1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu quá trình hình thành và xác lập ý thức hệ phong kiến trung quốc

57 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 215,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến thời Hán Vũ Đế 148 - 87 TCN qua "Thiên nhân tam sách" và những kiến nghị của Đổng Trọng Th, Nho học độc tôn và trở thành hệ t tởng thống trị trong xã hội phong kiến Trung Quốc,góp ph

Trang 1

A - phần mở đầu

i lý do chọn đề tài.

Trung Quốc không chỉ là một nớc lớn trong khu vực mà trên toàn thếgiới và có lịch sử lâu đời Nói đến Trung Quốc hiện nay là nói đến quốc giarộng lớn về lãnh thổ (Hơn 9 triệu km2), đông đúc về dân c (hơn 1 tỷ ngời).Lịch sử văn minh Trung Quốc rực rỡ, phong phú, đa dạng và có nhiều đónggóp to lớn cho văn minh nhân loại Trung Quốc xứng đáng là một trongnhững cái nôi của lịch sử văn minh thế giới Trải qua hàng nghìn năm xâydựng và phát triển, nền văn hoá Trung Quốc đã đạt đến đỉnh cao trên nhiềulĩnh vực nh: Triết học, Văn học nghệ thuật, âm nhạc, hội hoạ, y học, t tởng

Đợc cả nhân loại biết đến và khâm phục

Nho học là trờng phái t tởng lớn và là một trong những tinh hoa văn hoácủa Trung Quốc cổ trung đại Lịch sử hng suy của Nho học và lịch sử pháttriển xã hội phong kiến Trung Quốc có quan hệ biện chứng với nhau

Một học phái học thuật đã chi phối và ảnh hởng đến t tởng một quốc giavới hơn hai ngàn năm thì không chỉ là độc nhất vô nhị ở Trung Quốc mà còntuyệt nhiên vô song trên thế giới Vì vậy chúng ta không thể không thừanhận địa vị của t tởng này trong văn hoá truyền thống Trung Quốc

Nho học ra đời từ thời Xuân Thu do Khổng Tử sáng lập có tôn chỉ rõràng, có hệ thống phân minh, nhng ở thời đó Nho học chỉ là một trờng pháitrong nhiều trờng phái t tởng khác Đến thời Hán, Nho học dần dần khẳng

định đợc những u thế của mình Đến thời Hán Vũ Đế (148 - 87 TCN) qua

"Thiên nhân tam sách" và những kiến nghị của Đổng Trọng Th, Nho học

độc tôn và trở thành hệ t tởng thống trị trong xã hội phong kiến Trung Quốc,góp phần đặc biệt quan trọng trong việc củng cố chính trị, ổn định xã hội,phát triển văn hoá nớc này

Đến những triều đại sau đó, đặc biệt là vơng triều Tống, Nho đạt đếncực thịnh Có ảnh hởng sâu rộng đến không chỉ thể chế chính trị phong kiếnTrung Quốc mà có ảnh hởng ra nhiều nớc khác Đến tận triều Minh, Thanhkhi chế độ phong kiến Trung Quốc đi vào con đờng suy tàn thì Nho học

đồng thời cũng đi vào giai đoạn suy thoái

Tìm hiểu về quá trình hình thành, xác lập của Nho học chính là nhữngvấn đề đợc đi sâu ở đề tài này

Tìm hiểu về nho học có ý nghĩa khoa học lớn bởi lẽ giúp chúng tôi hiểu

đợc những vấn đề đã nêu trên, mặt khác đó là cơ sở để hiểu sâu sắc hơn về

đờng lối trị nớc của các vơng triều phong kiến Trung Quốc

Nho học chi phối đến văn hoá Trung Quốc nói chung, tới những quanniệm về đạo đức, luân lý của ngời Trung Quốc nói riêng Vì thế tìm hiểu vềNho học không chỉ giúp chúng ta hiểu đợc những cốt lõi tinh hoa văn hoá

Trang 2

Trung Quốc mà còn giúp chúng ta hiểu rõ những quan niệm về đạo đức,luân lý của ngời Trung Quốc.

Mặt khác, Nho học có ảnh hởng đến nhiều nớc châu á, trong đó có ViệtNam T tởng của các nhà Nho học đã từng trở thành hệ t tởng chính thốngcủa nhiều triều đại phong kiến Việt Nam Vì vậy tìm hiểu về Nho học giúpchúng ta có cơ sở để hiểu thêm về lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam

Với tất cả những lý do trên, và đợc sự hớng dẫn của thầy giáo Hoàng

Đăng Long tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: " Bớc đầu tìm hiểu về quá trìnhhình thành, xác lập ý thức hệ phong kiến Trung Quốc" để làm khoá luận tốtnghiệp

ii lịch sử vấn đề.

ý thức hệ phong kiến Trung Quốc mà cụ thể là Nho học không chỉ là

đối tợng nghiên cứu của lịch sử t tởng, triết học… mà còn của nhiều bộ môn mà còn của nhiều bộ mônkhoa học, của nhiều ngành, nhiều giới Cho đến nay có hàng loạt công trìnhviết về Nho giáo ở Trung Quốc cũng nh ở Việt Nam Những công trìnhnghiên cứu đó hoặc là chuyên khảo, hoặc là đăng trong các tạp chí khácnhau Các giáo trình lịch sử thế giới cổ đại của các trờng đại học đã đề cập

đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của đề tài Bên cạnh đó còn một sốtài liệu quý khác nh:

- Cuốn " Nho giáo" của Trần trọng Kim - Nhà xuất bản thành phố HồChí Minh - năm 1992 Trong đó đề cập khá rõ đến quá trình hình thành vàphát triển của Nho giáo qua các triều đại

- Cuốn " Kinh điển văn hoá 5.000 năm Trung Hoa" - Tập bốn của DơngLực - Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Chơng 109 viết về lịch sử phát triểncủa Nho học và ảnh hởng của nó

- Cuốn " Nho giáo xa và nay" của Quang Đạm - Nhà xuất bản Khoa họcxã hội - Nhân văn - 1991 Đề cập đến bối cảnh lịch sử của Nho giáo TrungQuốc, đặc biệt tác giả phân tích rất sâu Nho giáo ở Việt Nam

- Cuốn " Khổng Tử" của Nguyễn Hiến Lê - Nhà xuất bản Văn hoá thôngtin - Năm 2001 Viết về đời sống, con ngời, t tởng và đạo làm ngời củaKhổng Tử

- Cuốn " Đại cơng lịch sử văn hoá Trung Quốc" gồm nhiều nội dung củagiáo s Ngô Vinh Chính và giáo s Vơng Miện Quý chủ biên Trong đó chơng

đầu tiên nói khá rõ nét về sự hình thành, diễn biến của t tởng triết học TrungQuốc mà chủ yếu là sáu nhà: Nho, Mặc, Đạo, Danh, Pháp, Âm dơng

Cuốn " Mạnh Tử Linh hồn của nhà Nho", do Phùng Quý Sơn dịch Nhà xuất bản Đồng Nai phát hành năm 1995 Trong đó đã phân tích khá kỹ

-về t tởng của Mạnh Tử

- Cuốn " Hàn Phi Tử" do Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi biên soạn - Nhàxuất bản Văn hoá thông tin Hà Nội năm -1994 Cuốn sách đã phân tích khásâu về đời sống, tác phẩm và t tởng của Hàn Phi Tử

Trang 3

- Cuốn " Nho gia với Trung Quốc ngày nay" của Vi Chính Thông - Nhàxuất bản Chính trị quốc gia Hà nội - xuất bản năm 1996 Giúp tìm hiểuthêm về Nho gia Trung Quốc và vai trò của Nho gia trong truyền thốngcũng nh trong xã hội hiện đại.

- Cuốn "Đại học và Trung Dung Nho giáo" của Nhà xuất bản Khoa họcxã hội - 1991 Trong đó đề cập đến tiểu sử Khổng Tử, hai bộ Đại học vàTrung Dung của Nho giáo

- Cuốn " Trang Tử và Nam hoa kinh" của Nguyễn Hiến Lê - Nhà xuấtbản Văn hoá thông tin Hà nội - 1944 Đề cập đến con ngời, tác phẩm và t t-ởng của Ông

Ngoài những tài liệu giới thiệu trên đây, liên quan đến Nho học còn cóhàng loạt các tác phẩm khác Cộng với các bài viết trên các tạp chí nghiêncứu lịch sử, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của chính các nhà khoahọc Trung Quốc Nhng do năng lực hạn chế của bản thân, chúng tôi cha sutầm, tập hợp đợc Đề tài của chúng tôi không phải là một vấn đề mới, mà chỉ

là công việc bớc đầu tiếp xúc, làm quen, xác định về một vấn đề đợc nhiềunhà nghiên cứu trong nớc, nớc ngoài quan tâm

iii giới hạn của đề tài và phơng pháp nghiên cứu.

3.1 Khóa luận nh đúng với tên gọi của nó, không đặt ra nhiệm vụ đi sâunghiên cứu toàn bộ quá trình hình thành, hng suy của Nho học trong suốtcác triều đại phong kiến Trung Quốc, cũng nh những thành tựu, đóng góp vàhạn chế của nó, mà chỉ là bớc đầu tìm hiểu một cách khái quát về quá trìnhhình thành và xác lập Vì vậy giới hạn của đề tài này chỉ là bớc đầu tìm hiểu

về quá trình hình thành và xác lập của đạo Nho từ thời Khổng Tử đến cuối

có hạn, do mới làm quen với công việc nghiên cứu, do đó khoá luận sẽkhông tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận đợc sự góp ýkiến chân thành của các thầy, các cô

iv bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài đợc chia làm 3

ch-ơng:

Ch

ơng I : Bối cảnh lịch sử và sự xuất hiện một số trào lu t tởng cuối thời

kỳ Xuân Thu đầu thời kỳ Kiến Quốc

Ch

ơng II : Quá trình hình thành ý thức hệ phong kiến Trung Quốc

Trang 4

Lá rụng về cội, dù cuộc sống có khiến ngời ta phải bôn ba, lặn lội đến

đâu rốt cục cũng phải quay về với quê hơng, tổ quốc Đây chính là lý do đểNho gia mấy nghìn năm nay với sức mạnh hớng tâm và gắn kết riêng củamình đã để lại dấu ấn cha truyền con nối cho dân tộc Trung Hoa, cũng làsức sống cho hệ t tởng này

Trên thế giới bốn quốc gia có nền văn minh vỹ đại là Trung Quốc, AiCập, ấn Độ, Hy Lạp ở đó tồn tại nền văn hoá truyền thống rạng rỡ gópphần lớn vào nền văn hoá chung của nhân loại Hiện tại văn hoá Ai Cập, vănhoá Lỡng Hà, Văn hoá Phật giáo ở ấn Độ đều đang còn tiếp diễn, toả sángrực rỡ không phai mờ Vậy nên văn hoá Nho giáo đại diện cho văn hoátruyền thống Trung Quốc cần đợc kế thừa và phát huy có chọn lọc

Trong sự phát triển toàn diện của Trung Quốc có sự đóng góp lớn củaNho học suốt chiều dài lịch sử của chế độ phong kiến Trải qua các giai

đoạn: Từ Xuân Thu - Chiến Quốc do Khổng Tử khai sáng, đến Mạnh Tửtrung hng, thời Hán độc tôn, Tống Minh cực thịnh và cuối Thanh suy tàn.Phản ánh trạng thái phát sinh, phát triển, hng thịnh và suy tàn hơn hai nghìnnăm của Nho học

T tởng đạo Nho do chổ đã có t tởng nhất thống phong kiến, lại có u thếduy trì đợc kiểu gia đình phong kiến nên rất thích hợp với quan hệ sản xuấtcủa xã hội phong kiến Vì vậy sau khi ra đời nó liền lọt ngay vào mắt xanhcủa các nhà thống trị trung Quốc từ đời này sang đời khác T tởng Nho giavì thế có tính song trùng, tức vừa có tính giai cấp, vừa có tính đại chúng nhất

định Đây là nguyên cớ để t tởng Nho gia trờng tồn cùng lịch sử

Trang 5

Với sức mạnh cố kết của mình, Nho gia đa gốc rễ văn hoá Trung Quốcngày càng bám sâu hơn vào mảnh đất phơng Đông, đặt cơ sở cho việc đavăn hoá Trung Hoa trở thành nền văn hoá căn bản của phơng Đông Tronglịch sử suốt hơn 2.000 năm đại biểu của văn hoá phơng Đông - Trung Quốcluôn đứng sừng sững ở phía đông bán cầu cùng văn hoá phơng Tây đấutranh Và cùng đóng góp lớn cho sự phát triển chung của văn minh nhânloại, điều này có quan hệ mật thiết với Nho học.

