1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng tác giả trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ

98 533 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 487 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể tên một số bài viết nghiên cứu về truyện ngắn của chị nh sau: Trên báo Văn nghệ số 43 ra ngày 23/10/1993, Bùi Việt Thắng có bài viết: “Tản mạn về những truyện ngắn của những câ

Trang 1

Bộ giáo dục và đạo tạo Trờng đại học vinh

Cao thị nga

Hình tợng tác giả

Trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ

Chuyên ngành: văn học việt nam

Mã số : 60.22.34

luận văn thạc sĩ ngữ văn

Ngời Hớng Dẫn Khoa Học: TS Hoàng Mạnh Hùng

Vinh 2009

Trang 2

Mục lục

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Phơng pháp nghiên cứu

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn

6.1 Đóng góp

6.2 Cấu trúc

Chơng 1 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ và vấn đề hình tợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội và sự chuyển đổi t duy nghệ thuật của văn xuôi đơng đại

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội thời kì đổi mới

1.1.2 Sự chuyển đổi t duy nghệ thuật của các nhà văn sau 1975

1.2 Vài nét về thể loại truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong thời kì đổi mới

1.2.1 Truyện ngắn và u thế của thể loại

1.2.1.1 Về khái niệm truyện ngắn

1.2.1.2 Ưu thế của truyện ngắn

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong thời kì đổi mới

1.2.2.1 Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Thị Thu Huệ

1.2.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong thời kì đổi mới

1.3 Vấn đề hình tợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

1.3.1 Khái niệm hình tợng tác giả

1.3.2 Vấn đề nhận diện hình tợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Chơng 2 T tởng, cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn 2.1 T tởng nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ

2.1.1 Khái niệm “T tởng nghệ thuật”

2.1.2 T tởng nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn

1 1 2 4 4 4 4 5 5 5 5

7

7 7 8

11 11 11 15 17 17 19 22 22

26

30

30 30 32 35 35 36 54 62 62 64

74

74 74 76 78 78 87 98 103 103 104 105

Trang 3

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ

2.2.1 Khái niệm chung về cái nhìn nghệ thuật

2.2.2 Cái nhìn về con ngời

2.2.3 Cái nhìn về thế giới

2.3 Sự tự thể hiện của Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn

2.3.1 Sự tự thể hiện

2.3.2 Chân dung nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ qua truyện ngắn

Chơng 3 Lời văn nghệ thuật và giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Thi Thu Huệ 3.1 Lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

3.1.1 Khái niệm lời văn nghệ thuật

3.1.2 Vai trò của lời văn trong thể hiện hình tợng tác giả

3.1.3 Những đặc điểm lời văn Nguyễn Thị Thu Huệ

3.1.3.1 Lời trần thuật

3.1.3.2 Lời đối thoại

3.1.3.3 Lời độc thoại nội tâm

3.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

3.2.1 Khái niệm giọng điệu

3.2.2 Vai trò của giọng điệu trong thể hiện hình tợng tác giả

3.2.3 Các sắc thái giọng điệu của Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn 3.2.3.1 Giọng chua chát, táo tợn, từng trải

3.2.3.2 Giọng triết lí, suy t

3.2.3.3 Giọng trữ tình sâu lắng

Kết luận

tài liệu tham khảo

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Thị Thu Huệ là một nhà văn “độc đáo và tài hoa” (lời của Hồ

Sỹ Vịnh) Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ song chị đã gặt hái đợc khá nhiều thành công trong sự nghiệp sáng tác văn chơng Với cách viết nh “lên đồng” (chữ dùng

105 108 109 113 115

Trang 4

của Đoàn Hơng), Nguyễn Thị Thu Huệ đã liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm vănhọc có giá trị Truyện ngắn của chị mang khuynh hớng hiện đại, bám sát hiệnthực cuộc sống và mang đậm hơi thở của thời đại Sáng tác theo thi pháp hiện đạinên truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ có những bớc chuyển mình trên nhiềubình diện: đề tài, chủ đề, t tởng, ngôn ngữ, kết cấu, quan niệm nghệ thuật về conngời, cái nhìn về thế giới… Do vậy, việc tìm hiểu về Nguyễn Thị Thu Huệ là hếtsức cần thiết và chắc chắn chúng ta sẽ rút ra đợc nhiều điều bổ ích.

1.2 Những năm gần đây, trong giới nghiên cứu xuất hiện câu hỏi: lịch sửvăn học là lịch sử tác giả hay tác phẩm? Có nhiều quan niệm khác nhau Thực ra

dù quan niệm thế nào, chúng ta cũng không thể phủ nhận mối quan hệ mật thiếtgiữa tác giả và tác phẩm Không có tác giả thì không có tác phẩm Đằng sau mộttác phẩm bao giờ cũng chứa đựng một ánh mắt, một t tởng, một quan nịêm nhânsinh nào đó của tác giả Vì thế nhất thiết khi tìm hiểu tác phẩm, cần tìm hiểu chủthể sáng tạo ra nó - chủ thể sáng tạo với t cách nh “một phạm trù thi pháp”(M.Bakhtin) Với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, đến nay đã có một số công trìnhnghiên cứu của một số nhà phê bình nhng chỉ dừng lại ở dạng bài viết ngắn Cómột số luận văn, khóa luận đã đi vào truyện ngắn của chị với các đề tài khácnhau: tìm hiểu nghệ thuật tự sự, thế giới nhân vật, đặc điểm truyện ngắn… nhngcha có ai đi sâu tìm hiểu hình tợng tác giả Vấn đề hình tợng tác giả trong truyệnngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thực sự có ý nghĩa sâu sắc trên nhiều phơng diện

1.3 Văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới đã có những biến chuyển đáng ghinhận Đặc biệt là từ năm 1986 trở lại đây, thể loại truyện ngắn đang thực sựchuyển mình Bên cạnh những nhà văn lớp trớc đã chắc chắn vững vàng: TôHoài, Ma Văn Kháng,… là sự xuất hiện của hàng loạt cây bút trẻ đầy triển vọng:Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc T, Hồ Anh Thái, Nguyễn ThịThu Huệ,… Chọn một tác giả tiêu biểu có những đóng góp đáng kể cho văn xuôiViệt nam thời kì này để nghiên cứu, xem xét cũng là để góp phần nhận diện,

đánh giá những thành tựu văn học thời kì đổi mới Nghiên cứu truyện ngắnNguyễn Thụ Thu Huệ là góp phần tìm hiểu phong cách một nhà văn trẻ sau

1975 Từ đó giúp chúng tôi có thêm t liệu để đi sâu vào việc học tập, giảng dạy,nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Trên đây là những lí do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài “ Hình tợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”.

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Thi Thu Huệ là một trong những cây bút truyện ngắn tiêu biểucủa nền văn xuôi đơng đại Chị viết đều và viết khỏe Vì thế chỉ trong một thờigian ngắn (1993 - 1995), chị đã liên tục cho ra đời những tác phẩm văn học cógiá trị Và cũng chính trong thời gian này, chị đã nhận đợc nhiều giải thởng: Giải

Trang 5

thởng của báo Tiền phong trong cuộc thi Tác phẩm tuổi xanh năm 1993, cũngtrong năm đó Nguyễn Thị Thu Huệ đã giành đợc giải A trong cuộc thi viết về HàNội Năm 1994, chị đã thực sự thành công trong sự nghiệp sáng tác với hai giảithởng lớn: Giải nhất cuộc thi Tạp chí văn nghệ cho chùm 5 truyện ngắn và tặngthởng của Hội nhà văn Việt Nam cho tập Hậu thiên đờng Truyện ngắn của chị vì

thế thu hút đợc sự quan tâm của nhiều độc giả cũng nh nhiều nhà nghiên cứu,phê bình Tuy nhiên có nhiều lí do khác nhau, những bài bình luận, nghiên cứu

về truyện ngắn của nhà văn nữ này cha nhiều Riêng về hình tợng tác giả trongtruyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ dờng nh còn bỏ ngỏ, cha có công trình nào đềcập đến Có thể kể tên một số bài viết nghiên cứu về truyện ngắn của chị nh sau:

Trên báo Văn nghệ số 43 ra ngày 23/10/1993, Bùi Việt Thắng có bài viết:

Tản mạn về những truyện ngắn của những cây bút trẻ” Trong bài viết này, tác

giả đã chỉ ra những u điểm và hạn chế của các nhà văn nữ qua sáng tác của họ.Theo ông “làm nên đặc trng của những cây bút trẻ chính là các nhu cầu say mê

đợc tham dự, đợc hòa nhập vào những nỗi niềm đau khổ và hi vọng của con ời”

ng-Ngoài ra khi giới thiệu cuốn Tứ tử trình làng, ông còn có bài “Truyện ngắn bốn cây bút nữ”.

Tạp chí văn học số 6/1996 đã đăng tải buổi tọa đàm “Phụ nữ và sáng tác văn chơng” có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình lẫn sáng tác Trong

số đó, ý kiến của Vơng Trí Nhàn đợc khá nhiều ngời đồng thuận Tác giả VơngTrí Nhàn đã đi vào lí giải về sự xuất hiện đông đủ của một số cây bút nữ sau

1975 gắn bó với thể loại văn xuôi trong đó có Nguyễn Thị Thu Huệ Cũng vớiviệc lí giải đó, tác giả bài viết còn đa ra nhận xét: “Trong những trang viết của các tác giả nữ đơng đại, ta luôn tìm thấy những vang hởng mạnh mẽ hiện thực thời đại chúng ta đang sống… và cũng trên trang viết của họ, ta tiếp nhận đợc một nữ tính phức tạp hơn nhng đồng thời cũng phong phú hơn những gì ta luôn quan niệm trong quá khứ”.

Đoàn Hơng trên báo Văn nghệ trẻ ra ngày 25/3/1996 cũng có bài “Những ngôi sao nớc mắt” ở bài viết này, tác giả đã đánh giá Nguyễn Thị Thu Huệ là

một cây bút tài hoa với cách viết nh “lên đồng” và mang khuynh hớng hiện đại.

Mặc dù cha trở thành “hiện t ợng” của văn học nớc nhà song Nguyễn Thị Thu

Huệ đã có những đóng góp trên nhiều phơng diện và đem đến cho văn học một

số tác phẩm có giá trị Đoàn Hơng tuy cha đi sâu vào sáng tác của Nguyễn ThịThu Huệ song ở bài viết này tác giả cũng đã nêu ra đợc một số khía cạnh quantrọng trong sáng tác của nhà văn nữ này

Trang 6

Trên báo Văn nghệ số 53 ra ngày 21/3/2002, Hồ Sỹ Vịnh có bài Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” ở bài viết này, tác giả đã nhìn nhận, đánh giá

cao tài năng của nữ văn sĩ Thu Huệ Ông khẳng định Nguyễn Thị Thu Huệ làmột nhà văn “độc đáo và tài hoa” Lối viết theo thi pháp mở thể hiện qua việc

xây dựng nhân vật, qua cách xây dựng cốt truyện, Thu Huệ còn độc đáo ở ngônngữ miêu tả đời sống, những tình huống trào lộng và cả ở lối viết cô đọng Từnhững phát hiện đó, tác giả bài viết cho rằng Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn cóphong cách: “Nếu phong cách nghệ thuật là một đại lợng thẩm mĩ, thể hiện sự thống nhất tơng đối ổn định của hệ thống hình tợng, của phơng tiện biểu hiện nghệ thuật, các yếu tố độc đáo lặp đi lặp lại, nói lên cách nhìn, cách cảm trong sáng tạo của một nhà văn, của một tác phẩm cụ thể… thì ở Thu Huệ ngời đọc tìm thấy những dấu hiệu đó”

Cũng viết về Nguyễn Thị Thu Huệ, Xuân Cang có bài “Nguyễn Thị Thu Huệ, nhà văn của những vận bĩ” trích trong Tám chữ hạc của quỹ đạo đời ngời,

Nxb Văn hóa thông tin, 2000

Ngoài những công trình và bài viết nói trên, còn có một số luận văn tốtnghiệp Đại học, Cao học đi vào nghiên cứu truyện ngắn của chị ở những phơngdiện khác nhau: Thế giới nhân vật, đặc điểm truyện ngắn, nghệ thuật tự sự,…

Nhìn chung những bài viết, những công trình nghiên cứu đều đánh giá caotài năng và truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ song cha thể nào khám phá vàphản ánh hết Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về truyện ngắn NguyễnThị Thu Huệ tơng đối quy mô nhng cha có ai đi sâu vào đề tài hình tợng tác giả.Tuy nhiên đây sẽ là nguồn tài liệu vô cũng quý giá, mang tính chất định hớngcho chúng tôi trong quá trình học tập và đặc biệt là nghiên cứu đề tài Hi vọngrằng qua việc lựa chọn, nghiên cứu, thực hiện đề tài, chúng tôi góp một phần nhỏ

bé vào việc nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Huệ - nữ văn sĩ độc đáo, tài hoa của vănxuôi Việt Nam đơng đại

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Nh trên, đề tài đã xác định, đối tợng nghiên cứu của luận văn là “Hình ợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”.

t-3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ sáng tác truyện ngắn mà còn sáng tác tiểuthuyết và kịch bản văn học Nhng thành công nhất của chị là thể loại truyệnngắn Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vinghiên cứu ở thể loại truyện ngắn

T liệu mà chúng tôi dùng để khảo sát là toàn bộ truyện ngắn của NguyễnThị Thu Huệ

Trang 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hớng đến ba nhiệm vụ sau:

4.1 Khảo sát toàn bộ truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, xác định đặc trnghình tợng tác giả trên các phơng diện: t tởng, cái nhìn nghệ thuật và sự tự thểhiện của Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn

4.2 Khảo sát đặc trng hình tợng tác giả trên các phơng diện: Lời văn vàgiọng điệu của Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn

4.3 Từ hai nhiệm vụ trên luận văn góp phần nhận diện chân dung nghệthuật, những đóng góp và cá tính sáng tạo của Nguyễn Thị Thu Huệ trong nềnvăn xuôi đơng đại

Trang 8

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội thời kì đổi mới

Tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta kết thúcthắng lợi Lịch sử dân tộc bớc sang trang mới Đất nớc chấm dứt nỗi đau chiacắt, giang sơn thu về một mối Nhân dân Việt Nam bớc vào thời kì hòa bình đilên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc Tuy nhiên bên cạnhnhững điều kiện thuận lợi ấy, đất nớc ta bắt đầu phải đối mặt với tình hình xã hội

đầy biến động, cuộc sống có nhiều đổi thay, xáo trộn, phức tạp Chiến tranh đã điqua, ám ảnh ngời dân về hậu quả chiến tranh vẫn còn đó với những khó khăn và

Trang 9

thử thách chất chồng Từ thực tế đó đòi hỏi ngời Việt Nam cần phải suy nghĩ,trăn trở, tìm tòi, nhận thức lại những vấn đề trong cuộc sống.

