1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai

130 584 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Để đạt được mục tiêu này, từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn

là trung thực, được các tác giả đồng cho phép sử dụng và chưa

từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào

Tác giả luận văn

Lại Thị Ngọc Duyên

Formatted: Indent: Left: 2 cm, Right: 2 cm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành

lý giáo dục Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế; Ban Giám

hiệu Trường Đại học Đồng Nai, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi

cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu

Kính gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô đã tận tình giảng dạy

đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành

luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn TS Trần Minh Hùng đã tận

tình giúp đỡ dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi

trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này

Xin cảm ơn những tình cảm tốt đẹp, sự động viên khuyến

khích và quan tâm giúp đỡ của các Phòng chức năng, Ban Chủ

nhiệm các khoa, giảng viên, sinh viên của Trường Đại học Đồng

Nai đã cung cấp tài liệu, thông tin giúp tôi hoàn thành luận văn

trong suốt thời gian qua

Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài

luận văn tốt nghiệp bằng tất cả sự tâm đắc, song không thể tránh

khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp chân

tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Chân thành cảm ơn!

Formatted: Line spacing: Multiple 1.3 li Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Bold,

Font color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Trang 4

Đồng Nai, ngày 18 tháng 0 34

năm 2015

Tác giả luận văn

Lại Thị Ngọc Duyên

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Not

Italic, Font color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 16 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 7 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 10 pt, Font

color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Formatted: Font: UTM ViceroyJF, 17 pt, Not

Italic, Font color: Custom Color(RGB(0,0,153))

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ, BIỂU ĐỒ 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 8

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8

4 Giả thuyết khoa học 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 98

7 Phạm vi nghiên cứu 9

8 Cấu trúc luận văn 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 10

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

1.1.1 Ở nước ngoài 10

1.1.2 Ở Việt Nam 12

1.2 Một số khái niệm cơ bản 1413

1.2.1 Quản lý 1413

1.2.2 Quản lý giáo dục 1514

1.2.3 Quản lý nhà trường 1615

1.2.4 Kỹ năng sống 1716

1.2.5 Giáo dục kỹ năng sống 18

1.2.6 Quản lý giáo dục kỹ năng sống 19

1.3 Lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học 2120

1.3.1 Mục tiêu, ý nghĩa kỹ năng sống 2120

1.3.2 Phân loại kỹ năng sống 2221

1.3.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên 2625

Trang 6

1.3.4 Nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 2827

1.3.5 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 2827

1.4 Hiệu trưởng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học 3332

1.4.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng 3332

1.4.2 Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 3433

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống 3635

1.5.1 Các yếu tố khách quan 3635

1.5.2 Các yếu tố chủ quan 3837

Tiểu kết chương 1 4039

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI 4140

2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục của tỉnh Đồng Nai 4140 2.1.1 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Đồng Nai 4140

2.1.2 Tình hình giáo dục và đào tạo của tỉnh Đồng Nai 4241

2.1.3 Khái quát về Trường Đại học Đồng Nai 4342

2.2 Khái quát về quá trình khảo sát 4645

2.2.1 Mục đích điều tra 4645

2.2.2 Số lượng và đối tượng khảo sát 4645

2.2.3 Nội dung khảo sát: 4645

2.2.4 Phương pháp khảo sát, điều tra: 4746

2.3 Thực trạng KNS của sinh viên trường Đại học Đồng Nai 4746

2.3.1 Nhận thức của SV về kỹ năng sống 4746

2.3.2 Thực trạng KNS của sinh viên trường Đại học Đồng Nai 4948

2.3.3 Thực trạng công tác GDKNS cho sinh viên Trường Đại học Đồng Nai 5352

2.4 Thực trạng quản lý GDKNS cho sinh viên Trường Đại học Đồng Nai 6160

2.4.1 Nhận thức của CBQL về việc GDKNS cho sinh viên 6160

2.4.2 Thực trạng quản lý việc lập kế hoạch thực hiện hoạt động GDKNS 6362

2.4.3 Thực trạng quản lý hình thức giáo dục kỹ năng sống 6463

2.4.4 Thực trạng quản lý đội ngũ tham gia giáo dục kỹ năng sống 6665

2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả GDKNS cho SV 6766

2.6 Đánh giá thực trạng 6867

2.6.1 Đánh giá những ưu điểm và hạn chế quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 6867

2.6.2 Nguyên nhân của những hạn chế 6968

Trang 7

Tiểu kết chương 2 7069

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI 7170

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 7170

3.1.1 Đảm bảo tính mục đích 7170

3.1.2 Đảm bảo tính toàn diện 7170

3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả và tính khả thi 7271

3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 7271

3.2 Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Trường Đại học Đồng Nai 7372

3.2.1 Nâng cao nhận thức của lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 7372 3.2.2 Kế hoạch hóa công tác giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 7574

3.2.3 Xây dựng và nâng cao năng lực của đội ngũ giáo dục kỹ năng sống, đặc biệt là đội ngũ Cố vấn học tập 7877

3.2.4 Đa dạng hóa hình thức giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 8079

3.2.5 Đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 8281

3.2.6 Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vất chất phục vụ giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 8483

3.2.7 Thực hiện nghiêm túc kiểm tra, đánh giá, thi đua khen thưởng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên 8685

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý 8786

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 8887

3.4.1 Các bước khảo nghiệm 8887

3.4.2 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 8988

Tiểu kết chương 3 9594

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 9695

1 Kết luận 9695

2 Khuyến nghị 9796

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9998 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BGD & ĐT Bộ giáo dục và đào tạo

2 BGH Ban giám hiệu

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ, BIỂU ĐỒ

BẢNG THỐNG KÊ

Bảng 2.1 Số sinh viên 4443

Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả học tập của sinh viên 4544

Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả rèn luyện của sinh viên 4544

Bảng 2.4: Nhận thức về mức độ cần thiết của KNS đối với SV 4746

Bảng 2.5 Mức độ thực hành KNS 4948

Bảng 2.6 Mức độ tác động/ảnh hưởng của các yếu tố trong việc hình thành KNS 5251 Bảng 2.7 Đánh giá mức độ quan tâm công tác GDKNS cho SV tại trường Đại học Đồng Nai 5352

Bảng 2.8 Nhận thức các KNS cần thiết phải giáo dục cho SV 5453

Bảng 2.9 Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDKNS 5554

Bảng 2.10 Các hình thức GDKNS 5857

Bảng 2.11 Đánh giá của CBQL, GV về nội dung GDKNS cho SV 5958

trường Đại học Đồng Nai 5958

Bảng 2.12 Nhận thức của đội ngũ CBQL về trách nhiệm phải GDKNS cho SV 6160 Bảng 2.13 Nội dung quyết định nâng cao chất lượng GDKNS 6261

Bảng 2.14 Tổng hợp kết quả đánh giá của Trường ĐH Đồng Nai về việc xây dựng kế hoạch năm học của các đơn vị trong trường 6362

Bảng 2.15 Các hình thức GDKNS cho sinh viên Trường Đại học Đồng Nai 6463

Bảng 2.16 Phân công nhiệm vụ cho bộ máy nhân sự tham gia GDKNS cho SV trong Trường Đại học Đồng Nai 6665

Bảng 2.17 Đánh giá về công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDKNS cho SV của Hiệu trưởng Trường Đại học Đồng Nai 6766

Bảng 3.1 Bảng kiểm chứng mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 8988

Bảng 3.2 Bảng kiểm chứng mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 9190

Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 9392

Biện pháp 9392

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Đánh giá của CBQL, GV về nội dung GDKNS cho SV trường Đại học Đồng Nai 60

Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết của các biện pháp quản lý đề xuất 90

Biểu đồ 3.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý GDKNS đã đề xuất 92

Formatted: Font: 3 pt

Trang 10

Biểu đồ 3.3: Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản

lý đề xuất 94

Biểu đồ 2.1 Đánh giá của CBQL, GV về nội dung GDKNS cho SV trường Đại học

Đồng Nai 59

Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết của các biện pháp quản lý đề xuất 89

Biểu đồ 3.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý GDKNS đã đề xuất 91

