi
cuốn, kích thích học sinh khám phá tác phẩm Học sinh càng nắm vững, sâu hơn nội
dung, tư tưởng bài học Ngoài ra, còn có thể phát huy được cách “đọc sáng tạo”, nhận
thức được cái hay cái đẹp không chỉ trong tác phẩm mà còn bên ngoài cuộc sống
Một trong những cách rèn luyện tốt nhất là đọc diễn cảm - tức là đọc đúng và hay
Đọc đúng là đọc trung thành với nội dung văn bản Quan trọng nữa là đọc hay Người đọc
sử dụng mọi sắc thái tình cảm của giọng: vui - buồn, mỉa mai – ca ngợi … nhấn trọng âm, ngắt giọng, độ cao thấp để miêu tả lại nội dung tác phẩm cũng như thái độ của nhà văn
đối với nhân vật Với truyện ngắn, giáo viên có thể phân công học sinh đọc theo vai Qua
đó lột tả được tính cách từng nhân vật Đọc diễn cảm áp dụng ở đầu giờ, trong qua trình
học hay kết thúc bài giảng trong quá trình đọc, giáo viên hướng dẫn học sinh nhấn mạnh những phần trọng tâm Làm tiền đề để phân tích tác phẩm Và do thời gian trên lớp có
Trang 19hạn, để kích thích việc đọc tích cực cho học sinh, giáo viên có thể yêu cầu học sinh đọc ở nhà và làm bài tập Có sự chuẩn bị kỹ trước giúp các em tiếp thu bài tập nhanh hơn
Như vậy, mỗi cách đọc đều rèn luyện một kiểu rèn luyện của học sinh nhằm hướng tới mục đích nhất định Muốn phát huy hiệu quả của phương pháp đọc trong dạy – học Ngữ Văn, người người giáo viên cần chú ý bồi dưỡng cho học sinh về cả hai mặt động cơ
và ý thức học tập
2.2 Phương pháp diễn giảng
Đây là phương pháp có từ rất lâu, đến nay nó vẫn được sử dụng và được xem như
phương pháp chủ yếu Khái niệm diễn giảng: “là phương pháp trình bày, thông báo có hệ
thống một vấn đề mới cho học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức, sau đó tái hiện lại kiến thức đó” [2;Tr 62] Phương pháp này có những ưu điểm và nhược điểm nhất định
- Ưu điểm:
+ Học sinh nắm kiến thức có hệ thống, tiết kiệm thời gian
+ Không đòi hỏi những phương tiện dạy học hiện đại, đặc biệt, khó khăn
Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp diễn giảng, ta có thể sử dụng
cách diễn giảng tích cực Phương pháp này ưu thế hơn là “giáo viên không “độc diễn”
mà kết hợp sử dụng các phương pháp sao cho học sinh nắm kiến thức một cách chủ động: đàm thoại, xen kẽ kể chuyện, cho học sinh làm bài tập thực hành, hướng dẫn học sinh nghiên cứu SGK” [2;Tr 63]
Phương pháp này gồm ba bước:
Trang 20- Bước một: giới thiệu bài mới
Đây là bước mở đầu, dẫn nhập vấn đề và ảnh hưởng nhiều đến tiết học Do đó, giới
thiệu bài mới cần trình bày ngắn gọn, kết hợp hình ảnh sinh động Như thế, tạo tâm lý thoải mái tiếp thu bài mới cho học sinh Có nhiều cách giới thiệu bài mới, giáo viên có thể lựa chọn: giới thiệu trực tiếp nội dung bài học; mở đầu bằng cách gợi lại những kiến thức
về tác giả, tác phẩm; so sánh những tác giả, tác phẩm đã học với tác giả, tác phẩm sẽ học;
đặt câu hỏi về tựa đề tác phẩm …
- Bước hai: hướng dẫn học sinh khám phá kiến thức
Con đường tư duy của học sinh được hình thành bằng những cách sau:
+ Con đường diễn dịch: mô hình: khái niệm – thí dụ - khái niệm
+ Con đường quy nạp: mô hình: thí dụ - khái niệm – thí dụ
Con đường quy nạp có hiệu quả hơn con đường diễn dịch vì diễn dịch mang tính áp đặt, quy nạp thì giáo viên và học sinh có thể cùng khám phá
Trong quy nạp và diễn dịch có ba cách thức:
- Quy nạp (hoặc diễn dịch) từng phần
- Quy nạp (hoặc diễn dịch) phát triển
- Quy nạp (hoặc diễn dịch) song song, đối chiếu
- Bước ba: kết luận
