Dyvik 1984 theo tài liệu của Chim Văn Bé -Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng – Cao Xuân Hạo 1994 Trong cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt, có ba yếu tố chuyên dùng để phân chia
Trang 1KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
HỒNG NHI
TÌM HIỂU TÁC TỬ THÌ, MÀ, LÀ TRONG
TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
Luận văn tốt nghiệp ngành NGỮ VĂN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: ThS CHIM VĂN BÉ
ĐIỂM A
CẦN THƠ, THÁNG 04 NĂM 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt Ranh giới đề - thuyết trong câu tiếng Việt có thể được nhận diện nhờ
một số yếu tố đặc biệt được gọi là tác tử chuyên dùng đó là: thì, mà, là
Truyện Kiều ra đời tính đến nay đã hơn hai thế kỉ và cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Truyện Kiều ở rất nhiều khía cạnh Ngôn ngữ trong Truyện Kiều là
một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Tuy nhiên, đề
tài “Tìm hiểu tác tử thì, mà, là trong Truyện Kiều của Nguyễn Du” là một đề tài mới,
chưa được khai khác, chưa có công trình nghiên cứu nào Chọn đề tài này chúng tôi muốn tìm hiểu xem văn chương thời trước đã sử dụng tác tử ra sao Và cụ thể là ba tác
tử thì, mà, là đã được Nguyễn Du sử dụng như thế nào trong Truyện Kiều – một tác
phẩm thơ Nôm nổi tiếng của thời đại Mong rằng với bài viết nhỏ bé của mình cũng sẽ phần nào đóng góp thêm vào việc khẳng định cái tài của Nguyễn Du trong việc sử
dụng ngôn ngữ trong Truyện Kiều Và do đây là đề tài mới, người viết cũng là lần đầu
tiên viết luận văn nghiên cứu nên sẽ không tránh khỏi những sai sót
II Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ học được hình thành và phát triển trải qua rất nhiều giai đoạn Ở Phương Tây ngữ pháp chức năng đã được nghiên cứu cách đây một thời gian khá lâu Nhưng ở Việt Nam thì chỉ mới bắt đầu nghiên cứu trong thời gian gần đây, vào khoảng thập niên 80 của thế kỉ XX
Nghiên cứu ngữ pháp chức năng có một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
-Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam –Trương Văn Trình và Nguyễn Hiến Lê
(1963)
- Subject or Topic in Vietnames – Helge J.J Dyvik (1984) (theo tài liệu của
Chim Văn Bé)
-Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng – Cao Xuân Hạo (1994)
Trong cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt, có ba yếu tố chuyên dùng để phân chia biên giới và đánh dấu đề - thuyết, được gọi là tác tử cú pháp (syntactic operators), đó
là thì, mà, là Đây là ba yếu tố mà Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê là những
người đầu tiên phát hiện ra chức năng đặc biệt của chúng
Trang 3Trong Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, tuy là công trình nghiên cứu về câu theo
cấu trúc luận nhưng cũng đã lấn sang ngữ pháp chức năng với sự phát hiện ra nhưng
chức năng đặc biệt của thì, mà, là, ba yếu tố mà hai tác giả này gọi là “trợ từ” với
chức năng “phân cách” một số thành phần câu
Năm 1984, Dyvik trong công trình nghiên cứu của mình có nói đến thì với hai
chức năng đánh dấu đề và đánh dấu thuyết.( Theo Chim Văn Bé đã dẫn)
Khoảng mười năm sau, Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức
năng có bàn đến thì và là nhưng vẫn chưa chạm đến chữ mà, một tác tử có chức năng
rất phức tạp, mặc dù mà xuất hiện trong rất nhiều câu ông dẫn ra
Sau này, trong Giáo trình Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt – Cú pháp học
Chim Văn Bé đã nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra những lí thuyết chung về ba tác tử này Ông đã lí giải cụ thể những đặc điểm và cách sử dụng các yếu tố này trong việc
đánh dấu và phân giới đề - thuyết của câu, cú, tiểu cú Đặc biệt là đối với mà, một yếu
tố có nhiều chức năng phức tạp trước giờ chưa được các nhà nghiên cứu tìm hiểu đến Đối với ba tác tử này cũng có một vài công trình nghiên cứu, vận dụng chúng vào phân tích cấu trúc câu tiếng Việt như:
- Tục ngữ Việt Nam – Cấu trúc và thi pháp - Nguyễn Thái Hòa (1997)
- Cấu trúc cú pháp của các đơn vị tục ngữ - Nguyễn Đức Dương (1998)
Riêng đối với Truyện Kiều thì cũng đã có không ít những công trình nghiên cứu
“Trong các vấn đề tranh luận về Truyện Kiều xưa nay, có một vấn đề duy nhất dường như không có mấy ý kiến trái ngược Đó là vấn đề những thành tựu về ngôn ngữ văn học của Nguyễn Du trong Truyện Kiều Hầu như các nhà nghiên cứu, bình luận đều khẳng định Nguyễn Du là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn ngữ của thời đại ông, là người đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc của thời đại lên một đỉnh cao chói lọi” [12:359]
Trong 200 năm nghiên cứu bàn luận về truyện Kiều – Lê Xuân Lít đã tập hợp
1024 công trình của các tác giả nghiên cứu Truyện Kiều từ trước tới nay, trong đó có nhiều bài viết về ngôn ngữ trong Truyện Kiều như:
- Đi tìm một vài đặc điểm của ngôn ngữ truyện Kiều – Đào Thản, trên cơ sở thống kê đã trình bày một cách thuyết phục về việc khẳng định ngôn ngữ Truyện Kiều
rất phong phú và đa dạng, có những nét đặc biệt về cú pháp và mang đậm tính nhân
Trang 4dân Ông cho rằng: “Cách làm giàu của Nguyễn Du về vốn từ đáng chú ý nhất là phát triển các kiểu đồng nghĩa”[12:1237]
- Các phương thức tu từ trong Truyện Kiều – Phạm Đan Quế đã nghiên cứu
về việc sử dụng biện pháp tu từ trong Truyện Kiều Ông cho rằng: “Nghiên cứu tác phẩm văn học đặc biệt là về mặt nghệ thuật, không thể không kể đến các phương tiện
và cá biện pháp tu từ trong phong cách học”[12:1214] và ông đã liệt kê tóm tắt được khoảng 60 phương thức tu từ trong Truyện Kiều: tỉ dụ, ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, lặp
từ, thế từ, tượng trưng, tỉnh lược, vật hóa, liệt kê, câu hỏi tu từ, đảo đổi, đối ngẫu, thành ngữ, dẫn ngữ…
- Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều – Phan Ngọc, ông cho rằng: “Truyện Kiều có cái đẹp sâu sắc, tế nhị tinh vi của thơ đường, có cái đẹp giản dị, chất phát của ca dao Truyện Kiều có nhiều điển cố, nhưng được cố lại thành những lời nói thông thường gần gũi với cuộc sống hằng ngày Ngôn ngữ trong Truyện Kiều
có cả nhạc lẫn họa, mang sắc thái cô đọng, khái quát cao độ, có ước lệ, cách điệu và tượng trưng nhưng vẫn chân thật không xa rời sự thật”.[13:290]
Và trong đề tài luận văn này, chúng tôi tìm hiểu về việc sử dụng thì, mà, là
trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng nhằm khẳng định thêm cái tài sử dụng ngôn
ngữ của Nguyễn Du
III.Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi muốn tìm hiểu cụ thể hơn những lí thuyết về cấu trúc đề - thuyết và các yếu tố chuyên dùng đánh dấu, phân chia biên giới đề - thuyết
thì, mà, là Đồng thời qua đó, chúng tôi áp dụng vào khảo sát Truyện Kiều – một tác
phẩm bằng chữ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Du “Tìm hiểu tác tử thì, mà, là trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du” nhằm thống kê và phân loại việc sử dụng tác tử thì, mà,
là trong Truyện Kiều và để tìm hiểu xem văn chương thời trước, cụ thể là Truyện Kiều
đã sử dụng tác tử như thế nào
IV Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và đề tài là “Tìm hiểu tác tử thì, mà, là trong Truyện Kiều của Nguyễn Du” nên phạm vi tìm hiểu của chúng tôi chủ yếu xoay quanh về định
nghĩa cấu trúc đề - thuyết, các đặc điểm, chức năng, cách dùng của tác tử chuyên dùng
đánh dấu và phân giới đề - thuyết thì, mà, là, và lí thuyết chung về đề tình thái, thuyết
tình thái được lấy từ các sách về ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo, Chim Văn
Trang 5Bé và một số tác giả khác… Qua đó chúng tôi vận dụng vào khảo sát Truyện Kiều của
Nguyễn Du để làm rõ thêm đề tài nghiên cứu
V Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành tiếp cận tìm đọc tài liệu, lược thuật tài liệu, thống kê, phân loại, và sau đó phân tích, tổng hợp tài liệu Và trên nền kiến thức chung về cấu trúc đề - thuyết và các đặc điểm, chức năng, cách dùng của
ba tác tử thì, mà, là, chúng tôi tiến hành khảo sát vào tác phẩm Truyện Kiều của
Nguyễn Du để đưa ra kết quả cho luận văn
Trang 6PHẦN NỘI DUNG Chương một
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CHUNG
I CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT THEO QUAN ĐIỂM NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG
1 Khái niệm về đề và thuyết
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng thì cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã tìm hiểu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về đề - thuyết Sau đây chúng tôi xin dẫn ra một vài định nghĩa của một số tác giả
Trong Ngôn ngữ học và tiếng Việt, Lưu Vân Lăng cho rằng: “Đề và thuyết là những thành tố nòng cốt cấu tạo nên nòng cốt câu, hạt nhân đề - thuyết là cấu trúc hạt nhân của câu” [10:78] Đề và thuyết được ông định nghĩa: “Đề là bộ phận chỉ cái được nêu lên để nhận định Thuyết là bộ phận mang nội dung thuyết minh rõ về cái được nêu lên” [10:78]
