1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm khang khay xiêng khoảng cộng hòa dân chủ nhân dân lào trong d

59 398 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SUTCHAY VOLAVONG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KHANG KHAY- XIÊNG KHOẢNG CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG PHẦN CƠ HỌC LUẬN VĂN THẠC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

SUTCHAY VOLAVONG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KHANG KHAY- XIÊNG KHOẢNG CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ ĐẠI

CƯƠNG PHẦN CƠ HỌC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

SUTCHAY VOLAVONG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG SƯ PHẠM KHANG KHAY- XIÊNG KHOẢNG CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ ĐẠI

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xu thế xây dựng một xã hội học tập, một nền giáo dục suốt đời mà loài người tiến bộ đang hướng tới, yếu tố quan trọng hàng đầu để có thể thực hiện một xã hội, một nền giáo dục như thế là người dạy phải biết “dạy cách học”

và người học phải biết “học cách học”

Sinh viên là những người đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Khác với học sinh phổ thông, bên cạnh hoạt động chủ đạo là học tập, lĩnh hội tri thức của thầy, người sinh viên còn phải có nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trên cơ sở

tư duy độc lập Về bản chất, quá trình học tập của sinh viên ở bậc đại học, cao đẳng là quá trình nhận thức có tính nghiên cứu

Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng bồi dưỡng năng lực tự học,

tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện

kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng Do vậy, dù ở phương thức đào tạo đại học nào, người sinh viên cũng cần phải có năng lực tự học, hay nói cách khác: “tự học là cách học ở bậc đại học” Thực trạng việc dạy-học hiện nay còn nhiều điều bất cập, đặc biệt là phương pháp hướng dẫn sinh viên tự học, tự đánh giá Việc tạo điều kiện cho mỗi cá nhân sinh viên phát huy tính năng động, sáng tạo của mình chưa được chú trọng đúng mức Vì vậy nghiên cứu các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng và rèn luyện năng lực tự học cho sinh viên là một yêu cầu cấp thiết

Sự nghiệp phát triển nước Lào hoàn toàn phụ thuộc vào giáo dục Muốn sinh viên học tốt thì cần có đội ngũ giáo viên dạy tốt Trường cao đẳng sư phạm đào tạo đồi ngũ giáo viên cần phải chăm lo dạy cho sinh viên học tốt các môn học, trong đó có môn vật lí đại cương Mục tiêu của trường cao đẳng sư phạm Khang khay là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ bậc cao đẳng đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội cho địa phương và cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa –

Trang 4

Sinh viên muốn học tốt thì phải tự học, tự nghiên cứu.Với những lý do

trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên cao

đẳng sư phạm Khang Khay-Xiêng Khoang cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

trong dạy học chương “năng lượng” thuộc vật lý đại cương”

2 Mục đích nghiên cứu

Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm Khang Xiêng Khoang trong quá trình học tập vật lý đại cương, nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo giáo viên ở đất nước lào

Khay-3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Quá trình học môn vật lí đại cương của sinh viên cao đẳng sư phạm

- Hoạt động tự học của sinh viên

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Tự học của sinh viên chương “Năng lượng” phần cơ học vật lý đại cương

4 Giả thuyết khoa học

Nếu bồi dưỡng được năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành toán-lý bảo đảm tính khoa học trong quá trình học chương “Năng lượng” thì có thể nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên dạy môn vật lý

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu về lý thuyết tự học

5.2 Điều tra khả năng tự học của sinh viên sư phạm toán- lý cao đẳng tỉnh xiêng khoang

5.3 Xây dựng quy trình, phương pháp tự học cho sinh viên

5.4 Bồi dưỡng năng lực tự học của sinh viên trong dạy học chương “Năng lượng” phần cơ học

5.5 Thực nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Trang 5

Sử dụng các tài liệu liên quan đến đề tài, lý luận dạy học vật lý, dạy học phát triển và các phương pháp dạy học ở đại học và cao đẳng, giáo trình cơ học của sinh viên cao đẳng Khangkhay, để xây dựng cơ sở lý luận.

6.2 Phương pháp điều tra, thực nghiệm trong giáo dục

Điều tra thực trạng tự học của sinh viên, việc giảng dạy vật lý ở các lớp về chương trình, nội dung, phương pháp dạy học vật lý đại cương

Thực nghiệm sư phạm để đánh giá giả thuyết khoa học đã đề xuất

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm

7 Đóng góp của đề tài

- Cơ sở lý luận về việc bồi dưỡng năng lực tự học của sinh viên cao đẳng

sư phạm toán-lý

- Thiết kế được một số tiến trình dạy học và tổ chức dạy học chương

“Năng lượng” theo định hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên

8 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm 3 phần:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Dạy học chương “Năng lượng” theo định hướng bồi dưỡng năng lực tự học của sinh viên

Chương 3: Thực nghiệm Sư phạm

- Phần kết luận

- Tài liệu tham khảo

Trang 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tự học

Có nhiều hình thức về tự học nhưng có thể nhận thấy: Tự học là quá trình hoạt động nhận thức độc lập, tự lực, tích cực của người học

