- Nhiệm vụ của đề tài: Thông qua cái nhìn khái toàn diện về những bài thơ “hành” trong phong trào Thơ mới cần làm sáng rõ: + Sự kế thừa và cách tân của Nguyễn Bính,Thâm Tâm và Trần Huyền
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh
Trang 21 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3.Đối tợng, nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu 2
4.Cấu trúc của luận văn 2
B Phần nội dung 3 Chơng I Một số vấn đề lí luận chung 3
1.1.Giới thuyết khái niệm thể “hành” trong thơ 3
1.1.1.Khái niệm thể “hành.” 3
1.1.2.Đặc điểm của thể “hành” về mặt thể loại 3
1.2.Xác định một cách gọi chonhững bài thơ “hành” trong phong trào Thơ mới 1932-1945 4
1.3.Cơ sở xã hội và cơ sở văn học cho sự xuất hiện những bài thơ “hành” giai đoạn 1932-1945 7
1.3.1.Cơ sở xã hội 7
1.3.2.Cơ sở văn học 9
1.3.2.1.ảnh hởng của văn học Trung Quốc 9 1.3.2.2.ảnh hởng của thơ ca truyền thống 10
Chơng II Đặc điểm của những bài thơ hành trong phong “ ” trào Thơ mới 1932-1935. 11 2.1.Cảm hứng chủ đạo của những bài thơ “hành” trong phong trào Thơ mới 1932-1945 11 2.1.1 Cảm hng thế sự gắn liền với nỗi niềm trớc thời cuộc 11 2.1.2.Cảm hứng bất bình phản kháng đối với thực tại xã hội 13 2.1.3.Cảm hứng ra đi không trở về 14 2.2.Quan niêm nghệ thuật vê con ngời của các tác giả
thông qua những bài thơ “hành” 20 2.2.1.Một số vấn đề xung quanh khái niệm quan niệm nghệ thuật
về con ngời 20 2.2.2.Quan niệm nghệ thuật về con ngời của các tác giả
thông qua những bài thơ “hành” 21 2.2.2.1.Con ngời lí trí- tình cảm 22
Trang 32.2.2.2.Con ngời anh hùng- đời thờng 24 2.2.2.3 Con ngời cao cả-thấp hèn 26
Chơng III Một số nhận xét về những bài thơ hành trong “ ”
3.1.Về mặt thể loại 31
3.2.1.Giọng điệu bi hùng- tráng khí 37 3.2.2.Giọng điệu tự sự- trữ tình 38
nó vẫn luôn là đề tài hấp dẫn để các nhà nghiên cứu không ngừng tìm tòi tranhluận
Trong hơn 10 năm hình thành và phát triển Thơ mới đã đạt đợc thành tựu rực
rỡ trên cả phơng diện nội dung và nghệ thuật Thơ mới đã làm nên “Một cuộccách mạng trong thi ca” (Hoài Thanh) và “Thơ mới đã nghiễm nhiên nằm trongvăn mạch dân tộc và là một chơng rất quan trọng trong lịch sử văn học nớc nhà”(Huy Cận).Thơ mới đã in dấu vào nó cả một thế kỷ và bây giờ chúng ta vẫn sốngdới ảnh hởng của nó
Trang 4Khi nói đến phong trào Thơ mới 1932 – 1945 ngời ta chỉ nhắc đến “thơ
đạo” của Xuân Thu Nhã Tập, “thơ say” của Vũ Hoàng Chơng, “thơ loạn” củaChế Lan Viên, “thơ điên” của Hàn Mạc Tử, “thơ tình” của Xuân Diệu…và khivà khinói đến thơ “hành” của phong trào Thơ mới thì chúng ta mới chỉ tiếp cận với bài
“Tống biệt hành”của Thâm Tâm mà thôi Nhng trên thực tế qua khảo sát Thơ mới
ta thấy có 5 bài thơ “hành”của Nguyễn Bính,Thâm Tâm và Trần Huyền Trân ra
đời vào giai đoạn cuối của phong trào Thơ mới từ 1940-1945 khi mà Thơ mới hầu
nh đi vào giai đoạn khủng hoảng và bế tắc trầm trọng
Những bài “hành” trong phong trào Thpw mới hầu nh cha đợc ai quan tâmnghiên cứu Vì vậy chúng tôi chọn đề tài này Đây là một đề tài khá mới mẻ, việc
đi sâu vào đề tài này là một việc làm có ý nghĩa thiết thực đối với việc giảng dạy
ở trờng phổ thông cũng nh thấy đợc những đóng góp mới mẻ của NguyễnBính,Thâm Tâm và Trần Huyền Trân cho phong trào Thơ mới nói chung và chothơ “hành” nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những bài thơ “hành” trong phong trào Thơ mới từ khi ra đời đến nay cha
đợc giới nghiên cứu quan tâmvà đề cập đến Qua khảo sát chúng tôi mới chỉ thấy
Nguyễn Quốc Tuý trong cuốn Thơ mới “ – bình minh thơ việt nam hiên
đại (Nxb văn học, HN 1995)” bàn về vấn đề này Trong công trình này ông đã
giành một chơng để nói về vấn đề này.Đó là chơng thứ XIV có tên gọi Tr “ ờng
phái thơ hành một ánh hồi quang của cách mạng đối với Thơ mới ” Tuy nhiêntrong khuôn khổ của một chơng cho nên Nguyễn Quốc Tuý mới chỉ đề cập đếnvấn đề này và nghiên cứu ở mức khái quát chứ cha đi vào nghiên cứu một cách
cụ thể, tỉ mĩ.Vì vậy ở đề tài này chúng tôi sẽ nghiên cứu một cách cụ thể hơn
3 Đối tợng, nhiệm vụ, mục đích và phơng pháp nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài này đó là những bài thơ “hành” trong phongtrào Thơ mới Cụ thể là 5 bài của Nguyễn Bính, Thâm Tâm và Trần Huyền Trân:
“Hành phơng nam” (Nguyễn Bính), “Độc hành ca” (Trần huyền Trân) “Can trờnghành”, “Vọng nhân hành”, “Tống biệt hành’’ (Thâm Tâm)
- Nhiệm vụ của đề tài: Thông qua cái nhìn khái toàn diện về những bài thơ
“hành” trong phong trào Thơ mới cần làm sáng rõ:
+ Sự kế thừa và cách tân của Nguyễn Bính,Thâm Tâm và Trần Huyền Trân
đối với thể thơ “hành”của Trung Quốc và trong thơ cổ của thơ Việt Nam
+ Thấy đợc những đóng góp mới mẻ và độc đáo của các tác giả cho phongtrào Thơ mới
+ Bớc đầu rút ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của những bàithơ “hành” trong phong trào Thơ mới
Trang 5Chơng 2: Đặc điểm của những bài thơ hành trong phong trào Thơ mới 1932-“ “
1.1.1 Khái niệm thể hành
“Hành” là một thể thơ mô phỏng của thơ ca Trung Quốc, xuất hiện vào trớc