Biểu đồ 3.3.: Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

quản lý đề xuất 93

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, xu thế hội nhập với xã hội biến đổi, cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học và công nghệ đã làm thay đổi cuộc sống của loài người trên thế

giới Trong bối cảnh đó đòi hỏi con người phải biết ứng phó với sự thay đổi của xã

hội Sự hình thành nền kinh tế tri thức đã đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất

lượng nguồn nhân lực UNESCO đã xác định 4 trụ cột giáo dục của thế kỷ XXI là

con người học để biết, học để làm, để tự khẳng định mình và học để cùng chung

sống Tất cả những điều đó đặt ra cho con người phải có những kỹ năng sống

(KNS) đáp ứng với xã hội luôn thay đổi Vì thế Ngân hàng thế giới gọi thế kỷ XXI

là kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng (Skills Economy) Nghiên cứu của các

nhà khoa học chỉ ra rằng: sự thành công của con người trong cuộc sống và công

việc là 70 - 75% do KNS quyết định, còn lại là do kỹ năng nghề nghiệp KNS được

ví như cây cầu để đưa con người vượt qua dòng sông chứa đầy những rủi ro, nguy

cơ, thách thức, hiểm họa để đến với bến bờ thành công

Trên thế giới, các nước có nền giáo dục tiên tiến, KNS đã được đưa vào

giảng dạy trong nhà trường Nó giúp cho giới trẻ có được những điều kiện tốt để

phát huy tính chủ động sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong

cuộc sống

Ở nước ta, Luật Giáo dục điều 2, chương 1 khẳng định: “Mục tiêu giáo dục

là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,

thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

Formatted: Line spacing: 1.5 lines

Formatted: TOC 1, Tab stops: 15.48 cm,

Right,Leader: …

Trang 11

hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Để đạt được mục tiêu này, từ năm 2001,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện đưa giáo dục KNS cho học sinh thông qua dự án: “Giáo dục sống khỏe mạnh, kỹ năng sống cho trẻ và vị thành niên” với sáng kiến và hỗ trợ của UNICEF Năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáo dục KNS vào một số môn học ở bậc phổ thông Ngày 28 tháng 02 năm 2014 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 04/2014/ TT-BGDĐT Quy định về Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa cho các trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp Điều này cho thấy, ngành giáo dục của nước ta cũng biết được tầm quam trọng của KNS đối với học sinh, sinh viên

Tuy nhiên, thực tiễn xã hội hiện nay, hiện tượng giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng đang thiếu hụt những KNS khá phổ biến Điều đó có thể do điều kiện sống, do giáo dục của nhà trường, do được gia đình nâng niu, chiều chuộng, do cha

mẹ bao cấp làm thay cho con cái Khi sống xa gia đình vì thiếu hụt về KNS nên nhiều sinh viên dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, lối sống ích kỷ, thực dụng, phát triển lệch lạc về nhân cách, không biết kiềm chế cảm xúc của bản thân dẫn đến hành động thiếu suy nghĩ để lại hậu quả đáng tiếc cho bản thân, gia đình và xã hội Đối với sinh viên, KNS không chỉ giúp họ thành công trong học tập, nghề nghiệp tương lai, mà còn giúp họ biết bảo vệ chính mình để có cuộc sống an toàn, định hướng hành động hợp lý cho tương lai, biết làm chủ hoàn cảnh và chinh phục hoàn cảnh Thực tế hiện nay, nhiều sinh viên ra trường mặc dù rất giỏi về chuyên môn, có nền tảng kiến thức vững chắc nhưng lại không thành công trong công việc hoặc không tìm được việc làm tốt vì thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng làm việc nhóm Vì thế, một sinh viên giỏi không chỉ là một sinh viên nhận thức tốt, nói hay mà quan trọng là phải biết hành động đúng Sinh viên thuộc tầng lớp trí thức của xã hội, họ là lớp người năng động, sáng tạo, nhưng rất dễ bị ảnh hưởng bởi các xu hướng, trào lưu của các nền văn hóa khác nhau không phù hợp với văn hóa Việt Nam, đã ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của các em Do đó, họ là những người có đủ nội lực để có thể tiếp tục công cuộc đổi mới này và thúc đẩy nó diễn ra một cách có hiệu quả Để làm được điều

Trang 12

này thì sinh viên cần phải có những KNS nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay

Trường Đại học Đồng Nai là một trường đại học công lập đầu tiên của tỉnh được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập ngày 20/8/2010 trên cơ sở nâng cấp từ trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai, có sứ mệnh đào tào nguồn nhân lực có trình độ, chất lượng cao phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai, khu vực Đông Nam bộ và cả nước Trong những năm qua, bên cạnh việc giáo dục năng lực chuyên môn, nhà trường cũng đã triển khai việc giáo dục KNS cho sinh viên Với nhiều hình thức giáo dục khác nhau, nhà trường đã có nhiều khởi sắc và đạt được những kết quả bước đầu trong giáo dục KNS Tuy nhiên, việc giáo dục KNS hiện nay của nhà trường chưa được như kỳ vọng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan Một trong những nguyên nhân đó là vấn đề quản lý giáo dục KNS còn nhiều hạn chế, bất cập Vì vậy,

tác giả chọn đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

Trường Đại học Đồng Nai” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về giáo dục KNS cho sinh viên

và công tác quản lý giáo dục KNS cho sinh viên của hiệu trưởng, từ đó xác lập các biện pháp quản lý một cách khoa học, hợp lý, khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học

Nếu hiệu trưởng có các biện pháp quản lý giáo dục KNS cho sinh viên khoa học, hợp lý thì sẽ nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho sinh viên Trường Đại học Đồng Nai, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 13

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục KNS cho sinh viên 5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục KNS cho sinh viên tại Trường Đại học Đồng Nai

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với công tác giáo dục KNS cho sinh viên Trường Đại học Đồng Nai

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp sau:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Lấy ý kiến của chuyên gia

Sử dụng các phương pháp điều tra đánh giá, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia, quan sát… nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục KNS cho sinh viên trường Đại học Đồng Nai

6.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học:

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả nghiên cứu

7 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo sát thực trạng và đề ra biện pháp quản lý giáo dục KNS cho sinh viên hệ chính quy của Trường Đại học Đồng Nai

8 Cấu trúc luận văn

Luận văn được cấu trúc thành 3 phần chính:

Phần Mở đầu:

Phần Nội dung: gồm 3 chương

Trang 14

- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học

- Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Trường Đại học Đồng Nai

- Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Trường Đại học Đồng Nai

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở nước ngoài

Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đến mục tiêu phát triển đầy đủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân giúp cho con người có năng lực để sống một cuộc sống có chất lượng và hạnh phúc Xã hội hiện đại luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp và những vấn đề bất định đối với con người Nếu con người không có năng lực để ứng phó vượt qua những thách thức đó và hành động theo cảm tính thì rất đễ gặp rủi ro

Chính vì vậy, vấn đề KNS được quan tâm nghiên cứu nhiều từ thế kỷ XX, đặc biệt trong thời gian gần đây Sở dĩ vấn đề này được quan tâm nghiên cứu nhiều

vì KNS được xác định là nguyên nhân giữ vai trò quan trọng trong sự thành công hay thất bại của cuộc đời mỗi người Có nhiều nghiên cứu được tiến hành ở các nước về những kỹ năng cơ bản góp phần vào sự thành công của công việc, và trong

đó là những KNS Hiện nay, ở các nước, KNS là một nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục từ bậc học mầm non cho đến đại học

Trang 15

Ở các nước như Mỹ, Úc, Canada, Anh, Singapore… KNS đã được chú trọng

và có những cơ quan chuyên trách về việc nghiên cứu đánh giá, đào tạo các KNS cho người lao động từ rất sớm, với mục đích nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện hiệu quả lao động Trong những kỹ năng góp phần vào sự thành công của người lao động, người ta nhấn mạnh đến các KNS như: kỹ năng học và tự học, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn, kỹ năng xây dựng mục tiêu công việc, kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ… Chính vì vậy, ở nhiều nước trên thế giới, KNS đã được đưa vào giảng dạy cho trẻ ngay từ bậc mầm non và tiểu học

Đặc biệt, KNS được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn khi UNESCO

đề cập đến vai trò của KNS trong mục đích học tập thế kỷ XXI: “Học để biết, học

để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” [75] Từ việc xác định mục đích này, UNESCO và Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) đã tiến hành nhiều dự án nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS Tại diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegan (2000), Chương trình hành động Dakar đã

đề ra 6 mục tiêu, trong đó, mục tiêu 3 nói rằng “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp”, trong đó

“người học” ở đây được hiểu từ trẻ em đến người lớn tuổi, “phù hợp” được hiểu là phù hợp với vùng, miền, địa phương và phù hợp với lứa tuổi; còn trong mục tiêu 6

yêu cầu “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá KNS của người học”

Như vậy, KNS trở thành quyền của người học và chất lượng giáo dục phải được thể hiện cả trong KNS của người học”