Có nhiều cách để kết luận bài học Giáo viên có thể chọn một trong những cách sau:
- Giáo viên tóm tắt, nhấn mạnh trọng tâm bài học
- Cho học sinh ứng dụng lý thuyết, làm bài tập nhỏ trên lớp
- Yêu cần học sinh trả lời những câu hỏi về những nội dung quan trọng
Tóm lại, khi dùng phương pháp diễn giảng cần lưu ý:
- Về nội dung: bài giảng chia thành những luận điểm, luận cứ rõ ràng Sau khi trình bày, giáo viên cần tóm tắt, nhấn mạnh ý chính Giáo viên phải có những câu hỏi, tình huống, bài tập để huy động sự tham gia tích cực của học sinh
- Ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu Ngữ điệu bài giảng phong phú, thể hiện cảm xúc Phát âm chuẩn, viết đúng chính tả và ngữ pháp
- Giáo viên cần thường xuyên thay đổi hình thức diễn giảng Trong quá trình dạy học, biết kết hợp diễn giảng với hình thức dạy học khác để đạt hiệu quả cao hơn
Trang 212.3 Phương pháp đàm thoại
Về khái niệm “Đàm thoại là phương pháp giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi
cho học sinh trả lời hoặc trao đổi, tranh luận với nhau dưới sự chỉ đạo của thầy, qua đó tiếp nhận kiến thức” [2;Tr 69]
Đàm thoại tích cực thể hiện qua:
- Giáo viên hỏi, học sinh trả lời
- Học sinh hỏi, giáo viên trả lời
- Học sinh hỏi, học sinh trả lời
Nội dung cốt lõi của phương pháp này là hệ thống câu hỏi Câu hỏi phải đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Câu hỏi phải có tính gợi mở, tránh đánh đố học sinh
- Về hình thức: Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, phù hợp với trình độ từng đối tượng học sinh
Phương pháp đàm thoại cũng có những ưu – khuyết điểm riêng
Trang 22+ Giáo viên mất thời gian cho việc soạn giáo án
+ Mức độ sử dụng phương pháp đàm thoại phụ thuộc vào những yếu tố:
* Dung lượng bài học
* Trình độ của học sinh
+ Khi nêu câu hỏi trong đàm thoại cần chú ý:
* Nhắc lại câu hỏi Nếu học sinh lúng túng, giáo viên hỏi lại nội dung câu hỏi đó bằng câu hỏi khác
* Nêu câu hỏi trước khi học sinh trả lời
* Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ
* Động viên, khuyến khích học sinh bằng những lời khen hoặc cho điểm thưởng Không chê bai, dè bỉu học sinh khi trả lời sai
Sử dụng phương pháp đàm thoại trong giờ giảng Văn:
+ Đặc trưng của môn Văn nói chung và giảng Văn nói riêng là có tính hình tượng Cộng với ngôn ngữ mang tính hàm ẩn nên việc cảm thụ tác phẩm không phải dễ dàng Vì thế, câu hỏi của giáo viên phải định hướng sự chú ý của học sinh vào những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ tiêu biểu Từ đó giúp học sinh nắm được nội dung tác phẩm rõ ràng hơn Có các câu hỏi về nội dung, đồng thời có câu hỏi về hình thức nghệ thuật của tác phẩm Có ba loại câu hỏi sau:
+ Câu hỏi tái hiện: đây là câu hỏi ở mức độ thấp trong quá trình tư duy.Yêu cầu học sinh xác định những chi tiết, hình ảnh, sự kiện tiêu biểu trong tác phẩm Tìm hiểu nghĩa đen của từ, những thủ pháp nghệ thuật Loại câu hỏi này được dùng làm cơ sở cho các câu hỏi suy luận, phân tích ở các bước tiếp theo Dùng cho thí sinh có học lực trung bình, yếu
+ Câu hỏi yêu cầu, giải thích, suy luận: đây là câu hỏi ở mức độ cao Yêu cầu học sinh phân tích, giải thích, suy luận, tìm ra ý nghĩa của sự kiện Những hình ảnh, từ ngữ trong tác phẩm Phân tích cấu trúc tác phẩm, khám phá vai trò của các thủ pháp nghệ thuật Hoạt động liên tưởng tưởng tượng, so sánh, suy luận của người đọc phải bắt đầu từ những sự kiện, hình ảnh thực trong tác phẩm
Trang 23+ Câu hỏi khái quát: đây là câu hỏi rèn luyện khả năng tổng hợp, khái quát vấn