Năm 1986, Đảng ta tiến hành Đại hội VI Đây là đại hội có ý nghĩa quantrọng, đánh dấu một bớc ngoặt mới cho cách mạng Việt Nam Đại hội đã tìm ralối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàndiện cho đất nớc Từ sau Đại hội VI của Đảng, đất nớc ta chính thức bớc vào thờikì đổi mới Tất cả các mặt của đời sống xã hội xã hội có những biến chuyển.Cuộc sống của toàn xã hội, của mỗi con ngời trở nên phong phú hơn và cũngphức tạp hơn

Cũng trong Đại hội này, Đảng ta kêu gọi toàn Đảng, toàn dân đổi mới tduy, nhìn thẳng vào hiện thực đất nớc và đời sống nhân dân để tìm đờng lối đúng

đắn Đây cũng là thời kì phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng chủnghĩa xã hội, thời kì mở cửa giao lu kinh tế với các nớc khác trên thế giới, từngbớc xóa bỏ chế độ kinh tế quan liêu bao cấp Kinh tế nớc ta sau những năm baocấp chậm phát triển nay đã có bớc khởi sắc Chất lợng cuộc sống của mọi tầnglớp nhân dân đã đợc nâng cao Vì thế, cảm hứng sáng tác của tầng lớp văn nghệ

sĩ từng bớc đợc khắc phục và tháo gỡ

Việc mở rộng hội nhập và giao lu quốc tế, Việt Nam có cơ hội tiếp thutinh hoa văn hóa của các nớc trên thế giới cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việcsáng tác văn học Mặt khác, chúng ta có một đội ngũ sáng tác trẻ, năng động,nhiệt tình, sáng tạo, sẵn sàng tiếp nhận cái mới của nền văn minh thế giới.Những nhà lí luận, phê bình nhanh chóng tiếp cận với lí luận hiện đại của thếgiới, góp phần định hớng cho việc tiếp nhận văn học một cách tích cực

Trong khoảng thời gian hơn 20 năm qua, công cuộc đổi mới mà Đảng lãnh

đạo đã làm cho đất nớc ta dần dần thay da đổi thịt trên tất cả các phơng diện:chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Tuy nhiên, cái ác, cái xấu, các tệ nạn xã hộivẫn tồn tại trong cuộc sống Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng thời

mở cửa, bên cạnh những tích cực cũng đồng thời bộc lộ những mặt trái của nó

Đặc biệt là những chuẩn mực đạo đức, nhân cách con ngời đang có chiều hớng

đi xuống Con ngời đang đứng trớc nguy cơ tha hóa, biến chất Vì vậy, văn họccần phải có nhiệm vụ xác định những chuẩn mực, định chân những giá trị trongxã hội, mặc dù nhận thức đợc “toàn diện khuôn mặt” của cuộc sống mới không

phải là điều dễ dàng

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị về công tác văn hóa, văn nghệ nhấn mạnh:

Văn học nớc ta phải đổi mới t duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” Các nhà văn

cũng tự xác định “ không thể viết nh trớc” Việc phát hiện ra các vấn đề xung đột

t tởng, khẳng định sự thắng lợi của cái mới, đẩy lùi cái cũ vừa là cảm hứng sángtạo vừa là trách nhiệm của văn xuôi hôm nay

Trang 10

1.1.2 Sự chuyển đổi t duy nghệ thuật của các nhà văn sau 1975

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 ra đời và phát triển trong hoàncảnh đất nớc chiến tranh liên miên Nhiệm vụ đặt ra cho văn học lúc này là phục

vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc, xây dựng chủnghĩa xã hội Chính vì thế nên văn học tất yếu nghiêng về phản ánh những sựkiện có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân Những điều mà văn học đề cập

đến lúc đó phải là những vấn đề trọng đại liên quan đến sự sống còn của dân tộc.Còn vấn đề đời t, đời thờng, đời sống cá nhân chỉ giữ một vị trí thứ yếu, không

đáng kể trong đời sống văn học 1945 - 1975: “Các đề tài này không đủ t cách là một đề tài độc lập, nó nh là một thứ văn học loại hai, không đợc khuyến khích”

[50, 182]

Sau 1975, đặc biệt là những năm 80, đất nớc bớc vào thời kì đổi mới toàndiện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có văn học Trớctình hình đó, khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học khôngcòn phù hợp, không đáp ứng đợc thị hiếu thẩm mĩ của ngời tiếp nhận nữa Vấn

đề cấp thiết đặt ra cho văn học lúc này là cần nhanh chóng có sự đổi mới, cáchtân Việc đổi mới t duy nghệ thuật là nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổimới nói chung Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam năm

1987 đề ra: “Đổi mới và nâng cao trình độ quản lí văn học nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đa văn học nghệ thuật và văn hóa phá triển lên một bớc mới” Trong sự nghiệp đổi mới, nhiều vấn đề cơ bản của văn học

cũng đợc nhận thức lại một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn Tinh thần “cởi trói” cho văn học nghệ thuật tạo nên một luồng sinh khí mới trong văn học nói

chung, văn xuôi nói riêng Văn xuôi sau 1975 chuyển dần từ t duy sử thi sangtiểu thuyết Hiện thực đời sống đã thay đổi khác trớc rất nhiều, bởi thế đòi hỏinhà văn phải có hớng tiếp cận phù hợp Văn học giai đoạn này không chỉ chútrọng vào hai đề tài: Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội nh trớc mà đi sâu vào đề tài

đời t, đời thờng, thế sự đạo đức Những mảng hiện thực này trớc đây hầu nh bịquên lãng nay đợc văn học đặc biệt chú trọng Nếu trớc đây con ngời là đối tợnghầu nh chỉ để ngợi ca hay phê phán thì bây giờ đợc nhà văn đi sâu phản ánh sốphận, đi vào thế giới nội tâm của con ngời Dờng nh mọi vấn đề của cuộc sốngxã hội liên quan đến con ngời đều đợc nhà văn đa vào trong sáng tác Từ nhữngvấn đề nhỏ nhặt, thờng nhật của cuộc sống con ngời đều đợc quan tâm đúngmức “Nếu nh văn học trớc đây quan tâm đến số phận, hạnh phúc chung của cả cộng đồng, cả dân tộc thì nay các nhà văn quan tâm đến số phận cá nhân Cảm hứng sử thi thời kì 1945 - 1975 hớng ngòi bút của ngời nghệ sĩ vào việc khám phá và ngợi ca những con ngời tiên tiến, con ngời anh hùng Đó là những hình mẫu lí tởng của một thời vinh quang và oanh liệt, những con ngời của sự nghiệp

Trang 11

chung, xả thân vì nghĩa lớn, vì tập thể, mình vì mọi ngời, mọi ngời vì mình” là

lẽ sống đạo đức của con ngời trong văn học sử thi Họ xuất hiện trong các trang văn, vần thơ nh là sự đại diện trọn vẹn cho đất nớc, cho lí tởng, lơng tâm, khí phách thời đại Họ đẹp một cách toàn bích nh những viên ngọc không tì vết” [47,

183 - 184]

Ngợc lại, các tác phẩm văn học sau 1975 lại hớng đến những con ngời của

đời t, đời thờng và bình thờng trong cuộc sống, những số phận cá nhân phức tạp,những vấn đề đạo đức thế sự Con ngời trong văn học sau 1975 xuất hiện nh nóvốn có trong cuộc sống, không phải là những hình mẫu lí tởng đợc xây dựng đểnêu gơng tốt cho mọi ngời nh trong văn học 1945 - 1975 Văn học đã chuyển từ

vị thế độc thoại sang t thế đối thoại với độc giả về những trăn trở, suy t của cuộcsống thời bình Những mảng đề tài đợc quan tâm của văn học sau 1975 là gia

đình, tình yêu, đạo đức cá nhân… Nhà văn sau 1975 quan tâm đến chiều sâu tâmlinh, hạnh phúc gia đình, khát khao thầm kín của con ngời trong tình yêu, tìnhdục, về những gì là bản thể của con ngời Họ nhìn về hiện thực, về con ngời đadiện, đa chiều, phức tạp hơn

Rõ ràng một điều dễ nhận thấy là văn học 1945 - 1975, với t duy sử thi vàcảm hứng lãng mạn, cảm quan của nhà văn về con ngời, về cuộc đời có phần đơngiản một chiều Trong tác phẩm thờng có sự phân tuyến rạch ròi giữa cái thiện vàcái ác, giữa ta và địch, giữa tốt và xấu, cao cả và thấp hèn… Nhà văn cha dầu tcho việc phân tích tâm lí nhân vật Do vậy, khi đọc những tác phẩm giai đoạnnày, ngời đọc có cảm tởng nhân vật đợc tạo ra từ một khuôn mẫu, nên na ná nhnhau, thiếu cá tính Và cũng chính vì thế, độc giả có thể đoán trớc đợc kết thúctác phẩm

Chúng ta sẽ có cảm giác khác khi tiếp xúc với tác phẩm văn học sau 1975.Con ngời trong sáng tác giai đoạn này quả thực không hề đơn giản Họ đợc nhàvăn xây dựng từ nhiều góc độ, trong mọi giác quan hệ đa dạng phức tạp của đờisống Trong mỗi con ngời có sự đan xen của cái tốt lẫn cái xấu, cái cao cả lẫn cáithấp hèn, cái thiện lẫn cái ác Con ngời đợc chú ý ở cả hai mặt: ý thức và bảnnăng Do vậy, mỗi con ngời là một con ngời, có những nét riêng, độc đáo khônglặp lại Mỗi nhân vật văn học giai đoạn này giống nh một tiểu vũ trụ khiến cho

độc giả khám phá không hết sự bí ẩn của nó và cứ thế càng khao khát kiếm tìm.Cá tính nhân vật đã đợc nhà văn đặc biệt quan tâm Không ai giống ai song tất cảlại hiện hữu ngay trong cuộc sống đời thờng muôn màu muôn vẻ Từ đó có thểthấy, cái nhìn, cách nhìn về con ngời, về thế giới của các nhà văn sau 1975 đãthay đổi rất nhiều so với các nhà văn giai đoạn trớc Bên cạnh đó, quan niệmnghệ thuật về con ngời đã đổi mới đòi hỏi nhà văn phải mở rộng chân trời tìmkiếm của mình đến những góc khuất lấp của đời sống, để rồi nhìn thấy đợc ngoài

Trang 12

con ngời xã hội còn có con ngời cá nhân, có con ngời số phận, con ngời đời t…

con ngời với những niềm vui, nỗi buồn trong sự phấn khởi và nỗi khổ đau, trong niềm tin và sự hoài nghi chính đáng Họ đẹp trong chất thép và cả trong sự mềm yếu” [47, 185] Có thể nói, đây là giai đọan văn học mà con ngời đợc soi chiếu từ

rất nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau không đơn giản, đơn điệu

Tóm lại, văn học thời nào cũng không nằm ngoài dòng chảy của lịch sử xãhội Cùng với sự thay đổi của lịch sử - xã hội là sự chuyển đổi của t duy nghệthuật và cảm hứng sáng tạo của các nhà văn trong văn học Trong bối cảnh chungcủa đời sống văn học từ 1975 trở lại đây, văn học nói chung, truyện ngắn nóiriêng đã bắt kịp hơi thở của đời sống, tiếp cận, khai thác những vấn đề gai gócnhất của cuộc sống cũng nh tâm hồn con ngời, số phận cá nhân con ngời Vănxuôi sau 1975 đã bổ sung thêm một mảng hiện thực khá phong phú cho đời sốngvăn học mà dờng nh trớc đây văn học cha quan tâm hay nói đúng hơn là lãngquên Chính nhờ thế hiện thực đời sống hiện lên đầy đủ, phong phú hơn trongcác trang văn, gần gũi hơn với hiện thực đời sống đang tồn tại

1.2 Vài nét về thể loại truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong thời kì đổi mới

1.2.1 Truyện ngắn và u thế của thể loại

1.2.1.1 Về khái niệm truyện ngắn

Truyện ngắn là một thuật ngữ văn học hiện đại dùng nh một thói quen ítkhi ngời ta đa ra bàn luận Nhng trên thực tế vấn đề không hề đơn giản Xungquanh thuật ngữ này có rất nhiều định nghĩa, nhiều quan niệm về nó Nếu làmmột phép thống kê thì con số liên quan đến hàng trăm định nghĩa Trên thế giớicũng nh ở Việt Nam khi bàn về truyện ngắn, mỗi ngời đều có một quan niệmriêng

Trớc hết, hãy xem các nhà văn nói về truyện ngắn Pautôpxki - nhà vănNga hiện đại nói: “Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện thờng viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thờng hiện ra nh một cái bình thờng và cái bình thờng hiện ra nh một cái gì không bình thờng” (dẫn

theo Bùi Việt Thắng - Truyện ngắn - những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại

tr 451) Nhà văn Nguyễn Kiên quan niệm: “Tôi cho rằng mỗi truyện ngắn là một trờng hợp… Trong quan hệ giữa giữa con ngời và đời sống, có những khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó đợc bộc lộ Truyện ngắn phải nắm bắt đợc cái trờng hợp ấy Trờng hợp ở đây là một màn kịch chớp nhoáng, có khi là một trạng thái tâm lí, một biến chuyển tình cảm kéo dài, chậm rãi trong nhiều ngày Nhng nhìn chung thì vẫn có thể gọi là một trờng hợp” (dẫn theo Bùi Việt Thắng

tr 19 - 20)

Trang 13

Còn nhà văn Nguyễn Công Hoan quan niệm rằng: “Truyện ngắn không phải là truyện là một vấn đề đợc xây đựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc…Muốn truyện ấy là truyện ngắn, chỉ nên lấy một trong ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện… Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi” (dẫn theo Bùi

Việt Thắng tr 25)

Nguyên Ngọc lại cho rằng: “Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung” vì thế “không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốn nhiều vẻ Có truyện viết về cả một đời ngời, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua” (dẫn theo Bùi Việt Thắng tr 27).

Trong Từ điển văn học, truyện ngắn đợc định nghĩa nh sau: “Hình thức tự

sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lợng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một mặt nào đó của vấn đề xã hội Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật t tởng, chủ đề, khắc họa nét tính cách nhân vật, viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa và dồn nén Do đó, trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện đợc những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn” [26, 120].

Từ điển thuật ngữ văn học đã đa ra một định nghĩa có tính hàn lâm và tơng

đối súc tích: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phơng diện của đời sống: đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [17, 162].

Tuy nhiên, để phân biệt truyện ngắn với những thể loại tự sự khác thì mức

độ dài ngắn cha phải là đặc điểm chủ yếu Bởi vì, trong văn học hiện đại cónhiều tác phẩm rất ngắn nhng thực chất là truyện dài đợc viết ngắn lại Truyệnngắn thời trung đại cũng ngắn nhng cũng rất gần với truyện vừa Các hình thứctruyện kể dân gian rất ngắn gọn nh cổ tích, truyện cời, giai thoại… lại càngkhông phải là truyện ngắn

Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t duy mới, một cách nhìn cuộc đời, mộtcách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại Cho nên, truyện ngắn

đích thực xuất hiện tơng đối muộn trong lịch sử văn học Nếu tiểu thuyết là thểloại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó thì truyệnngắn thờng hớng tới việc khắc họa một hiện tợng, phát hiện một nét bản chấttrong quan hệ nhân sinh trong đời sống tâm hồn con ngời Vì thế, trong truyện

Trang 14

ngắn thờng có ít nhân vật, có sự kiện phức tạp Truyện ngắn không nhằm tới việckhắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tơng quan với hoàncảnh Nhân vật của truyện ngắn thờng hiện thân cho một quan hệ xã hội, ý thứcxã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ngời.

Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong không gian, thời gian hạnchế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời

và tình ngời Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến

mà thờng đợc xây dựng theo nguyên tắc tơng phản hoặc liên tởng Bút pháp trầnthuật của truyện ngắn thờng là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyệnngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lợng lớn và lối hành văn mang nhiều bí ẩntạo cho tác phẩm những chiều sâu cha nói hết Truyện ngắn là thể loại gần gũivới đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thờng gắn với hoạt động báo chí, do

đó có tác dụng ảnh hởng kịp thời trong đời sống Cũng chính vì lẽ đó, nhiều nhàvăn trên thế giới và trong nớc đạt tới đỉnh cao sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủyếu ở lĩnh vực sáng tạo truyện ngắn

Theo 150 thuật ngữ văn học, truyện ngắn là: “Một thể loại của tác phẩm

tự sự cỡ nhỏ, thờng đợc viết bằng văn xuôi, đề cập đến các phơng diện của đời sống con ngời và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung l- ợng, tác phẩm truyện ngắn không thích hợp với ngời tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ” [6, 162].

Lí luận văn học đa ra quan điểm: “Truyện ngắn là hình thức của tự sự.