Tại các nước Đông Nam Á, những nghiên cứu về KNS rất được quan tâm được ưu tiên thực hiện một cách có trọng điểm từ những năm 1998 trở đi như: Giáo dục KNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1997 Nội dung KNS quan tâm đến phòng chống HIV/AIDS được lồng ghép vào chương trình giáo dục chính qui và các trường sư phạm đào tạo giáo viên Từ năm 2001, nội dung KNS được mở rộng ra các lĩnh vực: giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, môi trường… đến năm 2002 nội dung KNS cơ bản được giáo dục là: kỹ năng giao tiếp có hiệu quả, kĩ năng thương lượng, từ chối, kĩ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng ra quyết định

Trang 16

Ở Malaysia việc nghiên cứu và thực hiện giáo dục KNS do Bộ giáo dục sở tại thực hiện Nhiều nhà nghiên cứu ở nước này coi KNS là môn học của cuộc sống

và môn học này được dạy như một môn học ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở

và còn đan xen vào các môn học khác Mục tiêu của môn học này ở trường tiểu học

là cung cấp cho học sinh những kỹ năng thực tế cơ bản cho họ có thể thực hiện các nhiệm vụ và có xu hướng kinh doanh Còn các kỹ năng của cuộc sống ở trường THCS, mục tiêu là tạo ra những cá nhân có thể tự thực hiện, được xóa mù về công nghệ và kinh tế, là người có những đặc điểm và thái độ như: tự tin, sáng tạo, có khả năng tương tác có hiệu quả với những người khác

Ở Thái Lan, việc quan tâm đến KNS khá sớm được thực hiện bởi những tổ chức phi chính phủ và cả những tổ chức giáo dục của Bộ - Ban ngành trong nước Tại đây, họ quan niệm KNS là những thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc

Còn tại Indonexia thì KNS được tập trung nghiên cứu như một khoa học giáo dục KNS được xem như những kiến thức, kỹ năng, thái độ, giúp người học sống một cách độc lập Việc GDKNS sẽ mang đến những lợi ích nhất định: nâng cao cơ hội việc làm cho người học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thực hiện chính sách tự chủ của địa phương, tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt

Và tại Philipine KNS được quan niệm là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày như: Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng đồng cảm, kĩ năng giao tiếp hiệu quả, kĩ năng quan hệ liên nhân cách, kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề…

1.1.2 Ở Việt Nam

Trước những năm 1990, sinh viên và học sinh đã được trang bị những kiến thức nhất định để sống, làm việc Điều đó cho thấy không phải việc nghiên cứu KNS chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây nhưng những nghiên cứu ấy vẫn chưa được gọi chính thức như nghiên cứu về KNS Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996), “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và

Trang 17

ngoài nhà trường” [5, tr.64] Quan niệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này bao gồm những kỹ năng cốt lõi: tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, kiên định, đặt mục tiêu… do các chuyên gia Úc tập huấn Tham gia chương trình này có ngành giáo dục và Hội Chữ thập đỏ

Đầu những năm 1990, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có văn bản chỉ đạo tại Quyết định 1363/TTg về việc “đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” Văn bản này đề cập việc trang bị những kỹ năng ứng xử với môi trường, thái độ sống biểu hiện ban đầu của KNS Tiếp đến là Chỉ thị số 10/GD&ĐT năm 1995 hay Chỉ thị 24/CT&GD năm 1996 của Bộ Giáo dục và đào tạo đã có những chỉ đạo về công tác phòng chống HIV/AIDS hay tăng cường công tác phòng chống ma túy tại trường học Đây cũng là hướng đề cập đến những kỹ năng cần có của học sinh như: từ chối, bảo vệ bản thân, ứng xử với người có HIV…

Sang giai đoạn 2, chương trình này mang tên “Giáo dục kỹ năng sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” Ngoài ngành giáo dục, còn có hai tổ chức chính trị xã hội tham gia là Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Trên cơ sở đó, quan niệm về kỹ năng sống cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn Ví dụ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đưa ra những kỹ năng sống cơ bản như: kỹ năng ra quyết định, kỹ năng thương thuyết, kỹ năng đàm phán, kỹ năng trình bày…

Tuy vậy, cũng có nhiều quan điểm hạn chế về kỹ năng sống như cho rằng những KNS đó cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội Nghĩa

là kỹ năng sống chỉ dành cho một nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, mà không phải là cần cho mọi người Cũng có quan điểm cho rằng với những kỹ năng đó, con người có thể vận dụng vào giải quyết những vấn

đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống của từng đối tượng

Còn có cách hiểu khác cho rằng trong số những KNS cốt lõi đó thì có những

kỹ năng cần thiết hơn cho đối tượng sống trong các hoàn cảnh xã hội khác nhau, chẳng hạn như: đại diện đoàn Thanh niên thì cho rằng kỹ năng kiên định đối với thanh niên thành phố thì cần ở mức độ cao hơn so với thanh niên ở vùng nông thôn

Vì vậy, KNS được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học Việt Nam trong thời gian gần đây với những công trình nghiên cứu được triển khai ở các cấp, dưới nhiều góc độ khác nhau Tiêu biểu có tác giả Nguyễn Thanh

Trang 18

Bình, Nguyễn Quang Uẩn, Huỳnh Văn Sơn, Đào Thị Oanh và những nghiên cứu có hướng xác định những kỹ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia như là: “Cẩm nang tổng hợp kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên” của tác giả Phạm Văn Nhân; “Kĩ năng thanh niên tình nguyện” của tác giả Trần Thời [36]

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Từ buổi sơ khai khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những hoạt động phối hợp chung thì việc lãnh đạo, tổ chức, quản lý xuất hiện như một nhu cầu tất yếu

Theo Harold Koontz trong tác phẩm “những vấn đề cốt yếu của quản lý”, người được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại khẳng định: Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nổ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một

môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Cách thức quản lý giống như mọi lĩnh vực thực hành khác đều là nghệ thuật Kiến thức làm cơ sở cho quản lý là một khoa học, còn vận dụng kiến thức đó để quản lý lại là nghệ thuật

Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn Con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ

đến phạm vi rộng lớn hơn C.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[19, tr.5]

Theo tác giả Bùi Minh Hiền xét quản lí với tư cách là một hành động, có thể

khẳng định:“Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra” [16, tr.12]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lí là những tác động có hướng đích của chủ thể quản lý và những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức” [21, tr.9]

Trang 19

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, nhưng khái quát chung lại có thể hiểu:

Quản lý là một khoa học mang tính nghệ thuật; là một quá trình thực hiện kế hoạch đã đề ra có tính hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong điều kiện môi trường luôn luôn biến đổi, bằng cách vận dụng chức năng quản lý (tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá) nhằm đạt được mục tiêu đề ra

1.2.2 Quản lý giáo dục

Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội, vĩnh hằng thì cũng có thể nói như thế

về quản lí giáo dục Như đã biết, mục đích giáo dục cũng chính là mục đích của quản lí Đây là mục đích có tính khách quan vận động và phát triển với tư cách là một hệ thống

Vì thế, thuật ngữ “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lí, nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm là hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất” [76]

Theo Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Ngọc Uyển: “Quản lí giáo dục và đào tạo có thể được hiểu là hoạt động quản lí những tác động giáo dục và đào tạo, theo những mục tiêu xác định Đó là hoạt động có tính mục đích, được tổ chức một cách khoa học của hiệu trưởng nhằm tổ chức, chỉ đạo một cách khoa học các hoạt động giáo dục và đào tạo trong nhà trường, hướng vào đạt được những mục tiêu đã định” [8, tr.42]

Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách

có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [21, tr.10]

Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lí giáo dục là hệ thống hoạt động, điều hành, phối hợp, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý, đến khách thể quản lý nhằm điều khiển các thành tố vận hành tối ưu đúng theo chức năng, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất

Trang 20

1.2.3 Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ Cho nên, quản lý nhà trường không chỉ là trách nhiệm riêng của người hiệu trưởng, mà

là trách nhiệm chung của tất cả các thành viên trong nhà trường

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định

vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là qui định chức năng, quyền hạn, nghĩa

vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội” [21, tr.258]

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế

hệ trẻ và với từng học sinh” [13]

Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng (principal) đến con người (giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin v.v…), hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.v…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục” [15]

Hoạt động trọng tâm của nhà trường là dạy - học và giáo dục QLNT thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy và lao động học tập của trò diễn

ra trong quá trình dạy học và giáo dục để đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra

Vì vậy, người quản lý phải trả lời được câu hỏi: quản lý để làm gì? đạt đến

cái đích nào? Quản lý giáo dục trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục

là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách

Từ cơ sở lý luận trên, chúng ta có thể hiểu quản lý nhà trường như sau:

Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và

tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

Trang 21

trong nhà trường, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xã hội, nhằm đạt được mục tiêu đề ra

- Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cho rằng KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (learning to know) gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,

ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…; Học để làm (Learning

to do) gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đạt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm, …; Học để chung sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông…; Học để tồn tại (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…

- Theo UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái

độ và kỹ năng Kỹ năng sống bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đạt mục tiêu

Như vậy, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng quốc gia Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh hay hướng vào giáo dục hành vi, cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, lòng yêu hòa bình Trong các quan niệm trên, có một số tác giả cho rằng KNS mang tính tâm lý - xã hội, thể hiện năng lực tâm lý xã hội hoặc nó là năng lực cá nhân

Trang 22

Tiếp thu và kế thừa các quan điểm trên, ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả đưa ra một số cách tiếp cận khái niệm KNS như sau:

- Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình, KNS nhằm giúp ta chuyển dịch kiến thức

“cái chúng ta biết” và thái độ, các giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành vi thực tế “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất

xã hội [4, tr.10]

- Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn đứng trên phương diện tâm lý học quan niệm cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống Hoạt động sống diễn ra với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và mối “quan hệ giao tiếp ứng xử” giữa con người với con người Hai phương diện này đan xen, hòa quyện, vào nhau, chi phối nhau tạo nên cuộc sống đích thực của mỗi người trong cộng đồng

Từ cách hiểu này, tác giả định nghĩa: “KNS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản thân, với người khác, với xã hội có kết quả trong những điều kiện xác định của cuộc sống” [44, tr.1-4], [44, tr.28]

Kế thừa và phát triển các quan điểm trên, có thể tiếp cận khái niệm KNS như sau:

KNS là hệ thống những kỹ năng cốt lõi cần thiết giúp cá nhân có những thích ứng phù hợp trong cuộc sống, học tập và làm việc, cũng như biết vận dụng nó một cách hiệu quả trong mọi hoàn cảnh, hướng đến sự thành công, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống

1.2.5 Giáo dục kỹ năng sống

Trong xã hội hiện đại, mỗi công dân của từng quốc gia cần có một nền tảng giá trị và năng lực ứng phó, ứng xử và giải quyết các vấn đề đặt ra một cách tích cực Vì vậy, trước yêu cầu đổi mới giáo dục ở nước ta, cần phải có cái nhìn tổng thể

và tổ chức quá trình giáo dục toàn diện trên cơ sở tiếp cận giáo dục giá trị và giáo dục kỹ năng sống để phát triển nhân cách công dân

GS.VS Phạm Minh Hạc nhận định: “Con người là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế - xã hội,…cần tăng cường giáo dục giá trị, làm cho các giá trị - văn hóa thấm sâu vào mọi hoạt động kinh tế, mọi hành vi của con người,…định hướng cho phát triển, điều chỉnh suy nghĩ,…hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và hội nhập, cần đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của chúng ta,

Trang 23

định hướng giá trị theo đường lối phát triển đúng, vượt qua ngưỡng “sống còn”, xây dựng môi trường lành mạnh, đặc biệt từng người biết điều hòa mọi lợi ích, nghĩ và làm cho bản thân, gia đình, cộng đồng, đất nước

Vì thế, khái niệm giáo dục cũng được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xã hội và cấp độ nhà trường

KNS được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành vi lành mạnh, và thay đổi những hành vi thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và những kỹ năng thích hợp Nhằm giúp người được giáo dục có nhận thức, thái độ đúng đắn về những vấn đề của cuộc sống qua đó hình thành kỹ năng ứng xử phù hợp tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng của cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội

Như vậy, Giáo dục KNS là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, làm thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực giúp người được giáo dục có cả kiến thức, nhận thức giá trị, thái độ đúng đắn và ứng xử phù hợp

Giáo dục KNS là một trong những vấn đề quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho sinh viên hiện nay Việc công bố chuẩn đầu ra đối với sinh viên tốt nghiệp đòi hỏi mỗi trường đại học không chỉ trang bị những kiến thức chuyên môn nền tảng cho sinh viên mà còn trang bị nhiều kỹ năng khác cho họ Đặc biệt là KNS

cơ bản để họ nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống và xã hội hiện đại ngày nay Do

đó, vấn đề giáo dục KNS trong các nhà trường cần phải có sự chọn lọc nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay, cũng như giúp cho sinh viên vững vàng bước vào cuộc sống hướng đến sự thành công

1.2.6 Quản lý giáo dục kỹ năng sống

Chúng ta cũng biết việc giáo dục KNS cho sinh viên hiện nay là một nhu cầu cấp thiết Nhưng để việc quản lý giáo dục KNS cho sinh viên đạt hiệu quả thì đòi hỏi các nhà quản lý làm công tác giáo dục phải chú trọng đến nguồn lực, nhân lực, vật lực nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường nhằm đạt mục tiêu đề ra Quản lý công tác giáo dục KNS còn là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục KNS đạt tới kết quả mong muốn tiến lên trạng thái mới về chất làm thay đổi hành vi của người học nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân góp phần phát triển bền vững xã hội Thực chất quản lý giáo dục KNS là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đối với các

Trang 24

thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục KNS để KNS vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của quá trình giáo dục

Như vậy có thể hiểu, quản lý giáo dục KNS là sự tác động của chủ thể quản

lý trong các cấp giáo dục (hệ thống) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm hình thành có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật (đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên), đáp ứng với mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay (theo bốn trụ cột của UNESCO)

Trang 25

1.3 Lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học

1.3.1 Mục tiêu, ý nghĩa kỹ năng sống

1.3.1.1 Mục tiêu

Tại hội nghị Giáo dục Thế giới họp tại Senegan tháng 4-2000 đã thông qua

kế hoạch hành động giáo dục cho mọi người (kế hoạch hành động Dakar) gồm 6

mục tiêu lớn Trong đó mục tiêu 3 đã vạch ra rằng: “Đảm bảo nhu cầu học tập của tất cả thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình KNS thích hợp” [5, tr.17]

Mục tiêu của giáo dục KNS là: “Phát triển năng lực tâm lí - xã hội của thanh niên, sinh viên để vượt qua những thách thức của cuộc sống, đồng thời làm thay đổi hành vi, thói quen có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững xã hội” [6, tr.56]

Do đó, cần trang bị cho sinh viên những KNS cơ bản để quá trình học tập và rèn luyện được diễn ra một cách thuận lợi nhất, giúp sinh viên vượt qua những khó khăn, thử thách, biết kiểm soát cảm xúc của bản thân, tự tin hơn trong giao tiếp và giải quyết có hiệu quả các tình huống bất thường có thể xảy ra trong cuộc sống

1.3.1.2 Ý nghĩa kỹ năng sống

KNS là điều quan trọng cần thiết cho mọi người ở mọi lứa tuổi Đối với lứa tuổi sinh viên thì điều này càng cần thiết vì đây là lứa tuổi chuẩn bị vào đời, tham gia hoạt động của xã hội với tư cách những người trưởng thành Những biến đổi về nhiều mặt của xã hội hiện nay đã có tác động mạnh mẽ đến con người Vì vậy, có thể nói kỹ năng sống chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh

Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn thử thách; biết ứng xử, giải quyết những vấn đề trong cuộc sống một cách tích cực và phù hợp;

vì thế họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình

Những người có KNS là những người biết làm cho mình và người khác cùng hạnh phúc và biết biến kiến thức thành hành động cụ thể KNS góp phần thúc đẩy

sự phát triển cá nhân và xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội, sức khỏe và bảo

vệ quyền con người

Trang 26

Người có KNS sẽ thực hiện những hành vi mang tính xã hội tích cực, góp phần xây dựng các mối quan hệ xã hội tốt đẹp và do vậy sẽ làm giảm bớt tệ nạn xã hội, làm cho xã hội lành mạnh, giúp xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội, đồng thời góp phần thúc đẩy năng suất lao động

“Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở chỗ nó đem đến cho ta điều gì, mà ở chỗ ta

có thái độ đối với nó ra sao; không phải ở chỗ điều gì xảy ra với ta, mà ở chỗ ta phản ứng với những điều đó như thế nào.” (Lewis L Dunnington) [4, tr.16]

KNS còn có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe Việc nâng cao các kỹ năng

cá nhân và kỹ năng xã hội của mỗi con người là một phần quan trọng của chương trình can thiệp nâng cao sức khỏe cho chính mình cũng như cho mọi người trong cộng đồng Do đó, việc giáo dục KNS tích cực trong xã hội hiện đại, trở thành yêu cầu quan trọng để hình thành nhân cách cho mỗi người, góp phần phát triển giáo dục toàn diện

