1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giảng dạy nội dung khoa học kỹ thuật trong khóa trình lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 2000(lịch sử 12, ban cơ bản)

89 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, Nhưng hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu, cụ thể về nội dung khoa học kĩ thuật trong việc dạy học khóa trình lịch sử thế giới hiện đại 1945 đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đề tài:

GIẢNG DẠY NỘI DUNG KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ 1945 – 2000

(LỊCH SỬ 12, BAN CƠ BẢN)

Sinh viên thực hiện : Trần Thị Hường

VINH – 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Thạc sĩ Nguyễn Thị Duyên - ng ười đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ em thực hiện đề tài này

Đồng thời, em cũng xin cảm ơn các thầy cô, bạn bè và gia đình đã giúp

đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận tốt nghi ệp của mình Cho phép em được gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc tới

th ầy cô và các bạn

M ặc dù có cố gắng song khóa luận cũng không thể tránh khỏi những thi ếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô và các bạn

Tác giả Trần Thị Hường

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GV Giáo viên

THPT Trung học phổ thông SGK Sách giáo khoa

TTLL Thông tin liên lạc NXBĐHSP Nhà xuất bản Đại học sư phạm NXBCTQG Nhà xuất bản chính trị quốc gia NXBKH&KT Nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật NXBVHTT Nhà xuất bản văn hóa thông tin

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 0

MỤC LỤC 0

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ của đề tài 3

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của đề tài 4

NỘI DUNG 5

Chương 1: VẤN ĐỀ GIẢNG DẠY NỘI DUNG KHOA HỌC KĨ THUẬT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY 5 1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ bộ môn 5

1.1.2 Khái niệm khoa học kĩ thuật 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 9

1.2.1 Thực trạng môn học lịch sử nói chung 9

1.2.2 Thực trạng của việc giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật 11

Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG KHOA HỌC KĨ THUẬT CẦN KHAI THÁC TRONG KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ 1945 – 2000 13

2.1 Vị trí, ý nghĩa của khóa trình 13

2.2 Nội dung chủ yếu của khóa trình 14

2.3 Các kiến thức khoa học kĩ thuật cần giảng dạy trong khóa trình 17

Trang 5

Chương 3: HÌNH THỨC, MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY NỘI DUNG KHOA HỌC KĨ THUẬT TRONG KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ

THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ 1945 – 2000 34

3.1 Nguyên tắc, yêu cầu giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật trong khóa trình Lịch sử thế giới hiện đại từ 1945- 2000 34

3.1.1 Nguyên tắc 34

3.1.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 34

3.1.1.2 Nguyên tắc trực quan sinh động 36

3.1.1.3 Nguyên tắc phát triển 36

3.1.2 Yêu cầu 37

3.1.2.1 Đảm bảo đặc trưng môn học 37

3.1.2.2 Đảm bảo kiến thức cơ bản 38

3.1.2.3 Kết hợp các hình thức tổ chức dạy học 38

3.2 Các biện pháp cụ thể 39

3.2.1 Biện pháp miêu tả kết hợp với việc sử dụng đồ dùng trực quan 39

3.2.1.1 Miêu tả toàn cảnh 39

3.2.1.2 Miêu tả có phân tích 42

3.2.2 Biện pháp kể chuyện về các phát minh, sáng chế từ 1945 - 2000 43

3.2.3 Biện pháp tạo biểu tượng nhân vật về các nhà khoa học 52

3.3 Thực nghiệm sư phạm 58

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 58

3.3.2 Đối tượng thực nghiệm 59

3.3.3 Nội dung thực nghiệm 59

3.3.4 Phương pháp thực nghiệm 59

3.3.5 Giáo án đối chứng 59

3.3.6 Giáo án thực nghiệm 65

3.3.7 Kết quả thực nghiệm 75

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 80

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân loại đang bước vào một thời đại mới: thời đại của công nghệ thông

tin, của “kinh tế tri thức” Cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại gắn liền với sự xuất hiện một nền văn minh mới “văn minh thứ ba” hay “văn minh trí tuệ” Toàn cầu hóa, khu vực hóa đã trở thành xu thế chung của các quốc gia dân tộc Việt Nam cũng đang chuyển mình để hội nhập vào dòng

chảy chung của nhân loại Trong nền “văn minh trí tuệ” tri thức vừa là của

cải, vừa là công cụ để sáng tạo ra của cải vật chất, là chìa khóa của tiến bộ kinh tế - văn hóa - xã hội Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo đang đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam cần phải đào tạo ra con người Việt Nam mới thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy để nắm bắt tri thức khoa học

và công nghệ, tránh nguy cơ tụt hậu và có thể cạnh tranh hiệu quả với thế giới Do đó, việc giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật cần phải đặc biệt lưu tâm hơn Môn Lịch sử ở trường THPT có nhiều ưu thế trong việc giáo dục cho học sinh những nội dung khoa học kĩ thuật để các em nắm bắt và tiếp thu được những thành tựu mà nhân loại đã đạt được

Trên bước đường hội nhập và phát triển, từ việc nhận thức về thời cơ và thách thức do bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước của Đảng và Nhà nước

ta đã xác định chiến lược phát triển đất nước là “lấy con người là trung tâm”

vì con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó sự nghiệp giáo dục đào tạo được coi trọng “Luật giáo dục” điều 24.2 đã ghi: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phải phát huy tính

tích c ực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của

t ừng lớp, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận

Trang 7

d ụng vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho h ọc sinh” [7;12]

Xuất phát từ những yêu cầu của giáo dục đào tạo trong nước, xu hướng

cải cách đổi mới giáo dục trên thế giới bộ môn lịch sử cũng đã đổi mới về nhiều mặt đặc biệt là phương pháp dạy học: lấy học sinh làm trung tâm, dạy học nêu vấn đề, phát triển tư duy học sinh Tuy nhiên những biểu hiện trên không phải diễn ra thường xuyên, liên tục trong dạy học lịch sử vẫn còn tồn tại kiểu dạy học phổ biến: giáo viên truyền thụ những nội dung trong sách giáo khoa, học sinh nghe và ghi chép Học sinh được tổ chức làm việc chung theo cả lớp, ít được tổ chức theo nhóm và cá nhân Điều đó làm giảm hứng thú, sự tập trung chú ý của học sinh, ảnh hưởng đến chất lượng bài học và rõ ràng là không đáp ứng yêu cầu phát triển của giáo dục

Khoa học kĩ thuật là nội dung quan trọng trong khóa trình lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 – 2000 Tuy nhiên trên thực tế do thời gian trên lớp học có hạn, lại phải trình bày nhiều nội dung cùng một lúc Những nội dung khoa học kĩ thuật rất quan trong đặc biệt đối với thời đại ngày nay với sự bùng nổ của công nghệ thông tin nhưng do thời gian có hạn mà không được đi sâu nghiên cứu Vì vậy, đặt ra yêu cầu đưa những phương pháp dạy học hiệu quả cho từng bài, từng chương đặc biệt là nội dung khoa học kĩ thuật Vì thế, tôi

chọn đề tài “Giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật trong khóa trình lịch sử

th ế giới hiện đại từ 1945 -2000”(Lịch sử 12, Ban cơ bản) làm khóa luận tốt

nghiệp

2 Lịch sử vấn đề

- Công trình nghiên cứu về lý luận dạy học bộ môn:

+ Hội Giáo dục Lịch sử, Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy “Học sinh làm trung tâm”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 1996

+ Từ đổi mới nghiên cứu đến đổi mới giảng dạy, Tạp chí Nghiên cứu lịch

sử 3/1993

Trang 8

- Tài liệu hướng dẫn giảng dạy và sách giáo viên như: Đairi, Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào? Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội,

Nhưng hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu, cụ thể

về nội dung khoa học kĩ thuật trong việc dạy học khóa trình lịch sử thế giới hiện đại 1945 đến 2000 nhằm nâng cao hiệu quả bài học, góp phần phát triển toàn diện học sinh

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu việc giảng dạy lịch sử thế giới ở trường THPT

3.2 Phạm vi nghiện cứu

- Nghiên cứu việc dạy học nội dung khoa học kĩ thuật trong khóa trình lịch sử thế giới hiện đại 1945 - 2000 ở lớp 12, ban cơ bản

4 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu lí luận chung về phương pháp dạy học lịch sử

- Xác định các nội dung khoa học kĩ thuật có thể tiến hành giảng dạy khóa trình lịch sử thế giới hiện đại 1945 - 2000 ở lớp 12, ban cơ bản

- Đề xuất những biện pháp tối ưu cho việc dạy học các nội dung khoa học kĩ thuật đó

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài

Trang 9

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

- Dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về lịch sử, giáo dục lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

+) Nghiên cứu lý thuyết

- Các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học

- Công trình về lý luận dạy học lịch sử

- Sách giáo khoa lịch sử, sách giáo viên, các tài liệu hướng dẫn giảng dạy

và các tài liệu lịch sử có liên quan

+) Nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra thực tế dạy học lịch sử ở trường THPT bằng nhiều hình thức:

dự giờ, quan sát, tổng kết kinh nghiệm sư phạm

- Tiến hành thực nghiệm qua một bài học cụ thể của khóa trình để khẳng định tính khả thi của việc sử dụng nội dung khoa học kĩ thuật vào giảng dạy khóa trình lịch sử thế giới hiện đại 1945 – 2000 góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, Mục lục, đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Vấn đề giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật trong dạy học

lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

Chương 2: Một số nội dung khoa học kĩ thuật cần khai thác trong khóa

trình lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 – 2000

Chương 3: Hình thức, một số biện pháp giảng dạy nội dung khoa học kĩ

thuật trong khóa trình lịch sử thế giới hiện đại 1945 – 2000

Trang 10

NỘI DUNG Chương 1: VẤN ĐỀ GIẢNG DẠY NỘI DUNG KHOA HỌC KĨ THUẬT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

