1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn dạy học hiểu văn bản sử thi trong chương trình ngữ văn 10 THPT luận văn tốt nghiệp đại học

86 640 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 457,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài viết đã vận dụng rất nhiều phương pháp dạy họchiện đại để tổ chức cho học sinh đọc - hiểu tác phẩm văn học theo loại thể.Tuy nhiên, do giới hạn công trình chỉ dừng lại ở một bài

Trang 1

Nguyễn thị quyên

Hớng dẫn dạy đọc – hiểu văn bản sử thi

Trang 3

ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, trong tổ phương pháp và lí luận văn học, bạn bè và người thân, đặc biệt tới cô giáo Lê Thị Hồ Quang – người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài này.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, ngày 01 tháng 5 năm 2011

Tác giả Nguyễn Thị Quyên

Trang 4

là 27, nhận định được trích dẫn nằm ở trang 25 của tài liệu này.

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 5

5 Cấu trúc khoá luận 6

NỘI DUNG CHÍNH 7

Chương 1: KHÁI NIỆM SỬ THI VÀ HỆ THỐNG CÁC ĐƠN VỊ BÀI HỌC SỬ THI TRONG PHẦN ĐỌC - HIỂU CỦA SGK NGỮ VĂN 10 THPT 7

1.1 Giới thuyết chung về sử thi 7

1.1.1 Khái niệm sử thi 7

1.1.2 Đặc trưng của thể loại sử thi 9

1.2 Hệ thống các đơn vị bài học sử thi trong chương trình và phần trợ giúp, hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các văn bản đó trong SGK Ngữ văn 10 THPT 16 1.2.1 Đặc điểm các đơn vị bài học sử thi trong SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất 2000) và SGK Ngữ văn 10 hiện hành 16

1.2.2 Đặc điểm phần trợ giúp, hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản sử thi trong SGK Ngữ văn 10 hiện hành 20

1.3 Thực trạng dạy và học văn bản sử thi hiện nay trong nhà trường THPT 25

Chương 2: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG DẠY ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN SỬ THI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THPT 31

2.1 Dạy đọc - hiểu sử thi theo đặc trưng thể loại 31

2.2 Dạy đọc - hiểu sử thi theo hướng tích hợp 40

2.3 Dạy đọc - hiểu sử thi theo hướng tích cực hoá vai trò người học 45

Chương 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 55

Giáo án Chiến thắng Mtao Mxây 55

Giáo án Uy-lít-xơ trở về 68

KẾT LUẬN 78

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong chương trình THPT, môn Ngữ văn được xem là môn họcchính, có vai trò quan trọng trong chiến lược đào tạo con người Trongnhững năm gần đây, các nhà nghiên cứu khoa học, nhà giáo dục đã có nhiềutìm tòi về phương diện lí thuyết cũng như thực hành ứng dụng và đã thuđược những kết quả đáng ghi nhận mang lại một diện mạo mới cho việc dạyhọc môn văn trong nhà trường Song, việc đổi mới dạy học Ngữ văn trongnhà trường không phải đã được thực hiện một cách đồng bộ và triệt để Vấn

đề về phương pháp vẫn còn nhiều khoảng trống, cần tiếp tục nghiên cứu bổsung Một trong những khoảng trống ấy là vấn đề đọc - hiểu văn bản sử thitrong nhà trường phổ thông hiện nay

1.2 Nếu các thể loại văn học dân gian như truyền thuyết, truyện cổ tích,truyện cười, tục ngữ, ca dao đã có mặt ở cấp Tiểu học, THCS thì thể loại sử

thi phải đến chương trình phổ thông (cụ thể là trong chương trình Ngữ văn

10 THPT) mới được đưa vào dạy học Là loại hình văn học dân gian ra đời

khi xã hội đã thoát thai bầy đàn nguyên thuỷ, sử thi có cách tư duy và xâydựng nhân vật khác với các loại hình văn học dân gian ra đời sau này Chúng

ta không thể đánh đồng việc đọc - hiểu các văn bản sử thi cũng như nhữngthể loại tự sự của văn học dân gian khác

Mặt khác hiện nay, do sự đổi mới nội dung chương trình SGK, nên

phương pháp dạy học văn cũng phải thay đổi Chương trình Ngữ văn hiện

hành, tổ chức sắp xếp các văn bản thành các cụm thể loại, tạo nên nhữngđiểm khác biệt thấy rõ so với chương trình và SGK cũ Bên cạnh đó, chươngtrình còn được biên soạn theo hướng tích hợp Trước những điều kiện mới,việc hướng dẫn dạy đọc - hiểu văn bản sử thi có ý nghĩa tháo gỡ nhữngvướng mắc và giúp cho giáo viên, học sinh đỡ lúng túng, bỡ ngỡ khi dạy họctheo chương trình đổi mới

Trang 7

1.3 Thị trường sách tham khảo hiện nay vốn rất đa dạng và phong phú

về chủng loại nhưng không phải cuốn sách nào cũng có chất lượng Nguồntài liệu chuyên sâu về dạy đọc - hiểu văn bản sử thi còn rất ít và có nhiều bấtcập Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy chưa có cuốn tài liệu nào nghiên cứumột cách có hệ thống về dạy đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình

Ngữ văn 10 ở trường THPT.

Là một giáo viên dạy văn trong tương lai, chúng tôi ý thức được tínhchất khó khăn, phức tạp của hoạt động giảng dạy bộ môn văn trong nhà

trường nói chung và đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình Ngữ văn 10

nói riêng Từ đó, chúng tôi nỗ lực cố gắng trong việc tìm tòi và tích luỹ chomình một nguồn kiến thức phương pháp vững chắc để hướng dẫn học sinhkhám phá văn bản và chiếm lĩnh nó Với hi vọng, sẽ góp những ý kiến củabản thân giúp giáo viên và học sinh có những cơ sở tiến hành việc đọc - hiểucác văn bản sử thi một cách có hiệu quả nhất Qua đây, chúng tôi cũng mongmuốn góp một phần, dù rất nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữvăn và tạo nên hứng thú cho học sinh khi học môn học này

Xuất phát từ những lí do trên, thúc đẩy chúng tôi quyết định nghiên cứu

đề tài Hướng dẫn dạy đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình Ngữ

văn 10 THPT

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Có thể nói, sử thi là một vấn đề không mới mẻ, mà đã được nhiều nhànghiên cứu quan tâm Họ tiến hành nghiên cứu và đề xuất trong các côngtrình khoa học của mình Đặc biệt, vừa qua Viện Văn hoá dân gian đã cho

xuất bản 75 tập sử thi của các dân tộc ít người, trong đó Đăm Săn giữ vị trí

hàng đầu – đây sẽ là nguồn tư liệu quý việc nghiên cứu, tìm hiểu sử thi nóichung cũng như sử thi các dân tộc ít người nói riêng

Tuy sử thi là một vấn đề không mới, nhưng dạy đọc - hiểu sử thi là mộtvấn đề còn nhiều bỏ ngỏ Bởi, từ trước đến nay chưa có một công trìnhnghiên cứu nào trực tiếp bàn về vấn đề này Song, đâu đó trong những tác

Trang 8

phẩm, những công trình của các nhà nghiên cứu khi viết về phương pháp dạyhọc, ta vẫn thấy có đề cập đến phương pháp dạy học đọc - hiểu sử thi nhưngcòn chung chung.

Đi sâu vào lĩnh vực phương pháp có Phương pháp dạy học của Phan

Trọng Luận Do mục đích nghiên cứu của giáo trình chỉ đưa ra những vấn đề

lý thuyết, mà chưa đưa ra những biện pháp cụ thể, chuyên biệt cho một bộphận văn học hay một thể loại nào, nên vấn đề đọc - hiểu sử thi cũng chưađược đề cập đến, mà chỉ nêu chung chung trong phương pháp dạy học tácphẩm văn chương trong nhà trường

Trong công trình Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn

học dân gian của Hoàng Tiến Tựu, tác giả đã dành một số lượng đáng kể khi

đề cập đến vấn đề vận dụng các thuộc tính cơ bản của văn học dân gian vàoviệc giảng dạy, nghiên cứu Theo ông, “việc tìm hiểu, nhận thức thuộc tính

và đặc điểm của văn học dân gian chẳng những là mục đích mà còn làphương tiện của những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy văn họcdân gian” [27, tr 25] Ngoài ra, ông còn chú ý đến vấn đề phân loại, phân kì,phân vùng văn học dân gian và mối quan hệ của chúng đối với việc xây dựngphương pháp nghiên cứu, giảng dạy văn học dân gian Việc nghiên cứugiảng dạy văn bản sử thi chỉ mới được đề cập chung chung trong phần vấn

đề giảng dạy truyện dân gian chứ chưa đi sâu tìm hiểu như tục ngữ, ca dao.Như vậy, ở công trình này tác giả mới dừng lại ở những vấn đề chung khigiảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian, đây mới chỉ là những cơ sở khinghiên cứu văn bản sử thi

Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong Dạy học tác phẩm văn chương theo loại

thể cũng đã bàn đến vấn đề dạy học sử thi Tác giả đã cố gắng đưa ra những

phương pháp và biện pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể Việcdạy học văn bản sử thi cũng chỉ mới được nói đến, khi ông bàn về công việcdạy học các tác phẩm tự sự dân gian với tư cách một thể loại của nó Vì thế,

nó cũng không được nói nhiều, bàn kĩ Theo ông, “do đặc tính tổng hợp của

Trang 9

sử thi như vậy cho nên trong quá trình dạy học phải hình thành tích truyện,chú ý văn phong trữ tình và tập trung khai thác những đoạn giàu kịch tính.Tăng cường sử dụng loại câu hỏi hình dung tượng tưởng và câu hỏi hiệntrong đó câu hỏi chi tiết và phân tích lí giải được đặc biệt chú ý Thật ra,trong trường ca ngôn từ rất điêu luyện, vì vậy phải kết hợp kể sáng tạo vớiđọc diễn cảm (chủ yếu trong trường ca Đăm Săn)” [16, tr 18] Với côngtrình này, tác giả mới chỉ dừng lại ở những “lưu ý”, “chú ý”, “gợi mở” mang

tính chất mở đầu về phương pháp dạy đọc - hiểu sử thi Trong cuốn Vấn đề

giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể do Trần Thanh Đạm chủ biên cũng

đã nói được những vấn đề cơ bản trong dạy học sử thi nhưng chưa toàn diện

Gần đây, trong cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học về vấn đề dạy học Ngữ

văn trong trường PT theo SGK mới (tổng hợp các bài viết về vấn đề dạy học

văn theo SGK mới trong hội thảo khoa học tại Nghệ An) đã có nhiều bài viết

đề cập đến vấn đề dạy học tác phẩm văn học trong nhà trường THPT theotinh thần đổi mới Các bài viết đã vận dụng rất nhiều phương pháp dạy họchiện đại để tổ chức cho học sinh đọc - hiểu tác phẩm văn học theo loại thể.Tuy nhiên, do giới hạn công trình (chỉ dừng lại ở một bài nghiên cứu) các bàiviết chủ yếu đi vào hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các tác phẩm văn họctrong SGK mà chưa có cái nhìn hệ thống và vấn đế đọc hiểu sử thi chưa

được quan tâm nhiều Bên cạnh đó, trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng giáo viên

thực hiện chương trình SGK lớp 10 THPT cũng đã nêu lên một số điểm mới

trong phần văn học dân gian cùng với một số phương pháp và hướng khaithác chủ yếu Như vậy, trong những công trình này vấn đề đọc - hiểu sử thi

đã được đề cập, tuy nhiên cũng chỉ mới gợi mở so sánh mà chưa đi được vàonhững bài học cụ thể trong chương trình Vì thế vẫn chưa có một cái nhìnthật sáng rõ về vấn đề này

Nói về văn bản sử thi, có nhiều công trình nghiên cứu của Hoàng NgọcHiến, Đào Huy Từ, Chu Xuân Diên Tuy là những công trình nghiên cứukhông thuộc lĩnh vực phương pháp dạy văn bản sử thi những đã cung cấp

Trang 10

những kiến thức, cung cấp một cách nhìn về vấn đề sử thi để giúp chúng tôihiểu hơn về đặc trưng thể loại, bám sát văn bản hơn, từ đó đề xuất nhữngcách dạy phù hợp với đặc trưng thi pháp.