Đào Thanh Lan, trong bài viết Phân tích câu theo cấu trúc đề - thuyết giải thích:
Đề là “chủ đề của sự nhận định” và thuyết là “điều được nhận định” [9:40]
Còn Cao Xuân Hạo, trong Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng định nghĩa:
“Đề là thành tố trực tiếp của câu nêu rõ cái phạm vi ứng dụng của điều được nói bằng thành tố trực tiếp thứ hai: phần thuyết” [4:149]
Trong giáo trình Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt- Cú pháp học, đề và thuyết được Chim Văn Bé định nghĩa: “Đề là thành phần trực tiếp thứ nhất của câu nêu lên phạm vi hiệu lực của nội dung được triển khai tiếp theo trong trong thành phần trực tiếp thứ hai: phần thuyết”.[3:49]
Để tiện cho việc thực hiện luận văn, chúng tôi chọn cho mình một cách hiểu về đề
- thuyết theo định nghĩa của Chim Văn Bé, cách lí giải mà theo chúng tôi là hợp lí và
dễ hiểu nhất
Trong các câu sau đây, những từ ngữ in nghiêng là đề, từ ngữ gạch dưới là thuyết:
1) Hắn lảo đảo bước vào nhà, mắt guờm guờm, đôi môi mím chặt (NC)
2) Mưa vẫn rơi nhẹ nhàng trên đồng nước (AĐ)
Trang 72 Phân loại đề
Đề được chia thành hai loại lớn: nội đề và ngoại đề
2.1 Ngoại đề
Theo Cao Xuân Hạo: “Ngoại đề là phần đề ngữ đứng ngoài cấu trúc cú pháp
của câu không có chức năng cú pháp bình thường nào trong câu Nó thực hiện một chức năng như vật thể ngoại tại.” [4:80]
Chim Văn Bé cho rằng: “Ngoại đề là loại đề có chức năng đưa đẩy, dẫn nhập
vào sự tình được nêu trong câu, cú chính Nó thường nêu lên một hay một vài đối tượng như sự vật ngoại tại, có mối quan hệ nào đó với sự tình được câu, cú chính biểu đạt”.[3:55]
Như vậy, ngoại đề là phần nằm bên ngoài cấu trúc câu, có chức năng dẫn nhập vào
sự tình được nêu trong câu.Câu, cú có thể có một hoặc vài ngoại đề có quan hệ đẳng lập
Trong các câu sau đây, phần gạch dưới là ngoại đề:
3) Ngày hòa bình lập lại, bấy giờ An đã là một tiểu đoàn trưởng (NMC)
4) Ngay cả đến trẻ con, chúng nó cũng không bậy bạ như xưa (VTP: SĐ)
Trên bề mặt cấu trúc của câu, có thể nhận diện ngoại đề dựa vào hai đặc điểm: (1) Về ngữ điệu, ngoại đề thường được tách khỏi phần còn lại của câu, cú bằng một quãng ngắt giọng ngắn
(2) Nếu ngoại đề nêu lên một đối tượng có tham gia vào sự tình được biểu đạt tiếp theo trong câu chính, thì đối tượng đó sẽ được nhắc lại bằng cách lặp từ hay thay thế bằng đại từ hồi chiếu
Ngoại đề không thường xuyên xuất hiện trong câu, chỉ là thành phần phụ nên không thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt
2.2 Nội đề
Nội đề thuộc cấu trúc cú pháp cơ bản của câu Nội đề gồm hai tiểu loại Tuy
nhiên, về cách gọi tên hai tiểu loại trong nội đề thì lại không nhất quán với nhau giữa các tác giả Theo Cao Xuân Hạo thì nội đề gồm: chủ đề và khung đề Chủ đề và khung
đề được Cao Xuân Hạo định nghĩa:
“Chủ đề là phần câu chỉ cái đối tượng được nói đến trong phần thuyết, cái chủ
thể của sự nhận định” [4:154]
Trang 8“Khung đề là phần câu nêu rõ những điều kiện làm thành cái khung về cảnh
huống, thời gian, không gian, trong đó điều được nói ở phần thuyết có hiệu lực”
[4:154]
Theo Chim Văn Bé thì nội đề chia làm hai loại: đề tài và đề khung, được định
nghĩa như sau:
“Đề tài là loại đề nêu lên một đối tượng mang tính chất chủng loại, tập hợp hay
cá nhân, cá thể mà phần thuyết sẽ triển khai tiếp theo.” [3:53]
“Đề khung là loại đề nêu lên một cái khung về thời gian, không gian, trạng
huống, điều kiện, số lượng,… mà nội dung được triển khai tiếp theo trong phần thuyết
có hiệu lực.” [3:53]
Ở đây chúng tôi dùng khái niệm đề tài và đề khung nhằm đảm bảo tính thống
nhất về thuật ngữ: đề tài, đề khung và sau này là đề tình thái
Các câu sau đây có phần gạch dưới là đề tài:
5) Mèo là loài động vật chuyên bắt chuột
6) Trời thì cay nghiệt như một bà già thiếu ăn ngay từ lúc còn thơ (NC)
Các câu sau đây có phần gạch dưới là đề khung:
7) Chín người (thì) mười ý
8) Bây giờ thì mọi thức đã xong (NC)
9) Buổi tối hôm ấy, sau khi đưa các anh ra thuyền trở về Nam, tôi bực tức vô cùng (NC)
3 Hiện tượng ghép
Hiện tượng ghép là hiện tượng câu có nhiều đề, nhiều thuyết hay nhiều cấu trúc
đề - thuyết ghép lại với nhau bằng trật tự tuyến tính hay bằng kết từ
Có thể gọi câu nhiều đề ghép lại với nhau là câu ghép đề, câu có nhiều thuyết ghép lại với nhau gọi là câu ghép thuyết, câu có nhiều cấu trúc đề - thuyết ghép lại với nhau là câu ghép cú
Khái niệm cú ở đây được hiểu là cấu trúc đề - thuyết có quan hệ đẳng lập hay chính - phụ với cấu trúc đề - thuyết khác trong cùng một câu Câu ghép cú có các cú kết hợp với nhau theo quan hệ ngữ pháp đẳng lập là câu ghép đẳng lập Câu ghép cú
có các cú kết hợp với nhau theo quan hệ ngữ pháp chính – phụ là câu ghép chính – phụ
Trang 9Dưới đây là một số ví dụ về hiện tượng ghép:
10) Người mẹ rất còm cõi và bốn đứa con gầy ốm đang quây quần với nhau
trong xó bếp (NC)
Câu (10) có hai đề và một thuyết, hai đề được ghép với nhau bằng kết từ “và”.(câu ghép đề)
11) Tôi ấp úng và vội vàng nhỏm dậy (NC)
Câu (11) có một đề và hai thuyết, hai thuyết được ghép với nhau bằng kết từ
“và”.(câu nghép thuyết)
12) Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị (TNĐL)
Câu (12) có ba cú được ghép với nhau, mỗi cú là một cấu trúc đề - thuyết (câu nghép cú)
4 Hiện tượng phức
Ngoài hiện tượng ghép, câu tiếng Việt còn có thể được phức tạp hóa theo quan
hệ đối vị từ đó hình thành nên các bậc đề - thuyết khác nhau trong câu Câu có thể phức tạp hóa đề, phức tạp hóa thuyết hay phức tạp hóa cả đề lẫn thuyết
Hiện tượng phức là hiện tượng câu có phần đề, phần thuyết hay phụ tố (định tố,
bổ tố) trong phần đề, phần thuyết được cấu tạo bằng cấu trúc đề - thuyết dưới bậc, có thể được phát triển thành nhiều bâc Các bậc cấu trúc đề - thuyết là kết quả của việc phức tạp hóa câu theo quan hệ đối vị và đảm nhiệm vai trò đề - thuyết của câu bậc trên
là tiểu cú
Trên lí thuyết ta có thể phức tạp hóa không hạn chế số bậc đề - thuyết, tuy nhiên thường thì không phức tạp hóa quá bốn bậc
Tôi ấp úng và vội vàng nhỏm dậy
Đề tài Thuyết 1 Thuyết 2
Người mẹ rất còm cõi và bốn đứa con gầy ốm đang quây quần với nhau trong xó bếp
Đề tài 1 Đề tài 2 Thuyết
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị
đt 1 t1 đt 2 t2 đt 3 t3
Cú 1 Cú 2 Cú 3
Trang 10Có thể gọi câu có phần đề hay phụ tố trong phần đề được phức tạp hóa là câu phức đề, câu có phần thuyết hay phụ tố trong thuyết được phức tạp hóa là phức thuyết, câu có phần đề lẫn phần thuyết hay phụ tố trong phần đề và phần thuyết được phức tạp hóa là câu phức đề - thuyết
Dưới đây là một số ví dụ về hiện tượng phức tạp hóa cấu trúc cú pháp:
14) Hắn hút đến điếu này là điếu thứ ba (NC)
Trong câu (14), thì đánh dấu đề - thuyết bậc câu, đề của câu được phức tạp
hóa một bậc đề - thuyết, có đề là đề tài.(câu phức đề)
15) Bà Tổng Hiền coi hàng thì bà cũng vừa ý lắm (HBC)
Trong câu (15), thì đánh dấu đề - thuyết bậc câu, đề và thuyết của câu đều được
phức tạp hóa một bậc đề - thuyết.(câu phức cả đề lẫn thuyết)
16) Bây giờ thì mọi thức đã xong (NC)
Trong câu (16), thì đánh dấu đề - thuyết bậc câu,có đề là đề khung, thuyết của câu
được phức tạp hóa một bậc đề - thuyết, có đề là đề tài.(câu phức thuyết)
II CÁC YẾU TỐ CHUYÊN DÙNG PHÂN GIỚI VÀ ĐÁNH DẤU ĐỀ -
THUYẾT
1.Một số hiểu biết chung
Ranh giới đề - thuyết trong câu tiếng Việt vẫn có thể được nhận diện nhờ một
số yếu tố đặc biệt: thì, mà, là Các yếu tố này được Trương Văn Chình và Nguyễn
Hiến Lê trong Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam gọi là “trợ từ” với chức năng “phân
Trang 11Còn Cao Xuân Hạo trong Tiếng Viêt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng gọi các yếu
tố này là “những phương tiện đánh dấu sự phân chia đề - thuyết trong câu”.[4:156]
Tuy nhiên, ông chỉ mới đưa ra những chức năng đánh dấu và phân giới đề - thuyết của
thì và là, còn mà thì ông chưa xem xét cụ thể và có hệ thống
Sau này, trong giáo trình Ngữ pháp học chức năng tiếng Việt – Cú pháp học, Chim Văn Bé gọi chúng là “các yếu tố chuyên dùng đánh dấu và phân giới đề - thuyết” Ông đã lí giải cụ thể những đặc điểm, chức năng và cách sử dụng các yếu tố
này trong việc đánh dấu và phân giới đề - thuyết của câu, cú, tiểu cú Vì thế ở đây,
chúng tôi tiếp thu ba tác tử thì, mà, là theo cách lí giải của Chim Văn Bé
1.1 Đối với thì
Thì có biến thể phát âm là thời, là tác tử chuyên dùng có chức năng đánh dấu và
phân giới đề - thuyết thuộc nhiều bậc, ngoại trừ những trường hợp thì không được dùng với chức năng này Thì có hai chức năng chính đó là đánh dấu phần đề và đánh dấu phần thuyết Ngữ đoạn đứng trước thì là đề, ngữ đoạn đứng sau thì là thuyết
1.1.1 Thì đánh dấu phần đề:
Thì đánh dấu phần đề và phân chia biên giới đề - thuyết, khi đề mang tính chất
đối sánh với đề khác, được nêu ra hay mang tính chất tiền giả định Đề được đánh dấu
bằng thì có thể là đề tài hoặc đề khung thuộc nhiều cấp độ
Trong các câu sau đây thì đánh dấu phần đề (phần gạch dưới):
17) Phận sao bạc bấy Kiều nhi!
Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?(ND)
18) Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng (ND)
Cũng cần lưu ý thêm rằng, thì được dùng đánh dấu đề đối sánh không chỉ diễn ra
trong tổ chức nội tại của câu, mà còn được thực hiện xuyên qua biên giới câu:
19) Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi Nhưng sự
cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện (NC)
1.1.2 Thì đánh dấu phần thuyết
Thì đánh dấu phần thuyết và phân chia biên giới đề - thuyết, khi đề của câu, cú,
tiểu cú là đề khung chỉ điều kiện, thời gian, không gian, cảnh huống hay số lượng và
không mang tính chất đối sánh
Trong các câu sau đây thì đánh dấu phần thuyết (phần gạch dưới):
20) Dần thức dậy thì trong nhà còn tối om (NC)
Trang 1221) Tiệc bày thưởng tướng khao binh,
Thì thùng trống trận rập rình nhạc quân (ND)
1.2 Đối với mà
Với tư cách là tác tử chuyên dùng mà cũng có chức năng đánh dấu và phân giới đề - thuyết thuộc nhiều bậc, trừ những trường hợp mà không được dùng với chức năng này Hai chức năng chính của mà là đánh dấu phần đề và đánh dấu phần thuyết Ngữ đoạn đứng trước mà là đề, ngữ đoạn đứng sau mà là thuyết,
1.2.1 Mà đánh dấu phần đề
Mà đánh dấu phần đề và phân giới đề - thuyết, khi đề và thuyết có quan hệ bất
thường về mặt logic theo sự nhìn nhận của người nói
22) Gần bốn mươi tuổi rồi mà trông còn phây phây (NC)
Sự bất thường này bộc lộ rõ khi ta thay mà bằng thì:
23) Gần bốn mươi tuổi rồi thì không còn phây phây (NC)
Tương tự, khi được dùng để phân giới đề - thuyết tiểu cú làm thuyết của câu, mà
cũng đánh dấu đề tiểu cú:
24) Người nhỏ nhen như vậy ai thì mà thương cho được
1.2.2 Mà đánh dấu phần thuyết
Mà đánh dấu phần thuyết, khi đề là đề khung nêu lên điều kiện và không mang
tính đối sánh, còn phần thuyết nêu lên hệ quả nghịch thường về mặt logic theo sự nhìn nhận của người nói
Trong câu sau đây, đề và thuyết có quan hệ nghịch thường về mặt logic theo sự nhìn nhận chủ quan của người nói:
25) Ăn mày mà đòi xôi gấc (TN)
Bởi theo nhìn nhận chủ quan của người nói thì:
26) Ăn mày thì không đòi xôi gấc
Mà cũng được dùng đánh dấu phần thuyết tiểu cú và phân giới đề - thuyết, tiểu cú
làm đề khung nêu điều kiện thuộc nhiều cấp độ:
27) Tao mà bắt được đứa nào thì tao đuổi (NCH:TN)
Trong cách dùng này, mà đánh dấu phần thuyết, vì về mặt ngữ âm, mà gắn với
phần thuyết
Ngoài ra, khi phân giới đề – thuyết mà còn có thể được dùng như một tác tử phủ định Khi được dùng với chức năng này, nếu sau mà không có các từ phủ định khác
Trang 13như: không, chẳng, chả, thì câu, cú, tiểu cú có nghĩa phủ định Ngược lại, nếu sau mà
có các tác tử phủ định này, thì câu, cú, tiểu cú có nghĩa khẳng định
28) Bài tập như vậy thì ai mà không làm được
29) Bài tập như vậy thì ai mà làm được
1.3 Đối với là
Là có thể được dùng với hai tư cách: tác tử chuyên dùng và vị từ quan hệ
Là là tác tử chuyên dùng phân giới đề - thuyết, khi đó nó có vai trò thuyết hóa
những ngữ đoạn phi tuyến tính (phi vị từ tính) như danh ngữ, tiểu cú có chuyển tố (kết từ) tiền tính, từ ngữ luôn có vật quy chiếu (referent) xác định như tên riêng, đại từ
nhân xưng, đại từ trực chiếu, hồi chiếu, khứ chiếu Trong trường hợp này, là đánh dấu phần thuyết và phân giới đề - thuyết Ngữ đoạn đứng trước là là đề, ngữ đoạn đứng sau
là là thuyết
Khi là được dùng với chức năng này Ta không thể tình thái là bằng cách đặt
trước nó các yếu tố tình thái như: đã, sẽ, đang, vừa, mới, sắp, vẫn, còn…
30) Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh (ND)
31) Anh ra đi là để kiếm tiền
Ngoài chức năng làm tác tử, là còn là vị từ quan hệ, khi đó trước là có thể dùng
tác tử thì, mà hay có thể tình thái là bằng cách đặt trước nó các loại yếu tố tình thái
1.4 Về cách kiểm tra biên giới đề - thuyết bằng thì, mà, là
Với chức năng đánh dấu và phân giới đề - thuyết như đã nêu, ta có thể đưa thì,
mà, là đưa vào câu để kiểm tra, qua đó nhận diện biên giới đề - thuyết các bậc khi câu
có biên giới đề - thuyết không rõ ràng
32) Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng (TN)
→ Nuôi lợn (thì) ăn cơm nằm, nuôi tằm (thì) ăn cơm đứng
33) Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống (TN)
→ Nhất (là) nước, nhì (là) phân, tam (là) cần, tứ (là) giống (+)
Khi câu có biên giới đề - thuyết rõ ràng, qua mối quan hệ giữa câu với tình huống hay ngôn cảnh, ta có thể xác định được đề thì không cần và không thể đưa các tác tử này vào để kiểm tra, vì câu không dung nạp được tác tử
34) Bà lão nhìn ra bên ngoài Bóng tối trùm lấy hai con mắt (KL)
→ Bà lão (thì) nhìn ra bên ngoài Bóng tối (thì) trùm lấy hai con mắt.(-)
Trang 14Trong Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Cao Xuân Hạo đã đưa ra 7 thông
lệ chi phối số lượng cũng như vị trí thì và là vì đối với tác tử mà ông chưa tìm hiểu
được
Chim Văn Bé thì đã khái quát nên 3 quy tắc chung cho cách dùng thì, mà, là
trong câu tiếng Việt mà chúng tôi cho rằng rất hợp lí và ngắn gọn, dễ hiểu, dễ vận dụng vào phân tích cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt Và trong đề tài luận văn này chúng tôi đi theo ba quy tắc đó
2.1 Quy tắc thứ nhất
Ở cùng một bậc quan hệ cú pháp, mỗi tác tử thì, mà, là có thể được dùng nhiều
lần, nhưng thường thì không qúa bốn lần
35) Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.(TN)
36) Người là cha, là bác, là anh (TH)
37) Cô thấy đời là sự nghèo khổ và sự nhẫn nhục của cha mẹ, là sự siêng năng
làm ăn của cô mà thôi (VTP:GT)
2.2 Quy tắc thứ hai
Ở hai bậc quan hệ đề - thuyết gián cách, mỗi tác tử thì, mà, là cũng có thể được
dùng nhiều lần, tuy nhiên trường hợp này xuất hiện không phổ biến.