đời Đờng,thuộc thơ cổ phong(cổ thể).Là lối thơ phổ biến ở thể ngũ ngôn (5 chữ)hoặc thất ngôn(7 chữ),không hạn định số câu, số chữ nhng phổ biến là 4 câu, 8câu ( cũng có bài làm 6 câu hoặc 12 câu) Những bài thất ngôn dài quá 8 câu,những bài ngũ ngôn dài quá 16 câu gọi là trờng thiên Hành thuộc thơ cổ phongtrờng thiên này Chẳng hạn nh “Tỳ bà hành” của Bạch C Dị, “Lệ nhân hành” của
Đỗ Phủ …và khi
1.1.2 Đặc điểm của thể hành về mặt thể loại“ ”
Thể hành là thể thơ có đặc điểm tự do phóng khoáng,không gò bó,lời thơ gầnvới lời nói.Thể thơ này chỉ cần có vần (hoặc vần bằng, hoặc vần trắc mà khôngcần đối nhau hay không cần theo một niêm luật bằng trắc nào cả) Thể “hành”cóthể có một vần (độc vận), là vần bằng hay vần trắc đều đợc,nh bài “Lệ nhân hành
“của Đỗ Phủ là bài chỉ có một vần và là vần bằng,các vần liền nhau
Phiên âm:
Tam nguyệt tam nhật thiên khí tân
Trờng an thuỷ biên đa lệ nhân
Thái nùng ý viễn tịch thả chân
Cơ lý tế nhị cốt nhục quân
Dịch thơ:
Mồng ba tháng ba khí trời trong
Trang 6Ngời đẹp đất kinh chơi bên sông
Phiên âm: Tầm Dơng giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân há mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Dịch thơ: Bến Tầm Dơng canh khuya đa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Ngời xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn chén chiều túc chi
(Tỳ bà hành - Bạch C Dị)
Trên đây là những đặc đểm của thể hành ở dạng vốn có, cổ điển của nó.Nhngkhi đợc các nhà thơ Việt Nam tiếp thu thể thơ này đã có những biến thái rấtnhiều.Điều này chúng ta sẽ làm sáng rõ ở những phần sau
1.2 Xác định một cách gọi cho những bài thơ hành trong phong trào Thơ“ ”
mới 1932 - 1945
Phong trào Thơ mới trải qua hơn 10 năm hình thành và phát triển.Thơ mới đã
kế thừa,cải biến các thể loại thơ, làm một cuôc cách mạng tổng duyệt lại các thểthơ truyền thống,kế thừa và cách tân thể thơ 5 chữ,7 chữ và sáng tạo ra thể thơmới là thể 8 chữ.Thơ mới cũng kế thừa và cách tân thể thơ “hành” của văn họcTrung Quốc.Tuy số lợng không nhiều chỉ có 5 bài và cha đợc chú ý đến nhng đó
là những bài thơ tồn tại thực trong văn học thời kì này.Sở dĩ chúng tôi phải xác
định một tên gọi cho những bài thơ “hành” trong phong trào Thơ mới 1932-1945vì đã có nhiều cách gọi khác nhau nhng cha thống nhất.Cụ thể nh sau:
Có ngời gọi đây là một Tr “ ờng phái thơ hành ” Tiêu biểu cho cách gọi này đó
là nhà văn Tô Hoài trong Lời giới thiệu“ ” cuốn “Tuyển tập Nguyễn Bính (Nxb”
văn học –Hà Nội 1985) Tô Hoài đã viết nh sau:Nguyễn Bính là một nhành hoa
trong trào lu cách tân thơ.Và cùng với Nguyễn Bính xuất hiện một trờng thơ, một phái thơ, ở trờng thơ ấy mỗi ngời đã thể hiện một phong cách độc đáo.Thâm Tâm
và Trần Huyền Trân sừng sững và cô đơn nh con đò một mình (1, 24).Nh vậy lần
đầu tiên Tô Hoài nhắc đến ba tác giả này và đã hơn một lần gọi là “trờng thơ”,
“phái thơ”
Trang 7ý kiến đồng ý với cách gọi tên của Tô Hoài đó là Nguyễn Quốc Tuý trong
cuốn Thơ mới “ –bình minh thơ việt nam hiện đại (Nxb văn học ” – Hà Nội 1995) Chơng thứ XIV của công trình này có tên gọi Tr “ ờng phái thơ hành –
một ánh hồi quang của cách mạng đối với Thơ mới ” Nh vậy ngay tiêu đề của
ch-ơng XIV Nguyễn Quốc Tuý đã công nhận có một “Trờng phái thơ hành” trongphong trào Thơ mới 1932-1945.Ông giải thích:gọi là trờng phái thơ hành vì 3 nhàthơ này đều có những bài thơ nhan đề có từ “hành”.Nguyễn Bính có “Hành ph-
ơng nam”,Trần Huyền Trân có “Độc hành ca”, Thâm Tâm có “Vọng nhân hành”,
“Can trờng hành”, “Tống biệt hành’.Những bài thơ này không chỉ giống nhau ởtiêu đề có từ “hành” mà còn có sự giống nhau ở cảm hứng,giọng điệu, ngôn ngữ
và thi pháp …và khi Ngoài những bài thơ này những bài thơ khác tuy nhan đề không có
từ “hành” nhng vẫn có đặc điểm trên.Tuy nhiên ở những bài thơ nhan đề có từ
“hành” thì những đặc điểm ấy nổi bật lên một cách hết sức rực rỡ so với các bàithơ khác
Theo chúng tôi cách gọi này cha thật chính xác “Trờng phái” theo nghĩa chặtchẽ của nó là: hiện tợng một số nhà văn, nhà thơ chọn sáng tác của các nhà văntiêu biểu và noi theo sáng tác đó, tạo ra hiện tợng những tác phẩm này mangmàu sắc của những nhà văn bậc thầy, nh trờng phái Dola trong văn học Pháp, tr-ờng phái Puskin trong văn học Nga Trong khi đó sự gặp gỡ của Nguyễn Bính,Thâm Tâm và Trần Huyền Trân chỉ là sự gặp gỡ ngẫu nhiên, không diễn ra trongtình hình này Vì vậy gọi là “trờng phái” cũng không thể không khiến cho chúng
ta phải băn khuăn
Nếu hiểu khái niệm “trờng phái” theo nghĩa rộng hơn là khái niệm trào lu lạicàng khó chấp nhận Bởi trào lu là khái niệm chỉ một phong trào sáng tác của
đông đảo các nhà văn sống ở cùng một thời kỳ lịch sử, cùng một dân tộc Giữa
họ có sự gần gũi nhau về t tởng, thống nhất với nhau về cơng lĩnh và mục tiêusáng tác Chẳng hạn nh : trào lu văn học cổ điển, trào lu văn học hiện thực xã hộichủ nghĩa
Cũng có ngời gọi hành là một thể thơ-“ ” thể “hành” Cách gọi này có thể
đúng với nguồn gốc của nó Song thực ra không phải nh vậy.Bởi những đặc điểm
về thi lụât của nó qua sáng tác của các nhà Thơ mới đã biến thiên rất nhiều.Chẳng hạn nh “ Độc hành ca” của Trần Huyền Trân là thể thơ lục bát, một thểthơ rất gần với ca dao dân ca, một thể thơ truyền thống của dân tộc:
ớ kìa thiên hạ đang say
ớ nghìn tay nắm nghìn tay đang cời
Nhớ ngơi nhạt thếch rợu đời
Tay vo chỏm tóc ta ngồi ta ca.