HIỆN NAY 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ bộ môn

Mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ đặc trưng, nội dung của môn học và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể Mục tiêu giáo dục phổ thông phải quán triệt đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước về giáo dục, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đối với giáo dục

Mục tiêu của môn lịch sử ở trường trung học phổ thông phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản như sau:

Về mặt giáo dưỡng: Cung cấp những kiến thức cơ bản của khoa học lịch

sử trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở trung học

cơ sở, hợp thành nội dung giáo dục lịch sử của bậc trung học phổ thông Giáo viên phải cung cấp cho học sinh một cách hệ thống, toàn diện về mọi mặt: về

sự kiện, hiện tượng lịch sử, về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại

giao….Trong đó nội dung khoa học kĩ thuật là một “mảng” kiến thức quan

trọng trong khóa trình đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay việc giảng dạy những nội dung khoa học kĩ thuật càng có ý nghĩa lớn lao Qua việc giảng dạy đó giúp học sinh nâng cao và hoàn chỉnh những nhận thức mácxit- lêninnit về lịch sử Lịch sử là lịch sử của sản xuất, của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau một cách hợp quy luật và khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng thì lịch sử còn là lịch sử của đấu tranh giai cấp Nhận thức được sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa tư bản, sự sụp đỏ không

Trang 11

tránh khỏi của chủ nghĩa tư bản Học sinh trung học phổ thông còn được cung cấp những kiến thức sơ giản về phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử để nâng cao, cải tiến phương pháp học tập, phát huy tính tích cực trong học tập lịch sử

Như vậy, nhiệm vụ giáo dưỡng trong mục tiêu của môn lịch sử ở trường trung học phổ thông là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản bao gồm: các sự kiện lịch sử cơ bản, các khái niệm, thuật ngữ, tình hình về chính trị,kinh tế, quân sự, ngoại giao, khoa học kĩ thuật…

Về mặt giáo dục: Tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục trí tuệ

mà cả tình cảm, tư tưởng, góp phần đào tạo con người Việt Nam toàn diện Qua đó giáo dục, bồi dưỡng những nội dung như:

- Lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa, lòng yêu quê hương- một biểu hiện của lòng yêu nước

- Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình dân chủ

- Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân tộc, dù trong tiến trình lịch sử có những bước quanh co, khúc khuỷu…

- Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế

- Những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng

- Giáo dục cho các em ý thức được tính cấp thiết cần phải tiếp thu những thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến của nhân loại phục vụ công cuộc xây dựng đất nước mà các em sau này sẽ là những chủ nhân tương lai của đất nước để tránh nguy cơ tụt hậu, nghèo nàn

Về nhiệm vụ phát triển: Cần rèn luyện cho các em học sinh năng lực tư

duy và thực hành trên cơ sở hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được hình thành Hình thành tri thức cho học sinh bắt đầu từ việc cung cấp các sự kiện lịch sử

Trang 12

- Tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá, liên hệ

- Kỹ năng học tập và thực hành bộ môn, sử dụng sách giáo khoa và tài liệu tham khảo; khả năng trình bày nói, viết; làm và sử dụng một số đồ dùng trực quan nhất là đồ dùng trực quan quy ước, những hoạt động ngoại khóa môn học

- Vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay

Tóm lại, mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực

tư duy và thực hành Thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển

Các nhiệm vụ trên được hình thành vầ củng cố, tạo ra năng lực chủ yếu nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bốn năng lực cần hình thành cho học sinh

đó là: “năng lực hành động; năng lực thích ứng; năng lực giao tiếp, ứng xử;

Trang 13

kĩ thuật… Mỗi một lĩnh vực đều có những đóng góp riêng cho lịch sử, là bộ phận cấu thành nên lịch sử Trong đó khoa học kĩ thuật là một nội dung quan trọng và cần thiết phải giảng dạy cho học sinh trong khóa trình lịch sử thế giới 1945- 2000, đặc biệt trong thời đại ngày nay cùng với sự bùng nổ của công

nghệ thông tin với tốc độ như “vũ bão” Việc tiếp thu những kiến thức khoa

học kĩ thuật lại trở thành một yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết Hiện nay, khi khoa học kĩ thuật đã trở thành lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất thì những nội dung khoa họa kĩ thuật lại càng có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp thu những thành tựu của khoa học công nghệ, tránh nguy cơ tụt hậu phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đặc biệt khi nước ta đang phấn đấu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

1.1.2 Khái niệm khoa học kĩ thuật

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khoa học” là một hệ thống tri thức tích lũy

trong qua trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới loài người cũng như hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực

“Khoa học kĩ thuật” nói cách tổng quát nhất đó là các ngành khoa học

có liên quan trực tiếp đến sản xuất và các ngành kĩ thuật [16;484,485]

“Cách mạng khoa học kĩ thuật”: Đó là bước nhảy vọt về chất trong cơ

cấu và trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất bắt đầu vào giữa thế

kỷ XX, một sự xây dựng lại triệt để các cơ sở kỹ thuật cuẩn xuất vật chất Cách mạng khoa học kĩ thuật đó là một hiện tượng xã hội phức tạp, một quá trình lịch sử lâu dài và có những đặc điểm sâu đây: Tính chất toàn cầu, tính chất quốc tế vì nó bao trùm toàn bộ thế giới Tính chất bao quát vì nó tác động đến tất cả các lĩnh vực sinh hoạt xã hội Tính chất tổng hợp vì những biến đổi cách mạng xảy ra trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật mà trước đó được thực hiện một cách riêng lẻ, nay gắn với nhau một cách hữu cơ và tác động lẫn

Trang 14

nhau Cái cốt lõi của cách mạng khoa học kĩ thuật là khoa học phát triển vượt lên trước và biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn bản thân sản xuất thì biến thành việc áp dụng một cách triệt để khoa học hiện đại và các quy trình công nghệ Các tri thức khoa học được vật chất hóa, được thực hiện trong các yếu tố vật chất của các lực lượng sản xuất trong kĩ thuật, trong quy trình công nghệ của sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất tương ứng Các tri thức khoa học được sử dụng ngày càng nhiều trong hoạt động của người sản xuất khi họ thực hiện các chức năng lao động khoa học đóng vai trò cơ sỏ lý luận của mọi quy trình sản xuất Cách mạng khoa học kĩ thuật kéo theo sự biến đổi

về chất cơ sở quy trình công nghệ của sản xuất, các công cụ và các phương tiện lao động, các phương pháp và các đối tượng gia công , nó ảnh hưởng đến việc tổ chức lao động, sản xuất và quản lý dẫn đến sự biến đổi cơ bản địa vị

và vai trò của con người trong quy trình sản xuất, chức năng của những người lao động nói lên bước chuyển từ sự phát triển sản xuất theo chiều rộng sang

sự phát triển theo chiều sâu [26;21,22]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng môn học lịch sử nói chung

Những năm gần đây việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã có nhiều tiến bộ về nhận thức lịch sử, nội dung và phương pháp dạy học nhưng bên cạnh đó nó vẫn còn những vấn đề yếu kém như: giáo viên nhận thức được điểm mấu chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học là phải thay đổi quan niệm cũ trước đây: chuyển từ vai trò thầy là trung tâm sang trò là trung tâm của quá trình dạy học Giáo viên là người hướng dẫn điều khiển quá trình nhận thức của học sinh Muốn vậy, phải phát huy các năng lực nhận thức độc lập, phát triển tính tích cực học tập của các em Song về biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh thì chưa tốt Thường giáo viên quan niệm rằng đặt nhiều câu hỏi là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực

Vì vậy, giờ học biến thành một giờ “hỏi - đáp” quá căng thẳng, khô khan làm

Trang 15

cho học sinh không có hứng thú học tập Bởi vì, hỏi – đáp chỉ là một cách, muốn phát huy cách dạy học này phải kết hợp với các phương pháp khác đặc biệt là những phương pháp bộ môn

Tuy nhiên, nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa…ít được cập nhật thông tin khoa học, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay và chưa hiểu rõ nội dung của công việc này Vì vậy trong giờ học lịch sử, thầy làm việc là chủ yếu,trò thụ động ghi chép còn khá phổ biến Thậm chí hiện tượng đọc chép còn tràn lan Mặt khác, một số giáo viên tuy nhận thức được được vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng nhưng lại lấy nguyên nhân học sinh yếu kém không thể vận dụng các biện pháp đổi mới nhằm phát huy tính tích cực của học sinh được, cũng chỉ đọc chép, nhồi nhét kiến thức cho học sinh, cho nên không chỉ rèn luyện cho các em năng lực tự chiếm lĩnh kiến thức và trang bị phương pháp học tập tốt Đây là một thực tế đáng buồn hiện nay dẫn tới tình trạng học sinh không thích học lịch sử

Hiện nay sách giáo khoa lịch sử đã được biên soạn theo tinh thần đổi mới được sử dụng đại trà, trừ cấp trung học phổ thông còn tiến hành thí điểm Thực tiễn sử dụng sách giáo khoa mới ở trường phổ thông cho thấy phương pháp dạy học của giáo viên chưa kịp việc đổi mới nội dung của sách Bài viết trong sách trình bày ngắn gọn có tính gợi mở thì giáo viên chưa có đủ độ sâu

về kiến thức để hướng dẫn học sinh tìm ra những kiến thức chìm trong sách (ví dụ: nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của sự kiện, đánh giá nhân vật, kênh hình tăng lên so với sách cũ rất nhiều nhằm làm đa dạng nguồn nhận thức bài học, học sinh học tập nhẹ nhàng hơn Song nhiều giáo viên chưa hiểu hết nội dung kênh hình, hiệu quả sử dụng chưa cao, vẫn còn nhiều nhiều giáo viên quan niệm: hỏi thật nhiều là đổi mới phương pháp dạy học, cho nên nó chủ yếu chỉ sử dụng câu hỏi mà không khai thác triệt để các nguồn kiến thức khác