đề của học sinh Yêu cầu học sinh khái quát một phần nội dung bài học, rút ra chủ đề tác
phẩm, nhận biết quan điểm, thái độ của tác giả với những vấn đề đặt ra trong tác phẩm
2.4 Phương pháp trực quan
Đây là nguyên tắc dạy học cơ bản Song, trong nhà trường chúng ta hiện nay,
nguyên tắc này chưa được coi trọng Trong dạy – học Ngữ Văn, giáo viên có thể sử dụng những hình thức trực quan sau:
Trang 242.5 Dạy học nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là “hình thức dạy học trong đó giáo viên tổ chức những tình
huống có vấn đề, giúp người học nhận thức nó, và tìm kiếm lời giải dưới sự hướng dẫn của giáo viên” [2;Tr 82]
Dạy học nêu vấn đề có ba đặc trưng:
- Đặc trưng thứ nhất: vấn đề là tình huống có vấn đề
+ Vấn đề là “một sự việc, một hiện tượng, một khái niệm, một hiện trạng
tồn tại khách quan mà ta gặp phải trong tư duy và hành động” [Tr 82]
+ Tình huống có vấn đề là “một trạng thái tâm lý nảy sinh ở chủ thể trong
khi gặp một khó khăn, một vấn đề cần giải quyết và để giải quyết vấn đề đó chủ thể cần đến tri thức mới, cách thức hành động mới” [2;Tr 82]
- Đặc trưng thứ hai: quá trình dạy học nêu vấn đề có năm giai đoạn
+ Tìm hiểu vấn đề
+ Xác định những vấn đề cần giải quyết
+ Đưa ra những giả thiết khác nhau để giải quyết vấn đề
+ Xem xét những hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của những kinh nghiệm, kiến thức đã có
+ Hình thức thực hiện một đề tài nghiên cứu nhỏ
Kiểu dạy học này sẽ phát huy được tính sáng tạo tích cực cho học sinh Song, đây
là một hình thức mới mẻ Do đó giáo viên phải hướng dẫn cụ thể và chú ý đến trình độ của học sinh để nêu vấn đề cho phù hợp
Phương pháp dạy học nêu vấn đề thường được sử dụng trong giờ dạy Văn học Ở
đó, giáo viên sẽ có định hướng vào bài hấp dẫn học sinh, tiết học sinh động hơn nhiều
Trang 252.6 Tổ chức học hợp tác trong giảng dạy Ngữ văn
Khái niệm học hợp tác “là hình thức tổ chức dạy học, trong đó các nhóm học sinh
cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên nêu ra Từ đó rút ra bài học dưới
sự hướng dẫn của giáo viên” [17;Tr 2]
Cách chia nhóm trong học hợp tác có hai cách: ngẫu nhiên và cố định
- Chia ngẫu nhiên là “tùy thuộc vào số thành viên trong mỗi nhóm, giáo viên
cho học sinh đếm số, những em cùng số sẽ thuộc về một nhóm” [Tr 9]
- Chia chỉ định thì không mất nhiều thời gian như chia nhóm ngẫu nhiên, nhưng học sinh ít có cơ hội làm việc với các thành viên trong lớp
Khi chia nhóm, cần lưu ý:
- Các thành viên trong nhóm gồm học sinh đủ mọi trình độ: giỏi, khá, trung bình và yếu Cả học sinh nam và học sinh nữ
- Việc sử dụng nhóm tùy thuộc vào thời lượng tiết học, nội dung bài học, số học sinh …
- Hạn chế sử dụng nhóm quá nhiều học sinh (trên 7 học sinh)
- Mỗi thành viên trong nhóm phải được phân công rõ ràng, phải hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ chung của mỗi nhóm
- Không nên lạm dụng thảo luận nhóm quá nhiều cho một tiết học Chỉ cho học sinh thảo luận những phần trọng tâm, phức tạp
Loại hình nhóm: có hai loại hình nhóm cơ bản là cố định và không cố định
- Nhóm cố định là “loại hình nhóm hoạt động cùng nhau trong suốt một thời
gian từ một tuần tới vài tuần lễ thậm chí là một học kì Có nhiệm vụ thực hiện một bài tập lớn, phức tạp, mang tính nghiên cứu” [17Tr 10]
- Nhóm không cố định là “loại hình nhóm gồm những học sinh cùng nhau làm
việc từ vài phút đến một tiết học và có thể được thành lập nhiều lần trong một giờ học”
