1Trong “tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán” Hoài Thanh viết: Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu“ Chí hữu xấu tích vô sung phì” Kìa hồn không thấy mấy trăm châu ở Hồ Nam Toàn xơ
Trang 1Lời cảm ơn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn ờng Đại học Vinh đã ân cần giảng dạy, đào tạo chúng em trong suốt thờigian qua, khoá học (2002 - 2006)
Tr-Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Thạch Kim Hơng đã trực tiếp, tận tình giúp đỡ hớng dẫn em hoàn thành khoá luận này.
Trong quá trình thực hiện đề tài này với sự cố gắng nổ lực của bảnthân, nhng do khả năng còn nhiều hạn chế nên khoá luận chắc chắn khôngtránh khỏi những thiếu sót, sai lầm Kính mong đợc sự góp ý của các thầy côgiáo và các bạn bè gần xa
Em xin chân thành cảm ơn!
Vinh, 5/2006.
Phan Thị Vinh.
Trang 2dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và đợc nhiều bạn đọc đón nhận và yêu
mến “Truyện Kiều” đợc xem nh là một “món ăn tinh thần” trong lòng mỗi
độc giả Việt Nam
Song, Nguyễn Du không chỉ có “Truyện Kiều” mà ông còn có 3 tập
thơ chữ Hán với 249 bài Thơ chữ Hán Nguyễn Du mang dấu ấn rất riêng, rất
độc đáo về một thế giới nội tâm phong phú Mỗi bài thơ là một nỗi niềm,một tâm sự đầy u uất ẩn chứa trong đó là một tấm lòng yêu thơng nhân áibao la
Thế nhng, thế giới nội tâm phong phú ấy, vẫn còn nhiều bí ẩn đối vớisinh viên nh chúng tôi Và đây là cơ hội, là thử thách để chúng tôi khám phá,tìm hiểu, nghiên cứu về con ngời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du – yêu cầu:một tác giả văn học lớn đợc hàng triệu con tim yêu mến
Khám phá thế giới bí ẩn trong văn học trung đại là một việc hết sứckhó khăn Trong các công trình nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam hiệnnay đã có khá nhiều bài viết về cảm hứng nhân văn trong thơ chữ HánNguyễn Du, nhng cha có một công trình nào đợc nghiên cứu một cách cụ
thể, trực tiếp và toàn diện về cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” Với sinh
viên nh chúng tôi, thực hiện đề tài này là một bớc tập duyệt và cũng là mộtcơ hội để chúng tôi đợc bộc lộ những suy nghĩ của mình, đợc đóng góp thêmmột phần nhỏ tiếng nói của mình trong hàng trăm tiếng nói lớn để hiểu thêm
về con ngời Nguyễn Du và đặc biệt là hiểu thêm về cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” trong thơ chữ Hán Nguyễn Du.
Là một giáo viên văn học tơng lai, việc đi sâu nghiên cứu tác phẩmcủa Nguyễn Du sẽ giúp chúng tôi có thêm kiến thức, nâng cao tầm hiểu biết
để sau này giảng dạy tốt hơn
1.2 Yêu cầu:
Trang 3Để đề tài phát huy đợc tác dụng và ý nghĩa thực tiễn, trong quá trình
làm luận văn, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày có hệ thống cảm hứng “tơng liên bất tại đồng ” trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
Cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” là một đề tài văn học mới nên khi
tìm hiểu phải cắt nghĩa một cách rõ ràng, cặn kẻ để tránh trình trạng hiểu sai
khái niệm, tránh hiểu đồng nhất giữa cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” với
- Xuân Diệu – yêu cầu: Con ngời Nguyễn Du trong thơ chữ Hán – yêu cầu: Trong
“Thi hào dân tộc Nguyễn Du” – yêu cầu: NXB văn học – yêu cầu: Hà Nội – yêu cầu: 1966.
- Đào Xuân Quý – yêu cầu: Nguyễn Du trong những bài thơ chữ Hán – yêu cầu: Báo
văn nghệ tháng 11/1966
- Mai Quốc Liên - Thơ chữ Hán Nguyễn Du trong Nguyễn Du toàn“
tập (tập 1)” – yêu cầu: NXB văn học – yêu cầu: Hà Nội -1996
- Trơng Chính - Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán – yêu cầu: trong
“Tuyển tập Trơng Chính” – yêu cầu: NXB văn học – yêu cầu: Hà Nội – yêu cầu: 1997.
- Lê Đình Kỵ – yêu cầu: Nguyễn Du qua thơ chữ Hán – yêu cầu: trong “phê bình nghiên cứu văn học” – yêu cầu: NXB Giáo dục – yêu cầu: Hà Nội – yêu cầu: 1999 Dới đây chúng
tôi xin điểm qua một số ý kiến:
Trong “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán” Giáo s Nguyễn Huệ Chi viết: “Thơng nhau không cứ ở những chổ giống nhau” – yêu cầu: Câu thơ đó mới thực sự là cái tôi trữ tình của Nguyễn Du Bản thân
ông là một vị quan, lại xuất thân trong gia đình một vị tể tớng, điều ấy đã làkhoảng cách rõ ràng riêng biệt với ngời khác Song trong tiềm thức của
Nguyễn Du, dù “không giống nhau” nhng lại cứ “thơng nhau ” Rõ ràng đó
Trang 4đã là “phơng châm sống của Nguyễn Du, một nhận thức thẫm mỹ mà khi chuyển thành sáng tác nghệ thuật, nó sẽ tạo nên phần chủ yếu của t tởng nhân đạo cao quý của Nguyễn Du” (1)
Trong “tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán” Hoài Thanh viết: Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu“
Chí hữu xấu tích vô sung phì”
(Kìa hồn không thấy mấy trăm châu ở Hồ Nam Toàn xơ xác gầy còm không một ngời nào béo tốt)
Chính do một tấm lòng yêu thơng vô hạn đối với con ngời mà Nguyễn
Du hết sức căm giận bọn bất nhân ngang nhiên chà đạp lên kiếp sống ngờita”.(2)
(1) Nguyễn Huệ Chi – yêu cầu: Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán – yêu cầu: Tạp chí Văn học – yêu cầu: 11/1966
(2) Hoài Thanh – yêu cầu: Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán – yêu cầu: tạp chí văn nghệ – yêu cầu: tháng 3/1960
Trang 5Đồng thời cũng gắn liền với cái nhìn đau xót của Nguyễn Du trớc quần
chúng nhân dân lao khổ sống giữa bọn “Nhai thịt ngời ngọt xớt nh đờng”.
Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói: với bài “Thái Bình mại ca giả” (Ngời hát rong ở châu Thái Bình) và “Sở kiến hành” (Những điều trông thấy) thì
Nguyễn Du đã đặt ngón tay vào tận trong vết thơng lỡ loét của xã hội”
Bài “Sở kiến hành” là nổi lòng đau đớn của Nguyễn Du khi trong thấy
cảnh mẹ con ngời hành khất xin ăn dọc đờng, còn bọn quan lại thì rợu thịt
thừa mứa “ngời thừa cứ đổ xuống sông, ngời chết đói mò ăn không đợc”(1)
Không chỉ đau xót trớc những cảnh đời đói khổ nữa mà những ngời ấy, những số phận ấy đã gắn bó với chính cuộc đời Nguyễn Du nh họ là một
phần trong ông vậy Bởi vậy Xuân Diệu đã viết: “Chính thơ chữ Hán chứa
đựng bóng hình, đời sống, nét mặt, mái tóc, dấu chân tâm tình, suy nghĩ của Nguyễn Du”(2).
Nhà thơ không chỉ hớng ngòi bút phanh phui hiện thực xã hội phongkiến thối nát mà còn hớng đến những con ngời lao động khổ cực nh Nguyễn
Huệ Chi đã từng nói: “trên con đờng gập ghềnh bụi bay mờ mịt” của đời
ông, cõi lòng nhà thơ vẫn mở ra để đón lấy mọi niềm vui, nổi buồn của conngời và tạo vật quanh mình Ông thơng cho cái kiếp một con ngựa già bịruồng bỏ, ông tiếc một bông hoa rụng, ông đau xót khôn nguôi trớc cái chết
của một ngời đào hát, ông thấu hiểu tâm trạng “Vờn da quê nhà ” của ngời đilính, ông gắn bó với cả ngời phu xe bắt gặp một thoáng trên đờng đi sứ củamình:
Trang 6Hà xứ thôi xa hán?
“
Tơng khan lục lục đồng”
(Anh đẩy xe kia ở đâu ta nhỉ?
Nhìn nhau thấy vất vả nh nhau)
2.2 Nhận xét đánh giá:
Nhìn chung, những ý kiến trên đã phần nào nói đợc cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” thể hiện trong tập thơ chữ Hán Nguyễn Du, song các tác giả
cha đi vào nói rõ một cách cụ thể, có hệ thống Nói nh vậy, không có nghĩa
là các nhà nghiên cứu không làm đợc điều đó Vấn đề chúng tôi đặt ra đây là
họ không tự đặt ra cho mình nhiệm vụ nghiên cứu cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” nh một vấn đề chuyên biệt – yêu cầu: nhiệm vụ mà chúng tôi theo đuổi
trong tiểu luận này Tuy nhiên, đây là những ý kiến quý bán tạo tiền đề
cho chúng tôi hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về cảm hứng “tơng kiên bất tại
(1) Nguyễn Huệ Chi – yêu cầu: Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán – yêu cầu: tạp chí Văn học – yêu cầu: tháng 11/1966
(2) Nguyễn Huệ Chi – yêu cầu: Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán – yêu cầu: tạp chí văn học – yêu cầu: tháng 11/1966
đồng” trong thơ chữ Hán Nguyễn Du.
2.3 Khẳng định lại ý nghĩa của đề tài:
Cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” trong thơ chữ Hán Nguyễn Du là
một cảm hứng chân thành, mãnh liệt, thể hiện rõ t tởng tình cảm của nhà thơvới những kiếp ngời cùng khổ không cùng giai cấp, không cùng đẳng cấp
Trang 7Đây là một đề tài hoàn toàn mới, nên việc đi sâu vào nghiên cứu làmột vấn đề hết sức khó khăn Nhng đợc tìm hiểu, nghiên cứu về một tác giavăn học lớn là một điều thú vị, có ý nghĩa lớn đối với những sinh viên khoavăn nh chúng tôi.
Ngay trong thời đại ngày nay, khi đã đợc học, tìm hiểu và nghiên cứu
về Nguyễn Du, tâm hồn chúng tôi nh đợc tiếp thêm sức sống mãnh liệt Khi
đi trên đờng gặp những ngời hành khất ăn xin chúng tôi không thể nào dữngdng…Vậy là, những vần thơ lấp lánh của Nguyễn Du đã đợc chúng ta luônghi nhớ, nhắc đến và học tập…
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tợng nghiên cứu:
ở đề tài này, chúng tôi lấy tập thơ “Nguyễn Du toàn tập” do MaiQuốc Liên – yêu cầu: Nguyễn Quang Tuân – yêu cầu: Ngô Linh Ngọc – yêu cầu: Lê Thu Yến biênsoạn – yêu cầu: NXB Văn học – yêu cầu: Trung tâm nghiên cứu quốc học – yêu cầu: 1996 là đối t -ợng để nghiên cứu; trong đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu 3 tập tập thơchữ Hán của Nguyễn Du
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Thơ chữ Hán Nguyễn Du đề cập đến nhiều vấn đề, nhng do yêu cầucủa đề tài, luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ
thể, xoay quanh cảm hứng “tơng liên bật tại đồng” trên cơ sở những biểu
hiện của nó trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
4 Phơng pháp nghiên cứu:
Cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” thể hiện tinh thần nhân văn, nhân
đạo cao cả của ngời nghệ sỹ khi sáng tạo nghệ thuật; Thông qua đó ta nhậnthấy đợc quan điểm nghệ thuật, thấy đợc t tởng tình cảm của nhà văn gữi
gắm Do vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu về cảm hứng “tơng liên bất tại đồng”
trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, chúng ta cần phải nhìn nhận trên nhiềugóc độ để phân tích khái niệm, phân tích thơ Để thực hiện đề tài này chúngtôi sử dụng các phơng pháp nh thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, đốichiếu để nhìn nhận vấn đề rõ nét hơn, toàn diện hơn, triệt để hơn
Đặc biệt, đây là một vấn đề văn học đã thuộc về quá khứ nên cần nhìnnhận, nghiên cứu trên quan điểm lịch sử
Trang 8Phần Nội dung Chơng 1: Cảm hứng nhân văn trong thơ sáng tác của Nguyễn Du
1.1 Giới thuyết khái niệm:
1.1.1 Cảm hứng:
Cảm hứng: trạng thái tình cảm mãnh liệt, đắm say gắn liền với một t ởng xác định, có tính chất sáng tạo, nảy sinh cao độ trong lòng các nhà văn,nhà nghệ sỹ…
t-Sách “Từ điển Tiếng Việt” – yêu cầu: NXB Khoa học Xã hội – yêu cầu: Hà Nội – yêu cầu:
1994 đa ra định nghĩa về “cảm hứng” với hai ý nghĩa:
“Cảm hứng”: là xúc động trong lòng, sinh ra hứng thú.
