Nh vậy, vấn đề ruộng đất ở nớc ta từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX đã có một quá trình nghiên cú lâu dài với sự tham gia chung sức của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu có tên tuổi, cù
Trang 1Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Phan Trọng Sung - ngời đ gợi ý đề tài và tận tâm hã ớng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa luận
Tôi cũng nhận đợc sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Lịch sử, nhất là các thầy cô trong tổ Lịch sử Việt Nam
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn thầy hớng dẫn các thầy cô giáo, bạn bè đ giúp đỡ và động viên tôi hoànãthành khoá luận này
Vinh, tháng 5 năm 2005 Tác giả
Trần Thị Yên
A - Mở đầu
Trang 21 Lí do chọn đề tài:
Việt Nam là một đất nớc có nên kinh tế nông nghiệp phát triển từ rất sớm và chủ yếu Chính vì vậy vấn đề ruộng đất là một vấn đề lớn có tính chất quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam Nó chẳng những quyết địnhvề sản xuất nông nghiệp, về mọi mặt kinh tế khác mà còn quyết định bộ mặt xã hội của mọi thời đại nói chung Vai trò của ruộng đất còn chiếm giữ địa vị quan trọng hơn khi chúng ta đặt nó trong hoàn cảnh của chế độ phong kiến
Bởi vì trong xã hội phong kiến thì nền kinh tế chủ yếu và bao trùm đời sống xã hội đó là kinh tế nông nghiệp Vì thế chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất là cơ sở của quan hệ sản xuất phong kiến, là nền tảng của toàn bộ chế độ phong kiến Vì vậy việc nghiên cứu về vấn đề ruộng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Thông qua đó để tìm hiểu những đặc điểm phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam, cũng
nh cắt nghĩa nhiều hiện tợng lịch sử khác
Đối với lịch sử dân tộc ta, từ thế kỷ XV cho đến nửa đầu thế kỷ XIX đã
đánh dấu một cái mốc rất quan trọng Vì thế kỷ XV đánh dấu sự toàn thịnh, sự tồn tại và phát triển của nhà nớc Lê Sơ Triều Lê cũng đánh dấu bớc chuyển biến mạnh mẽ nhất là về vấn đề ruộng đất Thế kỷ XIX nhà Nguyễn có công rất lớn là thống nhất đất nớc, nhng cũng có cái tội rất lớn là để cho đất nớc ta rơi vào tay của thực dân Pháp Vì thế đây cũng là giai đoạn phức tạp về ruộng
ớc đặt ra
Trang 3Ngày nay, trên con đờng xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa, dới sự lãnh đạo của Đảng thì vấn đề ruộng đất lại đợc đặt ra nhng với một bình diện khác Đó là vai trò chủ động của con ngời và quá trình hợp tác hoá nông nghiệp, nhng vấn đề chủ chốt vẫn là quyền sở hữu t nhân về ruộng đất Những bài học về quản lý ruộng đất xa xa vẫn có tác dụng rất lớn
Tóm lại, việc nghiên cứu chế độ ruộng đất công nói chung, ruộng đất t hữu nói riêng trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam nói chung, thời kỳ nhà nớc
Lê Sơ nói riêng có một tầm quan trọng đặc biệt, nó vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Chính vì những lý do mà nh trên đã phân tích cho nên tôi đã quyết định
chọn đề tài: "Góp phần tìm hiểu ruộng đất t hữu Đại Việt từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX" làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Cho đến ngày nay việc nghiên cứu vấn đề ruộng đất t hữu nói riêng, ruộng đất nói chung trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam không còn là
đề tài mới mẻ nữa mà nó đã có một quá trình lịch sử nghiên cứu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đặc biệt là từ sau năm 1954 [18, 23]
Khi tiến hành nghiên cứu khoá luận "Góp phần tìm hiểu ruộng đất t hữu
Đại Việt từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX", tôi đã đợc tiếp cận với những nguồn tài liệu sau đây:
Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê Sơ thế kỷ XV - Phan
Trang 4Nguyễn Trãi toàn tập, năm 1976 của Viện Sử học
Lịch sử Việt Nam, tập 1 và 2, năm 1980 của Trơng Hữu Quýnh chủ biên Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý Trần, năm 1981 của ủy ban khoa học
xã hội Việt Nam
Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII, tập 1 và 2,
năm 1982 của Trơng Hữu Quýnh
Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống của nông dân dới triều Nguyễn, năm 1997 của Trơng Hữu Quýnh chủ biên
Trên quê hơng Thanh Hoá đã tổ chức kỷ yếu hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông xuất bản cuốn Thanh Hoá thời
Lê, năm 1997
Gia Định thành thông chí, của Trịnh Hoài Đức năm 1998
Ngoài ra thì còn rất nhiều nguồn tài liệu khác đã giúp tôi có thêm t liệu
để làm tốt bài khoá luận này
Nh vậy, vấn đề ruộng đất ở nớc ta từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX
đã có một quá trình nghiên cú lâu dài với sự tham gia chung sức của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu có tên tuổi, cùng với nhiều nhà địa phơng học đã góp phần mình vào việc dựng nên bức tranh về chế độ ruộng đất ở các thế kỷ này làm cơ sở cho việc trình bầy một cách đầy đủ các mặt hoạt động của nông dân về kinh tế nông nghiệp đơng thời [18, 26]
Mặc dù là một đề tài cổ sử nhng vẫn có sức hấp dẫn và lôi cuốn nhiều ngời đặc biệt là những ngời đam mê khoa học, đam mê tìm hiểu một vấn đề lớn nếu nh không muốn nói là cơ bản trong lịch sử dân tộc Việt Nam Đó chính là vấn đề ruộng đất nói chung và vấn đề ruộng đất t hữu nói riêng
Trang 5Trong bài khoá luận này, bản thân tôi tự đặt ra yêu cầu và phân tích các loại hình sử hữu ruộng đất t hữu giữa các khuynh hớng phát triển của chế độ ruộng đất nói chung Đồng thời so sánh và lý giải sự khác nhau cơ bản về ruộng đất t hữu của các triều đại phong kiến Đại Việt từ thế kỷ XV đến nửa
đầu thế kỷ XIX
3 Phơng pháp nghiên cứu:
Để xây dựng và hoàn thiện đề tài này tôi đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau đây: Quán triệt phơng pháp luận Mácxít Lêninnít thể hiệm ở việc kết hợp hai phơng pháp: lôgíc và lịch sử Trong khoá luận chủ yếu đợc trình bầy theo phơng pháp bộ môn - phơng pháp lịch sử để phân tích, đánh giá các loại hình sở hữu ruộng đất t một cách trung thực khách quan
Ngoài ra, do yêu cầu của đề tài, khoá luận này còn sử dụng phơng pháp tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh và suy luận lôgíc để giải quyết những vấn đề mà khoá luận đã đặt ra
4 Giới hạn của khoá luận:
Đề tài của khoá luận là: "Góp phần tìm hiểu ruộng đất t hữu Đại Việt
từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX" có một giới hạn và phạm vi nghiên
Trang 6Vấn đề mà khoá luận nghiên cứu đó chính là phác hoạ ruộng đất t hữu
Đại Việt từ thế kỷ XVđến nửa đầu thế kỷ XIX Tuy bên cạnh đó thì khoá luận cũng dành một chơng để khái quát ruộng đất t hữu từ thế kỷ XV trở về trớc và
có sự so sánh tôi muốn nêu một vài vấn đề ruộng đất thuôc sở hữu của nhà nớc
Lý Trần - Hồ
5 Bố cục của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khoá luận có hai
ch-ơng chính nh sau:
Chơng 1: Vài nét về ruộng đất t hữu trớc thế kỷ XV
Chơng 2: Ruộng đất t hữu từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX
Trang 7A - Nội dungCh
ơng 1:
Vài nét về ruộng đất t hữu trớc thế kỷ XV
Mác và Enghen từng quan niệm "Sự quá độ từ sở hữu công cộng nguyên thuỷ sang sở hữu t nhân thể hiện ở sự chiếm hữu t nhân có định kỳ nh công xã Mác cơ chẳng hạn" [6, 149] đó là đối với Châu Âu Còn đối với Việt Nam thì chế độ ruộng đất t hữu ra đời rất sớm trong lịch sử Nhng thế kỷ XV thì nhà nớc Lê Sơ đã đạt đợc đó là nhà nớc Trung ơng tập quyền cao nhất trong thời kỳ phong kiến Việt Nam Cho đến thế kỷ XVIII nó đặc biệt phát triển mạnh mẽ cùng với nền kinh tế hàng hoá Bớc sang thế kỷ XIX trong khuôn khổ của triều Nguyễn thì triều Nguyễn đã tỏ ra bất lực trong việc củng
