1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tây du ký trong tâm thức người việt ở đồng bằng sông cửu long

64 451 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 731,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, người viết cố gắng trình bày chi tiết về văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên, phong tục tập quán, văn hóa tâm linh và vấn đề tín ngưỡng tôn giáo của người Việt ở đồng bằn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ NGỌC MAI Lớp SP Ngữ văn 02- K33 MSSV: 6075354

TÂY DU KÍ TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Luận văn Tốt nghiệp đại học Ngành sư phạm Ngữ văn

Trang 2

5 Phương pháp nghiên cứu

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1: Đôi nét về Tây du kí

Trong chương này người viết nhằm giới thiệu những nét cơ bản và khái quát

nhất về tác giả Ngô Thừa Ân và tác phẩm Tây du kí bao gồm cả tiểu thuyết Tây du kí

và bộ phim Tây du kí 25 tập của đạo diễn Dương Khiết Trung Quốc

Chương 2: Sơ lược về lịch sử, văn hóa và con người đồng bằng sông Cửu Long

Ở phần này người viết trình bày một số nét về đồng bằng sông Cửu Long như lịch sử khẩn hoang đồng bằng, một số nét văn hóa đăc trưng và những tính cách tiêu biểu của người đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, người viết cố gắng trình bày chi tiết về văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên, phong tục tập quán, văn hóa tâm linh và vấn đề tín ngưỡng tôn giáo của người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long ví những vấn đề này có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tiếp nhận tác phẩm

Tây du kí của họ

Chương 3: Tây du kí từ tiểu thuyết đến phim và đi vào tâm thức người Việt ở

đồng bằng sông Cửu Long

Đây là chương quan trọng nhất của luận văn này Người viết trình bày về cách

tiếp nhận tác phẩm Tây du kí của Việt ở đồng bằng sông Cửu Long Với phương pháp

tiếp cận tác phẩm nhìn từ góc độ văn hóa người viết đã đi vào nghiên cứu sự tồn tại

của tác phẩm Tây du kí trong tâm thức người Việt và những biểu hiện của sự tồn tại đó

ở đồng bằng sông Cửu Long

PHẦN III: TỔNG KẾT

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học luôn hướng tới tìm hiểu bản chất, ý nghĩa của tự nhiên, hiện thực và truyền thống của đời sống Văn học Trung Quốc cũng không ngoại lệ Người Việt Nam nói chung và người đồng bằng sông Cửu Long nói riêng từ vài thế kỉ trước đã hình thành thị hiếu thưởng thức truyện Tàu, và trong lời nhận xét về tám bộ tiểu thuyết

cổ của Trung Quốc, Lương Duy Thứ đã viết:“Tiểu thuyết cổ Trung Quốc là những

viên ngọc quý của kho tàng văn học phương Đông, có một sức sống kì diệu, chấp nhận

được sự thử thách của thời gian và có khả năng vượt biên giới một bước, đi sâu vào đời sống tinh thần nhiều dân tộc”[9; tr.5] Có thể nói tiểu thuyết cổ Trung Quốc là một

món ăn tinh thần không thể thiếu của nhiều nước châu Á trong đó có người Việt Nam Trải qua biết bao sóng gió, thăng trầm món ăn tinh thần ấy đã khẳng định được vị trí

quan trọng của nó đối với người Việt Từ xa xưa ông cha ta đã biết đến Tam quốc diễn

nghĩa, Tây du kí, Thủy hử, Hồng lâu mộng … và đến ngày nay những câu chuyện đó

vẫn còn, và sẽ tiếp tục còn nhiều người biết đến Tại sao lại như thế? Đó là một câu hỏi làm cho tôi băn khoăn và muốn tìm câu trả lời

May mắn cho tôi là trong luận văn tốt nghiệp lần này tôi được chọn đề tài Tây

du kí trong tâm thức người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long Đây là một cơ hội để tôi

tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về một bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc, đặc biệt hơn Tây

du kí cũng là bộ tiểu thuyết có sức hấp dẫn rộng lớn và lâu dài đối với người Việt Tôi

hy vọng sau khi nghiên cứu đề tài này tôi sẽ giúp các bạn, nhưng trước hết là bản thân

tôi, hiểu được tại sao tiểu thuyết cổ Trung Quốc, mà ở đây cụ thể là Tây du kí, lại có

thể đi sâu và trụ lại lâu trong tâm thức người Việt Nam nhiều thế hệ như vậy

Bên cạnh sự ham hiểu biết chính là niềm đam mê tìm hiểu những giá trị văn hóa, văn học đã thông qua con đường giao lưu đến mọi nơi trên thế giới Như chúng ta

đã biết, văn hóa Trung Quốc đã từng ngự trị ở Việt Nam trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, nhưng có lẽ điều diệu kì nhất chính là bản sắc dân tộc chỉ biến thiên chứ không bao giờ bị tiêu diệt Người Việt có tinh thần tiếp thu những giá trị văn hóa nhưng không phải rập khuôn như máy móc mà trái lại rất biết chọn lọc và giữ lại những tinh hoa của nhân loại nhưng không làm mất đi bản sắc dân tộc Người Việt trên mọi miền

Trang 4

tổ quốc nói chung và ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng điều có tinh thần trượng nghĩa, anh hùng, ghét những thế lực tà ma độc ác…Vậy nên không khó hiểu lắm khi

họ yêu thích những câu chuyện Cổ Trung Quốc, ở đó họ như tìm được những tâm hồn đồng điệu biết hi sinh vì chính nghĩa và những ý nghĩa nhân văn sâu xa Tôi không có

tham vọng làm một đề tài đồ sộ, chỉ mong là thông qua việc tìm hiểu về Tây du kí

trong tâm thức người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có thể đóng góp một cách

nhìn mới về ảnh hưởng và sự giao lưu văn hóa giữa các nước trong và ngoài khu vực với nhau

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Có những quan niệm khác nhau về bản chất của văn chương và có những cách thức khác nhau trong sáng tạo và khám phá văn chương, tùy theo hoàn cảnh, mục đích, trình độ, khuynh hướng nhận thức và hoạt động của con người trong lĩnh vực này

Văn chương có lúc được coi là tiếng nói của tình cảm, là tự biểu hiện, kí thác tâm tư, ước vọng của con người; có lúc được xác định là một hình thái ý thức, một công cụ nhận thức, phản ánh, miêu tả thực tại, là hình ảnh, bức tranh của đời sống Có lúc văn chương lại được định danh là một loại hình nghệ thuật đặc biệt dùng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt, là nghệ thuật ngôn từ… Vì thế mà các tác phẩm văn chương cũng như các công trình nghiên cứu văn chương được thực hiện theo những hướng, những phương pháp khác nhau, ý nghĩa và giá trị vì vậy cũng có nhiều mức độ Sự

khác biệt này “do hàng loạt các yếu tố khách quan và chủ quan quy định, nhưng, một

cách khái quát, có thể nói do tác động của môi trường sống, của thời đại khúc xạ qua lăng kính của từng cá nhân người sáng tác hay nghiên cứu”[ 8; tr.134]

Do đó, có những tác phẩm văn chương cổ cho đến nay vẫn được nghiên cứu đi

lại nhiều lần, kể cả văn học trong nước lẫn ngoài Tây du kí là một bộ tiểu thuyết cổ,

tuy có dung lượng khá lớn nhưng nó được nhiều người biết đến vì những giá trị của nó không hề bị suy giảm theo thời gian mà ngược lại, nó ngày càng được nâng lên sau mỗi công trình nghiên cứu

Nói đến các công trình nghiên cứu về Tây du kí trước tiên cần phải kể đến công trình của Lương Duy Thứ trong bài viết Tây du kí một tác phẩm lãng mạn độc đáo

(Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Nhà xuất bản Mũi Cà Mau – năm 1995) Trong bài

Trang 5

viết này tác giả đi vào khai thác những yếu tố lãng mạn trong Tây du kí Tác giả khẳng định “Tây du là bộ truyện lãng mạn mang màu sắc thần thoại hiếm thấy trong lịch sử

văn học Trung Quốc” [ 10; tr.122] Tác giả cho rằng “Tây du trước hết là một tác phẩm phản kháng mạnh mẽ hiện thực đen tối… nhắm vào hiện thực xã hội thời Minh - một xã hội mà cường quyền và bạo lực thống trị, một xã hội đầy rẫy bất công ngang trái mà chính tác giả là nạn nhân… Tây Du còn phản ánh lý tưởng tự do bình đẳng cũng như tinh thần khắc phục khó khăn, chiến thắng thiên tai địch họa để thực hiện lý tưởng của nhân dân và tầng lớp thị dân đương thời ” [10; tr.125] Đây là một hướng

nhìn mà người viết cần lưu ý khi nghiên cứu tác phẩm này

Tiếp theo cần phải kể đến đó là Giải mã truyện Tây du kí của tác giả Lê Anh

Dũng (nhà xuất bản Thanh Niên – năm 2006) Trong công trình này tác giả giải mã

nhiều chi tiết mang tính hình tượng của tác phẩm, theo một quan niệm “Mỗi một người

trong chúng ta đều là Đường tăng Mỗi thời đại của quá khư, hiện tại và vị lai đều có

Đường tăng, đều vẫn, đã, đang vã sẽ còn tiếp tục thỉnh kinh Cuộc thỉnh kinh chính là

hành trình đầy trắc trở của mỗi người trong chúng ta truy tầm chân lí” [4; tr.57] Đây

là một công trình đem lại nhiều khám phá mới cho người viết về tác phẩm Tây du kí

Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu Tây du kí theo góc nhìn của người Phật học Điển hình như Tây du kí qua cách nhìn của người học phật Của Nhà sư Huyền Ý (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin – năm 2008) và Bàn về Tây du kí

của Ngô Thừa Ân do nhà sư Thích Chơn Thiện biên soạn (Nhà xuất bản Tôn giáo –

năm 2000) Qua các công trình này người viết hiểu biết nhiều hơn về những biểu hiện của Phật giáo trong Tây du kí Vì các tác giả chủ yếu truyền tải đến người đọc những giáo lí Phật giáo được Ngô Thừa Ân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong tác phẩm

này Các tác giả này quan niệm “…người viết chỉ bàn đến các biểu hiện giáo lí Phật

giáo tản mạn qua các nhân vật và các cảnh nạn, mà không đi vào các quan niệm nhân sinh xã hội và lại càng không bàn đến văn phong bút pháp của tác giả” [ 14; tr.8]

Còn một tài liệu khác cũng rất quan trọng đã cung cấp cho người viết những

kiến thức cơ bản nhất về tác phẩm Tây du kí cũng như về tác giả Ngô Thừa Ân, đó là sách Lịch sử Văn học Trung Quốc do nhóm tác giả Lê Huy Tiêu, Lương Duy Thứ,

Ngô Hoàng Mai, Nguyễn Trung Hiền, Lê Đức Niệm, Trần Thanh Liêm cúng dịch (Nhà xuất bản Giáo dục – năm 1997)

Trang 6

Do đề tài nói về sự tiếp nhận Tây du kí của người Việt ở đồng bằng sông Cửu

Long nên người viết không thể bỏ qua việc tìm hiểu về những nét đặc trưng về văn hóa, con người cũng như cách tiếp nhận văn chương của người dân nơi đây Về lĩnh

vực này cẩn phải kể đến một số tài liệu quan trọng như Nếp cũ con người Việt Nam

của tác giả Toàn Ánh (Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh – năm 1998), và 101

điều nên biết về phong tục Việt Nam, tác giả Nguyễn Thị Chính (Nhà xuất bản Văn

hóa dân tộc – năm 2006)