Nh vậy, giai cấp phong kiến Trung Quốc qua các triều đại do nhu cầucai trị và xây dựng cơng thờng xã hội đã lấy Nho gia làm hệ t tởng cho giaicấp mình Và t tởng của Nho gia từ khi ra đời, trải qua những bớc thăngtrầm của nó luôn tỷ lệ thuận với sự thịnh suy của lịch sử chế độ phong kiếnTrung Hoa

* * *

Bối cảnh lịch sử và sự xuất hiện một số trào lu t ởng cuối thời kỳ xuân thu đầu thời kỳ chiến quốc 1.1- Tình hình kinh tế - Chính trị - Xã hội thời Đông Chu.

Thời Đông Chu chính thức bắt đầu năm 770 TCN, khi Chu Bình Vơngdời đô sang Lạc ấp ở phía Đông Thời Đông Chu đợc chia thành hai giai

đoạn là: Xuân Thu (770 - 475 TCN) và Chiến Quốc (475 - 221 TCN)

Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳ mất ổn định ở Trung Quốc Vua nhàChu suy yếu dần, mà các nớc ch hầu lại mạnh lên Vì vậy chiến tranh nhằm

Trang 6

tranh giành quyền lực để bá chủ Trung Quốc xảy ra liên miên Cũng thời kỳnày có sự biến đổi lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá do sức sảnxuất phát triển, nhiều giai tầng mới trong xã hội xuất hiện Mặt khác XuânThu - Chiến Quốc cũng là thời kỳ xã hội Trung Quốc tồn tại những mâuthuẫn gay gắt do chế độ t hữu ruộng đất phát triển Nội bộ giai cấp thống trị

có sự mâu thuẫn, xung đột phức tạp giữa tầng lớp quý tộc cũ với địa chủmới… mà còn của nhiều bộ môn

Những biến đổi trên có thể xem thời Xuân Thu - Chiến Quốc là thời kỳchuyển biến từ xã hội cổ đại sang xã hôi phong kiến ở Trung Quốc Do sựchuyển biến đó mà tình hình mọi mặt trong xã hội có những biến đổi lớn,tạo điều kiện cho sự ra đời một hệ t tởng mới của một giai cấp mới - t tởngphong kiến của giai cấp phong kiến

Về kinh tế: Đây là thời kỳ nền kinh tế phát triển mạnh mẽ với những bớctiến vợt bậc về công cụ sản xuất Đặc biệt quan trọng nhất là việc sử dụngcông cụ bằng sắt vào sản xuất kinh tế, đa thủ công nghiệp, thơng nghiệpphát triển lên một bớc

Cuối thời Xuân Thu ( thế kỷ VI TCN), ngời Trung Quốc đã biết nấu sắt

và biết chế tạo công cụ lao động bằng sắt: lỡi cày, lỡi liềm, búa, rìu… mà còn của nhiều bộ môn Đồngthời với nó là việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp

nh dùng phân bón, làm thuỷ lợi Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho sảnxuất nông nghiệp phát triển, năng suất lao động đợc tăng cao Đặc biệt việctiến hành khai khẩn đất hoang đã làm tăng ruộng đất, tăng năng suất lao

động cho nhân dân: “Đồng thau để đúc kiếm, kích… mà còn của nhiều bộ môn Sắt để đúc cuốc, cào

và quả cân” [22- 218] Việc áp kỷ thuật vào sản xuất và việc khai khẩn đợcnhiều đất hoang làm cho ngời ta nhận thấy không cần thiết phải chia lạiruộng đất công theo định kỳ, căn cứ vào chất đất tốt hay xấu nh trớc đâynữa Công xã bấy giờ cứ giao thẳng từng mãnh đất công cho từng gia đìnhnông dân nhận lấy làm ăn trong thời gian dài Nông dân công xã đã có thể

sử dụng tuỳ ý mãnh đất của mình mà không sợ năm sau công xã đem chialại cho ngời khác Do đó nông dân gắn bó lâu đời với mãnh đất của mình.Tình hình đó phát triển thêm một bớc nữa thì mãnh đất công đó lâu ngàybiến thành ruộng t hữu của nông dân Ruộng khai khẩn biến thành ruộng thữu ngày càng nhiều Khi đó thế lực của bọn quý tộc cũng lớn mạnh lêndần, ruộng đất công xã cũng dần dần bị chúng chiếm đoạt làm ruộng t Nhvậy chế độ "tĩnh điền" (*) dần dần tan rã Chế độ t hữu về ruộng đất xuất hiện

và ngày càng phát triển

Sự ra đời của công cụ bằng sắt dẫn đến sự phát triển trong nông nghiệp

rõ rệt, đồng thời với nó cũng thúc đẩy những bớc tiến bộ mới trong thủ

(*) Ruộng đất chia thành nhiều khu, mỗi khu đợc chia thành chín ô theo hình chữ "Tĩnh" trong tiếng Hán Diện tích mỗi khu rộng, hẹp khác nhau theo từng triều đại Các ô có diện tích bằng nhau, tám ô xung quanh chia cho tám nhà cày cấy, nộp một số hoa lợi thu hoạch đ ợc cho triều đình và không phải nộp thuế cho phần ruộng đợc chia.

Trang 7

công nghiệp, nhiều nghề mới xuất hiện: Nghề luyện sắt, nghề làm mối, dệtlụa, chạm khảm… mà còn của nhiều bộ môn Trong đó đồ chạm và dát vàng bạc, hàng dệt lụa và đồsơn là những sản phẩm thủ công nghiệp tinh xảo nhất thời Chiến Quốc Từ

đó sự trao đổi hàng hoá trong một nớc cũng nh giữa các nớc với nhau đợc

mở rộng và tăng cờng Điều đó thúc đẩy nền thơng nghiệp của Trung Quốcphát triển hơn trớc Trên thị trờng trong nớc có bày đủ đặc sản ở các nơi Để

đáp ứng nhu cầu phát triển của thơng nghiệp các nớc đã tự chế ra tiền Tiền

tệ bằng kim loại xuất hiện thời Xuân Thu, đến Chiến Quốc thì thịnh hành và

đợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực: trao đổi hàng hoá, trả tiền thuênhân công, cho vay lấy lãi… mà còn của nhiều bộ môn Nh vậy thời Xuân Thu - Chiến Quốc tình hìnhkinh tế của Trung Quốc có những biến đổi to lớn, kéo theo những biến đổi

về mặt chính trị, xã hội

Về chính trị: Thời kỳ này đã diễn ra những cuộc đấu tranh tranh giànhquyền lực hết sức gay gắt giữa các thế lực

Chu Bình Vơng dời đô sang Lạc ấp chẳng đợc bao lâu thì trong cung

đình xảy ra lộn xộn, cha con tranh giành nhau ngôi vua, làm cho thế lực nhàChu ngày càng suy yếu

Vùng Lạc ấp (vơng kỳ của nhà Chu) có địa thế nhng là một vùng nhỏhẹp, phần thì phải phân phong cho các công thần, phần thì bị một số nớc chhầu lấn chiếm nên đất đai ngày càng hẹp đi Mặt khác, giai đoạn này uy thếchính trị của nhà Chu giảm sút, nhiều nớc ch hầu ngang nhiên không chịutriều cống cho nhà Chu nữa Bị suy yếu trầm trọng về chính trị nên mặc dùtrên danh nghĩa tuy vẫn là vua chung của các nớc ch hầu, nhng thực tế vuanhà Chu không còn đủ sức điều khiển các nớc ch hầu nữa Các nớc ch hầucũng không xem thiên tử nhà Chu theo đúng nghĩa của nó nữa mà có phầnlấn lớt

Trong điều kiện thiên tử nhà Chu ngày càng suy yếu, ngợc lại một số

n-ớc ch hầu ngày càng mạnh lên Vì vậy trên vũ đài chính trị Trung Quốc đãdiễn ra những cuộc chiến tranh triền miên nhằm tranh giành quyền lực,thống nhất và bá chủ Trung Quốc Chiến tranh ngày càng ác liệt dẫn đếnbiên giới các nớc thay đổi từng ngày theo cục diện của cuộc chiến tranh.Cuối cùng còn lại hai cục diện chính là Ngũ Bá và Thất Hùng

Ngũ Bá là giai đoạn 5 nớc đấu tranh, tranh giành nhau ngôi bá chủ gồm:Tần, Tấn, Tống, Sở, Tề Trong đó Tề là nớc giành đợc quyền bá chủ đầu tiênvào năm 656 TCN Sau Tề là đến Tần, Sở… mà còn của nhiều bộ môn Các nớc mạnh, yếu, thắng, bạituỳ từng thời điểm mà thay nhau cống nạp cho thiên tử nhà Chu Sau đó hainớc Ngô, Việt phát triển mạnh lên tranh giành quyền bá chủ với nhau ởmiền Đông Nam Mãi đến năm 334 TCN nớc Việt bị nớc Sở diệt thì cụcdiện thời Xuân Thu mới tạm chấm dứt

Sang thời Chiến Quốc, cục diện Thất Hùng với bảy nớc lớn nổi lên là:Tần, Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy Nớc Tần ở phía Tây Hàm Cốc còn sáunớc còn lại nằm ở phía đông quan ải đó, nên thờng gọi chung là " Sơn đông

Trang 8

phục quốc" Giữa bảy nớc đó, chiến tranh theo quy mô lớn diễn ra khôngngớt, biên giới giữa các nớc thờng xuyên thay đổi tuỳ theo thắng bại trongchiến tranh.

Trong số Ngũ Hùng, Ngụy là nớc hùng mạnh sớm nhất, có ý đồ xâmchiếm Triệu, Hàn để thống nhất lại nớc Tấn cũ Năm 354 TCN, Ngụy tấncông nớc Triệu ở phía Bắc, đến năm 342 TCN lại tấn công nớc Hàn ở phíaNam Nhng cả hai cuộc tấn công này đều bị nớc Tề viện binh và đánh bại.Một thời gian sau, Nguỵ bị Tần và Sở lần lợt tấn công và chiếm mất nhiều

đất đai ở phía Tây và phía Nam nên dần suy yếu đi ở phía Đông thì nớc Tề

và nớc Yên lại xung đột với nhau… mà còn của nhiều bộ môn

ở phía Tây, tuy nớc Tần có nền văn minh kém hơn so với các nớc kianhng có điều kiện thuận lợi ở: đất đai rộng, phì nhiêu, địa thế hiểm yếu nênkhông bị các nớc khác quấy phá Vua Tần là ngời sáng suốt đã trọng dụngThơng Ưởng, một nhà chính trị có đờng lối cải cách tiến bộ theo đờng lốiPháp gia làm Tể tớng Từ năm 359 - 350 TCN, Thơng Ưởng đã thi hànhnhiều cải cách tiến bộ về kinh tế, chính trị, xã hội và quân sự, đa nớc Tầnphát triển Dần dần Tần trở thành một nớc có tiềm lực kinh tế, binh lực hùnghậu nhất trong Thất Hùng Sự lớn mạnh của nớc Tần là hiểm họa đối với 6nớc kia Năm 333 TCN, theo sáng kiến của Tô Tần, một tớng quốc của nớcYên, thành lập liên minh quân sự sáu nớc: Yên, Tề, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy đ-

ợc thành lập, gọi là "Hợp Tung" nhằm chống Tần Tuy nhiên kế hoạch liênminh này không vững chắc vì sáu nớc vốn đã có nhiều mâu thuẫn nên khôngthể đoàn kết lâu dài Vua Tần là ngời khôn ngoan đã cử tớng quốc TrơngNghi đi dụ dỗ các nớc liên minh với Tần, xúi dục đánh nhau gọi là "LiênHoành" chống lại sáu nớc kia Chỉ trong vòng mời năm từ 230 - 221 TCNnhà Tần đã tiêu diệt lần lợt sáu nớc: Hàn (230 TCN), Triệu (228 TCN),Ngụy (225 TCN), Sở (223 TCN), Yên (222 TCN), Tề (221 TCN), chính thứcthống nhất Trung Quốc Chấm dứt tình trạng hỗn chiến lâu dài thời XuânThu - Chiến Quốc

Về xã hội: Thời kỳ này, do sự biến đổi về kinh tế cũng nh về chính trịlàm cho cơ cấu xã hội cũng có nhiều thay đổi

Trớc hết, sự xuất hiện chế độ t hữu ruộng đất đã dẫn đến sự phân hoátrong giai cấp thống trị Do có ruộng đất riêng, một số quan đại phu, sĩ đãbiến thành những địa chủ mới Sang thời chiến quốc, không chỉ quan lại nhànớc mà một số nhà buôn giàu cũng mua đợc nhiều đất trở thành những th-

ơng nhân kiêm địa chủ lớn Mặt khác trong quá trình một số đại phu lớnmạnh lên, thì số đông đại phu khác lại bị sa sút đi Chiến tranh cớp đoạt và

đời sống xa hoa khiến chúng mất hết của cải và thái ấp Chúng và con cháuchúng trở thành phá sản biến thành những kẻ sĩ bình thờng hoặc bị giángxuống làm nô bộc Tầng lớp đại phu đã suy yếu không giữ đợc địa vị quýtộc thế tập của họ nữa Vua trực tiếp thống trị nhân dân, bắt nhân dân chịubinh dịch và su dịch, thu tô ruộng và thuế nhân khẩu