cố và phát triển ruộng công dù rằng nhà Nguyễn đã áp dụng những biện pháp mạnh mẽ nhằm tớc đoạt ruộng đất t của giai cấp địa chủ nh ở Bình Định và Nam Kỳ Đằng sau sự thất bại đó là sự phát triển mạnh mẽ và toàn thịnh của ruộng đất t hữu
Để hiểu đợc sự phát triển đó có giống và khác nhau gì về ruộng đất t hữu qua mỗi thời đại thì ta nên hiểu sự xuất hiện và hình thành ruộng đất t hữu trớc thế kỷ XV để có đợc cái nhìn hoàn chỉnh về sự phát triển của ruộng đất t hữu trong thời kỳ phong kiến Đại Việt
1 1 Ruộng đất thời kỳ nguyên thuỷ và thời đại Hùng Vơng
Khi nói đến tình hình kinh tế ở một nớc nông nghiệp vấn đề đầu tiên cần phải xem xét đó là chế độ ruộng đất kiểu gì ? T liệu sản xuất của các thành viên công xã lúc bấy giờ chủ yếu là ruộng đất công nên nó trở thành đặc trng cơ bản nhất của thời kỳ công xã nông thôn Do vậy, trởng lão và hội đồng
Trang 8thị tộc nắm quyền điều hành và phân phối sản phẩm đến từng thành viên công xã thị tộc Nh thế có nghĩa là ai nắm trong tay t liệu sản xuất, mà đó chính là ruộng đất thì ngời đó nắm địa vị thống trị và duy nhất Nhng nó không giữ đợc lâu vì quan hệ huyết thống ngày càng trở nên lỏng lẻo, còn công xã láng giềng (công xã nông thôn, công xã lớn) phát triển Qúa trình này thể hiện công xã quá độ tiến lên xã hội có giai cấp
Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trên là do sự phát triển của kinh tế, do nhu cầu tri thuỷ của nông nghiệp lúa nớc và do nạn ngoại xâm là nguy cơ th-ờng trực và trực tiếp Hội đồng thị tộc đã không phù hợp để quản lý nữa mà cao hơn thời Hùng Vơng với nớc Âu Lạc ngời đại diện cao nhất cho quyền lợi của các công xã quản lý Ngoài Hùng Vơng còn có bộ máy giúp việc không chỉ quản lý nh trớc mà đang tiến tới quản lý trên một lãnh thổ quốc gia
Những từ "ruộng lạc" (lạc điền), "dân lạc" (lạc dân) chép trong th tịch
cổ cho thấy thời bấy giờ ruộng đất t hữu cha xuất hiện Toàn bộ ruộng đất cày cấy cùng với núi, ao, hồ, sông ngòi trong phạm vi công xã đều thuộc quyền
sở hữu của công xã
Cách phân chia ruộng đất lúc bấy giờ thực hiện bằng tục lệ mang tính chất bình đẳng, dân chủ của cộng động công xẫ Trong lịch sử, tựu chung có hai cách phân chia ruộng đất công của làng xã đó là:Phân chia theo định kỳ và phân chia một lần Thời Hùng Vơng cha có ruộng đất t hữu nên cách phân chia ruộng đất rất phổ biến của các công xã lúc đó có thể là cách chia một lần chứ cha phải là cách phân chia định kỳ [9, 16]
1 2 Ruộng đất t hữu thời ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
Các chính quyền đô hộ du nhập quan hệ sở hữu phong kiến vào Âu Lạc
Đất đai Âu Lạc, về danh nghĩa thuộc về quyền sở hữu của hoàng đế Trung Hoa Nhng trên thực tế, các quan laị ngời Hán bao chiếm đất đai, lập trang trai
t nhân Không những thế, chúng còn đa cả gia tộc đến sinh sống lập nghiệp và
Trang 9chiêu tập những quý tộc phong kiến Trung Quốc sang lánh nạn trong những cuộc xung đột nội bộ triều chính tạo thành tầng lớp quý tộc ngời Hán Những thế lực này dựa vào chính quyền đô hộ để chiếm đoạt ruộng đất lập đồn điền
Đó là các trờng hợp của Hoàn Việp thời Đông Hán, Bùi Trung, Đào Hoàng thời Ngô, họ Cổ Nguyễn Phu, Đỗ Viện thời Tấn Đồng thời, các chính quyền
đô hộ cũng chiếm đoạt đất đai, lập đồn điền Biện pháp để lập đồn điền là do dân nghèo ngời Hán hoặc là các tù nhân bị đẩy đến Giao Chỉ, giao đất hoang cho họ khai khẩn và thu tô Các Châu quận cũng đợc phép cho "Đại quan tạp sỹ" lĩnh canh ruộng đất và nộp tô cho chính quyền đô hộ [11, 16]
Quan hệ bóc lột phong kiến cũng đợc áp đặt vào Âu Lạc Ngoài các loại thuế chính thì chúng còn đặt ra nhiều loại thuế khác gọi "ngoại xuất" Chế độ bóc lột đó thật là phi lý và nặng nề vì nó không phải là kết quả tự nhiên của quá trình phát triển kinh tế nội tại của Âu Lạc Nh vây, quan hệ sản xuất phong kiến xuất hiện ở Âu Lạc do chính quyền đô hộ du nhập và áp đặt Nó chỉ tồn tại trong khu vực kinh tế đồn điền của chính quyền đô hộ, trong các trang trại của địa chủ và tầng lớp quan liêu ngời Hán [11, 17]
Tình hình kinh tế, xã hội, chính trị Việt Nam thế kỷ X là sản phẩm trực tiếp của các triều đại trớc Khi nói đến chế độ kinh tế ở một nớc nông nghiệp vấn đề đầu tiên cần phải xem xét là chế độ sở hữu ruộng đất Trong suốt hơn
10 thế kỷ thống trị Việt Nam chính quyền đô đã dùng mọi biện pháp để du nhập phơng thức sản xuất phong kiến vào Việt Nam nh di dân, lập ấp, mộ dân khai hoang lập làng mới, chính sách lơng thuế Một số trang trại t nhân của ngời Việt có thể đã đợc hình thành từ cuối thế kỷ IX Đầu thế kỷ X, những trang trại đó biến thành những điểm phong kiến trên đất nớc ta, nửa đầu thế kỷ
X đợc các làng mới thành lập làm hậu thuẫn
Mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp nhằm phong kiến hoá Việt Nam từ cơ sở kinh tế đến ý thức hệ t tởng, văn hoá, nhng do kết cấu kinh tế - xã hội
Trang 10nội tại bền vững của công xã nông thôn, do sự trì trệ cố hữu của nhà nớc thuộc
"phơng thức sản xuất Châu á" nên chính quyền đô hộ không đạt đợc kết quả nào đáng kể Mà ngợc lại, công xã nông thôn vẫn đợc duy trì và lấy đó tạo nên khối đoàn kết để chống ngoại xâm
Yếu tố t hữu ruộng đất đã xuất hiện trong thời kỳ Bắc thuộc tại các trang trại của một số quan lại, địa chủ ngời Hán Nhng tỉ trọng đó còn nhỏ bé
và nó đợc du nhập vào đất nớc ta bằng quyền lực của chính quyền đô hộ ngoại bang Nó có thể phát triển ở một giới hạn nào đó, nhng không thể làm đổ nền tảng của chế độ sở hữu ruộng đất công xã tồn tại vững chắc, phổ biến Nó cha tác động bao nhiêu vào tập quán cổ truyền của nhân dân ta lúc bấy giờ, không chấp nhận quyến sở hữu t nhân về ruộng đất
Những yếu tố t nhân về ruộng đất đã có từ trong thế kỷ X sẽ bị giảm sút nghiêm trọng vì đã mất chỗ dựa chính trị là quyền đô hộ Trong lúc đó, chính quyền độc lập dân tộc lại cha công nhận về mặt pháp lý quyền t hữu ruộng
Xuất phát từ quan hệ sở hữu trên nên trong quan hệ bóc lột, không có sự bóc lột trực tiếp giữa một cá nhân thuộc giai cấp này đối với cá nhân thuộc giai cấp khác Mà là quan hệ bóc lột giữa một tập thể này đối với một tập thể khác, nhà nớc bóc lột các công xã
Mầm mống ruộng đất t hữu đã bắt đầu xuất hiện rõ nhất là ruộng đất của các hào trởng nhng nó cha thực sự phát triển Mặc dù vậy thế kỷ X xung
Trang 11đột giữa các hào trởng ngời Việt đối với chính quyền đô hộ và sau đó là xung
đột mà tiêu biểu nhất là loạn 12 sứ quân thực chất là xung đột về ruộng đất Sự xung đột đó diễn ra gay gắt và cuối cùng yếu tố độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia chiến thắng
Có thể nói kinh tế ruộng đất trứơc thế kỷ XI là "cha đẻ" là "bà đỡ" cho kinh tế ruộng đất các triều đại tiếp theo Hay có thể nói cách khác rằng kinh tế ruộng đất nói chung, ruộng đất t hữu nói riêng từ thế kỷ XI cho đến nửa đầu thế kỷ XIX đã "thoát thai" từ kinh tế ruộng đất của sở hữu kinh tế ruộng đất thời kỳ nguyên thuỷ và thời đại Hùng Vơng, thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
1.3 Ruộng đất thuộc sở hữu từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV (triều đại Lý -Trần, Hồ)
So với sở hữu công cộng tối cao của thị tộc, bộ lạc thì sở hữu nhà nớc cũng là sở hữu công cộng Nhng vì con đờng thông thờng nhà nớc chỉ xuất hiện khi đã có sở hữu t nhân về ruộng đất và phân chia giai cấp, cho nên sở hữu nhà nớc chỉ có thể hình thành hay áp đặt trên những loại ruộng đất cha thuộc quyền sở hữu hoặc chiếm hữu của các cá nhân hay tập thể nào cả
Mặc dù chế độ sở hữu của nhà nớc bao trùm toàn bộ các loại ruộng đất nhng chúng ta có thể dựa vào đó để chia nó ra thành các loại nh sau:Ruộng đất
do nhà nớc Trung ơng trực tiếp quản lý, bộ phận ruộng đất công làng xã và ruộng đất t hữu