Kết hợp với việc sưu tầm và tìm hiểu các tài liệu kể trên, người viết còn tham khảo thêm một số tài liệu, ý kiến trên Internet và những kiến thức sẳn có của bản thân

để hoàn thành luận văn này

3 Mục đích, yêu cầu

Có thể nói mục đích cao nhất của tôi khi viết đề tài này là để tôi có thể nhìn nhận lại quá trình học tập suốt mấy năm trên giảng đường của mình Tiếp đó tôi muốn góp một phần công sức của mình vào việc tìm hiểu ảnh hưởng của văn hóa, văn học Trung Hoa đối với người Việt Khi nghiên cứu đề tài này, người viết nhằm giới thiệu

cho người đọc một số nét về tiểu thuyết Tây du kí, văn hóa và con người Đồng Bằng sông Cửu Long cũng như sự tồn tại của Tây du kí trong tâm thức người Việt ở vùng

đất này

4 Phạm vi nghiên cứu

Đối với đề tài Tây du kí trong tâm thức người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long,

đối tượng mà người viết hướng tới là những nét văn hóa cũng như tính cách có ảnh

hưởng đến sự tiếp nhận của người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long về tác phẩm Tây

du kí Và đặc biệt là tác phẩm Tây du kí, trong đó bao gồm cả tiểu thuyết và phim,

cùng các tài liệu có liên quan để người viết có thể rút ra được những giá trị về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm này

5 Phương pháp nghiên cứu

Trước tiên người viết tìm đọc toàn bộ tiểu thuyết Tây du kí, và xem lại bộ phim

Tây du kí của đạo diễn Dương Khiết để có cơ sở nghiên cứu về tác phẩm này Tiếp

Trang 7

theo người viết tìm và tham khảo những tài liệu, những ý kiến có liên quan đến đề tài, chắc lọc những vấn đề chính, tiếp thu có chon lọc thông qua việc lưu trữ, ghi chép

Đồng thời người viết còn kết hợp các biện pháp so sánh, diễn dịch, quy nạp, thống kê… để từng bước làm sáng tỏ vấn đề

Trang 8

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1: ĐÔI NÉT VỀ TÂY DU KÍ

1.1 Tác giả Ngô Thừa Ân

Ngô Thừa Ân (1510 – 1582) , tự Nhữ Trung, hiệu Xạ Dương sơn nhân, người Sơn Dương, Hoài An ( nay là Hoài An, Giang Tô) Ông xuất thân trong một gia đình

có hai đời kế tiếp nhau chuyển từ làm quan sang thương nhân Từ nhỏ ông thông minh hiếu học, thích truyện thần thoại Khi còn học ở trường tư, ông thích đọc trộm những sách chép truyện vặt vãnh Do đó, ông có một vốn hiểu biết phong phú về truyền thuyết và thần thoại dân gian, đồng thời trực tiếp hoặc gián tiếp hấp thu những cái hay trong truyền thống kể chuyện dân gian, thành thạo hình thức này, thông qua đó nâng cao năng lực biểu đạt của mình Điều đó đã giúp ông phát huy đầy đủ thiên tài của

mình trong bộ tiểu thuyết huyễn tưởng Tây du kí

Ngô Thừa Ân thông minh, nhanh nhẹn, đọc nhiều sách, có tài sáng tác văn chương, nhưng đến năm bốn mươi ba tuổi mới được làm Tuế cống sinh (tương đương

với tú tài) Ông tính ngang ngạnh, bình sinh không để người thương hại, cười khóc vui

buồn vẻ tự nhiên (Tăng Sa Tinh Sĩ) Về sau vì mẹ già, nhà nghèo, phải ra làm huyện

thừa Trường Hưng, không bao lâu, nhục nhã vì phải vào luồn ra cúi, nên phủi áo ra

về Sự thất bại trên đường làm quan cộng với những khó khăn trong cuộc sống khiến

ông nhận ra được sự mục nát, đen tối của xã hội phong kiến đương thời Các triều đại

về sau của đời nhà Minh như Vĩnh Lạc (1403-1424), Tuyên Đức (1426- 1435), Gia Tĩnh (1522-1567) v.v nông nghiệp, thủ công nghiệp, công thương nghiệp đều phát triển Nhưng giai cấp thống trị thì lại càng ngày càng hủ bại Chúng ăn chơi xa xỉ, hoang dâm vô độ Đã xa rồi hình bóng một Chu Nguyên Chương áo vải cờ đào Để củng cố quyền thống trị, chúng chặt hết tay chân thân tín, cuối cùng chỉ tin vào con cháu họ hàng Mọi quyền hành đều thu vén vào tay vua và triều đình Đối nội, chúng

áp bức bóc lột nhân dân tàn khốc, đối ngoại, chúng thi hành chính sách bành trướng lãnh thổ đối với Mông Cổ, với các nước khác trong vùng biển Inđônêxia và các dân tộc vùng Tây Bắc Trung Quốc Nhà Minh dần dần trở thành vương triều quân chủ chuyên chế cực đoan, cản trở sự phát triển của xã hội Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn

Trang 9

dân tộc ngày càng phức tạp và sâu sắc Bạo động nông dân, tranh chấp bè đảng liên tiếp nổ ra, xã hội vô cùng rối loạn

Ông bất mãn sâu sắc với hiện thực, tự xưng Trong lòng mài mãi dao trừ tà;

muốn dẹp sạch đi, buồn không đủ sức (Nhị Lang sưu sơn đồ ca) Những năm cuối đời

ông từ quan về quê, bế quan, chuyên tâm sáng tác Trong quá trình sáng tác, ông mượn truyền thuyết thần thoại để gửi gắm sự bất bình của mình trước xã hội và nguyện vọng

an dân của mình Điều đó quyết định thái độ sáng tác Tây du kí của ông

Vào khoảng những năm Gia Tĩnh, Vạn Lịch giữa đời Minh, Ngô Thừa Ân hoàn

thành bộ Tây du kí gồm một trăm hồi Tác phẩm này không những mở ra lĩnh vực tiểu

thuyết ảo tưởng với sự tưởng tượng phong phú, với những câu chuyện và một kết cấu

đồ sộ, mà còn khắc họa nên những hình tượng anh hùng lí tưởng có màu sắc đậm đà

được nhân dân yêu thích Tây du kí là một bộ tiểu thuyết dài lãng mạn vĩ đại Nó ra đời

đánh dấu văn học lãng mạn Trung Quốc đã đạt tới một đỉnh cao mới

Khi Ngô Thừa Ân sáng tác Tây du kí, về mặt tư tưởng ông đã làm giảm đi

không khí mê tín, tôn giáo vốn có của câu chuyện thỉnh kinh, làm giàu thêm tính đặc trưng thời đại và khuynh hướng dân chủ của tác phẩm Trong việc xử lí nhân vật, ông đem nhân vật được nhân dân yêu thích là Tôn Ngộ Không làm nhân vật trung tâm của truyện, và đem nhân vật Đường tăng xếp vào địa vị thứ yếu đồng thời nhận được sự phê phán trong chừng mực nào nhất định Về nghệ thuật, ông kết hợp các truyện thần thoại và truyền thuyết dân gian với nhau, làm tăng thêm màu sắc lãng mạn của tác

phẩm Những điều này đã khiến Tây du kí trở thành “tác phẩm xuất sắc nhất trong

loại tiểu thuyết thần thoại cổ điển” [7; tr.179]

Trong Tây du kí Ngô Thừa Ân tiến hành mổ xẻ thời sự Minh Thế Tông rất

sùng bái đạo giáo, đạo sĩ quyền hành rất lớn, họ trở thành tầng lớp có nhiều đặc quyền,

do đó trong Tây du kí không có một đạo sĩ tốt nào hết Đạo sĩ đoạt vị, tiêu diệt Phật

giáo, đều là sự phản ánh xã hội đương thời “Ngô Thừa Ân chỉ phản đối đạo sĩ, khuyên

nhủ đối với vua Do đó những hỗn quân trong truyện được khuyên nhủ, cho một bài học thì biết hối cải” [7; tr.179]

Ngô Thừa Ân đã thành công trong việc tạo ra hình tượng Tôn Ngộ Không, ca tụng lòng yêu mến tự do, dám dũng cảm chống lại cái xấu, ca ngợi tinh thần diệt trừ

Trang 10

cái ác, trở thành nhân vật người người đều biết đến không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nhiều nước khác

Ngoài Tây du kí những tác phẩm của ông để lại được người sau tập hợp thành

bộ Xạ Dương tiên sinh tồn cảo, gồm bốn quyển.

1.2 Tây du kí

1.2.1 Tiểu thuyết Tây du kí

Câu chuyện chủ yếu của Tây du kí nói về việc Tôn Ngộ Không phò Đường tăng

sang Tây Thiên thỉnh kinh, dọc đường hàng phục được yêu quái, quét sạch mọi trở ngại Để dắt câu chuyện chính, tác phẩm thêm vào một số tình tiết, như lấy chuyện

“Đại náo thiên cung” để nói rõ lai lịch Tôn Ngộ Không, lấy chuyện “Giang lưu nhi”

để nói rõ xuất thân của Đường tăng, dùng chuyện “Nằm mộng chém rồng sông kinh”

để giải thích nguyên nhân đi thỉnh kinh Những chuyện đó đều bắt nguồn từ thần thoại

và truyền thuyết dân gian Trong quá trình lưu truyền lâu dài đó, chuyện đi thỉnh kinh được lấy làm cốt lõi, dần dần tập hợp những chuyện khác lại thành một chỉnh thể trọn vẹn, đồng thời bản thân chuyện đi thỉnh kinh cũng không ngừng biến đổi, phong phú

và mở rộng thêm Ở đây, sự cố gắng của những người kể chuyện trong dân gian đã có

tác dụng rất lớn Trước khi Ngô Thừa Ân viết thành sách, Tây du kí đã hình thành về

và được đệ tử là Biện Cở viết lại thành quyển Đại Đường Tây Vực kí, ghi chép những

điều gian truân, nguy hiểm, cũng như những phong cảnh ở xứ lạ quê người trên đường

đi thỉnh kinh Trong khi đó, hai người đệ tử khác của Huyền Trang là Tuệ Lập và

Nhan Tông, trong quyển Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng pháp sư truyện do họ

soạn đã kể lại một cách phóng đại sự kiện đi thỉnh kinh nói trên, đồng thời, lại chen vào những câu chuyện có màu sắc thần thoại Từ đó về sau, câu chuyện đi thỉnh kinh được truyền tụng rộng rãi trong xã hội và thành phần hư cấu ngày một nhiều thêm

Trang 11

Những người làm nghề kể chuyện đời Tống lấy câu chuyện này làm đề tài Nay

còn cuốn Đại Đường Tam Tạng thủ kinh thi thoại, là một bản in thời Nam Tống, có

mười bảy tiết, kể rất sơ sài, xen lẫn văn ngông và bạch thoại, gần như đề cương dùng

để nói chuyện Tiết thứ nhất mất Từ tiết thứ hai trở đi, đã xuất hiện hầu hành giả, hóa

thân thành tú tài áo trắng, tự xưng “Mĩ hầu vương cai quản tám vạn bốn nghìn đầu đồng trán sắt ở động Tử Vân, núi Hoa Quả”, đến giúp pháp sư Tam Tạng đi lấy kinh

Vị hầu vương này thần thông quảng đại, có gan có trí, dọc đường giết Bạch hổ tinh, trừ Hắc long, hàng phục thần Thâm sa Trong tiết mười một Hầu hành giả tự kể lai lịch,