Trang 16

Ở các trường phổ thông hiện nay giáo viên mới chỉ tập trung vào các giờ lên lớp, chưa quan tâm đến các hoạt động ngoài lớp

Một thực trạng đáng buồn là hiện nay ở trường phổ thông tâm lý coi nhẹ môn lịch sử, coi môn lịch sử chỉ là môn phụ Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy và học môn lịch sử Thời đại ngày nay, học sinh hiểu biết nhiều về những trò chơi điện tử, phim viễn tưởng và đặc biệt là biết nhiều lịch sử thế giới hơn là lịch sử Việt Nam Đơn giản là vì các em xem nhiều phim lịch sử dài tập của Trung Quốc, Hàn Quốc với sự dàn dựng công phu , tình tiết phim hấp dẫn, đội ngũ diễn viên trẻ, đẹp Lịch sử nước ta không thiếu những anh hùng hào kiệt, những nhà văn hóa lớn nhưng các bộ phim về những nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử lại rất ít

Chất lượng giảm sút trong dạy học lịch sử đây là một thực tế báo động về

sự lạc hậu về phương pháp dạy học lịch sử cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó Cách dạy học phổ biến hiện nay vẫn rất đơn điệu, thiếu ví

dụ minh họa, sử dụng ít đồ dùng trực quan đặc biệt là lối truyền thụ một chiều, áp đặt đối với học sinh Học sinh học nhiều sự kiện mà vẫn không hiểu, không nắm được bản chất của nó

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém của dạy học lịch sử ở trường phổ thông Ngoài những hạn chế từ phía giáo viên thì việc đổi mới phương pháp, phương tiện dạy học cũng hết sức quan trọng

1.2.2 Thực trạng của việc giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật

Lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 - 2000 là một khóa trình có nhiều sự kiện quan trọng, phản ánh đầy đủ sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao…

Khoa học kĩ thuật là một nội dung được chú trọng nhưng chưa nhiều Trong thời đại ngày nay việc chú trọng nội dung khoa học kĩ thuật trở nên cần thiết Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục học sinh, giúp các em tiếp cận được những thành tựu của

Trang 17

cách mạng tiên tiến Nhân loại đang bước vào nền kinh tế tri thức, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa đã tạo ra những thời cơ và thách thức lớn cho các dân tộc Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển và dần dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Điều đó đòi hỏi giáo viên phải tăng cường nội dung này trong dạy học bộ môn

Một số giáo viên có năng lực, tâm huyết với nghề nghiệp và dạy học ở những môi trường thuận lợi đã cố gáng đi sâu vào các nội dung khoa học kĩ thuật trong dạy học lịch sử Họ đã cố gắng lồng ghép nội dung này vào những thời điểm khác nhau của bài học trên lớp cũng như vận dụng các hình thức hoạt động ngoại khóa khác để khơi gợi sự ham mê, yêu thích tìm hiểu bộ môn nói chung và nội dung về khoa học kĩ thuật nói riêng Tuy nhiên, những cố gắng đó chưa nhiều và chưa đạt được kết quả mong muốn

Phần lớn, do sức ép về thời gian lên lớp có hạn nên nói chung các nội dung môn học chỉ được giảng dạy sơ lược, chưa sâu sắc Các nội dung khoa học kĩ thuật cũng chỉ được nhắc đến một cách chung chung – đề cập nhanh Học sinh không nắm vững nội dung, không ghi nhớ những nhân vật, những nhà phát minh, nhà khoa học…Điều đó làm giảm sút hứng thú học tập của học sinh, không tạo hiệu quả giáo dục cao, toàn diện Vấn đề đặt ra là trong những điều kiện sư phạm hiện nay, cần phải tìm ra những giải pháp để nang cao chất lượng dạy học lịch sử Đối với những khóa trình đặc thù, ví dụ phần Lịch sử thế giới hiện đai từ 1945 - 2000 có nhiều nội dung khoa học kĩ thuật thuật thì cần biết cách khai thác nội dung và chỉ ra phương pháp, biện pháp tối

ưu để giảng dạy chúng có hiệu quả nhất

Trang 18

Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG KHOA HỌC KĨ THUẬT CẦN KHAI THÁC TRONG KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ

1945 – 2000

2.1 Vị trí, ý nghĩa của khóa trình

Chương trình lịch sử (Lớp 12, Ban cơ bản) gồm 2 phần: Lịch sử thế giới

và lịch sử Việt Nam Trong đó phần Lịch sử thế giới gồm có 6 chương và 11 bài

Phần một: Lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 đến 2000

Chương I: Sự hình thành trật tự thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945- 1949)

Bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945- 1949)

Chương II: Liên Xô và các nước Đông Âu (1945- 1991) - Liên bang Nga (1991- 2000)

Bài 2: Liên Xô và các nước Đông Âu( 1945- 1991)

Chương III: Các nước Á, Phi, Mĩ la tinh (1945- 2000)

Bài 3: Các nước Đông Bắc Á

Bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ

Bài 5: Các nước Châu Phi và châu Mĩ la tinh

Chương IV: Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản ( 1945- 2000)

Bài 6: Nước Mĩ

Bài 7: Tây Âu

Bài 8: Nhật Bản

Chương V: Quan hệ quốc tế ( 1945- 2000)

Bài 9: Quan hệ quốc tế trong và sau thời kỳ chiến tranh lạnh

Chương VI: Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa

Trang 19

Bài 10: Cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỷ XX

Bài 11: Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 - 2000

Đây là một khóa trình với những vấn đề quan trọng tái hiện những biến động của nhân loại: chiến tranh kết thúc, sự bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ… Những biến động đó ảnh hưởng không nhỏ đến lịch sử các dân tộc trên thế giới cũng như có tác động sâu sắc đến Việt Nam đặc biệt là khi xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa phát triển mạnh mẽ

Khóa trình lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 - 2000 có nhiều nội dung phong phú, diễn biến phức tạp với nhiều biến động và thay đổi to lớn Đáp ứng được thực tế dạy học lịch sử và đặc điểm nhận thức của học sinh cuối cấp, chương trình sách giáo khoa đã lựa chọn nội dung, xác định những vấn

đề cơ bản đưa vào chương trình nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết toàn diện về bước phát triển của xã hội loài người và thời hiện đại

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mở ra một giai đoạn mới của lịch

sử thế giới hiện đại Trong lịch sử thế giới hiếm có giai đoạn nào như giai đoạn nửa sau thế kỷ XX mà loài người mới trải qua Chỉ trong vòng nửa thế

kỷ, tình hình thế giới đã thật sự sôi động với bao diễn biến dồn dập, đem lại những thay đổi to lớn và cả những đảo lộn đầy bất ngờ

2.2 Nội dung chủ yếu của khóa trình

Một là, sau chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới mới đã được

xác l ập Đó là trật tự hai cực Ianta với đặc trưng nổi bật là thế giới bị chia

thành hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa do hai siêu cường là Mĩ

và Liên Xô đứng đầu mỗi phe Đặc trưng hai cực – hai phe đó là nhân tố hàng đàu chi phối nền chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế trong phần lớn thời gian nửa sau thế kỷ XX

Hai là, với thắng lợi của các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở

các nước Đông Âu chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước, trở

Trang 20

thành h ệ thống thế giới Thắng lợi của cách mạng Việt Nam (1945); cách

mạng Trung Quốc (1949) và cách mạng Cuba (1959) đã mở rộng không gian địa lý của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Một rải đất rộng lớn trải dài từ phía đông Châu Á qua Liên bang Xô Viết tới gần phía đông châu Âu và lan sang vùng biển Caribe thuộc khu vực Mỹ Latinh Trong nhiều thập niên, hệ thống chủ nghĩa đã trở thành một lực lượng hùng hậu về chính trị, quân sự và kinh tế, chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao của khoa học kĩ thuật thế giới

Do những sai lầm nghiêm trọng trong đường lối, chính sách và sự chống phá của các thế lực đế quốc, phản động quốc tế, chế độ xã hội đã tan rã ở các nước Đông Âu (vào cuối những năm 80) và Liên bang Xô Viết (1991) Đây là một tổn thất nặng nề của phong trào cộng sản và hong trào công nhân quốc tế,

để lại những hậu quả nghiêm trọng cho cuộc đấu tranh của các dân tộc vì hòa bình, ổn định, độc lập, chủ quyền và tiến bộ xã hội

Ba là, ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai, “một cao trào giải phóng

dân t ộc giấy lên mạnh mẽ” ở các nước Á, Phi, Mĩ latinh Hệ thống thuộc địa

và chế độ phân biệt chủng tộc (Apacthai) kéo dài từ nhiều thế kỷ đã bị sụp đổ hoàn toàn Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử đã dẫn đến sự ra đời của hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi Bản đồ chính trị thế giới có những biến đổi to lớn và sâu sắc Các quốc gia độc lập ngày càng tích cực tham gia và có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị thế giới với ý chí chống chủ nghĩa thực dân, vì hòa bình thế giới, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Sau khi giành được độc lập nhiều nước Á, Phi, Mĩ latinh đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh

tế - xã hội trong công cuộc xây dựng đất nước

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân bản đồ chính trị của các nước Á, Phi,