“Cảm hứng”: là luồng ý nghĩ t tởng, có tính chất sáng tạo, thờng đột
nhiên nảy sinh trong lòng nhà văn, nhà nghệ sỹ, trong trí tuệ ngời nghiên cứukhoa học…
Trong “Từ điển Tiếng Việt” – yêu cầu: do Hoàng Phê chủ biên – yêu cầu: NXB Đà
Nẵng – yêu cầu: Trung tâm từ điển học Hà Nội - Đã Nẵng – yêu cầu: 1995 cũng đa ra định
nghĩa về “cảm hứng”:
“Cảm hứng” là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý đợc tập trung
cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tởng tợng, sáng tạohoạt động có hiệu quả Nguồn cảm hứng của nghệ sỹ…
Nh vậy, “cảm hứng” là trạng thái tâm lí, tình cảm mạnh liệt đợc thể hiện rõ
nhất, hiệu quả nhất ở những ngời nghệ sỹ trong sáng tạo nghệ thuật…
1.1.2 Cảm hứng nhân đạo:
Cảm hứng nhân đạo thể hiện những cảm xúc, t tởng, tình cảm của
ng-ời nghệ sỹ đối với con ngng-ời và xã hội mỗi thng-ời đại Đó là tấm lòng yêu thơngbao la của các nhà thơ, nhà văn đối với các tạo vật xung quanh mình Cảmhứng nhân đạo còn là tiếng nói tố cáo gay gắt xã hội bạo tàn đó…
Thuật ngữ “Cảm hứng nhân đạo” rất quen dùng trong văn học Theo
“từ điển thuật ngữ văn học”: thế giới đợc sáng tạo ra trong văn học nghệ
thuật là thế giới mà con ngời luôn luôn đấu tranh chống lại mọi thế lực thù
địch để khẳng định mình, khẳng định quyền năng và sức mạnh của mình
Đồng thời thể hiện khát vọng làm ngời mãnh liệt và cao đẹp của mình Lòngyêu thơng u ái đối với con ngời và thân phận của nó từ trớc đến nay vẫn là sựquan tâm hàng đầu của các nhà văn, nhà nghệ sỹ trong cảm hứng sáng tạonghệ thuật
1.1.3 Cảm hứng nhân văn:
Trang 9Trong cuốn “chủ nghĩa nhân văn và nhân đạo” – yêu cầu: Nhà xuất bản sự
thật – yêu cầu: 1996, Vônghin định nghĩa về chủ nghĩa nhân văn: chủ nghĩa nhânvăn là toàn bộ những quan điểm đạo đức, chính trị bắt nguồn không phải từnhững cái gì siêu nhiên kỳ ảo, không phải từ những nguyên lý ngoài đờisống của nhân loại; Mà đó là bắt nguồn từ con ngời tồn tại thực tế trên mặt
đất với những nhu cầu, những khát vọng, những khả năng trần thế và hiệnthực của nó Và những nhu cầu, những khả năng ấy đòi hỏi phải đợc pháttriển đầy đủ, đòi hỏi đợc thoả mãn
Cảm hứng nhân văn trong tác phẩm của các nhà văn không chỉ là tấmlòng yêu thơng con ngời, cảm thông, chia sẽ với những cuộc đời, số phận họtìm thấy sự đồng cảm Mà còn thể hiện ở mức độ cao hơn, sâu hơn đó là sựkhám phá con ngời, đa những giá trị cao đẹp của con ngời đặt lên hàng đầu
Cảm hứng nhân văn không chỉ thể hiện tình yêu thơng bênh vực conngời mà còn ca ngợi vẽ đẹp tài năng của những con ngời tài sắc trong xã hội.Con ngời trong thời đại này họ đã ý thức đợc chính bản thân mình, đề caovấn đề cá nhân, cuộc sống trần tục và khát vọng tự do vợt ra ngoài khuônkhổ lễ giáo phong kiến Trong các tác phẩm thời kỳ này có các tác giả đãgiám đấu tranh chống lại thế lực bạo tàn chà đạp lên quyền sống, quyềnhạnh phúc của con ngời Họ đứng trên lập trờng nhân sinh để lên án, tố cáonhững gì là phản nhân sinh
Trong văn học trung đại, cảm hứng nhân văn không chỉ xuất hiện nhmột yếu tố, mà nó xuất hiện nh một trào lu Hầu hết các tác phẩm văn họcchữ Nôm cũng nh chữ Hán ở giai đoạn này đều tập trung vào vấn đề con ng-
ời, nhận thức con ngời và đấu tranh với mọi thế lực đen tối phản động củachế độ phong kiến để khẳng định những giá trị chân chính của con ngời
1.1.4 Cảm hứng t “ ơng liên bất tại đồng ”
“Tơng liên bất tại đồng” tức là “thơng nhau không phải ở chỗ giống nhau” Con ngời không cùng giai cấp, địa vị, vị thế trong xã hội, nhng họ
vẫn yêu thơng nhau, gắn bó với nhau, cảm thông cho nhau, chia sẻ nhữngniềm vui nổi buồn cho nhau trong cuộc sống Nhà thơ và đối tợng trữ tìnhtrong thơ ca là hai giai cấp, hai tầng lớp hoàn toàn khác nhau, nhng họ vẫnthơng yêu, đồng cảm với nhau
Cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” thể hiện tinh thần nhân văn cao cả
tồn tại trong lịch sử văn học Việt Nam ở mỗi thời kỳ, mỗi chặng đờng đềukhác nhau, cuộc sống của con ngời mỗi giai đoạn cũng khác nhau Nhng
Trang 10nhìn chung thì ở bất cứ nơi đâu con ngời sống trong thời kỳ nào văn họccũng phản ánh rõ cảm hứng này vì trong mỗi nhà văn đều có tấm lòng nhân
ái và tình yêu thơng sâu sắc bao la Đồng thời thể hiện rõ thái độ phê phán,
tố cáo và niềm căm phẫn khôn nguôi của các nhà văn trớc thực trạng xã hộiphong kiến bạo tàn
Cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” không đơn giản chỉ là khái niệm
đạo đức đơn thuần mà ở đó còn thể hiện đợc cái tâm của ngời nghệ sỹ thểhiện cách nhìn nhận đánh giá về cuộc sống con ngời ở mỗi nhà văn
“Truyện Kiều” đề cao số phận con ngời, đặc biệt là những con ngời
thuộc tầng lớp Trung Lu trong xã hội phong kiến, tiêu biểu là Thuý Kiều.Tác phẩm ngoài những giá trị về nghệ thuật - đó là sự kết hợp hài hoà tinhhoa nghệ thuật văn học dân gian Việt Nam và văn chơng bác học phơng
Đông cổ điển tạo nên những vần thơ hài hoà mang đầy ý nghĩa sâu xa vànhững giá trị nhân văn cao cả Tác phẩm không chỉ ca ngợi vẽ đẹp của ngờiphụ nữ, tài năng của cá nhân con ngời trong xã hội cũ mà còn đề cao khátvọng làm ngời, khát vọng đợc yêu thơng, đợc hởng hạnh phúc thông quanhân vật Thúy Kiều – yêu cầu: một ngời tài sắc vẹn toàn vậy mà cuộc đời cứ xô đẩy,nhấn chìm nàng xuống đáy xã hội Nguyễn Du đã đề cao giá trị của ngời phụnữ với quan điểm thẩm mĩ độc đáo về đạo đức Ông đã đa ra mẫu ngời bị xãhội dồn lên đầu tất cả những nhục nhã, ê chề mà ngời phụ nữ thời trớc phảichịu đựng, nhng cũng chính ngời phụ nữ ấy trong cuộc đời cay đắng vẫn giữ
đợc đạo làm ngời, vẫn bảo vệ đợc nhân phẩm của mình Nhà thơ đã rất thơngyêu và rất cảm thông cho thân phận nàng Kiều Bởi hơn ai hết là một ngờinghệ sỹ lại đợc chứng kiến những bất công ngang trái ấy nên Nguyễn Du đãthốt lên trong mở đầu tác phẩm là:
“Trăm năm trong cõi ngời ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trang 11Trãi qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
(Truyện Kiều)
Nguyễn Du đã rất xót xa cho cuộc đời bãi bể nơng dâu Chính ông đã
chứng kiến “cõi ngời ta” ấy và đã trãi qua tất cả cho nên ông nh là một
chứng nhân lịch sử của thời đại bấy giờ Vì thế, ông có một niềm cảm thôngmãnh liệt với những kiếp ngời, kiếp đời bất hạnh, khổ đau…
Tác phẩm “Truyện Kiều” là một kiệt tác của Nguyễn Du, thể hiện rõ
lòng xót thơng chân thành, đằm thắm của nhà thơ với những kiếp ngời tàihoa nhng bạc mệnh Bên cạnh đó, cũng là tiếng nói đanh thép tố cáo xã hộiphong kiến tàn ác, chà đạp lên thân phận con ngời mà đặc biệt là ngời phụnữ trong xã hội bạo tàn, loạn ly…
Trong “Văn chiêu hồn” Nguyễn Du đã cho ta thấy những cảnh đời
nheo nhóc hiện ra nh thế nào dới ngòi bút tinh tế của nhà thơ Ông đã đi sâuvào trong đời sống cay cực của con nhà kẻ khó, đói khổ nhất trong xã hội để
ông thấu hiểu đợc nổi khổ đau tận cùng cuả họ và cảm thông, chia sẽ cùnghọ
Nguyễn Du thuộc tầng lớp quý tộc mà trong thơ ca lại có mối đồngcảm thắm thiết với những kiếp ngời vốn thuộc giai cấp khác Điều này ta
thấy rõ trong “Văn chiêu hồn”, Nguyễn Du có nhịp gợi lên những hình ảnh
đau xót của thời đại ông Có những ngời ở tầng lớp trên, nhng đa số là nhữngngời là những ngời ở tầng lớp dới
Trong tầng lớp trên thì lòng thơng của ông dành cho những ngời “chânyếu tay mềm”, đang sống trong cảnh “màn loan trớng huệ” bổng chốc bơ vơ
nh chiếc lá giữa dòng Nguyễn Du đặc biệt đi sâu vào tầng lớp dới để miêu tả
tỉ mĩ, chân thực nổi khổ của ngời dân Trong tầng lớp dới thì có thể nói là đủmặt từ ngời học trò đau ốm dọc đờng không ai thuốc thang nuôi uống, đến
khi chết phải “liệm sấp chôn nghiêng”; những ngời buôn bán làm ăn đi mành
đi giã, hoặc nghèo khổ hơn; những ngời đi lính phải “bỏ việc nhà mà đi gánh việc quan” sống cảnh “nớc khe cơm vắt”; những ngời giang hồ vì miếng ăn
mà phải “lỡ làng một kiếp”; những ngời ăn mày “nằm cầu gối đất”; những
Trang 12ngời bị tù oan; những em “tiểu nhi tấm bé” vừa ra đời không đợc chăm sóc
Cảnh ngộ của những em bé bất hạnh này đã trở thành một bi kịch lúc bấy
giờ Trong “văn chiêu hồn”, một nữa nhà thơ tả cảnh lẻ loi, đói khổ của họ
trong cõi âm, nhng một nữa thì nhà thơ tả cảnh vất vả, lận đận của họ khicòn trên dơng thế Bài văn tế này đọc lên không biết cô hồn nghe có đợc an
ủi phần nào không, nhng chúng ta nghe thì càng thấy căm thù cái xã hộiphong kiến bạo tàn Dù là hoàn cảnh nào, Nguyễn Du cũng xót thơng cho
những kiếp ngời cơ cực “không nơi nơng tựa” này Tấm lòng nhân ái bao la
của thi hào Nguyễn Du nh là điểm tựa cho những con ngời ấy sống dựa vàonhau:
Th“ ơng thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê ngời…”
Nh vậy, tất cả những kiếp ngời đó, tuy mỗi ngời một nghiệp khác
nhau, nhng chết đi chỉ còn lại một lũ cô hồn thất thễu “thở đau dới đất, ăn năm trên sơng…”Và tấm lòng của Nguyễn Du càng nhói đau, khắc khoải:
Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
“
Hoặc là nơng ngọn suối chân mây Hoặc là điếm cỏ, bóng cây Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ
Hoặc là nơng thần tu phật tử
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc là gò đống, hoặc vùng lau tre…”
Trang 13Chơng 2: Cảm hứng t “ ơng liên bất tại đồng trong thơ chữ Hán”
Nguyễn Du
2.1 “…Bất tại đồng”: Bất tại đồng : ”:
Thơ chữ Hán là một bộ phận quan trọng trong sáng tác của Nguyễn
Du, đợc ông sáng tác liên tục bắt đầu từ những ngày chạy loạn Tây Sơn vềsống ở Thái Bình cho tận đến những ngày cuối cùng ông làm quan ở kinhThành Huế với nhà Nguyễn
Đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du, ngời ta nhận thấy ở nhà thơ có một tấmlòng nhân ái bao la đối với những kiếp ngời, kiếp đời đau khổ Đó là tấmlòng của một ngời nghệ sỹ đối với những tạo vật xung quanh mình, đối vớinhững con ngời và xã hội thời ông đang sống Điều đáng quý nhất, đáng trântrọng nhất ở Nguyễn Du trong thơ chữ Hán, đó là tấm lòng nhân ái của nhàthơ luôn hớng về những ngời dân lao động nghèo khổ Mặc dù giữa nhà thơ
và những ngời dân cùng khổ ấy có sự cách biệt sâu xa giữa hai giai cấp, haitầng lớp hoàn toàn trái ngợc nhau Một bên là thuộc tầng lớp quý tộc giàusang, một bên là thuộc tầng lớp nông dân lao động nghèo khổ, một bên làquan quân của triều đình và một bên là những ngời dân vô tội Sự khác biệtnày trớc hết ở hoàn cảnh xuất thân
Nhà thơ xuất thân trong một gia đình quan lại quý tộc lâu đời và cóthế lực bậc nhất dới thời vua lê Chúa Trịnh Sinh ra và lớn lên trong dinh thựtráng lệ của gia đình, ở phờng Bích Câu, Thăng Long, Hà Nội Nguyễn Du
đã đợc sống những năm tháng vàng son tơi đẹp nhất của thời niên thiếu Cha
là Nguyễn Nghiễm làm quan Tể tớng dới triều Lê; mẹ là Trần Thị Tần, là vợthứ ba của Nguyễn Nghiễm Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình màcả cha và anh đều làm quan to trong triều đình, cuộc sống vật chất của ông
hẳn nhiên là sung túc, đầy đủ Cái nguyên lý “Một ngời làm quan cả họ đợc nhờ” trong xã hội phong kiến Việt Nam đã đợc phát huy tối đa qua hiện
trạng dòng họ Nguyễn Tiên Điền Nguyễn Nghiễm đã phấn đấu suốt cả cuộc
đời để đạt đến nấc thang danh vọng cao nhất và đem lại cho gia tộc một cuộcsống giàu sang, vơng giả Cuộc sống ấy đã đợc Nguyễn Hành – yêu cầu: cháu ruột
của Nguyễn Du nhớ lại trong Đồng xuân ngụ ký“ ” nh sau: “Nhớ lại khi trớc, nhà tôi một ông hai chú dự vào trong chính phủ ơn nớc dồi dào, các nơi trong thành Bích Câu lâu đài san sát Hàng ngày những ngời đi xe ngựa, võng lọng đều chầu chực ở trớc cửa Trong nhà, hạng nô bộc cũng đợc ăn
Trang 14thịt, mặc áo gấm Tôi là ngời sinh sau đẻ muộn cũng còn kịp trông thấy những cảnh tợng ấy”.