Trang 9

Do sự phát triển của sức sản xuất, sự xuất hiện và phát triển của kinh tếhàng hoá, do chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên, tổ chức công xã nôngthôn (chế độ tĩnh điền) bị phá hoại, trong thôn xã có phân hoá giai cấp mạnh

mẽ Một số rất nhỏ nông dân giàu có trở thành địa chủ, phú nông, còn đa sốnông dân mất ruộng đất, họ phải đi cấy rẽ, làm thuê trở thành tá điền, cốnông, phải chịu cảnh nghèo khổ và phải đóng thuế nặng nề

Bọn quý tộc, địa chủ và thơng nhân giàu có cớp đoạt ruộng đất của nôngdân, chúng thấy bóc lột sức lao động của nông dân làm mớn, cấy rẽ có lợihơn dùng nô lệ Do đó chúng chuyển sang thuê mớn nhân công và cho phátcanh thu tô Quan hệ sản xuất phong kiến - nông nô xuất hiện và dần chiếm

u thế trong nông nghiệp Nh vậy đời sông nhân dân vẫn không đợc cải thiện.Trong xã hội ngày càng nhiều bộ phận tri thức (kẽ sĩ) đóng vai trò lớn

đối với đất nớc Họ có tầm nhìn, có tri thức, nhiều ngời đã trở thành quân scho triều đình Tiêu biểu cho tầng lớp này thời Xuân Thu - Chiến Quốc cóQuản Trọng (nớc Tề), Lão Tử, Khổng Tử (nớc Sở), Mạnh Tử (nớc Lỗ), Tuân

Tử (nớc Triệu), Thơng Ưởng, Hàn Phi Tử - Trơng Nghi - Lã Bất Vi (nơcTần), Trơng Nghi (nớc Yên) … mà còn của nhiều bộ môn Những nhà chính trị này không chỉ ảnh h-ởng đến đời sống chính trị thời Xuân Thu - Chiến Quốc mà mãi về sau suốtchế độ phong kiến lâu dài, đặc biệt là Khổng Tử

Tóm lại thời Đông Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc) tình hình kinh tế,chính trị, xã hội Trung Quốc có những biến đổi rõ rệt, xã hội bớc vào giai

đoạn quá độ chuyển từ xã hội cổ đại sang chế độ xã hội phong kiến Trongcuộc biến đổi xã hội ấy đã xuất hiện nhiều nhà t tởng có ảnh hởng lớn dốivới xã hội phong kiến Trung Quốc sau này

1.2- Sự xuất hiện một số trào lu t tởng cuối Xuân Thu đầu Chiến Quốc.

Đi tiên phong cho phong trào "bách gia ch tử" ("bách gia tranh minh,

ch tử hng khởi" - ch tử nổi lên, trăm nhà đua tiếng) là Khổng Tử Khổng Tửsống đúng vào thời kỳ lịch sử Trung Quốc chuyển từ xã hội cổ đại sang xãhội phong kiến Lúc đó truyền thống cũ của chế độ nô lệ bị phá vỡ Các nớc

ch hầu đợc phong đã không phục tùng mệnh lệnh của thiên tử nhà Chu màthực hiện chiến tranh tranh giành bá quyền Giữa lúc ấy Khổng Tử xuất hiện

và truyền bá học thuyết của mình góp phần chấm dứt sự hỗn loạn ấy để xâydựng một xã hội thái bình thịnh trị Khổng Tử sáng lập phái Nho gia, ôngtin là có thợng đế “Trời”, nhng lại thừa nhận không cần thợng đế ban bốmệnh lệnh gì cả, những hiện tợng tự nhiên nh bốn mùa và vạn vật vẫn vận

động và sinh trởng Ông không tán thành nhắm mắt tin vào "thiên mệnh"

mà yêu cầu con ngời phải nỗ lực cá nhân trong đời sống hiện thực, phải chú

ý học hỏi và tu dỡng đạo đức Bỡi vậy hơn nửa đời hoạt động của ông làtheo đuổi sự nghiệp giáo dục và trong lĩnh vực này đông đã đạt đợc nhữngthành tựu to lớn

Trang 10

T tởng giáo dục của Khổng Tử gắn liền với quan điểm chính trị và đạo

đức của ông Khổng tử phản đối chiến tranh, phản đối bóc lột nhân dân,phản đối tình trạng loạn lạc trong xã hội đơng thời Ông phản đối "pháp trị",chủ trơng "lễ trị" đề xớng chữ "nhân" và thuyết "chính danh định phận" đểduy trì nền thống trị tông tộc, khôi phục trật tự đẳng cấp trong xã hội là

"quân tử" và "tiểu nhân" Trong thực tế chữ "nhân", hạt nhân của học thuyếtchính trị của Khổng Tử chỉ thực hành đối với những ngời quân tử Và để đốiphó với những biến động chính trị thời đó, Khổng Tử chủ trơng phải " chínhdanh địch phận" tức là khuyên mọi ngời phải biết xử trí đúng với cơng vịcủa mình trong xã hội, nghĩa là "vua phải ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con

ra con" Rõ ràng Khổng Tử đại diện cho giai cấp thống trị cũ Tuy nhiên vềchính trị, ông phản đối việc dùng bạo lực để thống trị nhân dân, dạy bọnthống trị phải quan tâm đến đời sống của nhân dân Ông khuyên bọn quýtộc phải "thơng yêu ngời thân", phải tôn trọng nhân cách của ngời khác Cóthể nói với quan điểm " chính danh định phận" đa học thuyết Nho gia -Khổng giáo trở thành hệ t tởng thống trị của xã hội phong kiến Trung Hoa

và có ảnh hởng sâu sắc đến các nớc Đông á (trong đó có Việt Nam) suốtmấy nghìn năm Chúng ta sẽ có điều kiện tìm hiểu sâu hơn về quá trình hìnhthành và xác lập hệ t tởng này ở các chơng sau

Cuối Xuân Thu, đầu Chiến Quốc, ngoài phái Nho gia của Khổng Tử,còn xuất hiện phái Mặc gia do Mặc Tử sáng lập, Đạo gia do Lạo Tử đề xớng

và Trang Tử kế tục, phái Pháp gia mà đại biểu kiệt xuất là Hàn Phi Tử cùngnhiều trờng phái và học thuyết chính trị - xã hội khác, tạo nên một phongtrào văn hoá chính trị rầm rộ "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" có ảnhhởng sâu sắc đến xã hội Trung Hoa suốt mấy nghìn năm

Mặc Tử, tức Mặc Địch (478 - 392 TCN), ngời sáng lập ra phái Mặc gia,ngời nớc Lỗ và xuất thân từ tầng lớp lao động Ông đối lập với Khổng Tử,cho rằng phải lấy sự thiết tha đối với quyền lợi đời sống của quần chúng làmtiêu chuẩn đánh giá con ngời Ông công kích bọn quý tộc thợng lu, phản đối

đời sống xa hoa của chúng, ông cho những kẻ hởng thụ kết quả lao động màmình không tham gia lao động là bất chính Mặc tử phản đối chiến tranhxâm lợc, ông cho con ngời chém giết nhau là tham lam nên đa ra thuyết "tiếtkiệm" Hạt nhân t tởng của Mặc tử là thuyết "kiêm ái" (thơng yêu rộng rãimọi ngời), mọi ngời phải thơng yêu giúp đỡ lẫn nhau Trong việc tổ chức bộmáy nhà nớc Mặc Tử, chủ trơng đề cao ngời có tài đức ra cáng đáng việc n-

ớc Bất cứ ai, kể cả nông dân và thợ thủ công nếu có tài năng thì có thể đalên giữ chức vị cao, nếu ai ngu đần thì hạ xuống, dù là dòng dõi quý tộc.Ngay cả vua cũng chỉ là ngời có tài đức trong thiên hạ đa lên mà thôi Bởivậy, Mặc tử phê phán thuyết "chính danh địch phận" của Khổng tử và chốnglại lối phân chia mọi ngời thành "quân tử" và "tiểu nhân" Ông là ngời sùngbái thợng đế và quỷ thần ("thiên minh quỷ"), coi ý chí thợng đế là nguyêntắc cao nhất của hành vi con ngời Nhng ông chống thuyết định mệnh và

Trang 11

cho rằng chỉ cần ra sức làm việc thì có thể làm đời sống no ấm, không ra sứclàm việc sẽ nghèo đói.

T tởng của Mặc Tử đợc truyền bá rộng rãi trong xã hội thời Chiến Quốcvì phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Học trò của ông lập thành một

đoàn thể có tổ chức rất chặt chẽ do Mặc Tử lãnh đạo gọi là Mặc gia T tởngcủa Mặc Tử và phái Mặc gia đợc chuyển thành một quyển sách gọi là "MặcTử"

Lão Tử, tức Lý Nhĩ sinh vào cuối thời Xuân Thu - Cùng thời với Khổng

Tử, thuộc dòng dõi quý tộc Lão Tử là nhà triết học duy vật nổi tiếng củaTrung Quốc cổ đại, ngời dựng lên quan niệm duy vật về tự nhiên, đề ra họcthuyết "Đạo" để giải thích nguồn gốc hình thành của vạn vật "Đạo" là mộtkhối hỗn độn, nó là cơ sở vật chất đầu tiên của thế giới Lão Tử dùng "Đạo"

để giải thích tính vật chất và tính thống nhất của thế giới Ông đã kích quanniệm thợng đế sáng tạo ra thế giới, cho rằng thợng đế không phải là cơ sởtồn tại của "Đạo", trái lại "Đạo" có sớm hơn thợng đế, "Đạo" sinh ra vạn vậtmột cách không có ý chí, dục vọng, mục đích và nó luôn theo sự phát triểncủa bản thân sự vật chứ không làm chúa tể chi phối vạn vật Ngời noi theo

đất, đất noi theo trời, trời noi theo đạo, đạo noi theo tự nhiên - Thế giới quancủa Lão Tử có tính chất vô thần

Mặt xã hội, Lão Tử chủ trơng "vô vi" đòi bọn thống trị phải tuân theoquy luật tự nhiên, không đợc can thiệp bạo lực vào đời sống của quần chúngnhân dân, không can thiệp vào dòng biến chuyển tự nhiên của vạn vật về bất

cứ phơng diện nào, ngay cả con ngời cũng không cần giáo hoá, nhờ đó màxã hội thái bình Lão Tử mơ ớc trở lại đời sống chất phác của thời đại thị tộc

và bộ lạc: "tiểu quốc quả dân" - nớc nhỏ, dân tha Sau này trang Tử đãxuyên tạc quan điểm "đạo" của Lão Tử, xem đó là nguồn gốc đẻ ra tinhthần- Ông ngã về chủ nghĩa hoài nghi và thần bí Thuyết này có nhiều mặttiêu cực và yếu thế, nhng nó lại có cơ sở ảnh hởng trong xã hội không nhỏ.Hàn Phi Tử: sống cuối thời Chiến Quốc, là công tử nớc Hàn, học trò củaTuân Tử Tuy là quý tộc nhng Hàn Phi Tử chịu ảnh hởng của thời đại rất sâusắc Ông phản đối "lễ trị", đề xớng "pháp trị", tổng hợp các lý luận pháp trịcủa các triết gia trớc mình nh Thơng Ưởng, Lý Khôi, cho rằng pháp luật củanhà nớc phải trở thành công cụ quan trọng của sự phát triển đời sống xã hội

và sự cũng cố chủ nghĩa chuyên chế Ông đề ra chủ trơng "cai trị bằng sứcmạnh thì đợc làm vua", kiên quyết phủ nhận lý luận chính trị thần quyền.Hàn Phi Tử cho rằng lịch sử xã hội loài ngời luôn luôn biến đổi, không cóchế độ xã hội nào vĩnh viễn, kẻ thống trị phải căn cứ vào nhu cầu kháchquan đơng thời và xu thế của thời đại, tuỳ thời lập ra chế độ mới Ông chốnglại thái độ ngoan cố, thủ cựu trong chính trị và đã kích chủ nghĩa phục cổ.Hàn Phi Tử còn khẳng định rằng nghèo túng là do con ngời lời biếng, xa xỉ,giàu có là do con ngời chịu khó và tiết kiệm Học thuyết của ông đợc trìnhbày khá hệ thống và đầy đủ trong bộ sách "Hàn Phi Tử" Sách này đa vào n-

ớc Tần và đợc vua Tần làm cơ sở lý luận cho nền thống nhất chuyên chế của

Trang 12

đế quốc Tần, làm Tần phát triển mạnh Tần Thuỷ Hoàng đã sử dụng họcthuyết của Hàn Phi Tử vào việc kết thúc 550 năm thời Xuân Thu - ChiếnQuốc hỗn chiến và thống nhất Trung Hoa.