(Độc hành ca – Trần Huyền Trân)
Bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm cũng là thơ thất ngôn nhng lại là thấtngôn của Thơ mới, mỗi câu 7 tiếng 4 câu hợp lại thành một khổ thơ, bài thơ gồm
Trang 8nhiều khổ Đây là hình thức của Thơ mới.
Đa ngời ta không đa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng.
(Tống biệt hành- Thâm Tâm)
Bài “Hành phơng nam” của Nguyễn Bính , “Can trờng hành”, “Vọng nhânhành” của Thâm Tâm cũng là thơ thất ngôn nhng thất ngôn của Thơ mới
Hai ta lu lạc phơng nam này
Đã mấy mùa qua én nhạn bay
(Hành phơng nam – Nguyễn Bính) Trăm giàn lí đỏ đã lên hoa
Tâm sự nh in cảnh ác tà (Can trờng hành – Thâm Tâm)
Thăng Long đất lớn chí tung hoành Bàng bạc gơng hồ ánh mắt xanh
(Vọng nhân hành – Thâm Tâm)
Vậy hành ở đây không phải là khái niệm để chỉ thể thơ,“ ” vì nó đã đợc biến
thể rất nhiều Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” có giới thiệu và bình bài
“Tống biệt hành” của Thâm Tâm nh sau: “Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có
khác thơ thất ngôn cổ phong Nhng bài thơ dới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi gân guốc, không mềm mại uyển chuyển nh phần nhiều thơ bây giờ, nhng vẫn đợm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” (5, 280) Hoài Thanh vẫn cho “Tống
biệt hành” thuộc thơ thất ngôn của ta và đặc điểm của thể thơ này “Thực có khácthơ thất ngôn cổ phong” Cho nên cách gọi đây là thể thơ “hành” cũng cha chínhxác trong phạm trù thơ ca Việt Nam 1932 - 1945
Cũng có ý kiến khác cho rằng nên gọi đây là nhóm thơ 3 ngời và gọi là nhóm
áo bào gốc liễu
“ ” vì cho rằng những bài thơ của họ rất hào sảng mang chất bitráng của tầng lớp tiểu t sản đối lập với phần nhiều Thơ mới lúc bấy giờ
Nh vậy ta thấy có rất nhiều cách gọi tên cho những bài thơ “hành” trên đây.Cách gọi nào cũng có cái hợp lý và cái cha thật hợp lý Trong tình hình nh vậykhoá luận của chúng tôi tạm thời chọn một cách gọi đơn giản nhất nhằm để loại
trừ đến mức tối đa những điểm bất hợp lý của các cách gọi thờng thấy: Những“
bài thơ hành trong phong trào Thơ mới1932-1945 “ ” ” Cách gọi này mục đích là
để giới hạn cụ thể đối tợng mà khoá luận tìm hiểu: những bài thơ có từ “hành” ởnhan đề Dĩ nhiên cùng với dấu hiệu hình thức này những đặc điểm về nội dung
và nghệ thuật mà khoá luận sẽ tìm hiểu
1.3 Cơ sở xã hội và cơ sở văn học cho sự xuất hiện những bài thơ hành“ ”
giai đoạn 1932-1945
Trang 91.3.1 Cơ sở xã hội
Hiện thực đời sống cùng với những vấn đề kinh tế chính trị luôn là nguồn tác
động khách quan và mạnh mẽ nhất đối với văn học Giữa lịch sử và văn học cómối quan hệ với nhau “Xã hội nào văn học âý” (Hồ Chí Minh) Cho nên trongnhững thời kỳ lịch sử ít biến động thì văn học cũng yên ả, êm đềm và ngợclại.Trong khi đó những bài thơ “hành” của Nguyễn Bính,Thâm Tâm và TrầnHuyền Trân lại ra đời vào giai đoạn 1940-1945.Đây là thời kỳ Thơ mới đang đivào giai đoạn khủng hoảng và bế tắc, tinh thần không còn chỗ dựa Sự ra đời củanhững bài thơ “hành” này với giọng thơ rắn rỏi, gân guốc và bi tráng đã xua điphần nào sự nặng nề, u ám của Thơ mới Lí giải sự xuất hiện của những bài thơ
này có ý kiến đã cho rằng đó là do d âm của cuộc khởi nghĩa Yên Bái (3/2/1930).
Đây là cuộcđấu tranh của tầng lớp tiểu t sản với phơng châm “Không thành côngthì cũng thành nhân” Cuối cùng cuộc khởi nghĩa đã bị thất bại nặng nề Cuộckhởi nghĩa đã lắng xuống nhng d âm của nó còn vọng mãi và điều đó đã ảnh h-ởng đến sự xuất hiện của những bài thơ “hành”.Theo chúng tôi d âm của cuộckhởi nghã Yên Bái nếu có trong những bài thơ “hành”thì cũng chỉ là một cái gì
đó rất xa xôi, mờ nhạt chứ không phải là nhân tố thúc đẩy sự ra đời của nhữngbài thơ “hành”
Nếu nói đến cơ sở xã hội của những bài thơ “hành” thì ta thấy chính không
khí cách mạng đã thổi một luồng gió mới vào cảm hứng sáng tạo của các nhà thơ lãng mạn Nhà văn Tô Hoài đã chỉ rõ đó là “Nhờ ảnh hởng tốt đẹp của không khí chuẩn bị tổng khởi nghĩa tiến tới Cách mạng tháng tám 1945” và Nguyễn Quốc
Tuý cho rằng đó là “ánh hồi quang của Cách mạng tháng tám” Tuy nhiên cácnhà thơ lãng mạn cảm nhận không khí cách mạng theo kiểu xúc động riêng cuảmình, cảm hứng riêng của mình, hoàn toàn khác với cách cảm nhận của các nhàthơ cách mạng Họ bất mãn trớc thực tại, khát vọng tự do và một sự háo hức đợcthay đổi Đây là tâm trạng chung và phổ biến của các nhà thơ trong phongtràoThơ mới Bởi vì phong trào Thơ mới xuất hiện vào giai đoạn 1932-1945 làthời kỳ tình hình xã hội Việt Nam rối ren và đen tối nhất Đặc biệt từ 1939, chiếntranh thế giới 2 bùng nổ, Nhật nhảy vào Đông Dơng, Nhật – Pháp cấu kết vớinhau cai trị đất nớc Nhân dân ta rên riết dới hai tầng áp bức và bóc lột Phongtrào cách mạng nổ ra đều bị đập tát trong biển máu, nhân dân cơ cực lầm than.Chính vì thế dẫn đến tâm trạng chán chờng, cô đơn, bế tắc của các nhà văn,nhàthơ Họ nhìn cuộc đời với một gam màu xám, cuộc đời không có gì tơi sáng, đẹp