1.1.1 Khái niệm

Có nhiều quan niệm về tự học [5], [10], [11]

- Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm, có thầy hay không ta không cần biết Người tự học hoàn toàn tự làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng

- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, kết luận khác

- Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và

có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi

cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh đó thành sở hữu của mình

- Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn

kỹ năng thực hành có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và có sự hướng dẫn trực tiếp của sở giáo dục, đào tạo Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy

- Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn

đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học

Trang 7

- Tổng hợp những quan niệm trên, có thể rút ra những tính chất đặc trưng cơ bản của tự học: Tự mình tổ chức xây dựng, kiểm tra, kiểm soát quá trình học tập với ý thức trách nhiệm, tự quyết định trong việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập Chú ý đến cách học tập, bởi vì kiến thức kỹ năng có thể thay đổi theo tiến bộ khoa học kỹ thuật; tự lựa chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá tự học chuẩn bị cho việc học suốt đời.

Như vậy có thể quan niệm về tự học như sau: Tự học là người học tự

quyết định trong việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập

và các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm.

Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi sinh viên phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc

1.1.2 Vị trí vai trò của tự học

1.1.2.1 Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học

Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trình hoạt động dạy học giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu sinh viên ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho sinh viên tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học Giúp sinh viên không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Bởi vì sinh viên đại học không phải là những học sinh cấp bốn Họ cần có thói quen nghiên

Trang 8

đường tự học Muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải

có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra

1.1.2.2 Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập.

Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực,

sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.Và một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới có được sự

tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập

1.1.2.3 Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học

tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao

Trang 9

Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học.

1.2 Quy trình tự học [11]

Từ quan niệm về tự học, có thể hiểu quá trình tự học là quá trình xuất phát

từ sự ham muốn, khát khao nhận thức, người học ấp ủ trong mình những dự định, dựa vào những phương tiện nhận thức để tích lũy kinh nghiệm, tri thức và hành động để đạt kết quả nhận thức, có thể hiểu như sau:

Quy trình tự học của sinh viên đòi hỏi có 4 giai đoạn sau: Lập kế hoạch tự học, thực hiện kế hoạch, tự kiểm tra kế hoạch, tự điều chỉnh kế hoạch Cụ thể nội dung các giai đoạn có thể hiểu như sau:

- Sinh viên xây dựng kế hoạch học tập: sinh viên là người chủ động trong lựa chọn cách học, thể hiện ở chỗ ngay từ khi bắt đầu học đã tiềm ẩn nhu cầu tất yếu phải học và trong suốt quá trình học tập, đảm bảo tự học thường xuyên, trách nhiệm Sinh viên phải có động cơ học tập, hiểu được nhiệm vụ học tập Để học tập có hiệu quả, sinh viên phải hoạch định tiến trình học tập, phải chọn đúng nội dung trọng tâm, sắp xếp thời gian hợp lý, dự định cách học có hiệu quả, lựa chọn tài liệu và các phương tiện thiết bị cho việc học

- Sinh viên thực hiện kế hoạch học tập: Đây là giai đoạn hoạt động thực

sự của sinh viên, quyết định sự thành công của việc học Giai đoạn này bao gồm các công việc: làm việc với sách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyện tập, xemina, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề…Ở giai đoạn này, sinh viên phải vận dụng những nhóm kỹ năng học tập để có thể có được, để thực hiện tốt kế hoạch học tập

+ Kỹ năng về tri thức: ghi chép bài học, tóm tắt (hệ thống, tự liên hệ thông tin mới với thông tin đã học), xây dựng sơ đồ phân loại, phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, tương tự, quy nạp- diễn dịch và

Trang 10

+ Những kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã hội, hợp tác trong nhóm và lớp, đặt câu hỏi, tự trao đổi với bản thân mình, tự đánh giá, tập trung,

kỹ năng lựa chọn, tự tin…

+ Kỹ năng chuyển đổi tri thức: đó là các kỹ năng hoạch định, chú ý có định hướng, chú ý có chọn lọc, tự quản lý, tự đánh giá, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, kỹ năng tự vận dụng cách học thích hợp

- Tự kiểm tra: Trong tự học sinh viên phải tự chủ động kiểm tra việc thực hiện kế hoạch học tập Tự kiểm tra, đánh giá giúp sinh viên tự ý thức về khả năng, củng cố vững chắc động cơ học tạp cá nhân, tạo thêm hứng thú Việc

tự kiểm tra, đánh giá của sinh viên cần có sự hỗ trợ của nhóm học, của thầy, của phương tiện thiết bị

- Tự hoạt động điểu chỉnh: là hoạt động rất quan trọng của tự học, sinh viên phải suy nghĩ lại, phải tự sửa sai, phải biết bổ sung thêm cách học, bổ sung thêm kiến thức cần thiết, tìm kiếm thêm tài liệu, phải biết hệ thống hóa Sinh viên phải biết rút kinh nghiệm về cách học, về cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, cách đánh giá, có thể lật ngược vấn đề để điều chỉnh

- Có thể biểu diễn quy trình tự học theo sơ đồ sau:

Các giai đoạn nêu trên trong chu trình tự học không tách rời nhau mà đan xen nhau, liên hệ với nhau một cách biện chứng Quá trình tự học của mỗi người

là một quá trình phủ định biện chứng liên tục, giải quyết các mâu thuẫn tạo nên quá trình biến đổi bên trong người học, là quá trình tích lũy tri thức để người học đi đến một trình độ cao hơn

Trang 11

mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra đánh giá, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát quá trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm

- Tự học qua phương tiện truyền thông: người học không tiếp xúc trực tiếp với thầy mà chủ yếu nghe giáo viên giảng giải qua phương tiện truyền thông

- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu hướng dẫn: người học trực tiếp làm việc với tài liệu hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu tìm kiếm, bổ sung kiến thức

- Tự học trong một giai đoạn hay một khâu của quá trình học tập: học bài và làm bài ở nhà theo nhiệm vụ học tập là việc thường xuyên của bất kỳ người học nào

- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của giáo viên, biến quá trình tự học thành quá trình tự đào tạo hay nói cách khác là quá trình dạy - Tự học

Trong luận văn chủ yếu đề cập đến hình thức tự học này, đưa ra một số biện pháp chủ yếu nhằm phát triển năng lực tự học cho sinh viên hệ cao đẳng

1.4 Các phương pháp tự học

Để có thể tự học tốt, sinh viên phải biết những phương pháp sau:

- Phương pháp đọc tài liệu: đọc nhanh, lướt qua nội dung để tìm những vấn đề mà mình cần, đọc đi đọc lại vấn đề đó để tìm ý chính của nó

+ Ghi chép theo kiểu luận đề: là hình thức ngắn gọn trình bày lại vấn đề, một luận điểm của một phần, một chương,…của tài liệu theo ngôn ngữ của

Trang 12

trình bày cái gì? Ghi lại ngắn gọn nội dung không làm sai lệch ý kiến, tư tưởng của tác giả.

+ Ghi chép tự do: là cách ghi chép cảm xúc, suy nghĩ về một vấn đề trong tài liệu theo ngôn ngữ của mình; trong đó có thể có cách ghi theo kiểu trích dẫn, Ghi chép theo kiểu luận đề

- Phương pháp nghe và ghi chép: yêu cầu sinh viên tập trung tư tưởng theo dõi bài giảng kết hợp ghi chép Ghi những điều giáo viên ghi ở bảng, tự ghi những điều giáo viên thông báo giảng giải mà bản thân chưa biết, cần thiết cho mình thì phải ghi lại vào vở

- Phương pháp sử dụng từ điển, từ điển bách khoa, sách tra cứu và mạng internet

Mỗi khi gặp một từ, một khái niệm, một đại lượng vật lý mà không hiểu

rõ, không biết thì phải sử dụng từ điển, sách tra cứu…

Sinh viên phải biết cách sử dụng để tìm kiếm thông tin một cách chính xác và nhanh nhất

- Phương pháp ghi nhớ thông tin: mỗi khi có thời gian rỗi người học phải chủ động đọc lại, diễn đạt lại (bằng ngôn ngữ nói hoặc viết) Ôn tập lại nhiều lần

để có thể nhớ lâu và chính xác

Nếu sinh viên biết cách đọc, cách ghi chép, cách tìm kiếm thông tin, cách ghi nhớ thông tin đó chính là những phương pháp cơ bản của hoạt động tự học

Nắm vững và thực hiện tốt các phương pháp tự học sẽ hình thành và phát triển các kỹ năng quan trọng như: kỹ năng thu thập, tìm kiếm thông tin, kỹ năng

xử lý thông tin giải quyết vấn đề, kỹ năng vận dụng kiến thức

1.5 Năng lực tự học

Khái niệm năng lực [13, trang 11], trọng tâm lý học có nhiều định nghĩa

về năng lực Dựa vào các định nghĩa về năng lực của P.A.Rudich, A.G.Coovaliop, N.X.Leeytex, Phạm Minh Hạc…chúng ta có thể hiểu: năng lực

là những đặc điểm tâm lý của mỗi con người, tạo ra điều kiện để có tốc độ, bề sâu, kết quả và chất lượng, có tính độc lập, sáng tạo trong một hoạt động nào đó

Trang 13

Giữa mỗi người có sự khác nhau về năng lực, vì thế mà kết quả học tập, làm việc có các mức độ khác nhau.

Năng lực tạo điều kiện trong việc tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo của người học

- Năng lực tự học: Dựa vào bản chất của khái niệm năng lực thì năng lực

tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự đạt chất lượng cao

- Năng lực tự học của sinh viên sư phạm vật lý là năng lực tự học thực hiện hoạt động học tập các môn học theo chương trình đào tạo

1.6 Các nhiệm vụ học tập của sinh viên cao đẳng sư phạm ngành vật lý

Lý luận dạy học đại học đã chỉ rõ ba nhiệm vụ chủ yếu trong quá trình dạy học ở đại học và cao đẳng [14, trang 10-11] Dựa vào những nhiệm vụ đó, chúng tôi xác định các nhiệm vụ chính của sinh viên cao đẳng sư phạm vật lý, gồm các nhiệm vụ sau:

- Nhiệm vụ 1: Tích cực tự lực trang bị cho mình hệ thống tri thức khoa học, cơ bản, hiện đại về vật lý học và khoa học dạy học vật lý, có các kỹ năng,

kỹ xảo tương ứng về các khoa học đó; Hiểu sâu sắc và biết vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, các phương pháp tự học liên quan đến nghề nghiệp giáo viên dạy học vật lý ở trường phổ thông

- Nhiệm vụ 2: thường xuyên tự bồi dưỡng năng lực hoạt động trí tuệ

- Nhiệm vụ 3: trong quá trình học tập biết tự bồi dưỡng cách nhìn nhận thế giới theo quan điểm khoa học, rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp của người giáo viên, có ý thức thực hiện nghĩa vụ công dân, có bản lĩnh yêu quý và có trách nhiệm xây dựng đất nước Lào hùng mạnh

Để thực hiện được ba nhiệm vụ trên, sinh viên cần đến những kỹ năng tự học

- Kỹ năng tìm kiếm, khai thác các nguồn thông tin

- Kỹ năng xử lý, đánh giá thông tin

- Kỹ năng áp dụng, biến đổi, phát triển thông tin mới

Trang 14

- Kỹ năng giao tiếp học tập qua các hình thức tương tác: sinh viên-giáo viên, sinh viên-sinh viên, sinh viên-học sinh phổ thông, sinh viên-các đối tượng khác trong xã hội.

- Kỹ năng thực hiện kế hoạch học tập

- Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá

1.7 Một số nội dung năng lực tự học cần được bồi dưỡng cho sinh viên ngành lý cao đẳng sư phạm

- Năng lực nhận biết, tìm tòi phát hiện vấn đề Năng lực này đòi hỏi sinh viên phải quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp, suy luận, khái quát hóa để tìm

ra quy luật – định luật vật lý

- Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực này đòi hỏi sinh viên phải biết vận dụng con đường nhận thức vật lý, [9]:

Vấn đề  giả thuyết  hệ quả logic  kiểm tra bằng thực nghiệm

Trong hoạt động giải quyết vấn đề sinh viên phải dựa vào những kiến thức, kinh nghiệm đã biết để đề xuất giả thuyết (mô hình giả định)

Từ giả thuyết theo suy luận logic để suy ra các hệ quả Sau đó bằng thực nghiệm kiểm tra hệ quả Nếu kết quả phù hợp thì giả thuyết là tri thức mới, nếu không phù hợp thì phải điều chỉnh lại giả thuyết hoặc đưa ra giả thuyết mới

- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Sau khi sinh viên nắm vững các khái niệm, các định luật, các nguyên lý, các thuyết vật lý và phương pháp nhận thức vật lý yêu cầu phải có năng lực vận dụng kiến thức vật lý đó vào giải quyết các bài toán vật lý: giải thích được các hiện tượng vật lý, giải được các bài tập có trong giáo trình, giải quyết được những được bài toán thực tiễn của cuộc sống liên quan đến kỹ thuật và công nghệ

1.8 Thực trạng hoạt động học tập vật lý đại cương của sinh viên toán - lý cao đẳng sư phạm Khang khay tỉnh xiêngkhoang

Trường cao đẳng sư phạm Khang khay được thành lập từ năm 1965 ở huyện Viengxay, tỉnh Hủa phăn Hàng năm số lượng sinh viên vào trường tăng dần, hiện nay số sinh viên của trường là 3573 SV Những năm gần đây thí sinh vào trường có điểm chuẩn gần với điểm sàn do bộ giáo dục quy định

Trang 15

Hiện nay trường cao đẳng sư phạm Khangkhay bao gồm 10 văn phòng trong đó có 4 văn phòng có sinh viên phụ thuộc như: văn phòng khoa học tự nhiên, văn phòng khoa học xã hội, văn phòng ngoại ngữ và văn phòng sư phạm tiểu học Trường đào tạo theo 4 hệ thống sau đây:

- Các học sinh tốt nghiệp cấp 2 sang học 3 năm được bằng tốt nghiệp trung cấp đi dạy tiểu học gọi là hệ thống 9+3

- Các học sinh tốt nghiệp cấp 3 sang học một năm được bằng tốt nghiệp trung cấp đi dạy tiểu học và mầm non gọi là hệ thống 12+1

- Các học sinh tốt nghiệp cấp 3 sang học 2 năm được bằng tốt nghiệp cao cấp đi dạy cấp 2 gọi là hệ thống 12+2

- Các học sinh tốt nghiệp cấp 3 sang học 4 năm được bằng tốt nghiệp đại học đi dạy cấp 3 gọi là hệ thống 12+4

Trong đó, môn học cơ bản vật lý đại cương giảng dạy cho sinh viên các ngành khoa học tự nhiên những kiến thức cơ bản về cơ học, nhiệt – vật lý phân

tử, điện học và quang học Chương trình vật lý đại cương được giảng dạy trong năm thứ nhất Giáo trình được sử dụng dạy và học trong nhà trường: vật lý 1 (dùng cho sinh viên các ngành sư phạm) – Khamphoun TOUPHAYTHOUN (Chủ biên)

