1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gia miêu tống sơn, nơi phát tích của dòng họ nguyễn phúc

81 585 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 289 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ họ Nguyễn ở Đàng ngoài trở thành họ Nguyễn Phúc ở 30 Đàng trong Chơng 2: Những đóng góp của nhân dân Gia miêu - Tống Sơn 33 trong công cuộc phát triển và bảo vệ đất Đàng trong 2.1.

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

PGS Hoàng Văn LâN

Vinh- 2001.

Trang 2

Vinh, ngµy th¸ng n¨m 2001.

T¸c gi¶

Lª ThÞ HuÕ

Trang 3

Mục lục

Trang

Mở đầu 1 Chơng 1: Huyện Tống Sơn, Làng Gia miêu trớc năm 1945 6

và dòng họ Nguyễn trớc thế kỷ XVI

1.1 Đặc điểm địa lý và Quá trình hình thành vùng đất

1.1.1.Huyện Tống Sơn

1.1.2.Làng Gia miêu 9 1.2.Đặc điểm lịch sử của vùng đất 11 1.2.1 Là vùng đất văn hoá cổ

1.2.2.Vùng đất in dấu khởi nghĩa Hai bà Trng ( TK I ) 12

và cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc ( TK X VI )

1.2.3.Vùng đất trong khởi nghĩa Tây Sơn 15 1.3.Dòng họ Nguyễn ở Gia miêu 19 1.3.1 Nguồn gốc dòng họ

1.3.2 Sự phát triển và đóng góp của dòng họ Nguyễn qua các 21 triều đại quân chủ Việt Nam từ TK X đến TK XVI

1.3.3 Từ họ Nguyễn ở Đàng ngoài trở thành họ Nguyễn Phúc ở 30 Đàng trong

Chơng 2: Những đóng góp của nhân dân Gia miêu - Tống Sơn 33

trong công cuộc phát triển và bảo vệ đất Đàng trong

2.1 Sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá

2.1.1 Tình hình nớc Đại Việt ở nửa đầu TK XVI

2.1.2 Từ Gia miêu - Tống Sơn ( Thanh Hoá ) đến phủ dinh 35 ái Tử - Vũ Xơng ( Quảng Trị )

2.1.3 Từ nhiệm vụ đối với vua Lê đến ý định cát cứ 37 2.1.4 Vai trò của những ngời thân đối với Nguyễn Hoàng 42 2.2 Đóng góp của các dòng họ ở Gia miêu - Tống Sơn trong việc 44

Trang 4

phát triển và bảo vệ đất Đàng trong

2.2.1 Dòng họ Nguyễn Hữu

2.2.2 Dòng họ Nguyễn Cửu 53

2.2.3 Dòng họ Tống 57

2.2.4 Các dòng họ khác 60

Chơng 3: Gia miêu - Tống Sơn trong thời kỳ nhà Nguyễn 63

trị vì đất nớc 3.1 Gia miêu - Tống Sơn trong tâm thức nhà Nguyễn 3.2 Những chính sách u đãi mà nhà Nguyễn dành cho Gia miêu - 65

Tống Sơn 3.3 Các công trình kiến trúc mang dấu ấn vơng triều Nguyễn 68

ở quê hơng Gia miêu - Tống Sơn 3.3.1 Lăng miếu Triệu Tờng 3.3.2 Đình Gia miêu 75

3.3.3 Các di tích khác 78

Kết luận 81

Tài liệu tham khảo 84

Phụ lục

Trang 5

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Trong cuốn “ Lịch triều hiến chơng loại chí ” tác giả Phan Huy Chú đã từng viết “ Thanh Hoá mạch núi cao chót vót, có sông lớn bao quanh, biển lớn ở phía đông, phía tây giáp với Ai Lao, phía bắc giáp Sơn Nam và phía nam giáp đạo Nghệ An Đây là nơi non xinh nớc đẹp có thế nh cái cổ áo vẻ non sông tơi tốt chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vơng tớng, khí tinh hoa tụ họp lại nẩy nở ra nhiều văn nho ”

Quả thật vậy, mảnh đất xứ Thanh là nơi phên dậu nối liền miền Bắc với miền Trung của đất nớc.Thanh Hoá không chỉ là cái nôi của văn hoá núi Đọ, của trống đồng Đông Sơn Mà còn là nơi sinh ra nhiều bậc danh nhân, dũng tớng cho đất nớc.Trong thời đại quân chủ Thanh Hoá là nơi phát tích của nhiều dòng họ sinh ra các bậc đế vơng Vì vậy cứ mỗi thời vua chúa, ở Thanh Hoá lại có những Quý hơng riêng Ví dụ:

Thời Lê Hoàn, đất Quý hơng là vùng Kẻ Sập ( Xuân Lập - Thọ Xuân )

Thời Lê Lợi, đất Quý hơng là vùng Lam Sơn ( cũng thuộc Thọ Xuân )

Thời chúa Trịnh, đất Quý hơng là vùng Sóc Sơn ( Vĩnh Hùng - Vĩnh Lộc )

Thời Nguyễn, đất Quý hơng lại là vùng Gia miêu ( Hà Long - Hà Trung )

Gia miêu trớc kia là vùng đất thuộc tổng Thợng Bạn, huyện Tống Sơn Khi vơng triều Nguyễn đợc thiết lập thì Gia miêu đợc tôn là Quý hơng, Tống Sơn đợc tôn là Quý huyện Vì vậy khi nói tới Gia miêu ngời ta thờng nghĩ ngay đến Tống Sơn hoặc ngợc lại Đây không chỉ là nơi phát tích của dòng họ Nguyễn Phúc, là nơi yên nghỉ của tổ tiên dòng họ ấy

mà còn là nơi đã sinh ra nhiều bậc nhân tài góp sức cho công cuộc khai phá đất Đàng trong của các chúa Nguyễn thành công tốt đẹp, cho nên dới thời Nguyễn nó trở thành một vùng đất đặc biệt quan trọng

Việc nghiên cứu lịch sử triều đại nhà Nguyễn đã diễn ra khá sâu rộng trên nhiều mặt Song vùng đất phát tích của dòng họ Nguyễn Phúc và cũng là của vơng triều nhà Nguyễn lại cha đợc nhiều ngời chú ý đến

Là một ngời đợc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Thanh địa linh nhân kiệt, đồng thời lại đợc học chuyên ngành lịch sử Việt Nam, tôi vô cùng mong muốn đợc hiểu biết hơn nữa về những vùng đất ở Thanh Hoá mà có liên quan trực tiếp đến sự hình thành và phát

Trang 6

triển của các triều đại quân chủ Việt Nam Nghiên cứu vấn đề này không những sẽ nâng

cao tầm hiểu biết lịch sử mà còn góp phần bổ sung thêm nguồn t liệu cho việc nghiên cứu lịch sử địa phơng cũng nh lịch sử vơng triều Nguyễn.

Xuất phát từ những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên đây, tôi đã chọn “ Gia miêu - Tống Sơn, nơi phát tích của dòng họ Nguyễn Phúc ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ khoa học lịch sử của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Gia miêu - Tống Sơn là nơi khởi nguồn của vơng triều Nguyễn và cũng là nơi sinh ra nhiều bậc nhân tài kiệt xuất cho đất nớc Nhng đây vẫn còn là một đề tài mới lạ ít đợc mọi ngời chú ý tới Điểm lại hoạt động nghiên cứu về vấn đề này, cho tới nay mới chỉ có một số bài viết của các nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá địa phơng, trong đó cũng chỉ đề cập đến một số khía cạnh nhất định Đó là các bài:

- “ Mấy nét về vùng đất tổ triều Nguyễn ” - tác giả Minh Hiệu - đăng trên báo Văn

hoá thông tin Thanh Hoá trong các số 249, 251, 253 ra trong tháng 3 và 5 năm 1995 Nội dung mô tả về địa thế của vùng đất Gia miêu và một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn ở Gia miêu

- “ Về dòng họ Nguyễn ở Gia miêu ” - tác giả Phạm Thị ng - đăng trên tạp chí Xứ

Thanh, số tháng 7 năm 1999, viết về những đóng góp của dòng họ Nguyễn ở Gia miêu đối với các triều đại quân chủ Việt Nam

- “ Gia miêu ngoại trang, di tích và thắng cảnh ” - tác giả Phạm Thị ng - đăng trên

Báo Thanh Hoá số 4275 ra ngày 10/ 2/ 2001 Nội dung viết về phong cảnh của Gia miêu và một số di tích lịch sử mang dấu ấn của vơng triều Nguyễn tại đất Gia miêu

Bên cạnh những bài viết trên còn có cuốn sách

“ Hà Long những chặng đờng Lịch sử ” - xuất bản 1993, do ban thờng vụ Đảng uỷ xã Hà Long chỉ đạo biên soạn Nội dung viết về sự hình thành và phát triển của xã Hà Long ( trớc

là tổng Thợng Bạn, huyện Tống Sơn ) qua các giai đoạn lịch sử từ đầu đến năm 1990

Ngoài ra trong một số tác phẩm lịch sử, văn hoá của địa phơng do Ban NC và BS lịch sử Thanh Hoá hay Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thanh Hoá xuất bản cũng có điểm qua về vùng đất phát tích của nhà Nguyễn trên mảnh đất xứ Thanh hoặc về dòng họ Nguyễn và một số di tích có liên quan đến vơng

Trang 7

triều Nguyễn ở vùng đất Gia miêu - Tống Sơn Nhìn chung, tuy đã đề cập đến nhiều khía cạnh song vì là bài viết nên chỉ mang tính chất khái quát và riêng lẻ Vì vậy cần tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống hơn về vùng đất có ý nghĩa lịch sử to lớn này.

3 đối tợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tợng nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu về vùng đất huyện Tống Sơn trớc cách mạng tháng tám năm 1945, trong đó làng Gia miêu là một nội dung chủ yếu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Luận văn nhằm giải quyết các vấn đề sau:

- Khái quát quá trình hình thành, đặc điểm địa lý lịch sử của huyện Tống Sơn và làng

Gia miêu trớc năm 1945

- Nêu rõ vị thế và nguồn gốc của dòng họ Nguyễn ở Gia miêu trớc thế kỷ XVI.

- Những đóng góp của nhân dân Gia miêu - Tống Sơn trong việc phát triển và bảo vệ

đất Đàng trong dới thời các chúa Nguyễn thế kỷ XVII, XVIII

- Gia miêu - Tống Sơn khi đã trở thành Quý hơng, Quý huyện của vơng triều Nguyễn

từ đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX

3.3 Phạm vi nghiên cứu.

- Giới hạn về không gian: Địa bàn huyện Tống Sơn trớc năm 1945, nay là đất huyện

Hà Trung, thị xã Bỉm Sơn và một phần huyện Nga Sơn

- Giới hạn về thời gian: Từ 1945 trở về trớc.

4 các nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.

4.1 Các nguồn t liệu.

- T liệu thành văn:

Các sách địa lý - lịch sử, các bộ sử của các sử gia phong kiến và của Quốc sử quán triều Nguyễn

Các sách địa lý - lịch sử của địa phơng

Văn bia, gia phả, sắc phong, địa bạ, hơng ớc

- T liệu bằng hiện vật:

Trang 8

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp điền dã thực địa để tìm hiểu thực tế và làm phong phú thêm nguồn sử liệu.

5 đóng góp của luận văn.

- Trớc hết, khôi phục lại bức tranh có hệ thống về địa lý - lịch sử của làng Gia miêu

và huyện Tống Sơn trớc năm 1945

- Luận văn khái quát một cách tổng quan về dòng họ Nguyễn từ khi xuất hiện cho tới

khi lên nắm giữ cả một vơng triều tồn tại suốt hơn 100 năm trong lịch sử dân tộc

- Luận văn lần đầu tiên góp phần làm rõ thêm về vị trí,vai trò lịch sử của vùng đất

Gia miêu - Tống Sơn,vùng đất khởi nguồn của vơng triều Nguyễn

- Luận văn góp phần nhỏ bé vào công tác su tầm, bổ sung nguồn t liệu cho việc

nghiên cứu lịch sử địa phơng đồng thời cũng tạo ra sự gợi mở đi sâu nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến vùng đất khởi nguồn của triều đại nhà Nguyễn ở mảnh đất xứ Thanh

6 bố cục của luận văn.

Luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục minh hoạ, nội dung gồm có 3 chơng :

Chơng 1: Huyện Tống Sơn, làng Gia miêu trớc năm 1945 và dòng họ Nguyễn trớc

thế kỷ XVI

Trang 9

Chơng 2: Những đóng góp của nhân dân Gia miêu - Tống Sơn trong việc phát triển

và bảo vệ đất Đàng trong

Chơng 3 : Gia miêu - Tống Sơn trong thời kỳ nhà Nguyễn trị vì đất nớc.