Mĩ latinh cũng còn không ít những mảng ảm đạm với các cuộc xung đột, chia

rẽ kéo dài và cả những cuộc cải cách kinh tế - xã hội chưa mấy thành công

Bốn là, nửa sau thế kỷ XX, hệ thống đế quốc chủ nghĩa đã có những biến

chuyển quan trọng

Trang 21

+ Từ sau chiến tranh,Mĩ vươn lên trở thành đế quốc giàu mạnh nhất Với sức mạnh kinh tế, tài chính và quân sự vượt trội giới cầm quyền Mĩ đã ráo riết thực hiện các chiến lược toàn cầu nhằm thống trị thế giới, đã dính líu và can thiệp vào nhiều nơi trên thế giới Nhưng Mĩ cũng chấp nhận không ít thất bại, tiêu biểu là thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 - 1975) + Nhờ có sự tự điều chỉnh kịp thời, nền kinh tế các nước tư bản đã tăng cường khá liên tục, đưa lại những thay đổi về chất trong cơ cấu cũng như xu hướng phát triển và hình thành nên các trung tâm kinh tế lớn của thế giới + Dưới tác động to lớn của cách mạng khoa học kĩ thuật, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, các nước tư bản ngày càng có xu hướng liên kết kinh tế khu vực Tiêu biểu là sự ra đời và phát triển trong hơn

40 năm qua của cộng dồng kinh tế châu Âu (EEC) mà ngày nay là liên minh châu Âu (EU) Mĩ, EU, Nhật Bản đã trở thành ba trung tâm kinh tế lớn của thế giới

Năm là, so với các giai đoạn lịch sử thế giới trước đây chưa bao giờ các

quan hệ quốc tế được mở rộng và đa dạng như trong nửa sau thế kỷ XX Những nét nổi bật của quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai là: Tình trạng đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường hai phe mà đỉnh cao là tình trạng chiến tranh lạnh kéo dài tới hơn 4 thập niên

Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia trên thế giới vẫn cùng tồn tại hòa bình, vừa đấu tranh, vừa hợp tác Cả hai siêu cường cũng như các nước khác đều có

ý thức về những hiểm họa khủng khiếp không lường hết được của một cuộc chiến tranh hạt nhân Hơn thế nữa, ý chí đấu tranh giữ gìn nền hòa bình của các dân tộc đã được đề cao hơn bao giờ hết, bởi họ vừa mới trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới chỉ trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ Cuối cùng, chiến tranh lạnh chấm dứt, thế giới chuyển dần sang xu thế hòa dịu, đối thoại, hợp

tác và phát triển Nhưng rõ ràng, đó đây vẫn còn những “di chứng” của chiến

Trang 22

tranh lạnh với nguy cơ bùng nổ các cuộc xung đột do những mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo và tranh chấp lãnh thổ

Sáu là, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, một cuộc cách mạng khoa học

kĩ thuật (vào đầu những năm 70 được gọi là cuộc cách mạng công nghệ) đã diễn ra với quy mô, nội dung và nhịp điệu chưa từng thấy cùng với những hệ quả về nhiều mặt là vô cùng to lớn Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại là khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đáp ứng những đòi hỏi mới về công cụ sản xuất, những nguồn năng lượng mới và những vật liệu mới của cuộc sống ngày càng có chất lượng cao Mặt khác, cách mạng khoa học kĩ thuật đã đặt ra trước các dân tộc nhiều vấn

đề cần phải giải quyết như việc đào tạo con người, cho nguồn nhân lực chất

lượng cao của thời đại “văn minh trí tuệ” Vấn dề bảo vệ môi trường sinh thái

trên Trái Đất và cả trong vũ trụ, sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Trong sự phát triển của cách mạng khoa học kĩ thuật, xu thế toàn cầu hóa

đã diễn ra như một làn sóng nhanh ra toàn thế giới Có thể nói xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi các quốc gia phải có lời giải đáp và sự thích ứng để vừa kịp thời, vừa khôn ngoan nắm bắt thời cơ, tránh việc bỏ lỡ cơ hội và tụt hậu

2.3 Các kiến thức khoa học kĩ thuật cần giảng dạy trong khóa trình Bài 2: Liên Xô và các nước Đông Âu (1945 - 1991) - Liên bang Nga

(1991-2000)

 Liên Xô:

- Khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng:

Năm 1949 Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử Bom nguyên

tử là loại bom dùng nguyên lý phản ứng tan vỡ của hạt nhân nguyên nặng, phóng ra năng lượng lớn, có sức sát thương và phá hoại mạnh gấp nhiều lần

bom thông thường [16;70,71]

+ Năm 1949 Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử

Trang 23

Với việc chế tạo thành công bom nguyên tử Liên xô đã phá võ thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ (Vũ khí nguyên tử năm 1945 Mĩ thử thành công bom nguyên tử →độc quyền)

+ Từ năm 1950 đến nửa đầu những năm 70 Liên Xô đã trở thành cường quốc công nghiệp thứ hai trên thế giới Đi đầu trong công nghiệp vũ trụ, công nghiệp điện hạt nhân

- Từ những năm 50 đến nửa đầu những năm 70 Liên Xô trở thành cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới

Sản lượng công nghiệp của Liên Xô chiếm 20% sản lượng công nghiệp toàn thế giới Đi đầu trong các ngành công nghiệp vũ trụ: là ngành công nghiệp chế tạo các loại thiết bị khám phá những bí ẩn của khoảng không gian nơi chứa các thiên hà

+ 1957: Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo

- Năm 1957: Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo Vệ tinh nhân tạo là loại khí cụ bay trong vũ trụ được đưa vào quỹ đạo quanh một hành tinh (Trái Đất) hay quay quanh một vệ tinh thiên nhiên (Mặt trăng) do con người

chế tạo [16;1073]

+ 1961: Phóng tàu vũ trụ

- Năm 1961: Liên Xô phóng thành công “tàu vũ trụ” Tàu vũ trụ là một

phương tiện vận tải dùng để bay trong vũ trụ [16;861] Với việc phóng

thành công tàu vũ trụ đã đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin bay vòng quanh Trái Đất, mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người

Bài 3: Các nước Đông Bắc Á

- Khoa học kĩ thuật: Bom nguyên tử

- Đây là loại bom dùng nguyên lý tan vỡ của hạt nhân nguyên tử, phóng

ra năng lượng lớn có sức sát thương và phá hoại gấp nhiều lần so với bom thông thường Năm 1964 Trung Quốc thử thành công bom nguyên tử Chương trình thám hiểm không gian được thực hiện từ năm 1992 Từ tháng

Trang 24

11/1999 đến 3/2003 Trung Quốc đã phóng 4 con tàu “Thần Châu” với chế độ

tự động và ngày 15/10/2003, con tàu “Thần Châu 5” cùng nhà du hành vũ trụ

Dương Lợi Vĩ đã bay vào không gian vũ trụ Sự kiện này đưa Trung Quốc trở thành quốc gia thứ 3 trên thế giới (sau Nga, Mĩ có tàu cùng với con người bay vào vũ trụ)

- Ngày 16/10/1964 Trung Quốc đã thành công trong cuộc thử nghiệm vụ

nổ bom nguyên tử đầu tiên Tiếp đó ngày 17/06/1965 lại thành công trong việc nghiên cứu bom khinh khí, mở đường cho Trung Quốc trở thành cường quốc hạt nhân

Ngày 24/02/1970 Trung Quốc đã thử thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên, đến nay Trung Quốc đã phóng 30 vệ tinh nhân tạo các loại, trng đó có 7

vệ tinh nghiên cứu khoa học, 7 vệ tinh nghiên cứu kĩ thuật, 16 vệ tinh ứng dụng Về số lượng vệ tinh, Trung Quốc đứng hàng thứ 4 thế giới [17;31]

Bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ

Ấn Độ + Cách mạng xanh

- Cách mạng xanh: Thuật ngữ dùng để chỉ những cải tiến to lớn trong

nông nghiệp, đưa dến sự tiến bộ trong việc tăng sản lượng ngũ cốc Cuộc

“cách mạng xanh” diễn ra vào giữa những năm 60 đến đầu những năm 80 ở

một số nước như Ấn Độ, Pakixtan, Mê hi cô… Bắt đầu từ những năm 80 nhân loại đang bước vào giai đoạn 2 của cuộc cách mạng xanh hay còn gọi là

“chương trình nông nghiệp toàn cầu” nhằm tập trung vào phát triển, lai tạo

các giống mới có năng suất cao, xây dựng hệ thống tưới tiêu hiện đại, tăng luân canh và tìm ra nhiều loại hóa chất mới đảm bảo cho cây trồng phát triển

và bảo vệ môi trường sinh thái [11;66] Nhờ tiến hành cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp mà từ giữa những năm 70 của thế kỷ XX, Ấn Độ đã tự túc được lương thực và từ năm 1995 là nước xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới

Trang 25

Cũng trong những năm 70, Ấn Độ đã sử dụng năng lượng hạt nhân vào sản xuất điện Trong những năm 80, Ấn Độ đứng hàng thứ 10 trong những nước sản xuất công nghiệp lớn nhất thế giới Ấn Độ đã chế tạo được máy móc, thiết bị ngành dệt, hóa chất máy bay, tàu thủy, đầu máy xe lửa, tivi màu

+ Công nghệ phần mềm

Ấn Độ cũng có những bước tiến nhanh chóng và hiện nay đang cố gắng vươn lên hàng các cường quốc về công nghệ phần mềm (Công nghệ phần mềm là các phương pháp gia công chế tạo các chương trình được sử dụng trên máy tính điện tử)

+ Công nghệ hạt nhân: Các phương pháp gia công, chế tạo làm thay đổi

trạng thái, tính chất phần trung tâm của nguyên tử, nơi tập trung hầu hết khối lượng mang điện tích dương, phục vụ cho mục đích của con người

+ Công nghệ vũ trụ: Các phương pháp gia công, chế tạo những thiết bị

để khám phá những bí ẩn của không gian nơi chứa các thiên hà

+ Công nghệ chất xám: Chỉ trí thức, tri tuệ, óc sáng tạo Với cuộc “cách

m ạng chất xám” đã đưa Ấn Độ trở thành một cường quốc sản xuất công nghệ

phần mềm lớn nhất thế giới

Không những thế, năm 1974 Ấn Độ thử thành công bom nguyên tử Năm 1975 phóng thành công vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo Trái Đất bằng tên lửa của mình Đến năm 2002 Ấn Độ đã có 7 vệ tinh nhân tạo hoạt động trong

vũ trụ

Bài 6: Nước Mĩ

Nước khởi đầu cách mạng khoa học kĩ thuật và đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới

+ Máy tính điện tử: Máy tính làm bằng các thiết bị điện tử để giải các

bài toán theo chương trình [16;296]

Trang 26

+ Máy tự động: Vật được chế tạo gồm nhiều bộ phận phức tạp dùng để

thực hiện chính xác hay hành loạt một công việc chuyên môn nào đó, nó sẽ tự động thực hiên theo yêu cầu của con người

+ Vật liệu mới: Những vật liệu dùng để làm cái gì đó mới được phát

hiện Ví dụ: Pôlime: Là hợp chất có khối lượng phân tử cao do nhiều mônôme tạo thành dùng để chế tạo chất dẻo, cao su, sợi tổng hợp

+ Năng lượng mới: Tổng thể sức mạnh tạo nên bởi hoạt động của con

người: sức kéo của súc vật, hoặc do các chất đốt (than đá, dầu mỏ), sức chảy của nước, của gió, mặt trời…cần thiết cho lao động sản xuất và đời sống

- Từ năm 1991- 2000 về khoa học kĩ thuật, Mĩ vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ Tính chung, Mĩ chiếm tới 1/3 số lượng bản quyền, phát minh, sáng chế của toàn thế giới

→ Với sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học kĩ thuật vượt trội Trong

bối cảnh Liên Xô tan rã Mĩ muốn thiết lập một trật tự thế giới “đơn cực” trong

đó Mĩ là siêu cường duy nhất, đóng vai trò lãnh đạo Tuy nhiên, thế giới không bao giờ chấp nhận một trật tự do Mĩ đơn phương sắp đặt và chi phối

Bài 7: Tây Âu

- Áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật và trở thành trung tâm kinh tế tài

chính của thế giới

- Nhờ áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm

Đầu thập kỷ 70, Cộng hòa Liên bang Đức là cường quốc công nghiệp đứng thứ 3; Anh đứng thứ 4 và Pháp đứng thứ 5

Giữa thập kỷ 90, 15 nước trong EU thành lập 1993 Tây Âu chiếm 1/3 tổng sản phẩm công nghiệp thế giới

Trang 27

Bài 8: Nhật Bản

- Phát triển “thần kỳ” về khoa học công nghệ trở thành siêu cường kinh

tế, một trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới

- Sau chiến tranh thế giới thứ hai chứng kiến sự phát triển thần kỳ về khoa học- công nghệ của Nhật Bản Nhật Bản đã vươn lên thành một siêu cường kinh tế, một trung tâm kinh tế, tài chính của thế giới Chính phủ Nhật Bản đã xây dựng hàng trăm viện nghiên cứu về các ngành khoa học kĩ thuật chủ yếu tập trung đi sâu vào các ngành công nghiệp dân dụng và phục vụ mục tiêu dân dụng (khác một số nước chuyên đi sâu vào công nghiệp quân sự và chinh phục vũ trụ) Nhật Bản luôn tìm cách đẩy nhanh sự phát triển bằng cách mua phát minh sáng chế Tính đến năm 1968, Nhật Bản đã mua phát minh sáng chế của nước ngoài trị giá tới 6 tỉ USD Nhưng nếu tự nghiên cứu

sẽ phải chi tiêu tới 200 tỉ USD = 1/3 tổng số tư bản tích lũy cố định trong thời gian này

Hiện nay, Nhật Bản đã được xếp vào một số quốc gia đứng đầu về trình

độ phát triển khoa học kĩ thuật đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp dân dụng Nhật Bản đã đạt được những thành tựu kì diệu về khoa học kĩ thuật: hoàn thành đường ngầm dưới biển dài 53,8km nối liền 2 đảo Hônsu và Hôccaiđô, xây dựng chiếc cầu đường bộ dài 9,4 km nối liền hai đảo Xicôcư với Hônsu Xây dựng các trung tâm công nghiệp, các thành phố mới trên mặt biển (lấn

biển), đóng những tàu chở dầu 1 triệu tấn [20;71]

Tính đến 1992, Nhật Bản đã phóng 49 vệ tinh khác nhau và hợp tác có hiệu quả với Mĩ, Liên Xô (sau này là Liên bang Nga) trong các chương trình

vũ trụ quốc tế

Trang 28

Bài 10: Cách mạng khoa học công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa nửa

Bước sang nền sản xuất hiện đại do nhu cầu sinh hoạt của con người ngày càng nâng cao, phức tạp, những yêu cầu về kĩ thuật và sản xuất lại càng được đặt ra một cách gay gắt và bức thiết hơn bao giờ hết Nhất là trong tình hình bùng nổ dân số thế giới và các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới thứ hai

+) Do những đòi của cuộc sống con người ngày càng cao nhất là trong bối cảnh dân số ngày càng tăng mà nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng vơi cạn thì việc tìm tòi, sáng chế ra những công cụ sản xuất mới, có kĩ thuật, năng suất cao, những nguồn năng lượng mới, những vật liệu mới để thay thế được đặt ra một cách bức thiết đòi hỏi cách mạng khoa học phải giải quyết +) Những thành tựu về khoa học kĩ thuật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng tạo tiền đề và thúc đẩy sự bùng nổ của cách mạng khoa học kĩ thuật

Trang 29

hiện đại Sự ra đời của lý thuyết nguyên tử hiện đại mà trung tâm chú ý của các nhà khoa học là nguyên tử và cấu trúc bên trong của nó

+) Cuộc sống của con người trên Trái Đất gắn bó chặt chẽ với những hiện tượng tự nhiên: bão, gió, lũ lụt, động đất…Để lợi dụng những thuận lợi, khắc phục những khó khăn, hạn chế tác hại của thiên nhiên đối với sản xuất

và đời sống Con người buộc phải nghiên cứu, tìm hiểu những khoảng không

vũ trụ, những hành tinh khác và nhứng hiện tượng của thiên nhiên

+) Để phục vụ cho tiến hành chiến tranh thế giới thứ hai, các bên tham chiến buộc phải nghĩ đến việc giải quyết tính cơ động, các phương tiện thông tin, liên lạc và chỉ huy, sản xuất ra những vũ khí có tính năng tàn sát và sát thương lớn…Cũng vì thế cả hai phía tham chiến phải đi sâu vào nghiên cứu khoa học kĩ thuật Và cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện nay được mở đầu bằng những phát mỉnh ra đa, hỏa tiến, bom nguyên tử…vào nửa đầu những năm 40 nhằm phục vụ cho chiến tranh

+) Từ năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng nổ ra Nhưng thực sự đó là sự khởi đầu cho một cuộc khủng hoảng chung đối với cả thế giới trên nhiều mặt chính trị, kinh tế, tài chính…Từ khủng hoảng, một loạt vấn đề bức thiết được đặt ra mà trước hết là các quốc gia phải quan tâm và đi sâu hơn nữa vào cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, ưu tiên kĩ thuật công nghệ Cách mạng này phải đi từ chiều rộng sang chiều sâu để thoát khỏi khủng hoảng và tiếp tục phát triển

+ Đặc điểm

- Khác cách mạng công nghiệp (cách mạng khoa học kĩ thuật lần 1) nội

dung chủ yếu là cơ khí hóa Cách mạng khoa học kĩ thuật kĩ thuật lần 2 có nội dung phong phú hơn và phạm vi rộng lớn hơn nhiều Nó diễn ra trong lĩnh

vực khoa học cơ bản gồm toán học, vật lí học, hóa học, sinh vật học Khoa học cơ bản đã tạo cơ sở lý thuyết cho các khoa học khác và là nền móng của tri thức Ngoài khoa học cơ bản ra, cuộc cách mạng kho học kĩ thuật đã và

Trang 30

đang nghiên cứu phát minh ra nhiều ngành khoa học mới khác như: khoa học

vũ trụ và khoa học du hành vũ trụ, những ngành mới về nguyên tắc của khoa học tự nhiên gắn liền với kĩ thuật mới

Nội dung chủ yếu của cuộc cách mạng khoa hoc kĩ thuật là sự tự động hóa cao độ Bằng cách sử dụng máy tính điện tử, hiện đại hóa kĩ thuật

và sản xuất trên cơ sở những phát minh khoa học mới nhất, sử dụng những nguồn năng lượng mới nhất, những vật liệu mới, công cụ sản xuất mới, tấn công vào lòng các đại dương, đi sâu vào lòng đất nghiên cứu bí mật của sự sống, thám hiểm thế giới vô cùng nhỏ của hạt nhân nguyên tử đồng thời đi sâu vào vũ trụ bao la

- Khác với cách mạng khoa học kĩ thuật lần 1, cách mạng khoa học kĩ

thuật lần 2 gọi là cách mạng khoa học kĩ thuật bởi mọi phát minh kĩ thuật đều

b ắt nguồn từ nghiên cứu khoa học

Các phát minh kĩ thuật của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần 1: máy hơi nước máy phát điện, nhà máy điện… chủ yếu bắt nguồn từ những cải tiến

kĩ thuật Và những phát minh không phải là các nhà khoa học mà đều là người lao động trực tiếp (Giêm Oát phát minh ra máy hơi nước )

→ So với cách mạng lần 1, những phát minh của cách mạng kĩ thuật lần

2 có nguồn gốc sâu xa hơn nhiều Những phát minh về kĩ thuật bắt nguồn từ nghiên c ứu khoa học, khoa học gắn liên với kĩ thuật, khoa học đi trước kĩ thu ật, mở đường cho kĩ thuật

Đến lượt mình, kĩ thuật lại đi trước, mở đường cho sản xuất Do đó, một đặc điểm lớn của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật thế kỷ XX là khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Ngày nay, khoa học đã tham gia trực tiếp vào sản xuất hàng ngày trở thành nguồn gốc chính của những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ hàng ngày