Ruộng đất do nhà nớc Trung ơng trực tiếp quản lý:
Loại ruộng đất này thì nó mang đậm tính cá nhân Điều này không có gì quá đáng khi chúng ta đặt chế độ sở hữu ruộng đất đó trong khung cảnh chung của chế độ ruộng đất đơng thời, khi mà chế độ sở hữu ruộng đất t bắt
đầu phát triển
Ruộng đất công làng xã:
Trang 12Là yếu tố đối lập và ngăn cản sự phát triển của ruộng đất t trong khi quyền hạn về sở hữu ruộng đất t nhân là một nhân tố phù hợp với quy luật tiến lên của xã hội Do ruộng đất công làng xã là một bộ phận ruộng đất lớn nhất trong xã hội Lý - Trần, Hồ nên nó đã làm cho các vơng triều này có tính tập quyền cha đợc
Dới thời Lý Trần nhà nớc bán ruộng đất công làng xã làm ruộng t Sử cũ chép: "Tháng 6 năm 1254 bán quân điền, mỗi diện là 5 quan tiền (bấy giờ gọi mẫu là diện), cho nông dân mua làm ruộng t" [13, 24] Bấy giờ giá ruộng đất
ở bên ngoài là 10 quan / mẫu, cho nên có thể có nhiều ngời mua ruộng công
để làm ruộng t Thực ra cũng khó quan niệm mỗi một hiện tợng nh vậy, vì nó nói lên quá rõ quyền sở hữu thực tế của nhà nớc đối với ruộng đất công làng xã Nhng, khái niệm "quan điền" mà sử cũ dùng ở đây, không có gì đáng nghi ngờ Hơn nữa, nhân việc quan sát các vùng bao quanh xã Trác Bút (Duy Tiên-
Hà Nam Ninh) thì theo ngời xa truyền lại thì bấy giờ (ở nhà Trần), sau khi chia ruộng công khẩu phần xong, nhà nớc cho phép dân đinh mua làm ruộng
t
Hình thức phong cấp ruộng đất độc đáo thời của Việt Nam thời Lý -Trần
là ruộng thác đao Phan Huy Chú nhà sử học nửa đầu thế kỷ XIX viết: "Vua xuống chiếu lấy hơn 100 mẫu ruộng ở Băng Sơn cấp cho ông (Lê Phụng Hiển) làm ruộng t, cho con cháu làm hơng hỏa phụng thờ để nêu công" [12, 92]
Mặt tích cực của ruộng đất công làng xã: đây là bộ phận ruông đất lớn nhất trong tổng diện tích ruộng đất cả nớc cũng nh trong một số ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nớc Trung ơng phong kiến Bộ phận này gánh chịu tất cả những chi tiêu của nhà nớc qua các hình thức: tô, thuế, bổng lộc, phần thởng Ngời nông dân cày cấy ruộng công, ngoài nghĩa vụ nộp tô, còn có nghĩa vụ đi phu, đi lính, nộp thuế không còn cách nào khác họ đã bán vợ đợ con và đôi khi bán cả ruộng đợc chia, dù rằng luật làng cũng nh lệ nớc không cho phép
Trang 13Họ trở thành những dân lu vong không ruộng đất và do đó họ là những ngời tự
do, không chịu nghĩa vụ tô thuế, phu dịch nào
Nhng bên cạnh mặt tích cực của ruộng đất công làng xã thì loại ruộng
đất này cũng có những hạn chế của nó là:Tình trạng lạm quyền của các quý tộc đợc chia đất, đợc cấp đất phong, sự phát triển của hiện tợng mua bán ruộng đất, chính sách cấp ruộng thởng của nhà nớc là những con đờng của ruộng đất công làng xã chạy từ công sang t Nhà nớc thậm chí có lúc bán ruộng đất công với giá rẻ mạt cho dân mua làm ruộng t Diện tích ruộng đất công làng xã do đó bị thu hẹp nhanh chóng [21, 270]
Ruộng đất t hữu:
Chế độ sở hữu t nhân ra đời từ rất sớm, trớc khi có nhà nớc phong kiến
tự chủ Bộ phận ruộng đất này tạo nên khu vực kinh tế tiểu nông độc lập, góp phần làm cơ sở cho sự tồn tại của nhà nớc Trung ơng tập quyền phong kiến và góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển của thủ công và thơng nghiệp Nhng bộ phận ruộng đất đó lại là đối tợng chấp chiếm của bọn địa chủ [20, 271]
Ruộng đất thuộc nông dân t hữu quản lý:
Ngay từ sớm, chế độ sở hữu nhỏ về ruộng đất thuộc nông dân lao động
đã chiếm một địa vị quan trọng trong nền kinh tế Việc khẩn hoang mở rộng ruộng đất canh tác hay xây dựng làng chạ mới, tạo điều kiện phát triển chế độ
sở hữu nhỏ này [18, 140]
Ruộng điền trang:
Năm 1266, do yêu cầu mở rộng diện tích canh tác, tăng thêm nguồn thu nhập quốc dân chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Nguyên Vua Trần cho phép các vơng hầu, công chúa mộ dân phiêu tán biến thành nô tỳ đi khai hoang ở các vùng đất mới ven biển hay ven sông Đất đai khai khẩn đợc, cho phép đợc
Trang 14lập thành điền trang t Từ đó xuất hiện trong nớc ta khá nhiều điền trang với diện tích rộng hẹp khác nhau [20, 274]
So với các loại ruộng đất khác thì ruộng đất điền trang đợc nhà nớc nâng đỡ bằng cách không đánh thuế vào loại ruộng này Cùng với nhiều quyền hạn về tính độc của mọi vơng hầu ở từng địa phơng Sự hình thành điền trang
t nhân của quý tộc Trần cho thấy rõ khuynh hớng muốn vơn lên tới sở hữu phong kiến trong khuôn khổ một nhà nớc tập quyền Chính do nhân tố này, sở hữu nhà nớc không khỏi chịu tác động mà tiếp nhận phơng thức bóc lột của
điền trang quý tộc Ruộng điền trang một mặt kích thích cho xã hội Đại Việt phát triển, nhng mặt khác sự phát triển của điền trang t nhân đã làm phân tán thể thống nhất của nhà nớc Đại Việt trên nhiều mặt, làm thu hẹp sở hữu ruộng
đất của nhà nớc Mà sở hữu ruộng đất của nhà nớc cũng nh sở hữu công xã nguyên thủy là những điều kiện nhất thiết không thể thiếu một khi đứng trớc
sự xâm lợc của kẻ thù từ bên ngoài vào Cho nên chắc chắn rằng hình thức
điền trang không thể tồn tại hay phát triển lâu dài đợc
Kinh tế điền trang sang thời Trần dù có đặc điểm khác lãnh chúa Phơng Tây, nhng cũng là cơ sở của yếu tố phân tán, mang nhiều tính chất tự cung tự cấp, hạn chế mức độ tập quyền của nhà nớc và mức độ thống nhất quốc gia Vì vậy, trong thời kỳ phát triển và thịnh hành của kinh tế đại điền trang, nhà nớc phong kiến không thể phát triển đến mức tập quyền cao hoàn chỉnh đợc
Mà trái lại kinh tế điền trang này phát triển bao nhiêu thì mầm mống phân tán càng lớn bấy nhiêu và trở thành một trong những nguyên nhân làm cho nhà Trần sụp đổ nhanh chóng
Ruộng đất thuộc sở hữu của nhà chùa:
Đây là loại ruộng khá quan trọng và phổ biến hồi bấy giờ ở các thế kỷ
XI - XIV, tuy phật giáo không có quyền hành lớn về mặt chính trị song rất phát triển ngoài xã hội [20, 274]
Trang 15Hàng loạt chùa mọc lên khắp nơi, hàng lọat vị s nổi tiếng ra đời [20, 146] Nhà chùa có ruộng đất t là một hiện tợng lịch sử rõ rệt không ai bác bỏ Nhng so với quyền sở hữu t nhân hay cá nhân của các tổ chức khác thì quyền
t hữu này có nét khác biệt, ở chỗ đứng, ở địa vị nhà chùa thì nhà chùa có ruộng đất t, nhng đứng vào vai trò đia vị từng cá nhân nhà s thì lại không phải
nh thế Trên nguyên tắc s tăng là những ngời tu hành, không lợi lộc, không màng của cải, cho nên họ không muốn và không đợc có quyền sở hữu ruộng
đất Lực lợng lao động sản xuất trong ruộng đất nhà chùa chủ yếu là các điền nô hay nông nô họ đợc coi là thần dân của nhà chùa, chỉ có nghĩa vụ làm mà không có lợi gì cả
Rõ ràng nhà chùa trở thành một tầng lớp địa chủ lớn, song vì thiếu uy thế chính trị nên cũng ít gây tác dụng đối với xã hội Ngời cày ở đây là nô tỳ của chùa Song địa vị của họ cũng là những nông nô nộp tô và tô thì không nặng nh ở các vùng đất của địa chủ thế tục [20, 275]
Ruộng đất thuộc tầng lớp địa chủ quản lý:
Bộ phận ruộng đất phát triển nhanh hơn và có tác dụng hơn đối với chế
độ phong kiến là ruộng đất của địa chủ t hữu Bộ phận này có thể chia làm hai loại: loại ruộng đất địa chủ phi quan lại, phi quý tộc và loại điền trang của quý tộc
Nhà Trần lên thay nhà Lý, sự tồn tại của ruộng t hữu đã trở thành một hiện thực phổ biến trong xã hội
Cho đến cuộc kháng chiến chống Nguyên thì bộ phận địa chủ t hữu đã trở thành một thế lực kinh tế quan trọng của xã hội [20, 273]
Nh vậy, so với các triều đại trớc thì dới triều Lý - Trần ruộng t đã có
b-ớc phát triển đáng kể Sự phát triển của ruộng đất t hữu là phù hợp với xu thế của lịch sử, nó đánh dấu sự phát triển của chế độ phong kiến Đại Việt