Ch ơng 1

Huyện Tống Sơn, Làng Gia miêu trớc năm 1945 và dòng

Quá trình hình thành và tên gọi

Thời dựng nớc huyện Tống Sơn thuộc bộ Cửu Chân

thuộc huyện D Phát, quận Cửu Chân

Kiến Sơ quận Cửu Chân

1 thôn, 18 trang, 7 trại [87, 3] Thời Lê Trung Hng đổi Tống Giang thành Tống Sơn

của triều Nguyễn [58, 226]

Nam bạn và Đông bạn Huyện lỵ đóng ở Bình Lâm ( Đò Lèn nay) Đến trớc cách mạng

Trang 10

tháng 8 năm 1945 huyện Tống Sơn do phủ Hà Trung kiêm lý bao gồm 7 tổng: Nam bạn,

Đông bạn, Ngọ xá, Phi lai, Thanh xá, Trung bạn,Thợng bạn (Tổng Phi lai trớc thuộc huyện Nga Sơn, tổng Thanh xá, Ngọ xá thuộc huyện Vĩnh Lộc) Sau cách mạng tháng 8/1945, huyện Tống Sơn đổi gọi là huyện Hà Trung và tồn tại cho đến ngày nay

Về núi sông hình thế của vùng đất này sách “ Đại Nam nhất thống chí ” có ghi: “ Núi Triệu Tờng ở cách huyện Tống Sơn 25 dặm về phía tây bắc, trong núi có lăng Triệu T-ờng Mạch núi từ huyện Thạch Thành nh chuỗi ngọc kéo xuống, nổi lên 12 ngọn liền nhau,

dài ở phía tả, ở phía tây có núi Điều Doanh, núi Trạch Lâm, núi Trang Chữ chạy vòng ở phía hữu Nớc khe Rồng xuống Tống Giang lợn vòng ở đằng trớc, xa gọi tên là núi Am, lại gọi là núi Thiên Tôn Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) phong tên hiện nay, đợc thờ theo vào

đàn Nam Giao; năm thứ 17 khắc hình tợng vào Cao Đỉnh, liệt làm danh sơn chép trong điển thờ ’’ [58, 247]

Sở dĩ ở thời nhà Nguyễn, các vị Vua đã rất quan tâm chăm sóc cho ngọn núi này là vì nơi đây còn an nghỉ tổ tiên của dòng họ Nguyễn - Là nơi chôn cất thi hài của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế tức Nguyễn Kim, ngời đã có công đầu trong sự nghiệp khôi phục quốc thống nhà

Lê và cũng là ngời mở đầu cho sự nghiệp Đế vơng của nhà Nguyễn Theo ngời dân địa

ph-ơng thì xa kia núi Thiên Tôn có rất là nhiều cây gỗ Lim mọc lên thành Rừng Trong núi có

Hổ nên không ai dám vào, cũng không một ai biết vị trí của những ngôi mộ tổ tiên nhà Nguyễn nằm ở đâu

án ngữ phía bắc của huyện là dãy Tam Điệp Đây cũng là dãy núi nằm giữa Thanh Hoa ngoại trấn và Thanh Hoa nội trấn Núi có hình dáng nh một bức tờng thành bao bọc và chắn giữ thung lũng phía bên trong ở đây có đèo Ba Dội với ba ngọn đèo nối liền nhau thành một dải, ngọn ở giữa mọc cao, cỏ cây xanh tốt, đứng trên đó có thể trông ra biển lớn Núi chung quanh, đờng đi ở giữa, trông về hai bên nh chậu úp một loạt, chỗ gần hết núi thì hai bên vách núi thẳng đứng, phía dới có một lối đi lại tựa nh cuống họng của một gã khổng lồ Nơi đây vì thế mà đợc Ngọ Phong c sĩ Ngô Thì Sĩ có vịnh đôi câu thơ rằng:

Đoạn tục quần sơn nhãn giới khoan

Ng thuyên thiên khống Cửu Chân quan

Có nghĩa là:

Trang 11

Một dãy núi chỗ cách chỗ liền, tầm con mắt coi rất bát ngát.

Đó đơm cá của trời tạo ra để chắn lấy cửa ải Cửu Chân [10, 51]

ở địa phận huyện Tống Sơn còn có một con sông lớn chảy qua đó là sông Tống Giang “ Sông bắt nguồn từ khe Thạch Bàn huyện Phụng Hoá tỉnh Ninh Bình chảy vòng vào

địa phận huyện Thạch Thành đổ xuống địa phận núi huyện Tống Sơn chảy về phía nam qua cầu Hội Thuỷ và Quang Lãng, chảy về phía đông đến cửa quan Thanh Đán thì chia làm hai chi, một chi chảy về phía nam đến cửa kênh Nga rồi hợp lại với sông Mã mà đổ xuống cửa biển Bạch Câu, một chi chảy về phía đông đến sông Chính Đại rồi hợp với sông Trinh, sông Càn mà ra biển ” [58, 267]

Theo thuật phong thuỷ của ngời xa thì Tống Sơn thực là vùng đất địa linh, hình thế

có núi sông bao quanh, thung lũng ở giữa tạo cho nó một thế tay ngai tơng đối vững chắc

mà hiếm thấy nơi nào có đợc Với vị trí đó, Tống Sơn khác biệt hẳn với những vùng đất xung quanh và xứng đáng là một vùng đất đứng đầu trong những vùng trọng yếu của xứ Thanh - một vùng địa chính trị trong lịch sử

1.1.2 Làng Gia miêu.

Gia miêu là tên gọi chung cho cả ba thôn trang thuộc Tổng Thợng Bạn gộp lại, gồm có: Gia miêu ngoại trang, Gia miêu nội trang và Gia miêu thợng trang Cả ba trang đều có liên quan tới triều đại nhà Nguyễn nhng chỉ có Gia miêu ngoại trang đợc xem là nơi phát tích và đợc tôn là Quý hơng mà thôi Đó cũng là một điều thật khó lý giải Chỉ biết rằng Gia miêu ngoại trang là nơi thờ vị thuỷ tổ của họ Nguyễn, ở đây có miếu Triệu Tờng và phần lớn các công trình của nhà Nguyễn xây dựng Còn Gia miêu nội trang và Gia miêu th-ợng trang thì có phần lăng mộ Tổ tiên nhà Nguyễn

Làng Gia miêu nằm trên trục đờng huyện lộ số 47 từ Hà Trung đi Thạch Thành, cách trung tâm huyện 11km về phía tây Đây là vùng đất non xinh nớc đẹp có nhiều loại gỗ quý hiếm, sản vật ngon lạ Thời Lê - Nguyễn, nơi đây đã từng có một loại mía chỉ dành riêng để tiến Vua Mía này có vị ngọt thanh, ăn rất mềm, bã mía trắng xốp, đợc các vua chúa, hoàng hậu, cung phi rất thích

Về quá trình hình thành vùng đất Cho đến nay không thấy sử sách nào ghi chép một cách cụ thể, chỉ biết rằng đây là một vùng đất cổ, là nơi chung sống của hai dân tộc Kinh và Mờng, nhiều dấu hiệu mà ngành khảo cổ học tìm đợc đã chứng minh loài ngời sớm xuất

Trang 12

hiện và tụ c tại đây Cho đến khoảng thế kỷ IX thì vùng đất thuộc tổng Thợng Bạn, huyện Tống Sơn đã có 8 tụ điểm dân c là: bái Nại trại, bái Lạt, trại Đụng, trại Vóc, trại Dềnh, trại Phù Vân Vỹ, trại Chuột, trại Tre Những danh từ cổ nh bái, trại chứng tỏ sự ra đời sớm và…

đi đến ổn định của tổ chức dân c ở nơi đây

cũ và thêm các tụ điểm mới nh: Ngọc Đới, làng Mái, Yến Vỹ, Đông Tiền, Đông Hậu, Đông

Theo cuốn sách “ Hà Long những chặng đờng lịch sử ” và một số tài liệu nghiên cứu khác thì những tụ điểm này về cơ bản đợc duy trì đến thời Hậu Lê Và tên Gia miêu ngoại trang mãi tới thế kỷ XIX mới xuất hiện và đó là dấu hiệu để hình thành vùng đất này

Nhng theo chúng tôi, Gia miêu ngoại trang phải có từ khoảng thế kỷ XV, thời vua Lê Thái Tổ Vì theo bản chế sách tuyên dơng công trạng của Vua Lê Thái Tổ, năm ThuậnThiên thứ 2, ngày mồng 5 tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429) cho vị tớng Nguyễn Công Duẩn (vị tổ thứ 13 của dòng họ Nguyễn ), thì đợc biết nội dung của bản chế sách này có ghi: “Vua chỉ dụ cho Bắc giang vệ Chiêu quân Đại đội trởng Nguyễn Công Duẩn, ngời Gia

Nh vậy có nghĩa là Vua đã mệnh lệnh cho Nguyễn Công Duẩn, ngời ở Gia miêu ngoại trang, huyện Tống Giang, bắc lộ Thanh Hoa đang giữ chức Đội trởng của một đơn vị quân thuộc Bắc giang vệ (vệ quân phía bắc sông Lơng giang ) của nghĩa quân Lam Sơn Trong

đó “ lộ ” là đơn vị hành chính có từ thời Trần, tên huyện Tống Giang cũng xuất hiện từ thời Trần

Nh vậy, Gia miêu ngoại trang phải có từ thế kỷ XV và đó là Quê hơng chính thức

đ-ợc xác định của Nguyễn Công Duẩn

Sau bản Tuyên dơng công trạng ấy, Nguyễn Công Duẩn đợc Vua Lê ban thởng cho gần 500 mẫu ruộng ở huyện Tống Sơn đồng thời giao cho ông cai quản luôn việc quân dân

ở huyện nhà Hiện nay ở Đình làng Gia miêu vẫn còn thờ Nguyễn Công Duẩn với t cách là

vị thành hoàng của làng Phải chăng ông lại chính là ngời đã lập ra ngôi làng này ở vào thời

điểm đó - tức là thế kỷ XV

Đến triều vua Gia Long năm thứ 2 (1803 ), cùng với việc đổi tên Tống Sơn là Quý huyện thì Gia miêu ngoại trang cũng đợc gọi tên là Quý hơng, để xứng đáng với tầm vóc và

Trang 13

ý nghĩa của nó Bởi đó không chỉ là một vùng đất cổ xa có hình thế núi non tuyệt đẹp, sản vật lạ, quý hiếm mà còn là nơi nuôi dỡng, duy trì nòi giống cho một dòng họ, là nơi khởi nguồn cho sự nghiệp đế vơng của dòng họ đó và cũng là đất phát tích của triều đại nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX Dòng họ ấy chính là dòng họ Nguyễn

1.2 Đặc điểm lịch sử của vùng đất

1.2.1 Là vùng đất văn hoá cổ.

Việc xác minh và thẩm định qua di chỉ các nền văn hoá khảo cổ cho thấy diện mạo của thời tiền sử, sơ sử ở Tống Sơn Nếu gọi theo thuật ngữ khảo cổ học thì nó bao gồm từ sơ

kỳ thời đại đồ đá cũ, qua thời đại đá mới, đồng thau rồi tiến đến văn minh Đông Sơn rực

rỡ Đó là cả một quá trình sinh sôi phát triển liên tục và không ngừng của lịch sử

ở Tống Sơn các nhà khảo cổ đã sớm phát hiện thấy những di chỉ thuộc thời đaị đồ đá

cũ Ví dụ di chỉ hang núi ốc với hiện vật là những hòn cuội đợc ghè đẽo thô sơ, lỡi hơi dẹt,

sớm của loài ngời ở nơi đây Đó là những dấu vết của một thời kỳ lịch sử mà con ngời đã biết sống trong hang động, lấy mái đá làm nhà và biết chế tác những công cụ đá thô sơ cùng việc dùng lửa để nấu chín thức ăn Tuy nhiên c dân thời kỳ này vẫn cha thoát khỏi nền kinh tế chiếm đoạt là hái lợm và săn bắt, còn phụ thuộc vào thiên nhiên hoang dã

ở thời kỳ đá mới, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết ngời Việt cổ ở cồn Cổ Ngựa - một khu di chỉ rộng khoảng 2000 m2 Đây là một di chỉ vừa là nơi c trú, vừa là nơi mai táng ngời chết Trong bộ su tập hiện vật ở cồn Cổ Ngựa, các nhà khảo cổ học đã thu đ-

quật, 85 công cụ bằng đá nh rìu, đục đợc chế tác từ những hòn cuội dày, hai con dao đợc

83]

Điều này chứng tỏ bớc phát triển mới của c dân Việt cổ ở Tống Sơn Họ đã có một nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh mới đòi hỏi một số lợng những đồ đựng bằng gốm lớn tới nh vậy Bên cạnh đó khi phân tích bào tử phấn hoa ở cồn Cổ Ngựa, các nhà khoa học cũng cho rằng c dân ở cồn Cổ Ngựa đã biết trồng những cây ăn quả và cây lơng thực Sự có

nuôi để lấy thực phẩm cung cấp cho cuộc sống

Trang 14

Tiếp đó ở thời đại đồng thau và thời đại văn hoá Đông Sơn, các nhà khảo cổ học cũng đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ ở các địa điểm nh Thần Phù, núi Yên Ngựa, hồ Bến

sự phát triển hơn nữa của nền nông nghiệp lúa nớc cùng với việc trồng trọt các loại rau củ, tạo ra lơng thực thực phẩm phục vụ cho cuộc sống ngay từ buổi dầu khai thiên lập địa, tạo dựng nên xóm làng của c dân nơi đây

Kết quả nghiên cứu của ngành khảo cổ học đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng , trên những dải đất của vùng núi rừng Tống Sơn đã sớm xuất hiện sự tụ c của loài ngời nguyên thuỷ Sự xuất hiện sớm của loài ngời ở đây đã làm cho Tống Sơn trở thành vùng đất

cổ xa và có bề dày lịch sử Đồng thời nó cũng tạo cho con ngời Tống Sơn kết tụ và chung

đúc nên truyền thống kiên cờng bất khuất trong việc chống chọi với thiên nhiên, cũng nh trong việc chống lại kẻ thù xâm lăng Truyền thống đó đã góp phần làm nên một truyền thống Việt Nam: lâu đời và bền vững Một trong những nhân tố quyết định cho thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong những tháng năm dài chiến đấu chống quân xâm lợc

1.2.2.Vùng đất in dấu cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng (TKI) và cuộc chiến tranh Mạc (TKXVI).