Gia đình Nguyễn Du vốn là gia đình khá điển hình của giới quý tộcphong kiến ở Việt Nam vừa nổi tiếng về truyền thống khoa cử vừa nổi tiếng
về văn chơng Dinh cơ bề thế, hoành tráng ở phờng Bích Câu là kết quả củacả một đời phấn đấu làm quan của Nguyễn Nghiễm, ghi dấu tài năng vàcông sức của ông đồng thời chứng tỏ danh thế của gia đình ông – yêu cầu: một gia
đình có vinh dự nhiều đời, nhiều ngời làm quan to, đợc thăng thởng liên tục.Chuyện hai cha con Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Khản cùng làm to trongtriều đơng thời xa nay là hiếm có Ngời địa phơng thờng đọc câu ca dao nói
về dòng họ này – yêu cầu: dòng họ Nguyễn Tiên Điền:
Bao giờ ngàn Hống hết cây
“
Sông Rum hết nớc, họ này hết quan”
Khi con đờng hoạn lộ đã thành đạt, vinh hiển, mục tiêu giàu sang phú quýkhông còn phấn đấu nữa thì cũng là lúc ngời đàn ông gia trởng có điều kiện
và có quyền tận hởng hạnh phúc Với tám bà vợ và hai mốt ngời con, gia
đình Nguyễn Nghiễm là một điển hình của chế độ đa thê phong kiến ấn ợng của Nguyễn Nghiễm đọng lại trong tâm trí Nguyễn Du đó là sự nghiệp
t-đồ sộ, lừng lẫy cùng với một phong cách mực thớc, chín chắn và kín đáo của
ông Bên cạnh đó còn có hình ảnh ngời mẹ đã ân cần, dịu dàng dạy bảoNguyễn Du trong thời niên thiếu Điều đó đã ảnh hởng rất sâu đậm trongsáng tác của Nguyễn Du sau này
Tơng lai của Nguyễn Du tởng nh đã trãi sẵn chiếu hoa để chờ ông bớclên, cuộc đời tởng nh một dòng suối êm đềm Thế nhng con tạo trớ trêu đã
đoạ đày ngời phong vận Mời tuổi mô côi cha và cha đầy ba năm sauNguyễn Du lại phải đội tang mẹ Do anh em đồng mẫu cha có ai đến tuổi tr-ởng thành để quán xuyến nên anh em Nguyễn Du phải chia nhau tới ở nhàanh cùng cha khác mẹ, những ngời đã có sự nghiệp Nguyễn Du đến ở vớigia đình Nguyễn Khản cho đến hết tuổi thiếu thời
Nguyễn Khản là ngời nổi tiếng thông minh, học giỏi, thi đậu tiến sỹsớm và là ngời phong lu tài hoa rất mực Ra làm quan cho nhà Nguyễn,Nguyễn Khản đợc Trịnh Sâm giao tình thắm thiết Lối sống quý tộc của ngờianh cùng cha khác mẹ này đã có tác động rất lớn đến Nguyễn Du, dội mạnh
vào tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ Trong “Vũ Trung tuỳ bút” của Phạm
Đình Hổ kể lại rằng: “Nguyễn Khản là ngời ham thích hát xớng, gặp khi con
Trang 15hát tang trở cũng cứ cho tiền bắt hát,không lúc nào bỏ tiếng tơ, tiếng trúc; Khi có tang quan T đồ, ngày rỗi cũng cứ sai con hát đồ khúc ngâm thơ Nôm Bọn con em quý thích đều bắt chớc chơi bời, hầu nh thành thói quen”.(1).
Hồi đó Nguyễn Du còn quá trẻ cha đủ khả năng đễ hiểu hết những cái sâu xa
từ những điều trông thấy Sau này, khi bắt gặp những cảnh trớ trêu trên đờng
đời Nguyễn Du mới nhận ra
Sự giàu sang, thịnh vợng của gia đình Nguyễn Du chứa đựng bêntrong nó những mâu thuẫn không thể điều hoà Những mâu thuẫn đó diễn ra
âm thầm mà vô cùng mãnh liệt La Sơn phu Tử Nguyễn Thiếp có quan hệthông gia với họ Nguyễn Tiên Điền, khi sợ mục cảnh sinh hoạt giàu sang củagia đình Nguyễn Nghiễm đã cảnh báo mầm tai hoạ của gia đình này trongmột bài tán và một bài thơ Khi nhà Lê - Trịnh sụp đổ thì gia đình Nguyễn
Du càng sụp đổ theo nh là một lẻ tất yếu không thể tránh khỏi, kết thúc một
(1) Phạm Đình Hổ – yêu cầu: Vũ trung tùy bút – yêu cầu: NXB Văn hoá - Hà Nội - 1960
thời kỳ huy hoàng của gia đình Nguyễn Du Từ đây trở đi, Nguyễn Du bị đẩy
ra giữa cuộc đời tủi nhục, đắng cay và ông không bao giờ còn đợc thấy lạinhững năm tháng vàng son của gia đình nữa
Xuất thân trong một gia đình quý tộc giàu sang, phú quý, Nguyễn Duhoàn toàn đối lập với những ngời dân cùng khổ – yêu cầu: những ngời sinh ra và lớnlên trong những gia đình nông dân nghèo khổ, bần hàn, cơ cực nhất trong xãhội phong kiến đơng thời Cuộc sống của họ rất khó khăn, đói khổ, lúc nàocũng thiếu thốn, không có đủ cái ăn, cái mặc, có lúc họ phải bỏ làng, bỏ quê
hơng đi tha phơng cầu thực để xin ăn nh mẹ con ngời hành khất trong “Sở kiến hành” và ngời già mù loà phải đi xin ăn trong “Thái Bình mại ca giả”… Tất cả họ đều là những nạn nhân của xã hội phong kiến bạo tàn, họ
luôn bị xã hội ruồng bỏ và đối xử rất thậm tệ, tàn nhẫn…
ở Nguyễn Du và những ngời dân lao động cùng khổ còn có sự cáchbiệt về địa vị xã hội Không những sinh ra trong một gia đình quý tộc giàusang mà bản thân Nguyễn Du còn là một vị quan lớn của triều đình Ông làmquan to, lên đến chức Chánh Sứ Đây là sự khác biệt sâu xa giữa nhà thơ vànhững ngời dân cùng khổ Vậy mà ông luôn quan tâm và dành tình cảm u áicho họ Khi bớc chân sang đất ngời - đất nớc Trung Hoa, một đất nớc mà lâunay Nguyễn Du cứ tởng là những ngời dân nơi đây luôn đợc ấm no, hạnhphúc Vậy mà trên đờng đi sứ ông lại bắt gặp những cảnh tợng đau đớn, xót