Nh vậy là giai đoạn Đông Chu ở Trung Quốc đã có sự xuất hiện của rấtnhiều các trờng phái t tởng (103 trờng phái) mà tiêu biểu là bốn trờng pháitrên Do yêu cầu chủ quan và khách quan của lịch sử Nho học của Khổng

Tử với hệ t tởng trọng nhân nghĩa, "chính danh định phận" đã trở thành hệ ttởng thống trị của xã hội phong kiến Trung Quốc từ Đông Chu đến thờiThanh

* * *

Quá trình hình thành ý thức hệ phong kiến trung quốc

2.1 Yêu cầu khách quan của lịch sử.

Giai đoạn Đông Chu (thời Xuân Thu - Chiến Quốc) nh đã nói là bớc quá

độ, thời kỳ chuyển biến nhanh chóng xã hội Trung Quốc từ cổ đại sang xãhội phong kiến Trong cuộc biến đổi xã hội ấy đồng thời với nó là nhữngthay đổi hết sức to lớn trong xã hội mà yêu cầu khách quan, bức thiết phải

có một học thuyết với hệ t tởng mới phù hợp với yêu cầu xã hội Trung Hoathời bấy giờ

Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, cuộc đấu tranh giai tầng đã diễn ra liêntục và khá ác liệt nh: Năm 478 TCN, nô lệ làm thủ công nớc Vệ vây đánhTrang Công; năm 470 TCN, nô lệ làm thủ công nớc Vệ vác công cụ lao

động tấn công Công Thất, đuổi đánh Vệ Hầu Đặc biệt, thời bấy giờ có một

số ngời bị bắt làm nô dịch đã tụ tập trong lùm rậm đánh bại bọn thống trị

n-ớc Trịnh Còn ở nn-ớc Tần thì hễ dân nghe thấy lệnh của vua là chạy trốn nhchạy giặc

Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chế độ ruộng đất thuộc quyền sở hữu củanhà nớc dần dần tan rã, ruộng t xuất hiện ngày càng nhiều, chế độ "tĩnh

điền" dần bị xoá bỏ Vì vậy đã xuất hiện địa chủ và nông dân lĩnh canh, tạo

điều kiện cho nền kinh tế phong kiến hình thành

Cũng thời kỳ này, một mặt cuộc đấu tranh của nô lệ dấy lên mạnh mẽ ởnớc Tần do một tên trùm cớp lớn của Tần là Chích nổ ra mạnh mẽ Cuộc

đấu tranh này đã thu hút rất đông ngời tham gia dáng một đòn đã kích nặng

nề vào tầng lớp quý tộc chủ nô ở các nớc ch hầu nhà Chu Chích là ngời có

uy tín rất cao trong quần chúng nhân dân bị nô dịch, ông có thanh danh nh

Trang 13

Mặt trời, Mặt trăng, tên tuổi cũng truyền mãi nh ông Thuấn, ông Vũ nên có

ảnh hởng rất lớn trong xã hội đơng thời Mặt khác, thời bấy giờ những ngờinông dân cày thuê ruộng đất của ngời giàu và nộp địa tô đã đánh dấu một b-

ớc phát triển mới của quan hệ sản xuất phong kiến Đồng thời một số nô lệ

do đấu tranh đợc giải phóng đã trở thành những cố nông bán sức lao độngcủa mình "bán công cày cấy" cho địa chủ mới lên bóc lột cũng góp phầnlàm phát triển quan hệ sản xuất phong kiến Từ đó dẫn đến quan hệ lệ thuộc

đẳng cấp về mặt chính trị và bóc lột lao động nô lệ không thể duy trì đợcnữa, xuất hiện tình trạng "lễ h nhạc hỏng" - tình trạng tan rã không thể cứavãn nổi của chế độ thống trị cổ đại

Từ thời Xuân Thu, vua Đông Chu đã mất dần thế lực và uy quyền củamình, các nớc ch hầu không ngừng đánh nhau triền miên, nhiều dòng họkhanh đại phu chuẩn bị lực lợng để dành ngôi ch hầu Vì vậy những hiện t-ợng nh bề tôi giết vua, con giết cha, anh giết em liên tiếp diễn ra, phá vỡ trật

tự xã hội Nh vậy là trậ tự xã hội bị đảo lộn, đạo đức bị suy đồi, những thiếtchế cũ của thời Tây Chu bị phá vỡ, trong khi đó đời sống của nhân dân lạivô cùng cực khổ Chính cái bối cảnh xã hội ấy đã sản sinh ra một loạt nhà ttởng nổi tiếng với các học thuyết chính trị nhằm thiết lập cơng thờng xã hộitheo ý tởng của mình nh Lão Tử, Mặc Tử,… mà còn của nhiều bộ môn đặc biệt là Khổng Tử

Sang thời Chiến Quốc, vua Đông Chu tuy vẫn tồn tại nhng là hữu danhvô thực, đã hoàn toàn mất vai trò thiên tử của cả nớc Trong khi đó các nớc

ch hầu lớn đã tiến hành những cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt hơn trớc

để tiêu diệt lẫn nhau nhằm giành quyền làm chủ toàn Trung Quốc Thực tếlịch sử đó đã đặt ra một vấn đề là làm thế nào để thực hiện việc thống nhất,chấm dứt chiến tranh và tình trạng rối ren, hỗn loạn trong xã hội Trong thờiloạn lạc nh thế, đạo đế vơng đời trớc mờ tối, ngời đời say đắm về đờng cônglợi, không ai thiết gì đến nhân nghĩa nữa Nhng cũng vì thế cục biến loạn,dân tình khổ sở, ngời trong nớc mới lo nghĩ tìm cách sửa đổi để cứu vớtthiên hạ, vậy nên các học thuyết mới hng thịnh lên Khổng Tử đã phát minh

ra cái đạo của thánh hiền, lập thành một học thuyết có hệ thống, lấy nhân,nghĩa, lễ, trí mà dạy ngời, lấy cơng thờng mà hạn chế nhân dục để giữ trật tựtrong xã hội cho vững bền

2.2 Ngời tiên phong đặt nền móng cơ bản cho t tởng của Nho Khổng Tử.

học-Nho tức là văn minh nho nhã Đời xa ngời đi học đạo của thánh hiền gọi

là Nho, tức là ngời đã học biết suốt đợc lẽ trời đất và ngời để dạy bảo ngời ta

ăn ở cho phải đạo luân thờng Nho là bởi chử Nhân đứng bên chữ Nhu màthành ra Nhân là ngời, Nhu là cần dùng, tức là một hạng ngời bao giờ cũngcần dùng cho xã hội, biết đờng mà ăn ở cho hợp lẽ trời Chữ Nhu còn cónghĩa là chờ đợi, tức là ngời học giỏi đợi ngời ta cần đến sẽ đem tài trí củamình ra mà giúp việc đời Phàm những ngời học Nho thuật là những ngờithiên về mặt thực tế hơn mặt lý tởng Bởi vậy từ xa đến nay những ngời Nhohọc đều là những ngời ra cáng đáng việc đời để làm ích quốc lợi dân, chứ

Trang 14

không phải là ngời yếm thế chỉ vụ lấy sự vui thú trong vòng t tởng T MãThiên đã khái quát: cánh rừng nho nhã là tổng hợp cổ văn làm tổng hợpnghề cũ, cũng khuyến khích nhà Nho để gây dựng cho sự nghiệp vơng hoá.

T tởng Nho gia bắt rễ sâu xa lu truyền lâu bền Ngay từ thời Nghiêu, Thuấn

đã lu truyền chính thức t tởng trung hiếu: "kinh thi", "kinh dịch"

Những ngời mở đờng tiên phong của t tởng Nho gia cổ đại là Nghiêu,Thuấn, Vũ, Chu Công Trong đó tơng truyền Nghiêu, Thuấn, Vũ là nhữnghiền nhân thời cổ: Nghiêu, Thuấn thì hành nhân chính; Đại Vũ trị thuỷ; ChuCông phụ chính cho thành vơng "chế lễ tác nhạc" và "kính đức bảo dân".Nhân chính do họ thi hành đều trở thành nguồn mạch sâu gia của t tởng Nhogia thời kỳ đầu Khổng Tử đã tổng kết: "Nối dõi đạo đức Nghiêu, Thuấn,nêu rõ hiến chơng văn võ"

Khổng Tử là bậc tôn s của học phái Nho gia, cống hiến chủ yếu của ôngvới Nho học là đặt nền móng cho t tởng cơ bản của Nho học, xác định hệthống kinh điển cơ bản và mở mang, truyền bá Nho học qua học trò của ng-ời

2.2.1 Vài nét về Khổng Tử.

Khổng Tử ngời làng Xơng Bình, huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, códòng dõi là ngời nớc Tống, ông tổ ba đời rời sang nớc Lỗ Thân phụ củaNgài là Thúc Lơng Ngột làm quan võ, có đến ba đời vợ Ngời vợ đầu sinh đ-

ợc chín ngời con gái, ngời vợ thứ hai sinh đợc Mạnh Bì là con trai nhng bịquè chân, đến ngời vợ thứ ba mới sinh đợc Khổng Tử Thân phụ Khổng Tử

là một quân thần hết sức can đảm và trung tính, ông mất khi Khổng Tử mới

đợc ba tuổi Mẹ là Nhan Thị, bà rất tinh thông chữ nghĩa và nhân hậu Tr ớckhi sinh Khổng Tử có lần bà lên núi Ni Khâu, cho nên khi sinh ra Ngài mớinhân điều ấy mà đặt tên là Khâu, tức là gò Khi thân phụ Khổng Tử mất, bàNhan Thị đã đa Ngài đến Khúc Phụ nuôi dạy cho nên ngời

Lên 7 tuổi Khổng tử bắt đầu đi học Ông học hết chơng trình lục nghệ:

Lễ, Nhạc, Xạ (bắn), Ngự (đánh xe), Th (viết chữ), Số (tính toán) khi 15 tuổi

Là ngời thông minh và ham hiểu biết, không dừng lại ở đó, ông chuyên tâmtìm hiểu về "Lễ" là ngời hiếu thảo với cha mẹ, yêu quý anh chị em, kínhtrên, nhờng dới, thơng ngời nh thể thơng thân, gần gủi những bậc hiền nhânquân tử Vì vua Lỗ là hậu duệ của Chu Công, vua Vệ là hậu duệ của KhangThúc, nên hai nớc này vẫn còn giữ đợc truyền thống văn háo của nhà Chu.Chu Lỗ lúc ấy đợc xem là chuẩn mực nên Khổng Tử tìm hiểu kỹ cả về tế lễ,pháp điển, phong tục, tập quán "Lễ" giúp điều hoà những mặt tích cực vàhạn chế của con ngời: cung kính mà không biết thì khó nhọc, cẩn thận màkhông biết thì nhút nhát, dũng cảm mà không biết thì loạn động, ngay thẳng

mà không biết thì gắt gao mất lòng ngời Lễ không thể thiếu đợc đối vớinhững ai tu thân: "Vô học lễ vô dĩ lập" (nghĩa là không lễ học không biếtlập thân), không biết c xử Khổng Tử nhận thấy điều này nên rất tự giác họctập Bằng kinh nghiệm của ngời đi trớc, của chính bản thân mình, những lờigiáo huấn về lễ của Khổng Tử sau này có sức thuyết phục to lớn

Trang 15

Năm Ngài 19 tuổi thì thành gia thất rồi ra làm quan với chức Uỷ lại coi

sự gạt thóc ở kho, sau lại làm t chức, coi việc nuôi bò, dê để dùng việc cúng

tế Thuở ấy tuy Ngài còn trẻ tuổi nhng đã nổi tiếng là ngời giỏi, cho nênquan nớc Lỗ là Trọng Tôn Cồ cho hai con là Hà Kị và Nam Cung Quát theoNgài học lễ

Buổi ngày đi làm, ban đêm Khổng Tử vẫn miệt mài đèn sách đến khuya,vì vậy kiến thức của Khổng Tử không ngừng đợc bồi đắp và ngày càng uyênthâm hơn, học trò theo học Ngài nhiều hơn

Do đọc và học nhiều nên ngoài việc tinh thông về lễ, Khổng Tử còn hiểuthêm đợc quy luật vận hành của trời đất, cây cỏ và xã hội Khổng Tử cónhững kiến giải về các hiện tợng thiên nhiên và xã hội, về quan hệ giữa nớc

Lỗ và các nớc lân cận làm không chỉ quan lại bái phục mà cả vua Sở cũngtrầm trồ khen ngợi

Sự tinh thông của Khổng Tử đợc lu truyền khắp nơi và học trò đến xinhọc Ngài ngày càng đông Khổng Tử đã mở đợc trờng dạy học ngay tại nhàmình khi mới 22 tuổi Đây là một trong những trờng t thuộc thế hệ giáo dục

đầu tiên trong nền giáo dục của Trung Hoa cổ đại Đây là công việc khókhăn, nhng với trí tuệ và năng lực tổ chức của mình, công việc đầy ý nghĩanày của Khổng Tử ngày càng đợc mở rộng