Khuôn khổ của truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian

nh truyện cổ tích, giai thoại, truyện cời, hoặc gần với những bài kí ngắn Nhng thực ra không phải Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đơng thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời t, thế sự, hay sử thi, nhng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một chốc lát trong cuộc sống“ ”

nhân vật, nhng cái nhìn chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện,

mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời… Truyện ngắn nói chung không phải vì truyện của nó ngắn mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại

Những nét riêng của truyện ngắn vốn đã có ở tác phẩm trung đại, ở cáchình thức truyện kể dân gian nh truyện cời, cổ tích, giai thoại nhng truyện ngắnvới đặc điểm thể tài riêng biệt chỉ thực sự phát triển ở các nền văn học hiện đại,gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của báo chí Với t cách là một thể tài tự sự,truyện ngắn hiện đại ít nhiều mang đặc tính của t duy tiểu thuyết Điểm nàytruyện ngắn cũng giống truyện dài và truyện vừa Chỉ khác là ở chỗ nếu truyệndài, truyện vừa cho phép chiếm lĩnh đời sống trong sự đầy đủ toàn vẹn, đầy đặccủa nó thì truyện ngắn thờng chỉ nhằm khắc họa một hiện tợng, một tính cách,

Trang 15

một đặc tính trong quan hệ giữa con ngời hay đời sống nội tâm con ngời mà thôi.Truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn.

1.2.1.2 Ưu thế của truyện ngắn

Truyện ngắn là thể tài của thể loại tự sự Bởi thế, nó không nằm ngoài hệthống chung của loại hình văn tự sự “Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con ngời… t tởng tình cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con ngời tới mức giữa chúng dờng nh không có sự phân biệt nào cả Nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho ngời đọc có cảm giác rằng hiện thực đợc phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn Phơng thức phản

ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi của con ngời làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống nhân vật đợc khắc họa đầy đủ, nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong tác phẩm tự sự, cốt truyện đợc triển khai, nhân vật đợc khắc họa nhờ một

hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú đa dạng, bao gồm chi tiết, sự kiện, xung

đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách, chi tiết nội thất, ngoại cảnh, phong tục, đời sống văn hóa, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tởng, tởng tợng, hoang đờng mà không nghệ thuật nào tái hiện đợc.

… Tác phẩm tự sự trở thành loại văn học có khả năng quan trọng nhất trong đời sống tinh thần của con ngời hiện đại…” [17, 317].

Truyện ngắn hiện đại trong xã hội hiện đại có nhiều u thế riêng Biêlinxki

đã từng nhận định: “Nếu có t tởng của thời đại thì cũng có hình thức của thời

đại

Còn M.Bakhtin thì chỉ rõ: “Mỗi thể loại thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ nhìn nhận, giải minh thế giới và con ngời Truyện ngắn cũng là một thể loại nh thế, đặc biệt là trong xã hội hiện đại Vì thế

mà nó thu hút đợc sự quan tâm của ngời sáng tác, nghiên cứu, ngời đọc…” [9,

67]

Truyện ngắn là một thể loại mà tự thân nó đã hàm chứa những điều thú vị,sâu sắc trong một hình thức nhỏ, gọn và truyền dẫn cực nhanh những thông tinthực sự mới mẻ, nóng hổi Truyện ngắn có khả năng nổi trội trong việc tái hiện

đời sống Nó cũng đợc xem là một thể loại văn học nhạy cảm với những biến đổicủa thời đại, tái hiện đợc mọi biến thái dù rất tinh tế của đời sống con ngời

Trang 16

Mặt khác, thời đại ngày nay, ngời đọc không có nhiều thời gian để đọcnhững cuốn tiểu thuyết dài hàng trăm trang, thay vào đó họ muốn tìm đến nhữngmón ăn tinh thần vừa ngắn gọn vừa có giá trị văn hóa cao Không có thể loại nàokhác ngoài truyện ngắn có thể đáp ứng đợc nhu cầu đó của họ Trong truyệnngắn, mạch kể không chỉ đợc sắp xếp theo thời gian tuyến tính mà theo “sơ đồ

ma trận”, gồm nhiều chiều khác nhau, vì thế ngời đọc có thể đột kích”, thâm

nhập cùng một lúc để thấy đợc tất cả những chiều kịch ấy Truyện ngắn tạo rachiều hớng tiếp cận đồng bộ và tiết kiệm thời gian Dung lợng ngắn là một thếmạnh của thể loại để truyện ngắn chinh phục độc giả Truyện ngắn là một thểloại “tự sự cỡ nhỏ” nhng lại là thể loại khám phá đời sống theo chiều sâu Nó có

khả năng to lớn trong việc đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống hiện

đại Trong một cuộc trao đổi về truyện ngắn, nhà văn Nguyên Ngọc đã nhấnmạnh: “Trong độ ba trang, mấy nghìn chữ mà rõ mặt của một đời, một kiếp ngời, một thời đại Các truyện ngắn bây giờ rất nặng Dung lợng của nó là dung lợng của cả một cuốn tiểu thuyết”.

Với những thế mạnh của mình, truyện ngắn luôn đáp ứng kịp thời nhu cầuthị hiếu thẩm mỹ của phần lớn độc giả thời hiện đại Cũng chính vì vậy, nó cósức hút lớn đối với ngời sáng tác Một lực lợng sáng tác hùng hậu đua nhau thểhiện tài năng của mình Trong đó, có những nhà văn thuộc thế hệ trớc nh: TôHoài, Bùi Hiển, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Xuân Thiên, Ma Văn Kháng,

… Nguyễn Huy Thiệp, Chu Lai, Lê Minh Khuê,… và có nhiều cây bút trẻ đangthử sức và khẳng định mình nh: Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, VõThị Hảo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc T, Đỗ Hoàng Diệu… Các thế hệ cầm bútnối tiếp nhau không chỉ tạo cho nền văn học hiện đại sự phong phú đa dạng màcòn góp phần vào việc kế thừa và cách tân thể loại truyện ngắn, càng làm chotruyện ngắn mới mẻ hơn, có nhiều sức hút hơn Bởi vậy, truyện ngắn Việt Namsau 1975 không những phát huy đựoc u thế của thể loại, thực hiện tốt chức năngxã hội thẩm mỹ của văn học mà còn gặt hái đựơc nhiều thành tựu đáng kể trênnhiều phơng diện

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong thời kì đổi mới

1.2.2.1 Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Thị Thu Huệ

Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12 tháng 8 năm 1966 tại Khe Hùm,Quảng Ninh, nhng lại lớn lên ở Hà Nội Chị sinh ra trong một gia đình có truyềnthống văn học Bố chị là cán bộ miền Nam tập kết ra bắc, nguyên là nhà báo, mẹ

là văn nữ có dấu ấn trong nền văn học hiện đại - nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú.Truyền thống văn học của gia đình đã ơm mầm tài năng cho Nguyễn Thị ThuHuệ Vì thế ngay từ nhỏ, Thu Huệ đã có trái tim đa cảm và một cái nhìn tinh tế.Chị tâm sự: “cho đến bây giờ ở tuổi 37 chị vẫn còn đầy mộng mơ và không kém

Trang 17

những ngời mơ mộng nhất Rất hay buồn, hay bị xốn xang Dẫu bây giờ đã có hai con trai rồi vậy mà cứ hôm nào trăng sáng mà chị không ra đờng lang thang

đợc một lúc, không ra ban công ngắm trăng đợc một lúc là cứ nh ngời bị mất cắp một cái gì đấy…” Tâm hồn ấy, trái tim ấy đã đợc nhen nhóm từ thuở ấu thơ trong

con ngời Nguyễn Thị Thu Huệ

Những con ngời, những sự kiện, những đổi thay xảy ra trong cuộc đời chị

đã thấm sâu vào kí ức, tâm hồn, t duy của chị, rồi những kỉ niệm về ngời bố kínhyêu hiện về trong giấc mơ, những buổi tâm sự với bố sau những giờ làm việc trởthành ngọn nguồn t duy mang tính triết lí trong tác phẩm của chị

Nguyễn Thị Thu Huệ là ngời ham đọc sách, yêu thơ Bởi thế, chị bớc vàolàng văn khá sớm, chính thức là từ 1986 khi chị đang còn là sinh viên ngành NgữVăn của trờng Đại học Tổng hợp bằng việc khẳng định mình với nhiều giải th-ởng Chị đã gặt hái đợc thành công khi đời còn khá trẻ Mới 20 tuổi, Thu Huệ đã

đạt giải B giải thởng văn học của Hội Văn nghệ Hà Nội năm 1986

Tuy sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nớc còn chiến tranh, cuộc sốngbao cấp có nhiều vất vả nhng Nguyễn Thị Thu Huệ vẫn đợc gia đình tạo điềukiện cho ăn học đầy đủ Chị tốt nghiệp Đại học khoa Ngữ văn năm 1989 Sau khitốt nghiệp Đại học, chị tham gia rất nhiều hoạt động trong lĩnh vực của vănnghệ: Biên tập viên Tạp chí văn hóa - văn nghệ (Bộ văn hóa thông tin), sau đóchuyển sang làm biên tập phim truyền hình, biên tập điện ảnh, biên kịch, rồi làmtrởng xởng phim II Đài truyền hình Việt Nam

Vì thế, cái tên Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ quen thuộc với những độcgiả yêu văn học mà còn quen thuộc với những khán giả truyền hình Cho đếnnay, Nguyễn Thị Thu Huệ mới hơn 40 tuổi đời nhng đã hơn 20 tuổi nghề Trongthời gian hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ, chị thử bút với nhiều thể loại từtruyện ngắn, tiểu thuyết cho đến kịch bản phim truyền hình Với tài năng và sựsay mê sáng tạo, ở thể loại văn học nào chị cũng gặt hái đợc những thành côngnhất định Tuy nhiên, thể loại mà chị sáng tác nhiều nhất và cũng gặt hái đợcnhiều thành công nhất là truyện ngắn

Vào những năm 1992 - 1993, Thu Huệ gửi chùm truyện ngắn dự thi trênTạp chí Văn nghệ quân đội (gồm các truyện: Minu xinh đẹp - Số 7/1992, Tình yêu ơi ở đâu - Số 9/1992, Bảy ngày trong đời - Số 3/1993 Hậu thiên đờng - Số

9/1993 và chị đã đạt giải nhất trong cuộc thi đó Chị liên tiếp xuất bản các tậptruyện: Cát đợi (1993), Hậu thiên đờng (1994), Phù thủy (1995) và cũng liên

tiếp đạt nhiều giải thởng khác:

- Giải thởng của báo Tiền phong trong cuộc thi Tác phẩm tuổi xanh năm

1993

- Giải A cuộc thi viết về Hà Nội 1993

Trang 18

Bớc sang thế kỉ XXI, Nguyễn Thị Thu Huệ không ngừng làm mới mìnhbằng việc cho ra đời tiểu thuyết Rồi cũng tới nơi thôi (2005) và xuất bản hai tập

truyện ngắn 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2001) và 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2006).

Cho đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ là một tác giả của nhiều đầu sách baogồm cả truyện ngắn, tiểu thuyết và hơn 30 kịch bản phim truyền hình VănNguyễn Thị Thu Huệ cho ta cảm nhận đợc một cuộc sống phố phờng với nhữngtrăn trở, suy t về hạnh phúc, tình yêu Cái nhìn “trách nhiệm” với cuộc sống con

ngời đã làm cho văn của chị đậm chất đời và chất ngời hơn - điều khiến cho nhàvăn Hồ Phơng phải ngạc nhiên “Sao còn ít tuổi mà Huệ lọc lõi thế Nó nh một con mụ phù thủy lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình” Am hiểu, tờng minh

mọi ngõ ngách đời sống đã làm nên nét đặc sắc trong văn chị Tất cả vấn đề cuộcsống đã đợc trái tim nhạy cảm của chị cảm nhận và đợc thể hiện trên nhữngtrang viết sắc sảo đầy nữ tính Cuộc đời, số phận của nhân vật trong văn Thu Huệ

đợc xuất phát từ một chủ thể đa đoan, chiêm nghiệm chính mình và những ngờixung quanh Và chị đã khẳng định đợc bút lực cũng nh tài năng của mình, đợcxem là một trong những trờng hợp tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đơng đại

1.2.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong thời kì đổi mới

Văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng, từ sau 1975, đặc biệt là từ

1986 trở lại đây có nhiều bớc đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của công cuộc đổimới Nhờ không khí dân chủ, cởi mở trong văn học với lối viết văn của NguyễnHuy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, NguyễnNgọc T, Đỗ Hoàng Diệu… đã làm cho đời sống văn chơng nóng lên Truyệnngắn trong thời kì đổi mới đã đáp ứng đợc thị hiếu của độc giả không chỉ bởi uthế của nó về mặt hình thức mà còn do sự chuyển đổi nhanh nhạy những vấn đềbức xúc của đời sống xã hội ngày nay Đó cũng có thể xem là lí do làm chotruyện ngắn “lên ngôi” trong thời kì này Mặt khác, truyện ngắn thời kì đổi mới

đã có những đổi thay đáng kể trên các phơng diện: xây dựng cốt truyện, quanniệm nghệ thuật về con ngời, phơng thức trần thuật,…tạo nên sự phong phú, đadạng cho thể loại

Truyện ngắn đã phát triển mạnh mẽ cả về số lợng lẫn chất lợng Nhiều nhàvăn đã tỏ ra rất say mê ở thể loại này, đặc biệt là các cây bút nữ Họ viết thật tựnhiên và “sung sức” Bởi họ sống quyết liệt và trung thực với cảm xúc của mình

khi viết So với các nhà văn nam thì nhà văn nữ thờng hớng ngòi bút của mìnhvào những hiện tợng của đời sống đang diễn ra hàng ngày trớc mắt Đề tài màcác chị chọn viết thờng là những vấn đề thờng nhật, những vấn đề thời sự hiện

đại Điều đáng nói là trong khi đi sâu vào đời sống con ngời, các chị lại bộc lộnhững nét nữ tính vừa táo bạo quyết liệt song lại mềm mại, duyên dáng, trong

Trang 19

sáng đến lạ thờng Trong các tác giả nữ ấy có Nguyễn Thị Thu Huệ Đây là mộttrong những cây bút đi đầu trong việc tạo nên phong cách sáng tác cho mình.

Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ra trong thời kì chiến tranh, lớn lên và trởngthành vào lúc nớc nhà đã và đang bớc trên con đờng đổi mới Trong thực tiễn xãhội ấy, chị luôn là một cây bút theo sát và có đợc những trang viết đầy tính thờisự.Đề tài mà Thu Huệ chọn viết là những gì đang diễn ra trớc mắt Chị cảm nhận

và mô tả cuộc sống thờng nhật với những con ngời bình thờng xung quanh mình.Tình yêu, cuộc sống xô bồ thời hiện đại, hạnh phúc cá nhân, thân phận con ngời,

đặc biệt là ngời phụ nữ đều đợc chị quan tâm

Viết về tình yêu, Nguyễn Thị Thu Huệ đã đi vào khám phá các ngõ ngáchcủa tâm hồn con ngời để những khát khao, mong ớc của con ngời đợc bộc bạchmột cách thành thực Chị đã viết bằng cả trái tim nhạy cảm của một ngời phụ nữ.Không những thế, chị còn cắt nghĩa đợc những nguyên nhân dẫn đến bi kịch củacon ngời trong tình yêu để cảnh tỉnh họ, giúp họ sống hạnh phúc hơn

Trong Biển ấm, Nguyễn Thị Thu Huệ đã đem đến cho ngời đọc những suy

nghĩ, những cảm xúc sâu lắng Cuộc đời còn nhiều những ngời đàn ông cao ợng, tốt đẹp: “Ngời đàn ông đã có vợ thờng đi tìm trong tình yêu mới là tinh thần chứ không phải là sự cuồng si thể xác Anh không lấy tôi vì anh không muốn tôi đau khổ Anh bảo lấy nhau, sẽ phải đẻ con Anh cũng yêu thơng con chúng ta thôi nhng tình yêu đó không thể bằng tình yêu thơng của một chàng trai cha bao giờ có vợ và con Anh vẫn phải dành cho con của mình với ngời vợ cũ.

th-Nh thế, chúng mình và các con đều đau khổ vì không ai đợc trọn vẹn cả” [28,

155]

Hiện thực cuộc sống ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Con ngờisống trong xã hội ấy cần có niềm tin Cũng giống nh những cây bút nữ khác,Nguyễn Thị Thu Huệ thờng có dự cảm sâu sắc về hạnh phúc Vì thế, chị đã đem

đến cho ngời đọc niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con ngời Dù quá khứ có nặng

nề, dù hiện tại còn nhiều đau khổ song con ngời vẫn hớng đến ngày mai tơi sáng

Trong truyện Tình yêu ơi ở đâu, Nguyễn Thị Thu Huệ đã đem đến cho

ng-ời đọc cảm giác tin tởng vào một ngày mai tốt đẹp trong cuộc sống xô bồ vàkhắc nghiệt Dẫu rằng cô gái - nhân vật chính đã ghé mình qua ba ngời đàn ông

và ba ngời ấy đều khiến cô thất vọng vì họ đều xa vời với lí tởng của cô từ thờisinh viên Nhng lời bà mẹ đã mở ra cho cô một lối thoát, nói đúng hơn là mộtcách nhìn tỉnh táo trớc cuộc sống: “Sống ở đời phải biết vị tha con ạ! Mọi cái chỉ tơng đối thôi Ai mà chả có nỗi khổ riêng Họ cứ đi với nhau, sang trọng và tơi tỉnh thế thôi, hoặc là cứ sinh con đẻ cái, nhng khi đóng cửa hay khép lòng lại, ai cũng đầy nỗi khổ… Ta phải chọn cái xấu ít nhất trong mọi cái xấu là đợc con

Trang 20

ạ…” [28, 136 - 137] Ngời đọc cũng tin rằng cô gái xinh đẹp, có học ấy sẽ tìm

đ-ợc tình yêu đích thực của mình

Văn học phản ánh hiện thực Vì thế, Nguyễn Thị Thu Huệ không thểkhông quan tâm đến những vấn đề xô bồ của cuộc sống thời hiện đại Viết vềvấn đề này, Nguyễn Thị Thu Huệ mạnh dạn bóc trần một sự thực phũ phàng:những con ngời hôm nay dờng nh sống thờ ơ hơn, lạnh nhạt hơn trong mọi mốiquan hệ và lẽ dĩ nhiên, trong xã hội ấy sẽ xuất hiện sự rạn vỡ về trách nhiệm gia

đình, rạn vỡ trong nhân cách con ngời Trớc hết là vấn đề cuộc sống gia đình.Nếu trớc đây, gia đình đợc coi là khuôn mẫu để quy chiếu ra xã hội thì thời hiện

đại, xã hội đã đổi thay, phát triển kéo theo sự thay đổi trong quan niệm, lối sốngcủa con ngời Mỗi thành viên trong gia đình là một cá thể độc lập đang “cựa quậy” đòi hỏi đợc đáp ứng nhu cầu của bản thân Chính vì thế, trong truyện ngắn

Nguyễn Thị Thu Huệ xuất hiện sự “rạn vỡ” trong quan hệ đạo đức của các thành

viên cấu thành gia đình Cha mẹ không còn là hình mẫu lí tởng trong mắt con cái

và con cái không còn sự kính trọng đối với cha mẹ nh trớc đây nữa Những biểuhiện “suy đồi” về đạo đức của các thành viên trong gia đình trở nên phổ biến.

Ông bố trong ám ảnh là một điển hình về sự băng hoại đạo đức, nhân cách Ông

ta không thèm để ý gì đến vợ mình, quan hệ nhăng nhít với rất nhiều ngời đàn bàkhác Đây cũng chính là nguyên nhân khiến con cái đánh mất lòng tôn kính đốivới ngời cha đã sinh thành và dỡng dục mình

Những lo lắng, băn khoăn trớc sự bất ổn của gia đình đã đợc Nguyễn ThịThu Huệ thể hiện trong hàng loạt tác phẩm: Phù Thủy, ám ảnh, Một trăm linh tám cây bằng lăng, Nớc mắt đàn ông,

Hiện thực cuộc sống vốn phức tạp Một điều chúng ta không thể phủ nhận

là nền kinh tế thị trờng thời mở cửa đã đem đến cho con ngời một cuộc sống vậtchất đầy đủ nhng đi liền với nó là những mặt tiêu cực, những mảng tối làm biến

đổi nhân cách, quan niệm sống của con ngời Dờng nh con ngời trong thời hiện

đại rất dễ bị khuất phục trớc giá trị của đồng tiền Lắm lúc con ngời lấy đồngtiền làm thớc đo cho mọi giá trị cuộc sống Vấn đề này đã đợc Thu Huệ quantâm và thể hiện trong rất nhiều tác phẩm: Minu xinh đẹp, Hoa nở trên trời, Nớc mắt đàn ông, Thiếu phụ cha chồng, Cõi mê,…

Nguyễn Thị Thu Huệ cũng rất quan tâm đến ngời phụ nữ trong thời hiện

đại Chị tỏ ra rất cảm thông, chia sẻ trớc những số phận éo le, cảnh đời trắc trở,khổ đau Đó là những nhân vật nh tôi trong Đêm dịu dàng, Ngời đi tìm giấc mơ,

Tình yêu ơi ở đâu, nhân vật Thủy trong Hình bóng cuộc đời… Những ngời phụ

nữ trong sáng tác của Thu Huệ luôn mang trong mình một tình yêu chờ đợi, khaokhát và ham muốn nhng họ chẳng bao giờ thực hiện đợc Những mối tình mà họ

đeo đuổi thờng kết thúc dang dở, chia li, tan vỡ Cũng vì vậy, hầu hết tác phẩm

Trang 21

của chị bao giờ cũng chứa chan hoài niệm và ớc mơ về tình yêu, về hạnh phúc

đích thực nhng “khó nắm giữ, mong manh dễ bị thời gian khỏa lấp” Và cũng

chính vì thế nên nhân vật không tránh khỏi những dằn vặt, đau đớn

Nh vậy, hiện thực phức tạp của cuộc sống những năm gần đây đã trở thànhmảnh đất màu mỡ cho nhiều cây bút truyện ngắn khám phá Lần đầu tiên tronglịch sử văn học, hiện thực cuộc sống đợc phản ánh một cách sinh động đến vậy

Sự bề bộn, phức tạp là gơng mặt của một xã hội đang chuyển mình trong thời kì

đổi mới Cùng với nhiều nhà văn khác nh: Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thị Thờng,

Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc T…Nguyễn Thị Thu Huệ vớitruyện ngắn của mình đã bắt nhịp đợc với sự chuyển biến của lịch sử - xã hội vàtừng bớc khẳng định mình, dựng lên một chân dung, một hình tợng mới tronglàng truyện ngắn Việt Nam hiện đại

1.3 Vấn đề hình tợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

1.3.1 Khái niệm hình tợng tác giả

Trong lịch sử văn học và lí luận phê bình văn học, tác giả và tác phẩm, độcgiả là những khái niệm cơ bản đợc sử dụng thờng xuyên, phổ biến nhất TheoM.Bakhtin, tác giả là ngời làm ra tác phẩm, là trung tâm tổ chức nội dung, hìnhthức, cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm Trong tác phẩm văn chơng, không chỉtồn tại hình tợng văn học mà còn có sự tồn tại của một hình tợng khác rất đặcbiệt và khó nhận biết Đó là hình tợng tác giả Cho đến nay, việc tìm hiểu, nghiêncứu về hình tợng tác giả trong văn chơng đã và đang đợc các nhà nghiên cứuquan tâm

Theo Trần Đình Sử: “Hình tợng tác giả cũng là một hình tợng đợc sáng tạo ra trong tác phẩm, nh hình tợng nhân vật nhng theo một nguyên tắc khác chẳn Nếu hình tợng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc h cấu, đợc miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con ngời và theo tính cách nhân vật thì hình tợng tác giả đợc thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm

mĩ đối với thế giới nhân vật Vấn đề hình tợng tác giả không chỉ là sự phản ánh tác giả vào tác phẩm, thể hiện sự tơng quan giữa con ngời và sáng tạo văn ch-

ơng, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể ” [51,

108]

Trần Đình Sử là ngời có đóng góp quan trọng trong việc làm rõ khái niệmhình tợng tác giả Theo ông, hình tợng tác giả cũng có nét giống với hình tợngnhân vật, đều là những hình tợng nghệ thuật đợc sáng tạo ra trong tác phẩm Tuynhiên, giữa hai loại hình tợng này có điểm khác nhau ở nguyên tắc sáng tạo Nếuhình tợng nhân vật đợc xây dựng theo nguyên tắc h cấu, đợc miêu tả theo mộtquan niệm nghệ thuật về con ngời… thì hình tợng tác giả đợc thể hiện theonguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ đối với thế giới nhân

Trang 22

vật Trong giao tiếp, con ngời luôn có nhu cầu tự biểu hiện mình với đối tợnggiao tiếp Văn học cũng là một trong những phơng thức giao tiếp của con ngời.Vì vậy, nhà văn thờng tự biểu hiện mình nh một ngời phát hiện, một ngời khámphá, ngời nghệ sĩ… Đó cũng là yêu cầu của ngời đọc đối với nhà văn Leptônxtôi

đã từng nói: “Nếu trớc mặt ta là một tác giả mới thì câu hỏi tự nhiên đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gì mới đối với ngời đọc Nếu nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì có thể nói anh ta không phải là một tác giả để chú ý”.

Nh vậy, ta có thể nhận thấy hình tợng tác giả là cái đợc biểu hiện ra trong tácphẩm một cách đặc biệt “Mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ, ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình Cảm nhận đó đã trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm về mặt phong cách học” (I.W Gớt) Nói cách

khác, vấn đề hình tợng tác giả gắn bó hữu cơ với cá tính sáng tạo và phong cáchnghệ thuật của nhà văn

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Hình tợng tác giả là một phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm Cơ sở tâm lí của hình tợng tác giả là hình tợng cái Tôi trong nhân cách của mỗi ngời thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình tợng tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kể hoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra ngời phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định” [17, 149] Định nghĩa đã khẳng định

vai trò của cái Tôi tác giả, cái Tôi trong nhân cách là cơ sở của cái Tôi trongnghệ thuật Vì nói nh M.Bakhtin “kẻ biết, hiểu, nhìn thấy trớc hết chỉ là một mình tác giả” Tác giả với t cách là một phạm trù văn học, tất yếu bằng cách nào

đó cũng “có mặt” trong tác phẩm, đóng vai trò trung tâm tổ chức nội dung và

hình thức của cái nhìn nghệ thuật” (M.Bakhtin) Nh vậy sự tự ý thức của tác giả

trong tác phẩm chính là hạt nhân hình thành hình tợng tác giả

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cũng thừa nhận sự tồn tại

của khái nịêm “Hình tợng tác giả” gắn liền với sự phát triển của nhân tố sáng tạo

cá nhân, các phơng diện nội dung của nhân cách tác giả (tính cách, thế giớiquan, đặc biệt là lập trờng t tởng - thẩm mĩ) ngày càng nhập sâu vào cơ cấu nghệthuật của tác phẩm, xem xét hình tợng tác giả với t cách là chủ thể tổ chức ngônngữ nghệ thuật ở những thể loại khác nhau: trữ tình, kịch, tự sự Tác giả khẳng

định: “chỉ vận dụng vào các thể loại tự sự mới có thể nói đến hình tợng tác giả ngời trần thuật với t cách là hình thức có mặt gián tiếp của tác giả ngay bên

-trong tác phẩm của mình ở văn xuôi nghệ thuật, nói “hình tợng tác giả” hoặc

Trang 23

tiếng tác giả nó” là để nói đến dấu ấn cá nhân của những lớp ngôn từ nghệ thuật mà ngời ta không thể gán cho nhân vật chính hoặc ngời kể chuyện h cấu”

[6, 146]

Từ cách đặt vấn đề: “Để kết nối lời tự sự, lời trần thuật với hình tợng tác giả trong ý thức nghệ thuật phải xác lập đợc t tởng về quyền h cấu nghệ thuật, là cái sẽ đợc hợp thức hóa hình ảnh tác giả” [6, 146] Lại Nguyên Ân đa ra những

nhận định về đặc trng giọng điệu của hình tợng tác giả qua từng thời kì văn học:

ở những giai đoạn đầu của văn học cận đại, hình tợng tác giả phải uốn giọng phi cá nhân, phải lệ thuộc vào những chuẩn mực ứng xử ngôn từ đã đợc văn học giới văn học chuyên nghiệp thừa nhận”, chủ nghĩa lãng mạn đã đóng góp rất

nhiều vào việc giải phóng giọng điệu cá nhân của tiếng nói tác giả”, “Sau đó, ngôn từ trần thuật của các nhà văn hiện thực lớn thế kỉ XIX đã dựa vào văn học chiều sâu thầm kín của thế giới tâm hồn nghệ sĩ, đã đa vào văn học hình tợng tác giả thật sự…”

Vinôgrađôp thì hiểu hình tợng tác giả trong hình tợng chủ thể ngôn từ.Song dẫu có xuất phát từ ngôn từ nghệ thuật ông cũng không thể bỏ qua đợc

chiều sâu thầm kín của tâm hồn nghệ sĩ ” Có vẻ nh sự trình bày của ông cònthiếu rành mạch, khó nắm bắt khái niệm của thuật ngữ, phần lớn bám vào “giọng

điệu cá nhân” Ngời đọc vì thế rất khó phân định ra hình tợng tác giả có phải là

sự tự ý thức của tác giả thể hiện trong tác phẩm hay tác giả với t cách là ngời tổchức ngôn từ nghệ thuật

Nhiều nhà nghiên cứu đã đi đến việc khẳng định: Vấn đề hình tợng tác giảkhông chỉ là sự phản ánh tác giả vào tác phẩm, thể hiện tơng quan giữa ngời sángtạo ra văn học mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể.Vấn đề hình tợng tác giả đang tiếp tục đợc nghiên cứu Có ngời xem hình tợngtác giả đợc biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm: từ cách quan sát,cách suy nghĩ, các quan niệm, đến giọng điệu lời văn, kể cả giọng ngời trần thuật

và giọng nhân vật Có ngời cho rằng hình tợng tác giả tập trung chủ yếu vào: cáinhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát thời gian, không gian, cấu trúc cốttruyện, nhân vật và giọng điệu Theo một cách nhìn hợp lí thì “hình tợng tác giả biểu hiện chủ yếu ở: cái nhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩa t tởng, đạo

đức thẩm mĩ Giọng điệu của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật, ở sự miêu tả, sự hình dung của tác giả đối với chính mình” [51, 109].

Trần Đình Sử cho rằng hình tợng tác giả đợc bộc lộ ở ba điểm chính: cáinhìn, giọng điệu và sự tự thể hiện của chính nhà văn trong tác phẩm Cả ba ph-

ơng diện này không hiện lên tách rời mà luôn hòa quyện vào nhau trong mộtchỉnh thể trọn vẹn

Trang 24

1.3.2 Vấn đề nhận diện hình tợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Trong giai đoạn văn học từ sau 1975 đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đợcxem là một cây bút nữ đầy tài năng, sáng tạo và có phong cách độc đáo Ngòibút của chị đã đợc thử thách qua thời gian với nhiều đề tài, chủ đề khác nhau Dù

ở đề tài nào chị cũng viết khá thành công vì chị đã biết tìm cho mình một hớng

đi riêng Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ có sức hấp dẫn ngời đọc không chỉbởi lối văn phong hào hiệp, mạnh bạo, sắc sảo mà còn mang đậm chất đời, mang

đậm hơi thở của cuộc sống hiện đại Đằng sau những trang viết của chị, ngời đọccảm nhận đợc ở chị là một nữ văn sĩ yêu nghề, có vốn sống phong phú Các sángtác của Nguyễn Thị Thu Huệ đều in đậm dấu ấn của nhà văn trẻ khao khát tìnhyêu và hạnh phúc gia đình

Dới con mắt của chị, tình yêu nh là một nhu cầu không thể thiếu của cuộcsống con ngời Đợc yêu, đó là hạnh phúc của ngời phụ nữ trẻ tuổi Tuy nhiên,niềm hạnh phúc đó vừa rực rỡ, mong manh khó nắm bắt và dễ tan vỡ Bởi vì bảntính của con ngời nói chung, của ngời phụ nữ nói riêng là tham lam, ích kỉ vàthiếu sự nhân từ, vị tha Nguyễn Thị Thu Huệ viết về tình yêu, hôn nhân, hạnhphúc gia đình của ngời phụ nữ bằng chính sự trải nghiệm cuộc sống của bản thânmình Chị cảm nhận đợc cuộc sống thực sự đầy rẫy những bất trắc, vì thế ngờiphụ nữ luôn gặp phải những bi kịch Tuy nhiên, phần quan trọng là do chính bảnthân con ngời gây ra, do họ cha ý thức đợc sự quan trọng của hôn nhân gia đình.Dới ngòi bút của Thu Huệ, tình yêu của ngời phụ nữ dần mất đi bản tính e ấp,dịu dàng mà thay vào đó là sự mãnh liệt, cuồng nhiệt, hết mình trong tình yêu.Tình yêu không đơn thuần là sự đòi hỏi, là nhu cầu chính đáng của cuộc sốngngời phụ nữ nữa mà nhiều lúc nó trở thành mục đích sống Cho nên, để có đợctình yêu, ngời ta phải giành giật, phải chiếm đoạt bằng mọi giá Vì thế nên, để có

đợc nó, đôi khi ngời phụ nữ phải trả giá bằng những giọt nớc mắt uất hận, bằng

sự khổ đau (nhân vật Mi trong Thiếu phụ cha chồng).