Trang 16Sự phát triển của ruộng đất t hữu đă dẫn đến sự thay đổi, sự phát triển toàn bộ cơ cấu xã hội và đẩy mạnh quá trình phân hóa xã hội Đại Việt Để rồi
từ đó các đồng chí mới giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn thịnh của chế độ Trung ơng tập quyền thế kỷ XV
Trên cơ sở kinh tế ruộng đất nh vậy, có thể thấy đợc bản chất của nhà
n-ớc Lý - Trần Đó là nhà nn-ớc của quý tộc hoàng tộc Nhà nn-ớc gồm có hai bộ phận: Trung ơng và địa phơng Với bản chất của nhà nớc quý tộc hoàng tộc thì
có thể coi giai đoạn lịch sử Lý - Trần là giai đoạn cao nhất, giai đoạn phát triển toàn thịnh nhất của phơng thức sản xuất Châu á ở Việt Nam rồi đến thế
kỷ XV là giai đoạn xác lập sở hữu phong kiến
Nhà Hồ
Cuối thế kỷ XIV, xã hội Việt Nam đứng trớc một tình hình khó khăn Chế độ sở hữu nhà nớc về ruộng đất bị thu hẹp lại Trong lúc đó, chế độ sở hữu lớn t nhân về ruộng đất lại phát triển lên mạnh mẽ [18, 187]
Đứng trớc mâu thuẫn sâu sắc giữa chế độ sở hữu nhà nớc và chế độ sở hữu lớn t nhân về ruộng đất, chính quyền Hồ Quý Ly đã dùng quyền lực tối cao của vua, yêu cầu cấp thiết chống giặc ngoại xâm, tớc đoạt ruộng đất t hữu, hạn chế sự phát triển của chế độ nông nô, nô tỳ khôi phục u thế của chế độ sở hữu nhà nớc về ruộng đất và của chế độ chiếm hữu làng xã Bớc đầu xác lập của những quan hệ sản xuất phong kiến bị kìm hãm Nhng xu thế phát triển khẩn trơng của những quan hệ sản xuất phong kiến đã trở thành tất yếu Mở rộng lại diện tích ruộng đất công trên cơ sở những quan hệ cũ, tăng thêm số nô tỳ của nhà nớc không còn gây đợc những tác dụng tốt thuận lợi cho việc giải quyết những vấn đề xã hội đang đặt ra Cuộc khủng hoảng xã hội do đó không đợc giải quyết Chế độ ruộng đất vẫn đứng trớc một tình thế đổi thay quan trọng Giữa lúc đó thì quân xâm lợc Minh đã nhân sơ hở của nhà Hồ mà
ồ ạt tràn vào nớc ta nhanh chóng đánh đổ triều đại Hồ Quý Ly thiết lập nền đô
Trang 17hộ Sự phát triển t nhân của chế độ ruộng đất ở nớc ta bị cắt đứt Nông dân lao
động phải cùng nhau đứng dậy ở khắp mọi nơi để chống lại quân xâm lợc, giải phóng tổ quốc, bảo vệ quyền tự quyết định vận mệnh của mình Chiến tranh giải phóng thực sự trở thành một nhân tố tác động đến vấn đề ruộng đất [18, 188]
Trang 18Ch ơng 2:
Ruộng đất t hữu từ thế kỷ XV
đến nửa đầu thế kỷ XIX
2.1 Thiết chế pháp lý của ruộng đất t hữu
Bớc sang thế kỷ XV, nhà nớc Lê Sơ đã tạo mọi điều kiện cho ruộng đất
t hữu phát triển, cho phép quyền chiếm hữu và sử dụng ruộng đất lâu năm thành quyền sở hữu Đánh thuế ruộng đất t ít hơn và trừng trị những hành vi xâm hại quyền sở hữu t nhân về ruộng đất
Thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII chắc chắn rằng quyền sở hữu t nhân về ruộng đất đã cực kỳ phát triển cả về số lợng và chất lợng Tuy nhiên ruộng đất
t hữu có hai bộ phận đó là: Sở hữu của địa chủ lớn, nhỏ và sở hữu nông dân tự canh Cùng với nhiều nguyên nhân khác nữa, trong lúc quyền t hữu ruộng đất nói chung phát triển thì bộ phận thứ nhất nói trên đã có xu thế mạnh hơn tạo nên nạn kiêm tinh ruộng đất trầm trọng, gây ra sự phá sản của nông dân nghèo
và hạng trung Tình trạng phân hóa hai cực đối lập này của sở hữu t nhân thể hiện bớc phát triển cuối cùng trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến Một mặt nó tạo ra yêu cầu xác lập quyền t hữu nhỏ cho đa số nông dân, cũng
là một yêu cầu của Cách mạng t sản, còn mặt kia lại làm nảy sinh giai cấp địa chủ, kẻ thù của nông dân không ruộng đất Vậy thì cho đến thế kỷ XVIII trong khi đại đa số nông dân yêu cầu quyền t hữu nhỏ về ruộng đất thì quyền
sở hữu địa chủ dần dần trở nên lỗi thời và bị đặt trớc nguy cơ bế tắc Hoàn cảnh này đòi hỏi đợc giải quyết bằng sự nảy sinh và phát triển các nhân tố quan hệ t bản chủ nghĩa Nhà nớc phong kiến lúc này dĩ nhiên chỉ có thể hoạt
động theo một hớng đó là hạn chế bớt sự phát triển của sở hữu địa chủ để kéo dài tuổi thọ của nó Do đó quyền sở hữu t nhân nói chung về ruộng đất lại quy
Trang 19định ở điều kiện thuế lệ Kể từ năm 1722, ruộng đất t hữu nói chung mới bị
Đại Việt từ thế kỷ XV cho đến nửa đầu thế kỷ XIX ra sao ? Ta cùng tìm hiểu hai loại hình sở hữu ruộng đất t chính đó là: sở hữu ruộng đất nhỏ của nông dân lao động và ruộng đất lớn của giai cấp địa chủ
2.1.1 Ruộng đất thuộc sở hữu nhỏ của nông dân lao động:
Những ngời có ruộng đất t hữu có thể là địa chủ hay nông dân t hữu
nh-ng điều cần chú ý tronh-ng xã hội phonh-ng kiến, chế độ sở hữu ruộnh-ng đất của nh-ngời nông dân lao động là rất nhỏ bé và tỏ ra rất bấp bênh, mong manh trớc sự kiêm tinh, chiếm đoạt của giai cấp địa chủ [18, 246]
Dới thời Lê Sơ, đặc biệt là những năm chiến tranh, ruộng đất của nông dân lao đông bị thu hẹp đáng kể Khi hoà bình lập lại, nông dân lu tán trở về quê quán làm ăn, xây dựng lại làng xóm Nhờ khẩn trơng khai hoang, số nông dân lao động có ruộng đất t hữu ngày càng nhiều lên Bộ phận ruộng đất thuộc
sở hữu của nông dân lao động từng bớc đợc phục hồi lại Thể lệ ruộng chiếm xạ góp phần mở rộng hơn nữa bộ phận ruộng đất t hữu này Tuy nhiên số ruộng đất của nông dân ngày càng tăng lên thì hiện tợng mua bán ruộng đất ngày càng phát triển
Trong quá trìng xây dựng nhà nớc của mình, nhà Lê nhiều lần dùng ruộng đất công để phong thởng, và ban cấp cho công thần quan lại Những
Trang 20biện pháp này cũng thu hẹp đáng kể diện tích công của nhà nớc Đối với phần ruộng đất công còn lại, nhà Lê đã hai lần thi hành chính sách phân chia lại ruộng đất, gọi là chính sách Quân điền [18, 221-222]
Nội dung cụ thể của chế độ Quân điền quy định năm 1481 chép trong
"thiên nam d hạ" bao gồm mấy nguyên tắc sau đây:
Ngời đợc chia ruộng: Nói chung thì tất cả mọi ngời trong xã từ quan
viên cho đến các hạng thấp nhất của bậc thang xã hội phong kiến nh cô qủa, tàn tật, vợ con ngời tội lu, tội đồ đều đợc chia ruộng đất Nhng phần chia cho mỗi ngời ít nhiều lại tính theo phẩm tớc đối với quan viên và thứ bậc xã hội
đối với các tầng lớp nông dân khác [9, 35]
Ruộng đất để chia: Chủ yếu là ruộng đất của xã Nguyên tắc chung thì
ruộng đất công của xã nào thì chia cho dân trong xã ấy Phân biệt hai loại xã:Xã công điền và xã t điền có công điền Xã công điền là những xã trong đó tất cả ruộng đất hầu là của công và nông dân sinh sống nhờ ruộng khẩu phân
ấy Đối với loại xã này thì phải tính số ruộng đất công phân cấp cho mọi hạng ngời trong xã cày cấy Còn xã t điền có công điền thì một bộ phận dân làng xã
đã có ruộng đất t, nên chỉ phân cấp ruộng đất công cho những ngời không có ruộng hay ít ruộng trong xã [9, 36]
Thời gian chia ruộng: Thời hạn quân cấp là 6 năm một lần Mỗi lần đến
kỳ hạn ấy thì quan phủ huyện phải "thân hành" xuống kiểm xét lại việc đo đạc
và phân cấp Nh vậy, cứ 6 năm là chu kỳ chia lại toàn bộ ruộng đất trong xã
Đến kỳ hạn ấy, mọi ngời phải trả lại ruộng đất đợc chia trong kỳ trớc để chia lại Ngời nào chiếm ruộng quá hạn thì bị phạt [9, 39]
Quyền hạn và nghĩa vụ của ngời đợc chia: Nói chung ngời cày ruộng
đất công phải nộp tô thuế cho nhà nớc Riêng đối với những quan viên thì
"quan tứ phẩm trở lên đợc ban ruộng không phải trng tô"[9, 40] Đối với nhân
Trang 21dân thì chỉ những xã đất bãi không có ruộng lúa mới đợc miễn trng tô một số ruộng nhất định
Nhà nớc đã đặc các chức giám đơng chuyên lo việc khẩn hoang và mộ ngời sản xuất Những ngời khai hoang đợc hởng chế độ khuyến khích chung của cả nớc là sau 3 năm chỉ lấy phần nữa nộp cho nhà nớc, số còn lại đợc xem
là ruộng t Nhà nớc cũng bảo vệ nghiêm ngặt bộ phận ruộng đất này [18, 225]
Trong hoàn cảnh xã hội thời Lê Sơ, chế độ Quân điền còn có những tác dụng tích cực nhất định Quân điền thực chất chỉ là nhà nớc phát canh thu tô
Về ý nghĩa ấy, nhà nớc là một đại địa chủ thu tô và nông dân cày ruộng khẩu phân ấy là những tá điền lĩnh canh nộp tô Củng cố chế độ Quân điền là củng
cố chế độ phát canh, củng cố quan hệ đia chủ - tá điền Trong hoàn cảnh xã hội đầu thế kỷ XV, khi kinh tế đại điền trang với quan hệ nông nô, nô tỳ vừa tan rã thì phát triển quan hệ địa chủ tá điền là tơng đối tiến bộ Hơn nữa trong thời kỳ Lê Sơ, ruộng đất công của xã thôn hãy còn nhiều và qua cuộc xâm lợc của nhà Minh, cuộc chiến tranh giải phóng, dân số lại bị giảm sút, nên chế độ Quân điền có thể bảo đảm cho nông dân một số ruộng tối thiểu đủ cày cấy và giải quyết một phần tình trạng ruộng đất bỏ hoang Chính sách Quân điền cùng với các chính sách nông nghiệp tích cực khác của nhà Lê có tác dụng khôi phục lại sản xuất nông nghiệp trong buổi đầu [18, 47]
Chính sách Quân điền cùng với những chính sách thủ tiêu chế độ đại
điền trang, hạn chế chế độ nông nô, nô tỳ của nhà Lê tuy nhằm phục vụ quyền lợi của giai đia chủ, nhng đồng thời đã góp phần củng cố kinh tế tiểu nông làm cơ sở cho kinh tế hàng hoá phát triển Đây là điểm tiến bộ căn bản trong chính sách ruộng đất của nhà nớc phong kiến thời Lê Sơ Vì nó đã giải quyết
đúng những mâu thuẫn chính trong cuộc khủng hoảng thời Trần mạt, đáp ứng
đúng yêu cầu phát triển của xã hội lúc bấy giờ [18, 48]
Trang 22Trong lúc, một bộ phận ruộng đất đáng kể của nông dân tiểu t hữu lại bị rơi vào sở hữu lớn của giai cấp địa chủ theo nhiều con đờng khác nhau thì lệ chia đều gia tài cho con cái đã phân tán ruộng đất thuộc sở hữu địa chủ hạng vừa và nhỏ, đẩy chúng vào sở hữu nhỏ của những nông dân tự canh
Một đặc điểm đáng chú ý của xã hội Việt Nam đơng thời, khác xa với xã hội Tây Âu trung đại, là sự phân hoá giai cấp trong xã hội không tách hẳn con cháu của địa chủ, quan lại thành một đẳng cấp riêng biệt kỵ sỹ Tây Âu hay võ sỹ Nhật Bản Tầng lớp này vẫn sống ở nông thôn, chung đụng với giai cấp nông dân lao động và chỉ qua một vài đời, do sự sa sút về tài sản mà trở thành nông dân lao động bình thờng Trong lúc đó, cũng có không ít con em những ngời nông dân lao động- nông dân tự canh do có năng lực bản thân mà thành đạt trong các kỳ thi cử, có dịp chui vào các hoạn trờng và trở thành địa chủ nh họ Bùi, họ Quách [18, 266]
Cho đến cuối thế kỷXV đầu thế kỷ XVI, chính sách khai hoang của nhà
Lê vẫn đợc tiếp tục thực hiện, nhất là đối với các vùng biên giới Với lao động
đầy sáng tạo, lại có chính sách của vua khuyến khích khai hoang cho nên nông dân lao động đã lấn biển lập nên cả một danh ấp với khoảng một vạn khoảnh ruộng Ruộng đất khai khẩn đợc khác với loại ruộng chiếm xạ nói trên
đều xem là t điền vĩnh viễn
Chính sách khai hoang của nhà Lê rõ ràng có tác dụng tích cực Bộ phận nông dân t hữu, tự do tăng lên Mâu thuẫn giai cấp trong xã hội dịu xuống [9, 254-255]
Bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu nhỏ của nông dân lao động đã góp phần đặc biệt vào sự phát triển của ruộng đất t hữu thế kỷ XV Đặc biệt với chính sách Quân điền của nhà Lê ngày càng đợc hoàn chỉnh thì ta thấy đợc sự quan tâm của những ngời đứng đầu đối với bộ phận ruộng đất t hữu đã tạo
điều kiện cho ruộng đất t hữu nhà Lê ngày càng phát triển thuận lợi
Trang 23Chính sách Quân điền thực hiện gần nh suốt cả thế kỷ XV đã trực tiếp
đa lại hiệu quả quan trọng Công xã nông thôn tồn tại dai dẳng từ hàng chục thế kỷ trớc, cùng với kết cấu ruộng đất công làng xã Đại Việt, đến đây đã đợc quân chủ hoá sâu sắc Đến tháng 12 năm 1500 công cuộc quân chủ hoá làng xã Đại Việt hoàn thành và với phơng thức bóc lột nông dân và địa chủ thì thu tô còn nông dân tá điền thì lĩnh canh
Từ đầu thế kỷ XVI xã hội Đằng ngoài ruộng đất làng xã đã bị thu hẹp lại rất nhiều và chính sách Quân điền của nhà Lê Sơ bị phá sản ruộng đất t hữu phát triển mạnh mẽ [19, 100]
Số lu dân mất đất phải đi kiếm ăn ở xa quê hơng họp nhau khai hoang, tạo nên những vùng đất mới và tự mình biến thành những tiểu nông tự canh Tạm thời trong một thời gian số lợng ruộng đất cha bị biến thành ruộng công và cha bị đánh thuế Nhng trong quá trình phát triển của chế độ t hữu ruộng đất, không ít số ruộng đất này bị địa chủ chấp chiếm [21, 113-114]
Từ rất sớm trên vùng đất Thuận Quảng đã có nhiều ruộng đất t hữu hoặc của địa chủ hoặc của nông dân Khi Nguyễn Hoàng vào Trấn và tiến hành xây dựng hậu phơng của mình, khá nhiều bộ phận ruộng đất đã bị công hữu Nhng ruộng đất t vẫn phát triển Năm 1669, Nguyễn Phúc Tần phải sai bọn văn thần
Hồ Quang Đại đi khám đạc ruộng đất t, ruộng đất công bắt phải "trả ruộng công về cho xã" và hạ lệnh cho ai đem sức mình ra khai phá những chỗ rừng núi hoang thành ruộng thì cho làm "bản bức t điền" nhà nớc sẽ thu thóc tô và dân xã ấy không đợc tranh chia Chính sách này đã tạo điều kiện cho ruộng đất phát triển mạnh bằng con đờng khai hoang [21, 141-142]
Thế kỷ XIX những ngời nông dân chủ sở hữu các mảnh ruộng nhỏ, đủ
điều kiện và công sức canh tác thì thờng trực tiếp tiến hành sản xuất Giữa chủ
sở hữu và t liệu sản xuất không có quan hệ nào khác hơn là tác động của lao
động đối với đối tợng lao động Đây là cơ sở kinh tế sản xuất nhỏ tự cấp, tự
Trang 24túc là chính Nhng nông dân tự cày cấy trên mảnh ruộng của mình để sống là một bộ phận trong nông dân Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ lịch sử thế nhng
họ luôn luôn bị phá sản bởi vì nhiều lý do, bao gồm cả sự cớp đoạt, kiêm tinh ruộng đất của giai cấp địa chủ Nông dân tự canh sinh ra trong chế độ phong kiến, nhng lại là nhân tố tiến bộ của lịch sử so với chế độ phong kiến đó Bởi
lẽ nó đối lập với quan hệ địa chủ- tá điền và là hình ảnh của số đông nông dân
t hữu trong một xã hội t sản tơng lai [16, 323]
2.1.2 Ruộng đất thuộc sở hữu của giai cấp địa chủ:
Sau mời năm chiến đấu anh dũng và gian khổ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, đất nớc sạch bóng quân thù Vị lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là Lê Lợi, theo truyền thống đã lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Lê với quốc hiệu là Đại Việt, xây dựng kinh thành và nghĩ ngay đến việc khôi phục lại nền kinh tế của đất nớc hàn gắn vết thơng chiến tranh và phong thởng cho các công thần khai quốc [13, 119-120] Vua Lê cũng hạ lệnh "cho các con em của các nhà đại mục và các tớng hiệu đều nên về nhận ruộng đất ở quê tổ để khỏi tệ tranh chiếm" [10, 59]
Khi nhà Lê đợc thành lập, giai cấp này đã trở thành một thế lực quan trọng trong xã hội đó là giai cấp địa chủ Bản thân dòng họ Lê cũng xuất thân
từ giai cấp địa chủ Lê Lợi vốn là đại điền chủ hơng ấp Lam Sơn Ruộng đất của ngài do cha ông để lại và khai phá thêm giàu có Lên làm vua, Lê Lợi đặc biệt cấm bỏ ruộng hoang, ai muốn khai hoang thì làm giấy xin phép quan sở tại, sau 3 năm chia đôi số ruộng, một nửa nộp cho triều đình một giữ làm ruộng t Với chính sách khai hoang phục hoá ấy, nhà Lê chẳng những khuyến khích chế độ t hữu phát triển mà còn tạo động lực thúc đẩy cho nó ngày càng phát triển nhanh hơn Với chính sách thuế khoá hết sức nhẹ đối với ruộng đất
t hữu điều đó lại càng chứng tỏ nhà nớc Lê Sơ bảo vệ chế độ ruộng đất t hữu này đến mức nào [13, 132]
Trang 25Mặt khác do yêu cầu củng cố và mở rộng cơ sở giai cấp của mình, phù hợp với hoàn cảnh mới, dòng họ Lê không thể không nhận điều kiện thuận lợi của những năm sau chiến tranh, loạn lạc mà phong cấp ruộng đất cho những ngời theo mình có công giải phóng tổ quốc [18, 226]
Trong ba đời vua đầu của nhà Lê đó là Lê Thái Tổ (1428-1433), Thái Tông (1434-1442) và Nhân Tông (1443-1459) thì chỉ mới ban cấp lẻ tẻ cho từng công thần cha có chế độ cụ thể Ngay từ năm 1427, khi còn bao vây thành Đông Đô Lê Lợi đã ban cấp cho Lê Ba Lao là cha Lê Triện 100 mẫu ruộng vì Triện là tớng giỏi có công vừa bị hi sinh Năm 1429, sau khi lên ngôi,
Lê Lợi định phép Quân điền trong đó các quan lại theo chức tớc đợc cấp số ruộng khá lớn
Lợi dụng sự thịnh đạt của nền sản xuất nông nghiệp sau những năm gian khổ, gắng sức khôi phục nền kinh tế của nông dân và chính sách tiêu biểu cho tinh thần ấy là chính sách Lộc điền [18, 212]
Lần đầu tiên trong lịch sử nớc ta, nhà nớc Trung ơng ban hành một quy chế đầy đủ về việc cấp ruộng lộc cho các quý tộc quan lại Chính sách tỏ ra rất
u đãi đặc biệt là đối với các hoàng tử và công chúa Những ngời này không những đợc cấp rất nhiều ruộng ân tứ mà còn đợc cấp hàng trăm mẫu ruộng thế nghiệp, chứ không phải hai, ba chục mẫu nh đời Trần Chế độ Lộc điền chỉ ban cấp cho những quan lại từ tứ phẩm trở lên nh: chánh nhất phẩm, tòng nhất phẩm, chánh nhị phẩm, tòng nhị phẩm, chánh tam phẩm, tòng tam phẩm, chánh tứ phẩm, tòng tứ phẩm [18, 217] và những ngời thân thuộc gần gũi thuộc gần gũi nhà vua, các quan lại thân cận trong triều nhng chủ yếu là từ địa chủ trở lên Các quan lại từ tứ phẩm trở lên ấy thờng nắm chế độ Lộc điền là
đặc quyền của tầng lớp cao nhất của giai cấp thống trị [9, 20]
Trang 26Văn giai Võ giai
Tòng nhất phẩm Thái tứ, tam thái Tam thiếu, tạ hữu đô đốcChánh nhị phẩm Tam thiếu Thiếu uý, đề đốc, đô đốc đồng triTòng nhị phẩm Lục bộ thợng th, thái tử tam thiếu Tả hữu điểm kiếm, tham đốcChánh tam phẩm Đô ngự sử Đô chỉ huy sứ, đô tổng bình sứTòng tam phẩm xuân phơng, thừa tuyên sứTả hữu thị lang, tả hữu Đô chỉ huy đồng triChánh tứ phẩm Hàn lâm thừa chỉ, phó đô ngự sử, tả hữu trung doãn huy sứ tổng bình, thiên sựĐô chỉ huy thiên sự, chỉ
Tòng tứ phẩm Đông các đại học sĩ, quốc tử giám tế tửu, thông
chính sứ tham chính
Chỉ huy sứ đồng trì, tổng binh đồng tri đô t tri
[9, 20]Lộc điền gồm có ruộng đất, ao, đầm do nhà nớc trực tiếp ban cấp Nhng
đợc ban cấp đợc chia làm hai loại: một loại đợc cấp vĩnh viễn cho quyền chiếm luôn và sử dụng nh ruộng đất t gọi là thế nghiệp điền hay còn gọi là thế nghiệp thổ Và một loại ban cấp tạm thời trong một thời gian mà ở đây là một
đời ngời sau khi chết ba năm thì phải trả lại số ruộng đất đó lại cho nhà nớc
Theo Phan Huy Chú: "Những hoàng tôn và quần thần ai đợc quân công
và có đủ tài đều đợc đặc cách vinh phong Công, hầu, bá thì đợc ban hành cho làm ruộng thế nghiệp, lu truyền con cháu, nhng đến lúc phong mới chỉ chiếu không phải lệ thờng" Hiến chơng quyển 18 Sách cơng mục cũng thấy rằng:
"Ai có tài đức huân nghiệp thì đặc tứ ruộng đất thế nghiệp truyền cho con
Trang 27cháu, đều làm thời theo chỉ, cha phải lệ thờng" (Cơng mục quyển 23) Nh vậy, ruộng đất ban cấp vĩnh viễn này tơng đối ít [9, 21]
Khi bàn định công lao kháng chiến chống Minh khai quốc công thần tới
221 vị, công thần thì nhiều gấp đôi, bá hầu và quá nửa là ngời Thanh Hóa Thật vinh quang cho Thanh Hóa, cũng thật nặng nề cho Thanh Hóa Đành rằng không nhất thiết chỉ lấy ở Thanh Hóa Nhng gia đình ở nơi nào, thì tất đ-
ợc u tiên ruộng đất nơi ấy Ví dụ: năm 1429, vua Lê Lợi lệnh cấp Lộc điền cho công thần khai quốc Nguyễn Thế Chuẩn ngời huyện Hà Trung, ruộng đất chủ yếu lấy ở Hà Trung Không ít làng ở Thanh Hóa có khai quốc công thần từ hai ngời trở lên và các loại công thần khác thì nhiều hơn Lao động binh cấp cho
họ có vinh phong, thật phong, trong thật phong lại có thực phong và ngoài số thực điền đều là phong tợng trng Tuy nhiên đa số các công thần không cam chịu "thua thiệt" với thế lực ngày càng bành trớng to lớn họ không ngừng mở mang ruộng đất cho bản thân và gia đình Trong thực tế, những con số ban cấp
đợc hạch định từ 100 mẫu đến 500 mẫu đều có sức biến hóa khôn lờng Ví dụ: theo gia phả cho đến cuối thế kỷ XV gia đình họ Nguyễn Lý ở huyện Hà Trung đợc cấp 2073 mẫu, gia đình Lê Thọ Vực ở Thọ Xuân đợc cấp 2286 mẫu, đặc biệt gia đình họ Ngô ở Yên Định đợc cấp hơn một vạn mẫu, riêng h-
ơng Động Bàng có 2000 mẫu do dân xã làm tạo lệ, cấy hái không công cho
H-ng quốc côH-ng Ngô Kinh Gia đình họ Vũ ở NôH-ng CốH-ng có đến 38 traH-ng trại và hang ngàn tôi tớ Các công thần họ Lê, họ Trịnh, họ Ngô, họ Đinh, họ Trần,
họ Vũ, họ Nguyễn ở Thanh Hóa đều trở thành những lãnh chúa phong kiến cho hàng ngàn, vạn dân nghèo trở thành tôi tớ, nông dân thành nông nô, suốt
đời bị cột chặt trong điền trang, trại ấp của họ [13, 131-132]
Chính vì thế mà Nguyễn Trãi đã coi Thanh Hóa là "phiên dậu thứ tám của Phơng Nam" [27, 208]
Trang 28Vua Lê cũng "hạ lệnh cho các con em của các nhà đại mục và các tớng hiệu đều nêu về nhận ruộng đất ở quê tổ để khỏi tệ tranh chiếm" [10, 59] Dĩ nhiên, trong số này một phần đáng kể là dân Thanh Hóa - quê hơng của khởi nghĩa Lam Sơn Tháng 9 năm đó, Lê Thái Tổ lại lệnh cho các địa phơng kê khai rõ "ruộng đất của quan ti ngạch cũ" thế gia triều trớc, của lính trốn hạn
đến tháng 4 (âm lịch) sang năm dâng nộp và vào cuối năm, chính thức quyết
định giao cho "các phủ, huyện, trấn, lộ đi về các nơi khám xét chằm bãi ruộng đất cùng là hạng ruộng đất của thế gia và nông dân tuyệt tự, của lính trốn đã sung công làm của làng, lập sổ ruộng, hạn đến trung tuần tháng 2 năm
Kỷ Dậu (3/1429) trình lên" [10, 65] Tháng 6 năm 1429, 93 trong số 221 công thần đợc phong hàm và ban quốc tính, đồng thời mỗi ngời đợc thởng từ 300
đến 500 mẫu ruộng Có thể nói, trong đợt phong thởng này, số ruộng đất ở Thanh Hóa biến thành ruộng công thần khá nhiều Nguyễn Chích đợc cấp 100 mẫu ruộng ở quê nhà, cha của tớng Lý Triệu là Lý Bá Cao (quê ở Bá Đô huyện Lôi Dơng) đợc ban 100 mẫu [10, 35] Tiếp đó sau ngày độc lập, hàng loạt công thần của quê hơng Thanh Hóa nh Lê Lai, Lê Thạch, Lê Vân Lịch, Trịnh Khả, Đinh Lễ, Đinh Liệt, Phan Vấn đợc phong thởng nhiều ruộng đất Tuy nhiên, khác với thời khởi nghĩa, nay đất nớc đã độc lập, sổ sách về ruộng
đất và hộ tịch đã làm xong, nhà vua không còn giữ lệ ban cấp ruộng đất tập trung ở một số xã hay một huyện cho công thần nữa, cũng không chủ trơng cấp những thửa ruộng đã và đang đợc cày cấy, nộp thuế [13, 120-121]
Trang 29Thể lệ cấp Lộc điền năm 1477:
Thể lệ cấp ruộng đất cho các quý tộc quan lại cao cấp:
Chức tớc
Thế ngiệp
điền
Thế nghiệp thổ
Tứ điền Bãi
dâu
Đầm (ban bằng tiền)
Tự thân vơng
Thân vơng thế tử
450 36 400 110 70 250 Quốc công 400 34 300 90 50 200
Trang 30Thể lệ cấp ruộng đất cho các tôn phụ và nữ quan trong triều:
Chức tớc
Thế nghiệp
điền
Thế nghiệp thổ T điền
Bãi dâu bằng tiền) Đầm (ban T điền
Thân công chúa 450 36 600 100 70 200 Quận thợng chúa 18 80 20 60 Quận chúa 16 50 16 50
Trang 31Trờng hợp công thần Nguyễn Thế Chuẩn (hay Nguyễn Công Duẩn) theo Lê Qúy Đôn "Năm Thuận Thiên thứ hai (1429) chỉ huy cấp Điền lộc cho khai quốc công thần Nguyễn Thế Chuẩn nh sau: cho phép lấy ruộng tuyệt tự của các thế gia triều trớc và ruộng đất bỏ hoang ở các xã thuộc huyện Tống Sơn thởng cho Thế Chuẩn làm t sản, cộng 470 mẫu" (Kiến văn tiểu lục Hà Nội
1962, trang 176) Bản sắc chỉ cấp ruộng thế nghiệp cho công thần Nguyễn Công Duẩn, đợc ghi lại trong gia phả họ Nguyễn nói cụ thể hơn: "Sắc chỉ ngày mồng 5 tháng 9 năm Thuận Thiên thứ hai Nhà ngơi đã hết lòng, hết sức cho trẫm trong khi hoạn nạn, từ ngày hội Lam Sơn mở ra nghiệp lớn, ngơi đã dâng
3500 hợp lơng, khi ta về Lam Sơn thiếu thốn, ngơi đã điều 3500 hợp lơng để giúp quân ăn, khi vợt qua Ai Lao, ngơi vẫn giữ khí tiết, lo đủ lơng thực chuyển
đến quân doanh Nay trẫm bảo triều thần là bọn Lê Văn Linh kê cứu điều lệ
xa, bàn định công thởng, cấp cho 470 mẫu 5 sào làm ruộng thế nghiệp"
Trờng hợp công thần Ngô Kinh, Ngô Từ có công lớn trong việc bảo vệ vùng đất căn bản của cuộc khởi nghĩa, đợc cấp rất nhiều ruộng đất, trong đó
có 300 mẫu tự điền ở sách Mạn Tự (thuộc Lơng Giang) của Ngô Kinh, 400 mẫu ở Giang Biểu, huyện Vĩnh Ninh (nay là Vĩnh Lộc) và 2000 mẫu ở hơng
Động Bàng huyện An Định (Thiệu Yên nay) của Ngô Từ Dân ở đây chuyển thành dân tạo lệ
Trờng hợp công thần Lu Trung đợc cấp 500 mẫu trong đó có 80 mẫu ở xã Nam Cai, huyện Vĩnh Lộc, 80 mẫu ở Tao Khúc, huyện Cổ Lôi (Thọ Xuân nay) và 80 mẫu ở Liên Châu (Hoằng Hóa)
Trờng hợp công lôi thần Lê Sao đợc cấp nhiều ruộng, trong đó có một thửa ở huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc)
Trờng hợp công thần Nguyễn Xí đợc cấp hàng ngàn mẫu ruộng, trong
đó có 50 mẫu rải ra 9 xã thuộc huyện Hoằng Hóa
Trang 32Đúng nh nhận xét của Lê Qúy Đôn "Hồi quốc sơ, cấp ruộng cho công thần ít khi lấy vào ruộng công đã trở thành thuế lệ", hay nói chung đều là ruộng hoang hóa, tuyệt tự Nh vậy sau khi đợc cấp ruộng, dù ở rải ra 9, 10 lộ,
vị công thần phải mộ ngời đến khẩn hoang, phục hóa nghĩa là góp phần vào công việc phục hồi sản xuất nông nghiệp chung cho cả nớc Hơn nữa theo xu thế chung đã đợc đặt ra từ thời Hồ Qúy Ly, nhà Lê không muốn tạo ra một tầng lớp địa chủ phong kiến lớn ở địa phơng kiểu các quý tộc, vơng hầu thời Trần, không muốn khôi phục chế độ sở hữu điền trang
Nh vậy, chính sách phong thởng ruộng đất công thần của Lê Lợi không chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là đền đáp công lao của những vị tớng lĩnh đã
có nhiều công trong sự nghiệp giải phóng tổ quốc mà còn nhằm đa các công thần vào sự nghiệp xây dựng lại đất nớc trong hòa bình, gắn chặt hơn nữa những con ngời đó vào sự tồn vong của triều Lê Nh một số dẫn chứng ít ỏi nêu trên, tác dụng tích cực của chính sách phong thởng ruộng công thần đợc thể hiện khá rõ ngay trên đất Thanh Hóa
Tuy nhên, thực tế đã tỏ ra không đơn giản nh mong muốn của ngời thống trị Năm 1467, Lê Thánh Tông sai thợng th bộ Hộ Trần Phong cùng bọn Tuyên chính sứ Phan S Tông đi khám đất công ở hơng Lam Sơn và dân thôn
để cấp cho các công thần, mới đợc báo cáo về tình hình chấp chiếm ruộng đất
Trang 33một cách tùy tiện ở đây Ông đã giận dữ, ban dụ cho các quan và kỳ lão địa phơng: "Lam Kinh là đất căn bản làng vua, không thể ví nh nơi kinh s khác đ-
ợc Mới rồi bọn thế gia hay làm trái lễ phép, coi thờng pháp luật, chiếm lấy đất làm của mình, các thân vơng, công chúa không có chỗ cắm dùi, lấy pháp luật
mà trị tội sao bằng lấy lễ phép mà báo trớc, để cho họ nhà vua ngày một nhiều thêm, vẫn có đủ chỗ mà nơng mình Nay định giới hạn, ngời nào mà giám trái phạm thì nh luật mà trị tội" [10, 201-202]
Chính sách ban cấp ruộng lộc của Lê Thánh Tông đợc ban hành vào năm 1477, tức là 50 năm sau ngày đất nớc trở lại thanh bình Tình trạng ruộng
đất bỏ hoang, hóa và lu tán của nông dân căn bản đợc thanh toán mặc dầu việc khẩn hoang lập làng vẫn đợc tiến hành khẩn trơng trong nhân dân Vì vậy, chắc chắn rằng loại ruộng đất dùng để ban cấp làm Lộc điền không còn là loại ruộng đất hoang, hóa chủ yếu nh ở buổi đầu nữa, mà nó phát triển lên thành ruộng đất t hữu lớn của giai cấp địa chủ
Chính sách ban cấp Lộc điền của nhà Lê, thực chất là một sự cớp đoạt ruộng đất công làng xã của nhân dân để chia cho quan lại quý tộc Bằng chính sách ban cấp ruộng lộc, một bộ phận quan lại, quý tộc đã trở thành địa chủ với một số ruộng đất chiếm hữu t nhân khá lớn, bao gồm hai loại: loại gần nh t hữu và loại đợc thu tô thuế theo lệ thuế của nhà nớc Trên bớc đờng phát triển của chế độ sở hữu t nhân về ruộng đất loại ruộng lộc đợc phép cày cấy sẽ là
đối tợng t hữu hóa [18, 219-220]
Chế độ Lộc điền là chế độ cấp ruộng đại quy mô ở thời kỳ Lê Sơ Theo thể lệ năm 1477 thì thân vơng đợc cấp cả thảy tới 2090 mẫu ruộng đất, ao
đầm, trong đó có 64 mẫu cấp vĩnh viễn Số ruộng đất đợc ban cấp ấy cộng với
số ruộng t vốn có thì ta thấy rằng tầng lớp quan lại quý tộc, quan lại cao cấp thời Lê Sơ là những đại địa chủ lớn nhất lúc bấy giờ [9, 24-25]
Trang 34Chế độ Lộc điền thời Lê Sơ so với chế độ thực phong thời Lý Trần là một bớc tiến lớn Với chế độ thực phong, nhà nớc cấp ruộng đất và cả ngời trên ruộng đất ấy Ruộng đất và ngời ấy nằm ngoài sổ sách của nhà nớc và phụ thuộc hoàn toàn vào ngời đợc cấp Vì vậy, chế độ thực phong gắn liền với chế
độ đại điền trang, tồn tại trong thời kỳ xã hội phong kiến còn mang nhiều tính chất phân tán Còn chế độ Lộc điền là sản phẩm của thời kỳ phong kiến tập quyền cao độ Cấp Lộc điền chỉ là cấp ruộng đất (không cấp ngời trên ruộng
đất ấy), ngời đợc cấp chỉ có quyền hởng dụng thu tô (tức là lộc), còn nông dân cày cấy trên ruộng đất ấy vẫn là thần dân của nhà vua Do đó chế độ Lộc điền không đa tới sự hình thành các điền trang biệt lập Chế độ phong kiến từ giai
đoạn còn nhiều yếu tố phân tán chuyển sang giai đoạn tập quyền hoàn toàn Thì chế độ thực phong, thái ấp cũng nhờng chỗ cho chế độ Lộc điền Đứng về phơng diện ấy, thì chế độ Lộc điền thời Lê Sơ có tính chất tiến bộ
Thực chất của chế độ Lộc điền là việc chia nhau quyền lợi kinh tế giữa tầng lớp trên của giai cấp thống trị khi đã dựa vào nhân dân chiến thắng quân Minh Hay nói cách khác chính sách ban cấp Lộc điền của nhà Lê, thực chất
là một sự cớp đoạt ruộng đất công làng xã của nông dân để chia cho các quan lại, quý tộc Trong điều kiện ấy, chế độ Lộc điền nhằm củng cố quyền lợi của tầng lớp quan lại cao cấp, củng cố bộ máy quan liêu và giai cấp địa chủ rừ một phần ruộng đất thế nghiệp, Lộc điền trên nguyên tắc vẫn thuộc về sở hữu của nhà nớc, nhng đã giao cho t nhân hởng dụng nên cũng mang tính chất t hữu Trên bớc phát triển của chế độ sở hữu t nhân về ruộng đất, loại ruộng lộc đợc phép cày cấy sẽ là đối tợng của t hữu hóa Do đó ngời đợc cấp thờng dùng mọi cách để chấp chiếm trở thành ruộng t hữu
Chế độ Lộc điền đã giao cho t nhân hởng dụng nên dần dần mang tính chất t nhân , nhất là ruộng thế nghiệp điền
Trang 35Chế độ Lộc điền của nhà Lê đã góp phần củng cố và phát triển chế độ
sở hữu t nhân về ruộng đất, cũng nh góp phần xác lập những quan hệ sản xuất
địa chủ - tá điền và chế độ bóc lột địa tô Hàng ngũ quan lại tăng lên Điều kiện chiếm hữu ruộng đất ở đây không phải là thành tích và công tác dân sự Chế độ Lộc điền là một chuyển biến quan trọng của chế độ bổng lộc của quan lại Trớc đây cấp bằng hộ có thuế, phù hợp với bớc phát triển mới của chế độ
sở hữu t nhân lớn về ruộng đất và của những quan hệ sản xuất trong phong kiến [18, 220]
Sau khi hoàn thành công cuộc giải phóng đất nớc, Lê Lợi ban hành chế
độ Quân điền Nhng thể lệ Quân điền trong những năm đầu còn nhiều thiếu sót cha thành quy chế hoàn chỉnh Sang thời Hồng Đức, Thánh Tông mới hoàn thành quy chế hoàn chỉnh Chế độ Quân điền đợc thực hiện là một bớc biến chuyển quan trọng trên con đờng phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam [13, 83]
Với chính sách Quân điền của nhà Lê nó cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của ruộng đất t hữu
"Chiếm công vi t" là một trong những hình thức mở rộng ruộng đất t hữu của bọn quan lại địa chủ, bất chấp luật pháp nghiêm ngặt của nhà nớc Bọn này đã tìm mọi cách "Chiếm ruộng đất công quá thời hạn không trả",
"Lạm chiếm ruộng công theo điền chế", bao chiếm ruộng hoang trong làng xã, phả bỏ cột mốc ruộng đất công, t Tình hình phát triển đến mức ngay cả ở Lam Sơn, quê hơng của nhà Lê mà bọn quan lại, thế gia cũng ra tay chấp chiếm hầu hết ruộng công Năm 1467 khi về thăm Lam Kinh, nhận thấy tình hình đó, Lê Thánh Tông đã phải kêu lên rằng "Lam Sơn là đất căn bản, làng vua, không ví nh nơi kinh s khác đợc" Mới rồi bọn thế gia hay làm trái lễ phép, coi thờng pháp luật, chiếm lấy đất làm của mình, các thân vơng, công
Trang 36chúa không có chỗ đất cắm dùi nay định giới hạn, ngời nào còn giám trái phạm thì theo luật mà xử tội [10, 202]
Ngay trên quê hơng của nhà vua mà bọn này còn hoành hành nh vậy thì
ở nhũng nơi khác, chúng có sợ gì Luật pháp nhà nớc chỉ có tác dụng răn đe, ngăn ngừa chút ít, không thể cấm hẳn đợc Năm 1437, theo báo cáo của chuyển vận sứ huyện Thạch Thất là Trần Hiển thì tổng quản khoái lộ là Lê Hiệu đã cho ngời nhà lấp cả một nhánh sông "thuyền bè không thể qua lại đ-ợc" để làm của riêng
Trong hoàn cảnh thời Lê Sơ, chế độ Quân điền ít nhiều đa lại ruộng đất cho mọi tầng lớp nông dân, trừ những làng xã nào không có ruộng công (các xã t điền) là mặt tích cực, nên đã tạo điều kiện làm ăn sinh sống cho tất cả mọi ngời, giải quyết đợc yêu cầu ruộng đất cho nông dân nghèo Quân điền thực tế
là nhà nớc phát canh thu tô Về ý nghĩa ấy, nhà nớc là một đại địa chủ thu tô
và nông dân cày ruộng khẩu phần là những tá điền lĩnh canh nộp tô, củng cố chế độ Quân điền là củng cố chế độ phát canh, củng cố quan hệ địa chủ - tá
điền
Chính sách của nhà Lê, một mặt bảo vệ ruộng đất công thuộc quyền sở hữu của nhà nớc, mặt khác phát triển chế độ t hữu ruộng đất, tạo điều kiện cho cơ sở kinh tế của giai cấp địa chủ phát triển nh: không đánh thuế ruộng t, ruộng chiếm hữu quá 20 năm thì trở thành ruộng t
Sự phát triển mạnh mẽ của bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu của t nhân thời Lê Sơ là một xu thế phát triển tích cực, có tác dụng phát triển nền kinh tế tiểu nông và kích thích sự phát triển khác của các ngành kinh tế [20, 24] Mặt khác chính sách Quân điền ban hành vào đúng lúc sự phát triển của chế độ t hữu đã thắng thế trong xã hội
Trang 37Thông qua chính sách Quân điền và chính sách Lộc điền, bọn quan lại của nhà nớc đã ngốn hết một số ruộng công bị lấy để chia càng nhiều và nh vậy số còn lại đem chia cho nông dân giảm xuống
Quan hệ sản xuất thời Lê Sơ là quan hệ địa chủ - tá điền, nếu chúng ta quan niệm nhà nớc cũng là một đại địa chủ thì phần lớn nông dân là những tá
điền lĩnh canh ruộng đất của nhà nớc hay của đại địa chủ Hai giai cấp chủ yếu của xã hội phong kiến Lê Sơ cũng nh tất cả các xã hội phong kiến nói chung là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân Giai cấp thời Lê Sơ
là những địa chủ t hữu ruộng đất khá lớn và trên cơ sở quyền sở hữu ruộng đất
ấy tiến hành bóc lột tô thuế đối với nông dân Phơng thức bóc lột chủ yếu là phát canh thu tô, quan hệ giữa địa chủ và nông dân là quan hê địa chủ - tá
điền Giai cấp địa chủ này là tầng lớp thống trị nắm chính quyền trong xã hội phong kiến Tất cả quan lại, hào lý trong bộ máy nhà nớc phong kiến quan liêu hầu hết đều xuất thân từ thành phần địa chủ này
Nhà nớc phong kiến Lê Sơ là một địa chủ sở hữu ruộng đất lớn nhất toàn quốc mà đại biểu là triều đình và nhà vua Chúng ta có thể gọi nhà nớc phong kiến ấy là một "địa chủ nhà nớc" và coi đấy là một đặc điểm của chế độ phong kiến Việt Nam Trên cơ sở quyền sở hữu ruộng đất, nhà nớc phong kiến cũng tiến hành bóc lột tô đối với nông dân nh một địa chủ t hữu Phơng thức bóc lột chủ yếu của nhà nớc phong kiến là phát canh thu tô Quan hệ của nhà nớc phong kiến và nông dân lĩnh canh ruộng đất của nhà nớc là quan hệ giữa nhà vua và thần dân mà về mặt kinh tế thực chất cũng là quan hệ địa chủ - tá
điền mà trớc đó cha hề có
Nh vậy chế độ Quân điền và chế độ Lộc điền về danh nghĩa là ruộng
đất thuộc sở hữu của nhà nớc nhng thực chất biến thành ruộng đất thuộc sở hữu của t nhân, của địa chủ
Trang 38Cho đến những năm 80 của thế kỷ XV thì sự phát triển của chế độ sở hữu lớn của địa chủ về ruộng đất đã trở thành một nguy cơ đối với nhà nớc Trung ơng [18, 269] Sự phát triển của chế độ t hữu ruộng đất và kinh tế địa chủ ấy diễn ra trong quá trình cớp đoạt, tranh giành rất hỗn loạn và tàn khốc Tất cả những hiện tợng tranh giành ruộng đất đi đến kiện tụng, ẩu đã, giết hại lẫn nhau, những thủ đoạn kiêm tính từ tinh vi cho đến trắng trợn còn đợc phản
ánh trong pháp luật thời Lê Sơ là những sản phẩm tất nhiên của quá trình phát triển ấy [9, 77]
Tình hình về sau ngày càng trở nên căng thẳng hơn, chế độ sở hữu lớn của địa chủ đã thắng thế [18, 270]
Nói tóm lại, từ thời Lê Sơ, chế độ t hữu ruộng đất phát triển rất mạnh
mẽ và kinh tế của địa chủ trở thành bộ phận kinh tế chủ đạo của xã hội Và sự phát triển ấy phản ánh xu thế phát triển khách quan về ruộng đất trong lịch sử Việt Nam, xác lập quan hệ địa chủ - tá điền trong xã hội
Vào cuối thế kỷ XV, nguy cơ ngoại xâm tạm thời bị đẩy lùi, không có một nhân tố xã hội nào đủ mạnh để chặn đứng sự phát triển của chế độ sở hữu
và chiếm hữu t nhân lớn về ruộng đất Sở hữu lớn của giai cấp địa chủ sẽ lấn
l-ớt ruộng đất thuộc sở hữu nhỏ Sự phát triển của chế độ sở hữu t nhân về ruộng
đất không dừng lại ở tình trạng thế kỷ XV ở các thế kỷ sau tình trạng kiêm tính ruộng đất xảy ra ngày càng mạnh, bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nớc thu hẹp dần, nhãn hiệu "thế nghiệp" cũng mờ nhạt đi, nhờng chỗ từng bớc cho chế độ sở hữu t nhân về ruộng đất
Tóm lại, nếu nh dới thời Lý - Trần và các triều đại trớc đó chế độ quốc hữu về ruộng đất chiếm u thế tuyệt đối, hầu hết ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nớc và một phần quan trọng phong cấp cho vơng hầu quý tộc làm điền trang, thái ấp, thì đến thời Lê Sơ chế độ t hữu ruộng đất phát triển rất mạnh
mẽ, dần dần thôn tính phạm vi của chế độ quốc hữu về ruộng đất
Trang 39Qua hai hình thái sở hữu ruộng đất thời Lê Sơ thì ta có thể hình dung
đ-ợc tình trạng chiếm hữu lúc bấy giờ Ruộng đất quốc hữu dù mang danh nghĩa
là của công, của quốc gia, nhng thực tế là ở trong tay triều đình, mà đại biểu
đó là nhà vua Chính nhà nớc dựa vào quyền sở hữu ấy để bóc lột tô của nông dân Do đó, ruộng đất quốc hữu thời Lê Sơ cũng có tính chất nh ruộng của địa chủ và nhà vua chính là địa chủ lớn nhất của cả nớc
Chính sách Quân điền thể hiện điều đó rõ rệt nhất Trớc đây nhà nớc giao cho các công xã thay mặt mình quản lý ruộng đất Nhng ngày nay thì nhà nớc lại giao ruộng đất trực tiếp cho ngời nông dân quả lý
Còn ruộng đất t hữu thì một phần quan trọng là trong tay giai cấp địa chủ t hữu, và một phần về nông dân tự canh Nh vậy thì nhìn chung lại, phần lớn ruộng đất là thuộc quyền sở hữu của giai cấp thống trị trong đó kể cả địa chủ và nhà nớc phong kiến Đại đa số nhân dân là nông dân lao động- những ngời trực tiếp sản xuất - thì hoặc không có, hoặc có rất ít ruộng đất t hữu Chế
độ sở hữu ruộng đất nhỏ của ngời nông dân thờng bấp bênh, dễ bị kiêm tinh phá sản Vì vậy, nông dân phần nhiều cày ruộng khẩu phần hay lĩnh canh thêm ruộng đất của địa chủ và phụ thuộc vào địa chủ Nh vậy trên vai ngời nông dân tá điền phải gánh vác hai tên địa chủ: một là nhà nớc (Quân điền), hai là địa chủ mà đây chính là giai cấp bóc lột trực tiếp ngời nông dân lao
động
Ta so sánh bộ máy nhà nớc thời Lê Sơ và thời Lý Trần quan lại xuất thân chủ yếu là quý tộc, tăng lữ trên cơ sở kinh tế ruộng đất công làng xã mà ngời ta thờng gọi là đỉnh cao của phơng thức sản xuất Châu á thì thời Lê Sơ quan lại xuất thân từ giai cấp địa chủ, gắn liền với nền kinh tế tiểu nông, đại diện cho phơng thức sản xuất tiến bộ hơn Nhà vua có quyền uy tối thợng và vô hạn nh là một tên địa chủ lớn Việc triều Lê đề ra quy phạm khuyến khích phát triển ruộng đất t xét về tính lịch sử thì đó là điều tiến bộ Còn xét về tính