[17;Tr 11] Có nhiều loại hình nhóm: nhóm 2 học sinh; nhóm 4, 5 học sinh; nhóm ghép; nhóm kim tự tháp và nhóm trà trộn
Những yêu cầu của bài tập thảo luận:
- Về nội dung:
Trang 26+ Cần tránh những câu hỏi mà học sinh không cần tư duy hoặc câu trả lời có sẵn trong SGK
+ Các nội dung khám phá phải được xây dựng quanh trọng tâm của bài học
Từ đó, học sinh có thể rút ra được nội dung cần học
+ Bài tập phải thú vị, hấp dẫn học sinh
- Về hình thức:
+ Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
+ Hình thức đa dạng, cách giao bài tập phải linh hoạt
Các bước thiết kế bài tập thảo luận: để thiết kế bài tập thảo luận, giáo viên thực hiện theo hai bước sau
- Phân tích kỹ nội dung bài học, xác định kiến thức trọng tâm cần thảo luận
- Xây dựng bài tập thảo luận dựa trên cơ sở đó
Các dạng bài tập thảo luận: có nhiều dạng bài tập thảo luận được sử dụng tùy theo loại giờ học, thời điểm sử dụng, mục tiêu thảo luận
- Các bài tập định hướng bài học được sử dụng cho việc học bài mới Gồm có: hỏi đáp, thuyết trình, sưu tầm …
- Các bài tập giúp học sinh khám phá kiến thức mới: so sánh, phân tích, phân loại…
- Các bài tập củng cố, ôn tập kiến thức được sử dụng vào cuối giờ học hoặc ôn lại kiến thức trong giờ ôn tập Giáo viên có thể sử dụng một số dạng sau: tóm tắt bài học, viết bài, phiếu học tập …
Quy trình tổ chức thảo luận: hoạt động thảo luận nhóm gồm các bước sau
- Giáo viên chia nhóm
- Giao vấn đề cho nhóm thảo luận, quy định thời gian thảo luận
- Quản lý các nhóm, giáo viên có thể gợi ý, điều chỉnh hoạt động của học sinh
- Báo cáo kết quả và đánh giá
Học hợp tác có những ưu điểm và hạn chế nhất định
- Ưu điểm:
+ Phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh
+ Làm tăng cường sự hứng thú học tập của người đọc
Trang 27+ Rèn luyện các năng lực tư duy sáng tạo, năng lực diễn đạt Sự tự tin, khả năng biết lắng nghe ý kiến của người khác và khả năng hợp tác với người khác
Trang 28
Chương 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG
VỀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA
NGỮ VĂN 12 ( TẬP HAI - BỘ CƠ BẢN)
1 Tìm hiểu chung về truyện ngắn Việt Nam và khuynh hướng lựa chọn bài thiết kế
1.1 Tìm hiểu chung về truyện ngắn Việt Nam
Theo Từ điển Tiếng Việt, truyện ngắn là “truyện bằng văn xuôi có dung lượng
nhỏ, miêu tả những khía cạnh nhất định trong cuộc đời nhân vật” [Tr 737] Cách giải
thích tên gói gọn truyện theo cấu trúc kịch (có hành động thống nhất), số lượng nhân vật không nhiều, tâm lý nhân vật chỉ được phân tích chừng nào điều đó tác động đến trọng tâm câu chuyện
Một khái niệm khác cho truyện ngắn Việt Nam: “truyện ngắn là một thể loại văn
học Nó thường là các câu chuyện kể bằng văn xuôi có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu chuyện dài như tiểu thuyết” Có nhiều định nghĩa khác nhau về
thể loại này Tuy chưa khái quát đầy đủ nhưng có thể giúp người đọc hiểu được phần nào
về truyện ngắn Từ đó, ta đi vào tiếp cận tác phẩm dễ dàng hơn Về nguồn gốc, truyện ngắn Việt Nam bắt nguồn từ nền văn học Nga với sự khởi đầu của văn hào Shêkhốp Đầu thế kỷ 20, truyện ngắn dần chứng tỏ được vị thế của nó Tiền đề sáng tác có những tác giả như: Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ Biểu Chánh Tiếp bước thành công là các nhà văn lớn: Kim Lân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Thạch Lam Cách mạng tháng Tám thành công, dân tộc ta bước vào giai đoạn chống Mỹ, xuất hiện những cây bút của truyện ngắn mới, nổi bật là Nguyễn Trung Thành và Trần Đăng Kết thúc chiến tranh, truyện ngắn vẫn tiếp tục khám phá cuộc sống, tiêu biểu là tác giả Nguyễn Minh Châu