Chị viết về tình yêu với những khát vọng và đam mê, có lúc cũng đợmmàu bi quan, thất vọng Ngòi bút của chị luôn tỏ ra rất mạnh mẽ, quyết liệt vàgià dặn Truyện ngắn của chị đa phần đề cập đến tình yêu của ngời phụ nữ đứngtrớc cuộc sống đời thờng với những trạng thái khác nhau: hạnh phúc, bất hạnh,khổ đau, lầm lạc, hối hận… Mỗi câu chuyện là một cảnh đời thực mà nhà văn làngời đạo diễn đứng ở nhiều góc quay khác nhau để làm cho cảnh đời ấy hiện lên

rõ nét hơn, ám ảnh hơn và mang nghĩa lí trong cuộc đời Trong mỗi câu chuyện,chị kể lại bằng cái giọng “tng tng”, lạnh lùng, lộ rõ nỗi niềm của con ngời thời

đại: khát khao yêu đơng, cô đơn, trống rỗng, hi vọng và thất vọng, cay đắng vàngọt bùi Đằng sau mỗi câu chuyện là sự đau đáu một nỗi xót xa, là sự cảm

Trang 25

thông chia sẻ với ngời phụ nữ Đồng thời, truyện của chị là tiếng nói bênh vựccho quyền lợi chính đáng của ngời phụ nữ mặc cho họ có những lỗi lầm Vì thế,ngời phụ nữ trong tác phẩm của chị bao giờ cũng đáng thơng hơn đáng giận Có

lẽ vì thế mà trong hầu hết tác phẩm của mình, chị có cái nhìn không mấy thiệncảm về cánh đàn ông Ngời đàn ông hiện lên trong tác phẩm của chị vừa bủn xỉn,vừa ti tiện,“mua xà phòng chỉ thích lấy loại to” tuy không thơm nhng rẻ, dùng đ-

ợc lâu hơn, còn ăn sáng thì chỉ thích “ăn xôi cho chắc bụng”.

Những trang văn của Nguyễn Thị Thu Huệ viết về hôn nhân gia đình cũngkhông kém phần sinh động và chân thực Chị tập trung sự quan tâm của mình

đến bi kịch của hôn nhân và gia đình Những cuộc hôn nhân trong truyện của chị

là kết quả của một tình yêu vội vã với sự chân thành trong tình cảm thì ít mànhững toan tính thực dụng thì rất nhiều Vì thế, tất yếu sẽ dẫn đến là sự đổ vỡ,rạn nứt của gia đình, hôn nhân Trong truyện ngắn của chị ta khó có thể tìm thấymột gia đình hạnh phúc thực sự Các thành viên trong đó đều coi thờng nhau,khinh bỉ nhau (Nớc mắt đàn ông, ám ảnh, Một trăm linh tám cây bằng lăng,…)

và cũng vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chính là khôngtìm thấy hạnh phúc trong mái ấm gia đình nên ngời ta tìm đến với ngời thứ ba.Ngoại tình đã trở thành một căn bệnh khá trầm trọng trong xã hội đang pháttriển Và điều đáng nói là phần lớn sự chủ động lại xuất phát từ phái nữ Ngờiphụ nữ ngoại tình cũng thật đặc biệt Họ không hề muốn phá hoại hạnh phúc gia

đình, chỉ lén đi và để nguyên cái vỏ bọc gia đình vốn có của họ Nguyễn Thị ThuHuệ là nữ, bởi thế chị hiểu phụ nữ hơn ai hết Chị đã đi vào trong từng ngõ ngáchcủa đời sống tâm hồn ngời phụ nữ để nói ra một cách thành thật nhất những khaokhát, những mong muốn của họ và cũng là của bản thân chị Ngời phụ nữ thờihiện đại với những khát khao, những bi kịch đã đợc Nguyễn Thị Thu Huệ viếtlên bằng tất cả tình thơng yêu, chia sẻ và đồng cảm

Trong những trang văn của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ quantâm đến ngời phụ nữ, đến tình yêu, hạnh phúc gia đình mà chị còn quan tâm đếncuộc sống xô bồ thời hiện đại Chính vì cuộc sống xô bồ ấy mà dờng nh ngàynay bi kịch tình yêu ngày càng nhiều hơn, con ngời càng cảm thấy đau khổnhiều hơn là hạnh phúc Đó là bi kịch của Thủy (Minu xinh đẹp), của cậu (Nớc mắt đàn ông), của những đứa con (Phù thủy, ám ảnh),… Nguyễn Thị Thu Huệ

quan tâm đến mọi số phận con ngời Hơn thế nữa, chị còn muốn tìm ra nguyênnhân của những bi kịch mà con ngời gánh chịu Phải chăng là do cái nhìn, sựham muốn và quan niệm của chính họ về cuộc sống Trong tác phẩm của mình,bằng trái tim mẫn cảm tự nhiên và một cái đầu tỉnh táo, ngời phụ nữ “đa đoan” -

Thu Huệ không chỉ nêu lên những bi kịch muôn hình muôn vẻ của cuộc sống

Trang 26

con ngời mà quan trọng hơn, chị đã thức tỉnh con ngời rằng: cái quý giá nhất trên

đời này là tình yêu và hạnh phúc

Lấy hiện thực cuộc sống xung quanh làm điểm tựa cho cảm xúc sáng tạo,truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ chính là đời sống của những con ngời xungquanh chị, là những tâm trạng, xúc cảm, trăn trở của bản thân chị trớc cuộc sống

Có thể nói, hình tợng tác giả hiện lên trong truyện ngắn của Nguyễn Thị ThuHuệ có nhiều nét độc đáo, đặc sắc Các sáng tác của chị đều in rõ dấu ấn, hìnhbóng của nhà văn với một sự đồng cảm sâu sắc Chị luôn thấu hiểu những gì xảy

ra với nhân vật của mình Bởi thế, đọc những trang văn của chị, độc giả luôn có

ấn tợng sâu sắc về chủ thể sáng tạo

Trang 27

Chơng 2

T tởng, cái nhìn nghệ thuật và

sự tự thể hiện của Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn

2.1 T tởng nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ

2.1.1 Khái niệm “T tởng nghệ thuật“

Mỗi một tác phẩm văn học ra đời là cả một quá trình hoạt động t tởng củanhà văn T tởng là linh hồn, là hạt nhân của tác phẩm, là kết tinh của những cảmnhận, suy nghĩ của nhà văn về cuộc đời Vì thế, t tởng thấm nhuần trong tácphẩm nh máu chảy trong huyết quản thấm đến từng tế bào, từng cơ thể Nghiêncứu hình tợng tác giả trớc hết là nghiên cứu t tởng của chính chủ thể sáng tạo ratác phẩm văn học Tầm cỡ của một nhà văn đợc đo bằng chính tầm cao về t tởng

và chiều sâu về tâm hồn biểu hiện cụ thể, sinh động qua thực tiễn sáng tác Tuynhiên, cho đến nay, việc xác lập một nội hàm cơ bản cho khái niệm “t tởng nghệ thuật” của nhà văn là một vấn đề không hề đơn giản.

Ngời đầu tiên đa ra khái niệm “t tởng nghệ thuật” là nhà lí luận phê bình

văn học Nga Biêlinxki Ông từng khẳng định: “nghệ thuật không chấp nhận ngời

ta nói với nó bằng những t tởng triết học trừu tợng (…) một t tởng nghệ thuật không phải là một tam đoạn luận, một giáo điều hay một quy tắc, đó là một say

mê mãnh liệt, một nhiệt hứng… Vì thế t tởng trong thơ văn không phải là một t ởng trừu tợng hay một hình thái chết mà là một sáng tạo sống động” Nh vậy, t t-

t-ởng nghệ thuật là một hình thái nhận thức đặc thù của ngơì nghệ sĩ, nhận thứcbằng “toàn bộ con ngời tinh thần với tất cả nội dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó”.

Khái niệm này đã đợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Đó là t tởng đợcrút ra từ toàn bộ sáng tác nghệ thuật của nhà văn Nó mang tính tổng hợp cao cóthể bao hàm cả t tởng đạo đức, t tởng chính trị… Theo Nguyễn Đăng Mạnh: “Đó

là một t tởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối về văn bản toàn bộ thế giới nghệ thuật của ông ta Nó tạo cho sự nghiệp ấy tính thống nhất, tính hệ thống hay nói đúng hơn là tính chỉnh thể” [39, 7] Và cũng theo Nguyễn

Đăng Mạnh: “ Văn học nghệ thuật là một hình thái hoạt động t tởng Vậy nghiên cứu một nhà văn, xét đến cùng là nghiên cứu t tởng của ông ta” Hình thái nhận

thức này đòi hỏi ngời nghệ sĩ phải huy động toàn bộ năng lực tinh thần của mìnhbao gồm cả lí trí và tình cảm kết hợp hài hòa với nhau nh máu thịt, thể xác vàlinh hồn con ngời Hình thái nghệ thuật này cũng thấm nhuần lí tởng của nhàvăn Vì thế, cũng có thể gọi t tởng nghệ thuật là hình thái t duy - tình cảm củangời cầm bút Tuy nhiên cách gọi này vẫn cha thể thâu tóm đợc một cách đầy đủnội dung phong phú, tinh tế, uyển chuyển của hiện tợng thực tế mà ta cần đề cập

đến T tởng nghệ thuật cần đợc hiểu nh một hình thái tinh thần rất cụ thể nảy

Trang 28

sinh do sự cọ xát, va chạm giữa trí tuệ và tâm hồn của ngời nghệ sĩ với hiện thựckhách quan Nó phải bao gồm hai mặt: chủ thể và khách thể thống nhất với nhau.Tuy nhiên, xét đến cùng chủ thể vẫn chiếm u thế và đóng vai trò quyết định Bởivì, ngay trong tác phẩm hiện thực đợc phản ánh đã có yếu tố chủ thể Hiện thựcvốn là khách thể, nhng khi đi vào tác phẩm thì nó đã đợc khúc xạ qua lăng kínhchủ thể - nhà văn Nhà văn chiếm lĩnh nó bằng cả trí tuệ, tình cảm và cả niềm

đam mê nghệ thuật của bản thân Thế giới khách thể là do chủ thể phát hiện vàxây dựng thành hình tợng nghệ thuật Nói cách khác hình tợng nghệ thuật là ph-

ơng thức biểu hiện duy nhất của t tởng nghệ thuật “Hình tợng nghệ thuật là căn

cứ duy nhất để nhà nghiên cứu tóm tắt đợc t tởng nghệ thuật của ông ta” [39,

16]

Đối với một ngời nghệ sĩ, trong quá trình sáng tác, yếu tố tài năng và trítuệ đóng một vai trò quan trọng Song yếu tố có ý nghĩa quyết định nhất chi phốicác yếu tố khác chính là t tởng của ngời nghệ sĩ T tởng của ngời nghệ sĩ luôn đ-

ợc biểu hiện thành hình tợng nghệ thuật Hình tợng nghệ thuật càng phổ biến baonhiêu thì t tởng của nhà văn càng đợc khẳng định và trở nên sâu sắc bấy nhiêu.Tần số xuất hiện của chúng tỉ lệ thuận với mức độ day dứt, trăn trở, ám ảnh trongtâm hồn ngời nghệ sĩ Căn cứ vào hình tợng nghệ thuật để các nhà nghiên cứuphán đoán về t tởng nghệ thuật của nhà văn Tuy nhiên, để có đợc một nhận định

đúng về t tởng nghệ thuật của nhà văn nào đó, ngời nghiên cứu cần phải chú ý

đến tính quy luật trong quan hệ nội tại giữa các yếu tố của chỉnh thể thế giớihình tợng Đồng thời ngời nghiên cứu cũng không nên bỏ qua t tởng nghệ thuậttrong mối quan hệ với những biểu hiện t tởng ngoài sáng tác của nhà văn, chú ýthêm về hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh gia đình, bản thân Tất nhiên là cần phảicẩn trọng vì những thông tin này không phải là sự chân thực trong nghệ thuật

T tởng con ngời là yếu tố động Nó luôn biến đổi theo thời gian, tuổi tác

T tởng nghệ thuật vì thế cũng luôn luôn vận động và có thể có sự chuyển đổitrong quá trình sáng tác của nhà văn T tởng nghệ thuật phải là cái gì đó rất riêngcủa mỗi nhà văn Nó là sự kết hợp hài hòa của cái tài riêng và tình riêng Sự sâusắc trong t tởng kết hợp với ngòi bút sáng tạo độc đáo và tài hoa sẽ quyết địnhtầm vóc của mỗi nhà sáng tác Bởi thế, nghiên cứu hình tợng một tác giả văn họckhông thể không nghiên cứu t tởng nghệ thuật của bản thân nhà văn đó

2.1.2 T tởng nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn

Nguyễn Thị Thu Huệ là cây bút trẻ tiêu biểu của văn học Việt Nam sau

đổi mới Tìm hiểu, xác định t tởng nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ là mộtviệc làm hết sức quan trọng nhằm làm rõ hình tợng tác giả từ yếu tố có tính chấttiên quyết này Bởi tâm hồn con ngời luôn chứa đựng những điều bí ẩn, phongphú và phức tạp Nhận thức có đợc ở mỗi ngời không chỉ do tiếp nhận từ truyền

Trang 29

thống gia đình, từ thành tựu văn hoá dân tộc hay t tởng một thời đại… mà quantrọng là nhờ chính quá trình nỗ lực phấn đấu, sự năng động sáng tạo của bảnthân Nghiên cứu t tởng nghệ thuật của một nhà văn, căn cứ quan trọng nhất lànhờ vào những sáng tác của chính bản thân anh ta Nghiên cứu t tởng nghệ thuậtcủa Nguyễn Thị Thu Huệ cũng vậy, chúng ta cần khảo sát, tìm hiểu từ nhữngtruyện ngắn của chị.