(Vợ Văn Minh dẩu mỏ nói:
-Sống như vậy thật là trái lẽ tạo hóa
Cụ Hồng phân trần:
38) Nên tôi mong cho cụ tôi về đi, là vì cụ tôi chết sớm ngày nào hay ngày ấy,
chứ sống mà ăn không được, ngủ không được, lúc nào cũng kêu rên, nằm đâu thì phóng uế ra đấy, thì sống mà làm gì!(VTP:SĐ)
(Thế nào chúng ta cũng còn gặp nhau nữa)
39)(Mà) (cho dù) cô xuống dưới kia (thì) tôi cũng không bao giờ (mà) cho rằng
cô là người khi gặp khó khăn thì bỏ người khác (NMC)
Trang 152.3 Quy tắc thứ ba
Ở hai bậc đề - thuyết kế cận nhau (tiếp giáp nhau), thì, mà, là hoặc được dùng
phân giới kết cấu đề - thuyết bậc trên, hoặc được dùng phân giới kết cấu đề-thuyết bậc
dưới, nghĩa là không thể dùng thì, mà, là cùng một lúc ở hai bậc đề – thuyết kế cận
nhau
40) Những đứa con lớn, đứa đi ở bế em, đứa đi ở chăn trâu, đứa đi xin những cái hoa chuối, những nắm khoai đội đi những chợ xa bán để kiếm vài xu ăn cho khỏi chết.(NC)
Đưa thì vào phân giới kết cấu đề - thuyết bậc câu:
(a) Những đứa con lớn (thì) đứa đi ở bế em, đứa đi ở chăn trâu, đứa đi xin
những cái hoa chuối, những nắm khoai đội đi những chợ xa bán để kiếm vài xu ăn cho khỏi chết (+)
Đưa thì vào phân giới kết cấu đề - thuyết bấc tiểu cú làm thuyết ghép của câu:
(b) Những đứa con lớn, đứa (thì) đi ở bế em, đứa (thì) đi ở chăn trâu, đứa (thì)
đi xin những cái hoa chuối, những nắm khoai đội đi những chợ xa bán để kiếm vài xu
ăn cho khỏi chết.(+)
Nhưng không thể cùng lúc đưa thì vào kiểm tra ở hai bậc cấu trúc đề - thuyết:
(c) Những đứa con lớn (thì) đứa (thì) đi ở bế em, đứa (thì) đi ở chăn trâu, đứa (thì) đi xin những cái hoa chuối, những nắm khoai đội đi những chợ xa bán để kiếm
vài xu ăn cho khỏi chết.(-)
Tương tự, chỉ có thể đưa thì vào phân giới một trong hai bậc kết cấu đề -
thuyết kế cận nhau trong câu sau:
41) Sông Bến Hải bên bồi bên lỡ,
Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương.(TH)
Đưa thì vào kiểm tra tiểu cú bậc một làm đề khung của câu:
(a) Sông Bến Hải (thì) bên bồi bên lỡ,
Cầu Hiền Lương (thì) bên nhớ bên thương.(+)
Đưa thì vào kiểm tra bốn tiểu cú bậc hai làm thuyết ghép trong hai đề khung
đẳng lập của câu:
(b) Sông Bến Hải bên (thì) bồi bên (thì) lỡ,
Cầu Hiền Lương bên (thì) nhớ bên (thì) thương.(+)
Nhưng không thể đưa thì vào kiểm tra cùng lúc hai bậc tiểu cú:
Trang 16(c) Sông Bến Hải (thì) bên (thì) bồi bên (thì) lỡ,
Cầu Hiền Lương (thì) bên (thì) nhớ bên (thì) thương.(-)
Qua kiểm tra, chúng ta thấy trong câu (40 b), có thể dùng thì ba lần, vì thì ở đây phân giới ba tiểu cú cùng một bậc làm thuyết ghép của câu Trong câu (41 b), thì có
thể được dùng đến bốn lần để phân giới đề - thuyết trong bốn tiểu cú cùng bậc của câu
Điều này càng chứng minh rõ quy tắc thứ nhất đã nêu là chính xác
3 Cách dùng thì
Các nhà nghiên cứu ngữ pháp chức năng đã đưa ra những cách dùng chủ yếu của
tác tử thì Theo Chim Văn Bé, đối với thì ta có thể lưu ý một số trường hợp sau đây:
3.1 Bắt buộc dùng thì
(1) Trong những câu mà nếu vắng thì, cấu trúc đề - thuyết không rõ ràng, khó
nhận diện, nghĩa của câu mơ hồ, dễ bị lẫn lộn với cấu trúc khác
42) Bán thì làm văn tự Không bán thì về (NTT)
43) Không biết thì im lặng mà nghe người khác nói
(2) Khi câu có đề dài, thuyết lại ngắn, ranh giới đề - thuyết khó nhận diện
44) Đôi lưỡng quyền đứng sừng sững trên bờ hai cái hố sâu của má thì bóng
nhẫy (NC)
(3) Trong kiểu câu ngắn, kiểu câu tục ngữ có dạng cô đúc
45) Tham thì thâm Túng thì tính
(4) Khi câu có phần thuyết biểu đạt nội dung tình thái, đã được thành ngữ hóa,
tiêu biểu như: thì thôi, thì chết, thì nguy, thì phải, thì phải biết, thì khốn, thì đâu đến nổi, thì hết chổ nói, thì khỏi phải nói, thì hết xẩy, thì bỏ mẹ,…
46) Người mà đến thế thì thôi,
Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi! (ND)
(5) Khi phần đề đã bị tỉnh lược dựa vào ngôn cảnh hay tình huống
Trang 17(2) Trong các tục ngữ được cấu tạo bằng hai vế đối xứng với nhau, thì cũng có thể
không cần sử dụng
49) Chó treo, mèo đậy
(3) Khi câu có đề khung là đại từ hồi chiếu thế, vậy thay thế sự tình nào đó, thì
cũng không bắt buộc phải dùng
-Lớp này bà ở cho nhà ai?
-Chẳng ở với ai?
50) - Thế (thì) lại đi buôn à?
4 Cách dùng là
Là có nhiều chức năng nhưng ở đây chúng tôi chỉ nêu vai trò chính của là là tác
tử đánh dấu và phân giới đề - thuyết Đối với là ta cần lưu ý những trường hợp sau:
4.1 Bắt buộc dùng là
(1) Trong các kiểu câu luận định, đó là kiểu câu định tính, định lượng, định vị,
đẳng thức và trùng ngôn Trong cách dùng này là là vị từ quan hệ
51) Của rẻ là của ôi (TN)
(2) Trong kiểu câu có thuyết là ngữ đoạn phi vị từ tính (giới ngữ, tiểu cú, tiểu cú
có kết từ đứng trước (có chuyên tố tiền định), danh ngữ xác định, đại từ trực chiếu, hồi
chiếu, khứ chiếu…).Trong kiểu câu này, là là tác tử chuyên dùng vừa đánh dấu phần
thuyết, vừa thuyết hóa ngữ đoạn sau nó Trong những trường hợp này nếu không dùng
là, cấu trúc câu sẽ thay đổi, mơ hồ hay có thể bị xuống cấp, không thành câu
52) Bây giờ chú Vạn không lấy vợ nữa là tại mẹ đấy (DH)
(3) Khi người nói muốn nhấn mạnh nội dung biểu đạt của phần thuyết hay nhấn mạnh cả sự tình trong mối quan hệ đối sánh với sự tình khác đã nêu ra hay được tiền
giả định Trong trường hợp này, là được dùng phối hợp với phó từ tình thái có ý nghĩa
hạn định: chỉ là, chỉ…là, mới là
53) Anh…anh…chỉ là một thằng khốn nạn (NC)
(4) Trong kiểu câu phản bác – cải chính (đối thoại hay độc thoại), là được dùng
để nhấn mạnh phần thuyết biểu đạt nội dung cải chính
54) Bà sợ là sợ cái không khí nặng nề, giữ kẻ lẫn nhau trong gia đình (XT)
(5) Trong kiểu câu có thuyết biểu đạt tình thái, được thành ngữ hóa, tiêu biểu
như: là may, là phúc, là giỏi, là cùng, là cái chắc, là khác, là được…
Trang 1855) Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn thấy được gốc phần là may!
4.2 Không bắt buộc dùng là
(1) Trong kiểu câu có thuyết giải thích nguồn gốc, nguyên quán, quyền sở hữu,
thời gian, nguyên nhân…của sự vật nêu ở phần đề Tất nhiên, khi có là thì ranh giới đề
- thuyết trong các kiểu câu trên rõ ràng hơn, dễ nhận diện hơn
56) Năm nay là năm Tân Mão (có thể bỏ là)
(2) Trong những tục ngữ có cấu trúc đối xứng, gồm hai vế hay nhiều vế song đôi nhịp nhàng
57) Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà (TN)
4.3 Một số trường hợp thì và là có thể thay thế cho nhau
Với chức năng phân giới đề - thuyết, trong một số ngôn cảnh hay tình huống, thì
và là có thể thay thế cho nhau mà cấu trúc cú pháp không bị thay đổi
58) Chắc rễ thì/ là bền cây
4.4 Là được dùng kết hợp với thì
Trong một vài kiểu câu trúc, là còn được dùng phối hợp với thì (=thì là) để đánh
dấu và phân giới đề - thuyết bậc câu, cú Cách dùng phối hợp hai tác tử này làm cho đề
- thuyết được phân giới rõ hơn.
59) Chung quanh ba tòa nhà có vườn hoa thì là một vòng tròn rào găng cao tới
hai đầu người và dày độ hai thước (VTP: GT)
5 Cách dùng mà
Mà có chức năng rất đa dạng, phức tạp, trong đó có chức năng phân giới đề -
thuyết và đánh dấu đề của câu, cú, tiểu cú Với chức năng này, mà có thể bắt buộc dùng hoặc không bắt buộc dùng trong câu Ngoài ra, mà còn được sử dụng với nhiều
chức năng khác
5.1 Bắt buộc dùng mà
(1) Trong kiểu câu mà nếu vắng mà, cấu trúc trở nên mơ hồ hay không thành
câu
60) Rước mừng đón hỏi dò la,
Này trong khuê các đâu mà đến đây (ND)
(2) Trong những câu có đề tài là đại từ phiếm định ai hay danh ngữ phiếm định
63) Ai mà dám phê bình cấp trên của mình
Trang 19(3) Trong kiểu câu phủ định phản bác có sắc thái cảm xúc mạnh Trong kiểu câu
này, mà cũng có tác dụng nhƣ tác tử phủ định Vì thế, nếu không có mà và đƣợc nói
với ngữ điệu lên giọng, kiểu câu này sẽ trở thành câu nghi vấn
Anh nói sai rồi!