Khổng Tử là ngời rất sùng bái Chu Công - ngời đã đặt ra lễ học cho nhàChu Vì vậy năm 29 tuổi ông đến kinh đô của nhà Chu là Lạc ấp để nghiêncứu về "lễ" Thầy trò Khổng Tử đi thăm tất cả mọi nơi Điểm dừng chân lâunhất là ở nhà Minh Đờng - một bảo tàng trang nghiêm, bề thế do Chu Cônglập ra 600 năm về trớc để đa những luật lệ và những bảo vật, cùng nhữnghình tợng của các thánh hiền đời trớc Ngài đến đó khảo cứu mọi việc và đixem những chế độ ở nơi miếu đờng cùng những nơi tế Giao, tế Xã - ở đâu

có việc gì liên quan đến việc tế lễ là Ngài đi xem rất tờng tận để hoàn thiệnthêm tri thức của mình

Khổng Tử ở Lạc ấp đợc ít lâu rồi trở về nớc Lỗ Từ đây sự học của Ngàirộng hơn trớc và học trò của Ngài cũng nhiều hơn Tuy nhiên vua nớc Lỗvẫn không dùng Ngài Mấy năm sau trong nớc có loạn, Ngài bỏ sang nớc

Tề Sau khi đợc vua Tề đón và hỏi chuyện chính trị, Ngài nói chuyện gìcũng vừa ý Tề hầu Tề hầu định trọng dụng Ngài nhng quan lại trong nớckhông thuận, can ngăn Tề hầu Thất vọng, Ngài bỏ nớc Tề trở về nớc Lỗ dạyhọc, lúc này Ngài đã 35 - 36 tuổi

Năm thứ 19, đời vua Kinh Vơng nhà Chu, bấy giờ Khổng Tử đã 51 tuổi,vua nớc Lỗ mới dùng Ngài làm quan Trung đô tể (phủ Doãn) Cách mộtnăm sau thì cải chức làm quan Đại t khấu (Hình bộ thợng th) Ngài đặt raluật lệ để cứu vớt kẻ nghèo khổ, định ra phép tắc trong việc tống táng ngờichết Sau đó bốn năm, vua nớc Lỗ cất Ngài lên nhiếp tớng sự, nghĩa là choNgài quyền nhiếp việc chính trị trong nớc Nhng về sau vua Lỗ ham vuichơi, bỏ bê triều chính, Khổng Từ từ quan bỏ sang nớc Vệ

Trang 16

Khổng Tử đã đi chu du thiên hạ, từ năm 496 đến năm 492 TCN Ngài đãbốn lần tới nớc Vệ, ba lần tới nớc Trần, một lần tới nớc Tống, Thái mong

đợc tiến thân Tuy nhiên đi đến đâu ông cũng không đợc toại nguyện Saunhiều năm bỏ nớc Lỗ ra đi, ông đã cay đắng thốt lên: "Ta về thôi! Ta vềthôi! Bọn học trò của ta hăng hái nhng nông nỗi, lo tiến thủ nhng khôngquên bản tính của mình"[26-227]

Năm 487 TCN, Khổng Tử lại về nớc Lỗ tiếp tục dạy học, tơng truyền tấtcả Ngài có đến 3.000 học trò, trong đó có 72 ngời thành đạt, sử sách gọi là

"thất thập nhị hiền" Họ tập hợp thành một trờng phái học thuật gọi là Nhogia, tức là phái của những nhà trí thức

Ngoài việc dạy học, Khổng Tử còn tập hợp, chỉnh lý các sách Thi, Th,

Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu Trong đó Nhạc bị thất truyền, số còn lại trởthành năm tác phẩm kinh điển của Nho gia gọi là "Ngũ kinh", đợc truyềntụng và áp dụng chặt chẽ nh những tiêu chuẩn của chân lý trong suốt hàngnghìn năm lịch sử của Trung Hoa và nhiều nớc á Đông khác Những lời nóicủa Khổng Tử và những câu nói của học trò ông đợc viết lại thành sách

"luận ngữ" - Đó là tác phẩm chủ yếu sau này tìm hiểu về t tởng của KhổngTử

Khổng Tử là nhà t tởng vĩ đại nhất của Trung Quốc thời cổ đại Ông có

đầu óc thực tiễn, ít quan tâm đến nguồn gốc của vũ trụ mà chỉ quan tâm đếnnhân sinh, chính trị, luân lý nên quan niệm về trời và quỷ thần giữ một vị tríkhiêm tốn trong học thuyết của ông

Một mặt, Khổng Tử cho rằng: Trời là giới tự nhiên, bốn mùa thay đổi,vạn vật sinh sôi nãy nở chứ không có ý trí, ngôn ngữ, tình cảm Mặt khác,Khổng tử lại cho rằng trời là một lực lợng có thể chi phối số phận và hoạt

động của con ngời, do đó con ngời phải sợ mệnh trời

Đứng trên lập trờng của quý tộc đã suy tàn bẩo vệ chế độ đẳng cấp vàchế độ tông pháp đã bắt đầu tan rã, Khổng Tử muốn quay trở lại thời TâyChu với chế độ Tông pháp và tĩnh điền, ông đề ra chủ trơng "Nhân" và

"phục lễ" (khôi phục lễ) Hạt nhân t tởng của Khổng tử là "Nhân" - "Nhân"

là quan hệ lẫn nhau giữa ngời với ngời trong sinh hoạt xã hội, tức là xử lýthế nào vấn đề quan hệ giữa quý tộc và bình dân Nội dung "Nhân" bao gồmcả hiếu, đễ, trung thứ Khổng Tử nói: "Hiếu, để là cái gốc làm ngời" Điềunày phản ánh quan hệ huyết thống, tông pháp trong nội bộ gia tộc, quý tộc

Đối với bậc trên phải nói hiếu, đối với bậc ngang, hoặc dới phải nói đễ (hữu

ái) Học trò của Khổng tử nói: "T tởng của thầy nói một câu chẳng qua làhai chữ "Trung thứ" mà thôi" Nó phản ánh quan hệ chính trị xã hội, tức là

đối với cấp trên phải nói "trung", đối với cấp ngang hoặc dới phải "thứ"(khoan dung) Hiếu, đễ và trung thứ gộp lại thành "Nhân" tức là lòng ngời,lòng thơng ngời mà cụ thể là: "cái gì mình không muốn thì đừng làm chongời khác, mình nuốn tự lập thì cũng tự lập cho ngời, muốn thành công thìcũng giúp ngời thành công" Nh vậy "Nhân" là một phạm trù rộng, gần nh

đồng nghĩa với đạo đức Học thuyết này của Khổng Tử trở thành tiếng

Trang 17

chuông báo thức cho nền giáo dục "Tam cơng ngũ thờng" (chỉ kỷ cơng, trật

tự xã hội, luân lý đạo đức phong kiến Trung Quốc) nổi tiếng sau này

Bên cạnh "Nhân", Khổng Tử còn rất chú trọng đến "Lễ", nhng "Lễ" theoKhổng Tử, nội dung không độc lập mà là một biểu hiện đạo đức luôn gắnliền với "Nhân" Khổng Tử nói: "Ngời không có lòng nhân thì thực hành lễlàm sao đợc", tức là phải có cái gốc, sự cung kính Có lúc Khổng Tử cònkhẳng định nhân có trớc, lễ có sau "Lễ" không những là biểu hiện của

"Nhân" mà "Lễ" còn có thể điều chỉnh đức nhân cho đúng mực

Nh vậy "Nhân" và "Lễ" là hai vấn đề có tính chất cốt lõi trong t tởng củaKhổng Tử Hai vấn đề đó có liên quan chặt chẽ với nhau Trong đó "Nhân"

là nội dung, là cơ sở của "Lễ", còn "Lễ" là biểu hiện, là tiêu chuẩn của

"Nhân"

Xã hội lý tởng của Khổng Tử là mong muôn trở lại thời đầu Tây Chu:Văn Vơng, Võ Vơng với cục diện ổn định, trên dới đối ứng không rõ ràng,mâu thuẫn cũng không gay gắt Nhng thời Xuân Thu, xã hội đã hỗn loạn,tập tục, truyền thống, đạo lý đã lộn xộn Vì vậy ông đề xớng "phục lễ", tức

là yêu cầu mọi ngời tự khắc chế không nên tham lam, vô độ Nhng trong xãhội t hữu và trên dới bóc lột nhau, lòng tham chỉ tăng không giảm, làm sao

tự mình khắc kỷ đợc Cho nên chủ trơng này của Khổng Tử không đợc coitrọng, nên ông đã tập trung sức lực vào việc sáng lập t học nhà Nho, dạy họchơn bốn mơi năm, một đời vui thú với nghề không mệt mỏi Tuy có ra làmquan và tham gia một số hoạt động chính trị, nhng cha hề ngng việc dạy học

- Thành tích tuyệt vời, ảnh hởng sâu xa, đợc xem là ngời sáng lập học pháiNho gia - phái của nhà Nho

Lập trờng t học, Khổng Tử chủ trơng bất kể là quý tộc hay bình dân, bất

kể là tộc Hoa hay Di Địch, đều có thể nhập học để đợc giáo dục Đó là

ph-ơng châm giáo dục "hữu giáo vô loại" (đợc giáo dục không kể hạng ngờinào) Đề xuất t tởng này là một cống hiến vĩ đại của Khổng Tử đối với nềngiáo dục cổ đại

Đạo đức là vấn đề Khổng Tử chú trọng hàng đầu Vì vậy theo Ngài,muốn tu dỡng đạo đức đợc tốt thì phải học tập Ngoài mục đích tu dỡng đạo

đức, việc học còn nhằm bồi dỡng tài năng để tề gia - trị quốc - bình thiênhạ"

Phơng châm giáo dục của Khổng Tử là học đi đôi với hành Trớc hết làhọc đạo làm ngời, học cách xử trí rồi tới học các kiến thức cần thiết chocuộc sống "tiên học lễ, hậu học văn" Sau khi học có tài có trí thì phải ra ứngdụng ở đời để làm những điều ích lợi cho dân chúng chứ không phải cần lấy

sự an nhàn cho bản thân Vậy nên cái trí của Ngài là muốn ra làm quan đểthực hành cái nhân và đạo của mình

Nh vậy, Khổng Tử - một học giả lớn, một nhà t tởng lỗi lạc, một nhàgiáo dục vĩ đại đầu tiên của Trung Quốc Những cống hiến của Khổng Tửvô cùng lớn lao Ông muốn những điều tốt đẹp áp dụng vào chính trị, lấy

Trang 18

chính trị làm công cụ của đạo nhân để giáo huấn nhà cầm quyền nớc Lỗ vàcác nớc khác T tởng ấy của Khổng Tử đặt nền móng cho phái Nho gia vàchính là cho hệ t tởng của giai cấp phong kiến sau này.

Đến năm thứ 41 đời vua Kinh Vơng, tức là năm 478 TCN Khổng Tử mất

do mắc bệnh Ông mất rồi học trò thơng khóc thảm thiết, ai cũng để tâmtang 3 năm

2.2.2 Nội dung t tởng của Khổng Tử.

Những điều kiện xã hội và chính trị có ảnh hởng lớn tới triết lý thời đại.Trong những năm cuối đời của Khổng Tử, Ngài và môn đệ suốt 14 năm đichu du thiên hạ, nhờ đó thiếp xúc nhiều với dân chúng, hiểu rõ nguyện vọngcủa họ, đồng thời biết khả năng vơn lên Nh vậy Khổng Tử và môn đệ củaNgài đã đề xớng ra t tởng của mình, đặc biệt là t tởng về chính trị, là tiền đềcho các trờng phái, hệ t tởng phong kiến Trung Quốc sau này

Hoài bão chính trị nhất quán của Khổng Tử là kế thừa sự nghiệp củaVăn Vơng, Chu Công, lập lại kỹ cơng nhà Chu Để thực hiện lý tởng củamình, ông đã có những đối sách: lấy chủ nghĩa "chính danh" làm vũ khícũng cố trật tự nội bộ giai cấp quý tộc chủ nô; lấy chủ nghĩa "cai trị bằng lễ"làm nguyên tắc cho thuyết chính danh để tăng cờng chế độ đẳng cấp; đốivới những vấn đề xã hội tồn tại thời đó, Khổng Tử dựa vào mọi biểu hiệncủa đời sống hiện thực của nhân dân mà sáng tạo ra một loạt những nguyên

lý, luân lý để bổ sung và cũng cố chế độ tông pháp Những quan hệ tác độnglẫn nhau giữa các đối sách trên của Ông đều thống nhất trong "Đạo nhân".Khổng Tử sống vào cuối thời Xuân Thu Do các cuộc bạo động nổ rakhông ngừng của nô lệ và sự vơn lên của các lực lợng mới trỗi dậy, cái gọi

là "lễ trị" nhằm duy trì, bảo vệ sự thống trị của chế độ cũ dần không duy trìnỗi nữa, nhân đó mà nãy ra t tởng, ý đồ cải đổi chế độ cũ Năm 336 TCN,ngời nớc Trịnh đúc các hình th (các đoạn văn ghi về pháp luật) Năm 513TCN, ngời nớc Tấn đúc hình đỉnh là những ví dụ về việc đó