Trịnh-Năm 40 sau công nguyên, sau một thời gian phất cờ khởi nghĩa, hai Bà Trng đã cùng nhân dân ta đánh đuổi đợc nhà Đông Hán khôi phục nền độc lập dân tộc Trong thời gian 3 năm (40-43) tình hình có vẻ yên ổn Nhà Hán tuy vẫn có ý định phục thù nhng vì còn phải

lo đối phó với tình trong nớc nên cha có biểu hiện gì

Tới mùa hè năm 43, nhà Hán cử tớng Mã Viện đem hai vạn quân thuỷ bộ cùng hai ngàn chiến thuyền tấn công xâm lợc nớc ta Trớc sức mạnh to lớn của đại quân Mã Viện, Hai Bà Trng cùng các tớng sĩ đã chiến đấu kiên cờng và cuối cùng sau một thời gian cầm

cự với giặc, hai Bà đã anh dũng hy sinh trên dòng sông Hát giang (Vĩnh Phú), lực lợng nghĩa quân còn lại đành phải rút lui về cố thủ ở vùng núi rừng Cửu Chân (Thanh Hoá)

Quân Mã Viện chủ yếu tấn công bằng đờng thuỷ cho nên nghĩa quân đã ém quân tại phía bên trong cửa biển Thần Phù, cũng là vùng đất phía bắc huyện Tống Sơn Đặc điểm của vùng đất này là đồi núi và các thung lũng dòng sông đợc xếp thành dải, chạy dài theo hớng Tây bắc - Đông nam Mỏm núi đá vôi Tam Điệp ăn nhô ra biển trông nh nanh vuốt của một con thú dữ, dới chân núi ấy lại chỉ có một dải đất hẹp làm đờng đi Chắn giữ đợc

Trang 15

chỗ ấy tức là lực lợng đợc bảo toàn Mã Viện cũng nắm bắt đợc điều đó nên đã đa quân về

đóng đô uý trị ngay ở phía bắc dới chân dãy Tam Điệp Phải vất vả mất hàng tháng trời đục

đẽo, khuân xếp đá quân Mã Viện mới lọt đợc vào bên trong

Các trận đánh lớn giữa một bên là quân khởi nghĩa dới sự chỉ huy của hai tớng Đô

D-ơng và Chu Bá với một bên là đại quân của Mã Viện đã diễn ra quyết liệt tại đây Tiêu biểu nhất là hai trận ở cửa Thần Phù và cửa Tâm Khẩu (thuộc trang Tâm Quy cách huyện lỵ Tống Sơn 6 km về phía Tây bắc) Hai trận đánh này đã gây tổn hại rất lớn sức ngời sức của của nhân dân Tống Sơn, nhân dân đã cung cấp lơng thực cho nghĩa quân, nhiều ngời con nghĩa dũng của họ đã chiến đấu anh dũng và hy sinh ngay tại mảnh đất này Hiện nay ở đây vẫn còn lu giữ nhiều dấu vết cũng nh thần tích, đặc biệt là các đền thờ thần - là các vị tớng

đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa.Ví dụ: đền thờ bà Lê Thị Hoa ở Nga Thiện, một vị nữ t ớng kiệt xuất của nghĩa quân, đền thờ tớng Nguyễn Thành Công ở trang Tâm Quy, một lãnh tụ của nghĩa quân đều là những đền thờ rất linh thiêng.…

-Cuộc kháng chiến đầu tiên của nhân dân Tống Sơn dới lá cờ của nghĩa quân Hai Bà Trng đã chứng minh rằng:Tống Sơn ngay từ buổi đầu đấu tranh chống xâm lợc của dân tộc

đã là địa bàn chiến lợc rất quan trọng, là mảnh đất phên dậu địa đầu của xứ Thanh Từ vùng

đất phên dậu này nếu mở rộng một chút nữa về phía Nam, lịch sử sẽ cho chúng ta thấy, đây còn là vùng đất đã chứng kiến những giờ phút chiến đấu cuối cùng của Bà Triệu cùng với quân dân Thanh Hoá, là vùng đất phát tích của nhà Trịnh và cũng là Trấn thành Tây Đô của nhà Hồ ở đầu thế kỷ XV

Năm 1527 họ Mạc tiếm ngôi nhà Lê, một số cựu thần nhà Lê không đồng ý và chấp nhận sự thống trị của họ Mạc đã tổ chức trốn sang Ai Lao cùng nuôi chí lớn khôi phục nhà

Lê Ngời đứng đầu trong sự nghiệp trung hng nhà Lê lúc này là Nguyễn Kim (đức Triệu Tổ của vơng triều Nguyễn sau này)

Sự nghiệp “phù Lê diệt Mạc” đang tiến triển tốt đẹp thì Nguyễn Kim bị đầu độc chết bởi một hàng tớng của nhà Mạc, binh quyền đợc trao cho con rể là Trịnh Kiểm (ngời làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá)

Cũng từ đây lịch sử Việt Nam lại chứng kiến một cuộc chiến tranh “ nồi da nấu thịt

”giữa Nam triều và Bắc triều kéo dài hơn nửa thế kỷ, mà thực chất là cuộc chiến giữa hai dòng họ Trịnh và Mạc

Trang 16

Trong hơn nửa thế kỷ chiến tranh, hai bên đã có tới 38 trận đánh lớn nhỏ trong đó có khoảng 20 trận xảy ra ở địa bàn Thanh Hoá [73, 668] và có không ít trận đánh lớn đã diễn

ra tại vùng đất phên dậu địa đầu xứ Thanh Bởi vì trong cuộc chiến này căn cứ địa của nhà Trịnh là vùng Tây Đô (Thọ Xuân), từ đàng ngoài vào muốn đến đợc đó nhất thiết phải đi qua cửa Thần Phù, là một cửa ải quan trọng Sử sách ghi lại những trận giao chiến quyết liệt xảy ra tại vùng cửa biển này là vào các năm :

1557, Mạc Kính Điển suýt tử trận vì bị Trịnh Kiểm tổ chức đánh úp theo đờng núi Yên Mô xuyên ra cửa biển

1570, với 10 vạn quân và 700 chiến thuyền Mạc Kính Điển cho tấn công vào Thanh Hoá Trận này quân Mạc đã chiếm giữ đợc vùng đất Tống Sơn trong một thời gian ngắn rồi lại phải rút lui, vì từ ngoài đánh vào sẽ không dễ dàng chút nào nếu không thông thạo địa hình hiểm trở của nơi đây

Năm 1579, quân Mạc tổ chức đánh vào Tống Sơn và lại bị quân Trịnh đánh lui Cho

đến năm 1592 thì quân Mạc thua to, về cơ bản đã bị tiêu diệt Vua Lê từ Thanh Hoá tiến ra Thăng Long ngự toà chính điện, kết thúc cuộc chiến tranh tàn khốc giết chết nhiều ngời dân vô tội, hao tổn biết bao nhân lực của cải Chiến tranh đã làm cho nhiều ngời dân Tống Sơn phải ly tán gia đình, quê hơng xứ sở Lịch sử dân tộc Việt Nam từ đây mở ra một thời kỳ mới- Đó là thời kỳ vua Lê cai trị, chúa Trịnh chuyên quyền

1.2.3.Vùng đất trong khởi nghĩa Tây Sơn.

Năm 1786 đại quân Tây Sơn dới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đã tiến quân ra Bắc tiêu diệt nhà Trịnh Với ngọn cờ “phù Lê diệt Trịnh” quân Tây Sơn đã nhận đợc sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân Bắc Hà trong đó có cả nhân dân Gia miêu- Tống Sơn

Năm 1788 Nguyễn Huệ lại đa quân ra Bắc lần thứ hai giết chết Vũ Văn Nhậm lộng hành, Vua Lê Chiêu Thống hoảng sợ đã bỏ chạy sang Trung Quốc cầu cứu Mãn Thanh Với hành động bán nớc cầu vinh “cõng rắn cắn gà nhà”, Lê Chiêu Thống đã rớc 29 vạn quân xâm lợc Mãn Thanh sang dày xéo đất nớc ta

Trớc sức mạnh ban đầu của giặc, theo chủ trơng của Ngô Thì Nhậm quân Tây Sơn quyết định rút lui “ Phép dụng binh chỉ một đánh một giữ mà thôi, nay quân Thanh tiếng tăm rất lớn ta đánh không đợc mà giữ cũng không xong chi bằng rút khỏi Thành Thăng

Trang 17

biển Biện Sơn (Thanh Hoá) mà đóng Quân bộ thì sửa soạn khí giới giong trống lên đờng về giữ Tam Điệp Hai mặt thuỷ bộ liên lạc với nhau giữ lấy chỗ hiểm yếu ”[55, 162] …

Với địa hình lợi hại Tam Điệp lại một lần nữa trở thành phòng tuyến quân sự vững chắc nhất trong t tởng của những tớng lĩnh Tây Sơn bấy giờ

Ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân (15/1/1789) đại quân Tây Sơn đã dừng chân ở phía nam dãy Tam Điệp, đó chính là vùng rừng núi Tống Sơn- Thanh Hoá.Tam Điệp chỉ là

điểm dừng chân để chuẩn bị những khâu cuối cùng cho cuộc kháng chiến Nhng trong những ngày dừng chân tại đây quân Tây Sơn đã phải tiến hành một số công việc mang tính chất quyết định Đó là hoạch định phơng án chiến đấu và tập duyệt binh sĩ Nhân dân Tống Sơn đã đóng góp công sức của mình bằng việc cung cấp lơng thực và nuôi dấu nghĩa quân

Ngày nay trên mảnh đất Gia miêu - Tống sơn còn lu giữ nhiều truyền thuyết và di tích phản ánh khá sinh động những hoạt động cụ thể của đại quân Tây Sơn trong những ngày dừng chân tại đây

cho cái tên là làng Gạo, vì đây là nơi chứa quân lơng của quân Tây Sơn Tại làng này hiện

Tơng truyền, khi quân Tây Sơn đến nhân dân làng Gạo đã tổ chức tiếp đón rất long trọng Dân làng đã trải chiếu bày mâm cỗ suốt dọc đờng quân đi, họ còn đem nhiều lơng thực, thực phẩm tiếp tế cho nghĩa quân ở dới chân núi Trồng Mâm của làng Gạo có một cái khe lớn, nhân dân đã đắp một cái đập để chắn giữ không cho voi của nghĩa quân xổng ra Đến nay vẫn gọi là đập Chắn Voi ở phía đông bắc làng Gạo còn có Gò rấm quân ( là nơi cất giấu quân sĩ ) Xuôi xuống phía đông nam của làng là cánh đồng lúa nơi chôn cột cờ của nghĩa quân nên đến nay vẫn gọi là đồng Cán cờ Cạnh đó còn có đồng Can chuối, tơng truyền khi quân Tây Sơn đến đây đã sử dụng cánh đồng toàn cây chuối này làm thao trờng cho quân sĩ tập gơm đao Phía ngoài đồng Can chuối là khe Phợng - tên của một ngời con gái trong làng thờng dẫn quân lính ra khe lấy củi Ngoài ra ở đây còn có các địa danh nh

Gò bia ( nơi cắm bia cho quân sĩ tập bắn ), đồi Ông Đùng ( nơi tập bắn của pháo binh ), đồn

Ông ( nơi đóng quân của Ngô Văn Sở )

ở làng Gia miêu còn có vùng hồ Bến Quân, là nơi quân Tây Sơn đóng đồn ở đây còn có các di tích nh pháo đài, chòi hoả hay động Tùng Sơn là nơi chứa vũ khí quân lơng

Trang 18

của nghĩa quân Bên cạnh đó còn có những địa danh khác nh: cánh đồng Voi quần, bãi Voi,

danh quen thuộc với ngời dân nơi đây

ở khu vực Cầu Cừ ( gần trung tâm Huyện ), tơng truyền khi đàn voi của nghĩa quân

đi qua, nhân dân ở đây đã chặt những cây gỗ lim lớn ở trong rừng Thợng Bạn để đặt xuống lòng sông làm cầu cho voi đi Hay ở phía đông bắc huyện còn lại địa danh Quèn Voi - cũng nơi tập kết của tợng binh Tây Sơn

Quân Tây Sơn đã dừng lại Tống Sơn trong 10 ngày ( từ 20 đến 30 tháng chạp ), đây

là 10 ngày chuẩn bị cuối cùng trớc khi tiến đánh Thăng Long Tuy vậy có nhiều việc trọng

đại phải tiến hành từ những khâu cơ bản đầu tiên Trong số 10 vạn quân di cùng với Quang Trung đến Tam Điệp có chí ít cũng phải đến một nửa mới thu nạp trên đờng đi mà cha qua huấn luyện Vì thế nơi đây còn đảm nhiệm chức năng của một trờng cấp tốc huấn luyện chiến sĩ mới

Có thể nói chiến thắng kỳ diệu xuân Kỷ Dậu (1789), trên căn bản đã đợc xác định tại mảnh đất này khi mà Quang Trung đã hết sức tự tin tuyên bố trớc ba quân tớng sĩ: “Bữa nay

ta hãy ăn tết Nguyên Đán trớc khi sang xuân ngày mồng 7 ta sẽ vào thành Thăng Long mở tiệc ăn tết Khai Hạ, các ngơi hãy nhớ lấy lời ta chớ cho ta là kẻ nói hão ”[55,373]

Không có trận đánh nào dù nhỏ ở chân dãy núi Tam Điệp cũng nh không có tên giặc Thanh nào bị giết chết ở đây Nhng Tam Điệp là tuyến phòng thủ quan trọng nhất, là nơi kiểm nghiệm và hoạch định các phơng án chiến đấu, nơi hoàn thành những khâu chuẩn bị cuối cùng để tiến vào giải phóng thành Thăng Long mùa xuân năm 1789

Tống Sơn cũng nh núi rừng Tam Điệp là vùng đất đã chứng kiến và trải qua nhiều biến động của lịch sử dân tộc Với vị trí chiến lợc hết sức lợi hại, các phe phái cũng nh các tớng lĩnh đã nhanh chóng nắm bắt và đa vùng đất này vào trong bản đồ quân sự của họ

Từ những năm đầu công nguyên, Tống Sơn đã là nơi tiếp ứng cho cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng Chín thế kỷ sau đó nơi đây lại trở thành địa bàn hoạt động sôi nổi của sứ quân

Đinh Bộ Lĩnh Khi nhà Đinh thống nhất đất nớc, Tống Sơn bớc vào thời kỳ yên bình Chính vì thế mà sang thế kỷ X dới thời nhà Đinh, vùng đất này trở thành nơi cất giấu và nuôi dỡng cho mầm mống của một dòng họ, đó chính là dòng họ Nguyễn, hậu duệ của Định quốc công Nguyễn Bặc Không biết vì sức sống mãnh liệt của bản thân dòng họ ấy hay là vì

Trang 19

vùng đất linh thiêng phát phúc mà các thế kỷ sau đó, những con cháu của dòng họ này đã khẳng đợc vị trí hết sức quan trọng trong các triều đại quân chủ Việt Nam Cũng nh họ đã góp phần không nhỏ trong việc gìn giữ và bảo vệ Tổ quốc Hiện nay dòng họ Nguyễn là một trong số những dòng họ lớn trong tổng số các dòng họ có mặt trên đất nớc ta.