đẽ Chán nản, tù túng và bế tắc về lối thoát của cuộc đời nên các nhà thơ càngngày càng đi vào khủng hoảng
Trong khi đó tiếng nói của các nhà thơ lãng mạn lại không phải là tiếng nóicủa giai cấp quí tộc phong kiến suy tàn mà là tiếng nói của đại bộ phận giai cấptiểu t sản đã sống những ngày quằn qoại và bế tắc trong vũng lầy của xã hội thựcdân phong kiến Họ phủ nhận và quay lng lại với thực tại, với cuộc đời Họ tìmcách thoát li Thế Lữ thì thóat lên tiên; Huy Cận thì trốn vào vũ trụ; Xuân Diệutrốn vào ái tình …và khi
Trang 10Chính vì bất mãn với thực tại nên họ mang khát vọng tự do, một sự háo hức
đợc thay đổi Trong “Nhớ rừng” của Thế Lữ đó là một khối căm hờn đối với
“cuộc đời nhọc nhằn, tù hãm” và lòng khát khao đợc tung hoành, đợc vùng vẫy tự
do giữa chốn “nớc non hùng vĩ”.Thơ của Huy Thông thể hiện niềm khát khao đợctung hoành, đợc tự do cá nhân …và khi Các nhà Thơ mới nhìn chung ai cũng muốnthay đổi thực tại, muốn làm một điều gì đó để thay đổi cuộc sống Nhng thế giớiquan của họ mâu thuẫn và rất phức tạp, họ đành bất lực Khát vọng đợc tự do, đ-
ợc thay đổi đó chính là thể hiện lòng yêu nớc và khát khao tự do cho dân tộc.Nguyễn Bính,Thâm Tâm và Trần Huyền Trân họ là những nhà thơ lãng mạn nênkhát vọng trong tâm hồn họ là tất lớn “Cái lớn nhất của thơ Thâm Tâm là cái vỗcủa cánh chim trớc bầu trời vẫy gọi Cái cách đập cánh ấy là sự khởi độngcủa conchim hồng, chim nhạn, không chịu là là bay thấp, càng không chịu sự tù túngtrong lồng dù cái lồng ấy là lồng son ở nơi lầu vàng, gác tía” (6, 88) Còn cáikhát khao của cánh cửa hồn thơ Nguyễn Bính mở ra chính là quyền đợc sống, đ-
ợc sống hết mình, sống theo cách mình muốn, sống bằng tuổi trẻ, một đi khôngtrở lại dù chỉ một lần
Từ sự bất mãn với thực tại và khát vọng đợc thay đổi nên họ có ý chí ra đi Ra
đi để tìm tự do, để tìm cách thay đổi thực tại ý chí ra đi này chúng ta sẽ làmsáng rõ hơn ở phần sau của khoá luận này
1.3.2 Cơ sở văn học
Nh một quy luật, một phong trào văn học ra đời bao giờ cũng phản ánhnhững đòi hỏi nhất định của xã hội Nó là tiếng nói, là nhu cầu thẫm mĩ của mộttầng lớp ngời, của một giai cấp nào đó trong xã hội Đồng thời phong trào vănhọc ấy cũng phải dựa trên nền văn học truyền thống và tiếp thu nền văn học củanhân loại Dấu ấn truyền thống và nhân loại tuy đậm nhạt khác nhau nhng đó làmột quy luật khách quan trong văn chơng.Nguyễn Bính,Thâm Tâm và TrầnHuyền Trân là những nhà thơ trong phong trào Thơ mới cũng không nằm ngoàiquy luật phát triển ấy Có thể nhìn thấy trong các bài thơ “hành”các tác giả đãdựa trên những nguồn ảnh hởng sau:
1.3.2.1 ảnh hởng của văn học Trung Quốc
Khi nghĩ đến ảnh hởng của các nguồn văn hoá đối với Thơ mới, ngời ta quennghĩ đến phơng Tây, văn hoá Pháp, thơ Pháp đối với Thơ mới và việc hình thành
Thơ mới Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” khi nói đến nguyên nhân ra đời của Thơ mới đã nhấn mạnh ảnh hởng của phơng Tây Ng“ ời lái buôn thứ nhất đặt chân lên xứ ta, ngời ấy đã đem theo cùng với hàng hoá phơng Tây, cái mầm sau này sẽ nảy thành Thơ mới” (5, 17) Còn khi tìm hiểu ảnh hởng của văn hoá phơng
Đông, thơ Đờng và thơ Việt Nam Trung đại đối với Thơ mới thì ta lại thấy nhmột việc làm có tính chất ngịch lý Bởi vì chính Thơ mới đã hình thành từ chỗchống lại và phủ nhận thơ cũ, mà thơ cũ thì rõ ràng là cái bóng đậm đặc của thơ
ca Trung Quốc Thậm chí Hoài Thanh còn cho biết Huy Cận làm những bài thơ
có hồn Đờng trớc khi đọc thơ Đờng Vì thực ra đây không chỉ là sự ảnh hởng trên
Trang 11lĩnh vực thi ca mà nguồn gốc của nó là sự ảnh hởng giữa hai nền văn hoá Việt –Trung.Hai nền văn hoá này có nhiều nét tơng đồng với nhau Đây là kết quả củaquá trình cỡng bức giao lu văn hoá, văn học trong suốt một nghìn năm phongkiến phơng Bắc cai trị nớc ta
Nh vậy Thơ mới chịu ảnh hởng của văn hoá Pháp, thơ Pháp và cả thơ Đờng
ảnh hởng đó bộc lộ rõ trong Nguyễn Bính, Thâm Tâm và Trần Huyền Trân vớinhững bài thơ “hành” nổi tiếng: “Hành phơng nam” (Nguyễn Bính); “Độc hànhca” (Trần Huyền Trân); “Tống biệt hành” (Thâm Tâm).Những bài thơ này chịu
ảnh hởng của thơ Đờng từ giọng điệu, ngôn ngữ đến thi pháp Đặc biệt những bàithơ nàyđều lấy cảm hứng từ những bài thơ “Tráng sĩ hành” nói về việc ra đikhông trở về của các tráng sĩ ngày xa ra đi vì nghĩa lớn, ra đi không hẹn ngày trở
về nh kiểu tráng sĩ Kinh Kha ra đi diệt vua Tần đọc thơ trên sông Dịch Thuỷ:
Gió hiu hắt (chừ) Dịch thuỷ lạnh ghê
Tráng sĩ ra đi (chừ) chẳng bao giờ về.