Mỗi lớp học vật lý trung bình có 30 SV

Qua điều tra về việc tự học tôi nhận được kết quả:

- Số sinh viên có khả năng tự học chiếm khoảng 15%

- Số sinh viên chưa có khả năng tự học chiếm khoảng 85%

- Đối với giáo viên quan tâm đến việc tự học của sinh viên khoảng 50%Phương pháp dạy học của giáo viên chưa thực sự phù hợp với yêu cầu chung hiện nay Cách dạy học cũ vẫn còn tồn tại, trong khi giáo viên chưa làm chủ hoàn toàn phương pháp dạy học mới

Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học vật lý còn hạn chế, phòng thí nghiệm nhỏ, dụng cụ thí nghiệm và phòng thực hành thí nghiệm chưa tách riêng ra

Trang 16

Sinh viên chưa thật sự quan tâm đến môn vật lý, trong suy nghĩ của các

em còn xem nhẹ việc học môn vật lý, cốt sao chỉ đủ điểm là được Điều này thể hiện qua tỉ lệ phần trăm (%) điểm số trong các năm học 2010-2011, 2011-2012

nó thành phương tiện tìm kiếm nguồn tri thức Đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn vật lý

Kết luận chương I

Trang 17

Tôi đã nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học trong quá trình dạy học, cho thấy:

Tự học trong quá trình dạy học đã được nghiên cứu và vận dụng từ lâu theo lịch sử phát triển của nhà trường trên thế giới

Tự học đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Đối với sinh viên ở các trường đại học và cao đẳng, tự học là động lực biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Tự học gắn liền với hoạt động tư duy và hoạt động nhận thức độc lập, tự lực của người học

Muốn tự học tốt phải biết các phương pháp tự học (phương pháp đọc, phương pháp ghi chép, cách đặt câu hỏi, cách trả lời câu hỏi, ); phương pháp phát hiện vấn đề và phương pháp giải quyết vấn đề

Quá trình tự học người học phải biết: lập kế hoạch – thực hiện kế hoạch – tự kiểm tra – tự điều chỉnh, các hoạt động này được tiến hành theo một chu trình kín

Để giúp sinh viên tự học tốt người giáo viên phải dạy theo định hướng dạy – tự học

Kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn hoạt động học tập của sinh viên cho thấy mức độ tự học và vận dụng các phương pháp tự học của sinh viên ở trường cao đẳng Khang khay đang còn ở mức độ thấp

Để năng cao chất lượng đào tạo, chúng tôi đã đề xuất ba nhiệm vụ chính đối với sinh viên cao đẳng sư phạm toán lý, tương ứng với ba nhiệm vụ đó là những kỹ năng không thể thiếu và nội dung chính về bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên trong quá trình học tập vật lý đại cương, làm cơ sở lý luận để triển khai dạy học chương “Năng lượng”

Trang 18

CHƯƠNG II DẠY HỌC CHƯƠNG “NĂNG LƯỢNG” THEO ĐỊNH HƯỚNG BỒI

DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 2.1 Chương trình vật lý cho sinh viên cao đẳng sư phạm ở Lào

Ở trường cao đẳng sư phạm Khangkhay, hàng năm khoa vật lí đào tạo hàng trăm sư phạm vật lí hệ chính quy, đáp ứng nhu cầu cho sự nghiệp giáo dục của đất nước

Song song với việc đào tạo các hệ chính quy, khoa vật lí cũng tham gia trong việc đào tạo các hệ khác nhau ở ngoài trường Trong mười năm trở lại đây, khoa vật lí đã tham gia đào tạo 18 lớp tại chức (1012 SV), 9 lớp từ xa (355 SV),

5 lớp chuyên tu (254 SV) và 2 lớp liên thông (92 SV)

Chương trình dạy học vật lý cho sinh viên cao đẳng sư phạm ở Lào tương đương với chương trình dành cho sinh viên cao đẳng sư phạm ở Việt Nam

2.2 Nội dung cơ bản giáo trình vật lý đại cương chương “Năng lượng” dành cho sinh viên sư phạm cao đẳng toán lý ở CHDCND Lào

Bài 1: Công – công suất

trong đó α là góc giữa véc tơ lực F và véc tơ dịch chuyển MM' =S

Trang 19

- A < 0 khi α là góc tù => Fsinh ra công cản

a Định nghĩa: Giả thiết trong khoảng thời gian Δt, một lực nào đó sinh

công ΔA Theo định nghĩa tỉ số:

t

A P

=

gọi là công suất trung bình của lực đó trong khoảng thời gian Δt

Khi cho Δt → 0, theo định nghĩa tỉ số

t

A

∆ dần về một giới hạn gọi là công suất

tức thời (gọi tắt là công suất) của lực và được ký hiệu là:

dt

dA t

A Lim

Vậy: Công suất bằng tích vô hướng của lực tác dụng với véc tơ vận tốc

của chuyển dời.