Trong cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật ngày nay, người ta dễ dàng nhận thấy thời gian từ phát minh khoa học đến ứng dụng vào sản xuất và thời

Trang 31

gian đổi mới công nghệ ngày càng rút ngắn Trong những thế kỷ trước, thời gian từ phòng thí nghiệm đến thực tế sản xuất thường rất dài Ví dụ: Từ khi đề

ra nguyên lý máy cho đến khi xuất hiện chiếc máy ảnh đầy tiên phải mất hơn

100 năm (1829- 1939), đề ra nguyên lý điện thoại trong thực tế mất hơn 50 năm (1820 - 1876) Trong cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện nay, thời gian từ phát minh nguyên lý đến ứng dụng thực tế rút ngắn rất nhiều.Ví dụ như: đối với phát minh Transitor chỉ mất 5 năm (1948- 1953), Lade 2 năm (1960- 1962)

- Một đặc điểm nổi bật nữa của cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại là

hi ệu quả kinh tế ngày càng cao của nghiên cứu khoa học Đầu tư vào khoa

học cho lãi cao hơn so với các ngành khác

→ Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại dẫn đến một hiện tượng mà người ta gọi là “sự bùng nổ thông tin” với vốn kiến thức khoa học, số lượng các tài liệu khoa học và các nhà nghiên cứu khoa học đều tăng lên gấp bội Nhà bác học người Anh là Giônbớtnôn cho rằng cứ 7 năm vốn kiến thức của nhân loại lại tăng lên gấp đôi, nhà khoa học Praixơ cho là 10 năm Bình quân 10 năm thì số nhà bác học tăng gấp đôi Một nửa số tài liệu khoa học được xuất bản trong toàn bộ lịch sử nhân loại chính là xuất hiện trong vòng 10 - 15 năm trở lại đây



 Thành tựu: Trải qua nửa thế kỷ nhất là từ giữa thập niên 70, cuộc cách

mạng khoa học kĩ thuật đã thu được nhiều thành tựu to lớn và kì diệu trên nhiều lĩnh vực

+ Trước hết, trong lĩnh vực khoa học cơ bản: Con người đã thu được

nhiều thành tựu hết sức to lớn Đánh dấu bước nhảy vọt chưa từng có trong lịch sử các ngành toán, lý, hóa, sinh học…Các nhà khoa họa đã có những phát minh quan trọng như: sóng điện từ, trường điện từ, tia Rơnghen và hiện tượng phóng xạ Sự phân chia của nguyên tử, bản chất hạt sóng của ánh sáng, khởi

Trang 32

thảo thuyết lượng tử và thuyết tương đối học Tìm ra những định luật và định

lý mới về toán học, lý học và sinh vật học

Toán học đã có nhiều phát minh lớn , phát triển thành nhiều ngành riêng biệt, đang ngày càng thâm nhập vào các ngành khác và tạo thành quá trình toán học hóa khoa học (không những trong khoa học tự nhiên mà cả trong khoa học kinh tế và khoa học xã hội và nhân văn)

Hóa học đang có những thành tựu to lớn, đang tạo ra sức mạnh tổng hợp tác động vào kĩ thuật và sản xuất, mở ra những phương pháp hoàn toàn mới

để sản xuất những “vật liệu hóa học” mà những vật liệu này có nhiều ưu việt hơn so với vật liệu tự nhiên (như: siêu cứng, siêu bền, siêu dẫn, siêu sạch…)

và đặc biệt nó sẽ thay thế vật liệu tự nhiên đang bị cạn kiệt dần dần Trên ý nghĩa đó một sô nhà bác học nhận định rằng “tương lai thuộc về những vật liệu hóa học”

Với những phát minh mới về lý thuyết hạt nhân, sóng điện từ, trường từ điện, hiện tượng phóng xạ vật lý học đã góp phần quan trọng trong sản xuất những công cụ mới, vật liệu mới, nguồn năng lượng nguyên tử và những phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc hết sức hiện đại

Cuộc cách mạng trong sinh học đã dẫn đến cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp và sự ra đời của công nghệ sinh học Công nghệ sinh học là tổng thể nói chung những phương pháp công nghiệp dùng những cơ thể sống và những quá trình sinh học để sản xuất những sản phẩm sinh học cần thiết cho nền kinh tế quốc dân Bao gồm: công nghệ sinh hóa, y và dược sinh hóa, công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp sinh học chống ô nhiễm và bảo vẹ môi trường

Đến những năm 40 của thế kỷ XX trở đi, các nhà bác học đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực này

Trang 33

Năm 1944: Evơri và Mắccacsti, Mắclêốt đã xác minh rằng chất truyền đặc tính di truyền chính là một loại Axit Đêzôxiribô Nucleic (viết tắt là AND)

Năm 1953: Nhà bác học người Anh Cric và nhà sinh vật người Mĩ Oatxơn đã tìm ra cấu trúc theo hai chuỗi hình xoắn ốc của AND Nhà vật lý người Anh Uynkin đã chụp được những bức ảnh rõ ràng về cấu trúc giống như tinh thể Có thể nói rằng, năm 1953 năm phát minh ra cấu trúc xoắn đôi của AND, cũng là năm khai sinh ra ngành sinh vật học mới: sinh vật phân tử Những thành tựu nổi bật của ngành sinh vật học phân tử là việc tổng hợp axitribônucleic (ARN) do nhà sinh hóa học Tây Ban Nha Osoa tiến hành vào năm 1955 Và việc tổng hợp AND do nhà sinh hóa Mĩ Coocsbe đảm nhiệm Năm 1965 nhà sinh hóa người Mĩ là Nirenbe đã vạch bức màn bí mật của mã

Sự kiện gây chấn động lớn trong dư luận thế giới là tháng 3/ 1997 các

nhà khoa học đã tạo ra được con cừu Đôli bằng phương pháp sinh sản vô tính

từ một tế bào lấy từ tuyến vú của một con cừu đang có thai

Tháng 6/2000 sau 10 năm hợp tác nghiên cứu, các nhà khoa học của các nước Anh, Pháp, Mĩ, Đức và Nhật Bản, Trung Quốc đã công bố “bản đồ gien người”

Trang 34

Đến tháng 4/ 2003 “Bản đồ gien người” mới được giải mã hoàn chỉnh

→ Những thành tựu này đã mở ra một kỉ nguyên mới trong y học và sinh học với những triển vọng lớn Đẩy lùi bệnh tật và tuổi già Tuy nhiên, những thành tựu này lại gây nên những lo ngại về mặt pháp lý và đạo lý như công nghệ sao chép con người hay thương mại hóa công nghệ cao

+ Thứ hai, trong lĩnh vực công nghệ, đã xuất hiện những phát minh lớn

v ề công cụ sản xuất mới Trong đó có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là sự ra

đời của máy tính điện tử, máy tự động và hệ thống máy tự động Người máy (rô bốt) ngày càng được sử dụng rộng rãi, thay thế con người trong nhiều việc nguy hiểm, phức tạp

Máy tính điện tử ra đời đầu tiên ở Mĩ vào năm 1946 chạy bằng đèn điện

tử chân không, làm được vài nghìn phép tính trong một giây Thế hệ hai của máy tính ra đời vào thập niên 60, sử dụng bóng bán dẫn (transitor) Thế hệ thứ

3 ra đời vào những năm 70, kích thước thu gọn bằng cái tủ, làm được hàng triệu phép tính trong một giây

Sau thập niên 80, người ta chế tạo ra các mạch lớn và cực lớn, có sức chứa từ 10 vạn đến trên 1 triệu transitor trong mạch Nhờ vậy thế hệ máy tính thứ 4 đã ra đời Trong những năm 90 người ta đã tích cực triển khai thế hệ máy tính thứ 5 giúp con người trong suy luận thông minh

Từ chiếc máy tính điện tử đầu tiên (ra đời năm 1946) đến nay máy tính

đã cho phép con người có thể giải được hàng triệu, hàng chục triệu phép tính trong một giây Sự ra đời của máy tính điện tử đã dẵn tới tự động hóa quá

trình sản xuất, nghĩa là máy tự động và hệ thống máy tự động không chỉ “làm

vi ệc” thay con người mà còn có thể “nghĩ” và “giải quyết” thay con người Các nhà khoa học còn sáng tạo ra “người máy” (rô bốt) và ngày nay rô

bốt đã đảm nhận những công việc mà con người không thể làm được hay không nên làm Rôbốt trèo tường, lau cửa sổ ở những tòa nhà cao chọc trời, rô

Trang 35

bốt lặn sâu xuống đại dương tới 6000 - 7000 mét, rô bốt làm việc trong các nhà máy điện nguyên tử ở những bộ phận dễ bị nhễm xạ…

Ngoài ra, còn hàng loạt những công cụ mới với tính năng hết sức hiện đại được con người sáng chế nhằm phục vụ cho sản xuất trong tất cả các ngành công nghiệp và xây dựng

+ Thứ ba, trong tình hình nguồn năng lượng thiên nhiên (than, dầu mỏ )

đang vơi cạn dần và trở nên khan hiếm một cách đáng lo ngại thì con người

đã tìm ra được những nguồn năng lượng mới hết sức phong phú, vô tận: năng lượng nguyên tử, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng gió…trong đó năng lượng nguyên tử và năng lượng mặt trời đang dần dần được sử dụng một cách phổ biến Và trong thời gian không xa nó sẽ thay thế dần dần nguồn nhiệt điện

và thủy điện

Vào những năm 1945, bom nguyên tử đã ra đời ở Mĩ Năm 1954, Liên

Xô xây dựng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới, mở đầu thời đại

sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình Từ đó, năng lượng nguyên tử phát triển hết sức nhanh chóng Dự kiến đến năm 2000, hơn một nửa sản lượng điện trên thế giới sẽ là điện nguyên tử