61) – Tôi mà nói sai à
(4) Trong kiểu câu có tiểu cú làm đề khung chỉ điều kiện Ngoài chức năng
phân giới đề - thuyết, mà còn có thể đƣợc sử dụng nhƣ là tác tử phủ định Vì thế, nếu
sau mà là phó từ phủ định (không, chẳng) thì cả kết cấu có sắc thái khẳng định mạnh
hơn khi không có mà
62) Con gái mà đẹp người đẹp nết thì chàng trai nào mà chẳng mê
64) Tôi mà là anh, thì tôi đã tống cổ nó ra khỏi nhà
Bên cạnh những chức năng đã nêu trên, mà còn đƣợc dùng với nhiều chức năng
phức tạp khác nhƣ: kết nối chính tố với định tố đứng sau trong danh ngữ, kết nối đề, thuyết hay cú có quan hệ đẳng lập, kết nối ngữ vị từ có quan hệ chính – phụ, …
Ngoài thì, mà, là thì bên cạnh đó đề và thuyết còn đƣợc đánh dấu bằng một số
yếu tố phụ trợ khác nhƣ: này, ấy, nọ, kia,hắn, nó họ, người ta,giá, nếu, mặc dầu, khi, lúc,dạo, phen…đánh dấu thêm phần đề; liền, bèn, lập tức, tức khắc, tức thì, ắt, tất (tất nhiên), chắc, chắc chắn, chắc hẳn, rõ, thật, đích, thật (thực, thiệt), bổng, bổng dưng, đột nhiên, chợt, (bất) thình lình…đánh dấu thêm phần thuyết
III ĐỀ TÌNH THÁI VÀ THUYẾT TÌNH THÁI
Trang 20Đề tình thái có nội dung thể hiện những ý nghĩa tình thái như thể hiện ý nghĩa tình thái mang tính chân lí, thể hiện tính khả năng hay tính tất yếu, thể hiện tính đạo lí, hợp
lí, thể hiện tính hiện, thể hiện tính may rủi, thể hiện tính tích cực hoặc tiêu cực…
Trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu, đề tình thái các bậc có thể được đánh
dấu và phân giới với phần còn lại của câu, cú, tiểu cú bằng ba tác tử ngữ pháp thì, mà,
là, tùy trường hợp cụ thể
1.1 Đề tình thái đi với thì
Đề tình thái đi với thì có 9 nội dung và được biểu đạt bằng các dạng thức:
(1) Thể hiện tính chân thực của sự tình bằng một góc nhìn Các dạng thức biểu
đạt: theo x, theo ý x, theo suy nghĩ của x, theo tin x, theo lời x, đối với x, với x (thì)…
Bên cạnh đó đôi khi còn thể hiện sự khiêm tốn, nhúng nhường Dạng thức
biểu đạt: nếu tôi không lầm, theo thiển ý của tôi, (tôi) thiển nghĩ, (tôi) thiết nghĩ, (tôi) thiết tưởng (thì)…
(2) Cải chính điều được nêu tiếp theo mới là chân thực, chính xác so với nhận định hay sự tình nào đó đã được đưa ra, hay được xem như tiền giả định Các dạng
thức biểu đạt: sự thật, thật sự, thật ra, kể, kể ra, xem ra, nói đúng hơn, nói cho đúng (thì)…
(3) Nhận định điều được nêu tiếp theo mới là hợp lí, hợp lẽ thường, nhưng nó
đã không xảy ra: lẽ ra, lí ra, đáng lí, đúng ra, đúng lí, đáng lẽ, đáng lẽ ra (thì)…
(4) Nhận định điều xảy ra tiếp theo là lẽ tất nhiên, không thể khác đi Nội dung
tình thái này có dạng thức biểu đạt rất đa dạng: Thế nào (thì)….cũng…; Dù sao/ Dẫu sao (thì)…; Dù thế nào (đi nữa) (thì)…cũng/vẫn…; Đàng nào (thì) … cũng…; Trước sau/ Trước sau gì (thì)…cũng…; Sớm muộn/ Sớm muộn gì (thì) …cũng…; Bất luận thế nào (thì)…(cũng)…
(5) Nhận định điều xảy ra là khả năng tối đa hay tối thiểu Các dạng thức biểu đạt khả năng tối đa: may ra, may lắm, quá lắm, giỏi lắm, cao lắm, hết mức, bất quá, cùng lắm, nói cho cùng, bất quá (thì)…;Các dạng thức biểu đạt khả năng tối thiểu: ít nhất, ít ra, kém lắm, chí ít, tệ lắm, tệ nhất (thì)…
(6) Nhận định điều tiếp theo là có cơ may hay nguy cơ xảy ra, nhưng đã không
xảy ra, và điều đó được xem là may mắn hay rủi ro Dạng thức biểu đạt: suýt nữa, suýt chút nữa, tí nữa, một tí nữa, thiếu (một) chút nữa, không khéo, khéo không (thì)…
Trang 21(7) Nhận định sự tình là tích cực hoặc tiêu cực không như ý muốn so với một sự
tình khác được giả định theo ý muốn Dạng thức biểu đạt: đàng này (thì)…
(8) Thể hiện thái độ chấp nhận sự tình được nêu tiếp theo một cách miễn cưỡng,
ngoài ý muốn Dạng thức biểu đạt: thôi thì…
(9) Đưa ra cách nhìn nhận, đánh giá sự tình được nêu tiếp theo Các dạng thức
biểu đạt: nói chung, suy cho cùng, xét cho cùng, về cơ bản, về đại thể (thì)…
Sau đây là một số ví dụ minh họa cho câu có đề tình thái đi với thì:
65) Theo ý tôi thì trẻ con thời buổi này cần được hưởng cả mọi sự giáo
dục.(VTP)
66) Nếu tôi không nhầm thì hiện ngài đang chiếm đoạt vợ con người ta
(VTP:SĐ)
67) Thật ra thì Hồng đâu có ngủ (NC)
68) Đúng lí tôi đã mời cô xuống (NMC)
69) Dù sao hôm nay cũng là ngày nó lấy chồng (DH)
70) Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ (NT)
71) Thật vậy, nếu trắng, ông đã là người Âu, nếu vàng , ông đã là người Á, nếu đỏ, ông đã là người Mĩ, nếu nâu, ông đã là người Úc, và nếu đen, ông đã là người
Phi Đàng này ông lại xanh xanh, đích là thứ da của chủng tộc người nghiện (NCH:
BĐC)
72) Một lần sau trước cũng là,
Thôi thì khuất mặt chẳng thà lòng đau! (ND)
1.2 Đề tình thái đi với mà
Đề tình thái đi với mà có 11 nội dung và đươc biểu đạt bằng các dạng thức: (1) Đánh giá điều được nêu tiếp theo là may mắn xét trong mối quan hệ với
tình huống Các dạng thức biểu đạt thường gặp: may, cũng may, may sao (mà)…
(2) Thể hiện sự phỏng đoán tính khả năng và đánh giá khả năng của sự tình được nêu tiếp theo là điều tích cực hay tiêu cực xét trong mối quan hệ với tình huống
Các dạng thức biểu đat: may ra, chẳng may, chẳng may ra, lỡ, nhỡ, ngộ nhỡ, nhỡ ra, rủi, kẻo, khéo, không khéo, khéo không (mà)…
(3) Thể hiện sự hoài nghi về tính chân thực Các dạng thức biểu đạt: lẽ nào, có
lẽ nào (mà)…
Trang 22(4) Thể hiện sự phủ định tính hợp lí của điều đƣợc nêu tiếp theo Các dạng
thức biểu đạt: hơi đâu, cớ chi, hà cớ gì, can chi (mà)…
(5) Thể hiện sự phủ định tính chân thực của sự tình đƣợc nêu tiếp theo Nội
dung tình thái này đƣợc biểu đạt bằng hàng loạt dạng thức: dễ gì, làm sao, làm gì, biết đâu, biết thế nào, chẳng biết thế nào, chẳng biết đâu, đời nào, mấy đời, có đời nào, chả đời nào, chẳng đời nào, không đời nào, không khi nào, có khi nào, chả mấy khi, chưa bao giờ, không bao giờ, chả bao giờ, chẳng bao giờ, có bao giờ (mà)…
(6) Thể hiện sự nhận định sự tình nêu ra tiếp theo là không rõ lí do hay có
nguyên do nào đó Các dạng thức biểu đạt nội dung tình thái không rõ lí do: khi không, bổng không, tự nhiên, không hiểu sao, không hiểu tại sao, chẳng hiểu vì sao, chẳng hiểu vì lẽ gì (mà)… Dạng thức biểu đạt nội dung tình thái có nguyên do nào đó: không dưng, không phải ngẫu nhiên (mà)…
(7) Thể hiện sự nhận định sự tình đƣợc nêu tiếp theo là một phát hiện tình cờ,
nhờ biết đƣợc nguyên nhân của nó Các dạng thức biểu đạt: hèn chi, hèn gì, hèn nào, thảo nào (mà)…
(8) Thể hiện sự nhận định sự tình hay sở thuyết đƣợc nêu tiếp theo là không
hợp lí, không cần thiết phải thực hiện Các dạng thức biểu đạt: tội tình gì, tội gì, dại gì, không dại gì, không dại dột gì, việc gì, cần gì, hơi đâu, hơi sức đâu, can chi (mà)…
(9) Thể hiện sự giả định về tính hiện thực của sự tình hay sở thuyết đƣợc nêu
tiếp theo, kèm theo thái độ tiếc rẻ: phải chi (mà), giá (mà)…
(10) Thể hiện sự tình hay sở thuyết đƣợc nêu tiếp theo là điều tùy nghi, tùy
thích thực hiện, không bi hạn chế Các dạng thức biểu đạt: tha hồ, mặt sức (mà)…
(11) Khẳng định điều đƣợc nêu tiếp theo là chân thực hay là khả năng cùng
cực Dạng thức biểu đạt: có mà
Sau đây là một số ví dụ minh họa cho câu có đề tình thái đi với mà:
73) May mà mày không bỏ mạng đấy (NCH)
74) Hơi đâu mà anh lo chuyện hàng xóm
75) Có làm thì mới có ăn,
Không dưng ai dễ đem phần đến cho (CD)
76) Dại gì mà tha thằng ăn cắp (NCH)
77) Phải chi tôi nghe lời cha mẹ thì đâu đến nổi
78) Phen này độc lập rồi, tha hồ mà kiến thiết (NĐT)
Trang 2379) Họ mà tóm được ai thì có mà chạy lên trời (NC)
1.3 Đề tình thái đi với là
Đề tình thái đi với là có 16 nội dung và đươc biểu đạt bằng các dạng thức sau:
(1) Khẳng định tính chân thực, các dạng thức biểu đạt thường gặp: quả, thật (thực), quả thật, thật quả, sự thật, thú thật, kì thực/ thật, đích thực, đúng, quả tình, thật tình, thiệt tình, rõ, thật rõ, rõ ràng, phải nói, có thể nói, có thể gọi, phải thừa nhận, phải công nhận (là)…
(2) Phỏng đoán về tính chân thực của sự tình với nhiều mức độ khác nhau
Các dạng thức biểu đạt thường gặp: chắc, đâu như, không chừng, họa là, họa chăng, phải chăng, không khéo, dễ thường, không loại trừ, dường như, hình như, chừng như,
cơ chừng, ý chừng, có lẽ, có thể, có vẻ (là)…
(3) Nêu lên sự hoài nghi về tính chân thực của sự tình được nêu tiếp theo:
chẳng hiểu, chả hiểu, chẳng hiểu, chẳng rõ, chẳng hay, chưa biết, chưa biết chừng (là)…; biết (là/ rằng)…có…không?