Nguyễn Thị Thu Huệ là một nữ văn sĩ có cá tính mạnh mẽ, có một trí tuệthông minh với một trái tim đa cảm Ngời phụ nữ này luôn quan tâm đến nhữnggì đang diễn ra xung quanh mình, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nghĩ và dámlàm để có đợc tình yêu và hạnh phúc Truyện ngắn của chị hấp dẫn ngời đọckhông chỉ giàu chất đời mà còn bởi t tởng nghệ thuật sâu sắc Thế giới hình tợngnhân vật trong tác phẩm của chị quả thực phong phú, đa dạng Họ là một thế giớinhân vật có tên tuổi, có nghề nghiệp, có vóc dáng, có hạnh phúc lẫn bi kịch Họ

là những công chức, những học sinh, sinh viên, những ngời đàn ông, ngời phụnữ, ngời già, ngời trẻ,… Tất cả đang trên đờng tìm kiếm hạnh phúc và tình yêu.Tất cả đợc thể hiện khá thành công dới ngòi bút của chị Họ chính là phơng tiệnchuyên chở t tởng, tình cảm của chị đến với ngời đọc

Là nhà văn nữ, Nguyễn Thị Thu Huệ luôn dành sự quan tâm đặc biệt chongời phụ nữ Chị rất nhạy cảm với nỗi đau số phận, bi kịch của những ngòi cùnggiới Đa phần trong sáng tác của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ đề cập đến cuộcsống hạnh phúc, tình yêu của ngời phụ nữ trớc cuộc sống đời ở nhiều trạng tháikhác nhau: bất hạnh, khổ đau, lầm lạc, hối hận Mỗi câu chuyện, mỗi cảnh đời

là một số phận có thực đợc nhà văn tái hiện bằng cảm xúc chân thành và bằngtình yêu thơng, sự cảm thông, chia sẻ Viết về họ, dờng nh độc giả luôn cảmnhận đợc ở chị nỗi đau đáu xót xa Ngời phụ nữ trong sáng tác của chị có thểphạm phải những sai lầm, nhng chị nhìn họ bằng ánh mắt bao dung hơn là cáinhìn trách móc Sau mỗi cuộc đời, mỗi số phận, chị luôn gửi gắm những ớc mơ

về tình yêu và hạnh phúc đích thực Từ trong sâu thẳm tâm hồn những ngời phụnữ là những rung động, những khao khát, những ham muốn rất đời và rất ngời vàrất đáng đợc trân trọng Những nhân vật nh My trong Thiếu phụ cha chồng, bà

trong Ngời đi tìm giấc mơ, mẹ trong Mi nu xinh đẹp, Tôi trong Cát đợi, Tôi trong Biển ấm, mỗi ngời một số phận, một hoàn cảnh riêng nhng họ đều là những

ngời phụ nữ rất đáng yêu, đáng quý Họ góp phần không nhỏ làm nên sự độc đáocủa ngòi bút Nguyễn Thị Thu Huệ, sự sâu sắc trong t tởng nghệ thuật của chị

Trong sáng tác của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ cũng rất quan tâm đếnnhững nạn nhân của đời sống kinh tế thị trờng Kinh tế thời mở cửa với nhữngcuộc đua tranh khốc liệt làm đảo lộn những giá trị cuộc sống Cuộc sống con ng-

ời dờng nh mất đi sự êm ấm, yên ả Bi kịch gia đình trở nên phổ biến Con ngời

Trang 30

trở thành nạn nhân của lối sống thực dụng Đồng tiền trong xã hội hiện đại tuykhông là uy lực tuyệt đối nhng nó vẫn còn khả năng biến nốt phần “thiên thần”

còn lại trong một số ngời thành “ác quỷ” Chị day dứt trớc sự băng hoại về đạo

đức của những con ngời thời hiện đại Những trang văn của chị muốn nhắn gửivới mọi ngời rằng: tiền của, ăn mặc, mọi nhu cầu về vật chất đến một lúc nào đó

sẽ trở nên chán ngấy, chỉ có tình yêu thơng, hạnh phúc là cần thiết cho cuộc sốngcủa con ngời Vì thế, con ngời sống cần phải biết nâng niu, trân trọng những gìmình đang có Thực ra những bi kịch mà con ngời hiện đại đang gặp phải phầnlớn là do họ cha có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống Sự ham muốn, dục vọng đãdần dần giết chết bản chất ngời trọng họ, đa họ đến những bi kịch: My trong

Thiếu phụ cha chồng, ngời đàn ông trong Hậu thiên đờng, ông bố trong ám ảnh,

Nguyễn Thị Thu Huệ tuy không giành sự quan tâm đặc biệt cho những

ng-ời đàn ông, song trong sáng tác của chị ngng-ời đàn ông xuất hiện khá nhiều Vớichị, điều quan trọng hơn hết mà chị muốn thể hiện trong trang viết của mình lànhững trăn trở, suy t, xúc cảm trớc cuộc sống Bởi thế, ngời đàn ông không thểthiếu đợc vì họ là một nửa thế giới Mặt khác, phải chăng ngời đàn ông cũng làmột trong những căn nguyên của những bi kịch mà ngời phụ nữ gặp phải trongcuộc đời Là một ngời phụ nữ, hơn ai hết, Thu Huệ hiểu rất rõ những đa đoan củagiới mình Và thực sự thì có không ít những bất trắc, đau khổ mà ngời phụ nữ

gặp phải phần lớn là do sự nhẹ dạ, cả tin trớc miệng lỡi đàn ông Trong hàng loạttác phẩm, ngời đàn ông xuất hiện với hai bộ mặt vừâ tử tế, vừa đểu giả: Phù

thuỷ, Cát đợi, Hậu thiên đờng, Hai nửa cuộc đời, Bản chất ngời đàn ông muôn

đời vẫn thế, a khám phá, thích mới, lạ Những ngời đàn ông trong sáng tác

Nguyễn Thị Thu Huệ cũng vậy, họ tuy đã có gia đình, vợ con nhng không ngừng

đi tìm niềm vui mới ở những ngời đàn bà khác Vì thế, ngoại tình trở thành cănbệnh trầm kha của xã hội thời hiện đại Đây là nguyên nhân gây nên sự rạn vỡ và

bi kịch gia đình và nạn nhân không ai khác là vợ con họ Với lối viết lạnh lùng,sắc sảo, Nguyễn Thị Thu Huệ đã lật tẩy đợc bộ mặt thật cùng những bản chấtxấu xa, bỉ ổi của những gã đàn ông vừa ti tiện, vừa bủn xỉn, vừa lọc đời Đằngsau lối viết ấy, độc giả cảm nhận đợc sự phẫn uất của một trái tim phụ nữ biếtcảm thông và chia sẻ Trong con mắt của nữ nhà văn này, ngời đàn ông khôngdành đợc mấy thiện cảm Song những ngời đàn ông tốt không phải không có.Viết về những ngời đàn ông này, chị thể hiện một sự trân trọng chân thành nhằmtạo cho ngời đọc một niềm tin vào cuộc sống cho dù nó khắc nghiệt, xô bồ nhngvẫn tồn tại những điều tốt đẹp Nhân vật ông già trong Đêm dịu dàng là ngời

hiểu và biết quý trọng cuộc sống, biết an ủi, chia sẻ trớc nỗi đau của ngời khác.Ngời đàn ông trong Biển ấm là ngời đàn ông từng trải, có bản lĩnh, biết yêu và

Trang 31

yêu hết mình nhng anh vẫn là ngời đàn ông đứng đắn, biết giữ gìn, trân trọng

ng-ời mình yêu Nhân vật Anh trong Một trăm linh tám cây bằng lăng là một mẫu

hình đàn ông lí tởng trong xã hội ngày nay… Nguyễn Thị Thu Huệ đã viết về họbằng cả hi vọng và niềm tin vào những gì tốt đẹp của cuộc sống

Tóm lại, t tởng nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ tuy không đợc xâydựng thành những phát ngôn nhng vẫn ẩn chứa hầu khắp trong tác phẩm Thôngqua những hình tợng nghệ thuật này, chúng ta có thể nắm bắt đợc t tởng nghệthuật của chị

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ

2.2.1 Khái niệm chung về cái nhìn nghệ thuật

Cái nhìn nghệ thuật là một năng lực tinh thần đặc biệt của con ngời Đó làkhả năng con ngời vợt lên trên mọi hoạt động bản năng để thâm nhập vào sự vật,phát hiện những nét riêng, độc đáo của sự vật, bảo lu sự toàn vẹn thẩm mĩ của sựvật Cái nhìn nghệ thuật giúp cho ngời nghệ sĩ, ngắm, bóc tách những vấn đề củacuộc sống bằng chính sự suy luận lôgíc và trừu tợng Do đó, trong văn họckhông thể thiếu cái nhìn nghệ thuật Cái nhìn nghệ thuật đợc vận dụng muôn vẻtrong nghệ thuật, ở trong đó, đòi hỏi ngời nghệ sĩ phải có khả năng lĩnh hộinhững đổi thay, những diễn biến của cuộc sống một cách nhạy bén và sâu sắchơn Ngời nghệ sĩ phải phát hiện và lu giữ những ấn tợng của cuộc sống, phảithâm nhập, thấm qua những giới hạn bên ngoài của sự vật mà cho đến thời điểm

đó cha ai biết tới Cái nhìn nghệ của ngời nghệ sĩ đối với cuộc sống vốn đợc hìnhthành từ sự trải nghiệm thực tế cuộc sống của họ Trong những điều kiện xã hội

cụ thể đã làm cho những khái niệm về những gì anh ta quan sát có đợc tính hệthống và tình chính xác M.Khrapchencô khẳng định: “chân lí cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài mà cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” Cái nhìn đợc thể hiện qua

nhiều cấp độ quan sát, tri giác, cảm giác… do đó nó có thể giúp ngời nghệ sĩ pháthiện ra cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài trong cuộc sống Cái nhìn có thể bao quátkhông gian, thấu suốt thời gian nhng ngợc lại nó cũng bị không gian và thời gianchi phối Đi liền với cái nhìn là liên tởng, tởng tợng, cảm giác nội tâm biểu hiệnqua những thủ pháp nghệ thuật nh so sánh ví von, ẩn dụ… Cái nhìn có thể đemnhững thuộc tính xa nhau đặt bên ngoài, hoặc đem tách rời thuộc tính khỏi sự vậtmột cách trừu tợng Cái nhìn bao giờ cũng xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu

và tình cảm yêu ghét của cá thể đó Nghệ thuật bao chứa toàn bộ những biểuhiện đó Trong văn học, cái nhìn là một biểu hiện của tác giả, cái nhìn tạo nênphong cách nhà văn Có thể cùng một đối tợng, một vấn đề nhng cái nhìn củangời này khác ngời kia Ngời nghệ sĩ trong sáng tạo cũng mang những đặc điểmtâm thế nh vậy Nhà văn thể hiện cái nhìn của mình trong các chi tiết nghệ thuật,

Trang 32

trong hình tợng nghệ thuật Mỗi khi nhà văn trình bày những gì mà họ thấy cho

độc giả cùng nhìn thấy nghĩa là lúc đó độc giả đã tiếp thu cái nhìn của nhà văn,bớc vào phạm vi ý thức của nhà văn Khi ta nhận thấy nhà văn chú ý đến cái này,chú ý đến cái kia tức là ta đã nhận ra con ngời nghệ sĩ của nhà văn đó Nh vậyqua cái nhìn của tác giả, ta đồng thời thấy đợc con ngời của tác giả M.Bakhtingọi cái nhìn của tác giả là trờng nhìn bao trùm, trờng nhìn dôi ra, lập trờng tác giả Trờng nhìn này của tác giả đã ôm trùm mọi hoạt động của đời sống Nguyễn

Thị Thu Huệ là một nhà văn, một ngời nghệ sĩ, bởi thế chị cũng đã thể hiện trongsáng tác của mình cái nhìn về cuộc sống và con ngời Chị quan sát, tri giác, cảmxúc trớc những hiện thực đời sống xung quanh chị Với chị, những gì đang xảy

ra trớc mắt, cuộc sống thờng nhật cùng với những con ngời bình thờng trong xãhội là những đối tợng rất đáng đợc quan tâm Vì vậy, tìm hiểu hình tợng tác giảNguyễn Thị Thu Huệ trong truyện ngắn của chị đòi hỏi phải đi sâu tìm hiểu cáinhìn của chị về con ngời và thế giới

2.2.2 Cái nhìn về con ngời

Con ngời là đối tợng trung tâm của vũ trụ, là chủ thể sáng tạo và cũng là

đối tợng trung tâm của văn học nghệ thuật Cho dù ngời nghệ sĩ đứng ở góc độnào để miêu tả cuộc sống thì chúng ta đều thấy ẩn hiện đằng sau đó là một quanniệm nghệ thuật về con ngời Quan niệm về con ngời là một vấn đề quan trọngkhông thể thiếu trong sáng tác văn học Bởi vì, quan niệm nghệ thuật về con ngờihớng ngời ta khám phá cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể.Quan niệm nghệ thuật về con ngời biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩmvăn học

Ngoài ra, quan điểm nghệ thuật về con ngời còn là sản phẩm của văn hoá,

t tởng của nhà văn, là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật, trong

đó thể hiện sự tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác Nó mangdấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ gắn liền với cái nhìn của chính bản thân anh

ta Quan niệm nghệ thuật về con ngời là nguyên tắc cảm thấy, miêu tả và hiểucon ngời trong văn học Nó chính là sự khám phá và thể hiện của nhà văn về conngời Tất nhiên, ngời nghệ sĩ không miêu tả và thể hiện đợc nếu nh không hiểubiết, cảm nhận và có các phơng tiện, biện pháp nhất định Nh trên đã nói, quanniệm nghệ thuật về con ngời đợc biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩmvăn học Tuy nhiên, ở văn xuôi, quan niệm nghệ thuật về con ngời chủ yếu tậptrung biểu hiện ở nhân vật, bởi nhân vật văn học là những con ngời đợc nhà vănmiêu tả, thể hiện bằng phơng tiện văn học Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện

cụ thể cách nhìn, cách hiểu của nhà văn về con ngời dới một góc nhìn, theo mộtquan điểm nhất định nào đó

Trang 33

Văn học sau 1975 nói chung đã có sự chuyển hớng mạnh mẽ, đặc biệt từsau đổi mới Văn học bớc từ khuynh hớng sử thi cảm hứng lãng mạn sang cảmhứng thế sự đời t Cũng nh những tác giả khác thuộc giai đoạn văn học này,Nguyễn Thị Thu Huệ chú ý khám phá và miêu tả sâu sắc con ngời đời t đời th-ờng Những con ngời này đi vào sáng tác của chị một cách tự nhiên, phản ánh đ-

ợc sự đa diện, đa chiều và có phần phức tạp của cuộc sống hiện đại

Con ngời đời t đời thờng là kiểu con ngời đợc nhìn nhận trong mọi mốiquan hệ phức tạp: quan hệ lịch sử - xã hội, quan hệ gia đình, bạn bè, làng xóm,

đồng nghiệp, nam nữ… Con ngời xuất hiện trong trang văn với những niềm vui,nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau, hoài nghi, tin tởng… Nghĩa là con ngời xuất hiệntrong văn học sau 1975 nói chung, trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ nóiriêng nh chính con ngời vốn có ở cuộc đời thực Để thể hiện cái nhìn về con ngờiThu Huệ đặt nhân vật của mình chủ yếu trong ba mối quan hệ: với tình yêu, vớigia đình và với xã hội

Nhà văn Nga M Gorki đã viết: “Cuộc sống thiếu tình yêu không phải là sống mà là sự tồn tại Không thể sống thiếu tình yêu vì con ngời sinh ra có một tâm hồn chính là để mà yêu” Với Nguyễn Thị Thu Huệ, chị luôn tôn thờ tình

yêu Tình yêu là điều làm nên mọi giá trị của cuộc sống Đó là một thế giới màkhông ai có thể hiểu tận cùng ý nghĩa của nó Bởi thế, những con ngời trong sángtác của Thu Huệ dờng nh sinh ra là để yêu Họ xem tình yêu nh là nhu cầu, là lẽsống Thậm chí có lúc tình yêu không đơn thuần là sự đòi hỏi thông thờng màkhao khát mãnh liệt khiến ngời ta tìm mọi cách để giành giật đợc nó Và cũngchính vì thế, có khi ngời ta phải trả giá bằng sự đau khổ Trong mỗi câu chuyện,mỗi cuộc đời Thu Huệ đề cập đến trong sáng tác đều thể hiện sự khao khát tìnhyêu đến cháy bỏng Theo chị: “đấy là sự khao khát của bất cứ ai, ở bất cứ đâu trên thế gian này Mỗi một tuổi, sự khao khát về tình yêu mang một khuôn mặt khác, thay đổi theo lứa tuổi và thời gian Không có tình yêu, tôi chắc không ai sống đủ đợc ở cuộc sống này” Bởi thế, trong Cát đợi với những khát vọng về

tình yêu cháy bỏng, con ngời tha thiết hiến dâng và nâng niu những tình yêu đếnvới mình bằng cách lập bàn thờ để thờ anh, thờ tình yêu Tuy nhiên, tình yêu là

thứ tình cảm mà con ngời khó nắm giữ Nó tựa hồ ảo ảnh, cứ mong manh nhng

có một sức hút kì lạ, ghê gớm Có khi con ngời cứ mãi đeo đuổi với khao khát

đến si mê, cuồng dại Con ngời trong Ngời đi tìm giấc mơ thực sự sống có ý

nghĩa vào ban đêm vì trong mơ con ngời ấy đợc yêu, đợc dâng hiến hết mình chotình yêu Cũng có khi con ngời tìm cách vợt ra khỏi những giới hạn giáo lí khắcnghiệt luôn ngăn cách tình yêu của họ Cô gái hai mơi tuổi trong Biển ấm gửi

gắm cả tình yêu đầu đời của mình cho một ngời đàn ông hơn mình hai mơi tuổi,

đã có vợ và bỏ vợ Ngời con gái ấy vì tình yêu nên đã lặn lội đi tìm gặp ngời yêu

Trang 34

và sẵn sàng dâng hiến cho ngời mình yêu Đợc dâng hiến cho tình yêu là mộthạnh phúc Vì thế, cô gái hai mơi tuổi ấy cảm thấy chua chát, thất vọng khi ngờimình yêu từ chối sự hiến dâng Bởi cô nghĩ rằng “anh ấy không yêu nh tôi tởng”.