b Liên hệ giữa công suất, lực, vận tốc

αcos

Fv v F N

P= = ⋅=

trong đó: N là công suất của động cơ tác dụng lực F lên vật;

v: vận tốc chuyển động đều của vật cùng hướng với F

Bài 2: Năng lượng

1 Khái niệm năng lượng

Trang 20

Năng lượng là một đại lượng đặc trưng cho mức độ vận động của vật chất

Một vật ở một trạng thái xác định thì có một năng lượng xác định Khi hệ chuyển từ trạng thái 1 (có năng lượng là W1) sang trạng thái 2 (có năng lượng là

W2) quá trình này hệ nhận từ bên ngoài một công A Thực nghiệm chứng tỏ:

W2- W1= A

2 Định luật bảo toàn năng lượng

Năng lượng không tự mất đi mà cũng không tự sinh ra, năng lượng chỉ chuyển từ hệ này sang hệ khác

Hệ quả: “không thể có động cơ vĩnh cửu”

3 Ý nghĩa định luật bảo toàn năng lượng

- Phản ánh một tính chất bất diệt của vật chất đó là sự vận động

- Không thể có một hệ nào sinh công mãi mãi mà không nhận thêm năng lượng từ bên ngoài Nói cách khác không tồn tại động cơ vĩnh cửu

- Có phạm vi áp dụng rộng nhất

4 Quan hệ giữa năng lượng và công

Một hệ cơ học sẽ trao đổi năng lượng với bên ngoài thông qua công:

A E

E2 − 1 =

Vậy công là số đo năng lượng mà hệ trao đổi với bên ngoài

Bài 3: Động năng – thế năng

1 Động năng

a Định nghĩa động năng

Động năng hay năng lượng chuyển động (thường được ký hiệu E đ hay T)

là năng lượng một vật có được nhờ chuyển động định hướng của nó

b Định lí động năng

A W

Wđ2 − đ1 =

“Độ biến thiên động năng của một chất điểm trong một quãng đường nào

đó, có giá trị bằng công của ngoại lực tác dụng lên chất điểm sinh ra trong quãng đường đó”

Trang 21

Trong đó A là tổng công của tất cả các ngoại lực tác dụng lên vật:

A = A1 + A2 + …+ AnNhận xét:

+ Nếu công toàn phần của các ngoại lực A > 0 thì W2 > W1, tức là động năng của vật tăng lên, cũng đồng nghĩa với việc vật chuyển động nhanh lên

+ Nếu công toàn phần của các ngoại lực A < 0 thì W2 < W1, tức là động năng của vật giảm đi, vận tốc của vật cũng giảm

2 Thế năng

a Định nghĩa thế năng

Thế năng của chất điểm tại mọi vị trí được định nghĩa sai khác một hằng

số cộng

Biểu thức thế năng trong trọng trường đều: Wt = mgz + C

Biểu thức thế năng trong điện trường culong ứng với điện tích q0 tại vị trí cách q một đoạn r

C r

q q k

t M E N F d s E

s d

Trang 22

C r GMm

E t = − 1+ r: khoảng cách từ m tới tâm của M; C=0 khi gốc thế năng ở vô cùng

d Thế năng trọng trường

Mọi vật ở vị trí có độ cao so với mặt đất thì đều có khả năng sinh công,

nghĩa là đều mang năng lượng Dạng năng lượng này gọi là thế năng trọng

trường (hay thế năng hấp dẫn).

Thế năng trọng trường của một vật là dạng năng lượng tương tác giữaTrái Đất và vật, nó phụ thuộc vào vị trí tương đối của vật trong trọng trường.

C mgh

E t = + h: độ cao từ m tới mặt đất; C=0 khi gốc thế năng

Bài 4: Định luật bảo toàn cơ năng

1 Cơ năng – Định luật bảo toàn cơ năng

Cơ năng: Cơ năng là tổng động năng và thế năng

const E

E

2 Sơ đồ thế năng

Trang 23

Ta có W t =W t(x,y,z) Trường hợp thế năng chỉ phụ thuộc vào một tọa độ (ví dụ: x): W t =W t( )x , khi đó đồ thị của W theo x gọi là sơ đồ thế năng Sơ đồ t

thế năng của chất điểm trong trường thế có thể giúp ta suy ra một số kết luận định tính về chuyển động của chất điểm đó

( )x W const W

mv

+

2 2

2.2 Va chạm mềm: Sau va chạm hai vật dính vào nhau, chuyển động cùng vận tốc Một phần động năng của hệ chuyển thành nội năng

Động năng của hai vật trước va chạm: 0 1 12 2 22

2

12

1

v m v

m

Động năng của chúng sau va chạm: ( ) ( ( ) )

2 1

2 2 2 1 1 2

2 1

22

1

m m

v m v m v

m m K

+

+

=+

Trang 24

Biểu thức trên chứng tỏ rằng động năng của các quả cầu luôn luôn bị tiêu hao thành nhiệt và công làm biến dạng các vật sau va chạm.