Hiện nay, phương pháp dạy học văn đang là vấn đề được quan tâm, đổimới, là nhu cầu, đòi hỏi của hoạt động dạy học trong nhà trường Cho tới naychưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp và đề xuất phương pháp

hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình Ngữ văn 10

THPT như hướng nghiên cứu của đề tài này, mà chỉ mới được đề cập trongmột số công trình đơn lẻ, chưa mang tính hệ thống Vì thế, khi chọn đề tàinày chúng tôi mong muốn sẽ góp một phần nhỏ nhằm gợi mở, định hướngcho một giải pháp hiệu quả, nâng cao chất lượng trong giờ đọc - hiểu văn

bản nói chung và đọc - hiểu văn bản sử thi trong chương trình Ngữ văn 10

THPT nói riêng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong khoá luận này, chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ sau:

3.1 Tìm hiểu các đặc trưng của thể loại sử thi

3.2 Khảo sát, so sánh các tác phẩm sử thi trong chương trình SGK Ngữ

văn 10 (ban cơ bản và ban nâng cao) hiện hành với sách Văn học 10 (chỉnh lí

hợp nhất 2000) Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong dạy học đọc hiểu văn bản sử thi

3.3 Đề xuất những giải pháp hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản sử

thi trong SGK Ngữ văn 10 THPT

3.4 Thiết kế giáo án thể nghiệm

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Sử thi có thể nghiên cứu từ nhiều góc độ, nhiều hướng Nhưng ở trongkhoá luận này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu văn bản sử thi được đưa

vào chương trình dạy học trong SGK Ngữ văn 10 THPT.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, trong quá trình thực hiện khoáluận chúng tôi đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp khảo sát thống kê

- Phương pháp so sánh thống kê

- Phương pháp thiết kế thể nghiệm

5 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khoá luận gồm 3chương:

Chương 1: Giới thuyết khái niệm sử thi và hệ thống các đơn vị bài học

sử thi trong chương Ngữ văn 10 THPT

Chương 2: Những định hướng dạy học sử thi trong chương trình Ngữ

văn 10 THPT

Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm

Trang 12

CHƯƠNG I GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM SỬ THI VÀ HỆ THỐNG

CÁC ĐƠN VỊ BÀI HỌC SỬ THI TRONG CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN 10 THPT

1.1 Giới thuyết chung về sử thi

1.1.1 Khái niệm sử thi

Trong loại tác phẩm tự sự, bên cạnh các thể loại như: truyện thơ, trường

ca, tiểu thuyết, truyện ngắn,… có một thể loại “một đi không trở lại với loàingười” (không trở lại cái hình thức mang ý thức thần thoại gắn liền với giaiđoạn phát triển ấu thơ của loài người) đó là - sử thi

giáo sư Đinh Gia Khánh trong công trình nghiên cứu về Văn học dân gian,

giáo sư Phan Đăng Nhật trong bài viết nhằm xác định thể loại của tác phẩm

Đẻ đất đẻ nước… đã có những luận điểm quan trọng về sử thi Ở trong nhiều

công trình lí luận văn học và các từ điển thuật ngữ văn học đều có bàn đếnkhái niệm sử thi

Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học khẳng

định: Sử thi là “thể loại tác phẩm tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rất sớmtrong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng cótính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minhcủa lịch sử” [24, tr 285]

Theo 150 Thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, sử thi (theo

tiếng Hi Lạp cổ là epós) từ xa xưa đã tồn tại trong hai phạm vi rộng và hẹp

Trang 13

của nó Trong nghĩa rộng, epós để chỉ tự sự như một trong ba loại hình vănhọc (theo sơ đồ phân loại có từ Arixtôt bao gồm: tự sự, trữ tình và kịch).Trong nghĩa hẹp, epós để “chỉ một hoặc một nhóm thể loại trong tự sự, đó là

sử thi anh hùng, tức là những thiên tự sự kể về quá khứ anh hùng, hàm chứanhững bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân và về những anhhùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới sử thi nào đó, thống nhất, hài hoà Sửthi anh hùng tồn tại cả dưới dạng truyền miệng và lẫn dưới dạng được ghichép thành sách, số đông những bản chép các thiên sử thi anh hùng tiêu biểuđều có ngọn nguồn dân gian, bản thân các đặc điểm của thể loại này cũnghình thành ở cấp độ dân gian” [22, tr 1572]

Phương Lựu, Trần Đình Sử trong Lí luận văn học cũng định nghĩa: Sử

thi là “thể loại tự sự, thể hiện tập trung cho loại chủ đề lịch sử dân tộc…miêu tả những sự kiện quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinhthần và vận mệnh của dân tộc và nhân dân” [23 , tr 380]

Trong SGK Ngữ văn 10 lại định nghĩa “Sử thi là tác phẩm tự sự dân

gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hìnhtượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớndiễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại” [9, tr 17]

Như vậy, cho đến nay đã có rất nhiều cách hiểu về “sử thi” Từ sự tham

khảo c ác nguồn tài liệu, chúng tôi trình bày những cách hiểu của mình vềkhái niệm “sử thi” như sau: Sử thi là thuật ngữ lí luậnvăn học dùng để chỉnhững tác phẩm theo thể loại tự sự dân gian ra đời từ rất sớm trong lịch sửvăn học dân tộc, có nội dung hàm chứa những bức tranh rộng lớn và hoànchỉnh về đời sống nhân dân với nhân vật trung tâm là những anh hùng, dũng

sĩ đại diện cho một thế giới nào đó Có thể hiểu, sử thi là thể loại huyềnthoại, là phương thức cảm nhận thế giới rất đặc trưng cho “tư duy nguyênthuỷ” Đó là hình thái biểu hiện một cách tập trung và khách quan thế giớiquan của người nguyên thuỷ Các yếu tố tri thức và xúc cảm, lý trí và tínngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và cái hoang đường… hoà

Trang 14

quyện vào nhau, diễn tả thế giới quan của cả một cộng đồng người, một dântộc Do đó, sử thi có sức trường tồn, được truyền từ đời này qua đời khác, dùchỉ được thông qua truyền miệng (sử thi sống) Rõ ràng, sử thi có giá trị vănhoá cao về nhiều mặt, vừa là nguồn sử liệu quan trọng trong nghiên cứu lịch

sử, vừa phản ánh mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, phảnánh đời sống xã hội của các cư dân, góp phần tạo dựng bản sắc văn hoá giữacác cộng đồng người, giữa các dân tộc với nhau

1.1.2 Đặc trưng của thể loại sử thi

Muốn nắm được đặc trưng thể loại, trước hết chúng ta phải hiểu được

thời điểm xuất hiện, tư duy của sử thi và hiểu thế giới quan của con người cổđại Ở thể loại sử thi có thể chia làm hai tiểu loại nhỏ: sử thi anh hùng và sửthi thần thoại Nếu sử thi thần thoại kể về nguồn gốc và sự hình thành vũ trụ,con người và xã hội thì sử thi anh hùng kể về chiến công và sự nghiệp củangười anh hùng đối với toàn thể cộng đồng Trong khoá luận này, chúng tôichỉ có điều kiện tìm hiểu sử thi anh hùng - thể loại mà ba đoạn trích đượcđưa vào trong chương trình giảng dạy

1.1.2.1 Về thời điểm ra đời của sử thi

Sử thi xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc Nói nhưGớt thì đây là “quá khứ tuyệt đối” - một quá khứ oai hùng và kì ảo - một quákhứ tách biệt với hiện tại (của người kể và người nghe anh hùng ca) Nó gắnliền với thời đại - chế độ “dân chủ quân sự” khi mà chế độ thị tộc tan rã,trước khi nhà nước xuất hiện Vẻ đẹp đặc thù của nó thể hiện trong tính hàihoà đặc biệt vốn liên quan đến các mối quan hệ chưa chín muồi lắm Lúc này

đã có sự xuất hiện của kim loại và nó đóng vai trò quan trọng trong đời sốngcộng đồng Trong xã hội đã có sự phân hoá về kinh tế, tầng lớp quý tộc tựtách ra khỏi đời sống cộng đồng Đây là giai đoạn chiến tranh xảy ra thườngxuyên Đó là chiến tranh giữa các dân tộc, chiến tranh giữ đất, cướp ngườiđẹp, trả thù… Thời kì mà cộng đồng đã bừng tỉnh, sống một cuộc sốngkhông phẳng lặng Thời kì anh hùng cộng đồng, anh hùng lao động, sống

Trang 15

chiến đấu chống lại kẻ thù Sức mạnh và danh dự của thủ lĩnh cũng chính là

sức mạnh, danh dự của cộng đồng Nếu sử thi Đăm Săn phản ánh xã hội và con người Tây Nguyên thời kì chế độ công xã đang tan rã, thì sử thi Ô-đi-xê

phản ánh thời kì người Hi Lạp khám phá chinh phục biển cả ngoài xứ sở củamình, cũng là thời kì học sắp từ giã chế độ công xã thị tộc bước vào chế độchiếm hữu nô lệ với sự xuất hiện của hình thái gia đình trong hôn nhân một

vợ một chồng Trong khi, sử thi Rama lại phản ánh quá trình của người

A-ry-a da trắng từ miền Bắc Ấn tràn xuống đồng hoá, chinh phục những ngườiĐra-vi-đa da màu Nam Ấn và đảo Lan-ka, đồng thời thể hiện cuộc chiếntranh giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa

1.1.2.2 Về phương diện đề tài, chủ đề cơ bản của sử thi.

Sử thi biểu hiện toàn bộ đời sống văn hoá, lịch sử cộng đồng, thể hiệnquá trình vận động của tộc người qua các giai đoạn khác nhau Nó chứađựng nội dung xã hội rộng lớn và phong phú thời quá khứ của cộng đồng,

dân tộc Nếu Rama là thiên anh hùng ca vĩ đại của người Ấn thì Iliát lại là bản anh hùng ca chiến trận Anh hùng ca Iliát phản ánh một hiện tượng

thường xảy ra trong đời sống của chế độ công xã thị tộc đang trên đường tan

rã, đó là những cuộc chiến tranh bộ lạc nhằm cướp bóc của cải vật chất

Cũng lấy trong cuộc chiến tranh thành Troa nhưng Ô-đi-xê lại là bản anh hùng ca thuộc đề tài “trở về”, tái hiện một giai đoạn cao trong quá trình tan

rã của chế độ công xã thị tộc – đó là thời kỳ những người Hi Lạp bước vàocuộc sống hoà bình có khát vọng chinh phục thế giới xung quanh, thời kỳhình thành gia đình một vợ một chồng với chế độ phụ quyền và quyền tư hữutài sản “Đó là những sự kiện quá khứ, đã lùi vào dĩ vãng nhưng trong ý thứccủa nhân dân và dân tộc chúng vẫn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sốnghiên tại, vẫn được xem là niềm tự hào vẻ vang hay bài học lớn lao của dântộc” [23, tr 380] Vì vậy, đặc trưng chủ yếu của sử thi là biểu hiện của ýthức cộng đồng của nhân dân, dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của mình.Nói cụ thể hơn, nội dung của các sử thi anh hùng là các sự kiện trọng đại, có

Trang 16

ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc vànhân dân Là các sự kiện có ý nghĩa toàn dân Cả tiểu thuyết và sử thi đềuphản ánh đời sống xã hội rộng lớn Nhưng nếu tiểu thuyết miêu tả cuộc sốnghiện tại, thì sử thi lại thể hiện quá khứ anh hùng dân tộc mà cơ sở là kí ứccủa cộng đồng truyền thống Vì vậy, đối tượng của tiểu thuyết là con ngườihiện tại thì đối tượng của sử thi là những nhân vật của quá khứ được kínhtrọng và tôn thờ.