ông vốn là kẻ ăn trộm bàn đào hai vạn bảy nghìn năm trước, “bị Vương mẫu bắt được,

lấy gậy sắt đánh tám trăm cái vào hông trái, ba nghìn cái vào hông phải, đày đến

động tử Vân, núi Hoa Quả” Qua nhân vật ấy, có thể thấy được bóng dáng của Tôn Ngộ Không trong Tây du kí sau này Thần Thâm sa xuất hiện trong Thủ kinh thi thoại cũng là tiền thân của Sa Tăng trong Tây du kí

Đến đời Nguyên, chuyện Tây du kí đã phát triển lên nhiều Qua sự sắp xếp, gia công của bao nhiêu người kể chuyện ưu tú vô danh, tình tiết câu chuyện phong phú thêm, nhân vật tăng lên, tính chất chuyện cũng mạnh mẽ hơn Lúc này đã xuất hiện

Tây du kí bình thoại So với Thủ kinh thi thoại nó đã có bộ mặt mới mẽ hơn rất nhiều

Những tình tiết trong Tây du kí một trăm hồi đại thể đều có trong Tây du kí bình thoại

Chuyện Tây du kí được đưa lên sân khấu khá sớm Đời Kim đã có vở viện bản

Đường Tam Tạng, đời Nguyên có vở tạp kịch Đường Tam Tạng Tây thiên thủ kinh của Ngô Xương Linh Cuối Nguyên đầu Minh, có Tây du kí tạp kịch của Dương Nột

Ngô Thừa Ân là người tập hợp cuối cùng Ông đã tiến hành sáng tác văn học trên cơ sở thần thoại và truyền thuyết lưu hành trong dân gian, trên cơ sở bình thoại và

tạp kịch Tây du kí Bộ Tây du kí xuất hiện với quy mô to lớn một trăm hồi không phải

là ngẫu nhiên, nó là tổng kết sự phát triển truyện Tây du kí trước đây, đồng thời cũng

là sự sáng tạo thiên tài của Ngô Thừa Ân Trong tám mươi mốt nạn, phần lớn dùng

những tình tiết của chuyện Tây du kí trước đây, nhưng cũng có nhiều chỗ là do ông

cấu tứ Ngay cả những tình tiết được chọn dùng, cũng không có một tình tiết nào ông không nhuận sắc công phu và sắp xếp lại Dưới ngòi bút của Ngô Thừa Ân, hình tượng nhân vật rất sinh động, giống như thật, mỗi một trận chiến đấu kịch liệt đều được miêu

tả rất cụ thể, có âm thanh có hình ảnh, làm cho người đọc như đang trải qua cảnh đó

Trang 12

Đặc biệt là hình tượng nhân vật Tôn Ngộ Không được xây dựng hết sức thành công, đã đạt tới mức lí tưởng hóa đầy đủ, lại khiến người ta vô cùng gần gũi Hình tượng đó đã trở thành một trong những điển hình xuất sắc của nhân vật anh hùng mà văn học Trung Quốc đã sáng tạo nên

Trong Tây du kí có hai đề tài gốc về mặt văn học, và hai mẫu chuyện có kết cấu

tương ứng, đã tạo ra cái sườn chung của bộ tiểu thuyết Một đề tài gốc đầu tiên tương quan đến bản chất hướng tự do của con người và mối mâu thuẫn từ hoàn cảnh khiến nó không thể không tiếp nhận sự ức chế Trong tiểu thuyết được thể hiện ở quá trình của nhân vật Tôn Ngộ Không từ chỗ không xem phép tắc trời đất ra gì, tuyệt đối tự do, cho đến chỗ bị chế tài, phải quy y cửa phật để đi theo con đường chính đạo Tuy nhiên, đối với mặt không thể ràng buộc được của nhân vật Tôn Ngộ Không trong tiểu thuyết, tác giả đã miêu tả nhiều hơn Điều này có thể nói về mặt quan điểm tác giả hướng nhiều hơn đến sự vươn lên tự do của con người Đề tài gốc thứ hai chính là “ghi lại những từng trải đầy nguy hiểm” Đó chính là sự ghi chép thường thấy trong loại văn học có tính hư cấu Loại truyện tích này ngoại trừ dễ triển khai những tình tiết li kì, nó còn có ngụ ý con người phải trải qua trăm nghìn khó khăn nguy hiểm, thì mới có thể đạt đến

sự hoàn thiện và hạnh phúc tốt đẹp nhất.Trong tiểu thuyết, đã miêu tả quá trình đi Tây Thiên của bốn thấy trò Đường tăng Hình tượng nghệ thuật của Tôn Ngộ Không luôn chiếm địa vị cốt lõi trong câu chuyện Thông qua những hành động anh hùng trong thần thoại này tác giả đã gởi gắm những lí tưởng về mặt sinh hoạt của con người Hơn nữa, đây là bộ tiểu thuyết thần thoại , nên so với những bộ tiểu thuyết có đề tài hiện thực, nó càng dễ dàng phản ánh một cách đầy đủ những dục vọng sâu kín trong nội tâm của con người

Hai chủ đề chính trong bộ tiểu thuyết cũng như những mẫu chuyện kết cấu hết sức tương ứng, tất nhiên có thể nói có một vài ngụ ý tượng trưng, nhưng những ngụ ý

đó, chỉ là mối quan hệ nội tại phát sinh trong quá trình lâu dài của bộ tiểu thuyết, cũng như trong hiện thực xã hội và hiện thực cuộc đời phát sinh ra Mục đích trực tiếp khi sáng tác bộ tiểu thuyết này vẫn là muốn cung cấp cho độc giả những giây phút giải trí vui vẽ Hơn nữa, do tư tưởng của tác giả tương đối phóng khoáng, tự do, nên những phần nghiêm túc giáo huấn rất ít, mà thành phần hài hước lại rất nhiều Dưới ngòi bút của tác giả, những vị thần Phật trang nghiêm cao quý thường có diện mạo hài hước

Trang 13

gây cười Không nói chi Ngọc Hoàng Thượng đế được tác giả miêu tả thành một nhân vật bất tài nhu nhược, Thái Bạch Kim Tinh bị tác giả miêu tả thành một con người hủ lậu nhưng lại làm ra vẻ thông minh, đến Quan Âm Bồ Tát khi muốn cho Tôn Ngộ Không mượn chiếc tịnh bình, còn sợ bị gạt lấy đi không chịu trả, nên buộc Ngộ Không nhổ chiếc lông cứu mệnh sau gáy để thế chấp Ngay như tại đất Phật ở Tây Thiên, mà

Đường tăng vì thiếu chuẩn bị thủ tục đầu tiên, nên hai vị tôn giả là A Nan và Ca Diếp

không chịu trao kinh với hai bàn tay không, làm cho Đường tăng phải lấy chiếc bình

bát làm bằng vàng rồng của mình ra để đổi lấy Trong khi đó, Như Lai lại biện hộ cho

hành động này rằng kinh không thể truyền một cách dễ dàng, mà cũng không thể lấy

không Những đoạn “văn thừa” nằm rãi rác khắp cả bộ tiểu thuyết, chen lẫn với những

tông chỉ cơ bản và những tình tiết chủ yếu đó, không những làm cho người ta phải cười, mà còn thể hiện dục vọng của thế tục, là một ý thức ở đâu cũng có, người nào cũng không tránh được

Trong Tây du kí tác giả tập trung khắc họa tính cách các nhân vật trong đoàn

thỉnh kinh Từ mở đầu khi Mỹ Hầu Vương xuất thế cho đến đại náo Thiên cung thất bại, tác giả để 7 hồi đầu miêu tả hình tượng cơ bản của Tôn Ngộ Không Sinh mệnh

của Tôn Ngộ Không thoát ra từ một hòn đá nên “không sự sự quản chế của kì lân, của

phượng hoàng, mà cũng không phục sự câu thúc của các ông vua trong nhân gian”

Tôn Ngộ Không đã học được bản lĩnh cao cường nhất, tinh thông 72 phép biến hóa, chỉ một cái cân đấu vân là có thể đi xa 108.000 dặm chính Tôn Ngộ Không đã xuống

long cung lấy được cây như ý kim cô bổng, lại đại náo âm ty và dùng bút xóa tên họ

mình trong sổ sinh tử của Diêm Vương, thế là từ đó ung dung xưng vương tai Hoa quả sơn, không lo không buồn, không bị mọi câu thúc, không xem phép, xem trời ra gì, lúc nào cũng cảm thấy vui vẻ sung sướng Điều đó chính là trạng thái tự do triệt để của con người khi thoát khỏi sự ràng buộc, chỉ có trong thần thoại mới có thể biểu hiện một cách hình tượng về ảo tưởng của con người đối với hoàn cảnh mình đang sống

Từ đó trở về sau, những người thống trị trong thiên cung cảm thấy không an tâm, nên Ngọc Hoàng Thượng đế nghe theo ý kiến của Thái Bạch Kim Tinh, triệu Ngộ Không lên trời giữ chức Bật Mã Ôn Ngộ Không làm công việc này tỏ ra rất thích thú, nhưng nghe nói đây chỉ là một công việc thấp hèn, bèn giận dữ náo loạn thiên cung rồi trở về Hoa Quả Sơn để tự phong cho mình là Tề Thiên đại thánh

Trang 14

Ngọc Hoàng Thượng Đế phát binh chinh phạt thất bại, đành phải nhìn nhận chức vụ tự phong đó Thế là Tôn Ngộ Không lại vui vẻ thoải mái sống trên thiên cung Đến khi được biết Vương Mẫu mở hội bàn đào nhưng không có chỗ ngồi của Tề Thiên đại thánh, mới biết mình bị dối gạt, bèn quậy phá tại hội bàn đào, lại lén lấy kim đơn ở Đâu Suất Cung, rồi trở về Hoa Quả Sơn Những tình tiết này, phản ánh nguyện vọng mãnh liệt của cá nhân đòi hỏi về quyền lợi, địa vị, sự tôn nghiêm phải được tôn trọng

Sau đó, Tôn Ngộ Không lại đánh nhau dữ dội với thiên binh thiên tướng do Ngọc Hoàng Thượng đế phái xuống Nhờ sự liên minh trấn áp của Tây Thiên Như Lai, Đông Hải Quan Âm, Thái Thượng Lão Quân kết hợp với lực lượng của thiên cung mới chiến thắng được Tôn Ngộ Không

Sỡ dĩ Tôn Ngộ Không nhiều lần đại náo thiên cung, không phải có ý muốn chống đối với trật tự thống trị ở thiên cung do Ngọc Hoàng Thượng đế làm đại biểu,

mà chỉ vì tự do của mình bị uy hiếp, nên mới có hành động như vậy Nhưng, khi Tôn Ngộ Không vì bảo vệ quyền tự do của mình mà dám chống lại Ngọc Hoàng Thượng

đế, cũng đã bộc lộ tính ngang ngược, thậm chí còn dám nói những lời đại nghịch như

“Ngôi vị Ngọc đế phải được luân lưu, sang năm này là tới phiên tôi rồi!” Câu nói

tưởng chừng như đơn giản nhưng đã đánh thẳng chế độ vua quan theo kiểu gia đình trị một cách độc quyền thời bấy giờ của xã hội Trung Quốc

Có thể nói sự tự do một cách triệt để, sự thỏa mãn một cách đầy đủ dục vọng trong cuộc sống cũng như sự tôn nghiêm của cá nhân, chống lại mọi thứ áp chế là điều không thể thực hiện được trong hoàn cảnh hiện thực, nhưng nó lại là những đòi hỏi cơ bản của nhân tính Chỉ cần tư tưởng trong xã hội tương đối được khai phóng thì nó tự

nhiên sẽ bộc lộ ra Trong 7 hồi đầu của Tây du kí, chính là mượn hình thức thần thoại