Nhng rồi những năm tháng của cuộc đời cũng giúp cô hiểu ra rằng: giữ gìn, tôntrọng ngời mình yêu cũng chính là giữ gìn cho tình yêu luôn mãi mãi đẹp Chínhvì thế, mặc dù kết thúc câu chuyện, hai ngời không đến đợc với nhau nhng tìnhcảm mà cô gái giành cho ngời đàn ông ấy mãi còn và mãi ấm áp

Trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, tự do trong tình yêu luôn luôntồn tại Đó là nhu cầu, là khát vọng sống của mỗi con ngời Những giây phút đợcsống bên ngời mình yêu quả thực không còn hạnh phúc nào bằng Nhiều lúc vìhạnh phúc trong tình yêu, con ngời có thể quên đi tất cả để rồi cuối cùng nhìnlại, con ngời cảm thấy ân hận tiếc nuối (Còn lại một vầng trăng) Nhân vật tôi

trong truyện ngắn này thực sự đợc sống hạnh phúc với ngời mình yêu trong một

đêm trăng sáng - lúc bố của mình đang hấp hối trên giờng bệnh Để rồi sau đó cứmỗi khi trăng sáng là cô cảm thấy ân hận: “Tôi thơng bố nh thể tôi là ngời làm

bố chết" Nếu con ngời chỉ biết sống cho tình yêu và hạnh phúc của bản thân mà

quên đi tất cả thì "có khi phải ân hận và trả giá suốt cuộc đời”.

Tình yêu tự do chỉ có thể định hình trên cái nền, cái ràng buộc và khátvọng của con ngời vận động đến những điều mình mơ ớc Chúng ta thấy rõ điềunày qua truyện ngắn Tình yêu ơi ở đâu Truyện kể về một cô gái đi tìm tình yêu.

Tình yêu mà cô gái đi tìm xuất phát từ quan niệm mang màu sắc lí tởng củamình Cô ghé mình qua ba ngời đàn ông nhng cả ba đều quá xa vời với thần tợngtình yêu mà cô xây đắp từ thời còn là sinh viên Ngời đàn ông thứ nhất mà côghé qua là một nhà thơ nghiệp d bụi bặm và cẩu thả Cô chỉ yêu những bài thơ

của anh chứ không thể yêu con ngời anh ta Mối tình lãng mạn với nhà thơ đãnhanh chóng đổ vỡ Bởi vì cô nhận ra ngời mình yêu: “Đến thân mình chàng chẳng thiết thì làm sao lo cho ngời khác Chàng không và sẽ không bao giờ có sức làm trụ cột gia đình mà nàng thì ngại những ngời đàn ông nh thế” [28, 130].

Ngời đàn ông thứ hai là một ngời làm nghề kinh doanh, đang cống hiến hết mìnhcho sự nghiệp làm giàu, không cẩu thả và bui bặm nh chàng thi sĩ nhng anh ta lại

là một ngời thực dụng ý thức quá coi trọng sức mạnh của đồng tiền, quan niệmthiếu văn hoá về con ngời và lẽ sống đã biến anh ta thành kẻ ích kỉ, tàn nhẫn vàvô học Mối tình này của Quyên thực ra mang màu sắc hôn nhân nhiều hơn làtình yêu Tuy nhiên, cô đã không để hôn nhân huỷ diệt quyền sống tự do vàchính đáng của con ngời Sau khi nhận ra bản chất con ngời của gã “Nàng khóc

và tháo chiếc nhẫn ở tay ra, ném xuống đất” [28, 134] Vì nàng không muốn nhìn thấy loại vũ phu đó”, nàng không muốn vì tiền bạc mà ngời ta coi thờng

Trang 35

mình Ngời đàn ông thứ ba mà nàng ghé qua là một ngời lính xuất ngũ, nghèonhng chân thật Anh đã goá vợ và đã có hai con Ngời đàn ông này đến vớiQuyên khi nàng bắt đầu sợ tình yêu, khi "nàng hiểu rằng đàn ông thời này cho

ai một thì đòi lại hai" nhng với anh Nàng thực sự mến anh, muốn gặp anh mỗi khi đi làm Xa anh thấy nhớ” [28, 136] Thế nhng chính Quyên đã không thể vợt

qua đợc những xung khắc của gia đình mới vì những đứa con riêng của anh Cuốicùng kết thúc câu chuyện, Quyên đã không thể tìm đợc tình yêu nh nàng nghĩ vàmong muốn Cô rơi vào thất vọng

Trong sáng tác của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ đã đa lên trang viết rấtnhiều mối tình mà ở đó hạnh phúc có, khổ đau có và cả tuyệt vọng cũng có Bởitình yêu nh là một thứ ma lực khiến con ngời bị hút vào và khó có thể cỡng lại đ-

ợc Con ngời trong sáng tác của chị luôn theo đuổi tình yêu nh một khát vọng

điên cuồng, luôn nâng niu tình yêu và tha thiết đợc hiến dâng Và có lẽ cha baogiờ ngời phụ nữ lại thôi khao khát hạnh phúc và tình yêu nh trong truyện ngắnNguyễn Thị Thu Huệ Với nhân vật tôi trong Cát đợi, tình yêu là tất cả, là khát

vọng thanh xuân, là niềm yêu đời, vui sống Cô đã trao tặng ngời mình yêu tất cảnhững gì mà cô có và đó là niềm hạnh phúc của cô Cũng khao khát tình yêu vàhạnh phúc không kém, nhân vật Tôi trong Ngời đi tìm giấc mơ dám đánh cợc với

đời để đổi lấy tình yêu và hạnh phúc cho mình, dám chấp nhận một ngời chồng:

Mặt trắng bệch, nớc da của kẻ không biết đến ánh sáng và khí trời Mặt ngời ấy

to phì, nhng chân tay ngời ấy lại teo nhỏ Trắng nõn nh hai củ sắn đã bóc vỏ ngâm nớc” [28, 254] Vì tình yêu và hạnh phúc, ngời phụ nữ trong truyện ngắn

Nguyễn Thị Thu Huệ thờng tìm cách vợt qua luân thờng đạo lí Nhân vật tôi

trong Biển ấm đã tỏ ra rất quyết liệt để tìm tình yêu, hạnh phúc Thậm chí có

nhân vật vì tình yêu và hạnh phúc của bản thân mà trở thành bất nhân, tàn nhẫn

nh My trong Thiếu phụ cha chồng My trở thành một điển hình trong việc bất

chấp tất cả để có đợc tình yêu và hạnh phúc Là một cô gái nông thôn khoẻmạnh, xinh đẹp, My có khao khát cuộc sống nơi thị thành Cô không chấp nhậncuộc sống nhạt nhẽo ở cái xứ “chó ăn đá, gà ăn sỏi” Với suy nghĩ: trong thời đại

ngày nay, muốn có hạnh phúc không thể bó tay ngồi chờ và cam chịu, My đãtrốn nhà khăn gói bỏ đi theo anh chàng diễn viên đa tình Rốt cuộc, My bị lừa,

đành quay về với gia đình Tuy nhiên, trong con ngời My, khát vọng tình yêu,hạnh phúc vẫn thổn thức Cô vẫn luôn ớc ao đợc sống sung sớng ở chốn thịthành Chính vì thế, My bất chấp tất cả, giành giật tình yêu, hạnh phúc từ tay ng-

ời chị gái của mình, cớp chồng của chị, đẩy chị vào tình cảnh khốn khổ, đau đớn

và chết Tất nhiên cuối cùng My cũng phải trả giá cho hành động của mình:chồng bỏ đi cùng với đứa con vừa mới chào đời bị dị tật bẩm sinh Nhng từ nhânvật này chúng ta thấy đợc sự quyết liệt, mạnh bạo, khao khát đến cháy bỏng tình

Trang 36

yêu và hạnh phúc của cá nhân con ngời trong trang viết của Nguyễn Thị ThuHuệ.

Trong sáng tác của chị, ngời đọc còn bắt gặp có những tình yêu làm chocon ngời thoát khỏi cuộc sống tầm thờng ích kỉ và trở nên cao thợng hơn Đó làtình yêu của một ngời điên trong Cõi mê: Nó trong trẻo, thánh thiện và cổ xa”

[28, 481] Dờng nh trong câu chuyện này, những ngời vốn dĩ rất bình thờng lạikhông đủ tỉnh táo để nhận ra rằng tình yêu là thứ báu vật mà cuộc sống ban tặng

cho con ngời Những con ngời rất bình thờng ấy chỉ biết chửi nhau, tranh giànhquyền lợi cho bản thân bởi những toan tính ích kỉ tầm thờng, còn nhân vật cô tôi

- một ngời ngớ ngẩn lại biết yêu thơng, biết đón nhận tình yêu và sống tronghạnh phúc tràn trề Con ngời ấy đã cho Len - một ngời đàn ông nhỏ bé cằn cỗi

phải rung động, cảm phục và muốn lấy làm vợ Anh đã khẳng định: “Cô ấy không điên, không điên tí nào cả Tại vì không ai gần cô ấy Một ngời nh tôi, đợc lấy cô ấy là hạnh phúc” [28, 486] Hai ngời tởng nh không bình thờng ấy lại biết

tìm đến với nhau và trở thành chỗ dựa cho nhau, cùng sống trong hạnh phúc mànhững ngời đợc coi là bình thờng không dễ gì tìm thấy đợc Tình yêu đích thực làthứ tình cảm thiêng liêng, không có chỗ cho những toan tính vụ lợi Có lẽ vì thế

mà những ngời đợc coi là tỉnh táo không thể hiểu và có đợc Chỉ có những ngời

điên nh Len và nhân vật cô tôi mới có thể hiểu và tìm thấy sự ngọt ngào của nó.

Bởi họ đến với nhau bằng tình cảm chân thành, bằng sự đồng cảm và chia sẻ:

Cô là ngời hạnh phúc bởi cô chẳng mu tính gì” [28, 487] Nguyễn Thị Thu Huệ

đứng sau mối tình ấy, ủng hộ và tán dơng cho họ: “Suy cho cùng Nếu điên đợc

nh cô, tôi thấy tất cả nên điên Đấy là hạnh phúc” [28, 488].

Tình yêu và nhu cầu hạnh phúc chính là điều kì diệu trong cuộc sống conngời Ngời phụ nữ đa cảm Thu Huệ đã thể hiện trong sáng tác của mình muônvàn cung bậc tình yêu Mỗi một mối tình mang một sắc thái riêng và đợc chịnhìn nhận, lí giải theo một cách riêng Bên cạnh tình yêu ngọt ngào nh trong Cát

đợi lại có tình yêu chỉ mang lại cay đắng nh trong Hậu thiên đờng, có những tình

yêu nhanh chóng đi vào quá khứ, không làm con ngời nghĩ ngợi nhiều nh trong

Còn lại một vầng trăng, cũng có tình yêu còn mãi với thời gian cho dù hai ngời

không đến đợc với nhau nh trong Biển ấm Tuy nhiên, dờng nh trong truỵện ngắn

Nguyễn Thị Thu Huệ, phần lớn là những cuộc tình éo le, đau khổ nhiều hơn làhạnh phúc, cay đắng nhiều hơn là ngọt ngào, chia ly nhiều hơn là sum họp Phảichăng là do sự trải nghiệm cuộc sống của chị, sự thấu hiểu bản chất cuộc sốngcon ngời của nữ văn sĩ Thu Huệ Chị đã từng tâm sự: “Khi va chạm ngoài đời, từng trải trong cuộc sống, tôi mới thấy giá trị của tình yêu Tôi nghĩ rằng nhiều

Trang 37

ngời có nó, nhng lại không biết hoặc không thấy hết giá trị, từng ngày lãng phí

và đánh mất nó Hãy dành cho tình yêu sự tôn trọng xứng đáng”.

Trong cuộc sống hiện đại, ngời phụ nữ không còn bị những ràng buộc củanhững luật lệ hà khắc, bởi những hủ tục lạc hậu nh những ngời phụ nữ trong xãhội phong kiến xa Bởi vậy, họ có điều kiện giao tiếp, lựa chọn và tìm cho mìnhhớng đi riêng Những cây bút nữ sau 1975 đã bộc lộ sự thay đổi trong t duy vềngời phụ nữ hiện đại Nguyễn Thị Thu Huệ đã tâm sự: “Là phụ nữ, ai cũng vậy,

đến chết vẫn mong chờ một tình yêu đẹp Đó đơn thuần không chỉ là việc ngời phụ nữ đi tìm hạnh phúc mà đó còn là việc họ có khát vọng cuộc sống” Ngời

phụ nữ trong truyện ngắn Ngời xa luôn cất giữ, nâng niu, trân trọng trong lòng kỉ

niệm về mối tình: “Mỗi khi thất vọng về cuộc đời hay ngời chồng, tôi thờng an ủi: Biết thế mình lấy anh Anh yêu mình thế chắc mình sẽ hạnh phúc Rồi tởng t- ợng ra anh cũng đang chờ đợi tôi ở một góc trời” [28, 323] Mối tình ấy có lẽ sẽ

đeo đẳng nhân vật tôi suốt cuộc đời: Có lẽ lúc về già Tôi lại mãn nguyện kể với

đứa cháu rằng: ngày xa, bà đã có một tình yêu Một tình yêu tuyệt đẹp theo bà suốt đời” [28, 324].