Nguồn năng lượng nhiệ hạch được tạo thành khi hai hạt nhân đôtêri (hydro nặng) và triti (hydro siêu nặng) kết hợp với nhau tạo thành hạt nhân heri, đồng thời phóng ra nơtron và phóng ra một năng lượng lớn, năng lượng này được gọi là năng lượng nhiệt hạch Việc khống chế nguồn năng lượng to

lớn này có ý nghĩa rất lớn mà các nhà khoa học gọi là vấn đề “điều khiển phản ứng nhiệt hạch” Hiện nay, vấn đề điều khiển phản ứng nhiệt hạch đang được

nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới (Mĩ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung quôc, Thụy Sĩ, Nga…) Các nhà khoa học dự kiến rằng vấn đề điều khiển phản ứng nhiệt hạch nó có thể giải quyết về nguyên lý trong phòng thí nghiệm vào khoảng những năm 2000, sau đó sẽ xuất hiện các lò phản ứng nhiệt hạch thí

Trang 36

nghiệm Tiếp theo vào nửa cuối thế kỷ XXI, năng lượng nhiệt hạch sẽ được

sử dụng phổ biến, lúc ấy loài người sẽ có một nguồn năng lượng vô tận

Năng lượng mặt trời (còn được gọi là chất đốt “cao thượng”) không

những góp phần giải quyết nạn khủng hoảng năng lượng mà còn giải thoát thế giới khỏi sự đe dọa của nạn ô nhiễm môi trường, một vấn đề có ý nghĩa lớn đối với tương lai của nhân loại

Hiện nay, việc sử dụng năng lượng mặt trời trên thế giới theo nhiều phương hướng Phương pháp đơn giản nhất là lợi dụng hiệu ứng lồng kính Phương hướng thứ hai của việc hội tụ ánh sáng mặt trời là nhà máy nhiệt điện

sử dụng năng lượng mặt trời Ở Acmênia, các nhà bác học đã xây dựng nhà máy điện mặt trời thử nghiệm gồm 1300 tấm gương Từ nhiều năm nay, người ta đã dùng các tấm pin mặt trời để chế tạo những nguồn điện công suất nhỏ dùng cho các đài vô tuyến điện, vô tuyến truyền hình, trạm khí tượng, trạm điện thoại nông thôn… Năm 1966 chiếc máy bơm chạy bằng năng lượng mặt trời đã được chế tạo ở Xênêgan

Trong tương lai không xa, có thể xuất hiện quanh Trái Đất những vệ tinh nhân tạo mang những tấm pin mặt trời lớn, biến năng lượng mặt trời thành điện năng và truyền về Trái Đất bằng sóng viba Các nhà máy điện Mặt trời

vũ trụ này có thể làm việc một ngày suốt 24 giờ

Ở nhiều nước người ta đã chú ý tới sử dụng “năng lượng địa nhiệt” sớm nhất là nước Italia (1904) Hiện nay Italia có nhà máy địa nhiệt lớn nhất thế giới với công suất 350000kw Ở Băng Đảo người ta lấy nước nóng từ lòng đất lên để sưởi ấm và cung cấp cho các nhà kính trồng hoa quả về mùa đông

Do sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời, nước thủy triều ngày lên xuống hai lần Người ta đã lợi dụng hiện tượng này để sản xuất ra năng lượng đó là năng lượng thủy triều gấp 100.000 lần công suất toàn bộ của các nhà máy thủy điện trên thế giới Một số thiết bị thủy triều nhỏ đã được xây dựng thí nghiệm ở Anh, Đức, Áchentina, Mĩ Nhà máy điện thủy triều lớn nhất hiện

Trang 37

nay là nhà máy Răngxơ (Pháp) có công suất 240.000kw Ngoài ra, sức gió cũng được con người sử dụng để tạo ra năng lượng Nhà máy điện dùng sức gió lớn nhất hiện nay được xây dựng ở Mixnawm 1941 với công suất 1250kw

Nguồn năng lượng được sử dụng rộng rãi trong y học và kĩ thuật đó chính là Lade Còn gọi là máy phát lượng tử ánh sáng, ra đời vào năm 1960 Kích thước chỉ nhỏ bằng 1 cái bút chì lần đầu tiên phát ra 1 tia sáng kì lạ có

độ sáng gấp 1 tỉ lần độ sáng trên bề mặt Mặt trời có công suất hàng tỉ oát Lade dùng để gắn võng mạc cho hàng vạn người trong vòng không dầy 1 phần nghìn giây Để đo khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt trăng (gần 4 vạn km) với sai số chỉ vài mét, để gia công những vật cứng hơn kim cương, để gây phản ứng nhiệt hạch

→ Nhìn chung, các nguồn năng lượng mới được các nhà khoa học khai thác để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Bởi vì người ta tính rằng cứ 10 năm sản lượng điện trên thế giới tăng lên gấp đôi và cứ như tốc độ phát triển nhanh thì dự tính đến năm 2000 mức tiêu thụ điện trên thế giới tăng lên khoảng 6 lần mức tiêu thụ điện những năm 70

+ Thứ tư, sáng chế những vật liệu mới trong tình hình vật liệu tự nhiên

đang cạn kiệt Từ rong biển, người ta có thể chế tạo ra khoảng 40 loại công nghệ thực phẩm tiêu dùng hàng ngày Đã có thể sản xuất ra các loại thực phẩm như: thịt lợn, thịt gà, thịt bò và nhiều thức ăn hàng ngày một cách hoàn toàn nhân tạo

Con người hiện nay mặc quần áo phần lớn bằng vải sợi nhân tạo Một phương hướng rất lớn của ngành hóa học cao phân tử là chế tạo các chất nhân tạo thay dần các đồ dùng hàng ngày của con người từ trước đến nay vẫn làm bằng gỗ, tre, kim loại… Là những thứ trở nên khan hiếm, cũng như thay thế các vật liệu xây dựng, các vật liệu sử dụng trong công nghiệp Hiện nay, trong đời sống hàng ngày chúng ta được sử dụng khá nhiều chất dẻo (pôlime) như:

Trang 38

vải nilông, chến, cốc bằng pôliêtilen , vật liệu dẻo, nhẹ hơn thép 8 lần nhưng cứng hơn nhôm 2 lần và độ bền cũng hơn hẳn thép Những vật liệu ấy có công dụng rất lớn trong ngành xây dựng Gần đây người ta chế tạo ra chất Têphơtông làm chất cách điện rất tốt (không cháy, không thấm nước, đốt nóng đến 350 độ C hay làm lạnh đến 200 độ C vẫn không sao) Người ta cũng

sử dụng các chất tổng hợp vô cơ cao su nhân tạo đang được sản xuất trên một quy mô lớn và có nhiều đặc tính hơn hẳn cao su thiên nhiên mà giá thành lại

rẻ hơn cao su thiên nhiên

V ề kim loại, cách đây gần 2000 năm con người mới chỉ biết sử dụng 7

thứ kim loại (sắt, chì, kẽm, đồng, vàng, bạc, thủy ngân) Ngày nay, người ta

đã sử dụng trên 80 thứ trong đó có nhôm và titan được mệnh danh là “kim loại của thời đại nguyên tử và vũ trụ”

Nhôm được sử dụng rộng rãi trong đời sống và công nghiệp Năm 1938 muốn sản xuất 1 tấn nhôm cần 21.300 kwh điện Năm 1975 nhờ tiến bộ lớn về

kĩ thuật người ta chỉ cần 14.200kwh

Ti tan là một kim loại hiện nay rất được chú ý trong kĩ thuật hiện đại đặc biệt là trong ngành hàng không vũ trụ Titan có đặc tính rất quý: nhẹ chỉ bằng nửa thép nhưng có độ nóng chảy cao hơn thép Đứng về mặt nguyên tố hóa học, ti tan được phát hiện vào năm 1795 nhưng phải 152 năm sau vào nam

1947, trong công nghiệp mới rèn luyện được những tấn kim loại titan đầu tiên

Vào thập niên 70, các nhà bác học còn chế tạo được những vật liệu siêu

cứng, siêu bền và tìm ra được hiện tượng “siêu dẫn”… chắc chắn những phát

minh này sẽ dẫn đến những ứng dụng thực tế có ý nghĩa to lớn

+ Thứ năm, Cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp, thành quả tổng

hợp của nhiều ngành khoa học dặc biệt là sinh học, hóa học Cuộc cách mạng sinh học đã đưa đến cuộc cách mạng nông nghiệp lần 2 làm cho sản xuất nông

nghiệp phát triển với tốc độ cao và năng suất cao

Trang 39

Chương 3: HÌNH THỨC, MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY NỘI DUNG KHOA HỌC KĨ THUẬT TRONG KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ

THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ 1945 – 2000

3.1 Nguyên tắc, yêu cầu giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật trong khóa trình Lịch sử thế giới hiện đại từ 1945- 2000

3.1.1 Nguyên tắc

3.1.1.1 Nguyên t ắc đảm bảo tính vừa sức

Điều này xuất phát từ thực tế nhiều lúc giáo viên dạy học dẫn đến tình

trạng “quá tải” Chính “quá tải” sẽ dẫn đến những nguyên tắc giáo dục về

đảm bảo tính vừa sức cho học sinh Bởi vậy, nếu không bảm đảo nguyên tắc này sẽ không phát huy được năng lực tư duy, độc lập, sáng tạo của học sinh, làm cho học sinh không chú ý tập trung học tập