để thỏa mãn ước vọng tuy không hoàn toàn hợp lí, nhưng lại có tính tất yếu trong tâm

lí nội tại của con người Tất nhiên, hoàn cảnh thực tế của nhân tính khiến bộ tiểu thuyết không thể phát triển theo hướng này mãi được Sự thất bại của Tôn Ngộ Không,

ít nhiều có ý nghĩa tượng trưng, tức con người muốn được hoàn toàn tự do phóng túng, không thể không bị ức chế bởi sức mạnh hiện thực

Hồi thứ 8 đến hồi thứ 12 là giai đoạn quá độ, chuyển sang nói về Đường tăng, giải thích rõ lí do đi thỉnh kinh.Từ hồi thứ 13 trở đi miêu tả Tôn Ngộ Không bị buộc

Trang 15

phải quy y cửa Phật, và được sự hỗ trợ của Bát Giới và Sa Tăng, bảo vệ Đường tăng sang Tây Thiên thỉnh kinh Từ đây hai câu chuyện lớn được kết hợp đan xen vào nhau Đối với câu chuyện trước, tiểu thuyết miêu tả bản chất hướng về tự do của con người, khi bị ức chế thì sinh ra một trạng thái mâu thuẫn Trong quá trình đi thỉnh kinh, Tôn Ngộ Không vẫn không hề thay đổi tính đặc trưng vốn có của mình: vẫn luôn tự cho mình là Tề Thiên đại thánh, hễ động đến là khoe khoang với mọi người về lịch sử quang vinh của mình từng xuống địa phủ, đại náo thiên cung, chưa chịu thuần phục mà vẫn tính nào tật ấy Đối với những vị thần linh như Ngọc Hoàng Thượng đế, Thái Thượng Lão Quân vẫn luôn bỡn cợt, vô lễ Còn đối với những người mà Tôn Ngộ Không tỏ ra tôn kính ít nhiều như Như Lai Phật Tổ và Quan Âm Bồ Tát, thì thường tỏ

ra thái độ “ù lì”, lại còn mắng lén sau lưng Quan Âm là “cả đời không chồng cũng đáng”, và chế giễu Như Lai là “cháu họ ngoại lũ yêu tinh” Khi Đường Tăng xử oan

và đuổi ra khỏi đội ngũ đi thỉnh kinh, thì trước tiên nghĩ tới việc gỡ bỏ “kim cô”, để khôi phục lại cuộc sống tự do trước kia Nhưng vì “Phật pháp vô biên”, “vòng kim cô” quá chắc, không thể gỡ bỏ được, nên đành phải chấp nhận sự thực trước mắt Khi đánh nhau với yêu tinh mà gặp khó khăn, Tôn Ngộ Không cũng thường hay cầu cứu tới Như Lai, Lão Quân, Quan Âm và cả những thần tướng ở thiên cung nữa Phần sau của tiểu thuyết Tôn Ngộ Không phải trải qua 81 tai nạn, cuối cùng bảo vệ được Đường tăng tới nơi tới chốn để thỉnh kinh, trong quá trình đó, thể hiện Tôn Ngộ Không là người có đầy đủ mưu trí, dũng cảm, quảng đại thần thông, có tinh thần chiến đấu không lùi bước Chính do lẽ đó mà Tôn Ngộ Không đã đạt được chính quả, và qua sự tôi luyện

từ bao nhiêu khó khăn trong cuộc sống đã trở thành người được tịnh hóa và hoàn mỹ,

từ chỗ là một giả thần do linh khí của trời đất tạo ra, trở nên một “Đấu chiến thắng Phật”

Dưới ngòi bút tác giả, Đường tăng là một hòa thượng thành tâm sùng đạo, bền gan quyết chí theo đòi việc lớn nhưng đồng thời cũng là một trí thức sách vở, chịu sự ràng buộc đủ mọi thứ lễ nghi quy tắc, có phần xa thực tế, do đó thường lúng túng và

bó tay trước khó khăn Ông ta là một con người rất tốt nhưng khi gặp việc khó thì “mặt

buồn ủ rũ, nước mắt tuôn rơi”, hoặc khiếp sợ mà “ngã lăn xuống ngựa” Ông ta hết

sức coi trọng lễ giáo phong kiến và giới luật nhà Phật, luôn cẩn thận dè dặt tới mức quá đáng Trong việc giữ gìn các phép tắc đó, ông lại rất ngoan cố, hầu như không thể

Trang 16

nào lay chuyển được Ông ta thường nói câu Phật giáo cửa miệng là: “Không lúc nào

rời xa lòng thiện; quét nhà sợ làm chết kiến, thương con thiêu thân bên bóng đèn; kẻ xuất gia này thà chết chứ không dám giết người” Đó là một thứ tư tưởng từ bi hoàn

toàn vô căn cứ Và Đường Tăng cũng chỉ là một con người phàm, bằng xương bằng thịt, chưa thoát khỏi u mê, nên có những giới hạn mà bản thân ông không thể nào vượt qua được Biết bao nhiêu lần Tề Thiên cản: Yêu ma đấy, thầy đừng cứu Nhưng Đường tăng vẫn cứ cứu, để rồi tự rước họa vào thân Đó là nhận giặc làm con, vì sự nhận thức của cảm tính không biết nghe theo tiếng gọi sáng suốt của lí trí Vì thế, tuy xuất hiện với tư cách là trưởng đoàn thỉnh kinh, nhưng vai trò của Đường tăng không nổi bật

Hình tượng Trư Bát Giới cũng rất đáng chú ý, ông ta là người có đặc điểm hành động lỗ mãng, tham ăn, thích ngủ, lười biếng, vụng về, đó là do ông ta đầu thai lầm vào bụng heo, nhưng vẫn còn mang nhân tính Tất nhiên Trư Bát Giới cũng có sở trường của mình, như tính chịu khó, đứng trước lũ yêu ma cũng không bao giờ chịu

khuất phục, bao giờ cũng nhớ mình là “Thiên Bồng Nguyên soái hạ phàm”,… Nhưng

những khuyết điểm của ông ta thì quá nhiều, ngoại trừ những gì đã nói ở trên, ông ta còn thích nữ sắc, thích tranh hơn thua với người khác trong chuyện vụn vặt, lúc nào cũng ghanh tị với Ngộ Không, khi gặp khó khăn thì dao động, muốn về Cao Lão Trang

ở rể Trên đương đi thỉnh kinh, ông ta còn bỏ túi riêng được một món tiền nhỏ Trong

sự dũng cảm của ông ta còn có sự khiếp nhược, tính trung hậu của ông ta luôn đi kèm với tính xảo trá Hình tượng nhân vật Trư Bát Giới thể hiện dục vọng và nhược điểm phổ biến của con người Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, hình tượng này không đáng ghét mà lại có phần đáng yêu Nếu so sánh với hình tượng Tôn Ngộ Không có nhiều yếu tố lí tưởng hóa, thì hình tượng Trư bát Giới lại chứa đựng nhiều tính chân thật của con người trong đời sống hàng ngày nên khi đọc ai cũng thấy thân thiết, gần gũi

Sa Tăng trong tác phẩm khá mờ nhạt, tuy cương trực nhưng lại khá yên phận thủ thường Gặp hoạn nạn khó khăn luôn hết lòng hết dạ nhưng tài cán thì không bao nhiêu, lúc nào Sa Ngộ Tịnh cũng lầm lũi gánh đồ, không làm phiền đến ai và cũng không làm gì để bản thân mình bị ảnh hưởng Ông đại diện cho một phần bản tính của con người thích yên thân, bàng quan trước thế sự

Trang 17

Nếu khéo léo nhìn nhận, ta có thể dễ dàng nhận ra rằng bốn thầy trò Đường Tăng là bốn đại diện cho những bản tính cơ bản của con người Ai sinh ra cũng mang trong mình tính thiện của Đường Tăng, cũng có chút nổi loạn kiểu Tôn Ngộ Không, dục vọng của Trư Bát Giới và cũng thích yên phận như Sa Ngộ Tịnh Nhưng cái hay

và đặc biệt của tác phẩm là tách những bản tính ấy ra thành những con người hoàn chỉnh, tạo nên những chỉnh thể lí tưởng riêng về một mặt nào đó, phần đặc tính trội nhất sẽ lấn át mọi khía cạnh khác còn lại trong con người Ngoài ra, tác giả còn mượn chuyện xưa tích cũ để nói chuyện hiện tại với một cách nhìn và thể hiện hết sức tinh tế Tuy nhiên, qua tác phẩm không thể phủ nhận là tác giả còn chưa đưa ra được một giải pháp cho xã hội đương thời, lúc đầu trong việc đại náo thiên cung của Tôn Ngộ Không như là một ý kiến cho sự lật đổ chính quyền đương thời, xã hội cần thay đổi nhưng cuối cùng nhân vật anh hùng của chúng ta cũng qui y cửa phật Điều này chứng tỏ trong nhân sinh quan của tác giả có phần hạn chế và còn nhiều mâu thuẫn trong quá trình sáng tác, nhưng chúng ta không trách ông vì ông sống trong xã hội đương thời tuy tư tưởng tiến bộ nhưng không có người dẫn dắt để tìm ra hướng đi đúng đắn Mặc

dù vậy độc giả mọi thế hệ và mọi nơi vẫn yêu quý và trân trọng sáng tác của ông

1.2.2 Phim Tây du kí

Ai cũng biết Tây du kí là bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của

Ngô Thừa Ân Đây là bộ phim do đài truyền hình trung ương (CCTV) Trung Quốc sản xuất, phim được khởi quay từ năm 1982 đến năm 1988 thì hoàn thành Năm 1986 CCTV chính thức công chiếu 11 tập đã quay và lấy năm này làm năm sản xuất cho bộ phim

Bộ phim ra đời trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn do được sản xuất vào thập kỉ

1980 thời mà kĩ xảo điện ảnh còn rất thô sơ lạc hậu Vốn đầu tư 6 triệu nhân dân tệ tuy

là một khoản tiền rất lớn nhưng cũng không đủ trang trải cho toàn bộ phim, các diễn viên cũng chỉ nhận được thù lao tượng trưng, ít ỏi Phim được làm trong 6 năm trời ròng rã đã có iết bao mồ hôi và công sức của mọi người trong đoàn làm phim mới có

thể hoàn thành Tây du kí vừa quay vừa phát sóng theo kiểu cuốn chiếu, tập phim đầu tiên “Trừ yêu Ô Kê quốc” ra mắt khán giả vào dịp lễ Quốc khánh Trung Quốc vào năm

1982, đến ngày 1/2/1988, CCTV mới phát sóng trọn bộ phim Tây du kí 25 tập Đặc

biệt, trong 20 năm qua, phim đã nhiều lần phát sóng lại, mỗi lần cả người lớn và trẻ em

Trang 18

đều háo hức đón xem Có thể nói, bản phim Tây du kí 1986 đã sống mãi với thời gian

và ăn sâu trong kí ức của nhiều thế hệ khán giả Hầu hết các đài truyền hình của Việt Nam đều ít nhất trình chiếu một lần Có đài phát sóng đến gần 10 lần và trình chiếu đi

và chiếu lại suốt nhiều năm liền

Có thể nói, phục trang, hóa trang, tạo hình của bộ phim hết sức thành công và khó có phiên bản nào qua được Chính những chi tiết sắc sảo của từng vai diễn Với mỗi tập là những con yêu quái hoàn toàn khác nhau và không yêu quái nào sử dụng lại Chính nhờ những phần hóa trang yêu quái như thế nên phần nào giúp bộ phim xóa đi khuyết điểm thiếu diễn viên Có khi một diễn viên đóng đến 4, 5 vai, và đặc biệt hơn,

có tập phim đến phó đạo diễn, thư kí trường quay đều thủ vai yêu tinh nốt Cá biệt, nhờ vào đeo mặt nạ, hóa trang nên có diễn viên 25 tập đóng đến 10 vai khác nhau