2.3 Va chạm chính diện, trực diện hay xuyên tâm

2 2 1

2 1 '

1

2

m m

v m v m m v

1 1 2 1 2 '

1

2

m m

v m v

m m v

- Động năng của hệ được bảo toàn

- Cơ năng, động năng của hệ được bảo toàn

- Nếu là va chạm không đàn hồi thì chỉ bảo toàn động lượng :

truocvc sauvc P

4 Khảo sát va chạm đàn hồi

Xét va chạm của hai quả cầu nhỏ trên trục Ox

Áp dụng định luật bảo toàn động lượng và động năng:

( )1

' 2 2

' 1 1 2

2 1

1v m v m v m v

( )2'

2 2

2 1 1

2 2 2

' 1 1 2 2 1

Giải (2) và (3) ta được: ( )

2 1

1 2 1 2 2 '

1

2

m m

v m m v m v

+

−+

=

2 1

2 1 2 1 1 '

2

2

m m

v m m v m v

+

−+

2

v

Trang 25

' 1

v v

' 2 2

1

v v

m m

Xét m1 chuyển động, va chạm mềm với m2 đang đứng yên

Áp dụng định luật bảo toàn động lượng:

1 1

'

m m

v m v

Động năng lúc sau của hệ: 0

2 1

1 E m m

m m

m

⋅ +

=

Bài 6: Chuyển động trong trường hấp dẫn

1 Chuyển động của vệ tinh quanh trái đất

2 Chuyển động cũa mặt trăng quay quanh trái đất – hiện tượng thủy triều

2.3 Hướng dẫn sinh viên học chương “Năng lượng”

A Mục đích, yêu cầu của chương “Năng lượng”

1 Phân biệt các khái niệm công và công suất Thiết lập các biểu thức đó

2 Hiểu được cơ năng của vật bằng tổng động năng và thế năng

3 Nắm được định lý động năng

4 Chứng minh và vận dụng được định luật bảo toàn cơ năng trong trọng trường

5 Vận dụng được hai định luật: định luật bảo toàn động lượng và định luật bảo toàn cơ năng để giải các bài toán về va chạm

Trang 26

Giáo viên yêu cầu sinh viên trong quá trình học chương năng lượng, nghiên cứu nội dung theo các bài, tự lực trả lời 7 câu hỏi và giải quyết 25 bài tập (xem phụ lục 3), sinh viên tự lực hoặc làm việc theo nhóm ở nhà.

C Giao đề tài xêmina và hướng dẫn công tác chuẩn bị

2.4 Thiết kế một số tiến trình dạy học bồi dưỡng năng lực tự học chương

- Phát biểu được định nghĩa và ý nghĩa công suất

- Hiểu rõ công là đại lượng vô hướng, giá trị của nó có thể dương hoặc

âm ứng với công phát động hoặc công cản

- Nắm được đơn vị công, đơn vị năng lượng, đơn vị công suất

2 Về kỹ năng

- Biết vận đụng công thức tính công trong các trường hợp cụ thể: lực tác dụng khác phương độ dời, vật chịu nhiều lực tác dụng

- Giải thích được ứng dụng của hộp số trên ôtô, xa máy

II Xây dựng các tình huống dạy học và tiến trình dạy học đối với các tình huống đó

1 Công

Giáo viên: Lực tác dụng lên vật làm cho vật chuyển động (hình 1) Lập

công thức tính công trong trường hợp lực tác vật hợp với phương chuyển động một góc α = 0 0?

Trang 27

Hình 1Dưới tác dụng của lực F, vật chuyển dời một đoạn s theo hướng của lực Công do lực sinh ra là A=Fs.

Giáo viên: - Những lực nào đóng vai trò là lực phát động?

- Những lực nào đóng vai trò là lực cản?

Sinh viên: - Lực F (hình 1) đóng vai trò là lực phát động

- Lực Fms (hình 1) đóng vai trò là lực cản

Giáo viên: Một vật dịch chuyển từ A đến B, vật chịu tác dụng của các

lực (hình 2) Hỏi những lực nào không thực hiện công? Công của lực nào là công phát động? Công của lực nào là công cản?

Hình 2Giáo viên có thể gợi ý: Lực làm cho vật chuyển động thì công của lực

đó là công phát động, ngược lại lực nào có xu hướng kéo vật lại thì công của lực

đó là công cản

Sinh viên: Trọng lực P phản lực N không thực hiện công vì các lực này vuông góc với đường đi Công của lực F là công phát động, công của lực Fms là công của lực cản

Giáo viên: Treo một vật vào một lò xo, làm lò xo giãn thêm một đoạn x

so với chiều dài tự nhiên l0 Trong trường hợp này, lực đàn hồi có thực hiện công không? Công này là công phát động hay công cản?

Sinh viên: Lực đàn hồi có thực hiện công Công của lực đàn hồi là công

Trang 28

Sinh viên: Giả thuyết có một lực F không đổi, điểm đặt của nó chuyển dời một đoạn thẳng MM' =S (hình 3).

Hình 3Theo định nghĩa, công A của lực F sinh ra trong chuyển dời MM' là đại lượng có trị số cho bởi: A= F.MM.' cos(F,MM )'

Giáo viên: A= Fs⋅cosα = F⋅s là công thức tính công của lực F

không đổi, ta có thể suy ra A có thể dương có thể âm, có thể bằng không ứng với góc α như thế nào? Lấy ví dụ cụ thể trong thực tế để làm rõ nội dung của định nghĩa về công Cho biết đơn vị của công?