(4) Nhận định điều được nêu tiếp theo là kết quả hay khả năng tối thiểu có
thể đạt được Các dạng thức biểu đạt: ít nhất, ít ra, tệ lắm, kém lắm, chí ít, tệ nhất (là)…
(5) Nhìn nhận điều được nêu tiếp theo là nguyên nhân đích thực hay ý nghĩa
của điều gì đó đã được nêu ra Các dạng thức biểu đạt: chả, chẳng qua (là)…
(6) Khẳng định tính tất yếu của sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo Các
dạng thức biểu đạt thường gặp: tất nhiên, dĩ nhiên, đương nhiên, cố nhiên, quả, quả nhiên, lẽ tất nhiên, ắt, ắt hẳn, hẳn, chắc hẳn, đã đành (là)…
(7) Nhấn mạnh tính tất yếu của sự tình được nêu tiếp theo, qua đó khẳng định
tính chân thực của một sở thuyết hàm ẩn Các dạng biểu thức: nữa là, huống chi, huống gì, nói gì, nói gì, nói chi (là)…
(8) Phủ định tính chân thực, tính hợp lí của sự tình hay sở thuyết được nêu
tiếp theo Các dạng thức biểu đạt: vị tất, không nhất thiết, chưa chắc, chưa hẳn, không hẳn, không lẽ, chẳng lẽ, chã nhẽ, còn đâu (là)…
(9) Đánh giá sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là ưu điểm hay ưu điểm tuyệt đối so với một sự tình khác được nêu ra hay được tiền giả định Các dạng thức
biểu đạt: tốt hơn, tốt hơn thế, tốt hơn cả, còn gì hơn, hay nhất, cần nhất, cần hơn nữa, thà, chẳng thà (là)…
Trang 24(10) Nhận định sự tình được nêu tiếp theo là điều bất ngờ, không lường trước
được Các dạng thức biểu đạt: không ngờ, thật không ngờ, đâu ngờ, ai ngờ, đâu ai ngờ, có ai ngờ, ai dè, dè đâu (là)…
(11) Nhìn nhận sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo như một điều kiện duy
nhất chấp nhận được Các dạng thức biểu đạt: miễn, miễn sao, chỉ xin một điều (là)…
(12) Nhìn nhận sự tình tiếp theo là một phát hiện bất ngờ hay là ý nghĩa một sự
tình khác Các dạng thức biểu đạt: té ra, hóa ra, thì ra (là)…; số là…
(13) Nhận định sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là điều bất thường mà
người nói muốn nhấn mạnh Các dạng thức biểu đạt: thậm chí, đến nổi, đâu đến nổi, không đến nổi (là)…
(14) Biểu thị thái độ chấp nhận miễn cưỡng sự tình được nêu tiếp theo như là giải pháp tình thế, hay nhìn nhận sự tình, sở thuyết được nêu tiếp theo là ý nghĩa của
sự tình hay sở đề đã được nêu ra Dạng thức biểu đạt: âu, âu cũng, coi như, cầm bằng, chẳng qua, chả trách (là)…
(15) Đánh giá sự tình hay sở thuyết được nêu tiếp theo là tích cực hay tiêu cực
xét trong mối quan hệ với tình huống cụ thể Dạng thức biểu đạt: có điều, chỉ có điều, được (một) cái, chết cái, mắc cái, ngặt cái, khốn nổi, khổ nổi, hiềm một nổi, chết một nổi, hiềm một nổi, ác một nổi, chết một nổi, chỉ tiếc một điều (là)
(16) Dẫn nhập một nhận định mang tính chất đúc kết, tổng kết Các dạng thức
biểu đạt: rốt cuộc, chung quy, kết cục, kết quả, vị chi, nói tóm lại (là)…
Sau đây là một số ví dụ minh họa cho câu có đề tình thái đi với là:
80) Có con mà lại không nhận con thì thật là phạm một tội đại ác (VTP:TN) 81) Lúc nãy hình như cô ả có đem một cái ghế đẩu đi theo Nhưng vậy chắc là
ra ngồi chơi mát ngoài vườn (VTP:GT)
82) Chẳng qua là câu chuyện đặt cho vui để trêu chọc chị thôi (NK)
83) Mày làm gì có nhiều tiền thế này? Hẳn là tiền buôn thuốc phiện
lậu.(NCH:TN)
84) Vợ anh như ngọc như ngà,
Anh còn tình phụ nữa là thân tôi (CD)
85) Và người con gái tôi yêu nơi làng quê Có ai ngờ chân lấm bùn mà tôi ngỡ gót chân tiên (AT)
86) Không hề gì Miễn là nàng cứ để tay thế mãi (NCH)
Trang 2587) Thì ra hắn định đến đây nằm vạ (NC)
88) Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm (NTT:TĐ)
1.4 Đề tình thái được cấu tạo bắng tiểu cú
Ngoài những dạng đã nêu trên, đề tình thái còn được cấu tạo bằng tiểu cú, gồm
hai hình thức sau:
(1) Tiểu cú có đề tài là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, có thể ẩn, và thuyết là vị
từ biểu thị hoạt động nói năng, tri giác, nhận thức, cam kết, thề thốt, hay vị từ biểu thị tâm trạng, được dùng với nghĩa hiện tại: tôi nghĩ, tôi biết, tôi hiểu, tôi cho, tôi thấy, tôi lấy làm tiếc, tôi tưởng, tôi tiếc, tôi ngờ, tôi không ngờ… (là)…Kiểu kết cấu tình thái
này có thể được phân giới với phần còn lại của câu bằng là hay rằng Nội dung tình
thái chủ quan của dạng thức biểu đạt này là người nói chịu trách nhiệm về tính chân thực, tính hợp lí của sự tình được nêu tiếp theo
89) Cháu nghĩ vợ chồng cậu Nghĩa chẳng có tội tình gì mà phải chịu khổ
(NTT)
(2) Tiểu cú có đề tài là đại từ nhân xưng hay danh từ đại từ hóa, được dùng ở
ngôi thứ hai; thuyết là một số vị từ hay tổ hợp vị từ biểu thị hoạt động tri giác, nhận thức, tiêu biểu như: tính, xem, coi, nghĩ, nghĩ coi, nghĩ xem…
90) Chú thử nghĩ xem, tôi đâu có độc ác dã man gì (NTNT)
bằng thì, mà, là Các tác tử này bắt buộc phải có mặt, kết hợp song đôi với vị từ, ngữ
vị từ đứng sau, tạo thành một tổ hợp cố định Trong ba tác tử này, thì, là được dùng thường xuyên hơn, mà chỉ xuất hiện trong một vài tổ hợp Ngoài ra, thuyết tình thái còn được đánh dấu bằng các yếu tố phụ trợ: cũng, mới
Thuyết tình thái có thể thuộc nhiều bậc: câu, cú hay tiểu cú
Thuyết tình thái có nội dung thể hiện những ý nghĩa tình thái sau:
Trang 26- Thuyết tình thái chỉ tính khả năng (thì phải, là hết mức, là nhiều, là hết sức, là thường…)
- Thuyết tình thái chỉ tính hiện thưc (thì có, thì thôi, là khác, là đằng khác…)
- Thuyết tình thái chỉ tính chân lí (hợp lí, đạo lí) (thì tốt, thì hơn, thì tốt hơn, thì đúng hơn, thì hợp lí hơn, thì chết, thì nguy, thì khốn…)
- Thuyết tình thái chỉ tính tất yếu (là chắc, là cái chắc, là may, là phúc, là quý, )
2.1 Thuyết tình thái đi với thì
Thuyết tình thái được đánh dấu bằng thì chỉ tính hiện thực, tính chân lí, tính khả
năng thường gặp những tổ hợp sau đây: thì phải, thì có, thì đã hẳn, thì tốt, thì hơn, thì chết, thì khốn, thì nguy, thì khổ, thì hỏng bét, thì lạ thật, thì phải biết, thì khỏi phải nói, thì khỏi chê, thì thôi, thì đã đành, thì chớ, thì hết xẩy,…
91) Người mà đến thế thì thôi,
Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi (ND)
2.2 Thuyết tình thái đi với là
Thuyết tình thái được đánh dấu bằng là chỉ tính khả năng, tính hiện thực, tính
chân lí, tính tất yếu thường gặp là một số tổ hợp sau: là khác, là đằng khác, là cùng, là hết mức, là hết sức, là hơn, là phải, là cái chắc, là may, là phúc, là quý, là được, là hết ý…
92) Rộng thương còn mảnh hồng quần,
Hơi tàn được thấy gốc phần là may! (ND)
Ngoài các yếu tố trên, thuyết tình thái còn có thể đi cùng với các yếu tố khác như:
phó từ tình thái: mới, cũng tạo thành các tổ hợp (mới phải, mới lạ, mới tuyệt, mới chết,
mới vừa, mới gay, mới phiền (chứ)…, cũng phải, cũng được, cũng không được, cũng đành, cũng đành chịu, cũng nên, cũng chả sao, cũng chưa biết chừng…); phó từ khẳng
Trang 27Chương hai:
KHẢO SÁT TÁC TỬ THÌ, MÀ, LÀ TRONG TRUYỆN KIỀU
CỦA NGUYỄN DU
I Giới thiệu văn bản khảo sát
Truyện Kiều của Nguyễn Du từ xưa đến nay được biết đến là một tinh hoa, một
kiệt tác văn chương của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung Và Nguyễn Du –
tác giả của Truyện Kiều cũng được mệnh danh là “đại thi hào của dân tộc Dựa trên