Phục trang, tạo hình cũng góp phần tạo nên sự thành công của bộ phim, nhất là trong các phân đoạn, cảnh quay đông đúc: bầy khỉ ở Hoa Quả Sơn cảnh chư vị thần tiên tụ hội trên thiên đình và vũ điệu của Hằng Nga, đoạn nhà sư Trần Huyền Trang lần đầu diện kiến vua Đường,.v v Dù rằng quay trong phim trường sử dụng phông màn xanh cùng với kĩ xảo bị hạn chế, thế nhưng cảnh vật với hoa sen thật khiến cho

cảnh thiên đình trong Tây du kí 1986 luôn là cảnh mẫu cho các bộ phim về sau

Đặc biệt cách dựng cảnh Bồ Tát và các vị La Hán ở Thiên Trúc khi Đường tăng đến bái kiến Như Lai Phật Tổ hết sức tuyệt vời Tất cả như một bức tranh nổi, đẹp và rất sống động Mười tám vị La Hán là 18 khuôn mặt và tư thế khác nhau oai nghiêm và sống động khiến cho từng cảnh quay ở các phân đoạn này luôn như thật

Lưu Lễ – Người phụ trách dàn dựng kĩ xảo phim Tây du kí cho biết, trong phim

đã sử dụng hơn 1.000 cảnh quay kĩ xảo, nhưng anh nói, với kĩ thuật làm phim lúc bấy giờ thì chưa thể gọi đó là kĩ xảo, bởi nó đều được làm bằng sức người, phương pháp thủ công, dựng phim ghép hình Như để có được những hình ảnh bồng lai thiên cảnh trên thiên đình, đoàn làm phim phải sử dụng hiệu ứng sân khấu, cảnh Tôn Ngộ Không dùng phép Cân đẩu vân đi mây về gió được dựng với thủ pháp ghép hình, trường đoạn Tôn Ngộ Không bị đốt trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân đoàn làm phim phải dựng những cảnh cháy thật, khiến Lục Tiểu Linh Đồng bị lửa làm cháy bỏng Chưa kể, những con vật, linh thú hay yêu quái hiện nguyên hình, đoàn làm phim phải

Trang 19

sử dụng những con thú nhồi bông hay làm thật con thú đó Tập 17 trường đoạn con linh vật của Ngưu Ma Vương đoàn làm phim sử dụng kì lân của đội lân hay con trâu Ngưu Ma Vương biến hình được làm thật và chỉ quay đúng một tập phim Ngoài ra còn rất nhiều con vật khác, lúc bấy giờ kĩ xảo khó khăn, đoàn làm phim bắt buộc phải làm thật

Mặc dù bị hạn chế phần kĩ xảo, nhưng cách tạo hình nhân vật trong Tây du kí

rất bắt mắt, vai Tôn Ngộ Không ở mỗi giai đoạn trưởng thành đều có tạo hìnhkhác nhau, đặc biệt những nhân vật yêu tinh đều thể hiện được hình thù đặc trưng, giúp khán giả dễ dàng phân biệt Bằng phương pháp thủ công mà năm xưa các nhà làm

phim đã hoàn thành bộ phim kinh điển Tây du kí, điều đó đã được giới làm phim

Trung Quốc xem là niềm tự hào, và còn là bệ phóng đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình phát triển của truyền hình Trung Quốc

Trên đây là những thông tin khá cơ bản về bộ phim Tây du kí Không phải ngẫu

nhiên mà tôi khảo sát về bộ phim này Về nội dung có thể nói bộ phim khá trung thành với nguyên tác, nên dù xem phim hay đọc tiểu thuyết thì độc giả cũng như khán giả đều nắm bắt được tinh thần của cốt truyện là như thế nào Tôi không biết chính xác là

phim Tây du kí được trình chiếu ở Việt Nam đầu tiên vào năm nào, nhưng từ khi rất

nhỏ tôi đã được xem bộ phim này Nhớ lúc đó cả xóm chỉ có một chiếc tivi trắng đen, mỗi khi phim chiếu thì hầu như ai cũng xúm lại ngôi nhà ấy ngồi chật kín cả cái sân rộng để xem phim Không phải chỉ có con nít chúng tôi mê mà cả người lớn cũng khoái Hồi lúc nhỏ khi xem phim tôi không biết được ẩn ý sâu xa của bộ phim là gì Thích xem đơn giản chỉ vì nhân vật Tôn Ngộ Không có phép biến hóa, trên đường đi thỉnh kinh có nhiều yêu quái và nguy hiểm, rồi những hình ảnh tiên, phật, hằng Nga luôn làm tư duy trẻ thơ của chúng tôi xao động, chúng tôi luôn mang tâm trạng háo hức khi xem phim Sau này lớn lên, phim được nhiều lần công chiếu lại, nhưng phải

đến khi lên học Đại Học và học môn Văn học Trung Quốc tôi mới hiểu Tây du kí

không đơn thuần là câu chuyện trừ yêu diệt ma mà cái chính của nó là để nói về con người, và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm cũng không chỉ dừng lại ở đó, nó mang ý nghĩa to lớn và có liên quan mật thiết đến xã hội Trung Quốc đương thời

Có thể nói trong tâm thức của người Việt Đồng Bằng sông Cửu Long, Tây du kí

hiếm khi được đọng lại qua tiểu thuyết mà con đường chính là từ bộ phim này Người

Trang 20

ta không biết Ngô Thừa Ân là ai, tiểu thuyết chương hồi là như thế nào nhưng người ta

vẫn yêu Tây du kí, và từ đó con người học được rất nhiều Người lớn, những người tôn

sùng đạo Phật có căn cứ để tin nhiều hơn về quá trình thỉnh kinh cứu độ chúng sinh của Đường Tăng Trẻ em thì ngay từ nhỏ đã tiếp xúc với đạo lí tà không thể thắng chánh Nói tóm lại, tác phẩm có thể đến với người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long bằng nhiều nguồn khác nhau nhưng không phải vì vậy mà giá trị của nó giảm đi, trái lại càng làm cho mọi người dễ tiếp thu và hiểu tác phẩm một cách sâu sắc hơn

Trang 21

CHƯƠNG 2: SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.1 Lịch sử khẩn hoang Đồng bằng sông Cửu Long

Trong tâm thức người Việt, Đồng bằng sông Cửu Long là một hồi kèn thúc giục con người tiến về vùng đất mới, nơi lúa chín bạt ngàn, nơi cò bay thẳng cánh Nhưng

có ai biết rằng, nơi đây thuở xa xưa là “một vùng bị bỏ rơi”, chỗ thì phèn, chỗ thì nhiễm mặn Những con người đầu tiên đặt chân đến đây đã trải qua biết bao khó nhọc, dày công chiến đấu với thiên nhiên để cải tạo vùng “hoang địa” này trở thành một trong những cánh đồng màu mở nhất Đông Dương

Khoảng đầu Công Nguyên, từ Ấn Độ, có những con tàu bốn cột buồm to lớn, chở đến vài trăm người, vượt đại dương đến khắp Đông Nam Á Trong số đó có những nhà quý tộc, những tu sĩ đi truyền bá văn hóa và tôn giáo cho những dân tộc xa lạ Từ đâu đó ở Nam bộ, một nước Phù Nam của người Môn-Khme, với văn hóa Ấn Độ, với tôn giáo là đạo Phật và Bà La Môn phát triển trải dài khắp đồng bằng phía Nam

Phù Nam từ thế kỉ II đến thế kỉ VI đã có nền văn minh rực rỡ Nhưng đến thế kỉ thứ VII, nước Phù Nam hùng mạnh đã bị nước Chân Lạp của người Khme ở nam Lào thôn tính Chân Lạp bây giờ thành hai miền, Lục Chân Lạp ở phía Bắc là miền núi đồi

và Thủy Chân Lạp ở phía Nam có biển và đầm lầy Cư dân Thủy Chân Lạp 10 thế kỉ đầu là những người nông dân an phận Thủy và Lục Chân lạp thống nhất vào đầu thế

kỉ IX Người Khme sống tập trung ở vùng đất cao ráo gần Biển Hồ, xây dựng Ang Kor huy hoàng Đồng bằng Nam bộ nói chung là một vùng gần như hoang địa, chỉ vài sooc người Miên rải rác trên các giồng đất cao

Đến thế kỉ XVI, miền hạ lưu sông Cửu Long vẫn là một vùng dân cư thưa thớt, phần lớn diện tích là bùn lầy ẩm thấp, khí hậu khắc nghiệt Người Việt vào Miền Nam

từ lúc nào sử sách không thấy ghi lại Không ghi, vì họ không phải là những đạo quân chinh phục, cũng không có sứ mạng truyền giáo gì cả Họ chỉ là những di dân nghèo phải tha phương cầu thực, những người trốn tội, những kẻ bị tù đày Sử Khme ghi lại, năm 1620, chúa Nguyễn đã gả một nàng công chúa xinh đẹp cho vua Cao Miên, cô dâu Việt này là chỗ dựa tin cậy cho lưu dân Việt trên vùng đất lạ Từ đó người Việt di dân vào Miền Nam sinh sống ngày càng đông Năm 1698, chúa Nguyễn cử Thống suất

Trang 22

Nguyễn Hữa Cảnh vào tổ chức bộ máy chính quyền ở Gia Định Một người Hoa là Mạc Cửu lập phố chợ sầm uất ở Hà Tiên, xin phụ thuộc triều Nguyễn tạo một đầu cầu cho người Việt ở vùng cực Nam vào năm 1708 Trong vòng 50 năm hai cực Gia Định

và Hà Tiên nối lại, hoàn thành Nam Bộ Việt Nam

Sang các thế kỉ XVII, XVIII ở Nam bộ đã hình thành 3 khu vực khẩn hoang lớn

đó là Biên Hòa – Bến Nghé, Mỹ Tho – Long Hồ và Hà Tiên Hai khu vực Mỹ Tho – Long Hồ và Hà Tiên thuộc Châu thổ đồng bằng sông Cửu Long Nghĩa là Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu được người Việt Nam và các dân tộc di cư dưới sự lãnh đạo của triều đình phong kiến đã chính thức khai khẩn vào nửa đầu thế kỉ XVII Tuy nhiên cuộc khai phá chỉ thực sự có tính chất quy mô khi quân đội phong kiến Việt Nam đã nắm việc kiểm soát quân sự lẫn hành chính các khu vực được khai khẩn Ban đầu là vùng đồng bằng sông Tiền, phía Bắc giáp sông Vàm Cỏ, phía Nam giáp sông Ba Lai

và sông Tiền, thành các khu đất giồng thích hợp cho việc trồng lúa lẫn hoa màu Sau