Đặc biệt hơn là những bài thơ “hành” này đã chịu ảnh hởng của thể thơ
“hành” một thể thơ cổ của trung Quốc từ vần, luật, cảm hứng cho đến ngôn ngữ,thi pháp
1.3.2.2 ảnh hởng của thơ ca truyền thống
ý muốn đợc gắn mình với lịch sử thơ ca dân tộc khiến cho Thơ mới một mặttiếp thu mạnh mẽ văn học phơng Tây, văn học Pháp, thơ Đờng nhng một mặt vẫn
kế thừa và tiếp thu nền văn học dân tộc nh: nền văn học dân gian, văn học Trung
đại Điều này nghe có vẻ vô lý vì ngay từ khi mới ra đời Thơ mới đã lên tiếng đấutranh với thơ cũ, chê thơ cũ không phải là thơ Cuộc đấu tranh này diễn ra từ1932-1936, trãi qua những cuộc bút chiến nảy lửa đặc biệt là trên lĩnh vực đấu tàinăng Cuối cùng Thơ mới đã giành chiến thắng, khẳng định đợc vị trí của mìnhtrên văn đàn Nhng ngay sau khi chiến thắng, các nhà Thơ mới lại chủ trơng quaylại làm hoà với thơ cũ để chứng tỏ nó không phải là đứa con hoang Thơ mới gán
mình vào truyền thống thơ ca dân tộc Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam“ ’đã
nhận xét: “Cha bao giờ nh bây giờ họ thấy cần tìm về dĩ vãng để vin vào những
gì là bất diệt, đảm bảo cho ngày mai, cha bao giờ họ thấy tình cảm tinh thần nòi giống cũng nh các thể thơ xa chỉ biến thiên chứ không sao tiêu diệt ” (5, 47) Vìvậy trong phong trào Thơ mới ta thấy Quách Tấn tìm về với “Mùa cổ
điển’,Nguyễn Bính,Anh Thơ, Nguyễn Nhợc Pháp tìm về với thẫm mĩ truyềnthống và những bài thơ “hành” của Nguyễn Bính, Thâm Tâm và Trần HuyềnTrân cũng nằm trong xu hớng đó
Trang 12chơng II
Đặc điểm của những bài thơ "hành" trong phong trào
thơ mới 1932-1945 2.1.Cảm hứng chủ đạo của những bài thơ hành trong phong trào thơ mới“ ”
1932-1945
Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một t tởng xác định, gây tác động đến cảm xúc của ngời tiếp nhận tác phẩm.
Ta thấy cảm hứng chủ đạo của những bài thơ ‘hành”trong thơhành” là cảm hứng thế sự gắnliền với nỗi niềm trớc thời cuộc, cảm hứng bất bình phản kháng đối với thực tại,
từ đó trỗi dậy khát vọng ra đi không trở lại
21.1 Cảm hứng thế sự gắn liền với nỗi niềm trớc thời cuộc.
Cảm hứng thế sự là cảm hứng bắt nguồn từ hiện thực nhng thiên về chiêm
Trang 13nghiệm, suy nghĩ về sự đời, về nhân tình thế thái, do vậy nó có thiên hớng kháiquát.Thiên hớng khái quát này trong “ hành”của Trung Quốc hay trong thơ cổ
điển Việt Nam không rõ bằng Chẳng hạn bài “Tỳ bà hành” nổi tiếng của Bạch
C Dị cũng không có cảm hứng này.Bài thơ thuộc bộ phận thơ cảm thơng của ông
và cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng nhân đạo Xuyên suốt bài thơ tácgiả bày tỏ sự xót thơng của mình đối với ngời kỉ nữ có tài, có sắc nhng bị cuộc
đời vùi dập Và qua đó tác giả cũng bày tỏ sự đồng cảm của mình đối với ngời kỉnữ ấy:
Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
Từ xa khinh khuyết bấy lâu
Tầm Dơng đất trích gối sầu hôm mai
(Tỳ bà hành – Bạch C Dị)
Bài “Sở kiến hành” là nỗi lòng đau đớn của Nguyễn Du khi trông thấy cảnh mẹcon ngời hành khất xin ăn dọc đờng Còn bọn quan lại thì rợu thịt thừa mứa “ ngờithừa cứ đổ xuống sông, ngời chết đói mò ăn không đợc” Nên bài thơ mang cảmhứng nhân văn sâu sắc
Thông qua những bài thơ “hành”, Nguyễn Bính, Thâm Tâm và Trần Huyền Trân
đã bộc lộ tâm trạng, nỗi niềm của mình đối với thời cuộc Đó là tâm rạng cô đơn, bếtắc không tìm đợc lối thoát.Đây cũng chính là tâm trạng chung của các nhà thơtrong phong trào Thơ mới Chẳng hạn nh qua “ Hành phơng nam”, Nguỹên Bính đãbộc lộ nỗi niềm của một con ngời bắt đầu những ngày tha hơng , với tâm trạngchồng chất, mà chủ yếu là sự mệt mỏi, sự buồn chán đôi lúc còn đẩy tới trạng tháicùng đờng bi phẫn
Ta đi nhng biết về đâu chứ?
Lo lắng cho ngày mai, cho tơng lai là thế nhng không thấy chút gì tốt đẹpcho ngày mai ấy, có lúc thi nhân tự khuyên mình sống vì hiện tại, phớt lờ , bấtcần ngày mai, bất cần tơng lai theo một kiểu triết lí hiện sinh biến tớng
Ngơi ơi buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cời qua chén rợu đầy
Vẫn giám ăn tiêu cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi sẽ hay.
(Hành phơng nam- Nguyễn Bính)
Thái độ đó suy cho cùng là trạng thái cùng đờng, ý thức đợc thời thế đó
nhng không đoán định đợc tơng lai Đây chính là nỗi niềm của Nguyễn Bính nhữngngày trớc cách mạng tháng tám.Sau cách mạng nhà thơ đã tìm thấy quê hơng đíchthực của mình, quê hơng không bị chia cắt đó chính là Tổ quốc
Trang 14Thông qua những bài thơ “hành” Thâm Tâm và Trần Huyền Trân đã bộc lộ tâmtrạng, nổi niềm của mình đối với thực tại xã hội Ta có thể thấy rõ điều này thôngqua nhân vật trữ tình – ngời tráng sĩ, qua tâm trạng giằng xé, day dứt không tìm đ-
ợc hớng đi, cha thực hiện đợc chí lớn của tráng sĩ Đây là tâm trạng chung của cáctác giả khi cha gặp đợc ánh sáng của cách mạng, khi cha đợc cống hiến sức mìnhcho cách mạng Vì vậy họ trăn trở,đau buồn trớc thực tại lúc bấy giờ Đúng nh Tô
Hoài đã nhận xét: Những áng thơ phảng phất thét roi cầu vị, kỳ thực mang trong“
mình hình ảnh, tâm sự của ngời cầm bút thời đại giữa khi đất nớc và đân tộc đang chuẩn bị tổng khởi nghĩa tiến tới cách mạng tháng tám vĩ đại”, “Trong tâm hồn của các anh lúc đó tôi thấy những nỗi băn khuăn đau buồn của những ngời cùng thế hệ,
đòi hỏi tự do,ớc mơ hạnh phúc, tuy các anh cha tìm đợc lối ra và nhiều khi rơi vào chán nản, bế tắc” (Tố Hữu) Hay Tân Hiên sau khi đọc bài “Độc hành ca” của Trần
Huyền Trân đã nhận xét: Lời thơ đợm màu sắt lửa, tóc tang của một tinh thần bừngsôi trớc những va chạm lớn lao của lịch sử