Không riêng gì phụ nữ trong Ngời xa mà gần nh tất cả ngời phụ nữ thời

hiện đại “hầu nh trong đời ai cũng đều xếp xó vài cuộc tình” Có thể thấy trong

sáng tác của các nhà văn sau 1975, những nhân vật nữ đều khao khát cháy bỏngmột tình yêu và niềm vui hạnh phúc cho riêng mình Thời gian lặng lẽ trôi, cuộcsống vẫn tiếp diễn, nhng không phải lúc nào cũng theo ý muốn của con ngời.Trong lòng mỗi ngời bất chợt một lúc nào đó giữa cuộc sống xô bồ lại chẳngnghĩ về một thời đã qua, nghĩ về những phút giây hạnh phúc mà mình từng có:

Hồi ấy chúng tôi mê nhau hơn là yêu nhau theo công thức: tình bạn bạn thân tình yêu nh những chuyên gia tình yêu thờng rao giảng Chúng tôi luôn có cảm giác mới lạ, tìm kiếm Một cái nắm tay Một chiếc khăn mùi xoa nồng nàn hơi

-ấm Nụ hôn thoáng qua vội vã Vừa chạy khỏi nó, vừa tìm kiếm nó”[28, 395] Kỉ

niệm tình yêu thờng đợc nhắc đến trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đôikhi rõ ràng, cụ thể, nhng cũng có lúc rất mơ hồ Ngời đàn bà trong Biển ấm sau

khi đã lập gia đình dù vẫn yêu chồng và con, nhng một lần ra biển - nơi đã từng

in dấu kỉ niệm tình yêu đầu đời, vẫn nhớ ngời yêu da diết, cồn cào: “Anh ở đâu? Sao tôi nhớ anh thế này Bao nhiêu năm Tôi sống và hiểu rằng chẳng bao giờ tôi gặp đợc ngời đàn ông thay thế đợc anh trong tâm linh” [28, 155] Kỉ niệm tình

yêu trong trang văn Nguyễn Thị Thu Huệ đợc nhắc đến dù rõ ràng hay mơ hồ thìtất cả đều đợc nâng niu, trân trọng, giữ gìn nh một điều thiêng liêng Trong Cát

đợi, nhân vật tôi - ngời đàn bà sống trong cô đơn những vẫn tin vào tình yêu và

tôn thờ nó nh một báu vật không dễ gì tìm thấy đợc: “Hầu nh trong đời ai cũng

Trang 38

xếp xó vài cuộc tình Còn tôi Cũng một lần Chỉ khác là tôi không xếp xó tình yêu của mình, tình yêu của tôi không bị mạng nhện chăng bởi tôi đem đặt nó lên bàn thờ, và siêng năng thờ cúng” [28, 456]

Với ngời đàn bà ấy, tình yêu nh nguồn sống, là sinh lực, là niềm hạnhphúc trong cuộc sống Cô đã trao tặng, hiến dâng tất cả những gì mình có dù biếtngời yêu sẽ trở về với gia đình và cũng biết rằng cô không thể bắt anh dứt bỏ nóvì cô là ngời đến sau

Tình yêu luôn là niềm khao khát của bất cứ ngời phụ nữ nào Không chỉthế, tình yêu còn nh phép màu nhiệm có thể làm thay đổi tâm tính con ngời.Nhân vật Hoài trong Xin hãy tin em vốn là một cô gái có cá tính mạnh mẽ, luôn

chứng tỏ bản lĩnh của mình bằng những việc làm của kẻ quậy phá Hoài đã từngmệnh danh là cao thủ hút thuốc, uống rợu “Hoài đã chứng tỏ bản lĩnh của cô gái thành Vinh: ngang tàng bất chấp tất cả Cô muốn mình làm đợc mọi thứ không thua kém ai” [28, 30] Cô gái xinh đẹp, sắc sảo ấy đang theo học ở một tr-

ờng Đại học và “Đến năm thứ t thì Hoài trở thành một nhân vật nổi tiếng khắp trờng và lan ra khu vực xung quanh Hoài có thể uống hàng lít rợu trắng không say, hút thuốc lào không mệt mỏi, nhảy đầm thâu đêm và đánh đu với ngời đàn

ông nào chịu đợc cô” [28, 31] Một con ngời ngang tàng, ngỗ ngợc bất chấp tất

cả nh Hoài bỗng chốc thay đổi tất cả khi tình yêu đến Cô nh con cua bể lột xác.Cô trở thành một ngời hoàn toàn khác: dịu dàng, ngoan ngoãn chứ không phải làcô Hoài thớt trơ nh mọi ngời vẫn gọi Tình yêu quả là phơng thuốc thần tiên.

Chính sức mạnh tình yêu đã đem đến cho Hoài nguồn sinh lực mới với những ớcmơ và hoài bão về một tơng lai tơi sáng “cô sẽ làm vợ anh và luôn sống bên anh, ngời mà cô tin, yêu và nghe lời hơn cả bố mẹ vì Hoài luôn trách bố mẹ sinh cô

ra phận gái nhà quê nghèo khổ Hai ngời mê đắm trong hạnh phúc của một tơng lai huy hoàng Trong lớp của Hoài, cô sẽ là ngời may mắn nhất” [28, 33]

Tuy nhiên, dờng nh trong hầu hết truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ,những mối tình đẹp thờng kết thúc dở dang Mối tình của Hoài đã gần đi tới đíchnhng rồi tan vỡ hết cả chỉ vì những chén rợu, những bản nhạc trong buổi sinhnhật mẹ ngời yêu Hoài đau đớn, tuyệt vọng: “Nớc mắt Hoài trào ra Bố mẹ ơi, sao bố mẹ không dạy con rằng mọi chuyện đều xảy ra có một lần trong đời Cái gì qua đi không lấy lại đợc” [28, 36] Những cuộc tình kết thúc dang dở thờng để

lại trong lòng ngời đọc những kí ức, những hoài niệm, và những khát khao Đó

có thể là những bài học giúp con ngời khôn lớn hơn, trởng thành hơn, nhạy cảmhơn trong cuộc sống Trong Hậu thiên đờng, ngời đàn bà - ngời mẹ đã khóc th-

ơng cho số phận của mình vì cuộc đời của chị đã từng lầm lỡ, từng hối tiếc Vàgiờ đây, chị đang khóc thơng cho chính cuộc đời đứa con gái duy nhất của mình

Trang 39

Lẽ nào chính con chị cũng là nạn nhân của trò đời Điều đó khiến chị lo lắng,băn khoăn và trong linh cảm của ngời mẹ, chị biết rằng đứa con mình đang đứngtrên bờ vực thẳm Ngời mẹ ấy đã từng sống với niềm đam mê chốn thiên đờng,

đã tìm đến với các cuộc vui, chạy trốn tuổi già bằng những cuộc hẹn hò dang dở.Nhng đến khi nếm đủ vị đắng của tình yêu, bất lực trớc số phận, chị quay về vớinhững kỉ niệm tình yêu ngọt ngào: “Còn nhớ Năm 24 tuổi Tôi và ngời tình đầu tiên lách chiếc xe đạp từng tí một Giữa dòng ngời Chân chôn chặt dới đất nhng cũng ngửa cổ lên trời để xem pháo hoa Từng chùm hoa lắc rắc trên bầu trời tím ngắt Tôi ôm lấy anh, nh muốn nuốt từng vì sao rơi rụng và hét lên vì hạnh phúc”

[28, 472] Thực tại, chị chỉ có hai bàn tay trắng và một đứa con gái 16 tuổi - cáituổi vụng dại mà một thời chị đã trải qua với niềm hạnh phúc tràn trề Còn chịthì hoảng loạn khi biết điều đó vì cái mà con gái chị gọi là thiên đuờng thì với

chị đấy là địa ngục Chị “ gồng ngời nh điên Lại giống kẻ bị mất của Cũng nh ngời đánh xổ số, chỉ trệch một số cuối cùng của giải độc đắc Cuồng điên Tiếc nuối Bất lực” [28, 472] Chị nh rơi vào cõi h vô để dõi theo bớc đi của con gái

mình, cay đắng nhìn con trong vòng tay ngời đàn ông đáng tuổi bố nó Chị nhận

ra rằng “Hoá ra Đàn bà Ai cũng có những khả năng đặc biệt giống nhau Yêu

đ-ơng Ghen tuông Cuồng si” [28, 474] Tình yêu và hành phúc luôn là điều quan

trọng, là mối quan tâm của ngời phụ nữ Chính vì thế, ngời phụ nữ nào cũng tựtìm đến với tình yêu của mình Thậm chí trong sáng tác của Thu Huệ có nhữngngời phụ nữ dám xé rào, bứt phá khỏi những ảo vọng của gia đình để đi tìm cái

gọi là hạnh phúc đích thực của mình Nhân vật Chị trong Tân cảng là một ví dụ.

Chị có một gia đình hạnh phúc Chồng là một ngời đàn ông hoạt bát, giỏi dang,say mê công việc và có trách nhiệm với gia đình, vợ con Thêm nữa chị có hai

đứa con trai ngoan ngoãn và một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi nh “thiên đờng trên mặt đất” Nếu trớc kia khi cuộc sống gia đình còn túng thiếu thì vợ chồng, con

cái quây quần bên nhau, nghèo nhng hạnh phúc, ấm cúng thì giờ đây khi cuộcsống quá đầy đủ, sung túc thì bi kịch lại đến với gia đình chị Ngời phụ nữ đoanchính “cha đến bốn mơi, da thịt mát lạnh thơm tho của sự nhàn hạ đang cần sự yêu chiều ve vuốt” [28, 10] Trong khi đó chồng chị chỉ biết kiếm tiền và mải mê

với công việc xã hội Anh ấy không để ý và không hiểu đợc ngời vợ của mình

đang cần gì “Anh cũng không kịp nhìn thấy chị đợi anh bằng chiếc váy sa tanh bóng mới mua mát lịm nh miếng thạch mới mua Và anh cũng chẳng kịp biết đến một lọ hoa to chị cắm góc phòng đang dịu dàng toả hơng Tất cả Tất cả đầy đủ

và hoàn thiện Chỉ đợi có anh” [28, 10] Trong khi Anh luôn cảm thấy hài lòng

và yên tâm khi săn đợc hợp đồng mới Không gì sớng bằng cha xong việc này đã

có việc khác Để khi về nhà Đi vào những cánh cửa Bỏ lại xã hội ngoài đờng.

Trang 40

Anh có chị Có hai thằng bé với một căn nhà nh thiên đờng trên mặt đất Anh ởng thế là đủ” [28, 11] thì chị lại cảm thấy trống trải, cô đơn Anh đã không kịp

t-nhận ra sự đổ vỡ của gia đình "cho đến khi chị đi Đi hẳn Anh mới bừng tỉnh".

Ngời phụ nữ của đời anh đã không cam chịu, không kìm nén đợc lòng mình Vàtrong một chuyến công tác, khi hơi men của rợu lâng lâng, bên cạnh một ngờiPháp đẹp trai, lịch lãm, trong một chiếc ôtô sang trọng chị đã: “Vô thức nói Vô thức cời Vô thức thấy lòng chộn rộn Vô thức thấy rạo rực đôi môi Và tim vô thức đập nhanh Mọi thứ đều vô thức Chắc tại một thứ không vô thức là bản năng của ngời đàn bà khao khát trỗi dậy bên trong” [28, 11] Trong cơn say, với

bản năng ngời đàn bà đang cần sự yêu chiều ve vuốt, chị bị cuốn vào một thứtình cảm đặc biệt mà bấy lâu nay trong cuộc sống vợ chồng, chị còn thấy thiếu.Chị đã đánh đổi tất cả để đợc sống trong sự nồng nàn của tình yêu với ngời đàn

ông Pháp Chắc chắn rằng, ngời phụ nữ nhạy cảm và đa đoan nh chị hiểu rất rõviệc làm của mình Nhng bản năng của ngời đàn bà, khao khát tình yêu trong chị

đã tiếp sức, đem lại cho chị sức mạnh, sự quyết liệt để xé rào và đến với hạnh

phúc cá nhân của chị

Nguyễn Thị Thu Huệ để cho nhân vật của mình xé rào, bứt phá không có

nghĩa là nhà văn nhiệt thành ủng hộ các chị em khi ai đó biết lách ra khỏi vòngquay nhỏ bé chật hẹp của gia đình để chạy theo tình yêu không có đích Là nhàvăn nữ, hơn ai hết, Thu Huệ hiểu đợc từ xa, ngời phụ nữ Việt Nam đã sống trong

sự trói buộc của những luật lệ hà khắc của xã hội phong kiến tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh, và phụ nữ ngày nay mặc dù không chịu những ràng buộc

nh phụ nữ xa nhng những gì liên quan đến nhân phẩm vẫn rất cần thiết đối với

họ Tuy nhiên, với phái yếu, cái mà họ cần hơn trong cuộc sống là tình yêu, làhạnh phúc, là sự che chở của ngời đàn ông hơn bất cứ thứ gì trên đời Khao khát

ấy có lúc mãnh liệt đến mức khiến ngời phụ nữ bất chấp tất cả để có đợc tìnhyêu, hạnh phúc Tình yêu và hạnh phúc đều cần cho mọi thế hệ, mọi con ngời.Tuy nhiên ở mỗi lứa tuổi, mỗi ngời, tình yêu biểu hiện với những sắc thái riêng

Dù ngời phụ nữ có thành đạt đến đâu thì họ vẫn luôn cần có một chỗ dựa vữngchắc cho tâm hồn vốn nhạy cảm, yếu đuối của họ Ngay cả khi ngời phụ nữ cóhạnh phúc trong tay thì dờng nh họ vẫn khát khao tìm kiếm một điều gì đó Đâychính là nguyên nhân dẫn đến bi kịch gia đình của không ít ngời phụ nữ ThuHuệ dờng nh đã nhìn thấy hết mọi góc khuất của tâm hồn ngời phụ nữ Chị đãviết bằng cả trái tim thơng yêu, sự đồng cảm, chia sẻ của mình Nhu cầu tình yêu

và khát khao hạnh phúc của ngời phụ nữ nói riêng, con ngời nói chung đều đợcNguyễn Thị Thu Huệ nâng niu, trân trọng Bởi đó là nhu cầu chính đáng của conngời Điều đáng trân trọng nhất ở nhà văn Thu Huệ là chị đã dũng cảm nói lênnhững khát khao thầm kín nhất của con ngời, chị đã dám chấp nhận con ngời th-

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Vũ Tuấn Anh (1995), “ Đổi mới văn học vì sự phát triển ” , Tạp chí văn học, ( 4 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí "vănhọc
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
4. Đào Tuấn ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh su tầm và biên soạn (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: su tầm vàbiên soạn" (2003), "Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lýthuyết
Tác giả: Đào Tuấn ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh su tầm và biên soạn
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
5. Lại Nguyên Ân (1986), “ Văn xuôi gần đây diện mạo và vấn đề”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ( 4 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi gần đây diện mạo và vấn đề”, Tạpchí" Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
6. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà nội
Năm: 1999
7. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Thị Hoài Thanh (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Thị Hoài Thanh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
8. M.Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôtxtôiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
9. M.Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
10. Lê Huy Bắc (1998) “ Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học, ( 9 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạpchí" Văn học
11. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn và lí luận tác giả - tác phẩm, tập1, Nxb Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn và lí luận tác giả - tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
12. Nguyễn Thị Bình (2001), “ Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu - một thành công đáng chú ý của văn xuôi sau 1975”, Tự sự học, Nxb Đại học S phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu - một thànhcông đáng chú ý của văn xuôi sau 1975”, "Tự sự học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sphạm
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Bình (2006), "Về hớng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 đến nay", Văn học Việt Nam những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hớng thử nghiệm của tiểu thuyết ViệtNam từ cuối thập kỷ 80 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
14. Lê T Chỉ (1996), Để phân tích truyện ngắn, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để phân tích truyện ngắn
Tác giả: Lê T Chỉ
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1996
15. Trần Thị Dung (2008), Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn ThịThu Huệ
Tác giả: Trần Thị Dung
Năm: 2008
16. Hà Minh Đức chủ biên (2001), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chủ biên" (2001), "Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
17. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (2006), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: đồng chủ biên" (2006),"Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
18. Đỗ Thị Thanh Hà (2007), Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn NguyễnThị Thu Huệ
Tác giả: Đỗ Thị Thanh Hà
Năm: 2007
19. Trần Thị Hậu (2003), Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Trần Thị Hậu
Năm: 2003
20. Phạm Hoa (1989), “ Giới thiệu tập Cát đợi của Nguyễn Thị Thu Huệ”, Báo Văn nghệ Quân đội, ( 2 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu tập "Cát đợi" của Nguyễn Thị Thu Huệ”,Báo "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Phạm Hoa
Năm: 1989
21. Phơng Hoa (thực hiện 9/ 2002), Nguyễn Thị Thu Huệ trả lời phỏng vấn“ Tôi không ép nhân vật của mình thế này hay thế khác”, Báo Thanh niên, ( 248 ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi không ép nhân vật của mình thế này hay thế khác”, Báo "Thanhniên
22. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp truỵên ngắn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp truỵên ngắn
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tợng tác giả - Hình tượng tác giả trong truyện ngắn nguyễn thị thu huệ
Hình t ợng tác giả (Trang 1)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w