Với ý nghĩa đó Gia miêu - Tống sơn xứng đáng trở thành một vùng địa chính trị trong lịch sử, vùng trọng yếu của xứ Thanh Hoa Không những thế còn là nơi phát tích của dòng họ Nguyễn Phúc mà về sau nắm giữ một vơng triều thống lĩnh cả Vơng quốc Đại Nam

1.3.Dòng họ Nguyễn ở Gia miêu.

1.3.1.Nguồn gốc dòng họ.

Dòng họ Nguyễn ở Gia miêu là hậu duệ của Định quốc công Nguyễn Bặc, một vị đại công thần của triều đình Hoa L thời Đinh Tiên Hoàng đế Nguyễn Bặc là bạn cờ lau tập trận thủơ nhỏ với Đinh Bộ Lĩnh, khi trởng thành ông cùng với những ngời bạn thân nh

hầu hết các trận đánh lớn Với t cách là viên tớng tiên phong, ông đã có công đánh tan hai

sứ quân mạnh nhất thời bấy giờ là sứ quân của Nguyễn Siêu và sứ quân của Đỗ Cảnh Thạc

Sau khi lên ngôi Đinh Bộ Lĩnh đã phong cho ông tớc Công, chức Thái Tể Vai trò của ông rất lớn, là một trong những ngời cùng vua lập quốc nên đợc gọi là Định quốc công

- Ngời đứng đầu hàng quan trong vơng triều

Định quốc công Nguyễn Bặc sinh năm Giáp Thân (924) và mất năm Kỷ Mão (979)

Về cái chết của Ông có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau ở thế kỷ thứ XIV sử gia Lê Văn Hu cho Ông là một kẻ nổi loạn, Đại Việt sử ký toàn th của Lê Văn Hu chép “Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc dễ nh lừa trẻ con nh sai nô lệ, cha đầy vài năm sau

gắt ý kiến trên của Lê Văn Hu Ông cho rằng việc khởi binh của Nguyễn Bặc là vì lòng Trung với Vua “ không phải kẻ nổi loạn mà là vì một lòng phò tá họ Đinh” [29,160]

Theo chúng tôi, sử thần Ngô Sĩ Liên đã đúng khi cho rằng hành động của Định quốc công Nguyễn Bặc chỉ chứng tỏ lòng trung thành và kiên quyết bảo vệ ngôi Vua của dòng

họ Đinh Điều đó cũng là lẽ đơng nhiên bởi dới thời đại quân chủ hoá thì con ngời sống có chủ Đạo “Tam cơng” dạy ngời quân tử là làm tôi thì phải trung với Vua, mà đã trung là

Trang 20

trung cho đến chết Thế thì có gì là khó hiểu khi Nguyễn Bặc chỉ “ một lòng phò tá họ Đinh

” mà không chịu chấp nhận Lê Hoàn Vì thế chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng: Cái chết của Định quốc công Nguyễn Bặc không phải là cái chết của những kẻ nổi loạn bị trừng phạt mà là cái chết vì chính nghĩa

Về nơi sinh của ông có nhiều ý kiến cho rằng ông quê gốc ở Thanh Hoá Nhng theo nhiều cuốn Gia phả thì ông là ngời ở thôn Sách Bông, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng xa, nay là xã Gia Phơng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ở đây ngời ta đã tìm thấy mộ và nhà thờ ông

Nh chúng ta đã biết Ninh Bình,Thanh Hoá là vùng đất nối liền nhau, cùng thuộc trấn Thanh Hoa.Thời đó việc đi lại giữa hai vùng này có lẽ không khó khăn gì Theo bản gia phả

lợng chống Lê Hoàn ông đã bí mật đa vợ và hai con vào Gia miêu để đề phòng bất trắc, bảo

Hoá ) cho biết thêm “ Tổ ta là cụ Nguyễn Bặc quê ở làng Đại Hữu, xã Gia Phơng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Năm 979 cụ chống Lê Hoàn nên bị giết con cháu chạy vào Gia

công Nguyễn Bặc:

Đại Hữu là chốn xuất thần

Gia miêu là đất gót lân chập chùng

ý đó trùng với ý nghĩa của câu đối treo ở từ đờng họ Nguyễn tại thôn Vĩnh Ninh, làng Đại Hữu, xã Gia Phơng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình:

Duệ xất Gia miêu vơng hiển tích

Khánh lu Đại Hữu tớng môn quang

Dịch nghĩa là: Cửa tớng phúc dầy thôn Đại Hữu

Dòng vơng nối tiếp đất Gia miêu

Nh vậy trớc khi Vơng triều Đinh đợc lập lên thì Gia miêu có thể đã là nơi tập trận của Nguyễn Bặc, cho nên khi phải ra mặt chống đối Lê Hoàn, Nguyễn Bặc đã đa vợ con về ẩn giấu ở nơi đây Sau khi ông mất, các con của ông phải lánh nạn ở Gia miêu một thời gian dài để tránh sự truy bắt của triều đình Hoa L, rồi sau đó lại tiếp tục theo đuổi con đờng binh nghiệp của cha

Trang 21

Vì thế quê hơng của Nguyễn Bặc đợc xác định ở Đại Hữu, Gia Phơng, Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình còn dòng dõi của ông về sau lại quán ở Gia miêu, Tống Sơn, Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá Cho nên Gia miêu - Tống sơn cũng đợc xem là quê hơng thứ hai của Định quốc công Nguyễn Bặc Một minh chứng nữa là tại Gia miêu - Tống sơn vẫn còn thờ đức thuỷ tổ Nguyễn Bặc trong từ đờng họ Nguyễn, mà hiện nay là nhà thờ họ Nguyễn (ở xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá) do trởng chi họ Nguyễn Hữu là ông Nguyễn Hữu Mịch giữ việc thờ tự.

Từ sự “ đề phòng bất trắc, bảo vệ nòi giống ” ấy mà cụ Nguyễn Bặc đã để lại cho đời sau một dòng họ có nhiều thành tích đáng ghi nhớ và giàu truyền thống dụng võ Cho đến nay nó đã có mặt ở hầu khắp đất nớc với bề dày lịch sử hơn 10 thế kỷ qua

1.3.2.Sự phát triển và đóng góp của dòng họ qua các triều đại quân chủ Việt Nam từ

Đinh đến Hậu Lê.

Trong suốt gần 7 thế kỷ ( từ TK X đến TK XVI ) dòng họ Nguyễn đã có rất nhiều con cháu là công thần của các triều đại Tuy có lúc thịnh lúc suy, khi vinh quang hiển hách, khi lận đận hiểm nguy có lúc nguy cơ tiệt diệt cả nòi giống Thế nhng trong gian nguy thử thách lòng trung trinh quả cảm của những con ngời trong dòng họ dờng nh lại đợc tôi luyện thêm Đó cũng là truyền thống và sức sống mãnh liệt của một dòng họ nhiều đời làm Võ t-ớng, luôn biết vơn lên để cùng dựng xây và bảo vệ Tổ quốc trong những điều kiện thời cơ mới

ở đây chúng tôi chỉ xin đợc nêu lên một số nhân vật tiêu biểu minh chứng cho sự phát triển ngày một lớn mạnh của dòng họ Nguyễn và qua đó cũng nói lên phần nào những

đóng góp đáng kể của dòng họ đối với đất nớc và lịch sử dân tộc trong những giai đoạn khác nhau

1.3.2.1.Đô hiệu kiểm Nguyễn Đê ( ? - ? ).

Nguyễn Bặc có hai ngời con trai là Nguyễn Đê và Nguyễn Đạt Khi bố mất hai anh

em cùng mẹ phải lánh nạn ở Gia miêu Sự di chuyển này đợc xem nh là một bớc ngoặt thứ nhất của dòng họ Nguyễn Và sự di chuyển ấy cũng đã đợc trong dân gian xứ Thanh truyền tụng thành thơ:

Huyện Tống Sơn đất lành chim đậu

Làng Gia miêu chiến hữu tùng c

Trang 22

Quả là “ đất lành chim đậu ”, sau đó ít lâu hai anh em họ rủ nhau ra học ở Kinh Bắc ( Bắc Giang ), Nguyễn Đê giao du với nhiều hào kiệt và là bạn thân của Lý Công Uẩn Dới triều vua Lê Long Đĩnh, Lý Công Uẩn giữ chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, Nguyễn Đê giữ chức Hữu thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Đều là các vị Đại tớng bảo vệ cho kinh thành Hoa L.

Tháng 10/ 1009, vua Lê Long Đĩnh chết trong khi Thái tử còn nhỏ Vua khi đang ở ngôi tính tình độc ác đến tàn bạo Vua thờng tổ chức những cuộc chơi, lấy cái chết của ngời khác làm trò tiêu khiển cho mình Ví dụ đối với tù nhân, dùng dao cùn mổ bụng để họ không đợc chết ngay, hoặc đóng chuồng nhốt họ vào trong rồi thả cho trôi sông, bắt tù nhân trèo lên ngọn cây cao rồi cho quân lính đứng dới chặt gốc, kinh khủng hơn Lê Long

Đĩnh còn lấy đầu nhà s để róc mía rồi giả vờ trật tay để cho dao rơi xuống đầu s, máu chảy lênh láng [7, 67] Đó là một tội ác không thể nào chấp nhận đợc khiến cho mọi tầng lớp nhân dân sinh lòng căm giận, oán ghét Nhân cơ hội này Nguyễn Đê cùng một số cận thần

đã tôn Lý Công Uẩn lên làm Vua, khởi dựng nên triều đại nhà Lý với một sự nghiệp đầy hiển hách về sau Dới triều Lý, Nguyễn Đê là một cận thần có uy tín, lập đợc nhiều công trạng nên vua phong ông là Đô Hiệu kiểm, tớc Hầu Khi ông mất, ba con trai của ông đều

đã nối nghiệp cha, một lòng phò tá cho cơ nghiệp nhà Lý Đó là các ông Nguyễn Viễn, Nguyễn Quang Lợi, Nguyễn Phúc Lịch đều làm quan dới các triều Vua Lý: Thánh Tông (1054-1072), Nhân Tông (1072-1127), Thần Tông (1127-1138)

1.3.2.2.Hoài đạo vơng Nguyễn Nộn ( ? - 1229).

Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả thì ông là Đệ ngũ tổ, tức là thuộc đời thứ năm tính từ thuỷ tổ Nguyễn Bặc Ông Nộn là ngời có tài kiêm văn võ Là một ngời thấm nhuần t tởng Nho giáo, dờng nh ông đã học đợc cái đạo “Tam cơng” với lòng trung quân ái quốc của cụ

tổ Nguyễn Bặc để lại cho nên ông rất mực trung thành với triều đại nhà Lý

Vua Lý Cao Tông lên ngôi khi mới có ba tuổi (1176- 1210), triều chính lúc này nằm trong tay Đỗ Anh Vũ Nhiều ngời tài giỏi bị Anh Vũ giết hoặc trốn đi ở ẩn Nguyễn Nộn cũng nằm trong số đó, ông thề không đội trời chung với Anh Vũ và bỏ về ở ẩn tại chùa Phù Dực ( Phù Đổng - Bắc Ninh ) Tại đây Nguyễn Nộn đã chiêu tập hào kiệt, ngày đêm luyện tập ngầm nuôi chí lớn

Trang 23

Năm 1218, Ông bắt đợc vàng ngọc mà không đem dâng nộp cho triều đình Có ngời

tố cáo và Vua đã cho bắt ông đem về giam ở Thăng Long Lúc đó Trần Tự Khánh đang khống chế triều đình nhà Lý Ngời thiểu số nổi lên ở vùng Quảng Oai, Trần Tự Khánh đem quân đánh mãi không đợc bèn phải xin Vua tha cho Nguyễn Nộn để cho Ông đi đánh giặc lập công chuộc tội

Tháng 10 năm Kỷ Mão (1219), Nguyễn Nộn đem quân đi đánh giặc Man và thắng lớn, ông trở thành tớng của Trần Tự Khánh

Tháng 3 năm 1220, ông thấy họ Trần chuyên quyền, lấn át ngôi Vua Quá tức giận

và không thể cứ ở yên ngồi nhìn cơ đồ của nhà Lý, trong đó có bàn tay gây dựng của tổ tiên

ông, đang mất dần vào tay họ Trần Ông bèn đứng ra xng Vơng, chiếm cứ luôn làng Phù

Đổng, thanh thế ngày càng lớn mạnh lan rộng ra cả vùng Bắc Giang

Lúc này nhà Lý sắp mất vào tay họ Trần, lòng ngời ly tán, giặc giã nổi lên khắp nơi Trong nớc có ba lực lợng chống đối lẫn nhau là:

- Họ Trần chiếm cứ vùng hạ lu sông Hồng

- Nguyễn Nộn chiếm cứ vùng Bắc Giang ( phía bắc sông Đuống )

- Đoàn Thợng nắm giữ vùng đất Hồng Châu (Hải Dơng)

Thế chân vạc đó kéo dài nhiều năm và cuộc chiến diễn ra rất ác liệt Năm 1225, do Trần Thủ Độ đạo diễn, Trần Cảnh đợc vợ là Lý Chiêu Hoàng nhờng ngôi, lập nên nhà Trần Trần Thủ Độ đợc phong là Thái s, thống quốc hành quân đi đánh dẹp các nơi cha chịu hàng phục Vì thế lực của Nguyễn Nộn và Đoàn Thợng còn mạnh nên Trần Thủ Độ tạm phải cắt

đất phong Vơng cho hai vị để giảng hoà

Năm Đinh Hợi (1227) Nguyễn Nộn đem quân đi đánh Đoàn Thợng và chiếm cứ đợc luôn vùng đất Hải Dơng Trần Thủ Độ thấy thế lấy làm lo sợ, vừa chia quân chống giữ vừa sai sứ mang sắc th đến chúc mừng, gia phong cho ông là Hoài đạo Hiếu Vũ Vơng Trần Thủ

Độ còn gả công chúa Ngoạn Thiềm cho ông để lấy lòng tin và làm con tin, nhng cha thực hiện đợc mu đồ thì Nguyễn Nộn mất (1229) Từ đó họ Trần mới thực sự thống nhất đất nớc

tối linh thần

Dòng họ Nguyễn các đời trớc đều làm quan to, đều từ Võ tớng mà lập nên sự nghiệp Tiếp bớc cha ông Nguyễn Nộn cũng là một Võ tớng, tuy đối địch với nhà Trần nhng ông vì

Trang 24

lòng trung thành với nhà Lý mà xng Vơng riêng một cõi Lịch sử thật khó có thể đoán biết trớc đợc điều gì có thể xảy ra, nhng quả thật nhìn về quá khứ thì Nguyễn Nộn là một bậc anh hùng sánh ngang với đức thuỷ tổ của mình vậy.

1.3.2.3.Hoằng quốc công Nguyễn Công Duẩn ( ? - ? ).

Theo Nguyễn Phúc tộc thế phả thì ông là “ Đệ thập tam tổ ” của dòng họ, tức là thuộc

đời thứ 13, là con trai thứ t của Chiêu quang hầu Nguyễn Sừ và bà thứ phu nhân Đỗ Thị Hoa

Năm 1416, tại vùng núi rừng Lam Sơn - Thanh Hoá, Lê Lợi với t cách là “ Phụ đạo lộ khả lam ” đã đứng lên phất cờ khởi nghĩa kháng chiến chống quân Minh xâm lợc Ngay từ buổi đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhân dân quanh vùng trong đó có cả nhân dân Tống Sơn đã nô nức hởng ứng tham gia Ba anh em nhà họ Nguyễn là Nguyễn Dã, Nguyễn Dũ, Nguyễn Công Duẩn cũng hăng hái hoà nhập vào với không khí khởi nghĩa của toàn dân

Nguyễn Công Duẩn hay còn gọi là Nguyễn Duẩn là một ngời có tớng mạo phi thờng,

ông đợc ngời đơng thời suy tôn là “ Hổ đầu tớng quân ” Ông đã từng giữ ải Lê Hoa ( Lào Cai ), đánh nhau với tớng giặc là Mộc Thạnh thắng lớn làm cho quân giặc khiếp sợ Trong kháng chiến ông đợc Lê Lợi giao cho nhiệm vụ chuyên chở binh lơng Đây là một công việc vất vả đòi hỏi ngời chỉ huy phải thông thạo địa hình và đặc biệt dũng cảm Thế nhng với tinh thần quyết chiến quyết thắng, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đợc giao

Năm 1416, sau ngày hội Lam Sơn, ông đã cung cấp cho nghĩa quân 3.500 thạch thóc Năm 1418, khi nghĩa quân thất thế lui giữ núi Chí Linh, lơng thực thiếu thốn, ông đã cung cấp 5.300 thạch thóc để nuôi quân và còn đem binh giải vây đuổi giặc sang tận Ai Lao Năm 1425, khi Lê Lợi tiến đánh Nghệ An, ông đã cung cấp 5.500 thạch thóc và 500 bao muối Trong các trận Ninh Kiều, Tốt Động (1426), Chi Lăng, Xơng Giang (1427) ông đã hoàn thành tốt đẹp công việc vận chuyển lơng thực

Năm Mậu Thân khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thành công, vua Lê Thái Tổ nhớ công lao, đã luận công và ban thởng cho ông rất nhiều đất đai ở vùng Gia miêu - Tống Sơn Chế sách của vua có đoạn: “ Nhà ngơi không lời điều binh, tiến lơng, vào ra nguy hiểm không quản sống chết Nhớ công ngơi bẻ gãy ngọn giáo, làm quằn lỡi gơm quân thù, thừa thắng

đánh giặc, một mình rong ruổi đông tây công lao của ng… ơi mọi ngời đều biết, thật là cảm

Trang 25

Ông đợc thăng làm Phụng trực đại phu Đô đốc thiêm sự, tớc Thái bảo Hoằng quốc công, đồng thời Vua giao cho ông cai quản luôn việc quân dân ở huyện Tống Sơn Ông đợc xếp vào hàng công thần Bình Ngô khai quốc và đợc Vua ban cho quốc tính Lê.

1.3.2.4.Trình quốc công Nguyễn Đức Trung ( ? 1477 ).

Nguyễn Đức Trung là con trai trởng của Thái bảo Hoằng quốc công Nguyễn Công Duẩn Ông làm quan từ thời vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433) Năm 1459, vua Lê Nhân Tông

bị ngời anh cùng cha khác mẹ là Lạng Sơn Vơng Nghi Dân giết để tiếm ngôi Nguyễn Đức Trung là một trong số các đại thần đề xớng việc bắt Nghi Dân, lập lại kỷ cơng phép nớc Ngày 6 tháng 6 năm 1460, ông cùng với các đại thần nổi dậy ở Nghị sự đờng bắt Nghi Dân

và tôn lập vua Lê Thánh Tông Sau khi dẹp loạn, ông đợc phong chức Thái uý tớc Quốc công và ngay từ đầu đã rất có uy tín đối với triều đình Trong triều thờng gọi ông là Thái uý Trình Quốc công Nguyễn Đức Trung

Năm 1467, giặc nổi lên ở Yên Bang (Hồng Quảng), ông lúc đó mới làm Đô đốc Đồng tri Nam quân phủ đợc lệnh đi đánh dẹp Yên Bang Sau khi dẹp yên đợc giặc Vua giao cho

ông ở lại làm trấn thủ Đến năm 1470, ông đợc vua cho gọi về thăng làm Trấn thủ Phó Tổng binh kiêm Thanh Hoa đẳng xứ Thừa tuyên sứ ty

Tháng 11 năm 1470, ông phò giá vua Lê đi đánh Chiêm Thành Ông đợc giao thống lĩnh bộ binh, chức Đại tớng quân Trận này quân ta thắng lớn, hạ đợc thành Trà Bàn, bắt vua Chiêm là Trà Toàn phải chịu thần phục

Trở về Đông Kinh, ông làm quan đợc 7 năm nữa thì mất ( ngày 17/ 9/ 1477 ), các con trai của ông nối nghiệp cha đều làm quan trong triều Ngoài ra ông còn có một ngời con gái tên là Nguyễn Thị Hằng ( tức công nữ Ngọc Huyên ) đợc ông gả vào cung làm Sung nghi của vua Lê Thánh Tông, sau sinh hạ đợc Hoàng tử Tranh ( là vua Hiến Tông sau này ) trở thành vị thiếp yêu của Vua Thời gian này ngời họ Nguyễn làm quan trong triều có tới hơn

200 ngời Có lẽ vì thế mà dòng họ này ngày càng trở nên có uy lực hơn đối với triều đình Hậu Lê

1.3.2.5.Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang ( ? 1513 ).

Ông là con trai trởng của Thái uý Sảng Quốc công Nguyễn Văn Lỗ ( con trai thứ năm của Hoằng quốc công Nguyễn Công Duẩn ) Ông làm quan nhà Hậu Lê từ thời vua Lê Thánh Tông (1460- 1497)

Trang 26

Ông là ngời có tài kiêm văn võ, có công đi đánh dẹp Chiêm Thành lập nhiều chiến công nên đợc vinh dự đón nhận mỹ tự do Vua phong tặng “ Tuyên lực công thần ”.

Năm 1505, ông cùng nhiều công thần trong triều không đồng tình với việc lập vua

Uy Mục lên ngôi vì Uy Mục là con của một ngời tỳ thiếp, lại dựa vào ngoại thích để lộng quyền Vậy nên sau khi lên ngôi Uy Mục đã trả thù bằng cách đuổi họ về quê Năm 1509, nhận thấy rõ sự tàn bạo của vua Uy Mục ngày càng trở nên quá đáng, ông cầm đầu phái công thần nhà Lê ở Thanh Hoá tiến ra Đông Đô đánh đổ vua Lê Uy Mục lập Lê Tơng Dực lên ngôi Sau khi lên ngôi, vua Lê Tơng Dực tiến hành bàn công những ngời ứng nghĩa, phong cho Nguyễn Văn Lang làm Nghĩa quốc công Năm Hồng Thuận (1509) triều vua Lê Tơng Dực, ông đợc ban tặng mỹ tự “ Tiết nghĩa công thần ”, đợc vua ban thởng rất hậu và kết nghĩa làm anh em Vua có lần đã đến chơi nhà ông ở Gia miêu ngoại trang và ban tặng

ông một bài thơ khắc vào bia đá dựng ngay ở trớc nhà (Tiếc rằng hiện nay tấm bia đá này không còn đợc lu giữ nữa )

Năm 1511, ông đợc Vua gia phong làm Khai phủ Nghi đồng tam ty, Bình chơng quân quốc trọng sự, Phụ quốc thợng tớng, thợng tể Thái phó Năm 1513 ông mất, đợc vua phong tặng Nghĩa huân vơng Vì là một ngời thân tín của Vua nên đợc Vua cho tổ chức tang

lễ theo nghi thức tớc Vơng, đa về an táng tại núi Thiên Tôn (Tống Sơn- Thanh Hoá), đợc tạc tợng bằng loài kim để thờ [38,104] Nguyễn Văn Lang còn có một ngời con trai cũng làm quan nhà Lê, là ngời tham gia tôn lập vua Lê Tơng Dực, có công to trong hàng tớng Đó là Nguyễn Hoằng Dụ - một nhân vật nổi tiếng thời Lê mạt, đợc vua phong tớc An Hoà Hầu

1.3.2.6 Nguyễn Văn Lu và Nguyễn Kim.

Nguyễn Văn Lu là con trai của ông Phó quốc công Nguyễn Nhữ Trác ( con trai thứ t của Hoằng quốc công Nguyễn Công Duẩn ) làm quan dới hai triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) và Lê Hiến Tông (1497 - 1504)

Nguyễn Văn Lu cũng làm quan nhà Lê, thời Lê Tơng Dực (1510-1516) Ông từng giữ chức Kinh lợc sứ Đà Giang ( tức miền Tây bắc Hà Nội nay ), đến khi biến loạn nổi lên khắp nơi, giặc Trần Cao đánh chiếm Đông Đô Nối tiếp truyền thống tổ tiên ông đều một lòng phò tá nhà Lê, ông lại cùng ngời cháu họ là Nguyễn Hoằng Dụ đem binh từ Thanh Hoá ra lấy lại Đông Đô, rồi rớc vua về Ông đợc phong chức Thái tể Trừng quốc công Khi mất đợc

Trang 27

an táng tại núi Thiên Tôn, về sau đợc nhà Nguyễn phối thờ trong Nguyên miếu ở Quý hơng Gia miêu ngoại trang.