Qua những tìm hiểu chung về truyện ngắn Việt Nam, người viết có được khuynh hướng lựa chọn bài thiết kế tốt hơn
Trang 291.2 Khuynh hướng lựa chọn bài thiết kế
Bên cạnh các truyện ngắn quen thuộc của văn học 1945, Sách giáo khoa Ngữ Văn
12 (tập 2 - Bộ cơ bản) còn giới thiệu những truyện ngắn của giai đoạn kháng chiến chống
Mỹ và cuộc sống sau năm 1975 Nên khi lựa chọn bài thiết kế, tôi đặc biệt thiết kế tương
đối đầy đủ ở tất cả các giai đoạn Với hy vọng, những bài thiết kế này sẽ giúp người đọc
hình dung được phần nào sự phát triển của truyện ngắn theo tiến trình lịch sử Đây là thể loại không mới nhưng được đưa vào chương trình phổ thông ở cuối cấp đã chứng tỏ được tầm quan trọng của nó Giúp người đọc hiểu thêm về lịch sử dân tộc, về con người, cuộc sống và văn hóa nước nhà Với các em học sinh, tôi mong sẽ góp phần giáo dục cho các
em về tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc Có thái độ trân trọng những giá trị của cuộc sống, con người Việt Nam Và sẽ biết đồng cảm hơn nữa với những số phận bất hạnh trong cuộc sống Để từ đó các em sẽ càng thêm yêu truyện ngắn Việt Nam
2 Vấn đề soạn giáo án
Thế nào là soạn giáo án? Trong cách dạy học truyền thống và hiện đại, soạn giáo
án có gì khác nhau? Người viết thông qua việc tham khảo đã đúc kết về vấn đề này trên
cơ sở lý thuyết
Soạn giáo án là thiết kế một (hay một số) tiết lên lớp với tất cả những ghi chép cần thiết sao cho người dạy có thể căn cứ vào sự chuẩn bị ấy mà thực hiện thành công mục
đích yêu cầu của bài dạy Việc cấu tạo giờ lên lớp, lựa chọn phương pháp và cách soạn
giáo án đều nhằm vào mục đích hàng đầu là sự phát huy vai trò chủ thể học sinh Với cách học truyền thống, cấu trúc bài giáo án chỉ đơn giản gồm: mục đích, yêu cầu, công việc chuẩn bị về phương tiện dạy học và tiến trình dạy học Tất cả đều được cố định theo khuôn mẫu nhất định Và cứ thế, giáo viên tuân thủ theo cấu tạo một cách đơn điệu, cứng nhắc và máy móc suốt năm này sang năm khác Áp dụng với tất cả các kiểu bài và mọi
đối tượng Những năm gần đây, ngành giáo dục không ngừng đổi mới Đã đưa ra quan
niệm và cách cấu tạo mới về giờ dạy sinh động theo chiều hướng phá vỡ những khuôn
Trang 30mẫu cứng nhắc Giáo án được tổ chức lại theo một cấu trúc phù hợp đặc điểm từng bài, từng đối tượng khác nhau Tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực nhận thức và phẩm chất trí tuệ ở người học Tức là giáo án đó phải thể hiện cụ thể quan điểm dạy học, cơ chế lên
lớp và cấu tạo giờ dạy Một giáo án theo quan điểm phát huy chủ thể học sinh là “giáo án
trong đó có sự kết hợp hài hòa, hữu cơ giữa lao động của giáo viên và học sinh ở trên lớp Là một giáo án trong đó vận dụng nhiều phương pháp, biện pháp rèn luyện tư duy học sinh song song với quá trình hình thành kiến thức mới Là một giáo án trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ba yêu cầu: hiểu biết, giáo dục với rèn luyện” [18; Tr.240]
Quan trọng hơn để xây dựng một giáo án thành công giáo viên cần xác định quan điểm
đúng đắn về dạy Văn và vai trò của chủ thể học sinh Giáo án phải đảm bảo việc dạy học
sinh kiến tạo nội dung ý nghĩa văn bản Thông qua việc “tổ chức cho học sinh soạn bài,