1.1.2.3 Về đặc trưng của nhân vật sử thi

Sử thi nảy sinh và tồn tại trong đời sống các tộc người không chỉ với tưcách là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một pho sách lịch sử, một cuốnbách khoa của toàn dân tộc đó Sử thi luôn xây dựng các hình tượng anhhùng vĩ đại, mang nhiều phẩm chất cao đẹp của cộng đồng và đạt đượcnhững chiến công kì vĩ, đem lại uy danh, sự giàu có cho cả cộng đồng Sử thi

đã trang bị cho nó tất cả sức mạnh của “tâm lí tập thể” Đó là những anh

hùng, tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và tríthông minh, lòng dũng cảm của cả cộng đồng Họ đại diện cho sức mạnh

hùng hậu của toàn thể nhân dân Đó là người anh hùng nhân dân Trong Iliát,

Hécto là hoá thân của khí phách anh hùng, của tinh thần hi sinh quên mìnhcao cả, là trụ cột chủ yếu để duy trì thành Troa sắp sụp đổ A giắc là hoá thâncủa sức mạnh, lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu quả cảm Còn Ô-đi-xêkết tinh cho trí tuệ nhân dân trong đời sống chính trị và sinh hoạt hàng ngày

Trong Rama, anh hùng Rama là con người lí tưởng của đạo Hinđu và đẳng

cấp quý tộc, tượng trưng cho những dũng sĩ tài trí, anh minh, đức độ, có lòngyêu tha thiết, phù hợp với nguyện vọng yêu cầu của nhân dân Như vậy nhânvật trung tâm phải thể hiện tổng hợp, đầy đủ và hài hoà cho toàn bộ sức

mạnh của nhân dân Aisin trong Iliát theo Biêlinxki thì “từ đầu đến chân đều

ngời lên một niềm vinh quang chói lọi, vì chàng không đại diện cho bảnthân, mà là đại diện cho nhân dân, được miêu tả như một đại diện của nhân

dân” Asin là người anh hùng của khối liên minh các bộ lạc Hi Lạp thể hiện

Trang 17

sức mạnh tinh thần – lòng dũng cảm và vật chất của toàn quân Hi Lạp Đó lànhững người anh hùng của chủ nghĩa anh hùng tập thể thời kỳ công xã thịtộc.

Nhân vật trung tâm của anh hùng ca bao giờ cũng là con người “hoàntất và toàn vẹn” Đăm Săn là một nhân vật của anh hùng ca – là con ngườicủa sự hoàn thiện, hoàn mỹ Phẩm giá của chàng có tất cả ở các mặt - sứcmạnh cũng như tài năng, đạo đức cũng như ngoại hình đều tương xứng với

vị thế của một tù trưởng giàu mạnh Đăm Săn có sức mạnh phi thường Sứcmạnh được hun đúc lên từ khí thiêng núi rừng Tây Nguyên, từ dòng huyết

gia đình Đăm Săn tài giỏi trong hành động “anh hùng quân sự” (đánh thắng

Mtao Mơxây, Gưr - những tù trưởng gian hùng) cũng như trong hành động

“anh hùng văn hoá” (dạy cho dân làng làm rẫy, đốn cây…) ngay cả trong tròchơi, Đăm Săn cũng xuất sắc hơn người Đăm Săn lại đẹp - từ trang phụcđến dáng điệu, từ thân hình đến tướng mạo Lòng dũng cảm là phẩm chấtđạo đức cốt yếu của người anh hùng trong anh hùng ca - ở Đăm Săn có tính

chất tuyệt đối “Đăm Săn hùng cường ngay từ trong lòng mẹ” Trong suốt

cuộc đời nhân vật, phẩm chất hùng cường bộc lộ trong mọi tình thế: dẫu làlùng bắt voi giữ hay đốt chặt cây thần, dẫu là giao tranh với kẻ địch gianhùng hay là sấn sổ tấn công trời,… thì phẩm chất này luôn bộc lộ mạnh mẽ

và sáng ngời Cùng với Asin của Hi Lạp, Rama của Ấn Độ, Đăm Săn củaViệt Nam cũng góp phần khẳng định đặc điểm của người anh hùng sử thi.Đây là những anh hùng lí tưởng, anh hùng của sự toàn vẹn, toàn mĩ mà sứcmạnh của họ gắn liền với “cuống nhau của cộng đồng”, tất cả những hànhđộng của họ nhằm phục vụ cộng đồng Sự thống nhất giữa anh hùng và cộngđồng là một nét không thể thiếu được ở nhân vật anh hùng sử thi

Hình tượng người anh hùng trong sử thi chính là hình mẫu về ước muốncủa cộng đồng Nhân vật anh hùng có một quá khứ tuyệt đối, một nhân vật lítưởng hoàn tất, toàn vẹn về mọi mặt Vì thế, cách xây dựng nhân vật anhhùng trong sử thi khác với nhân vật truyện cổ tích (nguồn gốc xuất thân,

Trang 18

thường có số phận, địa vị thấp kém, bị thua thiệt, khinh rẻ trong gia đình và

xã hội) Nhân vật sử thi anh hùng ngay từ khi xuất hiện đã có một địa vị kháchẳn Là con cháu của thần linh như Rama, Asin…, con cháu của những tùtrưởng, thủ lĩnh trước đây như Đăm Săn, Xinh Nhã,… Nhân vật anh hùngđẹp toàn diện Sức mạnh của nhân vật trong sử thi là người có sức mạnh phithường Nhân vật anh hùng lúc nào cũng xuất hiện trên một môi trường “tinhthần đặc biệt” - xuất hiện trên nền cộng đồng, xuất hiện trên nền địa lý,phong tục, tập quán của cộng đồng, xuât hiện trên nhiểu mối quan hệ: với kẻthù, với người đẹp, với cộng đồng Ở mối quan hệ nào thì nó cũng bộc lộmột tính cách, phẩm chất, vẻ đẹp… phi thường Chính vì thế, nhân vật sử thithường nhất quán từ đầu đến cuối tác phẩm, không như nhân vật tiểu thuyết

là con người nếm trải, cảm nhận, tư duy,chịu đau khổ dằn vặt của đời Nhânvật sử thi là nhân vật hành động, nhân vật chức năng

Có thể nói, đặc điểm của nhân vật anh hùng ca là tầm cỡ dân tộc Cáiđẹp của họ là vẻ đẹp dân tộc Cái giàu mạnh của họ là sự giàu mạnh dân tộc,

cá tính của họ cũng là cá tính dân tộc

1.1.2.4 Về nghệ thuật sử thi

Trước hết xét về quy mô, đây là những tác phẩm có dung lượng lớn, đồ

sộ Sử thi Rama của Ấn Độ dài đến 24.000 câu thơ đôi, sử thi Mahabharata dài 110.000 câu thơ đôi Sử thi Ô-đi-xê của người Hi Lạp cũng đồ sộ không

kém, gồm 12.110 câu thơ, sử thi Iliát dài đến 15.683 câu thơ Ngay cả đến sử

thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường, bản sưu tầm ở Hoà Bình dài 3887 câu

thơ, bản sưu tầm ở Thanh Hoá dài 8503 câu thơ Với quy mô lớn cùng việc

sử dụng những ngôn ngữ có vần nhịp, sử thi đã xây dựng những hình tượngnghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về những biến cố lớn lao, diễn ratrong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại Câu chuyện về người anhhùng nhưng được kể lại bằng thơ với giọng điệu hết sức trang trọng, hàohùng, hoành tráng, phơi phới bay bổng với tác dụng cổ vũ và động viên Làmột thể loại tự sự dân gian, sử thi có tính nguyên hợp, trong đó bao gồm cả

Trang 19

các yếu tố nghệ thuật của ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca âm nhạc và cảngôn ngữ sân khấu Nó tạo nên một sự hài hoà, gắn bó hữu cơ với nhau, tạo

nên giá trị độc đáo “không thể nào bắt chước” được của các bản sử thi anh

hùng Một trong những nét nổi bật gây ấn tượng sâu sắc với độc giả khi tiếpxúc với sử thi, đó là biện pháp phóng đại, cách ví von, so sánh, rất giàu hìnhảnh tràn ngập trong khắp tác phẩm

Phóng đại trong so sánh, trong miêu tả, trong cảm nhận, trong đánhgiá… Chẳng hạn khi miêu tả thiên nhiên và người anh hùng chúng ta nhậnthấy, thiên nhiên để cho người anh hùng xuất hiện thường là một thiên nhiên

kì vỹ: một khu rừng rậm, một con suối lớn, một cách đồng thẳng cánh còbay,… Hình ảnh trước người anh hùng đối kháng thường được miêu tả dướibút pháp tô đậm, phóng đại Biện pháp này phục vụ mục đích sử thi nhằmmiêu tả không gian hào hùng, sự tích anh hùng của người anh hùng, để dựnglên một môi trường tinh thần đặc biệt cho người anh hùng xuất hiện Trong

sử thi tất cả là phải tuyệt đối

Sử thi hay sử dụng nhiều sự vật quen thuộc, có sẵn trong tự nhiên,

thường gặp trong đời sống dùng để so sánh, ví von Trong sử thi Đăm Săn

cũng nói về vẻ đẹp của con người, nhưng khi miêu tả chàng trai thì “Anh đitrên đường cái thoăn thoắt như con rắn prao huê Anh đi trong đám cỏ tranhnhanh như rắn prao hơmat… Mỗi khi anh giẫm mạnh vào ngạch cửa làm sànnhà rung rinh bảy lần…” Đó là vẻ đẹp nhanh nhẹn, khoẻ khắn của chàng trai.Khi miêu tả cô gái, sử thi lại dùng những lời sau: “Nàng đi đủng đỉnh, thânmình uyển chuyển như cảnh cây Blô sai quả, mềm dẻo như những cành trênngọn cây, gió đưa đi đưa lại… nàng đi như chim phụng bay, như diều lượn

trên không, như nước chảy dưới suối…” Còn những âm thanh, vốn là những

cái vô hình, cũng được các tác giả sử thi vật thể hoá nó, tạo cho người đọc,

người nghe có cảm giác như mắt đang nhìn thấy âm thanh đang hoạt động,

tác động đến mọi vật Chúng ta hãy xem một đoạn miêu tả tiếng chiêng:

“Hãy đánh lên tất cả cho ở dưới vỡ toác các cây đòn ngạch, cho ở trên gãy

Trang 20

nát các cây xà ngang, cho tiếng chiêng vang vọng khắp đó đây, khiến voi, têgiác rong rừng quên không cho con bú, éch nhái dưới gầm sàn, kì nhôngngoài bãi phải ngừng kêu…” [9, tr 34] Đó còn là lối thể hiện “tâm lí sử thi”của nhân vật Không đi vào đời sống tâm lí cụ thể, không đi vào phân tích

mổ xẻ mà thường được miêu tả rất ngắn gọn Tâm lí nhân vật thường hiệnlên trong suốt, nhất phiến Đăm Săn từ đầu đến cuối là người anh hùng tùtrưởng hùng mạnh Rama là con người của danh dự cộng động, hành độngsuy nghĩ của một con người dành cho cộng đồng Chính ví thế, tâm lí chủyếu biểu hiện qua lời nói, hành động, dáng điệu, cử chỉ,… nghĩa là những gì

có thể “ngoại hoá”, cách kể chuyện thì tỉ mỉ với lối miêu tả tỉ mỉ, chi tiết, dùng nhiều so sánh sinh động Ta thấy ngay trong sử thi Đăm Săn, tâm trạng

nhân vật được bộc lộ qua một hành động cụ thể, ngôn ngữ đối thoại của nhânvật cũng như ngôn ngữ miêu tả của người kể chuyện thường mộc mạc, dân

dã… Trong sử thi Ô-đi-xê, tâm trạng nhân vật nhiều khi được gợi qua một

dáng điệu, cử chỉ, một thái độ, cách ứng xử; ngôn ngữ đối thoại của nhân vậtmạng tính lôgích chặt chẽ với những đoạn trích hoàn chỉnh; ngôn ngữ kể tảcủa người kể chuyện là những “lời có cánh” bay bổng, trang trọng, cao nhã,

dùng nhiều định ngữ, so sánh mở rộng Còn trong sử thi Rama, tâm trạng

nhân vật nhiều khi được gợi qua một giáng điệu, cử chỉ, một thái độ, cáchứng xử; qua đó gợi lên những rung động giằng xé trong nội tâm nhân vật,những sự kìm nén, che dấu cảm xúc thực bên trong, ngôn ngữ đối thoại củanhân vật có xu hướng thuyết giải đạo đức, ngôn ngữ kể và tả của người kểchuyện trau chuốt, sử dụng nhiều so sánh…

Viết về quá khứ, về những người đã khuất, khoảng cách giữa người kểvới nhân vật trong sử thi luôn luôn giữ một khoảng cách không thể vượt qua

- người ta vẫn gọi đó là “khoảng cách sử thi” Nó khác hoàn toàn với tiểuthuyết Trong tiểu thuyết, sự xóa bỏ khoảng cách giữa người kể chuyện vànhân vật trong cảm nhận, miêu tả con người cho phép nhà văn dùng kinhnghiệm cá nhân để lí giải nhân vật, nhìn nhân vật một cách suồng sã, gần

Trang 21

gũi, mà không lí tưởng hóa như sử thi Chính điều này cũng tạo nên nét khácbiệt trong mô tả thể giới của sử thi với tiểu thuyết nói riêng và các thể loại

khác nói chung Tất cả đã tạo nên đặc trưng riêng của nghệ thuật sử thi

1.2 Hệ thống các đơn vị bài học sử thi trong chương trình và phần

trợ giúp, hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các văn bản đó trong SGK Ngữ

văn 10 THPT

Chương trình Ngữ văn 10 THPT hiện hành bao gồm cả chương trình

chuẩn và nâng cao được thiết kế và biên soạn theo tinh thần đổi mới thực sựkhoa học sư phạm và thực tiễn Các văn bản sử thi trong chương trình sắpxếp có nhiều thay đổi theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực trong họctập Trong khoá luận này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát các văn bản sử thi

trong SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) và bộ SGK Ngữ văn 10

hiện hành (gồm cả bộ cơ bản và bộ nâng cao) trên cơ sở so sánh đối chiếu đểthấy được sự đổi mới trong chương trình góp phần nâng cao hiệu quả giáodục theo hướng hiện đại và định hướng cho việc hướng dẫn học sinh đọc -hiểu văn bản sử thi sau này

1.2.1 Đặc điểm các đơn vị bài học sử thi trong chương trình SGK Văn

học 10 (chỉnh lí hợp nhất 2000) và SGK Ngữ văn 10 hiện hành

Về các văn bản sử thi được đưa vào dạy học trong chương trình THPT

từ trước đến nay, chúng tôi đã tiến hành khảo sát sơ lược và thống kê đượckết quả cụ thể như sau:

(trích sử thi Đăm Săn

- sử thi Êđê)

Chiến thắng MtaoMxây

Trang 22

nước - sử thi Mường) (đọc thêm)

học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) cả về nội dung và kết cấu chương trình.

Trước hết về mặt số lượng, trong SGK Văn học 10 trước đây đưa rất nhiều bài đọc thêm thuộc các đoạn trích khác trong tác phẩm, ví dụ như sử thi Ô-

đi-xê có thêm đoạn trích Uy-lít-xơ và Ca-líp-xô, sử thi Ramayana có thêm

đoạn trích Hồ Pampa Còn trong SGK Ngữ văn 10 hiện hành, số lượng văn bản đã giảm đi những đoạn trích đọc thêm, cụ thể SGK Ngữ văn 10 (bộ cơ bản) không có đoạn trích Đẻ đất đẻ nước, đoạn trích Uy-lít-xơ và Ca-líp-xô

và đoạn trích Hồ Pampa, SGK Ngữ văn 10 chỉ có đoạn trích Đẻ đất đẻ nước.

Trang 23

Nếu đoạn trích của sử thi Ô-đi-xê, sử thi Ramaya đưa vào chương trình và SGK mới vẫn giữ nguyên thì ở sử thi Đăm Săn đã có sự thay đổi Ở SGK

Văn học 10 đưa vào đoạn trích Đi bắt nữ thần mặt trời còn ở SGK Ngữ văn

10 hiện hành là một đoạn trích khác Chiến thắng Mtao Mxây - đoạn trích tiêu

biểu nhất thể hiện đặc trưng thể loại và giá trị tác phẩm Đây sẽ là một điềukiện thuận lợi cho giáo viên dạy học theo hướng tích hợp

Về cách tổ chức, sắp xếp các văn bản, SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp

nhất) các văn bản được bố trí, sắp xếp theo bộ phận văn học Cụ thể, SGK

Văn học 10 chia làm hai tập, tập 1 là những đoạn trích, tác phẩm văn học

Việt Nam, tập 2 là văn học nước ngoài Vì thế, sử thi Đăm Săn nằm ở tập 1

được học trong học kì 1; còn sử thi Ô-đi-xê và Sử thi Ramayana nằm ở tập 2

mãi đến học kì 2 học sinh mới được học Cách tổ chức, sắp xếp này chưa

hợp lí, không tạo ra được sự hỗ trợ, gắn kết giữa các phân môn Làm văn,

Tiếng việt nói chung (mỗi phần được biên soạn thành một cuốn sách riêng,

độc lập) giữa các đoạn trích nói riêng Nó không phát huy được tính hứngthú tích cực cho học sinh, cũng như rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu văn bảntheo đặc trưng thể loại Do đó chương trình cũ không phù hợp với yêu cầudạy học mới, thay đổi nó là một việc làm cần thiết, tất yếu và hợp lí nhằmtạo ra sự chuyển hướng trong dạy học

Cách sắp xếp các văn bản ở SGK Ngữ văn 10 hiện hành có sự thay đổi

so với SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất) Ở đó, các văn bản được biên

soạn và sắp xếp phù hợp với xu thế dạy học hiện đại, tăng khả năng tích hợptrong dạy học Các văn bản được sắp xếp theo đặc trưng thể loại nghĩa là cácvăn bản nào cùng thuộc một thể loại thì được bố trí thành cụm để thuận tiện

cho việc hướng dẫn đọc - hiểu văn bản Đồng thời ba phân môn Văn, Làm

văn, Tiếng Việt được biên soạn thành một cuốn chung mang tên Ngữ văn

trong đó các văn bản đọc - hiểu được bố trí xen kẽ với các bài Tiếng Việt và

Làm văn Điều này tạo nên sự liên kết, liên thông, tác động qua lại giữa các

phân môn Mặt khác, việc bố trí xen kẽ các văn bản sử thi trong nước với các

Trang 24

văn bản sử thi nước ngoài gần nhau nên học sinh có điều kiện tiếp xúc, đốichiếu giữa văn học trong nước với văn học nước khác, giúp các em hìnhthành những kĩ năng cơ bản khi đọc - hiểu văn bản sử thi

Sử thi là một thể loại tiêu biểu của văn học dân gian Đây là một thểloại đưa vào dạy học trong nhà trường THPT chưa nhiều, nhưng phần nào nó

đã cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thể loại Từ đó nâng cao, mởrộng vốn hiểu biết chung về văn học cho học sinh Đồng thời, các văn bản sửthi được lựa chọn đưa vào trong chương trình dạy đều là những tác phẩmtiêu biểu, nổi tiếng; là những tác phẩm mẫu mực, đỉnh cao của sử thi thếgiới; được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Sử thi

Đăm Săn được công bố nhiều trên các tạp chí và gần đây nhất là hội thảo sử

thi Tây Nguyên Một số tác phẩm như Iliát, Ôđixê chuyển thể thành phim

được trình chiếu trên các phương tiện thông tin đại chúng, học sinh có thể đãđược xem Cho nên, việc học tập các văn bản này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều,hiệu quả học tập sẽ cao hơn

Hơn nữa trong thời gian gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học,việc biên soạn lại SGK, thay đổi cơ cấu chương trình đã tạo ra được nhữngbước chuyển biến tích cực trong dạy học Các nhà khoa học giáo dục đãnghiên cứu và đưa ra những phương pháp dạy học mới phù hợp hơn với họcsinh Chính những đổi mới này cũng là một thuận lợi cho hoạt động dạy họcnói chung và dạy học sử thi nói riêng

Trên đây là những nhận xét chủ quan mà chúng tôi rút ra được khi tiếnhành so sánh đối chiếu về hệ thống các văn bản sử thi được đưa vào dạy học

trong hai chương trình SGK Ngữ văn 10 và SGK Văn học 10 Tuy nhiên để

có cái nhìn tổng quát và toàn diện hơn về sự đổi mới tích cực trong chươngtrình SGK mới, trong việc biên soạn dạy học các văn bản sử thi so vớichương trình cũ Chúng ta cần phải so sánh đối chiếu trên một số phươngdiện khác nữa

Trang 25

1.2.2 Đặc điểm phần trợ giúp, hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản

sử thi trong SGK Ngữ văn 10 hiện hành

Trong cấu trúc của một bài đọc - hiểu, ngoài phần trích dẫn nguyên vănbản dịch các đoạn trích, SGK còn đề ra các mục, các phần trợ giúp, hướngdẫn học sinh tiếp cận các văn bản đó Ở đây do giới hạn của đề tài, chúng tôi

sẽ chỉ khảo sát cụ thể các phần trợ giúp, hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các

văn bản sử thi trong tương quan so sánh, đối chiếu SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất) và SGK Ngữ văn 10 (cả bộ cơ bản và bộ nâng cao) vớ tinh thần

nêu lên những nét mới, những điểm tích cực của bộ SGK hiện hành

Trước hết, chúng ta thấy dưới đề mục của mỗi bài học ở SGK Ngữ văn

10 có thêm phần Kết quả cần đạt nhằm định hướng cho học sinh những mục

tiêu cần đạt khi tiếp cận bài học Mục tiêu đó dẫn dắt học sinh trong quátrình chuẩn bị ở nhà cũng như học tập trên lớp Đối với các văn bản đọc -

hiểu, phần Kết quả cần đạt thường tách thành hai ý lớn định hướng cho học

sinh nắm được những vấn đề cơ bản về nội dung và nghệ thuật của văn bản

Ví dụ, khi đọc - hiểu đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây thì Kết quả cần đạt

về mặt nội dung là nhận thức được lẽ sống và niềm vui của người anh hùng

sử thi chỉ có được trong cuộc chiến đấu vì danh dự, hạnh phúc và sự thịnhvượng cho cộng đồng; về mặt nghệ thuật nắm được cách xây dựng nhân vật,nghệ thuật miêu tả và sử dụng ngôn từ của sử thi anh hùng Phần này trìnhbày ngắn gọn những yêu cầu về nội dung kiến thức, kĩ năng cơ bản, tinhthần, thái độ của học sinh cần đạt được sau khi đọc - hiểu văn bản, đây là

một bước tiến bộ của SGK Ngữ văn mới Phần này tương ứng với phần Mục

tiêu bài học trong sách giáo viên Nếu phần mục tiêu bài học trong sách giáo

viên là định hướng cơ bản đầu tiên cho giáo viên khi chuẩn bị giáo án và tiến

hành tổ chức dạy học cho học sinh, thì Kết quả cần đạt trong SGK lại là cơ

sở đầu tiên mà học sinh cần nắm vững để tránh sự chệch hướng trong quatrình đọc - hiểu văn bản

Trang 26

Nắm được Kết quả cần đạt, học sinh có điều kiện tích cực chủ động hơn

trong quá trình tự tiếp cận văn bản - một yêu cầu phù hợp với phương phápdạy học hiện đại Chính vì thế, người giáo viên phải cần lưu ý học sinh về

Kết quả cần đạt như là mục tiêu phải đi đến, như là tiêu chí để tự kiểm tra

đánh giá khi hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản sử thi – trong phươngpháp dạy học cũ, học sinh chỉ mò mẫm lần theo từng bước thầy chỉ bảo màchính bản thân không hề biết mình sẽ phải đạt được cái gì trong và sau giờhọc

Khác với bộ sách cũ, SGK Ngữ văn 10 cơ bản còn có thêm phần Ghi

nhớ sau mỗi bài học Đây là những kiến thức mà các em tiếp thu, tổng hợp

khái quát từ những nội dung chính cần ghi nhớ sau khi khi đọc - hiểu vănbản sử thi Nó chốt lại một số đặc điểm cơ bản nhất của bài học mà học sinh

cần ghi nhớ SGK Ngữ văn 10 nâng cao có thêm phần Tri thức đọc - hiểu đã

cung cấp khối lượng kiến thức khá đầy đủ và cần thiết về khái niệm, đặctrưng thể loại và những kiến thức tổng hợp liên quan đến văn bản tạo điềukiện cho việc giảng dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Trong

bài Chiến thắng Mtao Mxây, ngoài những kiến thức được cung cấp trong phần Tiểu dẫn thì ở phần Tri thức đọc - hiểu tiếp tục giới thuyết về sử thi

Tây Nguyên cũng như đặc điểm sử thi anh hùng, giúp cho học sinh củng cố

vững chắc hơn những kiến thức trong văn bản Hay trong bài Uy-lít-xơ trở

về, phần Tri thức đọc - hiểu cung cấp những tri thức về sử thi Ô-đi-xê và

hình tượng Uy-lít-xơ,… Nếu như SGK Văn học 10 tập 1 có hẳn một phần rất dài giới thuyết về sử thi [14; tr 21], tương tự SGK Văn học 10 tập 2 trong bài sử thi Ô-đi-xê ở phần tác giả tác phẩm gồm: phần I, vài nét về văn học Hi Lạp cổ đại; phần II, sử thi và Hômerơ; phần III, tác phẩm Ô-đi-xê [15; tr 5] khá chi tiết và dài dòng Thì, ở SGK Ngữ văn 10 hiện hành đã phân chia ra

thành những mục riêng, ngay như tên mục đã là một sự chỉ dẫn, giúp ích chocác em trong việc đọc - hiểu các văn bản sử thi trong chương trình Việcnắm vững các tri thức này sẽ có tác dụng rất lớn trong trong quá trính đọc -

Trang 27

hiểu văn bản sử thi Người giáo viên cần phải tổ chức cho học sinh nắm bắtđược những tri thức đó và sự biểu hiện qua mỗi văn bản sử thi cụ thể.

Bên cạnh đó, sau phần Hướng dẫn bài học của mỗi bài đọc - hiểu văn bản ở SGK Ngữ văn 10 bộ cơ bản có phần Luyện tập, còn SGK Ngữ văn 10

bộ nâng cao lại là hệ thống Bài tập nâng cao Ở phần Luyện tập gồm một số

câu hỏi, bài tập liên quan đến bài học hoặc bài tập thực hành nhỏ để học sinhvận dụng các kiến thức đã được học và rèn luyện kĩ năng thực hành cho họcsinh Ví dụ, “Trong đoạn trích có nhắc đến việc Đăm Săn gặp ông Trời, đượcông bày cho cách đánh thắng Mtao Mxây Theo anh (chị), vai trò của thầnlinh và vai trò của con người đối với cuộc chiến đấu và chiến thắng của Đăm

Săn được thể hiện như thế nào?” - Là phần Luyện tập của đoạn trích Chiến

thắng Mtao Mxây [9; tr 36] Phần Luyện tập của đoạn trích Uy-lít-xơ trở về

là “Nhập vai Uy-lít-xơ, anh (chi) hãy kể lại cảnh nhận mặt ấy” [9; tr 52] Việc giải quyết những yêu cầu này của phần Luyện tập sẽ góp phần tăng tính

ứng dụng trong dạy học, rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh Riêng ở

SGK Ngữ văn 10 nâng cao, phần Bài tập nâng cao đúng với ý nghĩa tên gọi

là nâng cao, mở rộng kiến thức cho học sinh ngoài những tri thức cơ bản các

em thu nhận được sau khi hoàn thành các câu hỏi trong phần Hướng dẫn học

bài Những kiến thức được đề cập đến ở phần này là những yêu cầu buộc học

sinh phải nắm vững các tri thức về khái niệm, các đặc trưng cơ bản về thể

loại cũng như văn bản Ví dụ, phần Bài tập nâng cao của đoạn trích Chiến

thắng Mtao Mxây đưa ra câu hỏi “So sánh lời nói, cử chỉ, hành động của hai

nhân vật Đăm Săn, Mtao Mxây, nhận xét về cách đánh giá khác nhau của tácgiả dân gian đối với hai nhân vật này” [11; tr 40] Giải quyết bài tập này các

em sẽ thấy được thái độ, tình cảm của cộng đồng người Ê-đê đối với nhânvật anh hùng sử thi như thế nào, qua đó củng cố những đặc điểm của sử thi

anh hùng trong việc xây dựng kiểu nhân vật anh hùng sử thi, về nghệ thuật

miêu tả Rõ ràng, học sinh không chỉ nắm vững văn bản qua các chi tiết màcòn củng cố tri thức về đặc trưng thể loại khi giải quyết tốt bài tập này “Qua

Trang 28

đoạn trích Rama buộc tội, tìm hiểu vài nét đặc trưng trong cách thể hiện

nhân vật anh hùng của sử thi Ấn Độ” [11; tr 70] là Bài tập nâng cao của đoạn trích Rama buộc tội Giải quyết thấu đáo bài tập này, học sinh sẽ khắc

sâu hiểu kỹ hơn kiến thức bài học, kiểu nhân vật anh hùng trong sử thi

Như vậy, giải quyết các bài tập trong hệ thống Bài tập nâng cao rất cần

thiết đối với học sinh khi đọc - hiểu văn bản sử thi Nó góp phần mở rộngnâng cao kiến thức cho học sinh, đồng thời đòi hỏi các em phải vận dụng các

tri thức vốn có của mình thông qua việc năm vững các nội dung của mục Tri

thức đọc - hiểu Giáo viên phải chú ý hướng dẫn, tổ chức cho học sinh giải

quyết các bài tập này, nếu thời gian giờ học không cho phép thì phải yêu cầucác em giải quyết nó ở nhà và có sự kiểm tra đánh giá

Ngoài ra, chúng ta còn thấy được nét đổi mới, điểm tích cực của SGK

Ngữ văn 10 hiện hành qua hệ thống câu hỏi Hướng dẫn đọc bài Phần này

gồm hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh trong quá trình đọc hiểu văn bản,giúp học sinh phát hiện đầy đủ, sâu sắc những giá trị nội dung và nghệ thuật

của văn bản sử thi Hệ thống câu hỏi trong phần Hướng dẫn đọc bài của SGK Ngữ văn mới cả hai bộ cơ bản và nâng cao có nội dung đa dạng hơn về

kiểu loại, hạn chế tới mới tối đa loại câu hỏi tái hiện Hệ thống câu hỏi nàygiúp học sinh tự phát hiện, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh,buộc các em phải làm việc nhiều hơn, bám sát hơn vào văn bản Chẳng hạn,

phần Hướng dẫn học bài trong đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây gồm 4

câu hỏi nhằm giúp học sinh tự chiếm lĩnh văn bản Trong đó, câu 1, 2, 3được sắp xếp theo một hệ thống phù hợp với trật tự diễn ra 3 cảnh trong vănbản Câu 1 dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh cuộc mô tả đoạn đấu tay đôi giữa hai

tù trưởng, từ đó thấy được sự vượt trội của Đăm Săn so với Mtao Mxây vềtài năng, phẩm chất Câu 2 dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh đoạn mô tả cảnhđoạn người về sau chiến thắng của Đăm Săn, từ đó thấy được sự thống nhấtcao độ giữa cá nhân anh hùng sử thi với cộng đồng bộ tộc Câu 3 dẫn dắt họcsinh chiếm lĩnh đoạn mô tả buổi lễ mừng chiến thắng, từ đó thấy được tầm

Trang 29

vóc lịch sử của chiến thắng, tầm vóc thời đại của người anh hùng sử thi Câu

4 dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh nghệ thuật miêu tả, sử dụng ngôn từ So với hệ

thống câu hỏi trong SGK Ngữ văn mới thì hệ thống câu hỏi trong phần

Hướng dẫn đọc bài của SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất) thường khá dài,

dẫn nhiều hơn hỏi, chủ yếu ở dạng tái hiện kiến thức, chưa khơi dậy hứngthú cho người học, tách rời hoạt động cung cấp tri thức với rèn luyện kĩ năngthực hành cần thiết Một số câu hỏi nhiều khi thường chỉ ra kiến thức chínhtrong bài học rồi mới hỏi học sinh, khiến cho học sinh không cần dựa vàovăn bản cũng có thể trả lời được vì câu hỏi dường như đã chứa đựng câu trảlời

Ngoài những phần có trong cấu trúc chung của một bài đọc - hiểu,những bài học thuộc cùng một phân môn đọc - hiểu, hay những phân môn

khác như Tiếng Việt, Làm văn cũng có tác dụng trợ giúp, tương hỗ cho học sinh đọc - hiểu các văn bản sử thi SGK Ngữ văn 10 hiện hành được biên

soạn theo hướng tích hợp rất thuận lợi cho giáo viện dạy học theo đặc trưngthể loại và khắc sâu kiến thức cho học sinh Trong quá trình dạy, giáo viênluôn có sự liên hệ so sánh đối chiếu các văn bản sử thi với nhau cũng nhưvới các thể loại khác của văn học dân gian Do mối quan hệ giữa ba bộ phận

kiến thức đọc hiểu, Tiếng Việt và Làm văn, những tri thức có từ giờ đọc hiểu văn bản sẽ được vận dụng trong các giờ Tiếng Việt và Làm văn, còn các giờ Tiếng Việt và Làm văn lại có tác dụng hỗ trợ củng cố cho học sinh các tri thức trong giờ đọc - hiểu văn bản Chẳng hạn, SGK Ngữ văn 10 bộ nâng cao trong bài Văn bản văn học lấy đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây làm ví dụ

-để phân tích Như vậy, học sinh vừa hình thành được kiến thức mới đồng

thời củng cố kiến thức đã học Nhiều bài tập trong các phân môn Tiếng Việt

và Làm văn đều có liên quan đến đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây và đoạn trích Uy-lít-xơ trở về, ví dụ như trong bài Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu

trong bài văn tự sự (bộ cơ bản), trong bài Tóm tắt văn bản tự sự (bộ nâng

cao)… Do vậy, vấn đề này đặt ra cho người giáo viên phải làm sao phát huy

Trang 30

tối đa hiệu quả của sự tích hợp trong quá trình dạy học văn bản sử thi Mộtmặt vừa giúp các em vận dụng kiến thức đó để khắc sâu, mặt khác củng cốnhững kiến thức đã đạt được sau giờ đọc - hiểu.

Qua phần khảo sát trên, chúng tôi đã trình bày những đặc điểm cơ bản

của hệ thống các văn bản sử thi có mặt trong chương trình Ngữ v ăn 10

THPT qua sự so sánh đối chiếu giữa chương trình SGK cũ và mới Đồngthời chúng tôi cũng tiến hành khảo sát các phần có chức năng trợ giúp vàhướng dẫn học sinh đọc - hiểu để nêu lên những đổi mới tích cực của bộ

SGK Ngữ văn 10 và chỉ ra sơ lược những vấn đề lưu ý giáo viên tiến hành

đọc - hiểu các văn bản sử thi Nắm vững được những vấn đề này, một mặtgiúp giáo viên nhận thức được sự đổi mới của chương trình và phương phápdạy học Mặt khác, định hướng cho các em một cách cơ bản những điều cầnlàm, cần đạt khi tiến hành đọc - hiểu một văn bản sử thi Đây là cơ sở đểchúng tôi đi vào phần hướng dẫn học sinh đọc - hiểu các văn bản sử thi cụ

thể trong chương trình Ngữ văn 10 THPT ở phần tiếp theo.

1.3 Thực trạng dạy và học văn bản sử thi hiện nay trong nhà trường THPT

Việc dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường THPT nói chung và dạyhọc sử thi nói riêng, đang còn nhiều vấn đề cần quan tâm Chúng tôi đã thựchiện khảo sát thực trạng việc dạy học sử thi hiện nay qua giáo viên và học

sinh một số trường như: THPT Nguyễn Văn Trỗi (Lộc Hà – Hà Tĩnh), THPT

Nghèn (Can Lộc – Hà Tĩnh), THPT Mai Thúc Loan (Lộc Hà – Hà Tĩnh) Kết

quả cho thấy rằng: chỉ có một số rất ít học sinh thích học sử thi; lí do vì sửthi có cốt truyện, nhân vật li kì, hay, lạ, rất hấp dẫn Và khi hỏi những họcsinh này là đã được đọc trọn bộ những tác phẩm này hay chưa? Các em cóđọc thêm những tác phẩm sử thi nào nữa không? Hầu như, các em trả lời là

“không” Các em chỉ biết đến những đoạn trích trong SGK, không có họcsinh nào đọc được hoàn chỉnh một tác phẩm sử thi Khi hỏi vì sao? - học sinhtrả lời là không tìm thấy các văn bản, hay vì chúng quá dài, các tác phẩm

Trang 31

khác không thích đọc vì cũng không hiểu lắm Sự thật là khi chúng tôi đi vàothư viện các trường thì các văn bản sử thi này rất khó tìm.

Bên cạnh một số học sinh thích học sử thi, thì hầu như phần lớn họcsinh được hỏi đều trả lời không thích học sử thi, vì cho rằng sử thi khó hiểu

Sự khó hiểu này, một mặt cũng có thể do ngay tính chất nội tại của các vănbản sử thi cụ thể, cũng có thể do sự không chịu khó học tập, tìm hiểu của họcsinh Mặt khác, có thể do phương pháp dạy học của giáo viên chưa phù hợp,chưa giúp học sinh thấy được những đặc trưng cơ bản để học sinh dễ dàngtiếp thu văn bản sử thi Một số học sinh khi được hỏi về vấn đề dạy học củagiáo viên trên lớp thì cho rằng: khi tổ chức cho học sinh đọc văn bản sử thi,giáo viên chỉ gọi một học sinh đọc toàn bộ văn bản, không thấy được khôngkhí sử thi Học sinh cho rằng, cách dạy của giáo viên khi dạy sử thi cùngkhông khác gì với dạy cổ tích và truyền thuyết Cho nên, học sinh cũngkhông thấy hứng thú khi học thể loại này

Thực tế, chúng ta thấy sử thi không được học ở hai cấp THCS và THPTnhư các thể loại khác; mà chỉ lên cấp THPT, học sinh mới có điều kiện tìmhiểu Vì thế, học sinh không có điều kiện tiếp xúc với sử thi một cách kỹlưỡng như các thể loại khác của văn học dân gian (cổ tích, truyền thuyết, cadao, tục ngữ,…) Sử thi là một thể loại còn quá mới mẻ và xa lạ với học sinh.Chính đặc điểm này đã tạo nên khó khăn bước đầu cho hoạt động dạy học sửthi

Khi nói đến sử thi là nói đến một thể loại tự sự dài, xuất hiện sớm tronglịch sử văn học các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tính toàndân có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình mình của lịch sử.Như vậy, chúng ra đời cách chúng ta hàng chục thế kỉ Đối với học sinh -chủ thể tiếp nhận văn bản có một khoảng cách rất xa Chính vì thế, chúng takhông thể lấy kiểu tư duy lí luận của văn học viết để soi chiếu, khám phá cácvăn bản này được Trong quá tình dạy học văn bản sử thi, giáo viên phải

luôn có ý thức dùng foklo, dùng lối tư duy xưa để khám phá văn bản Do

Trang 32

khoảng cách về thời gian cộng với việc các em đang sống trong thế giới hiệnđại được tiếp xúc với lối sống mới, với cách cảm cách nghĩ theo sự phát triểncủa khoa học kĩ thuật Nên các em dễ thích nghi với cái mới mà tỏ ra khóhấp thụ, thẩm thấu lối tư duy xưa cũng như giá trị cao đẹp của người xưa Vìthế đại đa số học sinh thiếu sự say mê, hứng thú với thể loại này Các embàng quan trước những tác phẩm sử thi vì các em nghĩ các tác phẩm ấychẳng liên quan gì đến ngày nay, nó chẳng giúp ích gì cho các em trong cuộcsống Đây cũng là một khó khăn đối với việc dạy học sử thi trong trường phổthông.

Khi chúng tôi đưa ra một số câu hỏi vể đặc trưng sử thi thì học sinh trảlời rất mơ hồ Qua việc khảo sát trên cho thấy, học sinh hiện nay ít quan tâmđến sử thi và những hiểu biết của các em về thể loại sử thi là rất hạn chế

Về phía giáo viên, khi chúng tôi trao đổi một số vấn đề, hầu hết họ đềucho rằng: Đây là một thể loại khó, ngay cả cái tên cũng đã trừu tượng rồi,phải đến bậc THPT thể loại này mới được đưa vào nhà trường Họ cũngkhông quan tâm nhiều đến sử thi – đây là một thể loại không được chú ýnhiều trong văn học dân gian như cổ tích, truyền thuyết, ca dao hay tục ngữ.Mặt khác, sử thi là thể loại mà học sinh hiểu biết còn hạn chế, không mấyhứng thú nên việc dạy học không thu hút được học sinh quan tâm, vì thế giáoviên không thích dạy Chúng ta vẫn thấy một thực tế rằng, văn học dân giankhông được coi trọng bằng văn học viết Hơn nữa, đặt song song bên cạnhnhững thể loại như ca dao, tục ngữ hay như cổ tích và truyền thuyết thì sử thibao giờ cũng “khô” và khó dạy hơn nhiều Các giáo viên không mấy hứngthú với thể loại này, thì tất nhiên họ sẽ không có những sự đầu tư thật kĩlưỡng cho bài dạy Theo các giáo viên, khi dạy các văn bản sử thi theo đặctrưng thể loại là rất khó; vì mỗi dân tộc lại khai thác theo một hướng riêng,không có khuôn khổ nhất định; hướng tới tính cộng đồng là chìa khoá đểgiúp học sinh khai thác các văn bản sử thi Trong quá trình dạy học, đòi hỏi

Trang 33

giáo viên phải luôn có sự tích hợp, so sánh để thấy được những đặc trưng của

sử thi nói chung cũng như sử thi của mỗi nước nói riêng

Nói đến sử thi là nói đến một thể loại văn học dân gian mang tính diễnxướng, nó dùng để kể chứ không phải để nói, việc tạo nên tâm thế tiếp nhận

sử thi cho các em là một việc quan trọng nhưng không phải dễ - đây là bàitoán khó mà nhiều giáo viên còn trăn trở Hơn nữa, các văn bản sử thi trongchương trình lại gắn liền với văn hoá bản địa từng dân tộc, quốc gia riêng -mỗi văn bản lại có những màu sắc riêng Trong khi đó vốn văn hoá của họcsinh lại có hạn, các em chưa có được những cái vốn ban đầu cho việc tìmhiểu Ngay cả nhiều giáo viên còn hạn chế về vốn hiểu biết này Họ chỉ tìmthấy trong một số tài liệu tham khảo mà thôi, chưa có điều kiện đi sâu khámphá Chính vì thế, không tránh khỏi hời hợt khi hướng dẫn học khi đọc - hiểu

văn bản Ví dụ, khi dạy về sử thi Đăm Săn, giáo viên cũng cần cho học sinh hiểu lối “kể khan” là thế nào? tục “nối dây” nghĩa là sao,…; hay khi đoạn trích Rama buộc tội, giáo viên cần có những vốn hiểu viết về văn hoá Ấn Độ

như thế nào,… Rồi, ngôn ngữ từng dân tộc lại có những đặc trưng riêng.Giáo viên phải luôn có sự giải thích dựa vào phần chú giải trong SGK Bađoạn trích được đưa vào giảng dạy trong chương trình là ba tác phẩm của badân tộc khác nhau, nên phông văn hoá của chúng có những độ vênh nhấtđịnh.Vấn đề về ngôn ngữ, vấn đề về tinh hoa văn hoá cũng tạo nên một khókhăn nữa mà giáo viên gặp phải khi dạy học sử thi

Mặt khác trong nhà trường, học sinh chỉ được học một số đoạn trích tiêu

biểu của các thiên sử thi Ví dụ như sử thi Ô-đi-xê, sử thi Ra-ma-ya-na dài hàng ngàn câu thơ mà ngay cả sử thi Đăm Săn ngắn hơn rất nhiều thì việc

đọc trọn bộ những tác phẩm này đối với học sinh dường như là điều khôngtưởng Thực tế là vì nó quá dài, quá đồ sộ cũng có; hay thự viện các trườngchưa có đầy đủ cũng có Đây cũng một khó khăn khiến cho giáo viên và họcsinh không có cơ hội tiếp xúc với tác phẩm lớn, đa nghĩa trong thể nguyênvẹn của nó nên dẫn đến những nhận thức phiến diện hoặc sai lạc Tuy giáo

Trang 34

viên có trình bày những nội dung cơ bản của tác phẩm thông qua phần tómtắt trong SGK, nhưng việc chỉ học một đoạn trích của một tác phẩm lớn phầnnào cũng ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của học sinh.

Một khó khăn nữa là từ thực tế giảng dạy cho thấy hầu hết khi tiến hànhđọc - hiểu văn bản sử thi, giáo viên và học sinh chỉ có thể tiếp xúc các đoạn

trích thông qua các bản dịch Đăm Săn tuy là con đẻ tinh thần của người Việt

nhưng lại được công bố đầu tiên ở nước ngoài và đến nay mới có hai bảndịch Tiếng Việt Bản dịch văn xuôi hoàn hảo đã khó, thậm chí không thựchiện được xét về mặt lí thuyết, bản dịch thơ hoàn hải càng khó hơn, nhất làkhi phải dịch một tác phẩm thuộc một ngữ hệ khác với ngữ hệ của TiếngViệt Đặc biệt là khi dịch từ tác phẩm thơ sang văn xuôi, chắc hẳn sẽ không

thể sát hết nguyên bản được - Ô-đi-xê và Ra-ma-ya-na vốn là những tác

phẩm thơ dài Đây cũng là một khó khăn mà giáo viên khi dạy văn bản sửthi Giáo viên không cẩn thận nhiều khi sẽ trở thành tán dóc Giáo viên cầnkhai thác điểm gì, bỏ qua điểm gì cho khỏi trái với nguyên tác giảng dạy.Khi giảng dạy các đoạn trích, chúng ta nên căn cứ vào định nghĩa ‘sử thi”

trong SGK hoặc trong Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục, Hà Nội,

2006) để làm một trong những định hướng cho việc khai thác nhằm giúp họcsinh nắm được những nội dung cơ bản thông qua các đặc trưng nghệ thuật sửthi và sắc thái riêng của mỗi dân tộc

Khó khăn lớn đối với hoạt động dạy học sử thi còn là: Nguồn cứ liệu,tài liệu về văn hoá dân tộc, cũng như những công trình nghiên cứu tìm hiểu

về sử thi là rất ít Ví dụ như sử thi Đăm Săn là một tác phẩm tương đối khó

cảm thụ so với học sinh, một phần do tác phẩm này do tư duy của ngườimiền núi có phần khác hơi khác so với chúng ta, một phần do tác phẩm nàychưa có tài liệu nào khai thác và đi sâu một cách kĩ lưỡng Ngoài ra, một sốgiáo viên do vốn hiểu biết về thể loại này cũng như vốn văn hoá còn nhiềunon nớt, ít ỏi nên khó có thể cảm thụ sâu sắc tác phẩm, nói gì đến việc giảngdạy cho học sinh hiểu và chiếm lĩnh nó Vì thế, trong dạy một số giáo viên

Trang 35

chưa định hướng cho học sinh nắm được nội dung cốt lõi của vấn đề, chưavận dụng được những phương pháp dạy học phù hợp để phát huy tính tíchcực hoạt động của người học, tạo hứng thú học tập từ phía học sinh.

Như vậy, qua đây chúng ta thấy được việc dạy học sử thi hiện nay trongnhà trường phổ thông cần được quan tâm, để có thể tìm ra những giải pháptốt nhất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Làm thế nào để gây đượchứng thú cho học sinh trong giờ dạy học sử thi, dạy học như thế nào để giúpcác em nắm được những đặc trưng về thể loại, có một vốn hiểu biết cơ bản

để tiếp nhận những tác phẩm khác – đó là những câu hỏi mà người giáo viênluôn ý thức đặt ra, trăn trở tìm lời giải đáp Trên tình thần nâng cao chấtlượng hiệu quả đọc - hiểu tác phẩm văn học nói chung, đọc - hiểu sử thi nóiriêng, trong khoá luận này, chúng tôi cố gắng đề xuất một số gợi dẫn, biệnpháp để phần nào giải đáp những câu hỏi đặt ra ở trên

Trang 36

CHƯƠNG II NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG DẠY ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN SỬ THI

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 10 THPT

2.1 Dạy đọc - hiểu sử thi theo đặc trưng thể loại

Văn học dân gian có nhiều thể loại khác nhau Mỗi thể loại lại có cáchtiếp nhận riêng, không giống nhau Vì vậy, giáo viên khi tổ chức đọc - hiểuvăn bản ở những thể loại nào, cần chú ý tới đặc trưng của chúng để tránh sựsuy diễn và nhầm lẫn Là loại hình văn học dân gian ra đời khi xã hội đãthoát thai bầy đàn nguyên thuỷ, sử thi có cách tư duy và xây dựng nhân vậtkhác với các loại hình văn học dân gian ra đời sau này Chúng ta không thểđánh đồng việc đọc - hiểu các văn bản sử thi cũng như những thể loại tự sựcủa văn học dân gian khác trong chương trình Người giáo viên cần đặtnhững văn bản này trong đặc trưng thể loại và có sự so sánh, đánh giá vớicác thể loại khác Hơn nữa, các văn bản sử thi trong chương trình là nhữngvăn bản tiêu biểu cho sử thi của các dân tộc, lại được bố trí thành từng cụm.Đây là một thuận lợi cho việc tổ chức đọc - hiểu văn bản sử thi theo đặctrưng thể loại Đặc điểm của thể loại sử thi có phần khác so với các thể loại

cổ tích, truyền thuyết, thần thoại… cho nên khi tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản sử thi cần chú ý tới đặc trưng của nó để tránh những suy luậnmang tính ngụy biện, lấy cách phân tích của thể loại này áp dụng cho thể loạikia Làm như vậy không những giảng sai về thể loại mà còn cả kiến thức cơbản Nhiều vấn đề sử thi không thể giảng dạy theo tư duy phân tích của thầnthoại, truyền thuyết mà phải bắt nguồn từ tư duy suy luận đặc thù của sử thi

-Đó là cách cảm nhận theo tư duy lưỡng hợp và biểu tượng văn hoá

Với những yêu cầu như vậy, chúng tôi muốn đưa ra cách tiếp cận sử thiphải xuất phát từ đặc trưng thể loại Dưới đây là một số hướng dẫn dạy đọc -hiểu văn bản sử thi theo đặc trưng thể loại

Trang 37

2.1.1 Cần làm cho học sinh nắm vững cốt truyện sử thi qua hoạt động

đọc (kể, tóm tắt…) văn bản

Là một thể loại tự sự dân gian, việc nắm vững cốt truyện là một trongnhững yêu cầu cơ bản không thể bỏ qua trong quá trình hướng dẫn học sinhđọc – hiểu Nắm vững cốt truyện là nắm vững cái khung cơ bản của tácphẩm Để hướng dẫn học sinh nắm bắt cốt truyện sử thi, giáo viên không thểcoi nhẹ vai trò của các sự kiện đối với quá trình diễn biến, phát triển của tácphẩm Do việc dạy học tác phẩm sử thi trong nhà trường gắn với việc dạyhọc các đoạn trích, cho nên yêu cầu nắm vững cốt truyện ở đây bao hàm cả

“cốt truyện” của đoạn trích và cốt truyện của toàn tác phẩm mà đoạn trích đórút ra Việc này cũng có nghĩa là giáo viên đã rèn luyện cho học sinh biếtnhìn nhận vấn đề một cách hệ thống trong tính chỉnh thể của nó Khi tổ chức

đọc – hiểu văn bản, giáo viên nên cho học sinh đọc phần tóm tắt ở mục Tiểu

dẫn, sau đó yêu cầu các em hệ thống lại các sự kiện cơ bản Ngoài ra, giáo

viên cần tập trung xoáy vào một số chi tiết có liên quan trực tiếp đến đoạntrích nhằm giúp học sinh hiểu sâu hơn, có khả năng lí giải đầy đủ hơn một số

vấn đề trong đoạn trích Ví dụ, khi tóm tắt Đăm Săn, giáo viên có thể lưu ý

học sinh các cuộc chiến giữa Đăm Săn và các tù trưởng khác Điều này sẽgiúp học sinh thấy rằng, chiến thắng Mtao Mxây chỉ là một trong chuỗi chiếnthắng của chàng Đăm Săn và mục đích của cuộc chiến thắng không phải là

giành lại vợ mà là để xây dựng bộ lạc cường thịnh hơn Tóm tắt Ô-đi-xê,

giáo viên nên kể cho học sinh nghe một số sự kiện về Uy-lít-xơ khi chàng ởtrên đảo của người khổng lồ, về Pê-nê-lốp khi phải đối phó với bọn cầu hôn.Qua đó, học sinh sẽ hiểu sâu sắc hơn trí tuệ tuyệt vời của Uy-lít-xơ cũng như

sự thủy chung của Pê-nê-lốp Với Rama, khi tóm tắt tác phẩm, giáo viên có

thể dành ít thời gian kể về việc Rama giải thoát cho Xi-ta khỏi tay quỷvương Ra-va-na để học sinh có cơ sở đáng tin cậy khi lí giải cơn ghen củachàng Giáo viên cũng có thể kể về những hành động chống cự quyết liệt củaXi-ta khi bị Ra-va-na bắt giam nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn tấm lòng

Trang 38

thủy chung, trong trắng tuyệt với của chàng Chính những chi tiết này lànhững gợi ý ban đầu của giáo viên, giúp học sinh cắt nghĩa, lí giải đoạn tríchmột cách thấu đáo, trọn vẹn Như vậy, tóm tắt văn bản là một hoạt động cầnthiết trong giờ đọc - hiểu sử thi.

Đối với các văn bản sử thi dùng để kể chứ không phải để đọc, nó luôngắn liền với môi trường “diễn xướng”, dùng để kể trong dân gian như các sử

thi Tây Nguyên hay Iliát và Ôđixê của Hô-me-rơ - được kể nhiều trong dân

gian Nhiều văn bản mang tính chất kịch Trong quá trình tổ chức đọc chohọc sinh, giáo viên phải tuỳ vào từng văn bản để có cách đọc - kể phù hợp

Có thể nói, đây là bước đầu của quá trình thâm nhập văn bản Nó không chỉ

có tác dụng rất lớn quyết định tới việc tạo ấn tượng thẩm mĩ cho học sinh vềvăn bản, khơi gợi ở người học sự tiếp nhận tích cực, tạo sự chú ý, tâm thế ổnđịnh trước khi bước vào tìm hiểu văn bản, mà còn góp phần tạo nên tâm thế,không khí sử thi

Sử thi anh hùng Tây Nguyên được trình diễn chỉ bởi một nghệ nhân hát

- kể, nhưng giọng của nghệ nhân lại luôn biến hoá qua từng vai kể: khi thì lờicủa nhân vật này, nhân vật kia trong tác phẩm, khi thì lời của người kểchuyện Điều này giúp tăng cường tính kịch – tính sân khấu của lối trình diễn

sử thi Đặc điểm này chính là cơ sở để khi tổ chức đọc - hiểu đoạn trích

Chiến thắng Mtao Mxây, giáo viên có thể phân vai cho một số học sinh đọc

lời của các nhân vật, cần có thêm một học sinh đọc phần lời của người kểchuyện - loại lời của nhân vật này cần được chú ý Bởi đây cũng là mộtphương tiện nghệ thuật để biểu hiện thái độ, tình cảm của cộng đồng ngườiÊđê đối với nhân vật người anh hùng sử thi Tuy nhiên đoạn trích khá dài,giáo viên không nên dành quá nhiều thời gian trên lớp cho việc đọc văn bảncủa học sinh, chỉ cần cho học sinh đọc một đoạn đối thoại giữa hai tù trưởng,

và một phần của đoạn cuối văn bản (lời người kể chuyện) Đối với đoạn trích

Uy-lít-xơ trở về có thể chuyển thể thành dạng đối thoại kịch được, giáo viên

có thể chọn học sinh phân các vai trong cảnh nhận mặt Ở đây, cần thể hiện

Trang 39

đúng tâm trạng của các nhân vật nên khi đọc cần thiết phải đúng giọng, códiễn cảm Tương tự, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc phân vai, diễn cảmđúng sự phát triển kịch tính của sự kiện, đúng sắc thái những xung đột nộitâm, chuyển biến tâm trạng của các nhân vật trong khi đọc - hiểu văn bản

Rama buộc tội.

Như chúng ta đã biết, sử thi anh hùng có tính chất nguyên hợp, trong đóbao gồm cả các yếu tố nghệ thuật của ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca,

âm nhạc và cả ngôn ngữ sân khấu nữa Chính việc hướng dẫn học sinh đọc

-kể văn bản sử thi, sẽ giúp các em tiếp nhận văn bản có hiệu quả hơn

2.1.2 Nhấn mạnh những sự kiện lịch sử - xã hội trọng đại, có ý nghĩa

quan trọng với cộng đồng đặt ra trong văn bản

Sử thi là những tác phẩm bằng thơ có dung lượng lớn, thường ra đờivào thời kì hình thành các bộ tộc và dân tộc, phản ánh những sự kiện vànhững vấn đề có lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với cả cộng đồng, qua câuchuyện về những nhân vật kết tinh toàn bộ năng lực, phẩm chất, khát vọng, của cả cộng đồng Mỗi câu chuyện ở các đoạn trích trong chương trìnhkhông chỉ là quan hệ giữa các nhân mà giáo viên cần khái quát lên đượcnhững sự kiện, những vấn đề lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với cả cộngđồng Các nhân vật anh hùng đều thể hiện tập trung ý chí, sức mạnh, lí tưởngđạo đức của cả cộng đồng Giáo viên cần phải cho học sinh thấy được điều

đó trong quá trình tổ chức đọc - hiểu văn bản sử thi Ở sử thi Đăm Săn phản

ánh xã hội và con người Tây Nguyên thời kì chế độ công xã đang tan rã.Trong cuộc chiến với các tù trưởng thù địch để dành lại vợ mình, người anhhùng đồng thời bảo vệ cuộc sống yên lành của buôn làng và sau chiến thắng,làm cho buôn làng mình giàu có cường thịnh hơn Khi tổ chức đọc - hiểu

đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây, giáo viên xem đó như là kim chỉ nam để

nhìn nhận các vấn đề trong văn bản Cuộc chiến đòi vợ chỉ là cái cớ nảy sinhmâu thuẫn, thắng hay bại của tù trưởng có ý nghĩa quyết định tất cả vừa tăngthêm sức mạnh, uy tín cho mình và cộng đồng của mình Cho nên, sử thi

Trang 40

không nói nhiều về chết chóc mà đề cao niềm vui ăn mừng chiến thắng Thểhiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng của cá nhân anh hùng sửthi với quyền lợi và khát vọng của cộng đồng (người thắng và kẻ thua đềucùng một tộc người; trước cuộc chiến, học sống rời rạc thành hai nhóm, nay

họ sống hoà hợp trong cùng một nhóm đông hơn) Tuy kể về chiến tranhnhưng vẫn hướng về cuộc sống thịnh vượng, no đủ, giàu có sự đoàn kếtthống nhất và lớn mạnh của cộng đồng tộc người Lí tưởng của người anhhùng sử thi Đăm Săn đơn giản và thuần phác đem lại cuộc sống ấm no vàhạnh phúc cho cộng đồng, dù các cuộc chiến tranh đó được khoác lên vớimột danh nghĩa khác Đăm Săn chiến đấu với Mtao để giành lại vợ, theoPhan Đăng Nhật: “Giành lại được người vợ của tù trưởng trong chế độ mẫu

hệ là bảo vệ danh dự, uy tín và quyền lực của cộng đồng” [39, tr 110]

Ở sử thi Ô-đi-xê phản ánh thời kì người Hi Lạp khám phá chinh phục

biển cả ngoài xứ sở của mình cũng là thời kì họ sắp từ giã chế độ công xã thịtộc bước vào chế độ chiếm hữu nô lệ với sự xuất hiện của hình thái gia đình

trong hôn nhân một vợ một chồng Đoạn trích Uy-lít-xơ trở về là cảnh gặp gỡ

giữa hai vợ chồng sau hai mươi năm xa cách, đồng thời qua đó thể hiện được

phẩm chất cao đẹp của hai nhân vật này Sử thi Ramaya thì qua câu chuyện

người anh hùng Rama liên minh với đoàn quân khỉ tấn công tiêu diệt

Ra-va-na phản ánh quá trình của người A-ry-a da trắng từ miền Bắc Ấn tràn xuốngđồng hoá, chinh phục những người Đra-vi-đa da màu Nam Ấn và đảo Lan-kađồng thời thể hiện cuộc chiến tranh giữa thiện và ác, chính nghĩa và phinghĩa Điều này sẽ tránh được cách phân tích “tiểu thuyết hoá”, “đời tư hoá”đối với những cuộc gặp lại, nghi ngờ, ghen tuông, thử thách,… giữa Uy-lít-

xơ với Pê-nê-lôp và giữa Rama và Xi-ta Sau chiến thắng, Rama và Xi-ta gặpnhau không phải là trong một không gian riêng tư mà trong một không giancộng đồng, trước sự chứng kiến của tất cả anh em, bạn hữu trung thành củaRama (Lắc-ma-na, Xu-gri-va, Ha-nu-man, Vi-phi-sa-na), quân đội khỉ, quanquân dân chúng của quốc vương Rama không chỉ đứng trên tư cách là người

Ngày đăng: 15/12/2015, 12:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK Ngữ Văn 10 THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiệnchương trình SGK Ngữ Văn 10 THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK Ngữ Văn 10 nâng cao THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiệnchương trình SGK Ngữ Văn 10 nâng cao THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Tài liệu phân phối chương trình THPT môn Ngữ Văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu phân phối chương trình THPTmôn Ngữ Văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu về đổi mới phương pháp dạyhọc môn Ngữ Văn THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2003
7. Đỗ Ngọc Thống (2006), Tìm hiểu chương trình và SGK THPT, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chương trình và SGK THPT
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2006
8. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2001), Phương pháp dạy học văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
9. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2006), Ngữ Văn 10, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 10, tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 2006
10. Phan Trọng Luận tổng chủ biên (2006), Sách giáo viên Ngữ Văn 10, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ Văn 10,tập 1
Tác giả: Phan Trọng Luận tổng chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Trần Đình Sử tổng chủ biên (2007), Ngữ Văn 10 nâng cao, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 10 nâng cao, tập 1
Tác giả: Trần Đình Sử tổng chủ biên
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2007
12. Trần Đình Sử tổng chủ biên (2004), Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học - Một số vấn đề lí luậnvà lịch sử
Tác giả: Trần Đình Sử tổng chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2004
13. Trần Đình Sử tổng chủ biên (2008), Tự sự học, phần 2 - Một số vấn đề lí luận và lịch sử, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học, phần 2 - Một số vấn đềlí luận và lịch sử
Tác giả: Trần Đình Sử tổng chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
14. Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc chủ biên (2000), Văn học 10, tập 1,NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học 10, tập1
Tác giả: Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
15. Nguyễn Hải Hà, Lương Duy Trung chủ biên (2001), Văn học 10, tập 2, NXB Giáo dục, Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học 10, tập2
Tác giả: Nguyễn Hải Hà, Lương Duy Trung chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
16. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chươngtheo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2008), Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 10 nâng cao, NXB Giáo dục, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích bình giảng tác phẩm vănhọc 10 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
18. Nguyễn Văn Đường chủ biên (2006), Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10, tập 1, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10,tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
19. Nguyễn Văn Đường chủ biên (2006), Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10 nâng cao, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 10nâng cao, tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
20. Nguyễn Hải Châu (2006), Giới thiệu giáo án Ngữ Văn 10, tập 1, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Ngữ Văn 10, tập 1
Tác giả: Nguyễn Hải Châu
Nhà XB: NXBHà Nội
Năm: 2006
21. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2004
22. Lại Nguyên Ân (1998), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học quốc giaHà Nội
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh cụ thể nào? - Hướng dẫn dạy học   hiểu văn bản sử thi trong chương trình ngữ văn 10 THPT  luận văn tốt nghiệp đại học
nh ảnh cụ thể nào? (Trang 70)
Hình thay đổi hẳn, nhưng vẫn bị nghi - Hướng dẫn dạy học   hiểu văn bản sử thi trong chương trình ngữ văn 10 THPT  luận văn tốt nghiệp đại học
Hình thay đổi hẳn, nhưng vẫn bị nghi (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w