Khi ngời nớc Trịnh đúc hình th thì Thúc Hớng, một kẻ bảo thủ nớc Tầnlại cho rằng công bố hình th sẽ dẫn đến việc tranh giành của các nô lệ, nô lệ

sẽ dựa vào sách - tức căn cứ vào hình th để đấu tranh với quý tộc Khổng Tử

đối với việc ngời nớc Tần đúc hình th thì càng phản đối kịch liệt hơn nữa.Khổng Tử cho làm binh pháp thành văn, đem cái quan hệ giữa nô lệ và quýtộc phải viết ra thành các điều khoản pháp luật, đúc lên mặt đỉnh khiến chomọi ngời đều biết, nh vậy thì làm sao "tôn quý" (tôn trọng bọn thống trị, chủnô) đợc Nh vậy chẳng phải mất cả thứ bậc "kẻ sang ngời hèn", làm đảo lộntrật tự xã hội cũ hay sao Bởi vậy, Khổng Tử kiên quyết đứng trên lập trờngcủa giai cấp chủ nô để duy trì, bảo vệ chế độ cũ

Khổng Tử muốn duy trì, bảo vệ chế độ cũ, điều đó còn biểu hiện trongkhi ông làm chức vụ thay tể tớng nớc Lỗ, vừa mới lên nắm quyền liền giếtThiếu Chính Mão là một nhân sĩ theo phái đổi mới Tội của Thiếu Chính

Trang 19

Mão: một là tụ họp đông ngời; hai là khuyến khích, cổ vũ tà khuyết; ba làlàm rối loạn phải trái

Khổng Tử ra sức duy trì xã hội thời Tây Chu nh cốt lõi của khái niệm

"Nhân"- t tởng trung tâm của ông đề xớng chính là muốn để "kiềm chếmình lập lại lễ" Ông trông thấy sự tấn công của lực lợng mới trổi dậy đơngthời, nh Quý Thị nớc Lỗ đã cùng với Mạnh Tôn Thị, Thúc Tôn Thị đem số

đất đợc chia của mình thay đổi phơng thức sản xuất mà kinh doanh, tức ápdụng bịên pháp thu địa tô Nhng Khổng Tử thì rất không hài lòng về việc đó

và đã nhiều phen chỉ trích Hơn nữa còn cho hành vi cải cách ấy là nhữngviệc làm "bất chính", là không biết khống chế những biểu hiện cụ thể củamình Khi thấy cuộc đấu tranh của nô lệ đòi giải phóng ông cho là kẻ tiểunhân không biết mệnh trời nên không sợ, khinh nhờn bậc đại nhân, khônggiữ đợc đạo trung dung Khổng Tử nêu lên đòi hỏi những ngời trong dòng

họ của kẻ thống trị phải qua việc kiềm chế mình để dẫn đến cái gọi là "dânchức quý hậu" (dân chúng trở về cái đạo đức thuần hậu) Ông nêu ra cái gọi

là ngời trên ham điều lễ thì dân không dám không kính, nhằm khôi phục cụcdiện "lễ trị" trong đó quân tử thì lo việc trị còn tiểu nhân thì lo việc sức.Cũng tức là nói khôi phục trật tự của chế độ thống trị thời Tây Chu

Để duy trì, bảo vệ sự thống trị của quý tộc chủ nô, Khổng Tử đề xớng vàkhuyến khích thuyết tiên nghiệm duy tâm, cổ vũ thuyết anh hùng sáng tạolịch sử: "Thánh nhân sinh ra là đủ mọi hiểu biết" Đồng thời lại nói rằng cáitrí của bậc bề trên và cái ngu đần của lớp ngời bề dới là do trời quyết định,không thay đổi đợc "bậc thợng trí cùng kẻ hạ ngu, không thay đổi tính tình".Khổng Tử tự cho mình lĩnh thụ đợc cái đức của trời: "Trời sinh đức cho tôi"vì vậy ngời đơng thời đã chỉ trích Khổng Tử là: "Biết không thể làm đựơc

mà vẫn làm", tức chỉ trích ông gánh lấy trách nhiệm vãn hồi chế độ cũ đã lỗithời, suy đồi

Khổng tử còn chủ trơng "Chính danh", nghĩa là chủ trơng chức vụ, danhphận, phải phù hợp với chức năng, cơng vị Vì theo ông, danh không chínhthì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc làm không đạt, vì vậy lễnhạc cũng không thể phát triển Do đó mà hình phạt không đúng, nhân dân

sẻ không biết đâu là phải trái Theo Khổng Tử, sự hỗn loạn của quan niệmdanh phận, đẳng cấp, sự sa sút uy tín của lãnh chủ tối cao là thiên tử nhàChu, sự suy nhợc của các ch hầu địa phơng và sự ngông nghênh của cácquan đại phu, ch hầu lấn vợt quyền thiên tử, đại phu lấn vợt quyền ch hầu ,thứ dân thì mặc sức bàn bạc về chính trị tất cả tình trạng đó không nhữngphá hoại về trật tự xã hội cổ truyền mà còn là mối nguy cơ chính trị rất lớnthời bấy giờ Khổng Tử cho những sự tình trái với danh phận làm loạn nghĩavua tôi và loạn trật tự lớn bé là không thể dung thứ đợc Vì vậy Khổng Tửcho rằng muốn cứu vãn nguy cơ chính trị thời đó, trớc hết phải khôi phục uyquyền của lãnh chúa tối cao, tức thiên tử; phải ngăn chặn những việc vợtquyền của các lãnh chúa ch hầu, đại phu và các quan tớc khác; mỗi ngờiphải biết giữ danh phận của mình mới có thể gây lại đợc nền chính trị của

Trang 20

thời "thiên hạ có đạo" Vì vậy Khổng Tử cho rằng chỉ có "chính danh", xác

định lại danh phận của các đẳng cấp, điều hoà quan hệ giữa các lãnh chúa,

ch hầu, đó là vấn đề căn bản về chính trị thời đó

Nh vậy, theo Khổng tử, nếu quốc gia lâm vào hoàn cảnh trầm trọng,muốn cứu vãn tình thế, chỉ có một phơng pháp duy nhất là làm thế nào chovua vẫn là vua, tôi vẫn là tôi và dân chúng vẫn là dân chúng Nói cách khác

là tất cả mọi ngời phải thuận theo danh vị của mình mà hành động, đó làthuyết "Chính danh” của Khổng Tử Vua phải theo đúng đạo làm vua, tôiphải theo đúng đạo làm tôi, cha phải theo đúng đạo là cha, con phải theo

"Nhân" để thay đổi quan niệm của mình, xây dựng tính tự giác ấy Trớc hếtbản thân mình phải ngay thẳng mới có thể chỉ đạo, giúp đỡ và ảnh hởng mộtcách có hiệu quả đến ngời khác Yêu cầu đó là tích cực Nhng nh vậy chỉ cótrên cơ sở chủ nghĩa duy vật mới có thể đảm bảo thực hiện đợc, còn chủnghĩa duy tâm thì lại ngợc với yêu cầu đó, không đảm bảo đợc Do đó vớibọn ch hầu thích vợt quyền, không chịu giữ danh phận của mình, khôngchịu tự giác, Khổng Tử làm thế nào? Trớc tình hình ấy, Khổng Tử chủ trơng

đáng dẹp, do Thiên tử chủ trì Đồng thời mọi ngời đều có thể đánh dẹp

Nh vậy, có thể thấy trong chủ truơng chính trị của Khổng tử, "Chínhdanh" là nhiệm vụ cơ bản của Chính phủ Chính danh tức là bảo vệ danhphận, đẳng cấp, là phân biệt giữa tà và chính, tạo lập kiểu mẫu nhân chính

để phát huy h thực, tốt xấu, hữu lý, vô lý, công bình, chuyên chế, đúng haykhông đúng Nh vậy chúng ta thấy Khổng Tử xây dựng Chính phủ hoàntoàn trên nền tảng giáo dục Điều này hết sức quan trọng và có ý nghĩa, vì

đời sống chính trị là do t tởng quần chúng chế ngự, điều khiển Nếu t tởnghớng về nẻo đúng, quốc gia sẽ an bình; nếu hớng về nẻo sai, nớc nhà sẻnguy hiểm

Để duy trì và bảo vệ trật tự giai cấp trong xã hội tông pháp của Tây Chu,Khổng Tử chủ trơng "cai trị bằng lễ làm nguyên tắc thực hiện" Lễ củaKhổng Tử nói là lễ của nhà Chu Đó là thợng tầng kiến trúc của xã hội đẳngcấp của bọn quý tộc chủ nô Ông đề xớng "phục lễ", tức yêu cầu mọi ngời tựmình kiềm chế, không nên tham lam vô độ: "Khắc kỷ phục lễ là nhân, mộtngày khắc kỷ phục lễ thiên hạ quy về nhân vậy"

"Lễ" mà Khổng Tử nói tới không chỉ là một thứ nguyên tắc về chính trị,một văn bản về nghi tiết, mà còn là một thứ chế độ Trong các tầng lớp dochế độ đẳng cấp tạo nên, thì có một loại trớc đó để phân biệt họ, do đó mà

có "danh để đặt ra đạo nghĩa, đạo nghĩa để đặt ra lễ" Đó là nguồn gốc củacái gọi là dùng "Lễ để cai trị"

Trang 21

Theo Khổng Tử, lễ có bốn nghĩa chính Trớc hết là một điều luật khôngviết trên giấy trắng mực đen, nhng có thể dùng để kiểm soát hoạt động củacon ngời Vua chúa quần thần, quan dân đều phải duy trì lễ Nhờ lễ mà quanlại trung hiếu, nhờ lễ mà dân chúng yêu nớc Tinh thần lễ nghĩa này đã làmnền tảng cho văn hoá Trung Hoa và các nớc phơng Đông, là trụ cột của gia

đình, của cách ứng xử trong cuộc sống

Thứ hai là sự kiện xã hội hoá Ông cho rằng kiềm chế ngủ quan, hành

động của con ngời theo lễ là bớc đầu của nhiệm vụ khó khăn nhất: Phát triểntình thơng yêu giữa ngời và ngời

Thứ ba là sự kiện dung hoà trong văn chơng và nghệ thuật Dù một bứctranh hoạ của Picasso, hay một bản nhạc của Beethoven, màu sắc và âmthanh phải không đi quá phạm vi của mình để tạo nên những tác phẩm tuyệtdiệu

Không có lễ, "nhã nhặn trở thành ngạo nghễ, dè dặt trở thành thụ động,can đảm trở thành liều lĩnh và chính trực trở thành hung bạo"

Trong khi lễ là sự kiện cấu thành phẩm chất, nhân cách, nhạc, theoKhổng Tử hoàn thành quá trình tạo lập giá trị nhân đạo Vì vậy trong Nhogiáo lễ và nhạc thờng đi đôi với nhau Theo ông lễ có nhiệm vụ điều khiểnhành động bên ngoài, và nhạc dắt dẫn cảm niệm bên trong của con ngời.Quá trình hình thành học thuyết "Lễ", để đạt đợc lý tởng trật tự đạo đứcdung hoà gồm có ba giai đoạn Trớc hết lễ cung cấp những quy tắc để tạonên hệ thống xã hội, trong đó dân chúng đợc phân biệt, trên dới có thứ tự.Nói cách khác, lễ là đạo lý thực nghiệm của thuyết chính danh, con ngờiphải biết rõ ràng địa vị và danh phận của mình trong xã hội

Thứ hai, lễ cung cấp luật pháp, đạo đức kiểm soát xã hội, quy định rõràng bổn phận và trách nhiệm của mỗi ngời Quy luật ấy không dùng sứcmạnh để bắt buộc ngời ta tuân theo mà chỉ giải thích cho họ hiểu tráchnhiệm, lơng tâm

Thứ ba, lễ cung cấp lý tởng dung hoà xã hội, nhấn mạnh bổn phận cánhân đối với xã hội Lễ là nguyên tắc của chủ nghĩa lý tởng luân lý xã hội

và đề cập đến hớng giá trị xã hội cần phải rèn luyện trong thế giới thực tiễn

mà chúng ta đang sống hiện tại

Đối với chính sách trị dân, Khổng Tử chủ trơng: "Làm chính trị màdùng đức (để cảm hoá dân) thì nh sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi saokhác đều hớng về” [23 - 30] Trên cơ sở quan niệm đạo đức của mình,Khổng Tử chủ trơng chấm dứt loạn ly, khôi phục thái bình thịnh trị, thì cáchtrị dân, trị nớc tốt nhất là dùng "Đức trị" Theo ông: "Cai trị dân mà dùngmệnh lệnh, đa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thì dân có thể tránh