nền kiến thức chung mà chúng tôi đã nêu ra ở chương đầu của luận văn, ở chương này
chúng tôi sẽ đi sâu vào khảo sát, tìm hiểu và thống kê việc sử dụng tác tử thì, mà, là
trong Truyện Kiều – một tác phẩm thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Du Qua đó nêu lên
giá trị các yếu tố này khi chúng được sử dụng trong tác phẩm và khẳng định thêm cái
tài của Nguyễn Du trong việc sử dụng ngôn ngữ trong Truyện Kiều
Nguyên bản tác phẩm Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều Truyện của
Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc Hiện nay, ở Việt Nam lưu truyền rất nhiều dị bản của tác phẩm này nên cũng có nhiều sự khác biệt về câu chữ
Trong luận văn này chúng tôi tiến hành khảo sát toàn bộ Truyện Kiều, văn bản lấy từ Tác phẩm văn học trong nhà trường của Nhà xuất bản Văn Học xuất bản năm
2006 do Đào Duy Anh khảo chứng, hiệu đính và chú giải
II Vấn đề phân định câu
Câu thơ thường không tương ứng với câu ngữ pháp, vì sự vần điệu và hạn chế số lượng chữ nên câu thơ thường sử dụng biện pháp đảo trật tự các thành tố trong câu, tỉnh lược các từ công cụ, hay một vài thành phần trong câu như chủ ngữ, trạng ngữ,…
sử dụng thiếu hoặc thừa dấu câu (đây có thể là do nhà in khi biên tập lại để xuất bản họ
tự thêm vào)…
Trong một văn bản thơ để có thể xác định câu ngữ pháp hoàn chỉnh chúng ta dựa vào sự hoàn chỉnh của nội dung sự tình và cấu trúc cú pháp và có ba trường hợp có thể xảy ra:
- Một câu thơ tương ứng với một câu ngữ pháp
- Nhiều câu thơ kết hợp lại tương ứng với một câu ngữ pháp
Trang 28- Một câu thơ tương ứng với nhiều câu ngữ pháp ( trường hợp này rất hiếm) Trong thơ chúng ta rất ít gặp trường hợp một câu thơ tương ứng với một câu ngữ pháp và càng hiếm gặp trường hợp một câu thơ tương ứng với nhiều câu ngữ pháp Chúng ta chỉ thường gặp nhiều câu thơ kết hợp lại mới tương ứng với một câu ngữ pháp hoàn chỉnh, mang đầy đủ nội dung ý nghĩa Nên trong đề tài luận văn này, chúng tôi quy ước tự sử dụng những dấu chấm, dấu phẩy để phân định câu thơ thành câu ngữ pháp hoàn chỉnh về nội dung và cấu trúc cú pháp để tiện cho việc phân tích, giải thích
Và những chữ thì, mà, là được đặt trong ngoặt đơn là do người viết tự thêm vào để
việc nhận diện cấu trúc câu được thuận tiện hơn
III Khảo sát, thống kê và phân loại tác tử thì, mà, là trong Truyện Kiều
Qua sự khảo sát và tìm hiểu của chúng tôi thì trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
thì, mà, là xuất hiện rất phổ biến Theo chúng tôi thống kê thì có tổng số 355 thì, mà,
là xuất hiện trong toàn văn bản Truyện Kiều Trong đó có 290 lần các tác tử này được
dùng với chức năng đánh dấu đề, đánh dấu thuyết, đánh dấu đề tình thái hoặc thuyết
tình thái của câu Sau đây là phần thống kê về việc sử dụng thì, mà, là trong Truyện Kiều của Nguyễn Du theo từng tác tử thì, mà, là Trong mỗi trường hợp chúng tôi chỉ
nêu ra một vài câu ví dụ tiêu biểu, phần thống kê cụ thể sẽ được nêu trong phần phụ
lục phía sau (Lưu ý: Chúng tôi khôngn nêu ra phần thống kê những câu có thì, mà, là
xuất hiện nhưng được dùng với chức năng khác)
1 Câu dùng tác tử thì
Theo chúng tôi khảo sát thì trong Truyện Kiều của Nguyễn Du tác tử thì được
sử dụng khá nhiều, xuất hiện 100 lần với chức năng đánh dấu và phân chia biên giới đề
- thuyết, đánh dấu đề tình thái và đánh dấu thuyết tình thái của câu
1.1 Thì đánh dấu đề
Thì được dùng đánh dấu đề xuất hiện 25 lần trong Truyện Kiều Sau đây là những câu tiêu biểu trong Truyện Kiều có phần đề được đánh dấu bằng thì:
(1) Chiếc thoa với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ, vật này (thì) của chung
Trong câu (1), thì được dùng đánh dấu phần đề, đề là đề tài, “duyên này” được
đối sánh với “vật này”
Trang 29(Bề ngoài mười dặm trường đình, Vương ông mở tiệc tiễn hành đưa theo)
(2) Ngoài thì chủ khách dập dìu,
Một nhà huyên với một Kiều ở trong
Trong câu (2), thì được dùng đánh dấu phần đề, đề là đề khung chỉ không
gian, “ngoài” ở đây được đối sánh ngầm với “trong”
(3) Bên thì mấy ả mày ngài, Bên thì ngồi bốn năm người làng chơi
Giữa thì hương án hẳn hoi, Trên (thì) treo một tượng trắng đôi lông mày
Trong câu (3), thì được dùng đánh dấu phần đề đối sánh giữa các cú với nhau,
đề là đề khung chỉ không gian
(Lầu xanh quen thói xưa nay)
(4) Nghề này thì lấy ông này tiên sư
Trong câu (4), thì được dùng đánh dấu phần đề, đề là đề tài, “nghề này” ở đây
được đối sánh ngầm với “nghề khác”
(5) Ở ăn thì nết cũng hay, Nói điều ràng buộc thì tay cũng già
Trong câu (5), thì được dùng đánh dấu phần đề trong hai cú đối sánh nhau,
đề là đề tài
(6) Sinh thì gan héo ruột đầy,
Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng
Trong câu (6), thì được dùng đánh dấu phần đề, đề là đề tài, “Sinh” được
đối sánh với một đề tài khác đã được tiền giả định (ở đây có thể là “người khác”)
(Trong quân có lúc vui vầy, Thong dong mới kể sự ngày hàn vi:)
Trang 30(7) Khi Vô tích khi Lâm Tri,
Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương
Trong câu (7), thì được dùng đánh dấu phần đề trong hai vế đối sánh nhau,
có đề là đề khung chỉ không gian
(Khen cho: Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.)
(8) Tha ra thì cũng may đời, Làm ra thì cũng là người nhỏ nhen
Trong câu (8), thì được dùng đánh dấu phần đề trong hai cú đối sánh nhau
có đề là đề khung chỉ điều kiện
(9) Nàng thì thật dạ tin người,
Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu
Trong câu (9), thì được dùng đánh dấu phần đề, đề là đề tài, “nàng” ở đây
được đối sánh ngầm với “người khác”
Phận sao bạc bấy Kiều nhi!
(10) Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?
Trong câu (10), thì được dùng đánh dấu phần đề, đề là đề tài, “con” ở đây
là Thúy Kiều, được đối sánh với “chàng Kim” (Kim Trọng) đã được nêu ra phía trước
Tóc tơ các tích mọi khi,
(11)Oán thì trả oán, ân thì trả ân
Trong câu (11), thì được dùng đánh dấu phần đề trong hai cú đối sánh
Trang 31Trong câu (12), thì được dùng đánh dầu phần đề hai cú đối sánh nhau, đề là
đề khung chỉ điều kiện
Nghe chàng nói đã hết điều,
(13) Hai thân thì cũng quyết theo một bài
Trong câu (13), thì được dùng đánh dầu phần đề Câu có đề là đề tài, “hai
thân” được đối sánh ngầm với “người khác”
1.2 Thì đánh dấu thuyết
Thì được dùng đánh dấu thuyết xuất hiện 58 lần Sau đây là những câu
tiêu biểu trong Truyện Kiều có phần thuyết được đánh dấu bằng thì:
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
(14) Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha
Trong câu (14), thì được dùng đánh dấu phần thuyết làm thuyết trong câu,
phần thuyết có đề là đề khung chỉ điều kiện không mang tính đối sánh
(15) Thương sao cho vẹn thì thương, Tính sao cho trọn mọi đường thì vâng
Trong câu (15), thì được dùng đánh dấu phần thuyết trong hai cú đối sánh
nhau có đề là đề khung chỉ điều kiện
(Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe cũng nức tiếng nàng tìm chơi.) (16) Thuyền tình vừa ghé tới nơi,
Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ!