Đảm bảo tính vừa sức trong dạy học là phải phù hợp với tất cả đối tượng học sinh, không được quá khó cũng không được quá dễ bởi vì quá trình sư phạm là một chỉnh thể thống nhất Nó thực ra rất phức tạp bởi vì giáo viên phải hướng đến nhiều đối tượng học sinh khác nhau trong cùng một lớp học Mỗi giáo viên đều có những thủ thuật riêng, phương pháp riêng để phát huy tính tích cực của từng đối tượng học sinh của mình Nhưng một điều dễ nhận thấy là trình độ của học sinh trong một lớp học không đồng đều Bên cạnh những học sinh khá giỏi còn có học sinh trung bình, yếu, kém Và dĩ nhiên là trình độ tiếp thu bài của những học sinh này là khác nhau Chính vì vậy bên cạnh một phương pháp tốt điều quan trọng là người giáo viên cần phải biết sử dụng sáng tạo phương pháp ấy trên cơ sở đối tượng học sinh, dựa vào tâm lý lứa tuổi học sinh để có sự vận dụng đúng đắn, phù hợp, đạt kết quả tối đa trong phương pháp dạy học của mình

Mặt khác, lịch sử là một môn khó nên tính vừa sức còn thể hiện ở việc diễn đạt dung từ của giáo viên Diễn đạt câu từ cần phải rõ ràng,chính xác,

Trang 40

không bóng bẩy, mập mờ, khó hiểu Ngôn ngữ trong sáng, tránh gây hiểu lầm đối với học sinh Những kiến thức học sinh cung cấp phải không được quá khó để tránh dẫn tới tình trạng học sinh nghi ngờ về khả năng của mình, dễ nảy sinh tình trạng chán nản trong học tập và đồng thời cũng không quá dễ để học sinh tự mãn, chủ quan trong học tập

Đảm bảo tính vừa sức có nghĩa là cần phải phù hợp với trình độ tiếp thu tri thức mới của học sinh, kích thích, thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của học sinh Phải đảm bảo tuân thủ theo chương trình sách giáo khoa đã được ban hành, biên soạn, phù hợp với yêu cầu và thái độ của học sinh mỗi lớp, mỗi cấp học Giáo viên cần phải tuân thủ cấu truc sách giáo khoa như: tên chương, tên bài, đề mục mà không được chữa, thêm, bớt tên chương, tên bài, tên đề mục Xác định những kiến thức cơ bản nhất mà học sinh cần nắm, hướng dẫn học sinh tự đọc ở nhà, khai thác sách giáo khoa để tiến hành trao đổi, thảo luận theo nhóm hay tự đọc Sau đó dựa vào sách giáo khoa giáo viên củng cố kiến thức, nhấn mạnh hay chốt lại những ý cơ bản nhất yêu cầu học sinh nắm vững

Lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 – 2000 là giai đoạn lịch sử quan trọng, phức tạp không chỉ về nội dung mà trong quan điểm đánh giá Đối với học sinh cấp 3 đặc biệt là học sinh lớp 12, dù khả năng nhận thức tư duy đã phát triển song giáo viên cần phải định hướng sự lựa chọn, sự tiếp cận của học sinh đối với tài liệu cũng như các quan điểm đánh giá trong thời kỳ lịch sử này Có như vậy học sinh mới có thể tiếp cận một cách đúng đắn tri thức lịch sử cũng như có những hiểu biết sâu sắc, làm nền tảng cho quá trình tự nghiên cứu sau này

Đảm bảo tính vừa sức cũng chính là sự tuân theo quy luật khách quan của quá trình nhận thức: từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp…Thực hiện nguyên tắc về tính vừa sức sẽ khắc phục được tình trạng “quá tải” hay “hạ

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Thị Côi, Con đường và biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB ĐHSP, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con "đườ"ng và bi"ệ"n pháp nâng cao hi"ệ"u qu"ả" d"ạ"y h"ọ"c l"ị"ch s"ử ở" tr"ườ"ng ph"ổ" thông
Nhà XB: NXB ĐHSP
[2]. M.N.Sácđacốp, Tư duy của học sinh, NXBGD Hà Nội, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ư" duy c"ủ"a h"ọ"c sinh
Nhà XB: NXBGD Hà Nội
[3]. Đairry, Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào? NXBGD Hà Nội,1973 [4]. M. Alechxeep, Phát triển tư duy học sinh, NXBGD Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu"ẩ"n b"ị" gi"ờ" h"ọ"c l"ị"ch s"ử" nh"ư" th"ế" nào?" NXBGD Hà Nội,1973 [4]. M. Alechxeep, "Phát tri"ể"n t"ư" duy h"ọ"c sinh
Nhà XB: NXBGD Hà Nội
[5]. V- A, GISCARD D’ESTAING (Chủ biên); Đặng Mộng Lân, Nguyễn Hữu Ngọc, Trịnh Trung Thành, Đặng Văn Sử (dịch), Thế giới phát minh Tập 3, NXBKH&KT Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th"ế" gi"ớ"i phát minh T"ậ"p 3
Nhà XB: NXBKH&KT Hà Nội
[8]. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nội dung và phương pháp sử dụng bản đồ sách giáo khoa treo tường (Tập 1), NXBGD, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N"ộ"i dung và ph"ươ"ng pháp s"ử" d"ụ"ng b"ả"n" đồ" sách giáo khoa treo t"ườ"ng (T"ậ"p 1
Nhà XB: NXBGD
[9]. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Phương pháp dạy học Lịch sử Tập I, NXBĐHSP, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp d"ạ"y h"ọ"c L"ị"ch s"ử" T"ậ"p I
Nhà XB: NXBĐHSP
[10]. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Phương pháp dạy học lịch sử Tập II, NXBĐHSP, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp d"ạ"y h"ọ"c l"ị"ch s"ử" T"ậ"p II
Nhà XB: NXBĐHSP
[11]. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Từ điển thuật ngữ lịch sử ở trường THPT, NXB Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ đ"i"ể"n thu"ậ"t ng"ữ" l"ị"ch s"ử ở" tr"ườ"ng THPT
Nhà XB: NXB Hà Nội
[12]. Triệu Quân Lượng, Lý Tất Quang (Chủ biên), Tạ Ngọc Ái (dịch), Thế giới khoa học vũ trụ, NXBVHTT Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th"ế" gi"ớ"i khoa h"ọ"c v"ũ" tr
Nhà XB: NXBVHTT Hà Nội
[13]. Phan Hoàng Minh, Lịch sử văn minh thế giới (những nội dung chính yếu), Khoa Lịch sử trường Đại học Vinh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L"ị"ch s"ử" v"ă"n minh th"ế" gi"ớ"i (nh"ữ"ng n"ộ"i dung chính y"ế"u
[14]. I.F Khalamop, Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, NXBGD, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích c"ự"c h"ọ"c t"ậ"p c"ủ"a h"ọ"c sinh nh"ư" th"ế" nào
Nhà XB: NXBGD
[15]. Vũ Dương Ninh (Chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, NXBGD, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L"ị"ch s"ử" v"ă"n minh th"ế" gi"ớ"i
Nhà XB: NXBGD
[16]. Viện ngôn ngữ học - Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng- Trung tâm từ điển học Hà nội – Đà Nẵng, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ đ"i"ể"n Ti"ế"ng Vi"ệ"t
Nhà XB: NXB Đà Nẵng- Trung tâm từ điển học Hà nội – Đà Nẵng
[18]. Đào Trọng Quang, Đặng Mộng Lân, Ngô Quốc Quýnh, Nguyễn Hữu Tâm (dịch), Con người và những phát minh, NXBGD, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ng"ườ"i và nh"ữ"ng phát minh
Nhà XB: NXBGD
[19]. Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, NXBGD, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L"ị"ch s"ử" th"ế" gi"ớ"i hi"ệ"n "đạ"i
Nhà XB: NXBGD
[21]. Trần Viết Thụ, Chương trình và sách giáo khoa lịch sử ở trường THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch"ươ"ng trình và sách giáo khoa l"ị"ch s"ử ở" tr"ườ
[22]. Trịnh Đình Tùng (Chủ biên), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong Sách giáo khoa lịch sử (Phần lịch sử thế giới), NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: H"ướ"ng d"ẫ"n s"ử" d"ụ"ng kênh hình trong Sách giáo khoa l"ị"ch s"ử" (Ph"ầ"n l"ị"ch s"ử" th"ế" gi"ớ"i
Nhà XB: NXBGD
[23]. Thái Duy Tuyên, Một số vấn đề hiện đại của lý luận dạy học, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M"ộ"t s"ố" v"ấ"n "đề" hi"ệ"n "đạ"i c"ủ"a lý lu"ậ"n d"ạ"y h"ọ"c
[24]. Lê Minh Triết, Từ điển danh nhân khoa học và kĩ thuật thế giới, NXB trẻ TPHCM, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T"ừ đ"i"ể"n danh nhân khoa h"ọ"c và k"ĩ" thu"ậ"t th"ế" gi"ớ"i
Nhà XB: NXB trẻ TPHCM
[25]. Nguyễn Xuân Trường, Sử dụng kiến thức lịch sử thế giới hiện đại trong dạy học lịch sử khóa trình Lịch sử Việt Nam từ 1919-1991 ở trường THPT, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: d"ụ"ng ki"ế"n th"ứ"c l"ị"ch s"ử" th"ế" gi"ớ"i hi"ệ"n "đạ"i trong d"ạ"y h"ọ"c l"ị"ch s"ử" khóa trình L"ị"ch s"ử" Vi"ệ"t Nam t"ừ" 1919-1991 "ở" tr"ườ"ng THPT

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  25  nói  sơ  qua  về  sự  ra  đời  của - Giảng dạy nội dung khoa học kỹ thuật trong khóa trình lịch sử thế giới hiện đại từ 1945   2000(lịch sử 12, ban cơ bản)
nh 25 nói sơ qua về sự ra đời của (Trang 67)
Hình  25  nói  sơ  qua  về  sự  ra  đời  của - Giảng dạy nội dung khoa học kỹ thuật trong khóa trình lịch sử thế giới hiện đại từ 1945   2000(lịch sử 12, ban cơ bản)
nh 25 nói sơ qua về sự ra đời của (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w