1.3.2 Phân loại kỹ năng sống

1.3.2.1 Cách phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe (WHO)

KNS gồm có 3 nhóm:

- Kỹ năng nhận thức bao gồm các kỹ năng : tư duy phê phán, tư duy phân

tích, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra quyết định, xác định giá trị

- Kỹ năng đương đầu với cảm xúc, bao gồm: ý thức trách nhiệm, kiềm chế

căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự giám sát và tự điều chỉnh

- Kỹ năng xã hội (KNXH) hay kỹ năng tương tác bao gồm: giao tiếp, tính

quyết đoán, thương thuyết, từ chối, hợp tác; sự cảm thông, chia sẻ; khả năng nhận thấy sự thiện cảm của người khác

1.3.2.2 Cách phân loại của UNESCO

Theo cách phân loại của UNESCO thì 3 nhóm trên được coi là kỹ năng sống chung, ngoài ra còn có những kỹ năng sống còn thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như:

- Vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng

- Các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản

- Ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS

- Phòng tránh rượu, thuốc lá và ma túy

Trang 27

- Ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro

- Hòa bình và giải quyết xung đột

- Gia đình và cộng đồng

- Giáo dục công dân

- Bảo vệ thiên nhiên và môi trường

- Phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ

1.3.2.3 Cách phân loại của tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)

Với mục đích là giúp người học có những kĩ năng ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đưa ra cách phân loại KNS theo các mối quan hệ như sau:

- Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình:

+ Kỹ năng tự nhận thức (self awarennes): Mỗi người cần nhận biết và hiểu rõ bản thân, những tiềm năng, tình cảm, những mặt mạnh, mắt yếu của mình Khi con người càng nhận thức được khả năng của mình, thì càng có kỹ năng sử dụng các KNS khác một cách có hiệu quả và càng có khả năng lựa chọn những gì phù hợp với các điều kiện sẵn có của bản thân và của xã hội

+ Lòng tự trọng (self esteem): Lòng tự trọng là KNS giúp ta cảm nhận được giá trị của bản thân mình và lòng tự trọng giúp ta làm chủ được tình huống trong thế giới xung quanh theo định hướng của những giá trị đích thực

+ Sự kiên định: Sự kiên định có nghĩa là nhận biết được những gì mình muốn, tại sao lại muốn, và khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những

gì mình muốn/mục tiêu trong những hoàn cảnh cụ thể một cách linh hoạt, mềm dẻo, dung hòa giữa quyền và nhu cầu của mình với quyền và nhu cầu của người khác + Đương đầu với cảm xúc: Trong cuộc sống con người vẫn thường trải nghiệm những cảm xúc mang tính chủ quan như sợ hãi, tình yêu, phẫn nộ, e thẹn và mong muốn được thừa nhận và con người thường hành động/phản ứng để đáp ứng một cách tức thời với tình huống mà không dựa trên suy luận logic Những trải nghiệm xuất phát từ cảm xúc dễ đưa con người đến những hành vi mà sau này có thể họ phải nuối tiếc

+ Đương đầu với căng thẳng: như những căng thẳng, về vấn đề của gia đình, những mối quan hệ bị đổ vỡ, sự mất người thân, căng thẳng trong thi cử là một phần hiển nhiên của cuộc sống

Trang 28

Ở một mức nào đó, khi một cá nhân có khả năng đương đầu với căng thẳng

có thể là một nhân tố tích cực, vì chính những sức ép sẽ buộc cá nhân đó phải tập trung vào công việc của mình một cách hợp lí

Nhưng mặt khác, sự căng thẳng còn có một sức mạnh hủy diệt cuộc sống cá nhân nếu sự căng thẳng đó quá lớn và không giải tỏa nổi

- Những kỹ năng nhận biết và sống với người khác:

+ Kỹ năng quan hệ - tương tác liên nhân cách: Mỗi cá nhân phải biết cách đối xử một cách phù hợp trong từng mối quan hệ, để có thể phát triển tối đa tiềm năng sẵn có trong môi trường của mình

+ Sự cảm thông - thấu hiểu (Empathy): Bày tỏ sự cảm thông bằng cách tự đặt mình vào vị trí của người khác, đặc biệt khi phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng do hoàn cảnh hoặc do những hành động của chính bản thân họ gây ra Cảm thông cũng đồng nghĩa với việc hỗ trợ người đó để họ có thể tự quyết định và đứng vững trên đôi chân của mình một cách nhanh chóng nhất

+ Đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác: Có nghĩa là kiên định bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thân nếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc những việc làm trái ngược của bạn bè cùng lứa tuổi hoặc của người khác Biết cách thể hiện tính kiên định trong mọi hoàn cảnh là quan trọng, song cách thể hiện sự kiên định đối với từng đối tượng lại khác nhau

+ Thương lượng: Là kỹ năng quan trọng trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhau Nó liên quan đến tính kiên định, sự cảm thông và mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cũng như khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân Nó còn liên quan đến khả năng đương đầu với những hoàn cảnh đe dọa hoặc rủi ro tiềm tàng trong các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau kể cả sức

ép của bạn bè

+ Giao tiếp hiệu quả: Một trong những KNS quan trọng nhất là có khả năng giao tiếp một cách có hiệu quả với mọi người Khả năng giao tiếp bao gồm cả kỹ năng lắng nghe và hiểu được người khác

- Các kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả:

+ Tư duy phê phán: Trong thời đại ngày nay, con người phải đối mặt với nhiều vấn đề, phải xử lý nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp Để đưa ra được những quyết định phù hợp, con người cần phải có khả năng phân tích một cách phê

Trang 29

phán cái đúng, cái hợp lý và cái sai, cái không hợp lý của thông tin trên cơ sở đó lựa chọn những thông tin, quan điểm, cách giải quyết thích hợp

+ Tư duy sáng tạo: Là KNS quan trọng bởi vì chúng ta thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải

có tư duy sáng tạo để có thể đáp ứng lại một cách phù hợp

+ Ra quyết định: Hàng ngày mỗi người đều phải ra nhiều quyết định, có những quyết định tương đối đơn giản và có thể không ảnh hưởng nghiêm trọng đến định hướng cuộc sống, nhưng cũng có những quyết định nghiêm túc liên quan đến các mối quan hệ, tương lai cuộc sống Do vậy, điều quan trọng cần phải lường được những hậu quả trước khi đưa ra quyết định và phải lên kế hoạch cho những lựa chọn và quyết định này

+ Giải quyết vấn đề: Có liên quan tới kỹ năng ra quyết định và cần nhiều kỹ năng khác Giúp con người có thể xây dựng được những kỹ năng cần thiết, đưa ra được sự lựa chọn tốt nhất trong bất kỳ hoàn cảnh nào mà họ gặp phải trong cuộc

sống

1.3.2.4 Cách phân loại KNS theo UNICEF bao gồm các nhóm

Các kỹ năng giao tiếp và

quan hệ liên nhân cách

Các kỹ năng ra quyết định và tư duy tích cực

tự tin và lòng tự trọng Các kỹ năng tự nhận thức bản thân, ấn định mục tiêu -Kỹ năng kiềm chế cảm xúc

1.3.2.5 Cách phân loại dựa trên cách phân chia các lĩnh vực học tập (theo Bloom)

- Nhóm kỹ năng thuộc lĩnh vực nhận thức: Là kỹ năng tư duy sáng tạo và tư

duy phê phán Hai tư duy này có mối quan hệ chặt chẽ, đều hướng tới việc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra

Trang 30

- Nhóm kỹ năng thuộc lĩnh vực tình cảm: Là kỹ năng tự nhận thức và thấu

cảm, tự trọng và trách nhiệm xã hội

giao tiếp có hiệu quả, ra quyết định, giải quyết vấn đề, đương đầu với cảm xúc và căng thẳng

1.3.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên

Ở sinh viên bước đầu đã hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn

đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở Đại học là cơ hội tốt

để sinh viên được trải nghiệm bản thân Vì thế, sinh viên rất thích được khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời họ thích bộc lộ thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình Bên cạnh đó sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên, do đó sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hóa không phù hợp với chuẩn mực xã hội