Trong câu (16), thì được dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ thời gian (thuyết đã được đảo trật tự cú pháp)
(17) Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau
Trong câu (17), thì được dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện
Trang 32(18) Mai sau dù có bao giờ, Đốt lò hương ấy so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Trong câu (18), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện, phần đề đã đƣợc phức tạp hóa
Mụ càng tô lục chuốt hồng,
(19) Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê
Trong câu (19), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện
( Tiểu thư vội thét: Con Hoa!)
(20) Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn
Trong câu (20), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện, thuyết đƣợc phức tạp hóa một bậc cấu trúc đề - thuyết, có đề là đề tài (ta)
(Xem người định giá vừa rồi,)
(21) Mối hàng một đã ra mười thì buông
Trong câu (21), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện
(22) Tiệc bày thưởng tướng khao binh,
Thì thùng trống trận rập rình nhạc quân
Trong câu (22) thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung chỉ
cảnh thời gian, phần thuyết đã đƣợc đảo trật tự cú pháp
(23) Rằng: Tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
Trong câu (23), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện
Trang 33(Đạm Tiên nàng nhé có hay!)
(24) Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta
Trong câu (24), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện
(25) Thổ quan theo vớt vội vàng,
Thì đà đắm ngọc chìm hương hương mất rồi!
Trong câu (25), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ thời gian, phần thuyết đƣợc phức tạp hóa một bậc cấu trúc đề - thuyết và đã đƣợc đảo trật tự cú pháp
( Người yêu ta xấu với người,)
(26) Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau!
Trong câu (26), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện
(27) Ăn năn thì sự đã rồi!
Nể lòng người cũ vâng lời một phen
Trong câu (27), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện, thuyết đƣợc phức tạp hóa một bậc cấu trúc đề - thuyết
(Lỡ chân trót đã vào đây, Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non)
(28)Người còn thì của hãy còn
Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà
Trong câu (28), thì đƣợc dùng đánh dầu phần thuyết Câu có đề là đề khung
chỉ điều kiện
1.3 Thì đánh dấu đề tình thái
Ngoài chức năng đánh dấu đề - thuyết, thì còn đƣợc sử dụng trong việc
đánh dấu và thể hiện nội dung đề tình thái của câu Trong Truyện Kiều thì đánh dấu đề
Trang 34tình thái xuất hiện 8 lần, sau đây là những câu tiêu biểu trong Truyện Kiều có đề tình
thái được đánh dấu bằng thì:
(29) Một lần sau trước cũng là,
Thôi thì mặt khuất, chẳng thà lòng đau!
Trong câu (29), “thôi thì” đánh dấu đề tình thái thể hiện thái độ chấp
nhận hiện thực một cách miễn cưỡng, ngoài ý muốn, là một sự cam chịu trước số phận
dù là đau buồn
(30) Nay cha làm lỗi duyên mày,
Thôi thì nỗi ấy sau này đã em!
Trong câu (31), “thôi thì” đánh dấu đề tình thái thể hiện thái độ chấp
nhận hiện thực một cách miễn cưỡng, ngoài ý muốn, là một sự cam chịu trước số phận
(32) Dâu con trong đạo gia đình,
Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong!
Trong câu (32), “thôi thì” đánh dấu đề tình thái thể hiện thái độ chấp
nhận hiện thực một cách miễn cưỡng, ngoài ý muốn
(Tiểu thư rằng: ý trong tờ, Rắp đem mệnh bạc xin nhờ cửa không.)
(33) Thôi thì thôi cũng chiều lòng,
Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra
Trong câu (33), “thôi thì thôi” đánh dấu đề tình thái thể hiện thái độ chấp
nhận hiện thưc, chấp nhận sự tình tiếp theo một cách miễn cưỡng, ngoài ý muốn, là một sự cam chịu trước số phận
(34) Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi!
Trong câu (35), “thôi thì” đánh dấu đề tình thái thể hiện thái độ chấp nhận hiện thực một cách miễn cưỡng, ngoài ý muốn, là một sự cam chịu trước số phận, “thì
Trang 35thôi” đánh dấu thuyết tình thái của câu thể hiện tính hiện thực, hạn định tính chân
thực, thái độ chấp nhận hiện thực dù là buồn đau và phủ phàng
(36) Thôi thì một thác cho rồi,
Tấm lòng phó mặc trên đời dưới sông!
Trong câu (37), “thôi thì” đánh dấu đề tình thái thể hiện thái độ chấp nhận
sự tình được nêu tiếp theo một cách miễn cưỡng, ngoài ý muốn, là một sự cam chịu trước số phận
1.4 Thì đánh dấu thuyết tình thái
Bên cạnh việc đánh dấu đề tình thái, thì cũng được sử dụng để đánh dấu
thuyết tình thái Thì đánh dấu thuyết tình thái xuất hiện 9 lần, sau đây là những câu
tiêu biểu trong Truyện Kiều có thuyết tình thái được đánh dấu bằng thì:
(38) Người mà đến thế thì thôi
Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi!
Trong câu (38 ), “thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái thể hiện tính hiện
thực, hạn định tính chân thực, thái độ chấp nhận hiện thực dù là buồn đau và phủ phàng
(39)Biết bao duyên nợ thề bồi,
Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì?
Trong câu (39), “thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái thể hiện tính hiện
thực, thái độ chấp nhận hiện thực dù là buồn đau và phủ phàng
(Rằng: Tôi chút phận đàn bà, Nước non lìa cửa lìa nhà đến đây.) (40) Bây giờ sống thác ở tay,
Thân này đã đến thế này thì thôi!
Trong câu (40), “thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái thể hiện tính hiện
thực, hạn định tính chân thực, thái độ chấp nhận hiện thực dù là buồn đau và phủ phàng.( Thuý Kiều đau xót chấp nhận số phận mình)
Trang 36(Vực nàng vào nghỉ trong nhà,
Mã Kiều lại ngỏ ý ra dặn lời
(41) Thôi đà mắc lận thì thôi!
Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?
Trong câu (41), “thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái thể hiện tính hiện thực
thái độ chấp nhận hiện thực dù là Kiều biết mình đã bị Sở Khanh lừa lọc
(42) Nàng rằng: Thôi thế thì thôi,
Rằng không thì cũng vâng lời rằng không!
Trong câu (42), “thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái thể hiện tính hiện
thực, hạn định tính chân thực, thái độ chấp nhận hiện thực
(43) Khéo là mặt dạn mày dày,
Kiếp người đã đến thế này thì thôi!
Trong câu (43), “thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái thể hiện tính hiện
thực, hạn định tính chân thực, thái độ chấp nhận hiện thực dù là buồn đau và phủ phàng
(44) Nhân duyên đâu lại còn mong,
Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi
Trong câu (44), “thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái thể hiện tính hiện
thực, hạn định tính chân thực, thái độ chấp nhận hiện thực
(45) Một mình cay đắng trăm đường,
Thôi thì nát ngọc tan vàng thì thôi!
Trong câu (45), “thôi thì” đánh dấu đề tình thái thể hiện thái độ chấp
nhận hiện thực một cách miễn cưỡng, ngoài ý muốn, là một sự cam chịu trước số phận,
“thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái của câu thể hiện tính hiện thực, hạn định tính chân
thực, thái độ chấp nhận hiện thực dù là buồn đau và phủ phàng
Trang 37(46) Đời người đến thế thì thôi,
Trong cơ âm cực dương hồi khôn hay
Trong câu (47), “thì thôi” đánh dấu thuyết tình thái thể hiện tính hiện
thực, hạn định tính chân thực, thái độ chấp nhận hiện thực dù là buồn đau và phủ phàng
2 Câu dùng tác tử mà
Tương tự như thì, mà cũng có chức năng đánh dấu và phân chia biên giới đề -
thuyết, đánh dấu đề tình thái và đánh dấu thuyết tình thái của câu Trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du mà cũng được sử dụng khá phong phú và đa dạng Theo chúng tôi khảo sát mà xuất hiện 36 lần với chức năng đánh dầu phần đề, đánh dấu phần thuyết,
đánh dấu đề tình thái và thuyết tình thái trong câu
2.1 Mà đánh dấu phần đề
Mà đánh dấu đề xuất hiện 6 lần, sau đây là những câu tiêu biểu trong
Truyện Kiều có phần đề được đánh dấu bằng mà:
(47) Rằng: Sao trong tiết Thanh minh,
Mà đây hương khói vắng tanh thế này?
Trong câu (47), mà được dùng đánh dấu phần đề, theo ý chủ quan của
người viết thì ngày Thanh minh thì lẽ ra mồ này (mồ của Đạm Tiên) không thể vắng tanh mà phải có người đến viếng, thắp nhang, sự vắng lặng ở đây là một điều bất thường
(Trải bao thỏ lặn ác tà,)
(48) Ấy mồ vô chủ (thì)ai mà viếng thăm!
Trong câu (48), mà được dùng đánh dấu phần đề của tiểu cú làm thuyết
của câu Theo ý chủ quan của người nói thì “mồ vô chủ” thì làm sao mà có người viếng thăm được
(Minh dương đôi ngả chắc rồi,)
(49)Cõi trần mà lại thấy người cửu nguyên!
Trong câu (50), mà được dùng đánh dấu phần đề, theo ý chủ quan của
người viết thì người ở “cõi trần” thì không thể nào thấy được người “cửu nguyên” (tức người đã chết), vì vậy đây được xem là điều bất thường