đó, là việc khai thác khu vực đồng bằng sông Hậu, khi đó gọi chung là khu vực Hà Tiên bao gồm cả các vùng nam sông Hậu chạy dài đến các khu vực Rạch Giá, Cà Mau

và các đảo như Phú Quốc, Thổ Châu… Nói chung, việc khai khẩn đồng bằng sông Cửu Long cho đến năm 1858 đã xong về mặt xác định địa giới chung của khu vực cũng như khẳng định kiểm soát của triều Nguyễn Tuy nhiên, việc khai thác và tận dụng những ưu thế của vùng này chỉ được tiến hành khá triệt để khi thực dân Pháp đến nước ta vào năm 1858 Nam kì trở thành thuộc địa, một vùng đất phì nhiêu, màu mỡ,

là mục tiêu khai thác trục lợi của bọn xâm lược

Sau năm 1868 là năm Pháp thôn tính xong ba tỉnh miền Tây, việc khai khẩn đồng bằng sông Cửu Long không còn nằm trong tay nhà nước phong kiến Việt nam hoặc những công trình tự phát của lưu dân nữa Quá trình khẩn hoang tự do chấm dứt, quĩ đất hoang của đồng bằng sông Cửu Long bị “công sản hóa” Song song với việc cải sửa các khu vực hành chính để tiện bề kiểm soát, Pháp đã cho tiến hành những công trình cải tạo đồng bằng sông Cửu Long để phục vụ cho việc khai thác các tiềm năng kinh tế của vùng này, trong đó, đáng kể nhất là việc đào thêm và hoàn chỉnh hệ thống kinh đào song song với việc hoàn thiện các công trình khai khẩn đất

Hiệu quả của việc hoàn thiện công trình khẩn hoang này là đã biến đồng bằng sông Cửu Long thành “vựa lúa miền tây” với các vùng chuyên canh nổi tiếng như An

Trang 23

Giang, Sóc Trăng, Rạch Giá… Nhưng bên cạnh những thành quả thấy được ngày hôm nay, chúng ta không thể không kể đến những mất mát, những gian lao trong lịch sử khai khẩn vùng đất này Ngay đến những thập kỉ đầu thế kỉ XX vẫn còn nhiều tấn bi kịch xảy ra mà phần thiệt thòi thuộc về người khai khẩn nghèo, cô thế, điển hình là vụ Ninh Thạnh Lợi ở Rạch Giá năm 1927 và vụ đồng Nọc Nạn năm 1929

2.2 Một số nét văn hóa đặc trưng của người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long

2.2.1 Văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên trong lao động

Văn hóa lúa nước là một trong những hằng số của văn hóa Việt Nam Riêng đồng bằng sông Cửu Long là một khu vực vừa có mang đặc điểm chung đó, vừa có mang những sắc thái đặc thù riêng trong nền văn hóa lúa nước của mình, do điều kiện thiên nhiên và môi trường

Với một diện tích đồng bằng rộng lớn, tuy trong đó có đất phù sa có độ phì nhiêu tự nhiên rất cao thích hợp cho nhiều loại cây trồng, tuy nhiên bên cạnh đó còn

có cả một dãy mênh mông đất nhiễm phèn, nhiễm mặn, quỹ tài nguyên đất của đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn rất dồi dào so với các khu vực khác của đất nước

Trải dài trong suốt hạ lưu sông Mêkông, với hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu, tài nguyên nước của đồng bằng sông Cửu Long cũng rất dồi dào, thậm chí

dư thừa đến mức mỗi năm vùng này phải chịu một mùa lũ lụt định kì, thường kéo dài

từ tháng bảy, tháng tám đến tháng mười một, mười hai Tuy nhiên, trong những tháng mưa ít hoặc mùa khô thì cũng không loại trừ tình trạng khô hạn, có khi trầm trọng Vì thế, “vựa lúa miền tây” cũng không phải là không có những nỗi khổ của riêng mình, mặc dù nói chung, từ thời khai phá cho đến nay, đây vẫn là những nơi đảm bảo an toàn lương thực cho cả nước

Tài nguyên đất và tài nguyên nước đều dồi dào là tiền đề của nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng sông Cửu Long, nền tảng của nền văn minh lúa nước đặc thù của địa phương này Sống nhờ, sống chung và sống với cây lúa, nhiều nét trong nhận thức, tư duy, tình cảm và ứng xử của người dân vùng này cũng đã gắn liền với nó

Trang 24

Từ thế mạnh là lúa gạo, sau đó là các thổ sản địa phương cũng là một thế mạnh của đồng bằng sông Cửu Long Là vùng có nhiều kinh rạch sông nước, đồng bằng

sông Cửu Long trước đây đã từng nổi tiếng về “nhiều đìa cá ở xa đường giao thông,

cá nổi đầu lên như mù u chín rụng, nhưng chẳng ai khai thác nếu gặp năm sụt giá Tát nước, hoặc khiêng gánh cá tới bến nước để bán thì lỗ tiền công Đìa ấy để cho người vùng khác đến tát, chia đôi với chủ Vịt nuôi không cần cho ăn, mùa hạn dưới rạch

đầy cá nhỏ, vịt thả rong, chiều tối về chuồng…”

Trong buổi đầu khai phá, giữa một cảnh quan đồng bằng hoang sơ thuần phác, người lưu dân đến vùng sông nước này đã từ tự phát đến tự giác trong việc hình thành dần dần một nền kinh tế đánh bắt và chế biến thủy sản Ban đầu, việc này được thực hiện trong một môi trường thiên nhiên còn đa dạng phong phú, không quá chịu nhiều

áp lực hoặc hiểm họa, nên từ đó đã hình thành những tính chất độc đáo trong văn hóa với môi trường tự nhiên, thể hiện trong những công cụ và phương tiện để đánh bắt cá Việc sáng tạo ra những phương tiện đánh bắt đã thể hiện được trình độ hiểu biết về môi trường và đối tượng đánh bắt Nó còn nặng tính kinh nghiệm và cũng là một cách đánh giá trình độ hơn kém của con người Có nhiều hoạt động đánh bắt còn gắn liền với những nhu cầu của thời tiết, mùa vụ, thủy triều, nghĩa là nắm bắt rất kĩ các quy luật

tự nhiên để thích nghi và tồn tại

Động vật rừng cũng từng là một nguồn lợi dồi dào của đồng bằng sông Cửu Long, bắt nguồn từ địa lí phong thổ, nhất là ở các vùng rừng tràm, rừng đước với các sản vật như chim, rắn, cá sấu, kể cả cọp, voi… Trong giai đoạn khai phá, động vật rừng còn rất phong phú và mặt khác, có khi là chướng ngại của việc khai hoang mở đất nên việc khai thác động vật rừng có khi vòn được coi là hợp lí và còn để lại nhiều giai thoại, truyền thuyết, hoặc còn để lại nhiều địa danh gắn bó với việc khai thác động vật thiên nhiên để cung cấp cho nhu cầu thực phẩm của con người

Ngày nay do nhu cầu bảo vệ môi trường thiên nhiên, việc khai thác động vật rừng ở đồng bằng sông Cửu Long đã được kiểm soát chặt chẽ, nhưng động vật rừng đã gần như cạn kiệt sau nhiều năm bị săn bắt tràn lan

Miệt vườn và văn hóa miệt vườn cũng là một nét đặc trưng xuất phát từ môi trường địa lí của đồng bằng sông Cửu Long Miệt vườn là một khái niệm chung để chỉ

Trang 25

một hình thức phát triển khá cao của một số khu vực đồng bằng sông Cửu Long nằm rải rác ở nhiều nơi Từ nửa đầu thế kỉ XX trở về trước, miệt vườn được hiểu là nơi trù phú, đất đai và cư dân thuần thục, nề nếp Con gái miệt vườn giỏi nghề may vá thêu thùa, nữ công gia chánh, biết làm nhiều loại “bánh khéo” Con trai miệt vườn thường

có chữ nghĩa, giỏi làm ăn Về mặt kinh tế, vườn có thu nhập cao hơn ruộng Vì thế, trong một thời gian khá dài ở đồng bằng sông Cửu Long, miệt vườn là nơi tiêu biểu cho sinh hoạt cao và phát triển về cả hai mặt tinh thần và vật chất, là điểm đến ước mơ

về cuộc sống của nhiều người:

“Mẹ mong gả thiếp về vườn, ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh”

ở đồng bằng sông Hồng, vườn ở đồng bằng Cửu Long rộng lớn, ở từng nơi vườn thường tập trung lại với nhau thành những không gian vườn tược rộng lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao “Huê lợi vườn nhiều gấp 50 lần huê lợi ruộng” và riêng tỉnh Bến Tre thì “trong tổng số diện tích 154.606 mẫu tây, có 16.500 mẫu vườn tược”(1) Sự ra đời của miệt vườn không chỉ có ý nghĩa vật chất mà còn có ý nghĩa văn hóa, thể hiện khả năng ứng xử phù hợp của con người đối với thiên nhiên

Đồng bằng sông Cửu Long là quê hương của “văn minh sông rạch”, “văn minh miệt vườn” khá độc đáo Bờ sông không đắp đê, lại bị cắt từng chặng ở ngã ba, ngã tư,

muốn qua rạch nhỏ thì sẵn kiểu “cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi” “Cầu ván đóng đinh” xuất hiện rất trễ khi thực dân Pháp đến Câu hát “Ví dầu cầu ván ” khá phổ

biến, ngay cả trẻ con thời xưa cũng thuộc nằm lòng, câu hát trở thành câu thai đố Khi

cúng đình, nghe ra thai “Ví dầu cầu ván cầu tre lắt lẻo ” thì hàng chục trẻ con nhốn

nháo lên, đứa nào cũng muốn giành lấy phần thưởng Đáp là cái bánh bò Cầu tre khó

đi nên nhiều người phải bò, để giữ thăng bằng Cầu tre còn gọi là cầu khỉ (người qua cầu phải lanh lẹ tay chân như con khỉ chuyền trên cây) luôn luôn có nhịp giữa với khúc

Trang 26

tre rời, đề phòng trường hợp ghe có mui quá cao, hoặc có cột buồm thì giở khúc tre ở giữa lên cao, ghe qua rồi thì hạ khúc tre xuống

Nằm trên lưu vực hai con sông Tiền, sông Hậu, Đồng bằng sông Cửu Long được biết đến như một vùng sông nước hữu tình, cây lành trái ngọt quanh năm, người dân hiền hòa mến khách với những địa danh đã được biết đến từ lâu, như: cù lao Thới Sơn, trại rắn Đồng Tâm (Tiền Giang), sân chim Ba Tri, Cồn Phụng (Bến Tre), cù lao Bình Hòa Phước (Vĩnh Long), chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong Điền, vườn cò Bằng Lăng , chợ nổi Ngã Bảy (Cần Thơ, Hậu Giang), Tràm Chim Tam Nông (Đồng Tháp) Một vùng sông nước với hệ thống kinh rạch chằng chịt, những cù lao đầy ắp hoa trái

và sản vật chính là nguồn nguyên liệu dồi dào tại chỗ để chế biến những món ăn độc đáo in đậm chất phương Nam Cá lóc nướng trui, lươn, rắn nướng lèo, cá tai tượng chiên xù ăn cùng với các loại rau, hoa cỏ lạ như lá lụa, lá cách, lá săng máu, kèo nèo, bông điên điển, so đũa đủ vị thơm, chua, chát, ngọt, bùi Kẹo dừa Bến Tre, nem Lai Vung, vú sữa Lò Rèn, măng cụt Cái Mơn, bưởi Năm Roi Bình Minh, cam sành Tam Bình, xoài cát Hòa Lộc, bánh phồng Sa Đéc, bánh pía Sóc Trăng, mắm thái Châu Đốc là những hương liệu sẽ mang lại hương vị đậm đà cho bữa tiệc ẩm thực của Đồng bằng sông Cửu Long

Quá trình hình thành miệt vườn không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn tạo ra những yếu tố văn hóa tinh thần phù hợp với đặc điểm tự nhiên và tư duy sáng tạo của người Nam bộ