Con trai trởng của ông là Nguyễn Kim (1468- 1545), là ngời có công đầu trong sự nghiệp trung hng nhà Lê

Năm 1427, họ Mạc nổi lên cớp ngôi nhà Lê lập ra nhà Mạc Những cựu thần nhà Lê

mà đứng đầu là Nguyễn Kim đã cùng nhau tránh sang Ai Lao, ngầm nuôi chí lớn khôi phục quốc thống nhà Lê Sang Ai lao Nguyễn Kim đã xin vua nớc ấy là Sạ Đẩu cho tạm trú Vua Sạ Đẩu cho rằng ta là nớc có quan hệ môi răng với họ nên đã đem cắt đất ở Sầm Châu trao cho Nguyễn Kim

Với điều kiện ban đầu thuận lợi nh vậy, Nguyễn Kim nhanh chóng triển khai công việc

Ông chiêu tập hào kiệt ở khắp mọi nơi về cùng quân - thần và con cháu nhà Lê, ngày đêm tham gia luyện tập

Năm 1529, ông đem quân về Thanh Hoá đánh nhà Mạc, thắng trận liên tiếp Năm

1533, ông cùng các tớng dò tìm đợc Lê Ninh ( con của vua Lê Chiêu Tông ) lập lên làm Vua ở Ai Lao, tức vua Lê Trang Tông - đặt niên hiệu là Nguyên Hoà Nguyễn Kim đợc tôn

là Thợng phụ Thái s Hng quốc công Chởng nội ngoại sự

Năm 1540, Nguyễn Kim kéo quân từ Ai Lao về nớc đánh nhà Mạc ở Nghệ An, nhiều hào kiệt ở khắp nơi theo về giúp cho sự nghiệp trung hng nhà Lê Công việc đang tiến triển tốt đẹp thì năm 1545, từ Nghệ An Nguyễn Kim đem quân tiến đánh Sơn Nam, đi đến huyên Yên Mô thì bị hàng tớng nhà Mạc là Dơng Chấp Nhất đầu độc chết Nguyễn Kim mất, vua Lê thơng tiếc mãi truy tặng Ông tớc Chiêu huân Tĩnh công, thuỵ là Trung Hiếu

Sự nghiệp trung hng nhà Lê của Nguyễn Kim bị dở dang nhng tiếng thơm còn lu danh mãi trong sử sách và cho con cháu trong dòng họ Ông xứng đáng là một ngời bầy tôi xã tắc, là ngời có công lao hàng đầu trong sự nghiệp dựng lại quốc thống nhà Lê

* * **

*

Cho đến nửa cuối thế kỷ XVI thì họ Nguyễn đã trở thành một họ lớn Trải qua gần 7 thế kỷ với các triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần cho đến Hậu Lê, con cháu của dòng họ đã khẳng định đợc vị thế và vai trò của mình Sự phát triển của dòng họ chứng tỏ sự nối tiếp và

kế thừa có truyền thống của một dòng họ nổi tiếng về ngành Võ Đặc biệt ở thời Hậu Lê

Trang 28

dòng họ Nguyễn thực sự phát triển hơn với một trờng phái quyền lực mới mà thanh thế ngày càng trở nên vững chắc Khởi đầu là Nguyễn Công Duẩn sau đó thì đến Nguyễn Đức

Kim Trờng phái quyền lực của dòng họ Nguyễn đã tạo đà cho Nguyễn Kim đứng ra phất lá

cờ nghĩa gây dựng triều Lê Trung Hng để rồi từ đó vị thế của dòng họ Nguyễn cứ vơn lên cao mãi

Sự kết hợp của truyền thống dụng võ và một trờng phái quyền lực mới sẽ là tiền đề cho sự thành công của Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn, vua Nguyễn trong sự nghiệp khai phá miền Nam nớc Việt, mở mang bờ cõi đi đến thống nhất đất nớc ở những năm sau này của các thế kỷ XVII, XVIII và XIX

1.3.3.Từ họ Nguyễn ở Đàng ngoài trở thành họ Nguyễn Phúc ở Đàng trong.

Tại sao dòng họ Nguyễn ở Gia miêu - Tống Sơn (Thanh Hoá) lại trở thành họ Nguyễn Phúc khi di chuyển vào Đàng trong ?

Đây không phải là sự thay đổi tên họ bình thờng nh trong dân gian vẫn làm mà là sự thay

đổi của cả một dòng họ, mà dòng họ ấy lại mang chân mệnh đế vơng sinh ra cả một vơng triều

Tên họ Nguyễn Phúc chính thức xuất hiện vào nửa sau thế kỷ XVI Ngời đầu tiên trong dòng họ Nguyễn đợc mang tên lót đẹp đẽ ấy chính là chúa Nguyễn Phúc Nguyên,

ông là con trai thứ sáu của chúa Nguyễn Hoàng

Nguyễn Phúc Nguyên sinh năm 1563 và mất năm 1635, lên ngôi chúa năm 1613 khi đã ở tuổi 50 với tên hiệu là chúa Sãi

Năm 1558, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá đem theo cả gia đình Tuy vậy, không phải tất cả năm ngời con của ông đều đợc đi theo cha mà phải chia ra ngời Bắc ngời Nam Bởi lẽ, lúc này những ngời con lớn của ông còn đơng phải giữ những trọng trách trong triều đình nhà Hậu Lê Vào Thuận Hoá đợc 5 năm thì vợ ông tức đức bà Y cung Gia

dụ Hoàng hậu sinh ngời con thứ sáu cho ông đó chính là Hoàng nam Nguyễn Phúc Nguyên

Chuyện kể rằng, khi bà sắp sinh con thì nằm mộng thấy có ngời đến trao cho bà một

tờ giấy có ghi chữ phúc rất to đẹp và rõ ràng Thức dậy bà sinh hạ đợc một bé trai kháu khỉnh Bà đem chuyện này kể với chồng và họ nghĩ đây là điềm tốt trời cho nên định lấy

Trang 29

luôn chữ Phúc để đặt tên cho con trai Nhng bà mẹ lại có suy nghĩ là dùng chữ Phúc để làm tên riêng cho con trai thì chỉ có mình nó đợc mang tên ấy, nếu lót chữ Phúc giữa họ và tên thì vạn đời con cháu của dòng họ sẽ đợc sử dụng, nh vậy hoá thành vạn phúc cho cả gia tộc Vì thế từ đời Nguyễn Phúc Nguyên trở đi thì con cháu họ Nguyễn trong hoàng tộc ở Đàng trong đợc mang tên họ Nguyễn Phúc.

Câu chuyện đó mang tính thần linh huyền thoại nhng nó có cơ sở và cũng đã đợc lu truyền, kể lại cho con cháu trong dòng họ nghe Tính chất thần linh này một lần nữa ta lại bắt gặp trong câu chuyện chúa Nguyễn Hoàng xây dựng chùa Thiên Mụ khi mới vào Thuận Hoá năm 1601

Điều đó có lẽ xuất phát từ ý niệm và truyền thống Phơng Đông Tức là khi có những việc quan trọng hay gặp phải những sự vật hiện tợng khó giải thích thì ngời phơng Đông thờng lấy những câu chuyện mang tính chất thần bí và linh thiêng của đạo Phật để giải thích cho những hành động hay ý tởng công việc mà mình đang làm

Việc đổi họ Nguyễn ra họ Nguyễn Phúc của chúa Nguyễn Hoàng có thể cũng là một minh chứng cho ý tởng lấy đợc lòng dân trăm họ, xây dựng Đàng Trong trở thành một vùng

đất trù phú tơi đẹp, có chính thể khác biệt với Đàng Ngoài bắt đầu từ năm 1600 khi ông từ ngoài Bắc trở về

Ngoài ra đối với Nguyễn Hoàng chữ Phúc còn có ý nghĩa nh là một điềm lành phúc tốt mà

tổ tiên dòng họ ông đã hun đúc từ bao đời, nay đem đến cho ông để ông mở lo mang nghiệp lớn

Cũng vì lẽ đó mà dới thời nhà Nguyễn, năm Minh Mạng thứ t (1823), Vua có làm một bài tựa nói với con cháu rằng: “ Nhà nớc ta nguyên trớc gây dựng ở Gia miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoá Họ là họ Nguyễn, trớc đã là một họ

to đời đời trâm anh, đâu phải chỉ hơn vài trăm năm nay tu nhân tích đức để có đợc ngày nay, thực sánh với nhà Chu vậy Bởi thế hoàng thiên yêu mến sinh ra đức Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế ta gây dựng cơ nghiệp lớn, tiếp theo sinh ra đức Thái Tổ Gia dụ Hoàng đế ta gây dựng cơ nghiệp ở miền Nam, bèn lấy chữ Phúc tiếp theo chữ Nguyễn Gọi quốc tính là

cũng đã trở thành một bớc ngoặt lớn cho cả dòng họ Nguyễn Phúc

Trang 30

Nội tình đất nớc ở nửa đầu thế kỷ XVI đã buộc ông cùng dòng họ của ông phải dấn thân vào đàng trong, nơi biên ải đầy rẫy những gian nguy thử thách đang chờ đón ông Nh-

ng rồi chính bản tính dung dị cùng sự khoan hoà trong chính sự của ông lại làm cho nhân dân ngày càng trở nên yêu mến ông hơn Với một nghị lực phi thờng, trong gian nguy dần

dà ông tìm thấy niềm vui mới và một cuộc sống mới tốt đẹp hơn những gì mà ông đã suy nghĩ trớc đây Ông đã làm đợc một việc mà mọi ngời tởng chừng nh ông không thể làm nổi

đó là xây dựng nền móng vật chất và t tởng vững chắc cho lớp con cháu của ông sau này tiến hành công cuộc Nam tiến đợc thuận lợi và dễ dàng hơn Họ đã có công lớn trong việc biến vùng đất hoang sơ, ác địa buổi đầu trở thành một miền đất hứa trù phú tơi đẹp ở cuối thế kỷ thứ XIX và là “ hòn ngọc Viễn Đông ” ở đầu thế kỷ thứ XX

Ch

ơng 2

những đóng góp của nhân dân Gia Miêu - Tống Sơn trong việc phát triển và bảo vệ Đất Đàng trong.

Trang 31

2.1.Sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá.

2.1.1.Tình hình nớc Đại Việt ở nửa đầu thế kỷ XVI.

Dấu hiệu sụp đổ của nhà Lê xuất hiện rõ rệt ở những năm đầu của thế kỷ XVI, dới thời vua Uy Mục (1505 - 1509) rồi đến vua Tơng Dực (1510 - 1516) Nhân dân đơng thời gọi hai ông vua này là “ Vua quỷ ” và “ Vua lợn ” bởi những trò ăn chơi xa xỉ, thói hoang dâm vô độ và bản tính tàn ác nh loài dã thú của nhà vua Chân tớng của chế độ quân chủ chuyên chế đợc bộc lộ qua bài hịch của một nhóm quan lại chống vua Uy Mục nh sau: “ T-

ớc đã hết mà lạm tởng không hết, dân đã cùng mà lạm thu không cùng Phú thuế thu đến tơ tóc mà dùng của nh bùn đất, bạc ngợc nh Tần Chính, đãi công thần nh chó ngựa, coi dân chúng nh cỏ rác ” [82, 286]

Trong nớc, đời sống nhân dân ngày càng bần cùng điêu đứng, loạn lạc nổi lên khắp nơi Nền kinh tế đã sa sút nay lại càng trở nên kiệt quệ hơn Triều đình tuy có đàn áp đợc những cuộc khởi nghĩa nông dân nhng không thể nào lấy lại đợc lòng tin trong dân chúng

và những âm mu lật đổ ngôi vua đang rình rập ngày đêm

Với tình hình đó, năm 1527 tập đoàn phong kiến do Mạc Đăng Dung đứng đầu đã thắng thế, phế truất triều Lê lập ra triều Mạc Họ Mạc tuy vậy cũng chỉ là một tập đoàn phong kiến quân phiệt, vì lợi ích của bản thân dòng họ mà cớp quyền đoạt ngôi chứ không

đại diện cho lợi ích của nhân dân Sách “ Việt Nam sử lợc ” của Trần Trọng Kim có ghi: “ Tháng 11 năm Canh Tý (1540), Mạc Đăng Dung thấy quân nhà Minh sửa soạn sang đánh,

sợ hãi quá chừng bèn để Mạc Phúc Hải ở lại giữ nớc, rồi cùng với bọn Vũ Nh Quế, cả thảy hơn 40 ngời tự ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam Quan, lạy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân binh, lại xin dâng đất năm động và rất nhiều vàng bạc cho nhà Minh [37, 294-295]

Hành động đó của Mạc Đăng Dung đợc đánh giá là hành động của một tên nghịch thần phản quốc Nhà Lê tuy đã mất ngôi nhng lòng ngời vẫn còn tởng nhớ đến công đức của vua Lê Thái Tổ và vua Lê Thánh Tông Vì thế mà họ lại theo về phò lập nghiệp Trung hng nhà Lê và cũng vì lý do ấy mà con cháu nhà Lê lại trung hng lên đợc

Trang 32

Năm 1533, một số cựu thần nhà Lê do An Thanh Hầu Nguyễn Kim đứng đầu đã lập

Lê Duy Ninh ( con rốt của vua Chiêu Tông ) lên ngôi vua tại đất Sầm Châu ở Ai Lao ( Lào ), đặt niên hiệu là Nguyên Hoà, tên vua là Lê Trang Tông

Năm 1542, Nguyễn Kim cùng tớng sĩ nhà Lê đa vua về nớc lập hành điện tại Vạn Lại ( Thọ Xuân - Thanh Hoá ) còn gọi là Tây Đô

Cũng từ đây lịch sử Việt Nam lại chứng kiến cảnh tợng chiến tranh “nồi da nấu thịt” giữa Nam triều và Bắc triều Nam triều là của vua Lê chiếm cứ phần đất phía Nam từ Thanh Hoá trở vào Bắc triều là của nhà Mạc chiếm cứ phần đất phía Bắc từ Sơn Nam trở ra

Cuộc nội chiến này thực chất là cuộc chiến tranh giữa hai dòng họ Trịnh và Mạc Lý

do là năm 1545, Thái S nhà Lê là An Thanh Hầu Nguyễn Kim bị hàng tớng nhà Mạc là

D-ơng Chấp Nhất đầu độc chết Ông chết khi sự nghiệp Trung hng nhà Lê do ông khởi xớng

đang tiến triển tốt đẹp Nguyễn Kim có hai ngời con trai là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng đều làm quan cho nhà Lê Nhng binh quyền lúc này không đợc trao cho các con trai của ông mà trao cho ngời con rể là Trịnh Kiểm - một vị tớng tài giỏi, là cánh tay phải đắc lực của Nguyễn Kim trong công cuộc khôi phục quốc thống nhà Lê Từ đó mọi việc trong triều đều do Trịnh Kiểm định đoạt và quyền lực cũng dần dần rơi vào tay họ Trịnh Bởi vậy