2.1.2 Cảm hứng bất bình phản kháng đối với thực tại xã hội.
Từ cảm hứng lãng mạn, trữ tình về “Tráng sĩ hành” các bài thơ "hành” củaThơ mới Việt Nam cũng biểu hiện cảm hứng bất bình phản kháng đối với thực tạixã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ:
Khóc nhau ném nhén tan tành Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ
(Độc hành ca - Trần Huyền Trân)
Qua “Độc hành ca”của Trần Huyền Trân, tác giả đã dựng lên thực trạng bi thảmcủa nhân dân lao động nớc ta dới sự cai trị của bọn thực dân tham tàn:
Chẳng nhìn bóng đá thâu thâu Non lam nh kẻ gục đầu còn vơng Chẳng hoài thóc giống vất vơng Giếng khô lấp mạch cây vờn rụi hoa Trách nào trái rụng hơng xa Cốt muôn trẻ đắp muôn già càng cao
Mồ hôi làm suối chiêm bao Nguồn sinh vô lợng đổ vào vô biên.
(Độc hành ca- Trần Huyền Trân)
Đoạn thơ nói về việc thu thóc, phá lúa, phá ngô trồng đay, bắt phu phen phụcdịch do bọn phát xít Nhật và thực dân Pháp chủ trơng Vì thế gây ra nạn đóikhủng khiếp giết hại bao nhiêu đồng bào, cộng vào đó biết bao ngời yêu nớccách mạng bị tàn sát trong các nhà tù, trại giam Những hình ảnh thơ nh xói vàotim gan: Đỏ khé sông Hồng, non lam nh kẻ gục đầu, giếng khô lấp mạch, thóc
Trang 15giống vất vơng …và khiĐó là những lời tố cáo, những tiếng nghiến răng căm hận khácvới giọng thơ than vãn, sụt sùi của thơ đơng thời Càng đau đớn xót xa trớc thựctrạng bi thơng của dân tộc, nhà thơ càng căm phẫn bọn thực dân và đếquốc,những thế lực bạo tàn đẫ giày xéo, trà đạp lên quyền sống, quyền tự do vàhạnh phúc của ngời dân ý thức rõ ràng cái thân phận của ngời dân mất nớc tủinhục, cay đắng, họ tự đặt cho mình câu hỏi gay gắt, tự buộc mình không đợc lẫntránh trách nhiệm mà phải trả lời dứt khoát;
Vai cày chẳng kẻo làm trâu Dong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm.
(Độc hành ca- Trần Huyền trân)
Cứ cam chịu cho bọn chúng đặt cái vai cày lên cổ làm thân trâu mãi sao? có tócrâu để chúng coi nh bờm ngựa và bắt kéo xe cho chúng mãi sao? Ngời nghệ sĩdấy lên một ngọn lửa mới, ngọn lửa bất bình trớc áp bức bất công phản đạo lý:
ộc sống đã tạo dựng, ông tỏ thái độ chán ghét thậm chí căm ghét, đau khổ:
Kim tôn thanh tửu đẩu thập thiên
Ngọc bàn trân tu trị vạn tiền
Đình bội đàu trợ bất năng thực
Bạt kiếm tứ cố tâm mang chân
Dịch thơ:
Bình vàng rợu quí đáng tièn vạn
Mâm ngọc thức ngon giá mời ngàn
2.1.3 Cảm hứng ra đi không trở về
Cảm hứng này bắt nguồn từ sự bất mãn với thực tại và khát vọng đuợc thay
đổi của các tác giả Sống trong hoàn cảnh lịch sử trớc 1945 Thâm tâm cũng nh
Trang 16các bạn thơ của ông cảm thấy tù túng, ngột ngạt muốn tung mình ra, phóng mình
lên ra làm một cái gì đó đảo thiên nghịch địa khuấy động nhân gian.Vì vậy trongthơ của họ thờng có cảm hứng ra đi, ra đi không trở về dù chỉ một lần.Cảm hứngnày đợc Nguyễn Bính, Thâm Tâm và Trần Huyền Trân ảnh hởng từ cảm hứng ra
đi “nhất khứ hề,bất phục phản”của các tráng sĩ xa trong văn học Trung Quốc
Đặc biệt là hình ảnh tráng sĩ Kinh Kha ra đi diệt vua Tần trên sông Dịch Thuỷ.Tuy nhiên cảm hứng ra đi trong những bài thơ “hành”của phong trào Thơ mới1932-1945 lại thể hiện kín đáo tinh thần yêu nớc cùng với thái độ nhập cuộc vàhành động ra đi lên đờng tìm tự do độc lập cho đất nớc của các tác giả
Trong tất cả những bài thơ “hành” ta đều thấy hiện lên hình tợng ngời tráng sĩvới khát vọng ra đi, ra đi để thực hiện chí lớn, thái độ ra đi của ngời tráng sĩ trêntinh thần lãng mạn tự nguyện và đậm chất bi hùng bi tráng Trong những bài thơ
“hành” của trung Quốc ta cũng bắt gặp một cuộc ra đi:
Ngời đi cung tên đeo bên hông
Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn
Qua đoạn thơ trên tác giả đã diễn tả rất tỉ mĩ về một cuộc chia tay giữa nhữngngời lính sắp ra trận và ngời thân trong gia đình mình Nhng khung cảnh chia tay
có sự bất ổn Có sự náo loạn qua tiếng ngựa hí vang trời và tiêng xe lăn hối hả Sựkhông bình thờng ấy hiện rõ ngay trong câu thơ miêu tả những kẻ đa tiễn:
Cha mẹ vợ con chạy theo tiễn
Chỉ với một từ “chạy”tác giả đã làm nổi bật thần thái của khung cảnh
Nhng đây là cuộc ra đi của những chàng trai trẻ bị bắt ra trận là mồi cho tử thần,phục vụ cho chiến tranh khai biên nhằm thoả mãn lòng tham vô độ của quanquân nhà Đờng, nên tính chất của cuộc ra đi này không phải do tinh thần lãngmạn, tự nguyện Hơn nữa cuộc ra đi này mang ý nghĩa hoàn toàn khác đó là ýnghĩa tố cáo chiến tranh Chiến tranh đã cớp đi bao nhiêu con ngời, bao nhiêucuộc đời, chôn vùi cả tuổi thanh xuân của họ Điều này đợc thể hiện rõ quachứng nhân: Trong đoàn quân ấy có cụ già đã đi từ thuở “mời lăm” “lúc ông líquấn chỏm cho” và bây giờ trở về đầu bạc vẫn phải ra biên ải.Còn cảm hứng ra đicủa những bài thơ “hành” lại thể hiện cho khát vọng đợc thay đổi, đợc tự do củacác tác giả
Trong “Độc hành ca” (Trần Huyền Chân) đã thể hiện sự dứt khoát ra đi, chấp
Trang 17nhận cả tù đày, chấp nhận cả hy sinh tính mệnh.