Ngày nay, khái niệm miệt vườn không còn có giá trị như cách hiểu ngày xưa,

có khi còn bị hiểu ngược lại trong tương quan so sánh với văn hóa thành thị, chỉ sự yếu kém, quê mùa, lạc hậu: “về vườn”, “dân vườn” Đây là một xu thế đánh giá sai lạc và tiêu cực về giá trị đích thực của miệt vườn vốn là một nét đẹp đầy tính bản sắc đáng bảo tồn và trân trọng trong tiến trình xây dựng và phát triển của đồng bằng sông Cửu Long

2.2.2 Phong tục tập quán ở đồng bằng sông Cửu Long

Dù là ở những tầng lớp xuất thân nào, người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn mang theo ít nhiều những phong tục tập quán của vùng đất cũ trong kí ức của mình, dù với thời gian và phong cảnh mới, các phong tục tập quán ấy có gia giảm hoặc

Trang 27

thay đổi chút ít Chẳng hạn như ngày tết, ngày giỗ ông bà Cũng một thời gian cho Tết Nguyên đán như ở vùng đất cũ, cũng với cây nêu, thịt mỡ, dưa giá thay dưa hành, bánh tét hơi khác bánh chưng Cũng có hoa đặc trưng cho ngày tết, nhưng là hoa mai đặc trưng cho phong thổ Nam bộ thay cho hoa đào đặc trưng cho phong thổ Bắc bộ Thờ cúng tổ tiên cũng là một nét quan trọng trong phong tục tập quán của người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long Và trong hoàn cảnh riêng của người đi mở đất, tục lệ này

có nhiều “biến thể” phong phú và thể hiện sâu sắc tinh thần nhớ về nguồn cội của người lưu dân Đám cưới và đám tang vẫn là những hình thức cần thiết của hai mặt gắn bó hửu cơ của cuộc sống và cái chết Trầu cau vẫn tồn tại, trong đời sống và trong các nghi thức lễ lạc Từ giữa thế kỉ XX trở về trước, việc trồng và buôn bán trầu cau ở đồng bằng sông Cửu Long còn rất phổ biến Đó là những nét lớn của phong tục tập quán Việt Nam đã được người lưu dân mang theo bên mình vào vùng đất mới

Mặt khác, ở Nam bộ nói chung và ở đồng bằng sông Cửu Long nói riêng cũng xuất hiện thêm những phong tục tập quán mới Phong tục tập quán mới này có thể xuất phát từ vùng đất cũ nhưng mang tính cách tân tạo cao, hoặc là mới hoàn toàn do hoàn cảnh mới Có những tập quán xuất phát từ hoàn cảnh địa lí như “ngủ nước”, “ngủ nóp” Các lễ hội ở đồng bằng sông Cửu Long như lễ cúng kì yên (cầu an) hình như hiện diện ở hầu hết các xã, với những đối tượng thờ cúng có thể khác nhau đôi chút thể hiện ảnh hưởng của nhiều dân tộc đồng cư, nhất là những lễ hội có đối tượng thờ cúng

là các nữ thần (lễ hội bà Đen Tây Ninh, bà Chúa Xứ ở Châu Đốc…) Lễ cúng kì yên ở nhiều làng xã Nam bộ cũng là một thứ “hội làng”, có khi kèm theo cac nghi thức cúng

tế là sinh hoạt văn hóa văn nghệ

Tục thờ cúng ông bà cũng có đôi nét riêng của phong tục phương Nam Dù giàu hay nghèo, hai món đò quan trọng nhất trong gia đình là bàn thờ ông bà và bộ ván Thời xưa, bàn thờ và giường thờ là hai món riêng nhưng gắn bó hữu cơ Bàn thờ để chính giữa, chưng bộ lư, chân đèn, lư hương, chén uống nước, tô đựng nước Giường thờ thấp hơn, nối liền bàn thờ đến sát vách, trên có đặt vài món đồ kỉ niệm của người quá cố nhưng công dụng chính của giường này là để bày biện thức ăn khi cúng giỗ Về sau, hai thứ này được giản lược lại thành tủ thờ, gọn gàng và nhiều kiểu dáng, giản dị bình dân hay cầu kì sang trọng tùy vào điều kiện riêng của chủ nhà Cúng giỗ ông bà là nét cơ bản của đạo hiếu Mọi việc cưới xin, tang tế đều cử hành dưới sự chứng giám

Trang 28

của tổ tiên, với nhang khói, lễ vật tùy hoàn cảnh gia đình Bàn thờ là “thể diện” cuả chủ nhà, nhất là vào diệp lễ tết Cái Tết ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu được thể hiện ở mức độ trang trí bàn thờ, với mâm quả truyền thống (mảng cầu, dừa, đu đủ, xoài, thơm)

Hôn lễ ở đồng bằng sông Cửu Long còn có những nét mang đặc trưng của địa phương Thời Pháp thuộc, đám cưới bình dân thường nặng về ăn uống, và luôn đi kèm với đờn ca tài tử Đầu thế kỉ XX, chưa có lệ trao nhẫn cưới, nhưng có lễ tặng đôi bông tai Từ đó, trong ca dao Nam bộ đã xuát hiện một câu khó hiểu:

“… Một mai thiếp có xa chàng

Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.”

Có người cho rằng người phụ nữ như vậy là thực dụng, vì đôi vàng (vòng đeo tay) phải nặng hơn, có giá trị kinh tế hơn đôi bông tai Thật ra đôi bông tai là vật đính ước chính thức do gia đình chồng đem đi cưới dâu, khi li dị là phải trả Còn đôi vàng

là tài sản riêng do hai vợ chồng cùng làm ra trong quá trình chung sống, người vợ có thể xin lại là hợp cả lí lẫn tình

Người Việt vùng sông nước này không quá trọng nông khinh thương, từ đó đã xuất hiện tập quán sống và buôn bán trên sông nước Lẻ tẻ có các ghe buôn bán nhỏ và vừa gọi là “ghe thương hồ”, chèo lên chèo xuống, nay vô rạch này, mai tới ngọn khác

mà buôn bán đổi chác hàng.Nếu thành qui mô lớn, thì hình thành những “chợ nổi” mà điểm nhóm họp chính là trên các bến sông, ở nơi đầu vàm, và thường nằm ở ngả ba ngả tư, do đó có khi được gọi thành tên chợ, “chợ ngả ba”, “chợ ngả tư”, có cả “chợ ngả bảy” Phiên chợ nổi thường họp theo con nước, nước lên thì chợ họ, nước ròng thì chợ tan Chợ nổi được lấy tên từ đất như: Chợ nổi Ngả Bảy Phụng Hiệp, chợ nổi Cái Răng, Phong Điền, chợ nổi Cái Bè, chợ nổi Ngả Năm Thạnh Trị, chợ nổi Long Xuyên, chợ nổi Năm căn Người dân tứ xứ xuôi ghe xuồng đến họp chơ Họ chở sản phẩm của mình trồng được hay làm ra đem đi bán Ghe thương lái miền trên cũng theo con nước chở hàng hóa từ các phố thị hoặc các sản vật miền khác về bán chác trao đổi Hàng hóa được đem bán ở đây có hình thức quảng cáo rất thú vị, treo hàng mẫu ở đầu ghe xuồng, tiếng địa phương gọi là “bẹo”, “bẹo gì bán nấy” Cũng có khi chợ nổi không mang chức năng kinh tế đơn thuần Khi “mưa thuận gió hòa”, cũng có lúc người ta tổ

Trang 29

chức những sinh hoạt đậm màu sắc đại phương như hò đối đáp, đờn ca tài tử trên sông… Đến chợ nổi người ta cũng có thể trao đổi tin tức hay cá kinh nghiệm làm ăn từ các thuyền buôn khắp nơi Bán hàng hóa, người ta còn thu nhận được thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm, những cái hay cái đẹp của nhiều địa phương khác làm phong phú thêm vốn sống của mình

2.2.3 Văn hóa tâm linh ở đồng bằng sông Cửu Long

Tâm linh là một hình thái ý thức được hình thành từ những hoàn cảnh xã hội, lịch sử, địa lí cụ thể và phản ánh vào ý thức con người Tín ngưỡng là một trong những biểu hiện của đời sống tâm linh của một cộng đồng, là những niềm tin thiêng liêng bao gồm cả niềm tin tôn giáo Niềm tin thiêng liêng đó được thể hiện qua ý niệm và biểu tượng Trong sinh hoạt tâm linh, con người thể hiện đức tin, niềm xác tín về một đối tượng thiêng liêng bằng cách phải tạo ra một nơi thờ phượng với những biểu tượng về đối tượng đó cùng với các nghi thức cầu cúng Tuy nhiên, trong tôn giáo, người tín đồ thường chỉ có một niềm tin duy nhất đối với giáo lí và giáo chủ của họ Còn trong đời sống tâm linh thì niềm tin vào những điều thiêng liêng thường phong phú đa dạng hơn, đối tượng được tín ngưỡng thường gần gũi và thân thiết hơn Qua thời gian, sinh hoạt tâm linh của các cộng đồng ngày càng được tích lũy, phổ biến, gạn lọc… để hình thành một bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời khỏi đời sống văn hóa của cộng đồng đó

Đời sống tâm linh, tín ngưỡng ở Nam bộ nói chung, đồng bằng sông Cửu Long nói riêng cũng không ra ngoài những nét chung đó Văn hóa tâm linh thường thể hiện theo ba dạng: văn hóa tinh thần (vô hình, là những hiểu biết, suy luận, nhận thức về một niềm tin thiêng liêng đối với một đối tượng nào đó); văn hóa vật chất (hữu hình, là

cơ sở vật chất như noi thờ phượng, đình, miễu, đền thờ… với các đồ khí tự và những biểu tượng liên quan); văn hóa hoạt động (là những nghi thức cúng tế)

Trong truyền thống xa xưa của người Việt Nam, bên cạnh việc thờ những con người có công với đất nước trong nhiều lĩnh vực, thì sinh hoạt tín ngưỡng cũng đã xuất hiện với tục lệ thờ các tự nhiên thần như thần đất, thần sông, thần đá, thần biển

Người lưu dân xa xứ cũng không quên mang theo những truyền thống ấy trên bước đường khai phá lập nghiệp của mình Trên bước đường mở cõi, người lưu dân có

Trang 30

cơ hội tiếp xúc với nhiều tộc người bản địa như người Khme, người Chăm, và sau đó

là người Hoa nhập cư ở Nam bộ vào thế kỉ XVII Sự giao thoa đó tất nhiên dẫn đến sự giao thoa của nhiều tín điều về con người, trời, đất… Giao tiếp tín ngưỡng là một quá trình sàng lọc qua tâm thức, qua nếp sinh hoạt của lưu dân trên vùng đất mới dưới sự tác động của hoàn cảnh địa lí, kinh tế, xã hội cụ thể Từ đó, tùy từng nơi, từng lúc, từng bước đã hình thành hệ thống tín điều mang nét riêng của mỗi địa phương Đó là

cơ sở để hình thành một số dạng tín ngưỡng trên vùng đất mới với nhiều hình thức đa dạng phong phú như miễu ông Tà, ông Địa, bà Chúa Xứ, Ngũ Hành, Hà Bá, Sơn thần, Long vương, bà Thủy, dinh Cậu, dinh Ông, dinh Bà, dinh Cô… xuất hiện ở những nơi thích hợp