- Sự thích nghi của sinh viên với cuộc sống và hoạt động mới: sự thích

ứng ở mỗi sinh viên là khác nhau tùy thuộc đặc điểm cá nhân và môi trường sống

cụ thể của họ quy định Có những sinh viên dễ dàng và nhanh chóng hòa nhập với môi trường mới, nhưng lại gặp khó khăn trong phương pháp học tập Có sinh viên lại ít gặp khó khăn trong tiếp thu tri thức, nhưng lại lúng túng, thiếu tự tin trong hòa nhập với bạn bè, với các hoạt động trong lớp, trong trường Lúc này, sinh viên phải đối mặt với nhiều mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa ước mơ, kỳ vọng với khả năng, điều kiện để thực hiện ước mơ; mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mình yêu thích với yêu cầu thực hiện toàn bộ nội dung chương trình theo qui định; mâu thuẫn giữa lượng thông tin nhiều trong xã hội với thời gian và khả năng

hiện có

- Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của sinh viên: Bản chất hoạt động

nhận thức của sinh viên là đi sâu, tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể để nắm được đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp… đào tạo theo thời gian chặt chẽ nhưng lại có tính chất mở để sinh viên phát huy tối đa năng lực của họ Phạm vi hoạt động nhận thức của sinh viên đa dạng vừa rèn luyện kỹ năng,

kỹ xảo nghề nghiệp, vừa phát huy việc học nghề rõ rệt Hoạt động học tập mang

Trang 31

tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao, phối hợp nhiều thao tác tư duy như phân tích,

so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa Như vậy, nhận thức của sinh viên thực sự là loại hoạt động trí tuệ căng thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn

- Đời sống xúc cảm, tình cảm của sinh viên: Theo B.G.Ananhev, tuổi sinh

viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất của các loại tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, nó có tính hệ thống và bền vững so với thời kỳ trước đó Khác với những lứa tuổi trước, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ ở tuổi sinh viên biểu lộ một chiều sâu rõ rệt

Tình bạn cùng giới, khác giới ở tuổi sinh viên tiếp tục phát triển theo chiều sâu Những bạn bè thời trung học phổ thông vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong đời sống sinh viên Bên cạnh đó, sinh viên lại có thêm những tình bạn mới không kém phần bền vững sâu sắc Tình yêu nam nữ ở độ tuổi sinh viên rất đẹp, lãng mạn

và đầy thi vị Song trong lĩnh vực này, sinh viên gặp những mâu thuẫn nội tại Chẳng hạn, mâu thuẫn giữa đòi hỏi của tình yêu với môi trường sống tập thể khó biểu lộ điều đó, mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức nhiều, đa dạng với thời gian có hạn trong học tập trong khi tình yêu đòi hỏi không ít thì giờ… Trong khi giải quyết mâu thuẫn này, sinh viên gặp không ít khó khăn và cũng không ít tình yêu dẫn đến

bế tắc, bi kịch

- Sự phát triển một số phẩm chất nhân cách ở sinh viên: Đặc điểm tự

đánh giá, tự ý thức ở sinh viên mang tính chất toàn diện và sâu sắc Sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bản thân về mặt hình thức mà còn đi sâu vào các phẩm chất, các giá trị của nhân cách Tự ý thức giúp sinh viên có hiểu biết về thái độ, hành vi của mình để điều khiển, định hướng hoạt động theo những yêu cầu của tập thể, của cộng động xã hội

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ phát triển của những phẩm chất nhân cách này liên quan đến trình độ học lực cũng như kế hoạch sống trong tương lai của sinh viên Có nhiều sinh viên đánh giá đúng về bản thân mình, nhưng cũng

có nhiều sinh viên đánh giá không phù hợp năng lực, sở trường… của bản thân Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập, tương lai của họ Vì vậy, tự đánh giá cũng là một kỹ năng cần chú ý ở lứa tuổi này

- Sự phát triển định hướng giá trị ở sinh viên: Định hướng giá trị phát

triển mạnh vào cuối tuổi thiếu niên, đầu tuổi thanh niên khi họ phải đứng trước việc

Trang 32

chọn nghề, chọn các chuyên ngành khác nhau Qua nhiều công trình nghiên cứu, những định hướng giá trị đối với nhân cách được sinh viên nhấn mạnh như có tư duy kinh tế, biết tính toán hiệu quả, năng động, dám nghĩ, dám làm, chấp nhận mạo hiểm…Định hướng giá trị của sinh viên liên quan mật thiết với xu hướng nhân cách

và kế hoạch đường đời của họ Với sinh viên, những ước mơ, hoài bão, những lý tưởng của thanh xuân dần dần được thực hiện, được điều chỉnh trong quá trình học tập ở trường đại học

1.3.4 Nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

Những thay đổi nhanh chóng trong xã hội và thay đổi tâm sinh lý của chính bản thân sinh viên đang có tác động lớn đối với các em Vì vậy, giáo dục KNS là hết sức quan trọng giúp các em rèn hành vi, có trách nhiệm, ứng phó với sức ép trong cuộc sống, biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp, ứng phó với thách thức Việc thiếu KNS đã khiến một bộ phận sinh viên hiện nay sống lệch lạc Biểu hiện tiêu cực trong một bộ phận HSSV như đánh chửi nhau hay thái độ lạnh lùng vô cảm trước nỗi đau của người khác; ỷ lại, thiếu thích nghi, thiếu nghị lực sống vươn lên… ngày càng trầm trọng

Một trong những căn nguyên của tình trạng này là do sinh viên ít được trang

bị KNS, KN mềm để xử lý, giải quyết, thích nghi với cuộc sống

Vì vậy, nhà trường cần phải song hành giữa việc dạy chữ và dạy người; đổi mới nội dung, phương pháp, đa dạng hóa các hình thức giáo dục, lồng ghép, tích hợp một cách khoa học góp phần giáo dục toàn diện nhân cách cho các em

1.3.5 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

Từ những đặc điểm tâm lý của sinh viên, chúng ta nhận thấy lứa tuổi này dễ

bị chi phối bởi những đặc điểm phát triển thể chất, môi trường và vai trò xã hội cụ thể Trong đổi mới giáo dục đại học, kỹ năng đã được chú ý tới mục tiêu của mỗi bài, mỗi chương trong một số giáo trình Tuy nhiên, mức độ đạt được còn nhiều hạn chế hướng vào kỹ năng nghề là chủ yếu, còn KNS chưa được chú trọng Vì thế, nội dung giáo dục KNS cho sinh viên vừa đáp ứng được những cái chung có tính chất toàn cầu, vừa có tính đặc thù quốc gia Nghĩa là nội dung phải linh hoạt, phù hợp với mục đích của người học, theo hướng tổ chức “Giáo dục, Khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc” (UNESCO), KNS gắn với bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỷ XXI: Học để biết (học để biết cách học); học để làm (học hành); học để tự khẳng

Trang 33

định mình (học để sáng tạo); học để sống với người khác (học để cùng chung sống với nhau) Vì vậy, những nội dung giáo dục KNS cho sinh viên là những nội dung cốt lõi phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức của sinh viên Đó là:

- Nhóm kỹ năng tự nhận thức:

+ Kỹ năng tƣ duy sáng tạo: Là KNS quan trọng bởi vì trong cuộc sống

chúng ta thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp Kỹ năng tư duy sáng tạo giúp con người

tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và suy nghĩ rộng, đặc biệt là độc lập trong suy nghĩ

+ Kỹ năng tƣ duy phê phán: Là khả năng phân tích một cách khách quan

và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra Con người trong thời đại ngày nay phải đối mặt với nhiều vấn đề, phải xử lí nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp…Để đưa ra những quyết định phù hợp Cho nên, con người cần có khả năng phân tích một cách phê phán cái đúng, cái hợp lí và cái sai, cái không hợp lí của thông tin, của quan điểm, cách giải quyết vấn đề…trên cơ sở đó lựa chọn những thông tin, quan điểm, cách giải quyết thích hợp

Do đó, kỹ năng tư duy phê phán rất cần thiết để con người có thể đưa ra được những quyết định, những tình huống phù hợp, nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay

+ Kỹ năng tƣ duy tích cực: Chính là “sống tích cực” hay “thái độ tích cực”

nghĩa là tích cực chủ động, dùng thái độ của mình để tạo ra thế giới của mình Một tư duy tích cực sẽ có đủ sức mạnh giúp sinh viên hình thành sự tự tin Chính sự tự tin này sẽ thúc đẩy hành động và cách hành động sẽ là câu trả lời cho những điều ước mơ, những mục tiêu có thể thành công hay không Tư duy tích cực

sẽ là chìa khóa để mở cánh cửa bình an và hạnh phúc

+ Kỹ năng xác định mục tiêu: Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt

tới, muốn thực hiện ở mỗi một giai đoạn trong cuộc đời hay ở một công việc nào

đó Vì vậy, trong từng giai đoạn của cuộc đời con người bình thường đều xác định cho mình những mục tiêu cần đạt dựa trên những nhu cầu, mong muốn của bản thân Người biết đặt cho mình mục tiêu phù hợp với khả năng, điều kiện của mình

và quyết tâm thực hiện chúng sẽ phát huy được hết những điểm mạnh của bản thân, dần bước lên những nấc thang thành công trong cuộc sống