Thế rồi thí bỏ rủi may
Đứa giam cõi bụi đứa đày rừng sâu Vai gầy chẳng kẻo làm trâu Giong xe chẳng kẻo tóc râu làm bờm Nẻo về chật chội áo cơm
Dặm đi lại động từng cơn lá rừng.
Lớp ngời phẫn uất lao vào cuộc chiến đấu, không muốn sống đời trâu ngựa,
có ngời đã chết (Gieo cõi bụi); có ngời đã đi đày (Đày rừng sâu), nhng họ vẫnquyết chí ra đi
Thâm Tâm có ba bài thơ nói đến cảm hứng ra đi, và cảm hứng ra đi vô cùngmạnh mẽ Trong “Vọng nhân hành”một hội bạn bè gặp nhau “vầy một tiệc quầnanh”chí hăm hở làm những việc lớn lao
Thăng Long đất lớn chí tung hoành Bàng bạc gơng hồ ánh mắt xanh Một lứa chung tình từ tứ chiếng Hội nhau vầy một tiệc quần anh (Vọng nhân hành - Thâm Tâm)
Và theo sự miêu tả của Thâm Tâm những ngời bạn cùng chung chí hớng ấy
họ có hình dạng toát lên tình cách của ngời anh hùng thời xa
Mày gơm nét mác chữ nhân già Hàm bạnh hình đồi lng cỗi đa Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt Cha ngất men trời hả rợu cha (Vọng nhân hành- Thâm Tâm)
Sinh ra trong thời buổi rối ren ấy, Thâm Tâm cùng với một số nhà thơ khôngkhỏi băn khoăn, day dứt về trách nhiệm của bản thân và trong lòng luôn ấp ủ giấcmộng anh hùng Vì thế trong thơ Thâm Tâm thờng nhắc tới hình ảnh những ngờitráng sĩ anh hùng trong lịch sử Trung Quốc lấy đó làm gơng để noi theo
Thà với mảng phu ngoài bến nớc
Vỗ vai sang sảng giọng Bình Nguyên Chàng là bậc trẻ không biết sợ
Đôi mắt hồng say sao hoả lên Múa lỡi đánh tan ba kẻ sĩ
Trang 18Đa ngời ta chỉ đa ngời ấy Một giả gia đình một dửng dng
Li khách ! Li khách! con đờng nhỏ Chí lớn cha về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
(Tống biệt hành-Thâm Tâm)
Ngời Li Khách ra đi với một thái độ cơng quyết, dứt khoát từ giã gia đình,gác lại đằng sau cuộc sống riêng t, bỏ những mối ràng buộc với gia đình để ra đi.Thâm Tâm không nói ngời Li khách đi đâu, làm gì, ta chỉ biết anh đi dể thực hiệnchí lớn Điều đáng chú ý là Li Khách có một gia cảnh nặng nề: Mẹ già, hai chịluống tuổi muộn chồng, em thì bé thơ vô tội Nhng anh vẫn quyết tâm ra đi
Một giả gia đình, một dửng dng.
Đây là cuộc ra đi trong tâm tởng của nhà thơ Đặt bài thơ vào trong cái ngãnăm, ngã bảy của cuộc đời, thái độ của nhà thơ đầy nhân văn và trách nhiệm,mang tính chiến đấu rất cao vợt lên cái mềm yếu của bản thân mình
Cảm hứng lãng mạn này bắt nguồn từ cảm hứng ra đi “Bất phục phản”,
“Nhất khứ hề” của tráng sĩ Kinh Kha ra đi diệt vua Tần trên sông Dịch Thuỷ:
Gió hiu hắt (chừ) Dịch Thuỷ lạnh ghê Tráng sĩ ra đi (chừ) chẳng bao giờ về
Trong bài “Hành phơng nam” của Nguyễn Bính lại là một cảm hứng ra đihoàn toàn khác Đó là cảm hứng ra đi của một ngời hùng, ra đi để thực hiện giấcmộng giang hồ Thái độ ra đi cũng đầy quyết tâm dứt khoát
Mơ gì áp tiết thiên văn tự
Giày cỏ gơm cùn ta đi đây.
Trang 19ra đi thờng rất hào hùng,mạnh mẽ ở đầu nhng bi thiết và ảm đạm ở cuối.Chẳnghạn nh bài “Vọng nhân hành” của Thâm Tâm, những ngời tráng sĩ hăm hở ra đilàm việc lớn lao Nhng rồi thời cha thuận nên “tiệc quần anh” tan mỗi ngời mộtphơng lận đận.
Thằng chí cho nhàm sức võ sinh Thằng bó văn chơng đôi gối hận Thằng nh trói buộc thằng giã quê Thằng phấn son nhơ chửa muốn về
Vì đời ta buồn nh thế đấy Cho nên tri kỉ tếch phơng trời Chén rợu ngồi suông vắng cả ngời.
Trong “Hành phơng nam” của Nguyễn Bính, ngời tráng sĩ có khẩu khí ra đituy mạnh mẽ ý chí ra đi đầy quyết tâm nhng sau đó lại bất lực trớc thời cuộcchẳng biết đi đâu về đâu
Ta đi nhng biết về đâu chứ
Đã dấy phong yên khắp bốn trời Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ Uống say mà gọi thế nhân ơi
(Hành phơng nam - Nguyễn Bính)
Tuy vậy cảm hứng ra đi “Nhất khứ hề,bất phục phản” trong những bài thơ
“hành” đã để lại âm hởng cho văn học giai đoạn sau Đặc biệt là trong nhữngnăm kháng chiến chống Pháp Chẳng hạn nh bài “Tây tiến” của Quang Dũng đợcviết năm 1948 Bài thơ đã dựng lên hình ảnh rất đẹp của ngời lính trong đoànquân Tây Tiến Họ là những chàng trai của đất hà thành mang trong mình khát
Trang 20vọng ra đi vừa hào hùng và bi tráng.Họ ra đi chiến đấu chấp nhận hy sinh cả tuổithanh xuân của mình cho Tổ quốc.