Trang 16xa vô cùng Nhà thơ không thể nào cầm lòng đợc trớc hình ảnh của nhữngngời dân vô tội, đáng thơng Đó là hình ảnh của một ông già mù dắt một em
bé đi hát rong và hình ảnh một ngời mẹ dắt ba đứa con đi ăn xin dọc đờngphố… Tất cả đều hiện ra trớc mắt Nguyễn Du, hoàn toàn đối lập với Nguyễn
Du, nhng đều đợc ông quan tâm, thơng xót Với cơng vị là một ông quanChánh Sứ, trởng của đoàn thuyền sứ vậy mà tấm lòng Nguyễn Du luôn hớng
về những ngời dân vô tội để cảm thông, chia sẽ với những nổi đau khổ của
họ Tấm lòng của nhà thơ dờng nh không phân biệt giàu sang, hèn nghèo mà
đó là một tình cảm xuất phát từ trái tim chân thành của một ngời nghệ sỹ với
một tâm hồn đa cảm Nguyễn Huệ Chi đã từng nói: “Bản thân ông là một vị quan, lại xuất thân trong gia đình một vị Tể tớng, điều ấy đã là khoảng cách
rõ ràng riêng biệt với ngời khác Song trong tiềm thức của Nguyễn Du dù không giống nhau
“ ” nhng lại cứ th “ ơng nhau Rõ ràng đó đã là ph ” “ph ơng châm sống của Nguyễn Du, một nhận thức thẩm mĩ mà khi chuyển thành sáng tác nghệ thuật, nó sẽ tạo nên phần chủ yếu của t tởng nhân đạo cao quý của Nguyễn Du” (1)
Nh vậy, một ngời thuộc tầng lớp quý tộc, giàu sang và làm quan lớntrong triều đình mà tấm lòng nhà thơ luôn hớng về những ngời dân lao độngcùng khổ Điều này rất hiếm thấy trong xã hội phong kiến đơng thời Thếnhng, đi sâu vào tìm hiểu con ngời Nguyễn Du ta thấy đợc tấm lòng nhân áibao la của nhà thơ luôn rộng mở, bao dung…
2.2 Cảm hứng tơng liên.
2.1.1 Sự cảm thông sâu sắc và lòng xót thơng chân thành.
Thơ chữ Hán Nguyễn Du đề cập về nhiều vấn đề, nhng nổi bật nhấtvẫn là tấm lòng thơng cảm của nhà thơ đối với những kiếp ngời, kiếp đờicùng khổ Tấm lòng nhân ái bao la ấy cho mãi đến ngày nay, làm ngời đọckhông thể nào dững dng đợc Khi đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng ta luluyến nhất là những vần thơ thể hiện sâu sắc tinh thần nhân đạo Giáo s
Nguyễn Huệ Chi cũng có viết: “Cảm hứng nhân đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du sẽ chuyển sang một cấp độ mới khi nhà thơ hớng ngòi bút vào một đối tợng miêu tả khác: những con ngời có số phận cơ cực, hẩm hiu nhất trong xã hội Về phơng diện này thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng thống nhất với Truyện Kiều và Văn chiêu hồn Thống nhất tr“ ” “ ” ớc hết ở cảm quan hiện thực của nhà thơ Hể cứ nói đến những kiếp ngời lầm than, lời thơ của Nguyễn Du bao giờ cũng hàm chứa một nổi bức xúc làm ngời
Trang 17(1) Nguyễn Huệ Chi – yêu cầu: Nguyễn Du và thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán- tạp chí văn học – yêu cầu: tháng 11/1966
đọc không thể dửng dng Nguyễn Du không phải là ngời chỉ biết thu mình lại trong những đau khổ cá nhân Trên con đờng gập ghềnh bụi bay mịt mờ“ ”
của đời ông, cõi lòng nhà thơ vẫn mở ra để đón lấy mọi niềm vui nổi buồn của con ngời và tạo vật xung quanh mình” (1)
Là nghệ sỹ, ai cũng có một tấm lòng, một tâm hồn nhng ở Nguyễn Dunổi bật hơn ở chỗ là ngời thuộc tầng lớp, giai cấp hoàn toàn khác hẳn vớinhững ngời lao động cùng khổ, nhng nhà thơ vẫn có một tình cảm rất đặcbiệt với họ Vì vậy, đọc thơ Nguyễn Du ta nghe chan chứa một tấm lòngnhân ái bao la Tấm lòng nhân ái ấy đã thôi thúc nhà thơ viết nên nhữngtrang thơ hay nhất để sẻ chia, thông cảm với những nổi đau khổ của họ Vànhững trang thơ ấy không những nói lên tấm lòng yêu thơng nhân ái của nhàthơ mà còn là một tiếng tố cáo đanh thép đối với thực trạng xã hội phongkiến Việt Nam đơng thời
Tấm lòng của Nguyễn Du luôn hớng về những ngời dân lao độngnghèo khổ, ông thấu hiểu nổi đau khổ của những ngời dân vô tội đã bị xã hộiruồng bỏ và đối xử rất thậm tệ, bi đát Tấm lòng nhân ái của Nguyễn Du đãphần nào soi sáng cho đờng đi đầy bóng tối, u ám của họ, đã tiếp thêm sứcmạnh cho họ có thể đứng vững giữa cuộc đời nhân thế
Cảm hứng “tơng liên bất tại đồng” trong thơ chữ Hán Nguyễn Du là
một cảm hứng chân thành, mãnh liệt thể hiện rõ t tởng, tình cảm của nhà thơvới những kiếp ngời cùng khổ Từ hình ảnh ông già mù đi hát rong sùi bọtmép và lúc đã xuống thuyền còn quay đầu chúc tụng, đến hình ảnh của
ba mẹ con một ngời hành khất…Nhà thơ quan tâm đến những con ngời xungquanh không cùng giai cấp, không cùng đằng cấp Điều đó thể hiện rõ lòng nhân ái của nhà thơ, đây chính là nội dung cơ bản của tập thơ chữ Hán
Nguyễn Du Lòng nhân ái yêu thơng con ngời là cảm hứng để Nguyễn Du
(1)NguyễnHuệ Chi – yêu cầu: sđd
Trang 18sáng tác thơ văn, âm hởng chung của tập thơ này thể hiện rõ tinh thần nhân văn, yêu thơng nhau, cảm thông cho nhau,san sẽ với nhau niềm vui, nổi buồn trong cuộc sống.
