1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng tác giả trong thơ nguyễn công trứ

86 701 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 389 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ không chỉ có ý nghĩa riêng biệt đối với một hiện tợng văn học cụ thể mà còn có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu một Kiểu tác giả- chủ

Trang 1

Trờng đại học vinhKhoa sau đại học &

Vinh, 2002 *****

Trang 2

Lời nói đầu

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu HiVăn, còn có tiểu huý là Củng Ngời đơng thời kính trọng gọi ông là Uy Viễn tớngcông

Cũng nh Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ là sự kết tinh tinh hoa của xứ địalinh núi Hồng sông Lam, là ngời đã góp phần làm nên cả một truyền thống vănhoá xứ Nghệ Bản thân cuộc đời ông đã mang rất nhiều chất truyện, chất thơ.Tôi ngỡng vọng ông ngay từ lần đầu tiên đợc hiểu về chí nam nhi, nợ tangbồng, hiểu đợc khát vọng lập nên danh nghiệp trong đời của ông Mục đích sống,

lý tởng và cách hành động đã tạo cho ông một phong thái nam nhi, một sức hútbởi tính cách mạnh mẽ,tự tin, bản lĩnh.Tôi tìm đến sự nghiệp sáng tác của ông đểhiểu hơn về ngời thơ ấy, để yêu mến hơn trong một niềm khao khát đời thờng.Một đấng anh hùng, một khách lãng du!

Để hiểu đợc ông không phải là điều đơn giản Tôi xin cảm tạ sự nhiệt thành

giúp đỡ của Thầy giáo -Tiến sĩ Biện Minh Điền, ngời đã hớng dẫn tôi trên con

đờng đến với khoa học Xin cảm tạ những ngời thân đã chẳng quản ngại vì tôi.Cảm ơn các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận vănnày Vô cùng cảm ơn!

Vinh ngày 14-12-2002

Tác giả

Mở đầu

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài:

1.1 Nguyễn Công Trứ là một tác gia lớn có phong cách độc đáo trong văn

học trung đại Việt Nam Cho đến nay việc tìm hiểu phong cách Nguyễn Công

Trứ, trong đó có vấn đề Hình tợng tác giả trong thơ ông vẫn là một bài toán còn

nhiều ẩn số Cố gắng đi tìm một lời giải cho vấn đề này nhằm phần nào đáp ứngyêu cầu hiện nay, đề tài vì vậy mang một ý nghĩa khoa học cấp thiết

Trang 3

1.2 Cha nhà nghiên cứu nào thực sự đặt vấn đề nghiên cứu Hình tợng tác

giả trong thơ Nguyễn Công Trứ một cách cụ thể dù dờng nh ai cũng ý thức đợc

tầm cỡ của nhà thơ này Nghiên cứu Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công

Trứ không chỉ có ý nghĩa riêng biệt đối với một hiện tợng văn học cụ thể mà còn

có ý nghĩa đối với việc tìm hiểu một Kiểu tác giả- chủ thể sáng tạo của một loại

hình văn học độc đáo đã qua không lặp lại trong lịch sử văn học dân tộc Đề tài vì

vậy còn có ý nghĩa về mặt lý thuyết & lịch sử văn học

1.3 Nguyễn Công Trứ là một tác giả có vị trí quan trọng trong chơng trình

văn học ở học đờng Nghiên cứu vấn đề này đề tài còn hy vọng thiết thực góp

phần phục vụ giảng dạy thơ văn Nguyễn Công Trứ ở trờng phổ thông

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

2.1 Trớc hết, với một cái nhìn tổng quan về Nguyễn Công Trứ trên lịch trình

nghiên cứu ở thế kỉ qua, có thể thấy cho đến nay có khoảng 30 công trình và bài

viết về con ngời và thơ văn Nguyễn Công Trứ Quả là thành tựu nghiên cứu về

Nguyễn Công Trứ cha tơng xứng với tầm vóc của ông ( dẫu rằng công sức và

đóng góp của các nhà nghiên cứu là vô cùng quý giá, đáng trân trọng)

2.2 Trong tầm bao quát t liệu của bản thân, chúng tôi nhận thấy vấn đề hình

tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ là một vấn đề cha đợc đi sâu nghiên

cứu Trong số các công trình đã đợc công bố, chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến

các công trình sau: 1 Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách, Trơng Chính, (1958), Thơ

văn Nguyễn Công Trứ, Nxb Văn hoá, Hà nội 2.Nguyễn Lộc, (1978), Văn học

Việt Nam (nửa cuối thể kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX), Nxb Đại học và trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội 3 Nhiều tác giả, (1996), Nguyễn Công Trứ - con

ngời, cuộc đời và thơ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội 4 Lại Nguyên Ân (1997), Từ

điển văn học Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

5 Trần Ngọc Vơng, (1999), Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Nxb Đại học

Quốc gia, Hà Nội

Có thể thấy, trong số những công trình khảo cứu, tìm hiểu về Nguyễn Công

Trứ trên đây, trớc hết công trình của nhóm tác giả Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách,

Trơng Chính là công trình khảo cứu khá đầy đủ và có giá trị khoa học Tuy nhiên

các tác giả chủ yếu xem xét thơ văn Nguyễn Công Trứ từ nội dung t tởng của tác

phẩm ý niệm về hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ cha hề định hình

Rất đáng chú ý là bài giới thiệu đã phát hiện đợc ở Nguyễn Công Trứ có con

ng-ời hữu chí và con ngng-ời hành lạc Ngoài ra bài giới thiệu còn chỉ ra tính chất hiện

thực ẩn chứa trong những bài thơ về nhân tình thế thái, "cái không khí phóng

khoáng" "không chịu gò mình vào khuôn sáo", giọng điệu "chân thành, say

đắm" trong các bài ca trù hoặc thơ tình của Nguyễn Công Trứ Theo các tác giả

Nguyễn Công Trứ sáng tác "nhiều nhất và hay nhất là các bài ca trù", bên cạnh

không khí phóng khoáng "thơ Nguyễn Công Trứ còn là một thứ thơ đại chúng" ở

đề tài lấy từ thực tế, lời thơ đơn giản bình dị, vận dụng những thành ngữ tục ngữ

2

Trang 4

Nguyễn Lộc lại xét thơ văn Nguyễn Công Trứ theo 3 đề tài: Chí nam nhi,

Cảnh nghèo và nhân tình thế thái, Triết lý hởng lạc; phát hiện tính mâu thuẫn

trong thơ văn của Nguyễn Công Trứ : đề cao con ngời hành động đồng thời đề

cao lối sống nhàn dật hởng lạc, đề cao Nho giáo đồng thời ca tụng Đạo giáo, lạc

quan đồng thời bi quan Công trình đã bớc đầu phát hiện ra một số khía cạnh

thuộc về cái Tôi nhà thơ "Trong thơ Nguyễn Công Trứ đằng sau ý thức về bổn

phận, vai trò của cá nhân cũng đợc nhà thơ đề cao" " Việc xác định cho mình

một chỗ đứng vững chắc, một hớng sống dứt khoát cũng đủ làm cho nhà thơ tin ở

đời và tin ở mình ” Nghệ thuật thơ văn Nguyễn Công Trứ "không mấy khi chạm

trổ đẽo gọt", có cách diễn đạt bình dân, gần gũi với lời ăn tiếng nói quần chúng,

vận dụng thành ngữ tục ngữ vào thơ Và với cốt cách phóng túng Nguyễn Công

Trứ tìm đến với thể ca trù tạo nên sự "đa dạng", "độc đáo" và "thành công nhất"

Tại Hội thảo khoa học về Nguyễn Công Trứ tháng 12 - 1994( tổ chức tại Hà

nội), một số tác giả lu ý đến những thành tựu của Nguyễn Công Trứ khi làm

quan, đồng thời chú ý phân tích những nét biểu hiện của nhân cách độc đáo

Nguyễn Công Trứ Trơng Chính xuất phát từ việc nghiên cứu hình thức biểu

hiện, kết luận phong cách Nguyễn Công Trứ là "phong cách bình dân" Phong

cách đó thể hiện ở tinh thần "lạc quan", "hăm hở", " sôi nổi", "tinh thần phóng

khoáng của một ngời năng nổ hoạt động" nhng về cuối đời đã có chút hối hận “vì

đã lẫn lộn chí làm trai với mộng công hầu" Nguyễn Công Trứ “ là ng ời đầu tiên

dùng thơ ca trù phóng túng hơn để chứa đựng một nội dung t tởng phong phú”

Vơng Trí Nhàn muốn nhìn Nguyễn Công Trứ xuất phát từ cái Tôi sáng tạo của

ngời nghệ sĩ: " Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam một nhà thơ tự nói về mình

bằng một đại từ ở ngôi thứ 3 (ông) Nghĩa là tác giả nhìn mình nh một kẻ khác”,

"Có vẻ Nguyễn Công Trứ đã đi rất gần với một quan niệm về sự phân thân, trong

con ngời có thể có hai, ba con ngời khác nhau" Phạm Vĩnh C chỉ xét riêng về thơ

hành lạc của Nguyễn Công Trứ, nhận thấy Nguyễn Công Trứ đã "khẳng định nhu

cầu hởng thụ của con ngời, nâng nó lên thành cả một triết lý có sức thu phục

nhân tâm", ở Nguyễn Công Trứ, hành đạo, hành lạc luôn song song tồn tại và tất

cả đều là “Sự chơi, cuộc chơi” Phạm Vĩnh C cũng phát hiện sự khách thể hoá

bản thân của nhà thơ: "Nguyễn Công Trứ vừa giễu cợt ngời đời vừa giễu cợt bản

thân mình Tiếng nói tự trào xuyên suốt qua sáng tác của Nguyễn Công Trứ từ

buổi thiếu thời đến tuổi già nua.”

Lại Nguyên Ân trong Từ điển văn học Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ

XIX) nhận thấy trong văn thơ của Nguyễn Công Trứ có "những chí khí khát vọng

của kiểu anh hùng thời loạn", "cái cốt cách tài tử phong lu", "nét nổi bật ở thơ

văn Nguyễn Công Trứ là sự khẳng định mạnh mẽ cá nhân nh một thực thể xã hội

và riêng t với ít nhiều giá trị tự tại và khát vọng tự do (…) sự khẳng định và tự) sự khẳng định và tự

khẳng định "chí nam nhi" ở Nguyễn Công Trứ mạnh mẽ khác thờng nh là dự báo

sự xuất hiện con ngời cá nhân ở văn học thế kỷ XX"

4

Trang 5

Trần Ngọc Vơng xét riêng một loại hình tác giả văn học: nhà nho tài tử và

xếp Nguyễn Công Trứ là một trong 13 nhà nho tài tử của văn học Việt Nam Xét

về thể loại, ngôn ngữ văn học, Trần Ngọc Vơng đánh giá rất cao thể thơ ca trùcủa Nguyễn Công Trứ, xem đó là đỉnh cao, "đạt tới giá trị cổ điển trong toàn bộlịch sử văn học dân tộc Việt Nam"

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết đã điểm qua trên đâymới chỉ đề cập đến các khía cạnh thể hiện trong thơ văn Nguyễn Công Trứ (nộidung, t tởng, giọng điệu, ngôn ngữ) Tất cả mới chỉ là những vỡ vạc bớc đầu,những dự cảm đại lợc về hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ chứ cha đisâu tập trung nghiên cứu nó

Luận văn này là công trình đầu tiên đi sâu tìm hiểu nghiên cứu Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ với một cái nhìn hệ thống, toàn diện.

3 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi và giới hạn của đề tài:

3.1 Đối tợng nghiên cứu:

Nh tên đề tài đã nêu, đối tợng nghiên cứu của luận văn là Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ Vấn đề này cho đến thời điểm hiện tại vẫn cha là

đối tợng của một công trình khoa học chuyên biệt nào cả

3.2 Phạm vi, giới hạn của đề tài :

3.2.1 Luận văn tìm hiểu nghiên cứu Hình tợng tác giả Nguyễn Công Trứ

trong sáng tác của ông mà ở đây chủ yếu là thể loại thơ nh tên đề tài đã đề cập,

có sự kết hợp với các yếu tố khác thuộc về thời đại, thuộc về đời sống riêng củanhà thơ

3.2.2 Nghiên cứu Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ về văn bản

thơ tác giả, chúng tôi chọn cuốn Thơ văn Nguyễn Công Trứ của nhóm tác giả Lê

Thớc, Hoàng Ngọc Phách, Trơng Chính Theo chúng tôi đây là công trình khảocứu nghiêm túc, đáng tin cậy nhất về Nguyễn Công Trứ cho đến lúc này Tuynhiên khi coi đây là văn bản chính thức, chúng tôi cũng có đối chiếu với nhiều

văn bản khác nh Nguyễn Công Trứ - con ngời, cuộc đời và thơ hay tập: T liệu về Nguyễn Công Trứ …) sự khẳng định và tự để tham khảo, sử dụng thêm thơ văn của tác giả

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

4.1 Luận văn trớc hết xác lập cơ sở lý luận để tìm hiểu Hình tợng tác giả

trong thơ Nguyễn Công Trứ, xác định giới hạn khái niệm tác giả, hình tợng tác giả, đặc trng loại hình tác giả văn học trung đại, từ đó để có cơ sở thấy đợc

những nét riêng độc đáo của hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ

4.2 Khảo sát toàn bộ thơ Nguyễn Công Trứ, xác định những đặc trng của

hình tợng tác giả Nguyễn Công Trứ thể hiện trên phơng diện nội dung- t tởng,cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của tác giả trong thơ

4.3 Khảo sát đặc trng Hình tợng tác giả Nguyễn Công Trứ trên phơng diện

hình thức thể hiện- giọng điệu và ngôn ngữ của tác giả

Trang 6

Cuối cùng rút ra một số kết luận về sự hình thành và đặc sắc độc đáo củaHình tợng tác giả trong sáng tác Nguyễn Công Trứ, khẳng định những đóng góp

của ông cho lịch sử văn học dân tộc qua đặc sắc của Hình tợng tác giả.

5 Phơng pháp nghiên cứu:

Hình tợng tác giả là vấn đề thể hiện cái độc đáo cá nhân, thể hiện cái Tôi

trong ý thức nghệ thuật và ý thức xã hội của tác giả, luận văn xuất phát từ quan

điểm phong cách học nghệ thuật, loại hình học tác giả văn học, vận dụng nhiềuphơng pháp khác nhau nh thống kê, phân tích, so sánh, loại hình, hệ thống…) sự khẳng định và tự đểtìm hiểu nghiên cứu vấn đề

6 Đóng góp và Cấu trúc của luận văn:

6.1 Đóng góp:

6.1.1 Luận văn là công trình đầu tiên khảo sát một cách công phu Hình

t-ợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ với một cái nhìn hệ thống toàn diện,

khẳng định đây là một yếu tố cơ bản quan trọng hàng đầu hình thành nên phongcách nhà thơ

6.1.2 Ngoài ra đề tài với phơng pháp nghiên cứu nh đã nêu có thể gợi mở

hoặc làm sáng tỏ ít nhiều một hớng tiếp cận mang tính hữu hiệu về hiện tợng tácgiả văn học Nguyễn Công Trứ

6.1.3 Kết quả nghiên cứu cũng có thể đợc vận dụng vào công tác giảng

dạy Nguyễn Công Trứ cũng nh thơ văn ông ở học đờng nhất là ở trờng phổ thông

6.2 Cấu trúc

Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn đợc triển khai trong

3 chơng:

Chơng 1: Nhận diện đặc điểm loại hình tác giả và khái niệm về hình tợng

tác giả trong sáng tác Nguyễn Công Trứ.

Chơng 2: T tởng, cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của Nguyễn

Công Trứ trong thơ

Chơng 3: Giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật thơ Nguyễn Công Trứ.

Cuối cùng là Tài liệu tham khảo

Chơng 1

Nhận diện đặc điểm loại hình tác giả và khái niệm về hình

tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ

1.1 Nhận diện đặc điểm loại hình tác giả Nguyễn Công Trứ.

Loại hình tác giả văn học (hay kiểu tác giả văn học) gắn với phong cách thời

đại Nghĩa là ở mỗi thời đại văn học sẽ có những loại hình tác giả đặc thù Tácgiả Nguyễn Công Trứ xuất hiện ở thời Trung đại nên việc nhận diện đặc điểm

Trang 7

loại hình tác giả Nguyễn Công Trứ phải xuất phát từ đặc trng loại hình tác giảvăn học Trung đại.

1.1.1 Từ đặc trng loại hình tác giả văn học Trung đại …

1.1.1.1 Khái quát văn học Việt nam Trung đại và Kiểu tác giả của loại hình văn học Việt nam Trung đại.

Văn học Việt nam trung đại thuộc loại hình văn học có hệ thống thi pháp hếtsức chặt chẽ Cũng nh văn học trung đại của bất kì một dân tộc nào, văn học Việtnam trung đại cũng chịu sự chi phối của các điều kiện về lịch sử, xã hội và hệ t t-ởng của thời đại

Trớc hết chúng ta xác định khái niệm “thời trung đại” về mặt lịch sử ThờiTrung đại là thời kì xuất hiện hình thái kinh tế – xã hội phong kiến TheoN.I.Kônrát đó là thời kì khi chế độ chiếm hữu nô lệ sụp đổ, bắt đầu hình thànhchế độ phong kiến,và đến lợt nó bị thay thế bởi một chế độ xã hội có nền kinh tếphát triển cao hơn (TBCN) Khái niệm “thời trung đại” có thể đợc vận dụng vàolịch sử và văn học phơng Đông, tuy nhiên cần tính tới các yếu tố đặc thù của từngkhu vực và quốc gia Thời trung đại ở Việt Nam đợc xác định từ thế kỉ X cho đếnhết thế kỉ XIX

Văn học Trung đại Việt nam hình thành và phát triển trong bối cảnh xã hộiphong kiến Việt nam thời trung đại (từ thế kỉ X cho đến hết thế kỉ XIX) Nó vừamang những đặc điểm chung của loại hình văn học trung đại ( khái niệm vănhọc đợc hiểu rất rộng, bao gồm tất cả những thể văn có vị trí trong các quan hệxã hội; văn học chịu sự chi phối sâu sắc của t tởng kinh điển và tôn giáo; có mốiquan hệ chặt chẽ với văn hoá- văn học dân gian; tính ớc lệ tợng trng cao và thành

hệ thống bền vững; tính chất song ngữ…) sự khẳng định và tự ( Theo khảo sát và tổng hợp của nhiềunhà nghiên cứu nh D.X.Likhatrôp, B.L.Riptin, R.Wellek và A.Warren,Trần Đình

Sử [35] )vừa mang những đặc điểm riêng in đậm bản sắc Việt Nam

Chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến, mỹ học phong kiến, và truyềnthống t tởng văn hoá dân tộc, văn học trung đại Việt nam có một hệ thống thi phápchặt chẽ từ cách cảm nhận về thế giới, về con ngời và ý thức về cái Đẹp trong cuộcsống đến hình thức ngôn ngữ thể hiện Lực lợng sáng tác và công chúng của vănhọc cũng khác hẳn với lực lợng sáng tác và công chúng văn học thời hiện đại Hệthống thi pháp của văn học trung đại mang tính quy phạm hết sức chặt chẽ, sángtác theo những thể loại, những khuôn thớc, mô hình định sẵn …) sự khẳng định và tự

Văn học trung đại Việt nam là loại hình văn học chủ yếu do nhà s và nhà nho viết trong đó nhà nho vẫn là lực lợng cơ bản (loại hình tác giả nhà s xuất

hiện chủ yếu ở giai đoạn Lí-Trần), đợc viết bằng một thứ chữ khối vuông (chữHán và chữ Nôm) Xét về mối quan hệ giao lu ta dễ nhận thấy văn học trung đạiViệt nam chịu mối giao lu ảnh hởng trong khu vực với trung tâm ảnh hởng là vănhoá văn học Trung Hoa

Quá trình vận động và phát triển của văn học trung đại Việt nam trải dài từthế kỉ X đến hết thế kỉ XIX Việc phân kì văn học trung đại Việt nam cho đến

Trang 8

nay đang là vấn đề đợc giới nghiên cứu quan tâm Một số tác giả phân kì theotriều đại Một số khác lại phân kì theo thế kỉ trên cơ sở phân tích quá trình pháttriển từ thịnh đến suy của chế độ phong kiến Việt nam Lê Trí Viễn đề nghị phânchia thành hai giai đoạn: thợng kì văn học trung đại và hạ kì văn học trung đại.Nguyễn Lộc phân chia thành 4 giai đoạn ( từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, từ cuối thế

kỉ XV đến nửa đầu thế kỉ XVIII, từ cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, vànửa sau thế kỉ XIX) Một số tác giả khác thì chia văn học Việt Nam thành cácgiai đoạn : từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII, từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX Dẫutheo cách phân chia nào thì chúng tôi vẫn xem giai đoạn nửa sau thế kỉ XVIII

đến nửa đầu thế kỉ XIX là một giai đoạn văn học với đầy đủ ý nghĩa khoa học

của khái niệm này Đây là giai đoạn đợc bắt đầu bằng Chinh phụ ngâm và kết

thúc là văn thơ của Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ Đây là giai đoạn xuất hiện

và khẳng định mạnh mẽ cái Tôi cá nhân, chữ Tài lần đầu đợc nhìn nhận và hơnthế nữa nó trở thành chỗ dựa vững chắc cho các danh sĩ Giai đoạn này cũng làgiai đoạn xuất hiện các thể loại văn học dân tộc nh ngâm khúc, truyện nôm, hátnói

ứng với mỗi loại hình văn học có một loại hình tác giả nhất định Loại hìnhtác giả văn học trung đại là một loại hình độc đáo Các nhà nghiên cứu văn họcTrung đại từ lâu đã chú ý đến vấn đề này Likhachốp nói: “ý thức công dânkhuôn sáo làm cho kiểu tác giả này rất khó sử dụng các chi tiết đời sống mới vàcác chi tiết nghệ thuật bất ngờ” Ông cũng nói các tác giả trung đại là ng ời xemviệc sáng tác là việc trang trọng thành kính, không làm việc đùa Các tác giả văn

học Trung đại phơng Đông gắn chặt văn với đạo cho nên sáng tác là nghiêm túc,

kể cả khi đặt thơ trong “cầm, kì, thi, tửu”, họ cũng dặt “văn” trong quan hệ với

“đức” của con ngời Tác giả trung đại ít hớng tới việc tạo ra những cốt truyệnmới Họ có thể tiếp thu truyền thống một cách tự do, do không có những phongcách khác biệt nhau một cách gay gắt Từ đó nảy sinh ra một đặc điểm của tácgiả văn học trung đại: mỗi thể loại có một hình tợng tác giả, và một tác giả sángtác các thể loại khác nhau sẽ tuân theo các hình tợng tác giả khác nhau Họ đặcbiệt coi trọng sự trau chuốt hình thức tới mức điêu luyện, thành thạo nh một nghệnhân

Trong quá trình nghiên cứu văn học trung đại, các nhà nghiên cứu có đa ranhiều cách phân loại loại hình tác giả khác nhau nhng chung quy có hai cách cơbản

Cách thứ nhất : nhìn tác giả từ góc độ loại hình-loại thể văn học ở cách nhìn

này này ta có kiểu tác giả thơ và kiểu tác giả văn Một điều dễ nhận thấy là kiểutác giả thơ có trớc và phổ biến hơn kiểu tác giả văn bởi giai đoạn văn học trung

đại thơ ca phát triển rầm rộ và là đóng góp chính cho thành tựu văn học dân tộctrong lúc sự đóng góp của văn có phần khiêm tốn hơn Tuy vậy cách phân chianày vẫn cha phản ánh hết đợc đặc trng nghệ thuật của từng kiểu tác giả cũng nh

t tởng, quan điểm sáng tạo của họ

Trang 9

Cách phân loại thứ hai : xuất phát từ ý thức hệ t tởng, văn hoá Ta có các

kiểu tác giả : Thiền gia, Đạo gia và Nho gia Kiểu tác giả Thiền gia xuất hiện trênvăn đàn trong giai đoạn văn thơ Lý-Trần và có nhiều thành tựu nổi bật, về sau vaitrò của kiểu tác giả này phai mờ dần Việc kiểu tác giả Thiền gia chỉ giữ đ ợc vaitrò nổi bật trong văn thơ giai đoạn Lý-Trần cũng có nguyên do từ điều kiện vănhoá, t tởng, chính trị của thời đại Trong giai đoạn đó dù vẫn tồn tại thế Tam giáo

đồng nguyên song Phật giáo lại đóng vai trò quốc giáo Các nhà s đợc tham giavào triều chính và trở thành rờng cột quốc gia Sự thăng hoa của Phật giáo ảnh h-ởng mạnh mẽ đến văn học Có rất nhiều bài kệ ở chốn tu hành giàu rung cảm vớitạo vật, với con ngời, với nhân dân và cuộc sống nơi trần thế “Nhà thơ thiền nhìn

ra không trong thế giới vạn pháp, tìm thấy thế giới siêu nghiệm trong thế giớikinh nghiệm nhng không hề phủ nhận sự sống”[35,122] Thiền biểu hiện trongthơ là sự phát hiện thế giới linh không bằng trực giác Mà đã bằng vào trực giácthì phải dựa vào quá trình cảm nhận tự nhiên, không thể cố tình, phải tự tại, yêntĩnh chờ đợi cái phút giây trực giác loé sáng Chính diểm này đã tạo cho thơ thiềnmột màu sắc thông tuệ và một sự sâu lắng, tinh tế, làm nên một sức sống mãnhliệt cho các tác phẩm của Mãn Giác thiền s, Không Lộ thiền s, Quảng Nghiêmthiền s…) sự khẳng định và tựvà hơn tất cả là đã tạo ra trong lịch sử văn học một kiểu tác giả độc đáo– kiểu tác giả Thiền gia

Kiểu tác giả chịu ảnh hởng của hệ t tởng Đạo gia không có đợc sự phân địnhrạch ròi nh kiểu tác giả Thiền gia hay Nho gia Ta bắt gặp t tởng Đạo gia thể hiệntrong một số tác phẩm ca ngợi sự vô vi, nhàn tản, thuận theo tự nhiên, phản đốitất cả những gì gọi là nhân vi Đạo gia muốn rời bỏ xã hội, hoà đồng với tự nhiên

để cầu sự yên tĩnh Thiên nhiên là ngôi nhà an ủi nỗi đau trần thế, đạt tới cõiquên thân, quên vật Bởi vậy mà các nhà thơ tìm đến Đạo gia nh là tìm một sựcân bằng, bình ổn trong thế giới tinh thần của họ mặc dù trong thực tế họ có thể

1.1.1.2 Kiểu tác giả chủ yếu của văn học trung đại là nhà Nho

Đó là những ngời theo khuynh hớng Nho giáo Sự có mặt của Nho giáo trongvăn học Việt nam là một hiện tợng hiển nhiên ai cũng thấy Nho giáo ảnh hởngtới văn học với t cách là một học thuyết, tức là một hệ thống quan điểm về thếgiới, về xã hội, về con ngời, về lí tởng…) sự khẳng định và tự Nho giáo quan niệm văn học có mộtnguồn gốc linh thiêng, một chức năng xã hội cao cả cho nên văn học có thể giáohoá, động viên, tổ chức, hoàn thiện con ngời, hoàn thiện xã hội Qua khoa cử, sĩ

tử tiến đến con đờng làm quan với sự danh giá, đáp ứng mô hình tu thân: vinhthân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Nh vậy Nho giáo đã khích lệ sự phát triển củavăn học

Trang 10

Có thể thấy trong văn học trung đại Việt Nam, vai trò ảnh hởng, chi phốicủa Nho giáo là rất lớn Theo Trần Đình Hợu “Nho giáo ảnh hởng trực tiếp đếnvăn học qua thế giới quan của ngời viết Cách Nho giáo hiểu quan hệ giữa thiên

đạo và nhân sự, sự tồn tại của trời, sự chi phối của Đạo, Lý, của Mệnh; cách Nhogiáo hình dung thực tế, vạn sự, vạn vật và lẽ biến dịch; cách Nho giáo hiểu cổkim (lịch sử); cách Nho giáo hình dung xã hội, sự quan trọng đặc biệt của cơngthờng, đòi hỏi con ngời có trách nhiệm, có tình nghĩa, chi phối cảm xúc, cách suynghĩ, làm cho con ngời quan tâm hàng đầu đến đạo đức, lo lắng cho thế đạo,nhân tâm, băn khoăn nhiều về lẽ xuất xử (…) sự khẳng định và tự ở nhà nho Tâm hết sức quan) trọng.” [12, 51-52]

Cũng theo Trần Đình Hợu và một số nhà nghiên cứu khác nh Trần Ngọc

V-ơng [42], Lại Nguyên Ân [2] thì trong quá trình vơn lên làm một hệ t tởng chínhthống của một thể chế chính trị, Nho giáo đã triển khai trong thực tế hai định h -ớng ứng xử rõ rệt: hành đạo và ẩn dật, tạo ra hai mẫu ngời cơ bản của nhà Nho -

ngời hành đạo và ngời ẩn dật Nhà nho hành đạo về cơ bản đợc thể chế hoá thành

bộ máy quan liêu của triều đình chuyên chế Họ nắm giữ những vị trí chủ chốttrong bộ máy quan lại và nỗ lực triển khai việc ứng dụng lí luận Nho giáo vàoquản lí xã hội Nhà Nho ẩn dật không vớng bận với thân phận thần tử Họ tự táchmình ra khỏi những sinh hoạt chính trị, thậm chí nhiều lúc tự coi là đứng trênmọi đổi thay của xã hội Nếu nhà Nho hành đạo trong thực tế công việc phải sửdụng học thuyết Pháp gia và càng về sau yếu tố Pháp gia hay yếu tố “phi Nho”nói chung càng không ngớt gia tăng thì ở ngời ẩn dật cũng diễn ra một quá trìnhtừng bớc đi ra ngoài khuôn khổ của học thuyết Nho giáo Khuynh hớng chungcủa các nhà nho ẩn dật là đi từ Nho sang Trang Tuy phân chia thành hai loạinhà Nho nhng không có sự ngăn cách tuyệt đối giữa chúng mà ngợc lại thờng có

sự chu chuyển, sự đổi chỗ Trong tâm hồn nhà Nho có hai nửa: hành và tàng; trong xử sự của họ có hai khả năng: xuất và xử Họ không nhất định gắn bó cuộc

đời của mình vào chỉ một trong hai khả năng nói trên

Từ giữa thế kỉ XVIII xuất hiện hàng loạt những tên tuổi của một loại hìnhnhà nho mới đợc đặc trng bởi những hoạt động không chính thờng trong mốiquan hệ với những tiêu chí của cái chính thống mà những đóng góp của họ làkhông thể phủ nhận, không chỉ ở đời sống tinh thần ý thức mà cả ở những biến

động kinh tế, chính trị Đó chính là mẫu nhà nho thứ ba mà Trần Đình H ợu vàsau này Trần Ngọc Vơng đã có dịp đi sâu tìm hiểu trên một số phơng diện - mẫu

nhà nho tài tử.

Nhìn từ góc độ lịch sử, giai đoạn thế kỉ XVIII là giai đoạn của sự khủnghoảng chính quyền chuyên chế Chiến tranh phong kiến nổ ra liên miên bởi sựtranh dành của nhiều tập đoàn phong kiến Trong toàn cõi Việt nam tồn tại đồngthời cả ngôi vua và cả ngôi chúa Cục diện đất nớc phân liệt hai cõi Bắc-Nam lâudài đồng thời cũng nuôi dỡng tham vọng xng đồ bá vơng của nhiều ngời khác.Thực tế hỗn loạn phản ánh không chỉ cuộc khủng hoảng xã hội mà trớc hết, rõ rệt

Trang 11

nhất là cuộc khủng hoảng ý thức hệ Đồng thời nó cũng đặt ra cho các nhà nhotình huống buộc phải lựa chọn Có những ngời vẫn hăm hở theo đờng khoa cử.Nhng cũng có những số lợng rất lớn không lựa chọn quyết liệt con đờng khoa cử

để cầu công danh Họ nhìn vào thực tế đang diễn ra, soi vào lịch sử để tìm chomình một cách ứng xử riêng “tuy về khách quan cha vợt ra ngoài các khả năngứng xử đã biết, nhng đã định hớng tới việc vợt qua khỏi những lằn ranh giới đangcó” [35,67]

Một đặc điểm lịch sử nữa quyết định sự xuất hiện những nhân vật xã hội mới

là sự xuất hiện những yếu tố của một nền kinh tế đô thị và đời sống văn hoá, tinhthần đô thị Các làng nghề thủ công, các trung tâm thơng mại đã góp phần phá

bỏ vòng vây khép kín của nền kinh tế tự cấp tự túc Các chợ lớn, phố xá, các caolâu, tửu quán, …) sự khẳng định và tựlàm nơi lui tới cho những ngời cần giải trí, thoát khỏi sự ràngbuộc nghiêm nhặt buồn tẻ của đời sống gia đình theo nề nếp gia phong Nho giáo,thoả mãn nhu cầu giao kết, nhu cầu thể hiện bản thân mình với những ngời tri kỉtri âm Các tụ điểm đó cũng thờng tiếp nhận sự lui tới của các quan khi đã trút

bỏ y phục của triều đình, của những nho sinh, giám sinh ngoài giờ học, các hàn sĩ

lỡ độ công danh…) sự khẳng định và tựTất cả những sự thay đổi trên đủ để hình thành một xã hội thịdân, một môi trờng kinh tế- văn hoá phi cổ truyền Có thể nhận thấy nh TrầnNgọc Vơng rằng: “ Các nhà nho trong môi trờng phi cổ truyền nh thế sẽ thể hiệnnhững sắc thái t tởng, tình cảm cũng phi cổ truyền, tạo nên trong đời sống tinhthần một luồng sinh khí mới, vừa thể hiện tính tất yếu của sự vận động của bảnthân cuộc sống, nhng cũng mâu thuẫn với những xác tín, những nguyên lý ứng

Điểm khác biệt cơ bản giữa ngời tài tử với ngời hành đạo và ngời ẩn dật là ở

chỗ ngời tài tử coi “tài” và “tình” chứ không phải đạo đức làm nên giá trị con ng

-ời Chính thời đại đã làm mọi ngời cảm thấy các giá trị của nó bị đứt tung khôngtài nào cứu vãn nổi T tởng thị dân đô thị đã thức dậy ý thức cá nhân của con ng-

ời Nhng con ngời càng ý thức về mình lại càng cảm thấy nh tất cả chới với, sụp

đổ “Änh ta không còn có thể dựa vào bất kì giá trị nào có sẵn Chỗ dựa duy nhấtcủa anh ta chỉ có thể là cái tài của mình Chữ Tài từ chỗ là một từ kiêng kị củathời đại trớc trở thành một ý niệm động lực của thời đại mới.” [26,62] Ngời tài tử

quan niệm tài nhiều cách Có thể là tài học vấn, kinh luân, trị nớc nhng nhất thiết

phải có tài văn chơng nhả ngọc phun châu, tài cầm kì thi hoạ, những thứ nghệ

thuật tài hoa, gắn bó với tình nữa mới trở thành ngời tài tử.

Trang 12

Ngời tài tử cậy tài, mơ ớc không chỉ công danh phú quý mà còn lập nên

những sự nghiệp phi thờng: “Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc” (Nguyễn Công Trứ) và “Thay con Tạo xoay cơn khí số” (Cao Bá Quát) Họ không trăn trở băn

khoăn nhiều về lẽ xuất xử, không chủ trơng lánh đời…) sự khẳng định và tự các nhà nho hành đạo,nhnhà nho ẩn dật khác Trong điều kiện của chế độ chuyên chế, muốn có sự nghiệptất phải qua con đờng công danh, làm theo mệnh vua Chỉ có điều “trí quân trạchdân” đối với họ là để trổ tài, thử tài chứ họ không quan tâm nhiều đến nghĩa vụ,không coi đó là mục đích ở đời nh nhà nho hành đạo Sự trung thành của ngời tài

tử với nhà cầm quyền là có điều kiện, hình thành nên những giao ớc công khaihay ngấm ngầm giữa ngời làm chúa và kẻ bầy tôi ở ngời tài tử không thấy cómột sự trung thành vô điều kiện, trung thành đến mức hi sinh tính mạng nh ngờihành đạo trung nghĩa Mối quan tâm hàng đầu của họ trong cuộc đời chính làviệc làm thoả mãn hoài bão cá nhân:

Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông (Nguyễn Công Trứ)

Quan điểm truyền thống rất coi trọng cái Đức mà hiểu ở tầng cụ thể nhất làphẩm chất đạo đức của con ngời Con ngời phải biết trọng cái lễ, cái nghĩa, sốngtheo trật tự đẳng cấp, và mỗi ngời phải đảm nhận một chức năng trong chuỗiquan hệ ngũ luân Nhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dật đều coi trọng cái đức Họkhông sợ bị coi là bất tài nhng đặc biệt sợ hãi khi bị coi là “vô hạnh” Cho nêntrong sự lựa chọn xuất-xử họ đều ám vào chữ Đức để quyết định “đạt kiêm tếthiên hạ, cùng độc thiện kì thân” Vì thế nên chữ Tài không đợc coi trọng thậmchí vua chúa còn tìm cách kìm hãm nó Con ngời khắc kỉ phục lễ, an bần lạc đạo

đó thật khác với mẫu ngời nhà nho tài tử Phan Ngọc có cơ sở khi cho rằng: “T ởng thị dân đòi hởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc chống lại thói an bần lạc đạo xuấthiện và trở thành xu thế chính Các tài tử ra đời thay thế các quân tử, các trợngphu (…) sự khẳng định và tự) Các tài tử ấy học đạo thánh hiền nhng suy nghĩ theo lối thị dân (…) sự khẳng định và tự) Conngời tài tử là điển hình mới của thời đại Con ngời quân tử bị chế giễu, đạo đứcsống khắc kỉ phục lễ bị mạt sát Một trào lu t tởng mới manh nha trong lòng

t-những chàng trai giỏi nhất của thời đại” [26,60] Nh vậy sự khẳng định cái tài,

sự khoe tài là đặc trng nổi bật nhất của mẫu hình nhà nho tài tử “ Ngời tài tử cậy

tài và ý thức cao về tài năng của mình, một cách tự nhiên có những đòi hỏi thẳngthắn về tình yêu và hạnh phúc “Đa tình” trở thành đặc trng thứ hai đợc ngời tài

tử bộc lộ để tự phân biệt mình với các mẫu nhà nho truyền thống” [42,78]

Ba mẫu nhà Nho đã xét ở trên tất yếu sẽ tạo nên sự khác biệt trong văn chơngcủa họ Văn chơng của Nho giáo chính thống là một thứ văn “chí thiện”, phảihoàn toàn phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức, đợc đo bằng những thớc đo đạo

đức, “ Vì là để bộc lộ tâm, chí, thơ trở thành bộ phận lớn nhất, trữ tình trở thànhnét chủ đạo trong văn học Nhng trữ tình không phải là bộc bạch cái Tôi cảm xúc

mà bộc bạch cái ta đạo lí (ngôn chí) Vì nhằm mục đích giáo hoá, văn học cóchức năng truyền đạt chứ không có chức năng phát hiện,phản ánh, nhận thức Nó

Trang 13

hớng về bắt chớc, thể hiện Đạo chứ không cố gắng về mặt tìm tòi, sáng tạo hìnhthức để mô tả, tái hiện thực tế Đối với thực tế nó thiên về phẩm bình, tìm ý nghĩa

đạo lí hơn là băn khoăn tìm hiểu.” [13] Nhà nho hành đạo, một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với quan niệm văn học đó Thứ văn chơng cử tử đợc trau dồi khi

còn là hàn nho đã trở thành công cụ chính trị, phơng tiện để thực thi giáo hoá chocác nhà nho hành đạo Những tác phẩm còn tồn tại đến sau này chỉ là con sốkhiêm tốn trong toàn bộ sáng tác của họ

Khác với sáng tác của nhà nho hành đạo, sáng tác của nhà nho ẩn dật không

bị ràng buộc vào yêu cầu giáo hoá trực tiếp ở ngời ẩn dật “chí” thờng đồng nghĩa với bất đắc chí nên chúng ta thờng tìm thấy ở họ những tâm sự, những xúc

cảm thành thực hơn, mang sắc thái chiêm nghiệm của con ngời cá nhân một cách

rõ ràng hơn Tự nhận mình là ngời vụng về, bất tài, họ cho mình cái quyền chỉsống với thiên nhiên, hoa lá, cỏ cây Ngời ẩn dật tự cho phép mình phóng túnghơn trong sinh hoạt, có thể ung dung thởng thức cái đẹp của tạo vật, cái lạc thúbình dị của cuộc sống: an nhàn, bình ổn, không vớng bận bổn phận, trách nhiệm.Thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Hàng đã vẽ nên cả một bầukhông khí thanh nhàn vui sớng khi bầu bạn cùng với thiên nhiên, thoả mãn vớinhững cuộc sống đạm bạc nơi thôn dã Sáng tác của họ đi xa hơn sáng tác củanhững nhà nho hành đạo, đa lại những phơng diện bổ sung không thể thiếu đợccho sự phát triển văn học

Mẫu nhà nho tài tử là mẫu ngời thị tài, đa tình nên văn chơng của họ đã rất

dễ dàng tiếp cận với đề tài hồng nhan bạc mệnh Đó là một đột phá khẩu quantrọng để mở ra một ngả đờng cho sự giải phóng văn học, giải phóng t tởng tình

cảm Chỉ có họ mới coi văn chơng là sự nghiệp chính của đời mình Trớc đó văn

chơng chỉ là phơng tiện để những tài năng đạt đến những mục đích khác trongcuộc đời Một khi ngời tài tử đã coi tài năng, trớc hết là tài năng văn chơng là th-

ớc đo quan trọng, là tiêu chí đặc trng thì một cách tự nhiên văn chơng ngày càng

có sức hấp dẫn mạnh mẽ và đến một thời điểm nào đó nó sẽ là một lĩnh vực hoạt

động độc lập trong đời sống tinh thần của họ

Bách niên cùng tử văn ch

Lục xích phù sinh thiên địa trung (Nguyễn Du)

(Cuộc đời trăm năm chết nghèo giữa văn chơng

Tấm thâm sáu thớc lênh đênh trong trời đất)

ở văn chơng của những ngời tài tử, chất thơ thực thụ đã đợc đặt đối lập vớivăn chơng cử tử Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du,Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ…) sự khẳng định và tự đã lu lại tên tuổi của mình với t cách là nhữngnhà thơ xuất sắc Cũng chính nhờ những con ngời này một nền văn học viết bằngngôn ngữ và thể loại dân tộc mới thực sự hình thành và nhanh chóng đạt tới giátrị cổ điển Nội dung, đề tài văn học cũng đã đợc mở rộng, phong phú, đa dạnghơn Một nền văn học thực sự hớng đến con ngời với đầy đủ những tình cảmthiên tính đã đặt dấu ấn rực rỡ trong lịch sử văn học dân tộc

Trang 14

Việc phân chia nhà nho thành các kiểu nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử có ý nghĩa trong việc nghiên cứu loại hình tác giả văn học trung

đại Đặc biệt nhà nho tài tử quả là một hiện tợng độc đáo Tuy vậy, thực tế không

đơn giản và rạch ròi do có sự giao thoa, chuyển hoá trong t tởng cũng nh trongsáng tác của các nhà nho Vì vậy ta không thể tìm thấy một mẫu nhà nho thuầnnhất nào Vấn đề đợc chứng minh một cách đặc biệt mạnh mẽ khi ta xét đặc trngloại hình tác giả Nguyễn Công Trứ

1.1.2 … Đến đặc trng loại hình tác giả Nguyễn Công Trứ

Nguyễn Công Trứ là một kiểu nhà nho khá đặc biệt ở ông, ta tìm thấy sự

đan xen pha trộn của các mẫu hình nhà nho Nguyễn Công Trứ thể hiện cái chícủa nhà nho hành đạo đồng thời cũng thể hiện cả chất tài-tình của nhà nho tài tử

1.1.2.1 Nguyễn Công Trứ nhà nho hành đạo, nhà thơ ngôn chí:

Nh đã trình bày ở phần trớc, nhà nho hành đạo là ngời xuất chính nắm giữ

trọng trách trong guồng máy xã hội Thuở hàn nho họ đã nuôi chí giúp đời, giúpnớc, coi đó là cách để lu danh muôn đời Văn chơng của họ tất yếu sẽ thể hiệncái chí lớn lao của họ Trong kiểu tác giả này, việc “ngôn chí” đợc nêu lên hàng

đầu nh một yêu cầu tu dỡng, khẳng định lí tởng, lẽ sống Nhà thơ coi trọng tính

độc lập của nhân cách,đặc biệt đề cao khí tiết thanh cao mạnh mẽ Họ lấy việc tỏlòng làm chính, mà tỏ lòng thì cũng phải tỏ những gì lớn lao, những hoài bão,khát vọng lớn lao chứ không phải những nỗi niềm riêng t, thầm kín

Nguyễn Công Trứ là một đại quan của triều Nguyễn, là rờng cột của quốc giatrong một thời gian dài Sự nghiệp lớn lao này chính là hiện thực của một hoàibão ông đã ôm ấp từ thuở hàn nho Cái chí của ông đã đợc ông thể hiện trong thơnhng khác với nhiều ngời, ông hoạt động thực sự để thực hiện cái chí đó Con ng-

ời nhập thế, sôi nổi hoạt động ăn sâu trong tiềm thức của ông cho nên ông đãtừng có những hành động khác thờng Khi còn là một th sinh 26 tuổi ông đã dâng

một bài điều trần gọi là Thái bình thập sách cho vua Gia Long khi vua tuần thú

qua Nghệ An năm 1803 Ông học văn chơng thơ phú nhng đồng thời cũngnghiên cứu binh pháp và những kế sách cai trị Một con ngời văn võ kiêm toàn,luôn nghĩ đến việc phú quốc an dân nh vậy nhất định không thể ngồi yên Khi đã

đỗ đạt làm quan ông đem hết sức mình ra để phụng sự cho lí tởng, hoài bão củamình (cũng chính là lí tởng của các bậc nhà nho hành đạo phụng sự cho triều

đình phong kiến) Ông đã ghi dấu ấn trong lịch sử với hai công tích lớn: dẹp loạn

và khẩn hoang Ông không quan tâm nhiều đến những bớc thăng trầm của hoạn

lộ bởi đối với ông đỗ thủ khoa, làm Tham tán, làm tổng đốc Đông chẳng quacũng là những phơng tiện để ông thực hiện hoài bão “trí quân trạch dân” của đạoNho mà ông mang sẵn từ khi còn là bạch diện th sinh

Cái chí của Uy Viễn tớng công thể hiện rất rõ trong sáng tác của ngời Ta

luôn bắt gặp sự trở đi trở lại của các cụm từ chí nam nhi , nợ tang bồng , đ“ ” “ ” “ ờng công danh , nợ công danh” “ ”…) sự khẳng định và tựrồi “dọc ngang ngang dọc , phỉ sức vẫy” “

Trang 15

-vùng , ra tay buồm lái , xẻ núi lấp sông” “ ” “ ”…) sự khẳng định và tựÔng quan niệm rằng “đã sinh ra thì phải có chi chi”:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông (Nợ tang bồng)

Tất cả cho ta cảm nhận đợc rằng những hoài bão, khát vọng của một đấng namnhi đã đợc hun đúc thành chí khí, trở thành một mục đích lớn trong đời ông Hơnthế nữa ông còn xem đó là món nợ lớn ở đời Nếu nợ tổ tôm ông còn khất lần,khất lữa thì món nợ này ông quyết phải trả cho xong:

Bao nhiêu nợ tang bồng đem trả hết

(Cầm kì thi tửu) Vai trò kẻ sĩ đợc ông ý thức rất rõ ràng: Trên vì nớc, dới vì nhà” cũng là th “ ợng vì đức, hạ vì dân , sắp hai chữ quân thân mà gánh vác” “ ” Có thể nói “chí làm

trai trớc kia còn mơ hồ, nay đã có một nội dung cụ thể” [29,69] Bài Luận kẻ sĩ

chính là tuyên ngôn của một con ngời hoạt động, một ý chí hành đạo mẫu mực.Con ngời đó quan niệm trớc tiên phải biết tu thân:

Miền hơng đảng đã khen rằng hiếu đễ

Đạo lập thân phải giữ lấy cơng thờng

Đó là con ngời biết giữ lấy khí tiết “chí đại chí cơng”để chờ thời Lúc vị ngộ thìlấy chính đạo mà ngăn những lời huyễn hoặc, những thuyết sai lầm giúp cho việcgiáo hoá:

Phù thế giáo một vài câu thanh nghị

Cầm chính đạo để tịch tà cự bí

Khi đã gặp hội a duyên rồi thì có dịp đem những điều mình ôm ấp trong lòng ra

mà giúp đời:

Trong lăng miếu ra tài lơng đống

Ngoài biên thuỳ rạch mũi can tơng

Những điều ôm ấp trong lòng kẻ sĩ này thật to lớn Phải là rờng cột nớc nhà, có

nh thế kẻ sĩ mới lu danh muôn đời và khẳng định đợc mình:

Trớc là sĩ, sau là khanh tớng

Có thể thấy rõ chân dung của một con ngời cầu tiến, cầu danh Nhng danh ở đâykhông phải là danh hão mà là cái danh đợc làm nên từ sự xông pha, gánh váctrách nhiệm giữa thế gian Ông đã từng khẳng định rằng: ngời ở đời không thểkhông có sự nghiệp, lọt lòng mẹ đã có gánh quân thân rồi:

Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp

Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân

Lập công danh là điều kiện tất yếu của kẻ sĩ Làm trai là phải thế: biết tu d ỡng,

biết cống hiến, biết cách biến những hoài bão lớn lao thành hiện thực Có phỉ chí tang bồng, đem đến sự yên bình cho nớc nhà rồi thì lúc đó mới đợc phép tìm đến

thú tiêu dao :

Tiêu dao nơi bàn cốc thâm sơn

Nào thơ, nào rợu, nào địch, nào đờn

Trang 16

Đồ thích chí đựng đầy trong một túi

Bài hát nói này đã thể hiện quan niệm về đờng đời của một kẻ sĩ Một quan niệm

đầy tính hành động đầy sự hăm hở xông pha Có thể xem Nguyễn Công Trứ làmẫu nhà nho hành đạo điển hình nhất, luôn vơn tới một phong thái mạnh mẽ,tráng niên nên thơ ngôn chí của ông cũng đợc thể hiện một cách rõ ràng, rành rẽ,thẳng thắn Thơ cũng nh ngời, luôn ào ào sôi nổi cho ta hình dung nói và làmluôn song tiến.Tâm hồn ông luôn phơi phới, lạc quan:

Hữu chí công danh tài bất luỵ

Sơ lai bồng thỉ hựu hà phơng (Danh lợi)

(Ngời có chí lập nên công danh không sợ tài mình bị ràng buộc

Cái chí tang bồng hồ thỉ trớc và nay vẫn không sai)

Nói rằng “thi dĩ ngôn chí” thì thơ của Nguyễn Công Trứ đã thể hiện đ ợc cái chíanh hùng đó

1.1.2.2 Nguyễn Công Trứ nhà nho tài tử, nhà thơ hành lạc.

Đặc trng của nhà nho tài tử là thị tài, đa tình Hơn ai hết Nguyễn Công Trứ

không ngần ngại nói về mình, tự khoe những u điểm mà ông có một cách tự tin

mạnh mẽ Trong bài Thú tổ tôm ông ám chỉ đến khả năng của ông một cách rất

đắc chí:

Tài kinh luân xoay dọc, xoay ngang

Cơ điều đạc quân ăn, quân đánh

Gọi một tiếng ngời đều khởi kính

Dậy ba quân ai dám chẳng nhờng

Cất nếp lên bốn mặt khôn đơng

Hạ bài xuống tam khôi chiếm cả.

Có vẻ nh không ai tài bằng ông, ngời khác đều phải nhờng bớc Ông vỗ ngực tựnhận trời đất sinh ra ông không phải vô cớ, bởi ông là sự chung đúc của khíthiêng sông núi ở đây trong một chừng mực nào đó sự thị tài của nhà nho tài tử

đã gặp gỡ với sự thể hiện chí khí của nhà nho hành đạo

Nguyễn Công Trứ có tài, ai cũng thấy điều đó Nhng việc ngời khác phục cáitài của mình và việc mình tự nói ra, khẳng định, tự khen mình là hai điều khácnhau Nguyễn Công Trứ chẳng e dè nh những bậc tiền nhân, luôn phải tỏ rakhiêm tốn khi nói về mình.Ông nói to, nói rõ, nói một cách hào sảng về cái tàicủa mình, thậm chí có lúc ngông nghênh:

Trời đất cho ta một cái tài

Dắt lng dành để tháng ngày chơi (Cầm kì thi tửu)

“Một cái tài” mà ông nói chính là cái tài của một đấng anh hùng, một bậc trợngphu Ông dám tự tin so mình với nhân gian, so để khẳng định:

Trong cuộc trần ai ai dễ biết

Rồi ra mới biết mặt anh hùng.

(Đi thi tự vịnh)

Trang 17

Và đặc biệt trong bài Công khai thác nói về việc khẩn hoang của bản thân,

Nguyễn Công Trứ đã khen mình một cách không dấu diếm:

Phơng tri ngã quốc hữu nhân

(ấy mới biết nớc ta có ngời giỏi)

Để tự khen mình xứng đáng với ý nghĩa một con ngời nh thế không phải là dễ.Phải có một sự đổi mới trong t tởng thì vấn đề mới có thể nảy sinh

“Một cái tài” nữa là tài ăn chơi, hay nói cách khác là thú hành lạc của ông.Các nhà nghiên cứu trớc đây đã nhận định một cách đúng đắn rằng trong các tácphẩm, Nguyễn Công Trứ đã công khai nói về “hành lạc”, nói về những thú vui cósức hấp dẫn vô cùng lớn: rợu chè, cờ bạc, ái tình Giai thoại vẫn kể về một anh đồTrứ thờng làm kép hát theo hầu các cô đào trong các hội hát ca trù Vẫn phong lu

và tình tứ khi bày mu trêu ghẹo ngời ta giữa đồng không:

Cầm kì thi tửu, đờng ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay.

Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ sức

Trong cái thú ăn chơi của ông có cả thú trai gái:

Thú tiêu sầu rợu rót thơ đề

Có yến yến, hờng hờng mới thú

Khi đắc ý mắt đi mày lại

Có thiên thiên, thập thập thêm nồng (Tài tình)

Và với quan niệm “đàn một cung, cờ một cuộc, thơÿêu hoa” êu hoa ” mà trăm hoa cũng bẻ một cành “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ”, hay tuổi già c “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ

-ới vợ hầu” thì ngời ta vẫn thể tình cho ông đôi chút dẫu xa nay không phải là không có ngời vẫn cho ông là tục, là suy đồi Phạm Vĩnh C khẳng định rằng: “

trong thơ Nguyễn Công Trứ cái nhục dục không bao giờ biến thành cái dâm dục,không bao giờ có cái không khí “tình dục bao trùm tất cả” Cái nhục dục bảnnăng trong thơ Nguyễn Công Trứ đợc kiềm chế và chi phối bởi nhiều yếu tố cótính chất văn hoá.: tinh thần thanh lịch, chất tài tử hào hoa phong nhã,thị hiếuthẩm mỹ sành sỏi, tinh vi, không chấp nhận tất cả những gì là thô bỉ, xô bồ, làxác thịt trần trụi” [29,127]

Chơi để hởng lạc, chơi cho bõ kiếp ngời ngắn ngủi, chơi để thể hiện mình làtài năng, để thể hiện một tâm hồn khát sống…) sự khẳng định và tựlà cái cách hành lạc của ngời tài tử

Trang 18

Nguyễn Công Trứ Cái chơi ấy cũng là cái chơi của một ngời hành động, mạnh

mẽ chứ không phải là cái chơi chìm đắm, mê muội

Một nét biểu hiện nữa khá quan trọng trong dòng thơ hành lạc của ông là sự

đa tình – cái đa tình cũng in dấu ấn riêng của ông Cũng nh bất kì một tâm hồnnghệ sĩ nào, ông dễ đồng cảm với những giai nhân Ông đã tìm đến nỗi lòng của

Bạch C Dị trên bến Tầm Dơng (Vịnh Tì bà) Ông thả hồn mơ màng hoài niệm những mỹ nhân triều trớc (Vịnh Hồ tây) Ông đã từng chiêm nghiệm và rút ra cả

một “định luật” nổi tiếng:

Minh quân lơng tớng tao phùng dị

Tài tử giai nhân tế ngộ nan

Trong thơ, ông đã tự xem mình là “quân tử đa tình”, đã xem lối phong tình là cách sống của kẻ phong lu: “mợn phong tình mà trả nợ phong lu” Nhng cái sự

đa tình của ông không dừng lại ở những rung cảm, ở những sự xót thơng “kiếp hoa nghiêm nặng nợ”, ở mối đồng cảm dẫu có sâu xa song vẫn ở mức khách khí

trừu tợng của những kẻ tri âm, tri kỉ Cái tình của ông là ái tình thực sự Yêu

đ-ơng, tơng t, nhớ thơng da diết cồn cào đến mứckhổ sở:

Đa tình là dở, đã mắc vào đố gỡ cho ra

Khéo quấy ngời một cái tinh ma

(Vịnh chữ tình) Trong cái cốt cách đa tình của Nguyễn Công Trứ có cái tình của “làng chơi” với

“yến yến, hờng hờng”, có cái quá đà của “tuổi già cới vợ hầu” mà thi nhân đã

ngạo nghễ khoe khoang:

Xa nay mấy kẻ đa tình

Lão Trần là một với mình là hai

nhng cũng có những rung cảm hết sức chân thành, nồng nàn, nghĩa và tình hoàquyện Con ngời này thật không đơn giản một chiều

Chữ tài, chữ tình đã làm nên bức chân dung đặc sắc của nhà nho tài tửNguyễn Công Trứ Có ai tự nhận mình tài, có ai tự thể hiện sự đa tình của mìnhmột cách khá ồn ào, mạnh mẽ và thẳng thắn đến nh vậy ? Nhng đến đây lại phátsinh một vấn đề khiến ta phải suy nghĩ Nguyễn Công Trứ là nhà nho hành đạovào loại bậc nhất, đồng thời cũng là một con ngời tài tử vô song Tại sao lại có sựhoà hợp giữa hai luồng t tởng có vẻ trái ngợc nhau trong con ngời Nguyễn CôngTrứ ?

1.1.2.3 Tính phức tạp và thống nhất trong mẫu hình tác giả Nguyễn Công Trứ

Hầu nh trong suốt cuộc đời, trong cuộc sống cũng nh trong sáng tác, Nguyễn

Công Trứ vừa hành đạo, vừa hành lạc, vừa “làm”, vừa “chơi” Giữa “hành đạo”

và “hành lạc”, giữa cái “làm” và cái “chơi” ở Nguyễn Công Trứ có sự gần gũithống nhất khá kì thú Ta sẽ hiểu rõ hơn triết thuyết hành lạc trong thơ NguyễnCông Trứ nếu đem nó đối chiếu với triết thuyết hành đạo trong thơ ông

ở Nguyễn Công Trứ hành đạo nghĩa là thực hiện chí nam nhi, trả sạch nợtang bồng…) sự khẳng định và tựĐó chính là lẽ tồn tại của con ngời trong trời đất Vậy thì giữa lẽ tồn

Trang 19

tại ấy với sự hành lạc có quan hệ gì không ? Có lẽ nó xuất hiện từ trong quan

niệm của Uy Viễn tớng công thể hiện cô đọng trong một bài tứ tuyệt:

Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi Vạn sáu tiêu nhăng hết cả rồi Nhắn con Tạo hoá xoay thời lại

Để khách tang bồng rộng đất chơi

(Đời ngời thấm thoắt)

Té ra cả hành lạc lẫn hành đạo, cả việc hởng thú vui lẫn việc thực hiện sứ mệnh

của ngời anh hùng trên đời đều là sự chơi, cuộc chơi Trong cuộc chơi kéo suốt

đời ấy con ngời phải luôn luôn dốc hết sức mình mu cầu thắng lợi, vững tin rằngcuộc chơi có ý nghĩa, đồng thời biết ứng phó bình thản, cao tay với những rủi ro

do “ hoá nhi đa hí lộng” đem lại Bậc trợng phu vì vậy vừa khao khát công danh, vừa “vô cầu” “ ên sở ngộ ÿêu hoa” ”, vừa hăng say nhập thế, vừa thanh thản xuất thế, vừabiết “ hành” vừa biết “ tàng”, coi hành tàng về thực chất không khác gì nhau (

hành tàng bất nhị kì quan ) Vì vậy nên hiển vinh hay bị hạ nhục, thành đạt hay

thất bại, ngời trợng phu đều chấp nhận một cách thản nhiên:

Vào vòng cơng toả chân không vớng Tới cuộc trần ai áo chẳng ven.

(Uống rợu tự vịnh)

Đó là phong thái của con ngời biết đứng lên trên những biến thiên của phàm trần,

có bản lĩnh thâm hậu để đợc sống thoả nguyện với chí khí của riêng mình

Nho giáo với quan niệm ngời quân tử phải giữ mình để giúp đời đòi hỏi conngời phải cống hiến, phải khắc kỉ phục lễ, lãnh nhiệm vụ giáo hoá, cai trị số

đông Nho giáo xây dựng một xã hội luân thờng Trong xã hội đó con ngời khôngphải là những cá nhân có thân thể, có dục vọng, có quyền lợi, có cá tính…) sự khẳng định và tựmà lànhững con ngời chức năng Con ngời chức năng luôn phải giữ gìn khiêm tốn, cẩnthận; từ nhìn ngó, ăn nói, hành động nhất nhất phải theo đúng phận, đúng vị,

đúng lễ, ra sức khắc chế dục vọng cho hợp đạo nghĩa Con ngời chỉ cần học lễnghĩa, hiểu đạo lí, không cần tài mà cũng không cần trí Đối với những ngời nhNguyễn Công Trứ nh thế có mỏi mệt quá không, có chật hẹp quá không? Hơn thế

nữa, “vào vòng danh lợi” bao nhiêu đố kị ghen ghét, dèm pha, xúc xiểm ,con

ng-ời có yên ổn để khắc kỉ phục lễ đợc không?

Lão – Trang lại xem cuộc đời này là phù du, là cảnh phù sinh chẳng phải nỗlực làm gì, cố gắng làm gì Hãy cứ vô vi mà giao du với vạn vật hòa mình vào tựnhiên, giữ lấy cái chất phác tự nhiên trong bản tính mà vui sống Theo cách đó con

ngời sẽ đợc tự do, thoải mái, ung dung, tự tại theo kiểu “vô sự tiểu thần tiên”.

Quan niệm của đạo Nho vừa vạch ra cho Nguyễn Công Trứ con đờng danh vịtiến thân lại vừa kìm hãm khí chất tự nhiên trong bản lĩnh con ngời Quan niệmcủa Lão – Trang lại giúp ông trở lại với con ngời thật của mình Nh vậy là haicách sống có vẻ đối lập nhau ấy đã tìm thấy sự thống nhất nh hai mặt của mộtvấn đề Sự thống nhất giữa chúng đem đến cho con ngời một sự cân bằng trong

Trang 20

đời sống tâm lí, tinh thần Sự cân bằng đó chính là cội nguồn của sức mạnh, củabản lĩnh để Nguyễn Công Trứ chống chọi với mọi thăng trầm của cuộc đời, đểvừa cống hiến, vừa hởng thụ, để đợc sống đúng với cái nghĩa đầy đủ, trọn vẹnnhất Không thể tách bạch đợc ở Nguyễn Công Trứ đâu là Nho, đâu là Trang bởi

sự thống nhất đã lên đến mức cao độ Trở lại với bài Luận kẻ sĩ ta thấy ông xác

định rõ con đờng của kẻ sĩ: khi còn chờ thời thì nh thế nào, gặp thời thì nh thếnào, sau khi hoàn thành phận sự rồi thì nh thế nào Ngay nh trong vấn đề Nhonhất là luận về cái chí của kẻ sĩ thì ông cũng đã nghĩ đến cái thú tiêu dao rồi:

Nhà nớc yên mà sĩ cũng thung dung

Bây giờ sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch

Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch

Tiêu giao nơi hàn cốc thâm sơn

Nào thơ, nào rợu, nào địch, nào đờn

Đồ thích chí chất đầy trong một túi.

Có thực hiện đợc tất cả chí nam nhi và thú tiêu dao thì “sĩ mới hoàn danh”

Có thể nói rằng sự gặp gỡ của t tởng Nho giáo và t tởng Lão-Trang trongmột con ngời không phải chỉ có ở Nguyễn Công Trứ , nhng hiếm có ai lại tạo đ-

ợc sự hoà hợp khi đều hết mình trong từng dòng t tởng riêng biệt Một lí do nằm

ở bản tính, bản lĩnh con ngời vừa khát vọng lập danh, vừa hăm hở trong vòng

“hành lạc” Một lí do nữa nằm ở điều kiện chính trị – xã hội Nớc nhà sau hoạbinh đao đã đi vào ổn định tạo môi trờng cho ngời quân tử thể hiện năng lực có

đợc sau khi đã nấu sử sôi kinh Đồng thời môi trờng đô thị hoá với những luồng

t tởng tự do, dân chủ hơn đã khuyến khích sự phát tiết của nhà nho tài tử Con

ng-ời Nguyễn Công Trứ may mắn sống trong một hoàn cảnh nh thế nên cá tính của

ông đã đợc thể hiện một cách trọn vẹn, rõ nét

Trong sự thống nhất của các mặt phức tạp này, ta học đợc ở Nguyễn CôngTrứ một cách sống vừa uyển chuyển, vừa mạnh mẽ, vừa kiêu bạc vừa mềm mại,làm đợc mà chơi cũng đợc Chính những điểm này đã tạo ánh hào quang quanhcuộc đời ông – cuộc đời một con ngời rất am hiểu nhân thế, khiến ngời ngờiphải nể phục, kính trọng

1 2 Khái niệm về Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ

1.2.1 Khái niệm Hình tợng tác giả

Tác giả cũng nh tác phẩm là những khái niệm cơ bản đợc sử dụng nhiều

nhất trong Lịch sử văn học và Phê bình văn học Theo Bakhtin tác giả là ng ời làm

ra tác phẩm, là trung tâm tổ chức ra nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuậttrong tác phẩm, là ngời mang một cảm quan thế giới đặc thù và trung tâm tổ chứclại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật Lí luận văn học hiện đại đã chỉ ra khảnăng vô cùng to lớn của quá trình đồng sáng tạo của độc giả Quá trình tiếp nhậncho phép độc giả có thể mở ra nhiều cách hiểu khác nhau về tác phẩm, song dẫusao cũng không thể phủ nhận sự hiện diện của tác giả nh là ngời tham gia sự kiện

Trang 21

nghệ thuật qua tác phẩm Vì vậy Tác giả nói chung, và Hình tợng tác giả nói

riêng là những vấn đề đang đợc dặt ra nghiên cứu

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “ Hình tợng tác giả là phạm trù thể hiện

cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tácphẩm (…) sự khẳng định và tự) Cơ sở tâm lý của hình tợng tác giả là hình tợng cái Tôi trong nhâncách mỗi ngời thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình tợng tác giảtrong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩmbao giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình.Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình tợng ngờiphát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định”[8]

Định nghĩa đã bám sát vấn đề cái Tôi, cái Tôi trong nhân cách cũng nh cáiTôi trong nghệ thuật Trớc hết chúng ta thấy rằng cái Tôi trong nhân cách gópphần lớn vào khả năng, năng lực tự ý thức, tự đánh giá vai trò của cá nhân trongcuộc sống Cái Tôi do đó là cấu trúc phần tự giác, tự ý thức của nhân cách, có thểcoi đó là trung tâm tinh thần, là cơ sở hình thành những tình cảm xã hội của conngời và xác định mặt cá tính của nhân cách Cái Tôi với sự tự ý thức về chủ thể,

về các vấn đề đời sống cá nhân với t cách là một cá tính là điều không thể thiếu

đợc trong tác phẩm trữ tình Nói cách khác, sẽ không có tác phẩm trữ tình nếuthiếu đi sự ý thức về chủ thể của cái Tôi cá nhân Từ cái Tôi nhân cách hình

thành nên cái Tôi nghệ thuật Nh vậy sự tự ý thức của tác giả trong tác phẩm chính là hạt nhân của hình tợng tác giả.

Điểm thứ hai đáng lu ý ở đây là việc “Xây dựng ra hình tợng ngời phátngôn văn bản với một giọng điệu nhất định” Đây cũng chính là hệ quả của sự tự

ý thức của bản thân cái tôi nghệ thuật Nhng ta cũng có thể thấy rằng “hình tợngngời phát ngôn văn bản” có thể chỉ là hình tợng khách quan nằm ngoài tác giảmặc dù trong một chừng mực nhất định nó chính là nhân vật mang t tởng của tácgiả Nói một cách khác “hình tợng ngời phát ngôn văn bản” cho ta một nhân vật

đồng dạng với tác giả, nhng bản thân sự miêu tả của tác giả về chính mình thì lạiphải xét tiếp ở khía cạnh khác

Chúng ta lại phải xem xét về “cái Tôi trữ tình” nh là sự biểu hiện trực tiếpcủa cái Tôi trong nghệ thuật Theo nghĩa hẹp “cái tôi trữ tình” là hình tợng cáitôi-cá nhân cụ thể, cái tôi-tác giả tiểu sử với những nét riêng t, là một loại nhânvật trữ tình đặc biệt khi tác giả miêu tả, kể chuyện, biểu hiện về chính mình.Theo nghĩa rộng thì “cái tôi trữ tình” là nội dung, đối tợng, phẩm chất của trữ

tình Quan niệm này hiểu cái tôi trữ tình nh một khái niệm phổ quát của trữ tình,

phân biệt trữ tình với các thể loại khác Hình tợng tác giả trong thơ từ cơ sở cáiTôi trữ tình theo nghĩa rộng chủ yếu tập trung đi sâu vào cái tôi trữ tình theonghĩa hẹp, cụ thể là cái tôi tác giả trong thơ

ở đây ta chú ý đến các dạng thức biểu hiện của cái Tôi trữ tình trong thơ

Theo Pôxpêlôp [18] có ba dạng biểu hiện của cái Tôi trữ tình.Phổ biến nhất là cái tôi trữ tình tự thuật tâm trạng.Cái tôi ở đây đồng nhất hoặc gần gũi nhiều nhất

Trang 22

với cái tôi tác giả.Dạng thứ hai là cái tôi trữ tình nhập vai Dạng thứ ba là dạng nhân vật trữ tình hoá thân.

Song dù tự thuật tâm trạng hay nhập vai thì hai nhân tố này đều gắn bó chặt

chẽ với nhau trong sáng tác thơ trữ tình Nhà thơ trữ tình là sự thống nhất tronghai con ngời: thứ nhất là con ngời có số phận nhất định, có kinh nghiệm sốngnhất định, những tâm trạng những quan điểm sống nhất định; thứ hai là nhân vậtcủa chính những bài thơ của mình, tức là đối tợng hoá chính bản thân mình Điềuquan trọng là biến những nét nhân cách của nhà thơ thành hình tợng nhân vậttrữ tình Hay nói cách khác đó là sự thống nhất nhng không đồng nhất giữa cáitôi nhà thơ trong đời sống và cái tôi trữ tình trong tác phẩm Sự không đồng nhất

là dặc trng của quy luật điển hình hoá nghệ thuật, và cái tôi nhà thơ khác với cái

tôi nghệ thuật hoá Cụ thể hình tợng tác giả thống nhất nhng không đồng nhất với cái tôi nhà thơ trong cuộc sống

Qua sự phân tích trên, có thể thấy rõ một số nội dung cơ bản Thứ nhất là vaitrò của sự tự ý thức của cái tôi tác giả trong tác phẩm Thứ hai là trong quá trìnhxây dựng văn bản nhà văn đồng thời xây dựng ra hình tợng ngời phát ngôn vănbản ấy với một giọng điệu nhất định Nghĩa là đã có cái hạt nhân kết cấu củahình tợng, đã có phơng tiện biểu hiện, hình thức biểu hiện của hình tợng Nhngvấn đề là ở chỗ cái tôi nghệ thuật là trung tâm của tất cả các vấn đề thuộc về tácphẩm cũng nh loại hình tác phẩm và loại hình tác giả Cho nên sự tự ý thức củatác giả trong tác phẩm nghệ thuật về vai trò xã hội và vai trò văn học là một điểmquan trọng nhng cha đặc trng Cái đặc trng của hình tợng tác giả thiết nghĩ chính

là ở chỗ tác giả tự biến mình thành một hình tợng nghệ thuật, nghĩa là tác giảhiện hình trong tác phẩm nh một nhân vật có đủ t tởng, quan điểm nghệ thuật, cógiá trị thẩm mỹ riêng

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cũng đã xét mục từ Hình tợng tác giả, thừa nhận sự tồn tại của khái niệm Hình tợng tác giả gắn liền với sự phát

triển của nhân tố sáng tạo cá nhân, các phơng tiện nội dung của nhân cách tác giảnhập sâu vào cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm, xem xét hình tợng tác giả với tcách là chủ thể tổ chức ngôn ngữ, ngời trần thuật hiện diện trong tác phẩm “Đểkết nối lời tự sự, lời trần thuật với hình tợng tác giả, trong ý thức nghệ thuật phảixác lập đợc t tởng về quyền h cấu nghệ thuật là cái sẽ hợp thức hoá hình ảnh tácgiả” Cũng từ cách đặt vấn đề nh thế, Lại Nguyên Ân đa ra những nhận định về

dặc trng của Hình tợng tác giả qua từng thời kì văn học: “giai đoạn đầu của văn

học cận đại, hình tợng tác giả phải nhuốm giọng phi cá nhân”, chủ nghĩa lãngmạn giải phóng giọng điệu cá nhân của tiếng nói tác giả, “sau đó, ngôn từ trầnthuật của các nhà văn hiện thực lớn thế kỉ XIX đã đa vào văn học chiều sâu thầmkín của thếgiới tâm hồn nghệ sĩ, đã đa vào văn học hình tợng tác giả thật sự.” Vinôgrađốp hiểu hình tợng tác giả trong hình tợng chủ thể của ngôn từ Songdẫu có xuất phát từ ngôn từ nghệ thuật ông cũng không thể bỏ qua đợc “chiều

sâu thầm kín của tâm hồn nghệ sĩ” Có vẻ nh sự trình bày bám vào giọng điệu cá

Trang 23

nhân, ngôn từ tác giả còn thiếu sự rành mạch, khó nắm bắt khái niệm của thuật ngữ Ngời đọc rất khó phân định ra Hình tợng tác giả có phải là sự tự ý thức của

tác giả thể hiện trong tác phẩm hay là tác giả với t cách là ngời tổ chức ngôn từnghệ thuật

Đóng góp trong việc làm sáng tỏ khái niệm Hình tợng tác giả một cách rõ nét phải kể đến Trần Đình Sử [34] Theo Trần Đình Sử Hình tợng tác giả cũng

giống nh hình tợng nhân vật - đều là những sáng tạo nghệ thuật trong tác phẩmvăn học, song chúng khác nhau ở nguyên tắc sáng tạo Nếu hình tợng nhân vậtsáng tạo theo nguyên tắc h cấu, đợc miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật vềcon ngời và theo tính cách nhân vật, thì hình tợng tác giả đợc thể hiện theonguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới nhânvật Trong giao tiếp ngời ta có nhu cầu tự biểu hiện mình với ngời đối thoại nh làuyên bác, hào phóng, hiếu khách…) sự khẳng định và tự theo những yêu cầu tiến bộ của xã hội Cũngvậy, trong văn học, các nhà văn thờng tự biểu hiện mình nh ngời phát hiện, ngờikhám phá cái mới, ngời có nhãn quan cấp tiến, có cá tính nghệ sĩ…) sự khẳng định và tựĐiều đó đãtrở thành yêu cầu quy ớc đối với ngời đọc Lep Tônxtôi đã từng nói, nếu trớc mắt

ta là một tác giả mới thì câu hỏi tự nhiên đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gìmới đối với ngời đọc Nếu nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì có thểnói anh ta không phải là một tác giả đáng để chú ý

Từ nguyên tắc sáng tạo đặc trng đã nêu, ta nhận thấy hình tợng tác giả là cái

đợc biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt Nhà thơ Đức I.W Gớt nhậnxét: mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tác phẩmcủa mình một cách đặc biệt Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình

về thế giới, cách suy nghĩ của mình và ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình Cảmnhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm, và sự thống nhất của tác phẩm vềmặt phong cách học Nói cách khác, vấn đề hình tợng tác giả gắn bó hữu cơ vớicá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn

Viện sĩ Nga V.Vinôgrađốp trong rất nhiều công trình đã khẳng định: Hình ợng tác giả là cơ sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ Chichêrin cũng chorằng hình tợng tác giả đợc sáng tạo ra nh hình tợng nhân vật Đây là sự chân thậtnghệ thuật, không phải là chân lí của sự kiện mà là chân lý của ý nghĩa, của t duy

t-nh chân lý của thi ca

Nhiều nhà nghiên cứu đều khẳng định vấn đề hình tợng tác giả không chỉ là sựphản ánh tác giả vào tác phẩm, thể hiện tơng quan giữa con ngời sáng tạo ra văn học

và văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể

Sự biểu hiện của hình tợng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang đợcnghiên cứu Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp

độ tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ, các quan niệm trong lập trờng đờisống, đến giọng điệu lời văn Trong giọng điệu thì không chỉ giọng điệu ngờitrần thuật mà cả giọng điệu nhân vật Có ngời tập trung thể hiện tác giả vào mấy

điểm : cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian, thời gian, cấu

Trang 24

trúc cốt truyện, nhân vật và giọng điệu Theo một cách nhìn hợp lí thì “Hình ợng tác giả biểu hiện chủ yếu ở: cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán, có ý nghĩa t tởng, đạo đức, thị hiếu; giọng điệu nhà văn gồm cả giọng điệu nhân vật; và ở sự miêu tả, hình dung của tác giả về chính mình.” [35,109]

t-Qua ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu có thể thống nhất đợc rằng Hình tợngtác giả là một phạm trù quan trọng của nghiên cứ văn học Nó đợc thể hiện trên

ba phơng diện cơ bản: T tởng, Cái nhìn; Giọng điệu và Sự tự thể hiện của chínhnhà văn trong tác phẩm

1.2.2 Khái niệm về hình tợng tác giả trong sáng tác NguyễnCông Trứ

1.2.2.1 Trong quá trình xét lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng ta đã có đợc

cái nhìn tổng quan về hớng nghiên cứu của các tác giả về Nguyễn Công Trứ vàsáng tác của ông Có thể nói từ những năm 80 (thế kỉ XX) trở về trớc, quan điểmnội dung xã hội học còn chi phối, ảnh hởng khá nặng nề trong nghiên cứu vănhọc, bởi thế dới con mắt của các nhà nghiên cứu, Nguyễn Công Trứ là một tácgiả thật lắm “vấn đề”, cả trong cuộc đời, con ngời và sáng tác (?) Cái công, cáitội của Nguyễn Công Trứ nằm ở hai việc lớn trong cuộc đời ông là dẹp loạn vàkhẩn hoang mà nhằm chừng cái tội là to lắm(!) Một cái tội nữa của ông là “sự

sa đoạ về phơng diện t tởng” khi đẩy hành lạc lên thành một triết lý sống “ănchơi”, “lăn lóc”, “phóng đãng” ( Nguyễn Lộc) Một lời luận tội quả thật là quánặng nề và dựa vào cảm quan đạo đức xã hội để bình giá con ng ời trong văn học,cha đi đúng thao tác luận văn chơng Cũng từ quan điểm nghiên cứu nh thế nênkhi xem xét sáng tác của Nguyễn Công Trứ họ rút ra đợc ba đề tài thờng thấy:chí nam nhi, cảnh nghèo và thế thái nhân tình, triết lí hởng lạc Họ cũng đã pháthiện ra tính mâu thuẫn thể hiện trong thơ văn của ông giữa hành động và h ởnglạc, mâu thuẫn trong sự hoà nhập giữa Nho và Đạo, giữa lạc quan và bi quan…) sự khẳng định và tựTất cả đều nh là hiện tợng phức tạp, không lý giải đợc Điều đó có thể hiểu là docha có ai quan tâm đến chủ thể sáng tạo văn học với một cái nhìn thật sự khoahọc

Những phân tích của giới nghiên cứu những năm 90 (thế kỉ XX) đã chú ý

đến tính độc đáo trong nhân cách của ông Đến lúc này ngời ta mới chú ý nhiều

đến cái tôi tác giả, phát hiện ra con ngời cá nhân tự khẳng định mình qua côngdanh cũng nh qua hởng lạc và rút ra đợc một luận điểm quan trọng: với NguyễnCông Trứ cuộc đời là một cuộc chơi Tất cả những mâu thuẫn trong t tởng củaNguyễn Công Trứ rút cục châu tuần trong luận điểm đó

Mọi tác phẩm đều là thành quả sáng tạo của ngời nghệ sĩ Mọi vấn đề của tácphẩm đều liên quan đến chủ thể sáng tạo Cho nên gần đây yếu tố chủ thể tác giả

đã đợc giới nghiên cứu quan tâm rất nhiều Đó là manh mối để đi đến tiếp cậnmột cách xác đáng một hiện tợng văn học Và đã đến lúc cần phải làm rõ yếu tố

này trong thơ Nguyễn Công Trứ Vấn đề khái niệm về Hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ cũng không nằm ngoài điều đó.

1.2.2.2 Việc xác định cái nhìn nghệ thuật của một nghệ sĩ rất quan trọng.

Bởi cái nhìn đó quyết định sự hình thành thế giới nghệ thuật của ngời nghệ sĩ.Cái nhìn nghệ thuật vừa thể hiện cá tính nghệ sĩ, vừa chịu ảnh hởng từ thế giới

Trang 25

quan của thời đại Sinh ra trong một thời đại đầy biến động, nội chiến loạn lạcvừa tạm lắng, Nguyễn Công Trứ và những nho sĩ nh ông nhìn vào triều đình nhàNguyễn nh một thể chế vững vàng, nuôi dỡng những giấc mộng công danh Nhngcái chí nam nhi truyền thống ấy lại phải đối đầu với t tởng thị dân của thời kìmanh nha hình thành các đô thị Chịu ảnh hởng của hai luồng t tởng đó, cái nhìncủa Nguyễn Công Trứ về cuộc sống đã có sự biến đổi, cách quan niệm về cuộc

đời, về lẽ sống và về lí tởng đã khác trớc rất nhiều Bởi thế sáng tác của ông cũngmang những nét riêng Bức chân dung về bản thân thông qua việc tự thể hiệntrong sáng tác cũng không còn nguyên mẫu, chuẩn mực của nhà nho lớp trớc

Cũng vẫn chí khí ấy, Cũng vẫn “gánh quân thân”, “ gánh trung hiếu”, phận sự

nam tử trong cuộc đời nh các cụ xa, nhng cách quan niệm thì đã khác Ngời takhông phải sống chết, toàn tâm, toàn lực với công việc ấy một cách mù quángnữa Tất cả những sự nỗ lực ấy là nhằm để khẳng định mình chứ không phải vìcông danh phú quý Thiết nghĩ đó cũng là điểm đặc biệt quan trọng, rất đáng chú

ý ở con ngời Nguyễn Công Trứ Quan niệm đó tất yếu sẽ dẫn đến những cáchthức thể hiện riêng, tạo cho Nguyễn Công Trứ hệ thống ngôn ngữ và giọng điệuriêng Ngời ta sẽ đặt dấu hỏi là vì sao đến giai đoạn này thể loại hát nói lại pháttriển rầm rộ tạo thành thời kì hoàng kim của nó gắn với những tên tuổi nh Cao BáQuát, Nguyễn Công Trứ, và muộn chút nữa là Tản Đà…) sự khẳng định và tựNếu lí giải từ góc độ thời

đại thì cha thể giải quyết trọn vẹn đợc vấn đề Phải là điều kiện xã hội nh thế nào

để phản ánh vào t tởng con ngời, hoà hợp với thế giới quan của ngời nghệ sĩkhiến ngời nghệ sĩ chọn cách biểu hiện đó ở đây hình thức và t tởng đã tìm đợc

sự tơng hợp

Nh vậy vấn đề hình tợng tác giả trong thơ Nguyễn Công Trứ là một vấn đề

đang đợc đặt ra nghiên cứu, giải quyết theo một cách nhìn khoa học Từ trớc tớinay ai cũng cảm thấy thích thú văn chơng Nguyễn Công Trứ nhng để nói vềNguyễn Công Trứ thì ở tầm nhận thức chung ngời ta cũng chỉ mới nắm bắt đợc

đó là một ông quan có chí khí nam nhi, hoạn lộ chìm nổi nhng vẫn giữ đợc tinhthần của một ngời ngạo thế, và nhất là thấy ở Nguyễn Công Trứ một phong tháingất ngởng…) sự khẳng định và tựNhng Nguyễn Công Trứ không chỉ có thế Vấn đề của ông phức tạphơn rất nhiều đòi hỏi ngời nghiên cứu phải đi từ chủ thể sáng tạo thì mới có đợcnhững cách luận giải hợp lí, tránh những kết luận hấp tấp, quy kết Ta nghĩ saokhi trong cuộc đời của con ngời hăng say niềm ham sống, ham cống hiến và cũngham hởng thụ, lại có lúc thốt lên những câu thơ:

Kiếp sau xin chớ làm ngời

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Nếu ông ham muốn hành lạc đến mức “sa đoạ” thì liệu ông có phải khátkhao một cuộc đời khí tiết, hiên ngang, mạnh mẽ nh cây thông reo giữa trời,không chịu khuất phục bất cứ ai không? Liệu ông có phải nuối tiếc vì kiếp ngờicủa mình nh thế không? Đâu là lời tri âm ?

Trang 26

2.1.1 Khái niệm t tởng nghệ thuật

T tởng nghệ thuật là khái niệm đã đợc nhiều nhà nghiên cứu nói đến Đó làthứ t tởng đợc rút ra từ toàn bộ sáng tác của nhà văn Nó mang tính tổng hợp cao,

có thể bao hàm cả t tởng đạo đức, t tởng chính trị Nói cách khác đó là một “t ởng bao trùm cả sự nghiệp sáng tác của nhà văn, chi phối về căn bản toàn bộ thếgiới nghệ thuật của ông ta Nó tạo ra cho sự nghiệp ấy, cho thế giới nghệ thuật ấy

t-tính thống nhất, t-tính hệ thống hay nói đúng hơn t-tính chỉnh thể” [22,7]

Nguyễn Đăng Mạnh là ngời chăm chú theo dõi khái niệm này và tập hợp đợcnhiều ý kiến sâu sắc, đáng tin cậy về khái niệm t tởng nghệ thuật Ông cho biết:nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học trên thế giới đã gọi cái t tởng ấy bằng cáctên gọi khác nhau Chẳng hạn “phẩm chất sâu kín và cốt yếu của tinh thần”(XanhtơBơvơ), “tụ điểm của những tia sáng khác nhau trong đời sống tinh thầncủa nhà văn” (PhilaredơSaxlơ), “cơ cấu nội tại của thiên tài” (GioocRơna), “cấutrúc cơ bản của trí tởng tợng sáng tạo” (GiăngRut-xô), hay gói gọn lại là “t tởngcơ bản” (ÊminPhagiê) [22,8] Khái niệm t tởng nghệ thuật do Biêlinxki đa ra.Trong một bài báo về Puskin ông đã viết: “Nghệ thuật không chấp nhận ngời ta

đến với nó bằng những t tởng triết học trừu tợng (…) sự khẳng định và tự) một t tởng nghệ thuậtkhông phải là một tam đoạn luận, một giáo điều hay một quy tắc, đó là một say

mê mãnh liệt, một nhiệt hứng…) sự khẳng định và tựVì thế, t tởng trong thơ không phải là một t tởngtrừu tợng hay một hình thái chết mà là một sáng tạo sống động” [ 22]

Nh vậy t tởng nghệ thuật là một hình thái nhận thức đặc thù của ngời nghệ

sỹ, nhận thức bằng “toàn bộ con ngời tinh thần với tất cả nội dung phong phú vàtính tổng thể toàn vẹn của nó” Hình thái nhận thức này đòi hỏi nghệ sỹ phải huy

động toàn bộ mọi năng lực tinh thần của mình mà nội dung chính bao gồm lí trí

và tình cảm, cảm xúc hài hoà kết hợp với nhau nh xơng cốt và máu thịt, nh thểxác với linh hồn con ngời Hình thái nhận thức này thấm nhuần lí tởng thẩm mỹ

của nhà văn Vì thế cũng có thể gọi là hình thái t duy tình cảm thẩm mỹ củangời cầm bút Tất nhiên cách gọi này vẫn cha thâu tóm đợc đầy đủ nội dungphong phú, tinh tế và uyển chuyển của hiện tợng thực tế mà ta đề cập đến

Trang 27

T tởng nghệ thuật cần đợc hiểu nh một hình thái tinh thần rất cụ thể nảy sinh

ra do sự cọ xát va chạm giữa trí tuệ và tâm hồn ngời sáng tác với hiện thực kháchquan Nó phải bao gồm hai mặt thống nhất chủ thể và khách thể Tuy nhiên xét

đến cùng chủ thể vẫn chiếm u thế, đóng vai trò quyết định Bởi vì hiện thực đợcphản ánh trong tác phẩm cũng đã có yếu tố chủ thể ở đó rồi Nó là khách thể đã

đợc chủ thể chiếm lĩnh bằng cả trí tuệ và tình cảm, cảm xúc, niềm đam mê nghệthuật

T tởng nghệ thuật phải là t tởng trong nghệ thuật Tuy nhiên ta cũng khôngthể cô lập, tách rời t tởng trong nghệ thuật với các phơng diện t tởng khác ngoàinghệ thuật thể hiện trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, thái độứng xử nhân thế, các phát ngôn ngoài văn chơng…) sự khẳng định và tự của các nhà văn,chính vì cónhiều mối quan hệ khăng khít giữa t tởng nghệ thuật với toàn bộ đời sống tinhthần của ngời cầm bút Nhng khi ta xét t tởng trong nghệ thuật thì tất yếu ta phảiquan tâm đến phơng thức biểu hiện duy nhất của t tởng nghệ thuật - đó là hình t-ợng nghệ thuật “ Hình tợng nghệ thuật là căn cứ duy nhất để nhà nghiên cứu cóthể tóm bắt đợc t tởng nghệ thuật của ông ta” [22,16] Tất cả những t liệu khác

dù thú vị đến thế nào cũng chỉ để tham khảo, để soi sáng thêm cho những tìm tòicủa nhà nghiên cứu từ chính các hình tợng trong tác phẩm của nhà văn Và vấn

đề sẽ càng thú vị hơn rất nhiều khi ta tiếp cận với một hệ thống các hình t ợng tâmhuyết, cứ trở đi trở lại nhiều lần nh là một ám ảnh với các nhà văn Những hình t-ợng ấy càng có tính phổ biến bao nhiêu càng có ý nghĩa t tởng sâu sắc và cơ bảnbấy nhiêu Tần số xuất hiện của chúng tỉ lệ thuận với mức độ day dứt, ám ảnhtrong tâm hồn ngời nghệ sỹ Những hình tợng nh thế bao giờ cũng là những yếu

tố nghệ thuật đặc sắc và độc đáo đợc sáng tác theo đúng quy luật của t duy nghệthuật Căn cứ vào đó nhà nghiên cứu phán đoán về các t tởng nghệ thuật của cácnhà văn Tuy nhiên để đa ra một nhận định đúng về t tởng nghệ thuật của ai đó,nhà nghiên cứu phải chú ý đến tính quy luật trong quan hệ nội tại giữa các yếu tốcủa chỉnh thể thế giới hình tợng T tởng nghệ thuật của nhà văn bao giờ cũngphải phù hợp với cấu trúc ấy, quy luật ấy Nói đúng hơn nó là cơ sở của cấu trúc

ấy, nó chi phối và giải thích quy luật ấy Đồng thời ta cũng không nên quên nhìn

t tởng nghệ thuật trong mối quan hệ với những biểu hiện t tởng ngoài sáng táccủa nhà văn, chú ý thêm về hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sống, tất nhiên cần cẩntrọng bởi đó không phải là sự chân thực nghệ thuật

T tởng của con ngời luôn có sự sống của nó T tởng nghệ thuật là một quátrình vận động và có thể có sự chuyển đổi trong quá trình sáng tác của nhà văn

T tởng nghệ thuật phải là cái gì rất riêng của mỗi nhà văn Nó là tài riêng, tìnhriêng kết hợp, là t tởng cá nhân và hình tợng độc đáo, thống nhất, hài hoà, là sởtrờng riêng của mỗi cây bút, là cái tạng riêng của mỗi nhà văn Nh vậy có thể nóirằng cái chất riêng trong t tởng nghệ thuật quyết định tầm vóc của mỗi nhà sángtác

2.1.2 T tởng nghệ thuật Nguyễn Công Trứ

Trang 28

Nguyễn Công Trứ là một tác giả lớn của văn học trung đại Tìm hiểu, xác

định t tởng nghệ thuật Nguyễn Công Trứ là một việc quan trọng nhằm làm nổi rõHình tợng tác giả từ yếu tố có tính chất tiên quyết này

2.1.2.1 Những tiền đề cho việc hình thành t tởng nghệ thuật Nguyễn Công Trứ

Tâm hồn con ngời đầy sự phong phú, phức tạp, bí ẩn Nhận thức của mỗi conngời không phải chỉ do tiếp nhận truyền thống của một gia đình, thành tựu vănhoá của một đất nớc, t tởng của một thời đại…) sự khẳng định và tự Đó còn là kết quả của một quátrình phấn đấu và năng động cá nhân Nghiên cứu về t tởng nghệ thuật củaNguyễn Công Trứ cũng vậy

Trớc hết ta cần tìm hiểu về thời đại Nguyễn Công Trứ để biết đợc trên nềnlịch sử đó hệ t tởng của thời đại phát triển nh thế nào, hoàn cảnh nhân văn, trình

độ nhân văn của xã hội nh thế nào…) sự khẳng định và tựbởi tất cả những điều đó ảnh hởng trực tiếp,chi phối sự hình thành t tởng nghệ thuật của nhà thơ Thời đại của những thế

kỉ XVIII – XIX là thời đại mà chế độ phong kiến suy tàn, kỉ c ơng phong kiếnlỏng lẻo, mọi giá trị của nó bị đứt tung không tài nào cứu vãn nổi Mầm mốngcủa xã hội đô thị đã hình thành “Môi trờng xã hội phi cổ truyền” đó đã ảnh h-ởng đến sự hình thành t tởng của các trí thức Nho học T tởng thị dân đòi hởnglạc, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bần lạc đạo hình thành Các tài tử ra đời

để thay thế các quân tử, các trợng phu Các tài tử ấy học đạo thánh hiền nhng suynghĩ theo lối thị dân Trong lòng các trí thức Nho học đơng thời tất yếu diễn ra sự

phân tích, lựa chọn cho mình một hệ suy luận chính thức Trớc cảnh tan tành khung cảnh nát bét quy mô họ chỉ có thể khoác cái vỏ Nho giáo để chế nhạo nội

dung Nho giáo Nh vậy có thể chọn cách nhìn của Lão-Trang đợc không? Có thể!Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Gia Thiều …) sự khẳng định và tựđều cố gắng làm nh thế.Nhng t tởng Lão-Trang lại tỏ ra quá thản nhiên trớc thế cuộc, trái với những điều

mà nhà văn thời đại đó mong muốn Thế là diễn ra một sự kết hợp khá ngộnghĩnh: ngời ta dùng chữ của Lão-Trang để phát ngôn cho t tởng hởng lạc, đòihỏi hạnh phúc của mình Điều này thể hiện khá rõ trong sáng tác của NguyễnCông Trứ

Nh trên đã nói, t tởng thị dân đã tràn ngập và dần dần trở thành xu thế chínhtrong dòng t tởng thời đại T tởng thị dân giải phóng những giá trị cơ bản của conngời cho nên nó có một sức lan toả mạnh mẽ khác hẳn với t tởng của Nho gia hayLão gia vốn chỉ dành cho tầng lớp trí thức cao cấp của xã hội Sự phát hiện giá trịcái Tôi cá nhân đã thức dậy tâm lý thị tài ở những ngời tài tử Họ luôn chứng tỏtài năng của mình trên mọi lĩnh vực Tài kinh luân , tài chữ nghĩa và ngay cả tài

ăn chơi nữa Phan Ngọc lí giải rằng cái tài ấy xuất hiện rầm rộ cũng bởi ngời tài

tử không còn một giá trị truyền thống nào để bám víu nữa nên họ chỉ còn cáchdựa vào cái tài Ngời ngời thừa nhận mình là tài nên trên văn đàn xuất hiện khánhiều tiếng nói ngạo nghễ, xuất hiện nhiều cá tính ngông nghênh Nhỏ nhẹ nhất

cũng nh Nguyễn Du: “Tráng niên ngã diệc vi tài giả” (Thuở tráng niên ta cũng là ngời có tài), còn không thì nh Cao Bá Quát “Nhất sinh đê thủ bái hoa mai” (Một

Trang 29

đời chỉ cúi đầu trớc hoa mai) hay Nguyễn Công Trứ “Phơng tri ngã quốc hữu nhân” (ấy mới biết nớc ta có ngời giỏi)

Nguyễn Công Trứ sinh ra trong một gia đình trí thức Nho học Thân phụ ông

là Nguyễn Công Tấn, tri huyện Quỳnh Côi sau thăng tri phủ Tiên Hng (TháiBình) Thân mẫu ông là con gái quan quản Nội thị Cảnh Nhạc Bá họ Nguyễn.Môi trờng gia đình ấy đã sớm đa ông đến với chữ nghĩa thánh hiền, hình thành ở

ông nề nếp cơng thờng, ý thức quân thần phụ tử Thân sinh ông là một trung thầnnhà Lê, không chịu hợp tác với Tây Sơn dù có phải sống ẩn dật nghèo túng Điều

đó có lẽ cũng là một tấm gơng trung trinh ái quốc cho Nguyễn Công Trứ Danhthế, sự giáo dục của gia đình đã quyết định hoài bão công danh của NguyễnCông Trứ sau này Thiếu thời nghèo khổ nhng ông vẫn không nguôi khát vọnglập thân bằng con đờng thi cử, làm quan Dẫu bị hỏng thi nhiều lần nhng ngọnlửa đó vẫn không hề bị dập tắt 42 tuổi thi đỗ, lần đầu tiên xuất chính cũng là lúc

“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”, cũng là cơ hội vẫy vùng cho phỉ sức Có thể

nói rằng Nho giáo đã định hớng cho bớc đờng của ông, gặp lúc xã hội đã đi vào

ổn định, ông lại cha mắc nợ gì với tiên triều (triều Lê) nên ông hăm hở ra giúp

n-ớc, đem tài năng mà gánh vác việc đời Truyền thống kẻ sĩ ngàn đời “tu thân” để

đền ơn vua, làm kẻ nam nhi là phải có công danh sự nghiệp đã trở thành tiêu chícủa cuộc đời ông Ông phấn đấu không biết mệt mỏi cho lí tởng đó mặc cho baonhiêu thăng trầm trên hoạn lộ, mặc cho lắm kẻ ghét ghen, mặc cho bao nhiêu lầnchúa thợng của ông nghe lời xiểm nịnh mà nghi ngờ ông Đơng chức, ông thanhliêm chính trực hết lòng lo cho dân từ việc mở trờng lớp, răn dặy dân chúng, đếnviệc dẹp loạn, khẩn hoang Bảo rằng theo lời răn của thánh hiền thì có mấy ng ờihơn ông, nói hành đạo thì còn mấy ai toàn tâm toàn lực hơn ông đ ợc T tởng đócũng đợc thể hiện khá rõ trong tác phẩm văn chơng của ông

Song trong thời đại mà mỗi lúc Nho giáo phải nhờng dần vị trí chi phốichính đáng trong việc hình thành t tởng cho các trí thức thì Nguyễn Công Trứ lại

đợc tiếp xúc với những dòng t tởng khác và ngày càng nổi lên nh những vị chủsoái có tiếng tăm Ông mang cốt cách của ngời tài tử, chữ Tài và chữ Tình đi liềntrong quan niệm sống của ông Tiếp xúc lối suy nghĩ hồn nhiên đầy giá trị nhânvăn, không bị các quy tắc lễ nghĩa ràng trói, ông nh cá gặp nớc thoải mái thểhiện cái Tôi của mình – một cái Tôi hăng hái cống hiến và cũng là một cái Tôinồng nhiệt trong hởng lạc ở đây t tởng Lão-Trang cũng đã góp phần hình thànhnên ở ông quan niệm cuộc đời này là “cảnh giả” nên đợc, mất cũng thế thôi, hãy

cứ sống hết mình với những gì mình có Rất ít khi thấy ông băn khoăn, day dứt,

phiền não vì những sự thua thiệt của mình “Đố kị sá chi con tạo”.

Tất cả những sự ảnh hởng từ thời đại, từ hoàn cảnh riêng, từ những biếnchuyển trong dòng t tởng quan niệm riêng của kẻ sĩ cộng hởng với bản lĩnh cánhân đã làm nên một tên tuổi Nguyễn Công Trứ hết sức độc đáo Từ thuở còn làmột hàn nho, anh đồ Trứ đã là một con ngời đặc biệt Ham hát ả đào nên cứ la càhết đám hát này đến đám hát khác, tình nguyện làm kép hát cho các cô, mớm lời

Trang 30

cho các cô trong hát đối đáp, sáng tác bài cho các cô hát góp vui Thú vui phongtình này theo ông suốt cuộc đời nh chính cái bóng dáng “thuyền quyên ứ hự…) sự khẳng định và tự”của cô đào Hiệu Th mắc lỡm ông ở chốn đồng không mông quạnh.Thú hành lạccủa ông sau này cũng chủ yếu là ở tiếng hát cung đàn của những cô đào trẻ Rồinhững chuyện: say rợu đánh long thần, làm thơ khất nợ tổ tôm, trêu chọc con gáinhà quan, đối chọi với ông s hổ mang…) sự khẳng định và tự tất cả đều thể hiện bản lĩnh cá nhâncủa một con ngời Xin dẫn ra đây câu chuyện ông đối đáp với Tả quân Lê VănDuyệt:

Ba vạn anh hùng đè xuống dới Chín lần thiên tử đội lên trên.

Có phải là cái khẩu khí dới một ngời mà trên muôn ngời không? Bản lĩnh cá nhânkhông sợ uy quyền, thần quyền, đả phá thẳng vào những điều chớng tai gai mắt

đã đi cùng Nguyễn Công Trứ đến hết đời tạo nên tầm vóc lừng lững của một ôngquan dám nhìn thẳng vào chính tà, dám cời cợt những thói xấu, dám lấy tài thơvăn để chữa chạy những thế bí, dám ngật ngỡng đi trong đời với một cái Tôi gaigóc T tởng của ông là một sự phối hợp nhuần nhuyễn ý thức kẻ sĩ Nho giáo , cáithú tiêu dao của Lão- Trang, cái hành lạc xuân tình của t tởng thị dân…) sự khẳng định và tựChúngphù hợp đến mức lạ lùng với cá tính của riêng ông, bản lĩnh của riêng ông Chonên t tửơng của ông là một khối thuần nhất đến mức khó tách bạch Chính cáinguồn t tởng này đã để lại dấu ấn vô cùng sâu đậm trong văn chơng NguyễnCông Trứ

tỏ rằng t tởng Nho giáo ở Nguyễn Công Trứ đã hình thành một nhân sinh quan

mà ông đã đem ra thực hiện một cách triệt để Trong bài đó ông vạch trớc đờng

đi của ông từ lúc còn bạch diện th sinh cho đến lúc đỗ đạt làm quan Tất cả lànhằm làm cho nớc nhà yên và đấng nam nhi đều thực hiện đợc cái chí của mình.Quan niệm về nhân sinh của ông do luân lí Nho giáo hun đúc dẫu có làm ôngcứng nhắc trong một đôi chỗ khi đánh giá sự việc (ví nh xem cô Kiều là “tà dâm”

“phụ nghĩa”) nhng cũng đã làm cho ông trở thành một ngời cực sôi nổi, ham hoạt

động Tất cả đều đợc bày tỏ một cách rành mạch dứt khoát bằng những lời thơchân thành tha thiết, đầy vẻ tự hào và tin tởng Ông nuôi chí lớn trong nghèo đói,trong một môi trờng xã hội với những chuẩn mực đang bị đảo lộn dới sức chiphối của tiền tài:

Đang om sòm chớp giật sấm ran Nghe xóc xách lại gió hoà ma ngọt

Ông ví mình nh cây cau:

Trang 31

Kình thiên một cột giơ tay chống Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao

Ông lại ví mình với cây tùng cao ngàn thớc, gặp trời rét mà lá vẫn xanh, và cây cúc giữa mùa thu mà hoa vẫn giữ màu vàng thắm:

Lăng hàn bích khắc tùng thiên xích Nại lãnh hoàng lu cúc sổ khoa.

Ông biết chân giá trị của con ngời Làm đại tớng ông không lấy làm vinh, đếnkhi làm lính thú ông không lấy làm nhục Có đợc điều đó là bởi ông có một tinhthần lạc quan hiếm thấy trong thơ văn cổ điển Ông lạc quan cả những lúc cùngkhốn nhất:

Đã chắc rằng ai nhục ai vinh Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ.

Ông tin tởng vào tơng lai rồi bền gan vững chí theo đuổi công việc của mình:

Hãy quyết phen này xem thử đã

Song còn tuổi trẻ chịu đâu ngay

Niềm tin đó có sơ sở vững chắc từ hoài bão to lớn mà ông đã ôm ấp từ thờitrai trẻ cho đến lúc tuổi già Ông đeo đuổi công danh và đem hết tài sức của mình

ra thực hiện cho bằng đợc Ta không thể không cảm phục lòng hăng hái của ôngkhi gánh vác việc đời, tinh thần trách nhiệm của ông không chịu sống thừa, sốngvô dụng để rồi mục nát với cỏ cây Và trên thực tế ông đã làm đợc những việc có

lợi cho dân, cho nớc để “có danh gì với núi sông” Có thể khẳng định vấn đề qua

mức độ đậm đặc của các bài thơ “tỏ chí”: 13/53 bài thơ Đờng luật, 18/61 bài hát

nói với hàng loạt các nhóm từ “chí , tài , danh , tiếng anh hào , tang bồng ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ

hồ thỉ , kinh luân , tài kinh tế , gánh trung hiếu , gánh quân thần , chí ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ trợng phu , áng công danh , tài l ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ” “đàn một cung, cờ một cuộc, thơ ơng đống”…) sự khẳng định và tựThậm chí đã có đến ba lần ôngnhắc lại nguyên văn quan điểm :

Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông

Những hoài bão khát vọng đó đã hun đúc thành ý chí, trở thành một mục đích lớntrong cuộc đời ông Hơn thế nữa ông xem đó là một món nợ lớn phải trả:

- Tang bồng là cái nợ

- Cái công danh là cái nợ nần

- Nợ tang bồng quyết trả cho xong

- Nợ trần hoàn quyết trả lúc này xong

- Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo

Qua thơ Nguyễn Công Trứ (rất thống nhất với con ngời ông) ta thấy đây quả

là một con ngời chí khí, luôn có đóng góp cho đời, cho nớc nhà có kém chi Phạm

Ngũ Lão với nợ công danh ngày trớc, hay Nguyễn Trãi với tấm lòng “cuồn cuộn nớc triều Đông” !

Nếu quan niệm con ngời “hữu chí” cho Nguyễn Công Trứ một cái nhìn vềcuộc đời đầy sự nỗ lực phấn đấuvì cái “danh”của mình, thì quan niệm con ng ời

Trang 32

cần biết hởng lạc, cần đòi hỏi hạnh phúc cho bản thân đã đem đến cho ông mộtcách nhìn đời đầy sự phóng túng, đầy những đam mê và thú vui Suốt đời ông,

ông đã tìm trong câu ca tiếng hát của ả đào một sự tiêu khiển mà khi có dịp là

ông đắm đuối say mê Ai cũng biết Nguyễn Công Trứ là một “khách đa tình” và

là một tay tài tử Trong thú hát ả đào, ông đã trổ đợc hết tài ba của ông, cũng nh

thoả mãn đợc những say mê của bản thân ở đây, không những có “rợu rót thơ

đề”, có “đàn tính tình dây”, mà còn có cả “hờng hờng yến yến” nữa Có lẽ những

bài thơ đắc chí nhất của ông chính là những bài thơ nói về thú hành lạc

Thú hành lạc ông đã có từ thuở hàn vi Hơn thế nữa có khi ông còn xem nó làmột thứ không thể thiếu đợc và nâng nó lên thành một triết lý sống:

- Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí

- Phong lu cho bõ kiếp ngời.

Tại sao một nhà nho nh Nguyễn Công Trứ lại ca tụng và đi sâu vào hành lạcmột cách đáo để nh thế ? Kể ra thì lắm nguyên do Nhng trớc hết phải nói rằng

ông là một ngời đa tình và lại là một ngời phóng túng, không có gì gò bó đợc, kểcả lễ giáo của đạo Khổng Cũng có thể ông hành lạc nh thế để tỏ mình khác bọn

“tiền đếm gạo lờng”, biết làm việc nhng cũng biết ăn chơi Cũng có thể ông quan

niệm rằng thú hành lạc là thú dành riêng cho ngời hoạt động Cũng có thể ông ănchơi cho thoả chí của mình khi mà trên hoạn lộ có quá nhiều trắc trở, đắng cay

Nh vậy có thể nói rằng, với Nguyễn Công Trứ làm nên danh tiếng, sự nghiệp

là một cái chí, nhng đồng thời ăn chơi hành lạc cũng là một cái chí Cuộc đời ông

để gọi là thoả chí thì phải làm đợc một cái gì đó to lớn cho đất nớc, đồng thời

phải khẳng định đợc mình trong lĩnh vực hởng lạc Văn thơ ông là sự khẳng địnhcon ngời cá nhân mình trên mọi phơng diện của lý tởng kẻ sĩ và cuộc sống nhânsinh T tởng sáng tạo ấy sẽ chi phối sâu sắc đến cái nhìn nghệ thuật của NguyễnCông Trứ Điều này là hoàn toàn có cơ sở ngay trên phơng diện lý thuyết (trênthực tế thì rõ là nh vậy rồi) M.Bakhtin cũng đã từng xác định rằng t tởng tạo racái nhìn, chi phối cái nhìn của ngời nghệ sĩ

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Công Trứ

2.2.1 Khái niệm chung về cái nhìn nghệ thuật và cái nhìn nghệ thuật của

Nguyễn Công Trứ :

2.2.1.1 Vợt lên trên mọi hoạt động bản năng, cái nhìn là một năng lực tinh

thần đặc biệt của con ngời Nó có thể thâm nhập vào sự vật,phát hiện những nétriêng mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật Nó nhìnngắm , bóc tách vấn đề bằng chính sự suy luận lôgic và trừu tợng Do đó cái nhìn

đợc vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật Nghệ thuật đòi hỏi ngời nghệ sĩ phải cókhả năng lĩnh hội những quá trình của cuộc sống một cách nhạy bén hơn và sâusắc hơn so với những ngời khác, khả năng biết cảm thụ và nhìn thấy cái mànhững ngời khác khó thấy đợc, phải biết đáp ứng một cách xúc động và sâu sắc

đối với những ấn tợng của cuộc sống, phải thâm nhập, thấm qua những giới hạnbên ngoài của sự vật, của các hiện tợng và sự kiện, nắm đợc các đặc điểm của sự

Trang 33

vật mà cho đến thời điểm đó cha ai biết tới Cái nhìn bao quát của ngời nghệ sĩ

đối với thế giới vốn đợc hình thành trong quá trình thực tế của cuộc sống, trongnhững điều kiện xã hội –lịch sử cụ thể đã làm cho những khái niệm về những

điều quan sát của anh ta có đợc tính chính xác,tính hệ thống M.Khrapchencônhận xét: “chân lý cuộc sống trong sáng nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cáinhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sỹ thực thụ”[16] Cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát…) sự khẳng định và tự Do đó nó có thể pháthiện cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài…) sự khẳng định và tựCái nhìn bao quát không gian, bắt đầu từ

điểm nhìn trong không gian và thời gian, và bị không- thời gian chi phối Cáinhìn gắn với liên tởng, tởng tợng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn

dụ, so sánh Cái nhìn có thể đem những thuộc tính xa nhau đặt bên nhau, hoặc

đem tách rời thuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tợng Cái nhìn xuất phát từ mộtcá thể, mang thị hiếu và cảm tình yêu ghét Nghệ thuật bao chứa toàn bộ nhữngbiểu hiện đó Nhà văn Pháp Macxen Prutxt có nói: “đối với nhà văn cũng nh đốivới nhà hoạ sỹ, phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn”

Do vậy cái nhìn là một biểu hiện của tác giả

Thực tế cho ta cảm nhận một vấn đề là sẽ có những ngời thích nói về điềunày mà không thích điều nọ Ngời nghệ sỹ khi sáng tạo cũng mang những đặc

điểm tâm thế nh vậy Cho nên trong chi tiết nghệ thuật và cao hơn là hình tợngnghệ thuật, nhà văn thể hiện cái nhìn của mình Khi nhà văn trình bày cái họ nhìnthấy cho ta cùng nhìn thấy thì ta đã tiếp thu cái nhìn của họ, tức là đã b ớc vàophạm vi ý thức của họ, chú ý cái mà họ chú ý Khi ta nhận thấy nhà văn này chú

ý cái này, nhà văn kia chú ý cái kia tức là ta đã nhận ra con ngời nghệ sĩ của tácgiả.Nh vậy qua cái nhìn của tác giả ta sẽ tìm thấy đợc con ngời của tác giả.Bakhtin gọi cái nhìn của tác giả là “trờng nhìn bao trùm”, “trờng nhìn dôi ra”,

“lập trờng tác giả” Trờng nhìn này của tác giả đã ôm trùm mọi hoạt động của

đời sống

2.2.1.2 Nh bất kì một ngời nghệ sĩ nào khác, Nguyễn Công Trứ cũng đã thể

hiện trong sáng tác của mình cái nhìn về cuộc sống và con ngời Trong cái nhìncủa ông, cuộc đời là một thử thách đối với con ngời Những sự nghèo nàn về vật

chất

Ngày ba bữa vỗ bụng rau bịch bịch

… Đến bữa ch a sẵn bữa, trẻ con khóc dờng ong

Qua kì lại hẹn kì, nhà nợ kêu nh ó

(Hàn nho phong vị phú)

và sự đố kị trong cõi nhân sinh:

Nghĩ đâu miệng thế khi yêu ghét

Đợc mấy lòng ngời có trớc sau.

(Thế tình đen bạc)

nhằm để thử thách bản lĩnh cá nhân của ngời quân tử Trong quan niệm của ông

con ngời sinh ra trong trời đất phải có cái phong thái “gơm đàn nửa gánh, non

Trang 34

sông một chèo” Nghĩa là vừa phải thực hiện bổn phận nam nhi, làm nên công

danh, vừa có tâm hồn nghệ sĩ; vừa là con ngời nghĩa vụ, vừa là con ngời của sựhành lạc Để hiểu hơn cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ ta tìm hiểu thêm lăng kínhnhìn nhận con ngời và thế giới của ông

“Lăng kính” là một khái niệm vật lí Lí luận văn học đã mợn khái niệm này

và sử dụng nó theo nghĩa là một “tấm kính” đợc xây dựng nên từ những hệ thốngquan điểm, t tởng ngời nghệ sĩ để từ đó mọi hiện thực của cuộc sống đều bị khúcxạ trong tác phẩm của họ Nói một cách cụ thể, hiện thực cuộc sống diễn ra trớcmắt các nghệ sĩ là nh nhau nhng tuỳ vào từng cách quan niệm, cách suy nghĩ củamỗi ngời mà sẽ có hoặc là những thế giới hình tợng tơi sáng, lạc quan, đầy niềmtin hoặc là những thế giới với sự hắc ám, đen tối và đầy thất vọng Bởi thế mà tr-

ớc đây trong Lí luận và Phê bình văn học ngời ta vẫn hay sử dụng khái niệm

“lăng kính màu hồng” hay “lăng kính màu đen” và cao hơn nữa là khái niệm “thếgiới quan”, “nhân sinh quan” Khái niệm “lăng kính”, “trờng nhìn” thờng đợchiểu nôm na là cặp kính biến hình trong đôi mắt ngời nghệ sĩ Lăng kính nhìnnhận con ngời và thế giới của bất kì ngời nghệ sĩ nào cũng phản ánh rất rõ ràngchân dung của con ngời nghệ sĩ đó ở đây khái niệm “cái nhìn” rất gần gũi vớikhái niệm “t tởng” song nó vẫn ở bậc thấp hơn t tởng M.Khrapchencô đã từngnói: “nếu nhà văn không phải là nhà t tởng lớn thì điều đó hoàn toàn không cónghĩa là nhà văn đó không có thế giới quan, không có một quan niệm riêng nhất

định về cuộc sống Chính quan niệm này là nét đặc sắc của anh ta với t cách làmột nhà nghệ sĩ” [16,20]

Với t cách là một nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm đã là đấng nam

nhi thì phải “đờng trung hiếu, nợ quân thân gánh vác” Không thể có con đờng

nào khác là phải trả nợ công danh, phải luyện chí nam nhi cho thoả cái kiếp ngời

đợc sinh ra trong trời đất Dới lăng kính của t tởng Nho giáo, con ngời danhphận, bổn phận, con ngời chức năng thể hiện rất rõ Nó là sự tiếp bớc từ PhạmNgũ Lão, từ Nguyễn Trãi cho đến sau này

Bên cạnh đó t tởng thị dân cũng nhuốm trong cái nhìn của Nguyễn Công Trứmột ánh mắt nồng nàn, sôi nổi đối với cuộc đời:

Chơi cho lịch mới là chơi

Chơi cho đài các, cho ngời biết tay.

Ông say mê với “cầm, kì, thi, tửu” và cả sắc nữa Ông cũng đã từng thiểu não, bilụy vì chữ tình Nhng chẳng bao giờ ông chán sống

Lăng kính của cá nhân nhà văn cũng không thể nằm ngoài bầu không khí t ởng và nghệ thuật chung của thời đại Lăng kính nghệ thuật của Nguyễn CôngTrứ cũng chịu sự chi phối của hệ thống quan niệm của văn học trung đại Trongcái nhìn về con ngời và thế giới, Nguyễn Công Trứ không khỏi tìm thấy đợctrong đó tầm vóc vũ trụ của không gian để trong đó con ngời cá nhân đợc vẫyvùng cho phỉ chí Vòng thời gian dẫu là tuyến tính hay chu kì đều là những giớihạn cho cuộc đời với những cuộc chơi hết mình trong đó Nhìn chung trong lăngkính phản ánh của Nguyễn Công Trứ ta nhìn thấy những nét chung của cách cảm

Trang 35

t-quan trong văn học trung đại, đồng thời tìm thấy trong nó những nét đặc tr ngkhông thể pha lẫn của một phong cách cá nhân tác giả.

2.2.2 Cái nhìn về con ngời

2.2.2.1 Con ngời là đối tợng trung tâm của văn học Dù miêu tả cuộc sống

dới góc độ nào thì ngời ta đều thấy ẩn hiện trong đó quan niệm về con ngời củangời nghệ sĩ Nghệ sĩ không thể miêu tả về con ngời nếu nh không hiểu biết, cảmnhận và có các phơng tiện, biện pháp nhất định Quan niệm nghệ thuật về conngời hớng ngời ta khám phá cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo củachủ thể

Quan niệm nghệ thuật về con ngời biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tácphẩm văn học Nhng ở văn xuôi và truyện thơ nó tập trung ở nhân vật bởi nhânvật văn học là con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phơng tiệnvăn học Còn trong thơ trữ tình nó thể hiện ở đối tợng trữ tình, nhân vật trữ tình

mà tác giả đề cập đến Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách hiểu của nhàvăn về con ngời theo một quan điểm nhất định Nó chính là mô hình về con ngờicủa tác giả Tuy vậy khái niệm quan niệm nghệ thuật về con ngời bao quát hơn,rộng lớn hơn khái niệm nhân vật Nhân vật chỉ là biểu hiện cụ thể, cá biệt củaquan niệm kia

Quan niệm nghệ thuật về con ngời là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu tảcon ngời trong văn học Nó cũng là sản phẩm của văn hoá, t tởng Quan niệm conngời là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật trong đó thể hiện sựtác động qua lại của nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác Quan niệmcon ngời chính là sự khám phá về con ngời Tất nhiên trong quan niệm nghệthuật về con ngời còn mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ gắn liền với cáinhìn của nghệ sĩ Đây là điều đã đợc phổ biến công nhận

2.2.2.2 ở chơng 1 chúng ta đã có một bớc nhận diện về đặc điểm loại hình

tác giả văn học trung đại Trên đại thể chúng ta đều dễ dàng nhận thấy mỗi loạihình tác giả sẽ mang một hệ thống quan niệm riêng về con ngời và thế giới Cónhững tác giả chỉ gói gọn quan điểm t tởng của mình trong một loại hình nhất

định, còn có những tác giả lại mang sự pha trộn của rất nhiều hệ t tởng khácnhau Với loại thứ nhất, ta có thể rất dễ dàng khám phá hệ thống quan điểm của

họ bởi đặc điểm thuần nhất của nó Với loại tác giả thứ hai, vấn đề sẽ trở nênkhông đơn giản nữa và bản thân hệ thống các quan niệm của họ cũng đã mangmột sự độc đáo, một sắc thái riêng khác lạ

ở Nguyễn Công Trứ ta thấy có dấu ấn của hai loại hình tác giả đan cài –loại hình nhà nho hành đạo và loại hình nhà nho tài tử Quan niệm nghệ thuật vềcon ngời của Nguyễn Công Trứ vừa mang đặc trng t tởng của từng loại hình nhànho, vừa là sự đan cài giao thoa độc đáo giữa những t tởng đó

Chúng ta đã khẳng định rằng quan niệm nghệ thuật của nhà văn không nằmngoài những mối dây liên hệ và xu thế chung của thời đại Khi nhìn nhận về conngời, Nguyễn Công Trứ cũng không khỏi có cái nhìn hớng tới tầng lớp cao nhất

Trang 36

trong bảng giá trị “sĩ, nông, công, thơng” của thời phong kiến Con ngời trong hệthống tam tài (Thiên, Địa , Nhân) cũng đợc đặt trong không gian vũ trụ rộng lớn.Môi trờng lớn để thể hiện cái chí lớn, tầm vóc lớn Trong xu thế thời đại khi môitrờng đô thị ngày một lan rộng thì mầm mống của ý thức cá nhân ngày càng pháttriển, ở cả chiều sâu lẫn chiều rộng Nét đặc trng trong quan niệm về con ngờicủa thơ trữ tình giai đoạn cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX là nhu cầu tự nhiên

của con ngời đã đợc khẳng định; chữ thân, chữ tài, chữ tình trở thành khái niệm

để con ngời tự ý thức về mình ở cả mặt khái quát và mặt riêng biệt cụ thể,Nguyễn Công Trứ đều thể hiện đợc sự độc đáo khác lạ trong ngòi bút của mình

2.2.2.3 Con ngời trong cái nhìn của Nguyễn Công Trứ xuất hiện trong những

dạng thái khác nhau Trớc hết đó là dạng thái con ngời danh phận, con ngời chức năng phận vị Dạng thái hay mô hình con ngời này là do ảnh hởng của t tởng

Nho giáo Ngời sinh ra đã phải học cách thuận theo đạo trời, hành động trongvòng lễ giáo cơng thờng đạo lí, trong vòng tôn ti trật tự ở vai trò nào con ngờicũng phải tuân theo bổn phận, trách nhiệm của mình Nguyễn Công Trứ ý thức

về điều này rất rõ ràng “xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân” (Lọt lòng mẹ đã

có gánh quân thân rồi) Tại gia thì có bố mẹ, xuất chính thì có thiên tử Cái gánh

đó dẫu nặng đến bậc nào thì con ngời ta cũng đã phải rèn cho mình một nội lực

mà gánh vác

Nặng nề thay đôi chữ quân thân Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ

(Trên vì nớc, dới vì nhà)

Gánh bổn phận này không còn là một cái gì đó trừu tợng, mơ hồ nữa Sự vật thể hoá

đã ở một bậc cao cho ta dễ cảm nhận rất rõ sức nặng của nó Cũng do đó mà ta nhậnthấy rất rõ ý thức trách nhiệm, sự thừa nhận tự giác của ngời trong cuộc Cho nên

“gánh trung hiếu” vụt trở nên nhẹ tênh, không có sự trĩu nặng của t tởng.

ý thức về con ngời danh phận chính là ý thức kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ

T cách bề tôi đã đợc ông thể hiện rất hoàn hảo ý thức “ báo quốc”, “thợng vị

đức, hạ vị dân” đã đợc ông thể hiện rõ ngay từ thủa hàn vi Sự kiện năm 1802 khi Gia Long ra Bắc lần đầu, ông đón dâng Thái bình thập sách là chứng cớ đầu

tiên chứng tỏ ý thức thần tử của ông Đặc biệt hơn nữa sự kiện đó còn cho thấy ýthức thần tử đó gắn với khát vọng về một sự nghiệp lớn Với Nguyễn Công Trứlập danh, lập công cũng là cái cách ông làm tròn danh phận của mình đối vớitriều đình và đối với mai sau Ông hăm hở ra tài kinh tế và trở thành trọng thầnvào loại bậc nhất của triều đình Là một võ tớng, ông cầm đầu những đội quânlớn của triều đình trong những cuộc chiến đấu quan trọng và hầu nh bao giờ cũngdành đợc thắng lợi Là một viên quan cai trị trấn nhậm ở những vùng gai góckhókhăn nhất ông đã có thành tích lớn trong việc khẩn hoang và thành lập đợc haihuyện Kim Sơn, Tiền Hải.Với ông tất cả là bổn phận, là công việc nên ng ời đờicũng đừng quá khắt khe khi nhiều lần ông cầm quân đánh lại phong trào nôngdân khởi nghĩa

Trang 37

Con ngời chức năng dới con mắt của Nguyễn Công Trứ cũng tồn tại những

điểm khá đặc biệt Ông không tỏ ra an phận với từng nhiệm vụ của mình mà ôngluôn trăn trở sục sôi với cái nợ công danh Đã sinh ra trong trời đất, đã đứng dớitrần hoàn thì việc gì cũng phải ra tay mà giải quyết:

Vũ trụ giai ngô phận sự Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn

Nh trên đã nói Nguyễn Công Trứ không mang cái nhìn tĩnh tại khô cứng

ngay cả trong những vấn đề mang đặc tính khuôn mẫu cho nên khi nhìn về con ngời nhân sinh xã hội ông cũng đã thể hiện đợc rất sâu sắc các cung bậc cảm

xúc Dới ngòi bút của ông, con ngời ở dạng thái này hiện ra nh một thực thể no

đói, vui buồn Thơ ông không lẩn tránh những cảm xúc đời thực nh những quan

điểm kinh điển của Nho gia Thuở hàn nho ông thấm thía cái nghèo túng củamình:

Lộc nhĩ điền lúa chất đầy giờng Phơng tịch cốc khoai vừa một giỏ Tiêu dụng lấy chi mà phao phóng, thờng giữ ba cọc ba đồng

Mùa màng dành để có bao nhiêu, chừng độ một triêng một bó

(Hàn nho phong vị phú)

Cảnh cơ hàn đó cho ông thấm thía cái vinh cái nhục của sự đời Cái nhìn của ôngthấm đẫm cảm xúc buồn, vui, yêu, ghét

Trong thơ Nguyễn Công Trứ hiện lên hình ảnh một con ngời khinh ghét thậm

tệ những thế lực xấu xa Con ngời đó mỉa mai bọn trọc phú thôn quê “tiền đếmgạo lờng” bằng những câu thơ cay đắng:

Khôn khéo chẳng qua thằng có của Yêu vì đâu đến kẻ không nhà.

Con ngời đó thoá mạ đồng tiền để đồng thời thoá mạ những kẻ hám lợi:

Hôi tanh chẳng thú vị gì

Thế mà ai cũng kẻ vì ngời yêu

Mà những kẻ hám lợi đó thì đầy rẫy và không bé gọn chỉ là những con ngời:

Tiếng xỏng xảnh đầy trong trời đất

Thần cũng thông huống nữa là ai

Trang 38

Bên cạnh tiếng nói phủ nhận thế lực đen tối của đồng tiền, còn có tiếng nói đảkích những tên quan vô dụng Hành ảnh cây vông chính là sự hiện thân củachúng:

Ra tài lơng đống không nên mặt Dựa chốn phiên li chút đỡ lòng

Cảm giác của Nguyễn Công Trứ trớc thế tình đen bạc thật sinh động:

Đã gớm hôi tay chù chẳng bắt Những e liếm mặt, chó không trêu (Cảnh ở đời)

Nhng con ngời đó không chỉ biết hờn ghét thật sâu mà còn biết yêu thơngnồng đợm Thơ nói về tình yêu trong văn học Việt nam từ trớc đến giai đoạn đókhông phải là hiếm thậm chí còn rất phong phú với rất nhiều tác phẩm của nhiềutác giả, nhng tiếng nói của cảm xúc tình yêu với đủ các cung bậc của nó trongthơ Nguyễn Công Trứ lại có những điểm vô cùng khác biệt Cốt cách đa tình ở

ông đã thể hiện thành một con ngời yêu tha thiết nồng nàn và cũng có chút dạikhờ nh bao nhiêu ngời đang yêu khác:

Tau ở nhà tau tau nhớ mi Nhớ mi nên phải bớc chân đi Không đi mi nói rằng không đến

Đến thì mi nói đến làm chi (Bỡn tình nhân)

Cô tình nhân này quả thực cũng rất cao tay, nắm đợc thóp đa tình của nhàthơ nên nhũng nhiễu, hành hạ biến một ông tớng uy danh lừng lẫy thành một kẻ

si tình, vớng víu, vụng về đến mức ngớ ngẩn Thế cho nên đọc những dòng thơ

t-ơng t của ông, ta cảm thấy rung động thật sự – rung động trớc một tấm lòng rấtbiết yêu:

Tơng t không biết cái làm sao Muốn vẽ mà chơi vẽ đợc nào Khi đứng, khi ngồi, khi nói chuyện Lúc say, lúc tỉnh, lúc chiêm bao Trăng soi trớc mắt ngờ chân bớc Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào

Thi nhân đã thừa nhận không biết cái tơng t là nh thế nào, không thể vẽlên đợc nhng thực chất nhà thơ đã vẽ rõ tình cảnh đó Nó ám ảnh ngời trong cuộc

không giây phút nào rời “Đứng” cũng nhớ, “ngồi” cùng nhớ, “nói chuyện” cũng nhớ, “say” hay “tỉnh” hay trong giấc “chiêm bao” tất thảy đều nhớ Nhớ da diết, cồn cào đến ám ảnh, đến “lấp cả vòng giời” Cái tình cảnh của hai con ngời ở hai

đầu sông Tơng thơng nhau mà chẳng thấy đợc nhau có lẽ cũng chỉ đến mức ấy Cái giống đa tình quấy quả ngời ta ghê quá Nó cứ nh ma quái ám vào mình:

Giống ở đâu vô ảnh vô hình

Cứ tò mò quanh quẩn bên mình Khiến ngẩn ngẩn ngơ ngơ đủ chứng (Vịnh sầu tình).

Trang 39

Kẻ tình si đang quay quắt trong thế giới ảo của riêng mình đã nhận ra “ càng tài tình, càng ngốc, càng si” Dờng nh có hai bản thể trong một con ngời đang lên tiếng Một đằng tỉnh táo nhận ra cái dở, cái ngẩn ngẩn ngơ ngơ đến mức ngốc si.

Đằng khác vẫn chân thành, thật thà: “càng tài tử càng nhiều tình ái” khiến nhìn

vào đâu cũng thấy phiền não, u sầu dẫu đã viện cả múa gơm, làm thơ, uống rợu

để giải sầu:

Hỏi trăng gió, gió trăng hờ hững Ngắm cỏ hoa, hoa cỏ ngậm ngùi (Vịnh sầu tình)

Tình của thi nhân thật sâu nặng Những lời thổ lộ của thi nhân thật đáng quí

Trong cái tình của thi nhân ta còn thấy cả cái nghĩa nữa Ông hiểu thấu rõ tâm tình của những ngời đàn bà trong cuộc đời ông Lời tiểu thiếp tự tình thể hiện rõ

mối đồng cảm với tấm lòng của ngời vợ bé khi muốn đi cùng ông mà vợ cảkhông cho đi Rồi khi cảnh ngộ bắt buộc phải chia lìa với một ngời vợ, tấm lòngthi nhân vẫn vô cùng thiết tha, quyến luyến Sự cách xa đó có chăng là chỉ ở thếgiới vật chất chứ không thể có trong thế giới tinh thần, tình cảm của thi nhân:

Từ biệt nhiều lời so vắn giấy Tơng t nặng gánh chứa đầy thuyền Rồi đây nỏ biết quên hay nhớ

Từ đó mà mong nợ với duyên Tình ấy trăng kia nh biết với Chia làm hai nửa dọi hai bên.

(Bỏ vợ lẽ cảm tác)

Hình tợng một con ngời trong cõi nhân sinh thật chân thực Có hờn ghét, cóyêu thơng, có buồn bã nhng cũng có vui cời:

Sách có chữ nhân sinh thích chí Đem ngàn vàng chác lấy cuộc cời

(Cầm kì thi tửu)

Có cái ngiêm túc của một bậc chân nho nhng cũng có những phá cách ngấtngởng:

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngởng (Bài ca ngất ngởng).

Cách thể hiện của Nguyễn Công Trứ về hình tợng một con ngời giữa cuộc đờithực tinh tế, phong phú và sâu sắc thay

Có lẽ dạng thái con ngời độc đáo nhất trong sáng tác Nguyễn Công Trứ là

dạng thái con ngời cá nhân bản ngã Là nhà nho, ông biết rõ vị trí và con đờng

tiến thân của mình nhng ông đã không còn ý thức khắc kỉ phục lễ, an bần lạc

đạo, nói năng thận trọng ngiêm túc mà coi xã hội nh một môi trờng để mình thi

thố tài năng, tự khẳng định mình Ông ngâm đi ngâm lại câu “nhân sinh quí thích chí” nghĩa là ở đời quí nhất ở chỗ sống phù hợp với ý muốn của mình Chí

của ông là muốn lập công để thành danh rồi đợc nhàn hạ phú quí

Trang 40

Dới những quan niệm truyền thống nh chí, công danh, phận sự…) sự khẳng định và tựNguyễnCông Trứ đã lồng vào đó những nội dung của ý thức cá nhân ngợc với thánh hiền.Khổng Tử nói: “Ngời quân tử làm việc đời, không có gì là thích hay không thích,

hợp với nghĩa thì làm” (Lý nhân) Nguyễn Công Trứ đề cao hai chữ “thích chí”

và chí của ông là chí đợc thi thố tài năng cá nhân, “làm nên đấng anh hùng đâu

đấy tỏ” Khổng Tử đối lập quân tử và tiểu nhân ở chỗ ngời quân tử chỉ chăm lo

đạo đức cao thợng còn tiểu nhân chỉ chăm lo ăn sung mặc sớng Nguyễn Công

Trứ coi trọng cả hai: “Thú vui thú ném ngang vành tráng sĩ”, “Càng tài tử càng nhiều tình ái”…) sự khẳng định và tựKhổng Tử chủ trơng sống khổ hạnh, xử thế ngiêm trang Nguyễn

Công Trứ xem đời là một cuộc chơi: “Đem ngàn vàng mua lấy tiếng cời Phong

l-u cho bõ kiếp ngời” Có thể nói, dới hình thức ngôn ngữ nhà nho, Ngl-uyễn Công

Trứ đã diễn đạt một ý thức cá nhân mới – thích chí, hành lạc.Ông rất chú ý lậpcông danh Lu danh là in dấu ấn của mình vào lịch sử, vào nơi bất tử:

Nhân sinh thế thợng thuỳ vô tử

Lu thủ đan tâm chiếu hãn thanh (Chí nam nhi)

(Ngời đời ai là không chết Để lại tấm lòng son soi vào sách sử.)

Lu danh là hình thức tự khẳng định cao nhất của cá nhân Và ngợc lại“không công danh thà nát với cỏ cây” Ông còn nói thích công danh cũng là đặc tính của con ngời, hoạ may chỉ có Hoá công mới không có ý thức công danh, “Thân đã có

ắt công danh phải có”.

Nhng điều thú vị là Nguyễn Công Trứ không chỉ có chí công danh Hẳn ông

biết công danh là đờng vinh nhục nên ông nói: “cái vinh nhục, nhục vinh là đắp

đổi” Do vậy ngoài công danh, ông chủ trơng hởng lạc Nếu công danh là cái tự

khẳng định mình bằng “hớng ngoại”, thì hởng lạc là sự khẳng định bản thể củacá nhân Nếu công danh là cách tự khẳng định cá nhân trong bất hủ với vô hạnthời gian thì hởng lạc là việc tự khẳng định mình trong thời gian hữu hạn của đờingời Muốn thực hiện chí công danh thì phải đợi thời, sớm muộn tuỳ số phận,còn hởng lạc thì tuỳ mình:

Cuộc hành lạc chơi đâu là lãi đấy Nếu không chơi thiệt ấy ai bù Hơn nữa muốn công danh thì phải “vào lồng” còn hởng lạc thì tự do tự tại:

“Chen chúc lợi danh đà chán ngắt Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao” Để tự

khẳng định nguyên tắc “quí thích chí” của mình, Nguyễn Công Trứ cũng đứngtrên lẽ đợc mất, khên chê, bất cần đàm luận:

Đợc mất dơng dơng ngời Tái thợng Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Cái cách về làng cỡi lên lng bò vàng, cổ đeo lục lạc, sau lng theo một đôicô gái trẻ là một hành động chớng tai gai mắt với thói tục, là một sự thách thức,

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tợng tác giả - Hình tượng tác giả trong thơ nguyễn công trứ
Hình t ợng tác giả (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w