Hầu như tới phường, xã nào của ĐBSCL ta cũng bắt gặp những đình, chùa, miếu thờ Thành hoàng, Thổ địa Đó là chưa kể những nhà thờ của đạo Thiên chúa Nổi bật nhất có các chùa của người Miên (Khmer) với lối kiến trúc rất đẹp như: chùa Dơi, chùa Đất sét, chùa Chén Kiểu ở Sóc Trăng, chùa Hội Linh, Nam Nhã, chùa Phật học ở Cần Thơ, và rất nhiều chùa mang dấu ấn Việt, Hoa, Khomer ở Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, An Giang, Bạc Liêu, Hà Tiên…Gắn với chùa chiền là tục thờ cúng Mẫu, thờ các vị đạo Nho như Khổng Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử, thờ Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi, thờ Thoại Ngọc Hầu, Mạc Thiên Tích, Mạc Thiên Cửu, thờ Bác Hồ, Bác Tôn và các vị danh nhân văn hoá, các anh hùng liệt sĩ của mỗi địa phương Văn Thánh Miếu ở Vĩnh Long thờ Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông Ở Bến tre có đền thờ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, ở Cần Thơ có thờ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa và Phan Văn Trị, ở Hà Tiên thờ Mạc Thiên Cửu, Mạc Thiên Tích… Nhiều lễ hội được diễn ra trong năm, đặc biệt là của người Khmer, như: lễ hội Ooc-om-boc, lễ hội đua ghe Ngo, Tết Chon-chnam-thmay, hội đua bò Bảy Núi, hội vía Bà chúa Sứ ở núi Sam (Châu đốc- An Giang)…Những lễ hội ấy phản ánh tâm linh, ước nguyện của người dân cầu cho quốc thái dân an, nhà nhà giàu mạnh Nó còn là dịp để nam thanh nữ tú tìm hiểu nhau, và nhiều cặp đã nên vợ nên chồng

Ngôi chùa là bộ mặt xã hội, là một trong những trung tâm tôn giáo, văn hóa của cộng đồng cư dân người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long Những ngôi chùa ở đây có một nét chung rất đặc biệt là ngoài các tượng thần phật đặc trưng cho ngôi chùa, đều

có những tượng thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, đây là một vị Bồ Tát được xem là gần gũi

Trang 31

nhất đối với tâm linh người Nam bộ Quan Thế Âm nghĩa là quan sát tiếng kêu than của nhân loại để độ cho họ thoát khổ Tiền thân của Quan Thế Âm Bồ Tát là Thái tử con vua Vô Tránh Niệm, được Phật Bảo Tạng phong làm Bồ Tát hiệu là Quán Thế

Âm, phụ tá đức Phật A Di Đà giáo hóa chúng sanh Nhưng khi đến Việt Nam thì Quán Thế Âm bị đọc trại ra thành Quan Thế Âm hay gọi tắc là Quan Âm, và các tượng thờ Quan Âm không phải là nam mà là nữ Vì sao lại như vậy?

Theo kinh Di Đà nói: người sanh về cõi Cực lạc tuy chưa chứng quả Thánh vẫn không có tướng nam, tướng nữ Kinh A Hàm nói: người nữ có năm chướng không thể thành Phật… Thế mà trong tâm thức người Việt Quan Thế Âm Bồ Tát lại hiện thân là người nữ Vì trong quan niệm của người Việt, Quan Thế Âm Bồ Tát là hiện thân của đức Từ bi Muốn nói lên tình thương chân thành tha thiết nhất trong con người, không tình thương nào qua tình mẹ thương con Mẹ đối với con là tình thương chân thành thâm thúy bao la, khó lấy cái gì có thể hình dung được Cho nên, đức Quan Thế Âm hiện thân là một người mẹ hiền của nhân loại, hay của tất cả chúng sanh Người mẹ dầu bận công ăn việc làm gì, một khi nghe tiếng con kêu khóc, mẹ buông bỏ tất cả vội vàng chạy lại vỗ về con Đức Quan Thế Âm cũng thế, dù bận việc giáo hóa ở đâu, một khi nghe tiếng kêu thương của chúng sanh, Người liền hiện thân đến an ủi Vì thế, gọi Ngài là Bồ Tát Quan Thế Âm Người mẹ hiền của tất cả chúng sanh, người mẹ lúc nào cũng lắng nghe tiếng nấc nở từ cõi lòng của đàn con dại đang đắm chìm trong bể khổ mênh mông, để đến xoa diệu, cứu thoát khiến mọi khổ não đều được tiêu tan

Tay mặt Người cầm cành dương liễu là tượng trưng cho đức nhẫn nhục Tay trái cầm bình thanh tịnh đựng nước cam lồ là tượng trưng cho tâm Từ bi Chỉ có cành dương liễu mới có khả năng mang nước cam lồ rưới mát chúng sanh Dương liễu là loại cây vừa dẻo vừa mềm, gặp gió mạnh thì uốn mình theo chiều gió, gió dừng là trở

về vị trí cũ Nước cam lồ tượng trưng cho lòng Từ bi của Bồ Tát Nước cam lồ là thứ nước rất trong, mát và thơm ngọt, do hứng ngoài sương mà được

Thật ra, hình tượng Quan Âm này cũng ít nhiều chịu sự ảnh hưởng từ Trung Quốc Hầu như trong tất cả các phim ảnh có sự xuất hiện của Quan Thế Âm ta đều bắt gặp được hình tượng này Nhất là sau khi xem bộ phim Tây du kí, trong tâm thức người Việt, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long, hình tượng Quan Âm Bồ Tát đã trở thành một đức tin gần gũi, thân thuộc và chiếm một địa vị khá quan trọng trong

Trang 32

tâm linh của người dân Việt Vì thế khi đặt chân đến các chùa Việt ở đồng bằng sông Cửu Long chúng ta sẽ thấy một pho tương Quan Âm Bồ Tát đặt ngay trước sân chùa hay ở ngay cửa chùa, nơi dễ nhìn thấy nhất

Ở các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long thì đình ít hơn chùa Việc rước thần, cúng lễ, dâng hương ở các đình bao giờ cũng gắn liền với một lễ hội nhất định

Ở TP Cần Thơ có đình Bình Thuỷ (còn gọi Long Tuyền cổ miếu) hay có tên cũ là đình Long Tuyền, thuộc xã Long Tuyền, quận Bình Thuỷ là ngôi đình lớn nhất ở mìền Tây Nam Bộ được dựng từ năm 1844 Năm 1852 đã được vua Tự Đức phong sắc Đền thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh (thổ thần canh giữ đất) và các vị thần có công với nước như: Đinh Công Tráng, Nguyễn Trung Trực, Bùi Hữu Nghĩa, Võ Huy Tập… Hội cúng đình diễn ra hai kỳ trong một năm là vào lễ Hạ điền (14- 15 tháng Chạp- âm lịch) và lễ Thượng điền (14- 15 tháng 4 âm lịch) Lễ Thượng điền là lễ cúng lớn nhất, thường được tổ chức trong 3 ngày có rước thần trên “kiệu rồng tán phượng”, thỉnh sắc cầu thần bằng bè ghép ba chiếc thuyền trang trí lộng lẫy và tổ chức hát bội, cải lương ba đêm liền Ở lễ Hạ điền các cô gái thi tài nấu nướng, làm bánh mứt để dâng tế thần, và

tổ chức một số trò chơi dân gian như thả vịt, kéo co, nhảy bao bố, thi nấu cơm “Hành quân Quang Trung”…

Ở Đồng Tháp có Đình Long Khánh ở cù lao Long Khánh, huyện Hồng Ngự và đình Tân Phú Trung ở huyện Châu Thành là những đình cổ được xây dựng từ thế kỷ XIX, thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh và các vị tiền hiền, hậu hiền của địa phương, được vua Tự Đức phong sắc vào ngày 16- 4- 1858 âm lịch Hàng năm cúng đình vào ngày

10 và 17 tháng 4 âm lịch, nếu năm lẻ thì cúng vào ngày 12 và 13 tháng 5 âm lịch Ở huyện Lấp Vò còn có đình Định Yên xây dựng từ năm 1909 tại ấp An Lợi A, hàng năm cúng đình vào ngày 16, 17 tháng 4 âm lịch và ngày 15, 16 tháng 11 âm lịch Ở Tiền Giang có đình Long Hưng thuộc xã Long Hưng huyện Châu Thành là di tích lịch sử cách mạng, từng là nơi chỉ huy cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), cũng là nơi treo lá cờ

đỏ sao vàng đầu tiên ở đất Nam Bộ Cũng ở huyện Châu Thành còn có đình Tân Hiệp xây dựng từ năm 1851 Ở Bến Tre có đình Phú Lễ, thuộc huyện Ba Tri thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh Hàng năm lễ hội diễn ra 2 lần vào lễ Kỳ Yên ở các ngày 18, 19 tháng 3 âm lịch cầu cho mưa thuận gió hoà, và lễ Cầu Bông vào ngày 9, 10 tháng 11

âm lịch, cầu cho mùa màng tươi tốt Có lễ rước sắc thần, lễ tế Thành Hoàng và đêm có

Ngày đăng: 15/12/2015, 18:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toàn Ánh, Nếp cũ con người Việt Nam, NXB TP. HCM, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N"ế"p c"ũ" con ng"ườ"i Vi"ệ"t Nam
Nhà XB: NXB TP. HCM
2. Nguyễn Thị Chính, 101 điều nên biết về phong tục Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 101 "đ"i"ề"u nên bi"ế"t v"ề" phong t"ụ"c Vi"ệ"t Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
3. Trương Đăng Dung, Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Tạp chí văn học 11/95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ" v"ă"n b"ả"n "đế"n tác ph"ẩ"m v"ă"n h"ọ"c
4. Lê Anh Dũng, Giải mã truyện Tây du kí, NXB Thanh Niên, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gi"ả"i mã truy"ệ"n Tây du kí
Nhà XB: NXB Thanh Niên
5. Thụy Đình, Ngô Thừa Ân – Tây du kí, tập 1, NXB Văn nghệ TP.HCM, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây du kí
Nhà XB: NXB Văn nghệ TP.HCM
6. Thụy Đình, Ngô Thừa Ân – Tây du kí, tập 2, NXB Văn nghệ TP.HCM, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây du kí
Nhà XB: NXB Văn nghệ TP.HCM
7. Trần Khiết Hùng, Thân thế, sự nghiệp 108 nhà văn Trung Quốc, NXB Văn hóa thông tin, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân th"ế", s"ự" nghi"ệ"p 108 nhà v"ă"n Trung Qu"ố"c
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
8. Trường Lưu, Văn học trong hành trình văn hóa, NXB Văn hóa thông tin và Viện văn hóa, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n h"ọ"c trong hành trình v"ă"n hóa
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin và Viện văn hóa
9. Lương Duy Thứ, Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc, NXB Mũi Cà Mau và NXB Khoa học xã hội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hi"ể"u tám b"ộ" ti"ể"u thuy"ế"t c"ổ" Trung Qu"ố"c
Nhà XB: NXB Mũi Cà Mau và NXB Khoa học xã hội
10. Lê Huy Tiêu – Lương Duy Thứ, Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L"ị"ch s"ử" v"ă"n h"ọ"c Trung Qu"ố"c
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Thích Chơn Thiện, Bàn về Tây du kí của Ngô Thừa Ân, NXB Tôn giáo, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn v"ề" Tây du kí c"ủ"a Ngô Th"ừ"a Ân
Nhà XB: NXB Tôn giáo
12. Huyền Ý, Tây du kí qua cách nhìn người học Phật, NXB Văn hóa thông tin, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây du kí qua cách nhìn ng"ườ"i h"ọ"c Ph"ậ"t
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
13. Lê Hải Yến – Trịnh Ân Ba – Trịnh Thu Lôi, Văn học Trung Quốc, NXB Thế giới Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n h"ọ"c Trung Qu"ố"c
Nhà XB: NXB Thế giới Hà Nội
14. Vi.wkipedia.org / wiki / Tây_du_ki 15. www.vanhoahoc.edu.vn Khác
16. Old.thuvienhoasen.org 17. vn.360plus.yahoo.com 18. www.hoibongsen.com Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w