đến giữa thế kỷ XVI, tình hình đất nớc trở nên sôi động hơn trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều Một cuộc chiến kéo dài hàng thế kỷ

2.1.2 Từ Gia miêu-Tống Sơn (Thanh Hoá) đến phủ dinh ái Tử-VũXơng (Quảng Trị).

Nguyễn Hoàng là con trai thứ hai của An Thanh Hầu Nguyễn Kim và bà Nguyễn Thị

Nguyễn Kim sang tránh ở Ai Lao thì Nguyễn Hoàng mới có hai tuổi, đợc gửi cho cậu là Nguyễn Ư Kỷ nuôi dạy Lớn lên Nguyễn Hoàng là ngời có “ tớng mạo khôi ngô, vai lân l-

ng hổ, mắt phợng trán rồng, thông minh tài trí, kẻ thức giả đều biết đấy là bậc phi thờng

”[38,107]

Khi Nguyễn Kim mất Nguyễn Hoàng đang ở tớc Hạ Khê Hầu, vua Lê sai ông đi

đánh giặc Mạc chém đợc tớng Mạc là Trịnh Trí ở Huyện Ngọc Sơn ( Tĩnh Gia - Thanh Hoá ) Vì có quân công nên vua phong cho ông tớc Đoan Quận Công

Năm 1558, anh trai của Hoàng là Nguyễn Uông bị sát hại không rõ vì lý do gì, chỉ thấy phần lớn các sử cũ đều chép là bị anh rể Trịnh Kiểm ám hại để bảo vệ quyền lực cho

Trang 33

bản thân Trịnh Kiểm và cho dòng họ Trịnh Nguyễn Hoàng thấy thế lấy làm lo lắng liền bàn với cậu là Ư Kỷ, Ư Kỷ khuyên Hoàng nên cho ngời ra Hải Dơng hỏi ý kiến của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Trình chỉ trả lời có một câu: “ Hoành Sơn nhất đái, vạn

đại dung thân ”

( nghĩa là một dãy Hoành Sơn kia có thể yên thân đợc muôn đời )

Vì lẽ đó Nguyễn Hoàng mới đem chuyện tâm sự với chị gái Ngọc Bảo, nói rõ quyết tâm của mình, nhờ chị nói với anh rể Trịnh Kiểm xin vua Lê cho mình vào trấn thủ Thuận Hoá

Tháng 10/1558, Trịnh Kiểm tâu xin với vua Lê “ Thuận Hoá là đất hình thế quan trọng, binh tài do đó mà ra, hồi quốc sơ nhờ đó mà dựng nên đại nghiệp Nay lòng dân hãy còn trắc trở, nhiều kẻ vợt biển đi theo họ Mạc, sợ hoặc có kẻ dẫn giặc về cớp, nếu không đ-

ợc tớng giỏi trấn giữ, vỗ về thì không xong Đoan Quận Công là con nhà tớng, có tài trí mu lợc, có thể sai vào trấn ở đấy để cùng với Trấn Quận Công xứ Quảng Nam cùng làm thế cứu viện lẫn nhau Hết thảy mọi việc lớn nhỏ ở địa phơng ấy đều cho tuỳ nghi định đoạt

Có nh vậy thì một vùng Ô Châu mới khỏi phải lo để đi tới ” [38, 109]

Vua Lê Anh Tông cũng xét thấy tầm quan trọng của xứ Thuận Hoá nên đã chuẩn y cho

Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hoá, uỷ thác mọi việc, chỉ mỗi năm

lo nạp cống phú mà thôi

Cuối tháng 11/1558 từ làng Gia Miêu ngoại trang ( huyện Tống Sơn - Thanh Hoá) Nguyễn Hoàng đi chào lạy tổ tiên rồi ra đi, đem theo hơn một nghìn quân lính cùng họ hàng nội thân ngoại thích Tất cả theo đờng biển giong buồm nhằm hớng biển Nam mà tiến Sách “ Nam triều công nghiệp diễn chí ” chép sự kiện này nh sau: “ Chiếc thuyền tiến thẳng vào cửa Việt Yên ( cửa Việt hay còn gọi là Việt An ) đóng quân trên bãi cát nổi xã

ái Tử, huyện Vũ Xơng ” [9, 47] Sách “ Phủ biên tạp lục ” cũng cho biết thêm “ Đoan Quận Công lúc mới vào thì đóng dinh ở xứ gò phù sa xã ái Tử, huyện Vũ Xơng ” [15, 50]

Nh vậy từ Thanh Hoá tiến vào Nam, đến Thuận Hoá Nguyễn Hoàng đã lấy ái Tử - Quảng Trị làm điểm dừng chân đầu tiên

Xét về địa thế thì ái Tử là vùng đất bằng phẳng không có núi cao mà chỉ có sông sâu

“ Không phải là vùng đất hiểm trở nhng đứng một chỗ có thể trông rõ đợc đằng trớc đằng sau, nhờ nhân dân làm phên dậu cũng là một vị trí khả dĩ an toàn ” [74, 90]

Trang 34

Chúng ta có thể thấy đợc, vì đi theo Nguyễn Hoàng lúc đó có rất nhiều quân lính, nhiều ngời đa theo cả gia đình vợ con Trong khi đó lại có cả gia đình của Nguyễn Hoàng cùng họ hàng thân thích của ông, cho nên công việc đầu tiên đối với Nguyễn Hoàng khi đặt chân đến Thuận Hoá là phải tìm ngay vị trí đặt doanh trại Để cho mọi ngời còn đợc nghỉ ngơi lấy lại sức lực sau chuỗi ngày dài lênh đênh trên biển.

ở ái Tử sau bớc khởi đầu ấy Nguyễn Hoàng đã cùng với Nguyễn Ư Kỷ, Mạc Cảnh Huống (là những ngời cùng từ Bắc vào), Tống Phúc Trị (trấn thủ Thuận Hoá cũ) nhanh chóng vạch ra kế hoạch, phơng sách an dân lâu dài, phòng thủ biên giới Vì thế trong suốt thời gian 12 năm đặt phủ dinh tại ái Tử, Nguyễn Hoàng đã an toàn trụ vững, lòng dân ai ai cũng mến phục trong xứ đều đợc yên ổn làm cho vua Lê vui mừng và tin tởng ở ông

2.1.3.Từ nhiệm vụ đối với vua Lê đến ý định cát cứ

Nh trên đã trình bày, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá là đợc sự uỷ thác của vua Lê, chứ không phải vì tự ý bỏ đi và rồi ngay từ đầu đã tổ chức lực lợng cát cứ chống chính quyền vua Lê chúa Trịnh

Sự uỷ thác của vua Lê là một trách nhiệm hết sức nặng nề đối với Nguyễn Hoàng Vua giao cho ông cai quản cả một vùng đất rộng lớn ở phía Nam Nơi đây là phên dậu của

Tổ quốc, quan quân tổ chức kinh lợc hàng mấy chục năm mới lấy đợc, dân khí lại cơng ờng Vì thế nhà Lê cũng ý thức đợc là phải ra sức bảo vệ nó để làm một bức bình phong vững chắc chắn giữ phơng Nam

c-Công việc nặng nề ấy phải đợc giao cho một ngời tài trí vẹn toàn để vừa tổ chức phòng giặc phía nam bảo vệ biên giới, lại vừa có thể vỗ yên đợc dân chúng xứ ấy Làm sao để họ quy phục, yên ổn làm ăn và cùng đồng lòng với triều đình ngoài Bắc

Quả là một nhiệm vụ nặng nề và khó khăn, cho nên về phía Nguyễn Hoàng ông cũng không thích thú gì khi phải rời xa quê cha đất tổ đến vùng đất “ Ô châu ác địa ” ở phía nam này Nhng vì tình thế lúc đó buộc ông phải ra đi Nguyễn Hoàng xin đi là có ý lo sợ cho bản thân sẽ có kết cục bi thảm nh anh trai mình và nh vậy dòng họ nhà ông cũng sẽ bị tiệt diệt Vả lại trong triều đình Lê - Trịnh lúc này ngời tài trí nh ông khó mà có thể yên thân Nguyễn Hoàng xin đi là để tránh xa tình trạng đó Ra đi lãnh một trách nhiệm lớn lao nh vậy từ phía triều đình Lê - Trịnh, bản thân ông cũng không biết chắc cuộc sống Đàng trong

Trang 35

sẽ nh thế nào, chứ đâu nói đến ý định chống lại triều đình mà cụ thể là Lợng Quốc Công Trịnh Kiểm - cũng là anh rể của Nguyễn Hoàng.

Từ năm 1558 đến năm 1600, qua sử sách để lại chúng ta không thấy dấu hiệu nào nói

đến việc Nguyễn Hoàng có hành vi chống đối lại triều đình Suốt trong hơn 40 năm trời ông chỉ ra sức làm việc để lo bảo vệ cho vùng đất phên dậu phía Nam đợc bình yên, dân chúng trong vùng cũng vì thế mà rất mến phục ông ở thời điểm ấy nhân dân Thuận Hoá bao gồm những thành phần rất phức tạp, ngoài những thành phần chăm lo cày cấy làm ăn, còn có những ngời đi theo nhà Mạc hoặc khuấy động cho nhà Mạc; những ngời tù đày, du đãng phiêu lu từ các miền Thanh Nghệ hoặc xa hơn nữa xâm nhập từ các triều đại trớc đi tìm cơ may ở những vùng đất mới; những quan quân bất mãn với họ Trịnh hoặc bị lầm lỗi bỏ chạy vào Nam; những thổ tù, thổ hào cờng ngạnh nhũng nhiễu lơng dân, những ngời Chàm còn ở lại Bấy nhiêu hạng ngời, Đoan quận công phải cảm hoá họ, buộc họ phải yên ổn làm ăn

và phục tùng mình

Công việc ấy không dễ dàng chút nào thế mà chỉ hơn vài chục năm sau xứ Thuận Hoá đã trở thành một vùng đất “ chợ không hai giá, dân không ăn trộm, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đến buôn bán, quân lệnh nghiêm khắc vì vậy không ai dám dòm ngó tới, dân trong xứ đều đợc an c lạc nghiệp ”[38,115]

Cho đến lúc này mọi biểu hiện của sự mâu thuẫn hay xung đột giữa Nguyễn Hoàng với Trịnh Kiểm vẫn cha hề xảy ra mà ngợc lại tình anh em còn rất thân thiết Đại Việt sử ký toàn th chép “ Kỷ Tỵ [Chính Trị] năm thứ 12 (1569), Mùa thu tháng 9, trấn thủ Thuận Hoá

là Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào chầu, lạy chào ở hành tại, lại đến phủ Thợng Tớng (Trịnh Kiểm) lạy mừng (Trịnh Kiểm mới đợc tôn làm Thợng phụ của Vua), giãi bày tình anh em ” [31, 132]

Tiếp đó năm 1570, Đại Việt sử ký Toàn th lại chép “ Tháng giêng, Thợng tớng dâng biểu tâu Vua cho Nguyễn Hoàng đi các xứ Thuận Hoá, Quảng Nam thống suất binh tớng

và thuyền bè, trấn phủ dân địa phơng để cõi phiên trấn đợc vững mạnh Thợng Tớng khuyên răn Hoàng rằng: Nhà nớc trao cho khanh chức nhiệm nặng nề này, khanh nên trớc sau một tiết, dốc hết tâm sức nh xa để phò tá nhà vua, Hoàng cảm tạ vâng mệnh đến trấn ” [31, 132]

Trang 36

Vua Lê đã cho gọi Tổng binh Quảng Nam là Nguyên Quận công Nguyễn Bá Quýnh

về trấn thủ Nghệ An, giao cho Nguyễn Hoàng kiêm coi cả Quảng Nam Nh vậy chứng tỏ Nguyễn Hoàng đã chiếm đợc lòng tin và cảm tình của Vua Lê cũng nh của ngời anh rể Trịnh Kiểm Ông đã chứng minh sự tài trí và khả năng của mình ở vùng Thuận Hoá, để từ

đó vua Lê tin cẩn hơn giao cho ông coi giữ cả một vùng biên thuỳ rộng lớn ở phía Nam Quan hệ anh em giữa Nguyễn Hoàng và Trịnh Kiểm cũng rất thoải mái và đúng mực, cha

có gì gọi là mâu thuẫn

Chừng một tháng sau khi Nguyễn Hoàng từ Thanh Hoá trở về trấn thì nghe tin Thái

s Trịnh Kiểm mất ( 24/ 03/ 1570 ) Con là Trịnh Tùng đợc vua Lê phong là Tiết chế Nguyễn Hoàng sai sứ về viếng tang nhân tiện chúc mừng chúa mới và cũng là cháu ruột của mình

Đầu năm 1592, Trịnh Tùng đem đại quân tấn công phía Tây thành Thăng Long, cuối năm thì dẹp đợc quân Mạc, thu phục lại Kinh đô Tháng 3/1593 Trịnh Tùng đón vua Lê ra Thăng Long ngự toà chính điện, bắt đầu thời kỳ cai trị thực sự của dòng họ Trịnh trên lãnh thổ nớc Đại Việt

Bấy giờ Nguyễn Hoàng tuy đã 69 tuổi nhng cũng cùng các con lập tức trở về Kinh đô

để chúc mừng Tiết chế Trịnh Tùng tâu Vua ban cho Ông chức Trung quân Đô đốc phủ Tả

đô đốc Chởng phủ sự, hàm Thái uý tớc Đoan Quận công nh cũ Sách Đại Việt sử ký toàn

th chép “ Quý Tỵ [Quang Hng] năm thứ 16 (1593), tháng năm Nguyễn Hoàng từ Thuận Hoá đích thân đem tớng sĩ voi ngựa, thuyền ghe về kinh lạy chào, lại đem cả sổ sách, binh lơng lụa tiền của hai trấn Thuận Hoá dâng nạp Sau đó Nguyễn Hoàng ở lại, Vua sai đi

đánh Đông dẹp Bắc, cho coi một phủ Hà Trung và 7 huyện miền trấn Sơn Nam ”[31, 180]

Trong thời gian 7 năm (1593 - 1600), Nguyễn Hoàng vừa phải cầm quân đi đánh dẹp

d đảng nhà Mạc ở miền Tây Bắc vừa phải tham dự chính sự, hai phen hộ giá vua Lê lên Lạng Sơn để nhận thật (1596, 1597), một lần làm đề điệu khoa thi Tiến sĩ (1595) Mọi công việc ở Thuận Hoá tạm giao lại cho ngời con trai thứ sáu (Nguyễn Phúc Nguyên) lo liệu

Tháng 8 năm 1559, vua Thế Tông mất, con là Duy Tân nối ngôi tức là vua Kính Tông Vua tấn phong cho Đoan quận công làm Hữu Tớng, Trịnh Tùng làm Thợng phụ Bình

An Vơng Họ Trịnh lúc này đã bắt đầu thế tập tớc vơng, mở phủ đặt quan lại riêng

Trang 37

Nguyễn Hoàng ở lại Bắc đã lâu, trong lòng đã rất muốn về mà không thấy Vua Lê hay Trịnh Tùng nói đến việc để cho ông trở lại Thuận Hoá Vì thế đến tháng 5/1600 Nguyễn Hoàng đã lập kế rút khỏi Đông Đô một cách êm thấm.