phát biểu, thảo luận, đối thoại trên lớp Trao đổi nhóm sau đó giáo viên tổng kết, nâng cao, đưa ra kết luận cuối cùng trong tiết học” [24; Tr.182]
Sự thay đổi trên đến nay đã thu được những kết quả tích cực Soạn giáo án cũng nằm trong hướng đổi mới đó Một giờ lên lớp được chia làm bốn giai đoạn mang ý nghĩa
rõ rệt về mặt lý luận dạy học
2.1 Giai đoạn mở đầu tiết học (chiếm thời gian khoảng 6 phút)
Vào đầu tiết học, giáo viên kiểm tra bài cũ Mục đích công việc này là đánh giá thái độ học tập ở nhà của học sinh Mức độ nắm và hiểu bài đến đâu Sau đó, giáo viên giới thiệu bài mới
2.2 Giai đoạn nghiên cứu tài liệu (chiếm khoảng 30 – 35 phút)
Đây là giai đoạn chính của giờ học lên lớp Giai đoạn này vận dụng nhiều phương
pháp để triển khai tài liệu mới, cung cấp kiến thức và phát triển tư duy cho người học Những hoạt động của học sinh được thể hiện rõ nét khi giáo viên biết tổ chức giờ lên lớp một cách phù hợp
Trang 312.3 Giai đoạn củng cố kiến thức (chiếm khoảng 3 phút)
Sau khi tìm hiểu tài liệu mới, giáo viên chi học sinh bài tập ví dụ và yêu cầu thực hiện để làm sáng tỏ nội dung bài học
2.4 Giai đoạn giao nhiệm vụ về nhà (chiếm khoảng 1 phút)
Giai đoạn này chiếm thời gian rất ít nhưng không thể thiếu Nếu là bài học có nhiều bài tập hoặc bài học dạy kiến thức quy trình thì giáo viên cần hướng dẫn cách học, cách làm bài tập khó, cách luyện tập quy trình
Như vậy, tùy thuộc vào nội dung và cách tổ chức giờ học, giáo viên có thể phân bố thời gian từng giai đoạn sao cho phù hợp với kế hoạch chuẩn bị giáo án ở nhà nhưng chỉ trong 45 phút (ngoại trừ giờ học chiếm thời lượng 2 tiết) Trong 45 phút đó, giáo viên có thể sử dụng các định hướng dạy học mọi lúc, mọi nơi, mọi giai đoạn nếu họ có ý thức khai thác chúng với mục đích cuối cùng là phát triển tư duy, tích cực hóa sự học tập của học sinh trong suốt giờ học
Trang 323 Thiết kế một số bài dạy về truyện ngắn Việt Nam trong sách giáo khoa Ngữ Văn 12 (Tập 2 – Bộ cơ bản):
Tiết: 61
VỢ NHẶT (Tiết 1)
I Kết quả cần đạt:
1 Về kiến thức:
HS có thể:
- Trước hết, tác phẩm phơi bày tội ác không thể tha thứ của bọn thực dân Pháp và
phát xít Nhật Với chính sách “nhổ lúa trồng đay”, chúng đã gây ra nạn đói khủng khiếp
năm 1945, đẩy nhân dân ta vào tình cảnh thê thảm
- Qua đó, thấy được con người Việt Nam dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhưng
họ vẫn luôn đầy nghị lực Họ sống thương yêu, đùm bọc lẫn nhau và trên hết là niềm tin bất diệt vào cuộc sống
- Thấy được những sáng tạo độc đáo của nhà văn về phương diện nghệ thuật trong việc tạo dựng tình huống truyện, sáng tạo hình tượng nhân vật, gợi không khí, miêu tả tâm lý và dựng đối thoại
- Bồi dưỡng tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc cho các em
- Các em biết đồng cảm với số phận những người nông dân nghèo trước Cách mạng tháng Tám, trân trọng những phẩm chất đáng quý ở họ
- Có cách nhìn đúng đắn về hiện thực đen tối của đất nước trong thời kỳ này, ý thức được những tội ác mà bọn giặc gây ra
Trang 33II Phương pháp:
Đọc sáng tạo, nêu vấn đề, đàm thoại, trực quan và diễn giảng
III Phương tiện:
- Giáo viên: sách giáo khoa, sách giáo viên, tranh ảnh, sơ đồ, đồ dùng dạy học
- Học sinh: sách giáo khoa, tập, tập soạn
IV Các bước tiến hành:
1 Ổn định lớp: (1’)
2 Kiểm tra bài cũ: (5’)
Em hãy làm sáng tỏ sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân?
3 Dạy bài mới:(35’)
Vào bài mới: (1’)
Em biết gì về nạn đói năm Ất Dậu 1945, và có suy nghĩ gì về cuộc sống người dân lúc này?