Rải rác biên cơng mồ viễn xứ
Chiến trờng đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
(Tây Tiến - Quang Dũng)
Sau này trong bài “Đất nớc” Nguyễn Đình Thi cũng đã khắc hoạ đợc hình
ảnh ngời tráng sĩ với khát vọng ra đi không trở về
Ngời ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lng thềm nắng lá rơi đầy
(Đất nớc- Nguyễn Đình Thi)
Nh vậy, ta thấy những bài thơ “hành” đã thức dậy trong tâm linh của bạn đọc
đơng thời về việc ra đi cứu nớc, về sự bất bình phản kháng đối với cuộc đời nô lệ,với xã hội bất công lúc đó Những bài thơ “hành” là bức thông điệp của các tácgiả gửi cho bạn đọc đơng thời, cho những nhà văn nhà thơ những băn khuăn thaothức có tác dụng thức tỉnh cõi tâm linh, tâm thức ngời dân nô lệ, hớng về nhữngtrang sử anh hùng cứu quốc
2.2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời của các tác giả thông qua những bài thơ hành“ ”
2.2.1 Một số vấn đề xung quanh khaí niệm quan niệm nghệ thuật về con ngời
“Văn học là nhân học” (Gorki) đã quan niệm văn học không gì khác hơn
ngoài phản ánh, thể hiện con ngời,vì con ngời Con ngời là đối tợng chủ yếu, làmục đích của văn học Lí giải thơ văn không thể không xem xét đối tợng con ng-
ời đợc thể hiện trong đó Con ngời trong văn học chỉ là sự sao chép, chụp ảnh conngời ngoài hiện thực và nhà văn không phải là tấm gơng cho sự phản chiếu vàocon ngời Tác phẩm văn học còn biểu hiện quan niệm của nhà văn một cách thẫm
mĩ và nghệ thuật
Mỗi nhà văn miêu tả nhân vật dới mỗi góc độ khác nhau Vì thế khám phá,tìm hiểu sự lựa chọn đối tợng phản ánh ta có thể thấy thái độ chủ quan của nhàvăn, nhà thơ đó
Vậy thực chất quan niệm nghệ thuật về con ngời là gì ?
Trần Đình Sử cho rằng: Quan niệm nghệ thuật về con ngời là khám phá, cảmnhận con ngời qua miêu tả nhân vật Chúng tôi ít quan tâm đến nhân vật này màquan tâm dến con ngời đợc cảm nhận qua các loại nhân vật này, thuộc tác phẩmnày Một khi đẫ hiểu quan niệm con ngời đợc miêu tả thì chúng ta có thể nhânvật này sâu hơn, toàn diện hơn (Thi pháp học hiện đại – Nxb GD và ĐT, VụGiáo viên, HN –1993)
Trang 21Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong “Thi pháp thơ Đờng”(Nxb Thuận Hoá1995) quan niệm: Quan niệm nghệ thuật về con ngời là một phạm trù quan trọngcủa thi pháp học Nó hớng ta nhìn về đối tợng chủ yếu của văn học, trung tâmcủa quan niệm thẫm mĩ cuả nghệ sĩ Hình tợng nghệ thuật (nhân vật con ngời)xuất hiện trong tác phẩm bao giờ cũng mang tính quan niệm, tức là phản ánh,miêu tả, thể hiện nhân vật Con ngời bao giờ cũng mang trong nó quan niệm củatác giả.
Con ngời nó là ai ?
Vị trí của nó trong nhân quần xã hội này trong trời đất này
Con ngơì thế nào là thiện là mĩ
Trần Đình Sử trong “Thi pháp thơ Tố Hữu’’(Nxb tác phẩm mới hội nhà vănViệt Nam 1987) viết: Quan niệm nghệ thuật về con ngời thực chât là vấn đề tínhnăng động của nghệ thụât trong việc phản ánh hiện thực, lí giải con ngời bằngcác phơng tiện nghệ thuật, là vấn đề phạm vi giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đờisống của hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khácnhau của cuộc đời
Tiếp thu quan niệm trên, đồng thời theo cách hiểu của các nhà thi pháp họchiên đại, chúng ta có thể lí giải một cách ngắn gọn, đơn giả về khái niệm này:Quan niệm nghệ thuật về con ngời là cách cắt nghĩa, cách lí giải của nhà văn nhàthơ, cách đánh giá của nghệ sĩ về con ngời cách giải thích, phát hiện của nhà văn
đối với số phận, với cuộc sống bên trong của con ngời, khát vọng và tơng lai của
nó Con ngời là bí ẩn và luôn luôn biến đổi Do đó quan niệm nghệ thuật về conngời cũng biến đổi
Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ ca phụ thuộc, tuỳ thuộc và chịu
sự chi phối của điều kiện lịch sử, xã hội, tuỳ theo từng thời đại khác nhau và phụthuộc vào quan niêm riêng của nhà văn
2.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời của các tác giả thông qua những bài thơ hành “ ”
Quan niệm nghệ thuật về con ngời qua từng thời đại văn học khác nhau, mỗitrào lu văn học khác nhau có mô hình quan niệm nghệ thuật về con ngời củariêng mình Qua những bài thơ “hành” của Nguyễn Bính, Thâm Tâm và TrầnHuyền Trân, mặc dù với số lợng ít nhng ta thấy hiện lên trong tác phẩm của họ làhình ảnh ngời anh hùng, ngời tráng sĩ đợc soi dọi từ các mối quan hệ:
Con ngời lí trí – tình cảm.
Con ngời anh hùng - đời thờng.
Con ngời cao cả - thấp hèn.
Đây chính là những phẩm chất trong một con ngời Những phẩm chất nàykhông đồng nhất mà đối lập nhau, thậm chí mâu thuẫn nhauđể tạo nên nét độc
Trang 22đáo trong quan niệm nghệ thuật về con ngời của những bài thơ “hành”.
là con ngời của ý chí, thể hiện ý chí chủa nhà thơ.Các nhà thơ Trung đại quanniệm “thi dĩ ngôn chí”, là “văn dĩ tải đạo”, “Trong lòng có điều gì tất hình thành
ở lời cho nên thơ là để nói chí vậy” ( Phan Phu Tiên)
Chí làm trai nam, bắc,đông, tây
Cho thoã sức vẫy vùng trong bốn bể
( Chí anh hùng- Nguyễn Công Trứ)
Thời Trung đại do ý thức cá nhân cha xuất hiện,các nhà thơ quan niệm conngời là con ngời của vũ trụ, của bổn phận và trách nhiệm.Kiểu con ngời này đợcthể hiện qua những hình tợng nhân vật : trung thần, nghĩa sĩ, hào kiệt, trợngphu…và khi
Trong “hành” của thơ ca Trung Quốc cũng không có kiểu con ng ời đan xengiữa lí trí và tình cảm Chẳng hạn nh trong bài “ Hành lộ nan” của Lí Bạch Conngời ở đây là con ngời thể hiện cho ý chí của nhà thơ: Muốn phá tung tất cả mọiràng buộc, tù túng của cuộc sống, đờng đời gian nan nguy hiểm nhng với tâmhồn phóng khoáng, ý chí phi thờng, con ngời có thể vợt qua đợc tất cả:
về một cuộc chia li, tiễn biệt Đề tài không có gì mới, vậy mà vẫn cứ độc đáo.Hình tợng nỗi bật của bài thơ là ngời Li Khách Anh là một trang nam nhi có chílớn, mơ nghiệp lớn, anh quyết tâm ra đi để thực hiện chí lớn của mình Ra đikhông hẹn ngày trở về