Cảm hứng t “ ơng liên bất tại đồng” là câu thơ trong bài “Phợng hoàng
lộ thợng tảo hành” ở tập thơ “Nam trung tạp ngâm”
Trong một chuyến đi vào Nam nhậm chức,đợc ngủ chung với một báctiều phu trong một quán trọ dọc đờng, Nguyễn Du đã có những lời rất trìumến:
Dã túc phùng tiều giả
“
Tơng liên bất tại đồng”
(Đêm trọ giữa đồng quê gặp bác tiều phu Thơng nhau không cứ ở chổ giống nhau)
(Phợng hoàng lộ thợng tảo hành).
Câu thơ đã thể hiện rõ t tởng của tác giả Cuộc sống cần có sự dunghòa giữa kẻ sang ngời hèn, giàu có và khó khăn, không phân biệt giai cấp,
địa vị Trong con ngời Nguyễn Du tình thơng yêu ấy là thứ tình cảm đã đi
vào ý thức, vợt lên trên những gắn bó tự phát,thờng tình “Thơng nhau” dù
“không giống nhau” Đây là một nhận thức tiến bộ, tích cực và rất mới mẽ
của Nguyễn Du cũng nh trong văn học Việt Nam trung đại lúc bấy giờ Tìnhthơng ấy xuất phát từ trái tim chân thành, mãnh liệt nh thấm sâu vào trongmáu thịt của ông và nó nh một dòng chảy chảy mãi trong tâm t của NguyễnDu
Tấm lòng nhân ái bao la của Nguyễn Du đã đa nhà thơ gần gũi vớiquần chúng, hoà mình vào cuộc sống của quần chúng Nguyễn Du học đợcnhững bài hát cùng tiếng nói của quần chúng và thông cảm, sẽ chia vớinhững nổi đau khổ của họ:
Thôn ca sơ học tang ma ngữ
“
Dã khốc thời vãn chiến phạt thanh”
(Trong tiếng hát nơi thôn xóm, ta bắt đầu học đợc những câu chuyện
về trồng dâu, trồng gai Trong tiếng khóc nơi đồng ruộng, ta nghe có tiếng dội của chiến
Trang 19Tơng khan lục lục đồng”
(Anh đẩy xe kia ở đâu ta nhỉ?
Nhìn nhau thấy vất vả nh nhau)
(Hà Nam đạo trung khốc thử)
Đờng đờng là một vị quan của triều đình, nhng chỉ nhìn thấy ngời phu
xe mệt nhọc dới ánh nắng gay gắt của mặt trời, Nguyễn Du cũng thấy cảm
thơng “nhìn nhau vất vả nh nhau” Cái nhìn nh muốn sẽ chia sự mệt nhọc
cùng ngời phu xe Tấm lòng của nhà thơ nh muốn dõi theo những bớc đi củangời lao động
Tất cả những vần thơ ấy đều chan chứa nổi lòng của Nguyễn Du Nhàthơ thờng hay than thở xót thơng cho những số kiếp nghèo khổ của con ngời
Đặc biệt qua hai bài thơ “Thái Bình mại ca giả” và “Sở kiến hành”, Nguyễn
Du đã đi sâu vào tận cùng nổi khổ của ngời dân, đồng thời phản ánh sự tànbạo, xấu xa, lộng hành của bọn quan lại phong kiến Nhà thơ luôn đặt haihình ảnh đối lập nhau giữa một bên là nổi khổ của ngời dân vô tội và mộtbên là cuộc sống xa hoa, ăn chơi phè phởn của bọn quan lại phong kiến đểphản ánh sự bất công, ngang trái trong xã hội phong kiến bạo tàn lúc bấy giờ
và đặc biệt để thấy đợc tấm lòng nhân ái bao la của nhà thơ đối với nhữngkiếp ngời cùng khổ
ở bài “Thái Bình mại ca giả” bằng sự quan sát cuộc sống tỉ mĩ và sắcnét với một bút lực đầy tỉnh táo và nhạy bén, Nguyễn Du đã dựng lên mộtbức tranh hiện thực đầy sinh động Thơ nhng viết theo lối kể chuyện, rất hiệnthực phản ánh chi tiết, cụ thể:
“ở phủ Thái Bình, có ngời mù, mặc áo vải thô
Có em bé dắt ra bến sông Bảo rằng đó là ông già ăn xin ở ngoại thành Hát rong xin tiền để kiếm cơm…”
(Thái Bình mại ca giả)
Cảnh tợng một ông già và một đứa trẻ dắt díu nhau đi xin từng miếng ăn X anay, cảnh tợng ấy không có gì là xa lạ Nhng với Nguyễn Du bất cứ con ngời
đói khổ nào ông cũng nhìn nh nhau Họ cần miếng cơm ăn cho đỡ đói, lòng
họ cần manh áo để tránh cái gió rét cứ lấn áp trên tấm thân còm cõi gầy gò.Một ngời ăn xin cũng nh hàng vạn ngời ăn xin khác, Nguyễn Du đều cóchung một tấm lòng thơng cảm, xót xa Bởi lẽ không chỉ có trong những ángvăn chơng mà ngay trong chính tâm hồn nhà thơ, tình thơng yêu đồng loại
Trang 20đã ăn sâu vào trong máu ông, nó chảy mãi không ngừng Nhà thơ Xuân Diệu
cũng đã nói: “Nguyễn Du đã lấy một nét quá phổ biến, lảy ra, đa vào thơ, làm cho nổi bật cái bi thảm, mà do đó cũng thấy đợc tấm lòng Nguyễn Du, nhìn ngời ăn mày thứ một vạn cũng nh ngời ăn mày thứ nhất, không bao giờ
tê liệt lòng cảm thơng ”(1)
ấy thế mà, trong cái xã hội mục rũa này, những ngời ăn mày đáng
th-ơng nh thế mà những ngời thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang không thềm để ýgì Họ thật tàn nhẫn, bất nhân Nguyễn Du đã rất tài tình khi vẽ ra
hai cảnh tợng đối lập nhau: một bên là cảnh tợng ông già đi hát rong kiếmtiền và một bên là cảnh sống xa hoa, thừa mứa của đoàn thuyền sứ:
(1) Xuân Diệu - con ngời Nguyễn Du trong thơ chữ hán – yêu cầu: NXB Văn học – yêu cầu: Hà Nội - 1966
Trang 21Thử thời thuyền trung ám vô đăng
Khí phạm bát thuỷ thù lang tạ
Mô sách dẫn thân hớng toạ ngung
Tái tam cử thủ xng đa tạ Thủ vãn thuyền sách khẩu tác thanh Thả đàn thả ca vô tam đình…”
(Lúc này trong thuyền tối không có đèn
Cơm thừa, canh cặn đổ rất bừa bãi
Ông già sờ soạng đến ngồi vào một góc Hai ba lần giơ tay lên thi lễ tạ ơn Tay nắm dây đàn miệng cất tiếng hát Vừa múa vừa hát không ngừng nghĩ )