Giáo viên cho học sinh xem tranh minh về nạn đói
Đến hôm nay, mỗi khi nhắc lại chúng ta vẫn còn phải rùng mình khiếp sợ Nạn đói
năm 1945 làm hơn hai triệu đồng bào ta (1/10 dân số) chết đói Cái đói bao trùm khắp nơi, từ Bắc Bộ tới Trung Bộ, không chừa một gia đình nào Thực tế khốc liệt đó làm nhiều nhà văn trăn trở và phản ánh vào tác phẩm của mình, trong đó có nhà văn Kim Lân
Các em đã biết đến ông qua truyện ngắn “Làng” học ở lớp 8 Ông viết về nạn đói nhưng
nhấn mạnh hơn về tình người, sự khao khát tới hạnh phúc của những người nông dân Chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu rõ hơn tác phẩm này
Thời
gian Nội dung lưu bảng Hoạt động của Giáo viên
Hoạt động của Học
sinh 10’ I Tiểu dẫn:
Trang 347’
Kim Lân
(1920 – 2007) tên thật
là Nguyễn Văn Tài,
quê ở Bắc Ninh Ông
xuất thân trong một gia
đình khó khăn nên làm
rất nhiều nghề để sống
Sau khi tham gia Hội
Văn hóa cứu quốc, liên
xoay quanh cuộc sống
nông thôn, khung cảnh,
Em hãy nêu những nét chính về cuộc đời nhà văn Kim Lân ?
GV nhận xét, bổ sung
Cho HS xem ảnh nhà văn
Kim Lân, bìa truyện “Vợ
Đây cũng là đặc trưng của
cây bút hiện thực Kim Lân
2 Hoạt động 2: tìm hiểu
khái quát về tác phẩm
ĐHTL: Nhà văn Kim
Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở Bắc Ninh Ông phục vụ văn nghệ kháng chiến và cách mạng bằng nhiều nghề: viết văn, làm báo, diễn kịch…
Ông được tặng giải thưởng nhà nước về văn học – nghệ thuật (2001)
Trang 35Truyện được in trong
dài “Xóm ngụ cư”, sau đó
đưa vào tập “Con chó xấu xí” (1962)
Yêu cầu HS đọc diễn cảm một số đoạn tiêu biểu (HS
đọc chậm, đôi chỗ cần thể
hiện sự hóm hỉnh và đồng cảm thiết tha), 3 – 4 HS phân vai đọc
GV nhận xét
GV tóm tắt tác phẩm ngắn gọn theo sơ đồ (Phụ lục 1)
Sau khi hiểu được nội dung, em hãy giải thích ý nghĩa nhan đề truyện
Trang 36giá trị, đồ bỏ đi Trong
truyện, anh Tràng lại
gia đình của con người
Tình thương yêu, giúp
đỡ lẫn nhau và niềm tin
mãnh liệt vào cuộc
: dựng vợ gả chồng là việc quan trọng của đời người, nhưng anh Tràng
lại “nhặt” được vợ Cho ta
thấy được nỗi cùng khổ của người dân bấy giờ, càng cảm thông, trân trọng
nhặt” gợi ra nhiều điều
Vợ là người phải được cưới hỏi đàng hoàng, nhưng ở đây lại được
“nhặt” về “Nhặt” vốn
dùng để chỉ những thứ không trang trọng nhưng
ở đây lại chỉ con người
Cho thấy được thân phận con người, nhất là phụ
nữ bị rẻ khinh
2 HS ngồi cạnh nhau thảo luận, sau đó
?
Trang 37Bật nổi giá trị hiện
thực, giá trị nhân đạo,
tư tưởng chủ đề của tác
ngày đói được khắc
họa qua các chi tiết,
GV nhận xét
: Cái đói tràn lan khắp nơi, không chừa một ai, một nhà nào Tình huống
độc đáo, bất ngờ nhưng
cũng rất hợp lý Nó làm tiền đề nảy sinh những tình huống nhỏ, phụ khác
Hình thành tính cách nhân vật và thể hiện tư tưởng chủ đề truyện
Qua đó, bật nổi giá trị
hiện thực, giá trị nhân đạo, chủ đề và tư tưởng tác phẩm
4 Hoạt động 4: thảo luận
nhóm
Chia lớp thành 4 nhóm
Thời gian thảo luận là 5’
đại diện trình bày
ĐHTL:
- Tình huống truyện đặc sắc, hấp dẫn là tình
xe, nhà nghèo lại là dân ngụ cư, bản thân còn chưa nuôi nổi mình mà lại đèo bồng thêm người khác Hơn nữa, lấy vợ là chuyện trọng đại của một
đời người, cần sự trang
trọng mà anh chỉ “nhặt”,
như nhặt một cọng rơm, cái rác
HS đại diện trình bày,
?