đợc tội lỗi nhng không biết liêm sỉ Cai trị dân mà dùng đạo đức, đa dân vàokhuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thực lòng quy phục"[23 -30] "Đức trị" theo Khổng Tử phải thực hiện đợc ba điều: làm cho dân đông

đúc, phát triển kinh tế và cho dân học hành

Trang 22

Phơng châm và biện pháp để thi hành đờng lối đức trị là phải thận trọngtrong công việc, phải giữ đợc chữ tín, tiết kiệm trong chi dùng, thơng ngời,

sử dụng sức ngời vào những thời gian hợp lý Trong việc lựa chọn quan lạiphải chú ý đến tài, đức, nếu ngời nào không có tài mà giữ quyền cao chứctrọng là ăn cắp địa vị

Nh vậy đối với giai cấp thống trị phong kiến, t tởng chính trị của Khổng

Tử là một biện pháp tơng đối tốt để cũng cố nền gốc Trong thời đại phongkiến của lịch sử loài ngời, đó là một học thuyết tơng đối tiến bộ Khổng Tửmuốn đem sách, tài đức của mình giúp vua, chủ trơng lập lại trật tự, lễ nghĩacủa nhà Chu với nội dung đợc cải biến cho phù hợp với điều kiện lịch sửmới Đó là ông dồn hết vào việc làm cho xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ đợc

ổn định, và biện pháp của ông là khôi phục đờng lối đức trị và lễ trị từ thờiTây Chu Song vì t tởng của Khổng Tử nhằm bảo vệ nền chuyên chính củaquý tộc chủ nô không còn phù hợp với xã hội mà uy thế chính trị thuộc vềtầng lớp địa chủ mới, nên học thuyết của ông không đợc vua chúa thời đóchấp nhận

Khổng Tử - một học giả lớn, một nhà t tởng lỗi lạc, một nhà giáo dục vĩ

đại đầu tiên của Trung Quốc Về t tởng triết học của ông cơ bản là duy tâm,nhng trong quan niệm của ông về tự nhiên cũng có những yếu tố duy vật,biểu hiện trong quan niệm của ông về "Thiên mệnh", "Thiên đạo" và "Quỷthần"; quan điểm về chính trị, xã hội Bên cạnh t tởng bảo thủ giai cấp phânbiệt thì tiến bộ của ông là "Đức trị", lấy nhân làm cốt lõi và lễ làm hìnhthức

T tởng của Khổng Tử đã có ảnh hởng rất lớn trong lịch sử Trung Quốc

và nhiều quốc gia phơng Đông khác Mạnh Tử giữa thời Chiến Quốc đã pháttriển t tởng duy tâm chủ nghĩa, còn Tuân Tử thì phát triển duy vật chủ nghĩatrong t tởng của ông T tởng Nho gia chính thống do Khổng Tử sáng lập trởthành ý thức hệ phong kiến Trung Quốc xuyên suốt xã hội truyền thống Dovậy T Mã Thiên trong "Sử ký" đã đánh giá Khổng Tử là bậc thánh nhân Saukhi học thuyết của Khổng Tử ra đời, Nho giáo chính thức đợc hình thành,trở thành hê t tởng thống trị xã hội phong kiến Trung Quốc

Trang 23

h-Thời Đông Chu, Nho học chính thức đựơc hình thành do Khổng Tửsáng lập Tuy nhiên sau khi Khổng Tử mất, Nho gia bị chia thành nhiềutông phái khác nhau nh: phái Tăng Tử, phái Tử Hạ, phái Tử Trơng Vì vậy

đã không có điều kiện phát triển Đến thời Chiến Quốc (thế kỷ thứ V- IIITCN) Nho học chính thức đợc phục hồi, phát triển và xác lập ở các triều đạiphong kiến Trung Quốc, trở thành hệ t tởng thống trị chế độ phong kiếnTrung Hoa Đại biểu xuất sắc đầu tiên của Nho học chính thống là Mạnh

Tử Ông đợc tôn phong là bậc "á thánh" sau Khổng Tử

3.1.1 Vài nét về Mạnh Tử.

Mạnh Tử (371 - 289 TCN), ông họ Mạnh, tên Kha, ngời đất Trâu, nớc

Lỗ ( thuộc huyện Châu, tỉnh Sơn Đông ngày nay), ông xuất thân từ một gia

đình quý tộc đã sa sút Năm lên ba tuổi thì cha mất, nhờ có mẹ hiền dạy dỗ,

về sau theo học phái Tử T (cháu đích tôn của Khổng Tử), vì vậy ông hiểu rất

rõ cái đạo của Khổng tử Ông có tài hùng biện, từng đi du thuyết ở n ớcNgụy nhng không đợc vua Nguỵ tin dùng Ông đi du thuyết nớc Tề, đợc vua

tề ban cho tớc vị cao, nhng cũng không sử dụng học thuyết của ông Mạnh

Tử đành đi du thuyết ở các nớc khác: Lơng, Tống, Đằng, Lỗ nhng các nớcnày đều đang lo "biến pháp canh tân" để "quốc phú, binh cờng" nhằm thôntính lẫn nhau, tranh giành bá chủ, "cái đức thời tam đại" do ông đa ra khôngthích hợp do không ai chú ý đến việc nhân nghĩa nữa Thiên hạ đang lấyviệc quân sự làm trọng, trong khi Mạnh tử luôn đề cao lòng nhân đức, vì vậychủ trơng của ông đợc coi là viễn vông, không xác thực Sau này khi đã gầngià, ông thấy cái đạo không thi hành đợc nên về quê cùng môn đệ NhạcChính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chơng trình bày học thuyết của phái Nhogia T tởng và hoạt động của ông đợc làm thành bảy thiên của sách MạnhTử

Bộ sách Mạnh tử, Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung cùng với Ngũ kinhcủa Khổng tử là những bộ sách cốt yếu của Nho giáo Trong đó xét về đờnghọc vấn của Nho giáo thì sách Mạnh Tử rất có giá trị Về sau Trình Di(Trình Y Xuyên) đời Tống nói: "Kẻ đi học nên lấy sách Luận Ngữ và sáchMạnh Tử làm cốt Đã biết đợc hai bộ sách ấy, thì không cần học Ngũ kinhcũng rõ đợc đạo của thánh hiền"[8 - 216] Mạnh Tử là ngời hiểu rất rõ cái

đạo của Khổng Tử là lại lĩnh hội đợc cái nghĩa uyên đáo của ngời Ông rấtsùng bái Khổng Tử nên điều gì ông cũng lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn

Ông nói: "Khổng Tử thánh chi thời giả giả” (tức Khổng tử là bậc thánh củathời vậy) [8 - 216]

Ông muốn đem sở dắc của ông để tuỳ thời hành đạo Dẫu không đợc cơhội mà thi thố tài năng của mình, song nhờ những lời biện luận mạnh mẽcủa ông mà cái đạo thánh nhân sáng rõ ra đợc Lời nói của Khổng Tử là lờinói của ông thầy, câu nào cũng sung thiệm, hàm súc thật đáng là bậc thánh

s muôn đời Lời của Mạnh Tử là lời của một ngời đi truyền đạo, có khí tợng,hùng kính và bộc trực, rất đáng giúp thánh nhân làm cho rã mối đạo vậy

3.1.2 Sự phát triển Nho học của mạnh Tử.

Trang 24

- Quan Điểm đạo đức, luân lý:

Trong quan niệm về đạo đức luân lý con ngời, Mạnh Tử tiếp nối quan

điểm của Khổng Tử, đề cao nhân tâm và tính lơng thiện

Thứ nhất, đó là tính thiện Mạnh Tử trớc sau chú trọng chữ tâm và chữtính, và ông cho rằng con ngời ta sinh ra ở đời vốn đã mang sẵn bản tính l-

ơng thiện Ông nói: "ngời ta ai cũng có lòng trắc ẩn, ai cũng có lòng tu ố, aicũng có lòng cung kính, ai cũng có lòng thị phi Lòng trắc ẩn là nhân, lòng

tu ố là nghĩa, lòng cung kính là lễ, lòng thị phi là trí Nhân nghĩa lễ tríkhông phải là ở ngoài mà đúc lên đâu, ta vốn có sẵn cả, chỉ là không nghĩ

đến mà thôi" [8 - 182] Ông nói: "Ngời ta ai cũng có lòng thơng ngời Nếuthình lình thấy một đứa trẻ sắp ngã xuống giếng thì ai cũng có lòng bồnchồn thơng xót Bồn chồn thơng xót không phải là vì muốn cầu thân với cha,

mẹ đứa bé, không phải là mong tiếng khen của làng xóm, bạn bè, cũngkhông phải là sợ ngời ta chê cời"[8 - 184] Nh vậy ai không có lòng trắc ẩnthì không phải là ngời; ai không có lòng tu ố thì không phải là ngời; aikhông có lòng từ nhợng thì không phải là ngời; ai không có lòng thị phi thìkhông phải là ngời Lòng trắc ẩn là cái mối của nhân, lòng tu ố là cái mốicủa nghĩa, lòng từ nhợng là cái mối của lễ, lòng thị phi là cai mối của trí Đóchính là "Tứ đoan thuyết" (thuyết bốn mối) và ngời ta có bốn mối ấy nh có

tứ thể vậy Có bốn mối ấy mà tự bảo không sửa mình đợc là tự mình hạimình vậy Đã có bốn mối ấy ở trong mình mà biết mở rộng ra cho thông thì

nh lửa mới bắt đầu cháy, nh suối mới bắt đầu chảy

Mạnh Tử sở dĩ nói tính thiện là do tin có cái thiên lý trí thiện, mà tínhngời ta là một phần thiên lý ấy, tất là phải thiện Sự giáo dục là phải lấy cáithiện ấy mà làm căn bản rồi giữ cho nó không mờ tối đi, trau dồi cho nóphát triển ra mà thành ngời lành, ngời tốt Đó là học thuyết của Mạnh Tửcăn cứ ở tính thiện của trời phú cho ngời ta

Thứ hai là về cái Tâm: Mạnh Tử cho tính thiện là bản nguyên trời phúcho, bởi cái lý tởng ấy mà ông lập ra cái tâm học triết lý rất cao Ông cho làngời có tính ấy tất là ngời có tâm ấy Tâm với tính là một Tâm là phần chủ

đề trong ngời ta Hiểu rõ cái tâm thì ta biết rõ cái tính, biết rõ cái tính thìbiết rõ trời đất, vạn vật

Tâm là cái thần minh có đủ mọi lý để ứng với vạn sự, tính là cái lý hoàntoàn của tâm, trời là nguồn gốc của cái lý ấy Ngời ta có cái tâm ấy mà hiểu

đợc cái toàn thể của nó, đừng để cái t ý che lấp đi thì ta biết rõ cái tính, biết

rõ cái tính là biết rõ Trời vậy Biết rõ tính là biết nhân và lễ là cái đức

"nguyên" và đức "hạnh" của Trời, nghĩa với trí là cái đức "lợi" và đức

"trinh" của trời Biết rõ bốn đức ấy là đạt đợc cái diệu dụng của Trời

Đã biết tính, biết trời, thì ta chỉ biết chuyên nhất ở sự nuôi tính và sự sửamình cho toàn cái của Trời đã phú cho ta, rồi cứ an vui mà đợi mệnh Trời,chứ không lấy sự thọ yểu mà hại cái bản nguyên chí thiện ấy chính là cáimệnh, làm sao giữ lấy cái tâm, nuôi lấy cái tính, biết rõ lẽ trời mà theo cái

Trang 25

chính mệnh của mình, ấy là cái tinh thần của Nho giáo Bởi vậy Mạnh Tửrất chú trọng đến sự tồn tâm, tồn tính, dỡng khí và trì khí.