(Thái Bình mạ ca giả)
Nguyễn Du muốn phản ánh rõ cái nghịch lý giữa ngời mù hát rong để kiếm
tiền với hình ảnh “cơm thừa canh cặn đổ rất bừa bãi” trong thuyền “Kẻ ăn không hết ngời lần không ra” Ông già ca hát lẫn múa bằng sức lực và tấm
lòng của mình để mong ngời xem vừa ý, bố thí cho chút tiền để kiếm cơmqua ngày tháng… Bằng ngòi bút hiện thực chân thành, Nguyễn Du đã miêutả tỉ mĩ và chú ý đến từng cử chỉ, động tác đàn hát của ông già hát rong, hát
đến sùi bọt mép, chứng tỏ tấm lòng của nhà thơ rộng lớn đến nhờng nào
Cũng là một ông quan Chánh sứ cùng đi trên đoàn thuyền sứ nhngNguyễn Du không thể nào cầm lòng đợc trớc những cảnh tợng nh thế Nhàthơ rất xót xa, đau đớn Cái tâm của nhà thơ lúc này luôn hớng về họ, khôngphân biệt giàu sang, nghèo hèn mà luôn canh cánh trong lòng một nổi niềmthơng cảm, mong làm sao cho họ đợc có cơm ăn Nhng càng xót thơng cho
họ bao nhiêu thì Nguyễn Du lại càng căm giận bọn ăn chơi, xa hoa bấynhiêu Mặc dù đó là những quan lại cùng giai cấp với mình, nhng nhà thơvẫn không ngần ngại trực tiếp tố cáo, phê phán sâu cay Nhà thơ càng đauxót hơn khi ông thấy ông già mù hát kiệt sức của mình mà chỉ đợc có mấy
Trang 22Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục”
(Hơn chục ngời xem đều im lặng lắng nghe Chỉ thấy gió trên sông vi vu và trăng trên sông vằng vặc Miệng sùi bọt, tay rã rời
Ngồi yên, cất đàn, ngỏ lời đã đàn hát xong Dốc hết tâm lực gần một trống canh
Mà chỉ đợc năm sáu đồng tiền … )
(Thái Bình mại ca giả)
Tiếng đàn ca hát của ông già mù cất lên nh một ngời nghệ sỹ tài ba,
làm cho mọi ngời đều im phăng phắc lắng nghe, chỉ thấy “gió vi vu” và
“trăng vằng vặc” Ngời ăn mày đã dốc hết tâm lực của mình để cất lên lời ca tiếng hát đến mức “miệng sùi bọt, tay rã rời”, thế mà ngời xem chỉ cho đợc
năm sáu đồng tiền bạc Những con ngời ấy chỉ coi đó nh là một trò mua vui,cơm canh ăn thì thừa mứa mà chỉ cho đợc mấy đồng bạc đối với ngời mùloà, khốn khổ Nguyễn Du nhìn thấy mà rất xót xa, đau đớn và ông căm giận cáixã hội tàn nhẫn ấy:
Ngã sạ kiến chi, bi thả tân
“
Phàm nhân nguyên tử bất nguyện bần”
(Ta chợt thấy vậy vừa buồn đau vừa chau xót
Phàm ngời ta thà muốn chết, không ai muốn nghèo).
(Thái Bình mại ca giả)
Trông thấy cảnh ấy thật buồn, thật đau đớn lòng“ ” Và Nguyễn Du chạnh
nghĩ rằng “ngời ta thà muốn chết, chứ không ai muốn nghèo” Nhà thơ đã
lấy cái chết đặt lên trên cái nghèo Chứng tỏ tấm lòng của Nguyễn Du đã đạt
đến cao độ về sự xót thơng
Nhà thơ vẫn thờng nghe ngời dân nơi đất Trung Nguyên này ai cũng
ấm no Vậy mà cảnh trớc mắt lại khiến ông chạnh lòng:
Chỉ đạo Trung Hoa tẫn ôn bảo
“
Trung Hoa diệc hữu nh tha nhân!
Quân bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ
Nhất thuyền nhất thuyền danh nhục mễ
Hành nhân lão thực tiện khí d
Tàn hào lãnh phạm trầm giang để”
(Cứ tởng đất Trung Nguyên mọi ngời đều no ấm
Trang 23Ngờ đâu Trung Nguyên cũng có ngời khổ thế này
Anh chẳng thấy lệ cung đốn mỗi ngày cho thuyền đi sứ
Thuyền này thuyền nọ đầy ắp gạo thịt
Ngời trong sứ ăn no còn thừa thì vứt
Cơm nguội thức ăn thừa đỗ xuống đáy sông … )
(Thái Bình mại ca giả)
Vẫn là một cảnh tợng ông già mù loà hát rong để xin tiền và một bên
là cuộc sống xa hoa, phè phởn của bọn quan lại, quý tộc Hiện thực này luôn
ám ảnh trong tâm trí Nguyễn Du Ông già mù đàn hát rã rời chân tay, miệngsùi bọt mà chỉ đợc có dăm đồng tiền, đến khi bớc ra khỏi thuyền còn lạy tạcảm ơn Hình ảnh con ngời khốn khổ nghèo đói ấy hoàn toàn đối lập vớihình ảnh của những chiếc thuyền đầy ắp gạo thịt, ăn uống thừa thải.Hai hình
ảnh đi song song cạnh nhau cùng làm nổi bật sự ngang trái bất công của xãhội phong kiến Nguyễn Du đã phác hoạ những hình ảnh ấy rất chân thực,
tinh tế mà sâu sắc Giáo s Nguyễn Huệ Chi cũng đã viết: “ngòi bút chân tình
và nồng thắm của nhà thơ còn khơi sâu đợc vào các mặt mâu thuẫn trong
đời sống và biết làm cho những mâu thuẫn ấy hiện ra nhức nhối Cái cảnh ợng ông già mù đàn hát … Khi nhà thơ nhẹ nhàng đặt bên cạnh một cảnh sống khác hẳn cảnh sống xa hoa thừa thãi của đoàn thuyền sứ – cảnh sống xa hoa thừa thãi của đoàn thuyền sứ… Bấy … Bấy nhiêu chi tiết tơng phản đã chứa đựng một dấu hỏi đau đớn, thâm trầm, nói lên rằng Nguyễn Du không những mô tả ngời nghệ sỹ hát rong mù với một tình thơng nồng nàn mà còn với cả một dụng ý tố cáo tinh tế mà vô cùng sâu sắc” (1)
t-Mỗi con ngời là một số phận, họ đều có chung cái đói khổ, nghèo khó.Không chỉ là hình ảnh của ông già mù đi hát rong mà còn là hình ảnh đángthơng của ngời mẹ dắt đàn con nhỏ bỏ quê hơng đói khổ đi tha phơng cầu
thực trong bài “Sở kiến hành”:
Tiểu giả tại hoài trung“
Đại giả trì trúc khuông Khuông trung hà sở thịnh?