?
Trang 38+ Cảnh vật: tối om,
không khí đầy mùi xác
chết, tiếng quạ kêu gào
Ý nghĩa: phơi bày
hiện thực khốc liệt của
nạn đói Qua đó, tố cáo
tội ác không thể tha thứ
của bọn giặc Đồng
thời, bộc lộ niềm cảm
thương sâu sắc với
người nông dân lúc bấy
giờ
Điền vào phiếu học tập,
tìm thông tin về nạn đói năm 1945 (Phụ lục 2)
Bức tranh nạn đói Ất Dậu 1945 được khắc họa với những chi tiết nào? Ý nghĩa của những chi tiết
tả:
+ Cảnh vật: không khí
“vẩn mùi ẩm thối của rác và mùi gây của xác người” Mọi vật xơ xác
Nhà cửa heo hút, tối om + Âm thanh: tiếng quạ kêu từng hồi thảm thiết trên cây gạo
+ Con người: phải lang thang kiếm sống, bị cái
đói hành hạ, hủy diệt Họ
“đội chiếu lũ lượt, dắt díu nhau”, dáng mặt
“xanh xám như những bóng ma”
4 Củng cố: (3’)
- Hoạt động 5: giáo dục tư tưởng: Em hãy đặt mình vào một trong ba nhân vật của
truyện: Tràng, bà cụ Tứ, người vợ nhặt để hiểu về nạn đói, về cuộc sống lúc bấy giờ?
5 Hướng dẫn về nhà: (1’)
- Xem lại bài đã học, làm bài phần luyện tập
- Đọc và soạn bài phần tiếp theo
?
Trang 39Tiết: 62
VỢ NHẶT(Tiết 2)
* Vào bài: (1’) Các em đã thấy nỗi cùng khổ của người nông dân trong nạn đói
Trong tình cảnh khó khăn, vẫn có những con người nhân hậu, sẵn sàng giúp đỡ người khác, làm nổi bật tinh thần nhân đạo của tác phẩm Chúng ta sẽ đi vào một gia đình cụ thể
- gia đình anh Tràng để thấy được điều đó
1 Hoạt động 1: Câu 1:
Em hãy tìm những chi tiết miêu tả ngoại hình, tính cách nhân vật Tràng?
(theo diễn biến : trước khi
có vợ, dẫn vợ về nhà và
HS chia nhóm, đại diện bốc thăm, phân nhiệm vụ và hoàn thành sơ đồ
HS thảo luận.
HS dán kết quả thảo luận lên bảng, đại diện trình bày Các nhóm tranh luận, bổ sung
ĐHTL:
?
Trang 40: Diễn biến tâm trạng thể hiện rõ tính cách con người Tràng Ban đầu, làm quen và mời thị ăn bánh đúc trong cái đói
Buông câu nói đùa và thị
về làm vợ thật Tràng đã
“Chậc, kệ!”, đó không hẳn
là sự buông xuôi, liều lĩnh
mà còn là sự cả thông và khát khao hạnh phúc Trên
đường về nhà, hắn thấy
- Ngoại hình: Tràng là người xấu trai, thô kệch, nghèo và là dân ngụ cư, làm nghề đẩy xe bò
- Tính cách Tràng thể hiện qua diễn biến tâm trạng: + Hắn vui tính, hờ hệch Ban đầu buông lời chòng
ghẹo “thích thú vì khi cha
sinh mẹ đẻ chưa có người con gái nào cười với hắn”
+ Có vợ bất ngờ, Tràng như
con người khác Hắn “có vẻ
phớn phở khác thường, tủm tỉm cười một mình” Rất
thích chí khi đưa vợ về nhà + Về đến nhà, hắn hơi sợ và ngượng nghịu không tin rằng mình đã có vợ Đây là bản tính của một người đơn giản, chấc phác
+ Buổi sáng đầu tiên sau
“đêm tân hôn”, Tràng thấy
hạnh phúc, vui sướng như
từ giấc mơ đi ra Và tích cực tham gia xây dựng gia
đình “hắn cũng muốn làm một việc gì đó để tu sửa lại căn nhà”, bởi từ đây hắn đã
có vợ Gánh vác một gia
?