Sinh viên:

- A>0 khi α nhọn, ta nói lực F sinh công phát động.

VD: Công của cần cẩu kéo kiện hàng, công của một người chạy xe đạp…

- A<0 khi α tù, ta nói lực F sinh công cản.

VD: công của lực đàn hồi, công của lực ma sát…

- Công có đơn vị là J (jun)

Giáo viên: Độ lớn của công có phụ thuộc vào việc chọn hệ quy chiếu hay

Trang 29

Sinh viên: Đoạn đường mà điểm đặt của lực đi được khác nhau trong các

hệ quy chiếu khác nhau Vì vậy độ lớn của công phụ thuộc vào việc chọn hệ quy chiếu

Giáo viên: Một vật rơi từ độ cao h xuống dưới Hỏi công của trọng lực

trong những khoảng thời gian bằng nhau có giống nhau không? Tại sao?

Sinh viên: SV thảo luận với nhau và đưa ra kết quả

Không bằng nhau Vì quãng đường vật đi được trong những khoảng thời gian bằng nhau là khác nhau

Giáo viên: Trong trường hợp tổng quát: F là lực biến đổi, điểm đặt của lực F chuyển dời trên đường cong bất kỳ từ điểm C đến điểm D Hãy đọc giáo trình và thiết lập công thức tính công

Sinh viên: Ta chia đường cong thành nhiều đoạn cong nhỏ, sao cho ứng

với mỗi đoạn cong nhỏ có thể xem như một đoạn thẳng Tính công từng đoạn thẳng nhỏ đó, ta sẽ tìm được công mà vật thực hiện trên quỹ đạo cong đó

Công của lực F trong đoạn chuyển dời

vô cùng nhỏ d scó thể tính được bằng công

Giáo viên: Dựa vào biểu thức (1.4) anh chị có nhận xét gì về giá trị của

A (A phụ thuộc vào điều kiện gi?)

Sinh viên: Công A phụ thuộc vào điểm đầu và điểm cuối của điểm đặt

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Khánh Bằng. Tổ chức quá trình dạy học đại học – viện nghiên cứu đại học và GDCN – 1993 Khác
3. Đỗ Thị Châu. Đánh giá của sinh viên về việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên và kỹ năng tổ chức hoạt động tự học của bản thân. GDĐH chất lượng và đánh giá. NXB ĐHQG Hà Nội, 2005 Khác
4. Lê Trọng Dương. Hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên ngành toán học CĐSP – Luận án tiến sỹ giáo dục, Vinh 2006 Khác
5. Nguyễn Kỳ. Phương pháp giáo dục tích cực lấy sinh viên làm trung tâm, NXB.ĐHSP Hà Nội, 1995 Khác
6. Khamphoun Touphaythoun (Chủ biên). Giáo trình vật lý 1 (dùng cho sinh viên các trường sư phạm ). Nhà xuất bản giáo dục CHDCND Lào Khác
7. Nguyễn Hiển Lê. Tự học một nhu cầu của thời đại, XBB VHTT, 2003 8. Phan Trọng Ngọ. Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường.NXB.ĐHSP Hà Nội, 2005 Khác
9. Phạm Thị Phú. Chuyển hóa phương pháp nghiên cứu vật lý thành phương pháp dạy học vật lý. Đại học Vinh,2010 Khác
10. Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên). Học và dạy cách học – NXB.ĐHSP Hà Nội, 2002 Khác
11. Nguyễn Cảnh Toàn – Nguyễn Kỳ. Quá trình dạy tự học - NXB.ĐHSP Hà Nội,1997 Khác
12. Phạm Hữu Tòng. Dạy học vật vật lý ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học. NXB Đại học sư phạm Hà Nội 2004 Khác
13. Nguyễn Đình Thước. Phát triển tư duy của học sinh trong dạy học vật lý (tài liệu dùng cho sinh viên cao học), đại học Vinh 2007 Khác
14. Nguyễn Đình thước. Lý luận dạy học đại học. Đại học Vinh, 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 Dưới tác dụng của lực   F  , vật chuyển dời một đoạn s theo hướng của  lực. Công do lực sinh ra là  A = Fs . - Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm khang khay   xiêng khoảng cộng hòa dân chủ nhân dân lào trong d
Hình 1 Dưới tác dụng của lực F  , vật chuyển dời một đoạn s theo hướng của lực. Công do lực sinh ra là A = Fs (Trang 27)
Hình 8        Giáo viên: Anh chị hãy đọc bài toán và vẽ các lực tác dụng lên thùng?             Sinh viên: - Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm khang khay   xiêng khoảng cộng hòa dân chủ nhân dân lào trong d
Hình 8 Giáo viên: Anh chị hãy đọc bài toán và vẽ các lực tác dụng lên thùng? Sinh viên: (Trang 37)
Bảng 1: Bảng thống kê số điểm các bài kiểm tra - Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm khang khay   xiêng khoảng cộng hòa dân chủ nhân dân lào trong d
Bảng 1 Bảng thống kê số điểm các bài kiểm tra (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w