Sự kiện này đợc Đại Việt sử ký toàn th chép “ Tháng 5/1600, Nguyễn Hoàng ngầm sai bọn

Kế quận công Phan Ngạn, Tráng quận công Ngô Đình Nga, Mỹ quận công Bùi Văn Khuê

mu phản Sau đó Nguyễn Hoàng xin vua cho đi đánh dẹp rồi nhân cơ hội đó theo đờng biển trở về Thuận Hoá để 3 ngời con ở lại làm con tin” [31, 208]

Thực ra mối quan hệ thân tộc giữa họ Nguyễn và họ Trịnh đã bắt đầu rạn nứt từ khi Trịnh Kiểm mất, Trịnh Tùng lãnh hết binh quyền và trở nên hống hách Năm 1573, Trịnh Tùng đã giết vua Anh Tông đa ngời con thứ ba là Hoàng tử Duy Đàm lên ngôi (tức vua Lê Thế Tông)

Việc làm đó của Trịnh Tùng đã khiến cho mọi quan viên trong triều lo lắng, Nguyễn Hoàng

là cậu, tuy ở xa nhng cũng rất bất bình Năm 1596 Trịnh Tùng nhân danh vua Lê sai Hiến sát sứ Nguyễn Tạo vào khám đạc ruộng đất ở miền Thuận Quảng để tiến hành thu thuế Lệ thu thuế vùng đất này từ trớc tới nay cha hề xảy ra, việc đo đạc ruộng đất chứng tỏ Trịnh Tùng đã không còn nể và giữ tình thân đối với cậu mình nữa

Cho đến năm 1600, Trịnh Tùng vẫn có ý giữ Nguyễn Hoàng ở lại Bắc trong khi Nguyễn Hoàng đã rất mong muốn trở về trấn sau bảy năm xa cách Tình thế ấy khiến cho Nguyễn Hoàng phải tìm ra kế sách để thoát thân

Việc Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hoá tháng 5 năm 1600, một phần là để thoả chí nguyện ngao du thiên hạ ở đất trời phơng Nam lúc tuổi già, một phần cũng là để tránh cái cảnh “cá chậu chim lồng” dới trớng của cháu mình là Tiết chế Trịnh Tùng

Từ sau năm 1600, Nguyễn Hoàng biết là thế nào thì Trịnh Tùng cũng sẽ không để yên, nên ông bắt đầu lo tổ chức phòng thủ Trớc khi mất (1613), ông đã dặn dò ngời con kế nghiệp phải ra sức bảo vệ cơ đồ mà ông đã cất công dựng nên “ Đất Thuận Quảng phía bắc

có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân, núi Thạch Bi vững bền; núi sinh vàng sắt; biển có cá muối Thật là đất dụng võ của những ngời anh hùng Nếu biết dạy dân, luyện binh chống nhau với họ Trịnh thì đủ xây dựng sự nghiệp muôn đời Nếu thế lực không địch đợc thì cố giữ đất đai chờ đợi thời cơ chứ đừng bỏ quên lời dặn của ta ” [38,127] Nh vậy ông đã quyết tâm ly khai khỏi triều đình Bắc Hà, trao lại sứ mạng chống

Trang 38

Trịnh cho ngời con kế nghiệp Nguyễn Phúc Nguyên - ngời con mà ông và vợ ông đã đem trao cả chữ Phúc to lớn của dòng họ ban cho làm tên.

Về một phơng diện nào đó thì việc làm của Nguyễn Hoàng đúng là đã gây chia rẽ đất nớc, tạo cục diện Đàng trong Đàng ngoài Nhng chúng ta hãy đứng trên phong diện khách quan để nhìn nhận quá khứ, nhìn nhận lịch sử một cách chân thật nhất Với nội tình đất nớc

ở nửa cuối thế kỷ XVI, khi mà vua Lê đã mất hết thực quyền, chúa Trịnh thì chuyên quyền hống hách ở vào địa vị của Nguyễn Hoàng - là con cháu của một dòng họ đã bao đời cùng góp công xây dựng cho vơng triều nhà Lê thêm vững mạnh trong đó phải kể đến công sức

và xơng máu của cha ông ( tức Nguyễn Kim ), Nguyễn Hoàng không thể nào làm ngơ trớc những toan tính của họ Trịnh Vả lại nếu nh ông cứ ở yên dới trớng của họ Trịnh thì liệu có

đợc yên thân suốt đời ?

Trong thời gian 55 năm kể từ khi bớc chân vào Thuận Hoá (1558) cho tới khi đi gặp

tổ tiên của mình (1613), Nguyễn Hoàng đã tạo dựng đợc một nền móng khá vững chắc Đó

là tiền đề cơ bản để con cháu của ông sau này có đủ thực lực để thực hiện cuộc Nam tiến vào đất Chăm Pa và Chân Lạp, mở rộng thêm bờ cõi nớc Việt từ miền Phú Yên đến tận Vịnh Thái Lan ngày nay

Đó là đặc điểm nổi bật trong thời Nguyễn sơ mà lịch sử không thể nào phủ nhận Lịch sử luôn luôn xảy ra những cuộc tranh giành và trong cuộc sống cũng luôn phải có những sự lạ chọn Trong đó tất phải có kẻ thắng ngời thua và không biết sự lựa chọn nào là tốt nhất Nh-

ng sự thắng thế của họ Nguyễn Phúc ở Đàng trong đối với họ Trịnh, Chân Lạp, Chăm Pa là

sự thắng thế của kẻ mạnh - một quy luật tất yếu của tạo hoá Và sự lựa chọn của Nguyễn Hoàng vào năm 1600 có lẽ lại là một sự lựa chọn tốt nhất cho cuộc đời của ông, cho dòng

họ của ông và cho cả dân tộc Việt Nam khi ở vào thời điểm lịch sử ấy

2.1.4.Vai trò của những ngời thân đối với Nguyễn Hoàng.

Trang 39

triều đình nhà Lê và nhất là từ sau khi em trai Nguyễn Uông của bà bị giết hại Ngọc Bảo cũng cảm thấy lo sợ cho ngời em trai thứ ba của mình, cũng là ngời nối dõi cha ông chăm

lo việc quân quốc và là ngời con trai duy nhất còn lại trong gia đình của Nguyễn Kim Chính vì thế cho nên sau khi nghe Nguyễn Hoàng tâm sự và nhờ giúp đỡ, bà đã không quản ngại xin với chồng một cách khéo léo Trịnh Kiểm đã đồng ý xin vua Lê cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá

Điều đáng nói ở đây là cùng với cha ( Nguyễn Kim ), Ngọc Bảo đã trở thành bức bình phong vững chắc cho sự tin cậy đầu tiên của vua Lê đối với Nguyễn Hoàng Điều đó

sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đi của Nguyễn Hoàng diễn ra một cách tốt đẹp

2.1.4.2 Cậu Nguyễn Kỷ.

Nguyễn Kỷ là quan triều Lê, hàm Thái phó tớc Uy Quốc Công

Trong sách “ Việt sử xứ Đàng trong ” hay “ Việt Nam sử lợc ” đều cho rằng Nguyễn

Kỷ là anh ruột của bà Nguyễn Thị Mai (mẹ của Nguyễn Hoàng ) Nhng trong gia phả Nguyễn Phúc tộc thì ghi ông là em ruột của bà Mai Điều này có lẽ chính xác và phù hợp hơn với cách xng hô truyền thống trong gia đình ngời Việt Nam ở Bắc Bộ (em trai của mẹ thì gọi xng là cậu)

Nguyễn Kỷ và bà Nguyễn Thị Mai là con của Đặc tiến Phụ quốc Thợng tớng quân

th Vệ sự triều Lê là Nguyễn Minh Biện ( quê ở Phạm Xá, tỉnh Hải Dơng ) Năm 1527, khi Nguyễn Kim tránh sang Ai Lao cùng với một số cựu thần nhà Lê thì Nguyễn Kỷ đợc giao nhiệm vụ chăm sóc Nguyễn Hoàng hay đúng hơn là đợc gửi nuôi, lúc đó Nguyễn Hoàng mới có hai tuổi Ông vừa phải lo nuôi dỡng lại vừa lo chăm sóc, dạy dỗ để cháu trở thành ngời có ích cho đất nóc Cho nên ông đã hết lòng với đứa cháu nhỏ và quả thật Nguyễn Hoàng sau này đã trở thành một ngời tài trí phi thờng đúng nh niềm mong đợi của ông

Không chỉ có vậy, năm 1558 khi Nguyễn Uông bị giết hại, Nguyễn Hoàng đang lúc

lo lắng không biết nên phải xử trí ra sao thì đợc ngay ông mách bảo đến hỏi Trạng Trình và cũng từ sự gợi ý của ông mà Nguyễn Hoàng mới có thêm quyết tâm và nghị lực để vào trấn thủ Thuận Hoá Khi Nguyễn Hoàng ra đi, Nguyễn Kỷ đã quyết định đa cả gia đình ông đi theo và ông đã trở thành một ngời cha, một ngời quân s luôn luôn ở bên cạnh Nguyễn Hoàng cho đến tận lúc cuối đời

Trang 40

Đối với dòng họ Nguyễn Phúc thì Nguyễn Kỷ là ngời có công rất lớn trong việc bảo

vệ và gìn giữ dòng giống cho dòng họ Đồng thời cũng là ngời đã kề vai sát cánh bên cạnh Nguyễn Hoàng trong bớc khởi đầu tạo lập nên vơng nghiệp ở xứ Đàng trong

Nh vậy với ý nghĩa là một bậc khai quốc công thần cho nên dới thời Nguyễn ông đợc thờ trong Nguyên miếu ở Gia miêu ngoại trang, thời Thiệu Trị ông đợc truy phong là: Khai quốc công thần Đặc tiến Tráng võ Tớng quân Trung quân Đô đốc Thống phủ Chởng phủ sự Thái s, thuỵ là Trung Trinh, tớc Uy quốc công, cho thờ tại Hữu vu của Thái miếu

Tuy không phải là quyết định nhng Ngọc Bảo và Nguyễn Kỷ một trong những nhân

tố không thể thiếu trong sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558, dẫn tới

sự thành công của ông ở xứ Đàng trong này

2.2 Đóng góp của các dòng họ ở Gia miêu - Tống sơn trong việc phát triển

và bảo vệ đất đàng trong dới thời các chúa Nguyễn

Đến năm 1609, Nguyễn Triều Văn mới cho gia đình thiên c vào Thuận Hoá và đã chính thức định c tại miền Phong Lộc ( Quảng Bình ) Bắt đầu từ đây gia tộc Nguyễn Hữu

đã sản sinh ra nhiều vị tớng kiệt xuất, đóng góp phần công sức đáng kể cho sự thành công trong công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn ở xứ Đàng trong

Thực ra dòng họ Nguyễn Hữu cũng là một chi họ của dòng họ Nguyễn ở Gia miêu - Tống Sơn Theo gia phả họ Nguyễn ở Gia miêu thì Nguyễn Triều Văn thuộc hàng cháu của Nguyễn Hoàng, là hậu duệ 17 đời của Định quốc công Nguyễn Bặc và là ngời cùng hàng với chúa Nguyễn Phúc Nguyên (Xem thêm phụ lục 2 )

ở Đàng trong, trong suốt các thế kỷ XVII, XVIII dòng họ Nguyễn Hữu thực sự nổi danh với những tên tuổi nh: Chiêu Vũ Hầu Nguyễn Hữu Dật, Hào Lơng Hầu Nguyễn Hữu Hào, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Thanh Nghị Hầu Nguyễn Hữu Tú , đó là một tập

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng lợc phả dòng họ Nguyễn Hữu trong mối quan hệ với dòng họ                    NguyÔn Phóc. - Gia miêu   tống sơn, nơi phát tích của dòng họ nguyễn phúc
Bảng l ợc phả dòng họ Nguyễn Hữu trong mối quan hệ với dòng họ NguyÔn Phóc (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w