- Quan điểm chính trị:

Về quan điểm chính trị, xã hội, Mạnh Tử kế thừa những luận điểm "đứctrị", "lễ giáo" của Khổng Tử, kêu gọi giai cấp thống trị hãy thi hành "nhânchính" (chính trị dựa trên đức nhân) để thu phục nhân tâm, thống nhất thiênhạ Mạnh Tử tuy thừa nhận chính thể quân chủ, nhng ông cho thiên hạ làcủa chung của thiên hạ, chứ ngời làm vua không có quyền đợc lấy thiên hạlàm của riêng của mình Cái quyền trị dân là do Trời giao cho, tức là dolòng dân ứng thuận cho ai thì ngời ấy mới đợc Dân với Trời đã tơng quanvới nhau nh thế thì trong thiên hạ dân là quý hơn Mạnh Tử nói: "Dân viquý, xã tắc thứ chí, quân vi khinh" (dân là quý, xã tắc là thứ, vua làmkhinh) Có dân mới có nớc, có nớc mới có vua Vua phải "bảo dân" tức giữgìn cái hạnh phúc của dân Nếu ngời làm vua không hiểu rõ cái nghĩa vụ ấy

mà làm việc trái lòng dân, tức là trái mệnh trời: "Bảo vệ dân có thể thành v

-ơng, không có gì có thể ngăn nổi"

Mạnh Tử rất chú trọng sự "bảo dân" nên ông bày tỏ ra nhiều ý kiến cógiá trị về đờng chính trị Ông cho là ngời làm vua lúc nào cũng lo đến hạnhphúc của dân, cùng với dân mà hởng thụ phú quý, chịu sự lo sợ thì khôngbao giờ dân bỏ mình đợc Ngợc lại, ông vua nào không theo sự tông chỉ ấy

mà chỉ cần lấy sự vui thú của riêng mình để dân phải chịu sự cực khổ là ôngvua bất nhân

Theo lý thuyết ấy Mạnh Tử định rõ thế nào là vơng, thế nào là bá Ôngcho rằng: "ngời dùng sức mạnh mà mợn tiếng làm điều nhân là bá, ngời làmbá tất phải có nớc lớn Ngời lấy đức làm điều nhân là vơng, ngời làm vơngkhông đợi có nớc lớn" [8 - 207]

Mạnh Tử thờng lấy vua Nghiêu, vua Thuấn là hai bậc thánh nhân đời

tr-ớc làm tiêu biểu cho những ngời có trách nhiệm trị dân, trị ntr-ớc: "Muốn làmvua phải biết đạo vua, muốn làm tôi phải biết đạo tôi, hai điều ấy chỉ bắt ch-

ớc vua Nghiêu, vua Thuấn mà thôi" [8 - 208]

Việc chính trị chỉ có nhân và bất nhân mà thôi Nhân là Nghiêu, Thuấn,bất nhân là Kiệt, Trụ Dùng nhân mà trị thiên hạ là phải đạo, dùng bất nhân

mà trị thiên hạ là trái đạo Trong cái chính thể quân chủ, tuy có vua, có tôinhng vua phải lấy lễ mà đãi bề tôi, bề tôi phải lấy trung mà thờ vua Trên d-

ới đều có định phận rõ ràng Nếu vua mà vô lễ, khinh bỉ bề tôi thì còn gì làcái nghĩa vua tôi nữa

Tóm lại, học thuyết của Mạnh Tử về đờng chính trị là cốt lấy sự hoàbình mà bảo tồn lấy dân Đó là sự cảm xúc của hoàn cảnh lịch sử đơng thời,dân thì khổ sở vô cùng vì vua chúa tranh quyền, tranh lợi, thiên hạ loạn lạc,nên ông muốn đem cái đạo của thánh hiền mà khuyên răn mọi ngời, khiếncho ai nấy đều hồi tởng lại, lấy nhân nghĩa mà đối với quốc gia để cứu vớtmuôn dân Chính sách của ông là chính sách cứu đời vậy Nh vậy quan điểm

Trang 26

chính trị của Mạnh Tử trên cơ sở kế thừa Khổng Tử đã có những điểm pháttriển mới đánh dấu bớc phát triển t tởng Nho gia.

- Quan điểm triết học:

Kế thừa t tởng của phái Nho gia, quan điểm triết học của Mạnh Tử trớchết là biểu hiện ở đức tin vào mệnh trời Ông nói: "ở trong thiên hạ không

có việc gì là không có mệnh Trời, ta thuận mà theo cái chính Ngời biết theomệnh là ngời không đứng dới cái tờng sắp đổ, nhng cố sức làm cho hết đạo

mà chết, thế là chính mệnh" [8 - 186]

Khi một học trò của Mạnh Tử hỏi: "Có phải Nghiêu đem thiên hạ nhờngcho Thuấn không?" Mạnh tử đáp: "Không phải nh vậy mà sở dĩ Thuấn cóthiên hạ là do Trời cho"

Nh vậy, với quan điểm triết học của Mạnh Tử thì Trời là lực lợng quyết

định mọi việc ở đời, nhng nếu những bậc quân tử chăm lo tu dỡng thì có thể

đạt từ cái thiện, mỹ và có thể cảm hoá đợc ngoại giới nh bậc thánh nhân.Theo ông: "trong lòng đầy đủ sự chân thành gọi là mỹ, đầy đủ mà còn rực rỡ

ra bên ngoài gọi là vĩ đại, vĩ đại rồi lại cảm đợc ngoại giới gọi là thánh,thánh mà biết thánh nữa là thần" Quan điểm ấy vừa có mặt duy tâm kháchquan, vừa có mặt duy tâm chủ quan

Có thể nói đóng góp của Mạnh Tử đối với sự phát triển và xác lập đạoNho là rất lớn Về quan điểm luân lý, đạo đức con ngời, ông khẳng định làthể thiện qua "thuyết tứ đoan", trong đó ông coi trọng chữ nghĩa hơn cả; Vềquan điểm chính trị, ông quan tâm thực sự đến đời sống của dân, đặc biệt

ông đa ra t tởng thống nhất quốc gia dân tộc; Trong quan điểm triết học vừa

có mặt duy tâm khách quan vừa có mặt duy tâm chủ quan

Những nói trên chứng tỏ việc trung hng Nho học của Mạnh Tử là một

đỉnh cao nữa của học phái Nho gia sau Khổng Tử Ông đã kế tha t tởng củaKhổng Tử và phát triển, truyền bá nó không chỉ khiến Nho học đợc trung h-

ng mà còn đặt cơ sở Nho học trở thành hệ t tởng chính thống của giai cấpphong kiến Trung Quốc

Tần Thuỷ Hoàng đã ra lệnh tiêu huỷ vũ khí của nhân dân, di c quý tộc

và dòng dõi quý tộc của sáu nớc thời chiến quốc về kinh đô để kiểm soát vàthống nhất văn hoá t tởng Tần Thuỷ Hoàng đã đốt sách, chôn sống hàngloạt Nho sĩ, huy động hàng triệu nhân công để xây dựng Vạn lý trờngthành Ngoài ra để phục vụ cho đời sống xa hoa của mình khi sống lẫn

Trang 27

chết, Tần Thuỷ Hoàng cho xây dựng cung A phòng cùng nhiều cung điện xahoa tồn kém khác Lăng Ly Sơn là khu lăng mộ rất lớn đợc Tần Thuỷ Hoàng

- Lu Bang năm 202 TCN Sau khi thành lập nhà Hán, nền kinh tế, chính trị,xã hội Trung Quốc dần đợc ổn định và phát triển hơn cả nhà Tần Đây chính

là điều kiện "cần" để giai cấp phong kiến Hán tộc lấy Nho học làm hệ t tởngchính thống

+ Về kinh tế: Khi mới thành lập nhà Hán, Hán Cao Tổ và các ông vua

kế vị sau đó đã thi hành nhiều chính sách để phát triển kinh tế nh: khuyếnkhích dân về quê cũ làm ăn, phục viên các binh sĩ Đó là điều kiện để kinh

tế nhà Hán nhanh chóng phát triển không chỉ với nông nghiệp mà cả thủcông nghiệp Trong nông nghiệp thì nhờ có kỷ thuật canh tác, năng suất lao

động tăng cao Có hệ thống thuỷ lợi khá thuận tiện Thủ công nghiệp cũng

là một thế mạnh, bên cạnh các công trờng thủ công của nhà nớc thì thủ côngnghiệp dân gian ở thành thị và nông thôn cũng rất phát đạt với quy mô lớn.Nhờ đó đã thúc đẩy ngành thủ công nghiệp phát triển với việc giao lu buônbán cả trong và ngoài nớc nh ấn Độ, Giava

Nền kinh tế phát triển đã cũng cố nhiều mặt khác của đời sống xã hội

+ Về chính trị - xã hội.

Các ông vua nhà Hán đã rất quan tâm đến việc cũng cố bộ máy phongkiến chuyên chế trung ơng tập quyền, tăng cờng lực lợng quân sự để bảo vệchính trị và mở mang ra bờ cõi bên ngoài

Bộ máy nhà nớc thời Hán đợc tổ chức chặt chẽ từ trung ơng đến địa

ph-ơng, đứng đầu là vua có quyền "tối cao vô thợng" Nhà Hán vẫn thực hiệnchính sách bảo vệ quyền lợi cho giai cấp địa chủ, nhng vẫn có những chínhsách để điều hoà giai cấp, tạo điều kiện để các tầng lớp khác có điều kiệnphát triển

Tất cả những chính sách tiến bộ trên đa nhà Hán phát triển đến cực thịnh

về mọi mặt Tuy nhiên vấn đề cấp bách đặt ra lúc bấy giờ là làm thế nào đểduy trì đợc sự bền vững của chính quyền trung ơng, ngăn chặn xu hớng cát

cứ, ổn định xã hội lâu dài Để giải quyết những vấn đề này cần phải có một

hệ t tởng làm nền tảng cho sự thống trị của mình Trong các học thuyết t ởng thời đó, Nho học với những luận điểm sâu sắc vế "chính danh địchphận", "lễ trị", "trung hiếu" tỏ ra thích hợp hơn cả với tình hình thời đó -

Trang 28

t-khi nhà Hán đang thịnh trị Do đó Hán Vũ Đế chủ trơng lấy Nho học làm cơ

sở lý luận để cũng cố nền thống trị của mình Năm 136 TCN, Hán Cao Tổchính thức ra lệnh "Bãi truất bách gia, độc tôn Nho học" Tuy nhiên Hán Vũ

Đế và các triều thần của ông không áp dụng nguyên xi những t tởng củaphái Nho gia thời Khổng Tử mà đã bổ sung phát triển nhiều điểm mới chophù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc đó và phù hợp với những lợi ích của triều

đại mình Ngời có công lao xuất sắc vào cuộc chấn hng, phát triển Nho họcthời kỳ này nhất là Đổng Trọng Th (179 - 104 TCN)

3.2.2 Đổng Trọng Th và vai trò của ông trong việc chấn hng và phát triển Nho học thời Hán.

3.2.2.1 Vài nét về Đổng Trọng Th.

Đổng Trọng Th sinh ra ở Quảng Xuyên, huyện Táo Cờng, tỉnh Hà Bắc,dới thời vua Hán Văn Đế (179 TCN) Ông xuất thân trong một gia đình quýtộc Từ nhỏ Đổng Trọng Th đã đọc sách kinh điển nhà Nho nh: Thi, Th,Dịch, Luận ngữ, Lão kinh Khi lớn lên ông đã bỏ nhiều công sức để học vànghiên cứu "Xuân Thu" Dới thời vua Hán Cảnh Đế (156 - 140 TCN) ĐổngTrọng Th đợc phong chức quan bác sĩ, một chức quan về y học Tuy nhiên

ông lại cảm thấy mình nh một kẻ sĩ không gặp thời Hoàng đế không trọngdụng nên thời gian này ông bắt đầu thu nhận học trò, tiến hành dạy học Bởi

ông là ngời uyên thâm Nho học nên môn đệ của ông rất đông

Năm 140 TCN Hán Vũ Đế lên ngôi vua đã lựa chọn đợc trớc sau hơn

100 ngời "Hiền lơng văn học" trong đó có Đổng Trọng Th là một hiền lơngtrong những kỳ sách đó

Năm 135 TCN, miếu Hán Cao Tổ bị bốc cháy, Đổng Trọng Th cho việcnày là do biện pháp trị nớc nhà Hán bị sai lầm "Thiên - nhân cảm ứng" Vìvậy "trời" đã dùng hiện tợng không bình thờng để cảnh báo Hoàng đế Ôngliền viết một bài văn về sự kiện này Bài viết đến đợc tay Hán Vũ Đế, ĐổngTrọng Th bị giáng chức Trung Đại phu

Năm 125 TCN, thừa tớng Công Tôn Hoằng tiến cử Đổng Trọng Th đếnGiang Tây Vơng làm tớng, nhng mấy năm sau là ông cáo quan về viết sách,lúc này ông đã 70 tuổi Những năm cuối đời ở nhà viết sách ông vẫn đợctriều đình trọng dụng: "triều đình nếu có hội nghị thờng cử ngời đến nhàhỏi" [21 - 259] Năm 104 TCN Đổng Trọng th qua đời, thọ 75 tuổi

Đổng Trọng Th là ngời liêm khiết, chính trực; việc đạo, việc đời đều rấtuyên thâm Bản thân ông đợc phong làm "Ngũ kinh bác sĩ" (ngời thông bácngũ kinh) Cả cuộc đời ông một lòng "trung quân, ái quốc", hết lòng vì triều

đại nhà Hán Năm 136 TCN, Đổng Trọng Th cho biên dịch lại tất cả cácsách vở kinh điển cổ, chọn ra một số và phân làm 5 loại gọi là Ngũ kinh(Thi th, Lễ, Nhạc và Xuân thu) Đổng Trong Th là đại biểu tiêu biểu nhấtcủa trào lu t tởng Nho học thời Tây Hán, là ngời xây dựng nền móng cho xãhội phong kiến chuyên chế trung ơng tập quyền nhà Hán

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w