Trang 34

Nếu sinh viên có kỹ năng xác định mục tiêu phù hợp, thì sẽ đạt được những mong muốn, những ước mơ và giải quyết được những khó khăn gặp phải

+ Kỹ năng xác định giá trị: Giá trị là những gì con người cho là quan trọng,

là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống

Mỗi người đều có hệ thống giá trị riêng, tạo nên danh dự, nhân phẩm cho mỗi người Đồng thời, mỗi người cần hiểu và tôn trọng những giá trị riêng của người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào nền văn hóa, môi trường sống học tập và làm việc của cá nhân

+ Kỹ năng kiên định: Là khả năng nhận thức rõ những gì mình muốn, là

khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn trong hoàn cảnh cụ thể, dung hòa được giữa quyền và nhu cầu của mình với quyền và nhu cầu của người khác

Kỹ năng kiên định sẽ giúp cho sinh viên tự bảo vệ được chứng kiến, quan điểm, thái độ và những quyết định của bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu cực của những người xung quanh Ngược lại, nếu không có kỹ năng kiên định sinh viên sẽ mất tự chủ, bị xúc phạm, mất lòng tin, bản thân luôn bị người khác điều khiển, chi phối hoặc luôn cảm thấy tức giận và thất vọng

+ Kỹ năng giải quyết vấn đề - ra quyết định: Kỹ năng giải quyết vấn đề là

khả năng của cá nhân biết quyết định chọn lựa phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc khó khăn gặp phải Giải quyết vấn đề

có liên quan tới kỹ năng ra quyết định và cần nhiều KNS khác như: giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, kiên định…Kỹ năng ra quyết định cần thiết với mỗi sinh viên, giúp cho sinh viên lựa chọn phù hợp những phương án tối

ưu để giải quyết vấn đề khó khăn và kịp thời đem lại thành công trong cuộc sống

Vì thế, ra quyết định và giải quyết vấn đề là một việc làm quan trọng, song không phải khi nào cũng dễ thực hiện Do đó, đòi hỏi sinh viên phải có kỹ năng này

- Nhóm kỹ năng tâm lý - xã hội:

+ Kỹ năng giao tiếp - ứng xử: Là kỹ năng sinh viên có thể bày tỏ ý kiến của

bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp

Trang 35

với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm

Kỹ năng giao tiếp giúp cho con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác

Vì thế, giao tiếp là một KNS quan trọng giúp cho sinh viên xây dựng, tạo mối quan hệ và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, đồng thời tạo được niềm vui trong cuộc sống và biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác

+ Kỹ năng thuyết trình: Là khả năng trình bày, nói chuyện về một vấn đề,

chủ đề nào đó trước nhiều người một cách có hệ thống làm cho người nghe dễ hiểu,

+ Kỹ năng làm việc nhóm: Kỹ năng làm việc nhóm là kỹ năng tương tác

giữa các thành viên trong một nhóm, nhằm thúc đẩy hiệu quả công việc Kỹ năng làm việc nhóm có vai trò rất quan trọng để mọi người liên kết lại với nhau, phát huy trí tuệ tập thể trong học tập cũng như trong công việc

Đối với sinh viên ngày nay, kỹ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng, bởi vì: Khi làm việc nhóm mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng Sự hợp tác trong công việc sẽ giúp cho sinh viên hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc

+ Kỹ năng sống an toàn- lành mạnh: Trong xã hội hiện đại, bên cạnh việc

tạo cơ hội cho con người phát triển một cách toàn diện, thì nó cũng tiềm ẩn những rủi ro, nguy cơ thách thức Cho nên, sinh viên có cách nghĩ muốn sống thử như vợ chồng và sống độc lập, không phụ thuộc vào gia đình Bên cạnh đó, dưới tác động của môi trường sinh viên thường bị cám dỗ và chạy theo lối sống thực dụng, buông

Trang 36

thả, đua đòi…, vi phạm pháp luật, nghiện rượu, ma túy, mang thai ngoài ý muốn và

có nguy cơ bị đối diện với AIDS

Vì vậy, để tồn tại và phát triển, có năng lực ứng phó với những bất trắc, những cám dỗ, những rủi ro, thách thức ấy thì sinh viên cần phải được trang bị KNS

an toàn, lành mạnh nhằm tăng vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống để vượt qua những khó khăn

+ Kỹ năng thuyết phục và gây ảnh hưởng: Thái độ tự tin là rất quan trọng

khi chúng ta muốn gây ấn tượng với một ai đó Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp xã hội, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đa văn hóa, đa sắc tộc, khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi với người cần giúp đỡ

+ Kỹ năng tìm việc và chinh phục nhà tuyển dụng: Để xin việc thành

công, ngoài bằng cấp và năng lực, sinh viên phải có kỹ năng phỏng vấn xin việc Nhiều bạn có năng lực nhưng vẫn bị trượt khi phỏng vấn là do thiếu kỹ năng phỏng vấn xin việc Vậy để tăng khả năng thành công khi xin việc, sinh viên phải biết xác định giá trị, đánh giá đúng năng lực cũng như điều kiện hiện có của bản thân, có hiểu biết và thông tin đầy đủ về việc làm hiện có tại địa phương nơi mình sinh sống hoặc dự định đến để sinh sống trong thời gian tới, tìm đến những địa chỉ đáng tin cậy để có thông tin chính xác về việc làm, biết tìm đến sự trợ giúp cần thiết để có được việc làm

- Nhóm kỹ năng quản lý bản thân:

+ Kỹ năng làm chủ cảm xúc: Là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc

của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đến chính mình và người khác như thế nào, đồng thời biết cách kiềm chế và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp Kỹ năng này cần sự kết hợp với kỹ năng tự nhận thức, ứng xử với người khác Biết quản lý cảm xúc sẽ góp phần giúp giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa hơn

Điều chỉnh cảm xúc là việc làm cần thiết đối với mỗi con người, mang lại suy nghĩ và cách sống tích cực cho bản thân, là chìa khóa để mở cánh cửa cho sự thành công

Trang 37

+ Kỹ năng quản lý thời gian: Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng con

người sử dụng thời gian một cách hiệu quả nhằm đạt được mục đích của mình thông qua việc lên kế hoạch, tổ chức và kiểm tra việc sử dụng thời gian một cách tối ưu Quản lý thời gian là một trong những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống thời hiện đại Một người không có khả năng quản lý thời gian có thể làm ảnh hưởng tới công sức và thời gian của nhiều người khác khi làm việc theo nhóm Kỹ năng này chi phối trong khá nhiều lĩnh vực Việc học theo hệ thống tín chỉ ngày nay đòi hỏi sinh viên phải biết cách sắp xếp, quản lý thời gian cho mình một cách hợp lý để có kết quả học tập tốt Bên cạnh đó, còn giúp sinh viên có thể tìm kiếm việc làm thêm

+ Kỹ năng vượt qua khó khăn và áp lực: Những khó khăn trong đời là

điều tất yếu đối với sinh viên, đó cũng như một định luật tự nhiên để phát triển và thăng tiến cuộc sống Khó khăn nào cũng đòi hỏi phải vượt qua để thể hiện chức năng, sứ mạng, vai trò, trách nhiệm và bổn phận một cách có thể Dù nhận thức rằng, khó khăn như một điều kiện cần thiết để tiến bộ và sống trưởng thành hơn, nhưng đứng trước khó khăn ai cũng ngại ngùng, lo âu, than vãn và nhiều khi chán nản, chùn bước, buông xuôi

Stoltz (1997) cho rằng: “Người tốt vẫn có thể là người không bền lòng theo đuổi mục đích cao đẹp nhưng họ không đủ can trường để đi tới Bởi vì, bao giờ cũng vậy, mục đích cao đẹp luôn đi kèm với những thử thách cực kỳ khó mà chỉ ai dám vượt khó mới có thể tới đích”

1.4 Hiệu trưởng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học

1.4.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng

Hiệu trưởng trường Đại học, Cao đẳng, TCCN là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bổ nhiệm công nhận bao gồm:

Trang 38

a) Ban hành các qui chế, qui định trong cơ sở giáo dục đại học theo nghị quyết của hội đồng trường, hội đồng quản trị, hội đồng đại học;

b) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các tổ chức của cơ sở giáo dục đại học theo nghị quyết của hội đồng trường, hội đồng quản trị, hội đồng đại học, bổ nhiệm, bãi nhiệm và miễn nhiệm các chức danh trưởng phó, các tổ chức của cơ sở giáo dụcđại học;

c) Tổ chức thực hiện nghị quyết của hội đồng trường, hội đồng quản trị, hội đồng đại học:

d) Xây dựng qui hoạch và phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý; e) Tổ chức thực hiện các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dụcđại học;

f) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự giám sát, thanh tra, kiểm tra theo qui định;

g) Xây dựng và thực hiện qui chế dân chủở cơ sở, tiếp thu ý kiến và chịu sự giám sát của cá nhân, tổ chức đoàn thể trong cơ sở giáo dục đại học;

h) Hàng năm, báo cáo kết quả thực hiện của hiệu trưởng và ban giám hiệu trước hội động trường, hội đồng quản trị, hội đồng đại học;

i) Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo qui định của pháp luật

1.4.2 Nội dung quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

1.4.2.1 Quản lý việc lập kế hoạch

Quản lý chỉ đạo công tác GDKNS thông qua công tác xây dựng kế hoạch giáo dục Đây là một nội dung không thể thiếu trong quản lý bất kỳ một công tác nào của nhà trường Cơ sở để thực hiện là dựa trên các văn bản, Chỉ thị, định hướng của Đảng, Chính phủ, Bộ GD&ĐT cũng như các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cấp quản lý Để thực hiện tốt, người Hiệu trưởng phải xác định được mục tiêu

sẽ đạt đến, các biện pháp thực hiện, thời gian tiến hành và hoàn thành, chỉ tiêu cần đạt… đặc biệt phải dựa trên tình hình cụ thể của đơn vị, bao gồm các nội dung: quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo chủ điểm, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cố vấn học tập, cộng tác viên, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, kế hoạch đầu tư và sử dụng cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động GDKNS

Trang 39

1.4.2.2 Tổ chức xây dựng nội dung chương trình giáo dục kỹ năng sống

Căn cứ vào hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Trung ương Đoàn TNCSHCM và căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản để xác định nội dung, nhiệm vụ cụ thể để xây dựng nội dung chương trình phải đảm bảo sự cân đối, phù hợp trong các hoạt động của nhà trường và phù hợp với đặc điểm của sinh viên

Việc quản lý nội dung chương trình GDKNS bao gồm:

- Chỉ đạo đội ngũ xây dựng nội dung chương trình

- Tổ chức thực hiện những nội dung chương trình

- Tổ chức kiểm tra kết quả đạt được như thế nào

1.4.2.3 Đa dạng hóa hình thức giáo dục kỹ năng sống

Hình thức tổ chức có ý nghĩa quan trọng mang lại sự hấp dẫn đến hiệu quả của quá trình giáo dục KNS trong nhà trường Do đó, các hình thức tổ chức phải phong phú, đa dạng thu hút được nhiều lực lượng tham gia giáo dục

Các hình thức giáo dục KNS có thể thông qua:

- Các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt chuyên đề, nói chuyện của các chuyên gia tâm lý

- Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, các hội thi…

- Các câu lạc bộ kỹ năng, học thuật

- Hoạt động thi đua khen thưởng

1.4.2.4 Đổi mới phương pháp giáo dục kỹ năng sống

Công tác GDKNS có hiệu quả hay không phù thuộc vào phương pháp quản

lý của nhà trường Do đó, phải có sự chỉ đạo chặt chẽ của Hiệu trưởng cũng như sự nhất quán trong cách tổ chức và giáo dục

Các phương pháp quản lý giáo dục của Hiệu trưởng chính là cách thức tác động đến khách thể quản lý bằng việc sử dụng các phương tiện khác nhau của hệ thống quản lý giáo dục nhằm đạt mục tiêu quản lý giáo dục

1.4.2.5 Quản lý đội ngũ các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống

Các phòng chức năng, khoa, tổ chức đoàn thể có vai trò quyết định trong việc thực hiện nội dung, đảm bảo tính đa dạng của hình thức GDKNS cho sinh viên trong nhà trường như: Phòng Công tác sinh viên; Các khoa; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - Hội sinh viên; giảng viên/Cố vấn học tập

Trang 40

1.4.2.6 Quản lý cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ cho giáo dục kỹ năng sống

Đây là một trong những nội dung quan trọng trong việc GDKNS trong nhà trường Vì thế, cần có các điều kiện và sự tác động qua lại tương hỗ của nhiều yếu

tố, điều kiện như: nhân tố con người, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, kinh phí

và sự đồng thuận của Ban Giám hiệu nhà trường

Việc huy động sức mạnh của các lực lượng giáo dục, sẽ tạo thuận lợi cho việc GDKNS đạt hiệu quả cao

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống

1.5.1 Các yếu tố khách quan

1.5.1.1 Yêu cầu của xã hội

Cùng với sự biến đổi của thời đại, của khoa học công nghệ và đặc biệt là của công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, xã hội đã diễn ra quá trình chuyển đổi giá trị một cách sâu rộng; con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ không thể không

có sự biến đổi thang giá trị nhân cách, biểu định hướng giá trị của nhân cách Do đó, định hướng giá trị cho thanh niên sinh viên có vai trò quan trọng trong hình thành đạo đức, lối sống, niềm tin và lý tưởng cách mạng của thanh niên sinh viên Cho nên, việc GDKNS cho thế hệ trẻ sẽ giúp cho các em sống một cách phù hợp và hữu ích, biết quản lý các tình huống rủi ro không chỉ đối với bản thân mà còn thuyết phục được mọi người chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro

Kỹ năng sống không những thúc đẩy sự phát triển cá nhân mà kỹ năng sống còn góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo

vệ quyền con người GDKNS giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một xã hội hiện đại với văn hóa đa dạng, với nền kinh tế phát triển và thế giới được coi là một mái nhà chung

1.5.1.2 Xu hướng phát triển của giáo dục hiện nay

Hiện nay, nhân loại đang sống trong thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, nền văn minh trí tuệ, một xã hội học tập và nền kinh tế tri thức, thời đại của nền kinh tế hội nhập, cạnh tranh hết sức gay gắt dựa trên sức mạnh của tri thức Thời đại mới mở ra nhiều cơ hội lớn nhưng đồng thời cũng không ít thách thức đối với các nước đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam Ngày 15/4/2014, tại Hà Nội đã diễn ra Hội thảo quốc tế về “Chuyển đổi mô hình giáo dục trong thế kỷ 21” do hệ thống giáo dục Vinschool tổ chức Tại Hội thảo này, đã đề cập

Ngày đăng: 15/12/2015, 15:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số sinh viên - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 2.1. Số sinh viên (Trang 48)
Bảng 2.5. Mức độ thực hành KNS - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 2.5. Mức độ thực hành KNS (Trang 53)
Bảng 2.6. Mức độ tác động/ảnh hưởng của các yếu tố trong việc hình thành KNS - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 2.6. Mức độ tác động/ảnh hưởng của các yếu tố trong việc hình thành KNS (Trang 56)
Bảng 2.7. Đánh giá mức độ quan tâm công tác GDKNS cho SV - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 2.7. Đánh giá mức độ quan tâm công tác GDKNS cho SV (Trang 57)
Hình thức giáo dục - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Hình th ức giáo dục (Trang 62)
Bảng 2.11. Đánh giá của CBQL, GV về nội dung GDKNS - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 2.11. Đánh giá của CBQL, GV về nội dung GDKNS (Trang 63)
Bảng 2.12. Nhận thức của đội ngũ CBQL về trách nhiệm phải GDKNS cho SVTT - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 2.12. Nhận thức của đội ngũ CBQL về trách nhiệm phải GDKNS cho SVTT (Trang 65)
Bảng 2.16. Phân công nhiệm vụ cho bộ máy nhân sự tham gia GDKNS - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 2.16. Phân công nhiệm vụ cho bộ máy nhân sự tham gia GDKNS (Trang 70)
Bảng 2.17. Đánh giá về công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDKNS - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 2.17. Đánh giá về công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDKNS (Trang 71)
Bảng 3.1. Bảng kiểm chứng mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất. - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 3.1. Bảng kiểm chứng mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất (Trang 93)
Bảng 3.2. Bảng kiểm chứng mức độ - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 3.2. Bảng kiểm chứng mức độ (Trang 95)
Bảng 3.2. Bảng kiểm chứng mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Bảng 3.2. Bảng kiểm chứng mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất (Trang 95)
Hình thức giáo dục kỹ năng sống - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Hình th ức giáo dục kỹ năng sống (Trang 121)
Hình thức khác: - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Hình th ức khác: (Trang 122)
Hình thức giáo dục kỹ năng sống - Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường đại học đồng nai
Hình th ức giáo dục kỹ năng sống (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm