Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi mong muốn thấy đợc một vài nét về đặc điểm cấu tạo, sự hiện diện cũng nh những đặc trng về mặt xã hội học của lớp từ này;
Trang 1Trong quá trình sử dụng, các thế hệ ngời Việt đã không ngừng mài giũa, sáng tạo khiến cho tiếng nói của dân tộc ngày càng trở nên phong phú, ngày càng hoàn thiện.
Với hàng vạn đơn vị từ và đơn vị tơng đơng, tiếng Việt đã trở thành một chỉnh thể gồm nhiều hệ thống có liên quan chặt chẽ với nhau Các hệ thống từ (hay các lớp từ) đã phản ánh độ phong phú của vốn từ tiếng Việt, đồng thời phản ánh sự sáng tạo của con ngời Việt trong quá trình học tập và sử dụng tiếng Việt
1.2 Trong số các lớp từ vựng của vốn từ tiếng Việt, chúng ta dễ dàng nhận thấy vốn từ toàn dân là lớp từ có số lợng lớn nhất, chung nhất, và đợc sử dụng đại chúng nhất Bên cạnh vốn từ toàn dân còn có các lớp từ vựng khác
nh vốn từ địa phơng, vốn từ thuật ngữ , vốn từ lóng, vốn từ nghề nghiệp
Trong các lớp từ đó, lớp từ chỉ nghề nghiệp vẫn là lớp từ còn ít đợc chú
ý Do đó, tiến hành tìm hiểu vốn từ chỉ nghề nghiệp sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn không chỉ về đặc điểm của một lớp từ mà còn thấy sự đa dạng và phong phú của vốn từ tiếng Việt
1.3 Việt Nam là quốc gia nằm bên bờ biển Đông, có bờ biển dài hơn
3260 km Đã từ rất lâu, biển và đại dơng không chỉ gắn bó với đời sống của ngời dân mà còn có mối quan hệ mật thiết với sự trờng tồn của đất nớc Chính
Trang 2vì vậy, nghề cá là một trong những nghề nghiệp có tính chất truyền thống của ngời dân Việt.
Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá, khảo sát vốn từ của một trong những nghề truyền thống để nhằm thấy đợc mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp và từ toàn dân; đồng thời thấy đợc những dấu ấn văn hoá trong các tên gọi và cách gọi tên của nhng c dân làm nghề này
1.4 Nghệ Tĩnh, mảnh đất từng đợc xem nh một Việt Nam thu nhỏ không chỉ về điều kiện tự nhiên, lịch sử – văn hoá mà cả ngôn ngữ Phơng ngữ Nghệ Tĩnh còn là đại diện tiêu biểu cho phơng ngữ Bắc Trung Bộ Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi mong muốn thấy
đợc một vài nét về đặc điểm cấu tạo, sự hiện diện cũng nh những đặc trng về mặt xã hội học của lớp từ này; chúng tôi những mong qua một hiện tợng ngôn ngữ để hiểu thêm về đời sống tinh thần của con ngời và mảnh đất xứ Nghệ,
đồng thời thấy đợc sự phong phú cũng nh sự biến đổi của ngôn ngữ dân tộc trong một khu vực cụ thể
Trên đây là những lí do để chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát vốn
từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh” Hi vọng, việc nghiên cứu một lớp từ cụ thể ở một khu vực cụ thể sẽ gặp nhiều thuận lợi trong quá trình
điều tra, khảo sát và tìm hiểu Từ đó có thể rút ra những kết luận xác đáng
về lớp từ này
II Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay việc nghiên cứu từ nghề nghiệp vẫn cha đợc quan tâm đúng mức Kết quả nghiên cứu về từ nghề nghiệp chủ yếu mới dừng lại ở các quan niệm, định nghĩa của một số tác giả đa ra trong các giáo trình về từ vựng-ngữ nghĩa hoăch dẫn luận ngôn ngữ Chẳng hạn có thể tìm thấy các định nghĩa về
từ nghề nghiệp qua các giáo trình của:
- Nguyễn Văn Tu – Từ và vốn từ Tiếng Việt hiện đại- NXB Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1978
Trang 3- Đỗ Hữu Châu – Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt- NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1989.
- Hoàng Thị Châu- Tiếng Việt trên các miền đất nớc- NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1989
- Nguyễn Thiện Giáp- Từ vựng học tiếng Việt- NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 2002 …
Những năm gần đây, vốn từ chỉ nghề nghiệp đợc nhiều ngời nghiên cứu nh:
- Trần Thị Ngọc Lang- Nhóm từ có liên quan đến sông nớc trong
ph-ơng ngữ Nam Bộ- Phụ trph-ơng ngôn ngữ , số 2, Hà Nội 1982.
- Phạm Hùng Việt- Về từ ngữ nghề gốm- Viện ngôn ngữ học, Hà Nội 1989
- Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh Văn hoá ng– ời Nghệ qua vốn
từ vựng nghề cá- Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam A, số 1, năm 1996.
- Lơng Vĩnh An- Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng Nam và thành
phố Đà Nẵng- Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh 1998.
- Võ Chí Quế – Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ
Thanh Hoá- Ngữ học trẻ ‘ 99, NXB Nghệ An 2000.
- Nguyễn Viết Nhị – Vốn từ vựng chỉ nghề trồng lúa trong phơng
ngữ Nghệ Tĩnh- Luận văn Thạc sỹ , Đại học Vinh 2002
- Phan Thị Mai Hoa – Thế giới thực tại trong con mắt ngời Nghệ
Tĩnh qua tên gọi một số nhóm từ cụ thể- Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh
2002…
Ngoài ra còn có một số bài viết của tiến sỹ Hoàng Trọng Canh nh
“Ph-ơng thức định danh một số nhóm từ chỉ nghề cá và trồng lúa trong ph“Ph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh”, Hội thảo khoa học “ Ngữ học trẻ” năm 2004 Hay bài viết
“Thực tế nghề cá đợc phân cắt , chọn lựa qua tên gọi và cách gọi tên“ ” “ ”
Trang 4trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh”, Tạp chí khoa học Trờng đại học Vinh năm
2004…
Nhìn chung các bài viết đã đi vào khảo sát tên gọi, nghiên cứ sụ phản
ánh thực tại của các từ, chỉ ra nét độc đáo của lớp từ nghề nghiệp trên từng địa phơng cụ thể
Nh vậy, việc nghiên cứu từ nghề nghiệp ngày càng đợc quan tâm, chú ý; không chỉ về khái niệm chung mà ngày càng có nhiều những nghiên cứu cụ thể
về từ nghề nghiệp Cũng đã có một số bài viết về từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, nhng “Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá trong ph ơng ngữ Nghệ Tĩnh” là đề tài đầu tiên có tính chất độc lập và tơng đối toàn diện.
Khảo sát từ nghề cá trên một phạm vi hẹp là phơng ngữ Nghệ Tĩnh, do
đó, những cứ liệu mà chúng tôi đa ra phân tích có thể còn bó hẹp; song nó đã phần nào làm rõ đợc điều mà chúng tôi muốn nói, bởi vì, nh chúng tôi đã trình bày ở trên, nghề cá là một nghề truyền thống lâu đời của ngời Nghệ và phơng ngữ Nghệ Tĩnh cũng là phơng ngữ đại điện tiêu biểu nhất cho vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ
III Đối tợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu.
• Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Với mục đích yêu cầu của luận văn là khảo sát và chỉ ra những đặc điểm của lớp từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh nên trong quá trình tiến hành đề tài, chúng tôi đã dựa chủ yếu vào kết quả t liệu điền dã của một số địa phơng nổi tiếng về nghề cá trên mảnh đất Nghệ Tĩnh nh: Quỳnh Lu, Diễn Châu, Nghi Lộc (thuộc tỉnh Nghệ An), Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Nghi Xuân (thuộc tỉnh Hà Tĩnh)
Ngoài ra, chúng tôi còn kết hợp nguồn t liệu trong cuốn Từ điển tiếng“
địa phơng Nghệ Tĩnh” của nhóm tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Hoàng
Trang 5Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên ( NXB văn hoá thông tin, 1999) Đồng thời, để so sánh sự khác biệt trong cách gọi tên và tên gọi của từ nghề nghiệp địa phơng Nghệ Tĩnh với từ nghề nghiệp toàn dân, chúng tôi đã khảo sát đối chiếu từ trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” – Hoàng Phê (chủ biên).
Khảo sát lớp từ vựng chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh là đi vào các nhóm từ cụ thể chỉ công cụ, sản phẩm và hoạt động sử dụng công cụ trong quá trình sản xuất của nghề
• Mục đích nghiên cứu.
Khảo sát từ nghề nghiệp mà cụ thể là lớp từ chỉ nghề cá ở địa phơng Nghệ Tĩnh là góp phần làm cho bức tranh về từ chỉ nghề nghiệp ở Nghệ Tĩnh hiện lên đầy đủ Qua đó thấy đợc những nét đặc điểm riêng của lớp từ này trong phơng ngữ và dấu ấn văn hoá ẩn chìm trong nó
Mặt khác, việc nghiên cứu vốn từ nghề nghiệp còn cho chúng ta thấy
đ-ợc vai trò đóng góp của lớp từ này trong sự đa dạng, phong phú của vốn từ địa phơng nói riêng và trong tiếng Việt nói chung Nh vậy, đề tài giúp chúng ta thấy đợc mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp và từ toàn dân; phơng ngữ và vai trò của nó Đề tài còn là một dẫn chứng cụ thể chứng minh cho mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Ngoài những mục đích trên, đề tài còn hớng đến những mục đích cụ thể sau:
+ Cung cấp t liệu về từ chỉ nghề trong phơng ngữ, điều mà lâu nay các giáo trình đều ít nhắc đến
+ Qua sự đối chiếu so sánh giữa lớp từ chỉ nghề nghiệp toàn dân và lớp
từ chỉ nghề nghiệp địa phơng Nghệ Tĩnh, qua sự so sánh những tên gọi khác nhau của các vùng trong địa phơng để thấy đợc sự phong phú về vốn từ và về cách liên tởng; từ đó để thấy cách t duy và tri nhận văn hoá của mỗi vùng là
Trang 6không giống nhau Cụ thể, đề tài giúp chúng ta thấy đợc lăng kính chủ quan và
sự phân cắt thực tại của con ngời trên mảnh đất này
IV Phơng pháp nghiên cứu.
Xuất phát từ mục đích, đối tợng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng những phơng pháp sau:
1 Phơng pháp điền dã, điều tra, phỏng vấn
Chúng tôi trực tiếp điều tra ở một số địa phơng có nghề cá lâu đời, chọn đối tợng để phỏng vấn là những ng dân cao tuổi có nhiều kinh nghiệm trong nghề, cũng nh những cơ sở sản xuất các sản phẩm về cá nổi tiếng …phỏng vấn về tên gọi của các loại sản phẩm và lí do đặt tên
4 Phơng pháp phân tích nghĩa
Qua phân loại, so sánh, đối chiếu, chúng tôi sẽ đi vào phân tích ngữ nghĩa một số từ cũng nh hình thức cấu tạo của chúng để thấy đợc thế giới thực tại đã đợc phản ánh qua lăng kính chủ quan của cộng đồng c dân làm nghề cá ở Nghệ Tĩnh nh thế nào
V Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; phần nội dung của luận văn gồm có 3 chơng Đó là:
Trang 7Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.
Chơng II: Đặc điểm vốn từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh Chơng III: Sắc thái văn hoá địa phơng Nghệ Tĩnh qua tên gọi và cách
gọi tên lớp từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh
Trang 8Nội dungChơng I
Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.
Con đờng hình thành ngôn ngữ dân tộc gắn liền với sự phát triển của lịch
sử xã hội Ngôn ngữ dân tộc là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định Thời đại hình thành thống nhất dân tộc, ngôn ngữ dân tộc cũng đợc thống nhất theo Tính thống nhất của tiếng Việt nằm trong qui luật chung của ngôn ngữ, cho nên dù ở thế kỷ nào, trên vùng đất nào thuộc nớc Việt Nam thống nhất thì ngôn ngữ đó vẫn là ngôn ngữ Việt
Tiếng Việt thống nhất trong sự đa dạng; điều đó có nghĩa là ở mặt biểu hiện, trong cácvùng địa lí dân c khác nhau, trên từng tầng lớp xã hội ngời dùng, bên cạnh một cái mã chung, tiếng Việt có những biểu hiện khác nhau
Ngôn ngữ địa phơng hay phơng ngữ vận động trong lòng ngôn ngữ dân tộc Việt; các phơng ngữ nh những mảnh đất màu mỡ, muôn màu muôn vẻ hình thành bức tranh ngôn ngữ toàn dân thống nhất phong phú đa sắc màu
Khi nói đến tính thống nhất và đa dạng của ngôn ngữ toàn dân (ở đây là tiếng Việt) cũng có nghĩa chúng ta thừa nhận sự tồn tại của phơng ngữ trong lòng ngôn ngữ dân tộc Do qui luật phát triển không đều trên các vùng lãnh thổ, do những điều kiện địa lí văn hoá xã hội khác nhau, do những biến đổi liên tục của ngôn ngữ cho nên phơng ngữ vẫn nằm trong lòng ngôn ngữ dân tộc
Nếu không có sự phân bố tách biệt về mặt địa lí dân c thì sẽ không có phơng ngữ, bởi sự ngăn cách về không gian địa lí làm cho giao tiếp giữa các
Trang 9vùng diễn ra khó khăn, không thờng xuyên, không liên tục vì thế đã tạo ra những thói quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau.
Nhng nguyên nhân sâu xa tạo nên phơng ngữ chính là do qui luật phát triển, biến đổi của ngôn ngữ Sự vận động nội tại của ngôn ngữ tạo nên sự khác biệt về cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng địa lí dân c Nơi thì sử dụng dạng thức mới của ngôn ngữ, nơi thì vẫn duy trì cách sử dụng cũ Dần dần đã tạo nên độ chênh trong các sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng, vì thế mà tạo nên sự khác nhau ít nhiều về ngôn ngữ giữa các vùng
Nói cách khác, nếu ngôn ngữ là một tập hợp những thói quen tập quán nói năng thì sự tác động từ bên trong cấu trúc hệ thống ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ liên tục biến đổi và sự biến đổi đó đợc thể hiện ở mặt hành chức, ở hoạt
động giao tiếp, đã làm thay đổi thói quen ngôn ngữ, tạo ra sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa các vùng, giữa các tầng lớp trong xã hội
Nh vậy, phơng ngữ là một biến thể của ngôn ngữ dân tộc trên một vùng
địa lý dân c hay tầng lớp xã hội nào đấy Những biến thể, hay những khác biệt
ấy lại đợc ngời ở địa phơng đó quen dùng Cho nên, tập hợp những từ ngữ có ít nhiều khác biệt với ngôn ngữ toàn dân trên các phơng diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) lại đợc ngời của địa phơng đó quen dùng thì gọi là phơng ngữ
Ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ vừa có tính thống nhất vừa có tính khác biệt; trong đó tính thống nhất đóng vai trò chủ đạo làm cơ sở cho sự thống nhất của ngôn ngữ quốc gia; tính khác biệt tạo nên “chất riêng”, nét độc
đáo của từng phơng ngữ, đồng thời là yếu tố tạo nên sự đa dạng cho ngôn ngữ quốc gia
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữ là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng; giữa cái bất biến thể và cái biến thể; giữa cái trừu tợng
và cái cụ thể
Ngôn ngữ toàn dân là thống nhất nhng trong biểu hiện lại rất đa dạng Tính đa dạng của ngôn ngữ biểu hiện ở những sự khác nhau trên các bình diện
Trang 10địa lí dân c, trên các tầng lớp xã hội khác nhau, trong các phong cách chức năng khác nhau.
Vậy, phơng ngữ là một biểu hiện của tính đa dạng ngôn ngữ đó
Xét theo bình diện địa lí dân c, tiếng Việt có nhiều vùng phơng ngữ khác nhau Trong đó phơng ngữ Nghệ Tĩnh là một trong những vùng còn bảo lu nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Sự khác biệt về ngữ âm, ngữ nghĩa giữa vốn từ phơng ngữ Nghệ Tĩnh với vốn từ ngôn ngữ toàn dân và vốn từ các phơng ngữ khác là khá rõ nét Vì thế việc nghiên cứu phơng ngữ Nghệ Tĩnh nói chung, từ nghề nghiệp trong phơng ngữ nói riêng có thể đóng góp phần cứ liệu cho việc nghiên cứu lịch sử và vốn từ tiếng Việt
2 Vốn từ ngôn ngữ toàn dân và vốn từ phơng ngữ.
Khi nói đến ngôn ngữ dân tộc, hay nói đến một phơng ngữ nào đó không thể không nói đến một bình diện vô cùng quan trọng của ngôn ngữ, đó là vốn từ
Vốn từ của một ngôn ngữ là một khối thống nhất toàn bộ từ, ngữ cố định của một ngôn ngữ, đợc tổ chức theo một qui luật nhất định, nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau
Vốn từ của một ngôn ngữ bao chứa trong nó nhiều lớp từ vựng khác nhau Nói cách khác, nếu vốn từ là một hệ thống thì trong vốn từ của ngôn ngữ toàn dân có nhiều tiểu hệ thống Mỗi tiểu hệ thống nh vậy cũng đợc xem là vốn
từ nếu xét theo môt tiêu chí, quan niệm nhất định Ví dụ nh xét về phạm vi sử dụng, ranh giới địa lí thì chúng ta có vốn từ toàn dân, vốn từ địa phơng (vốn từ phơng ngữ) Nếu xét theo tính chất xã hội, nghề nghiệp ta lại có vốn từ nghề nghiệp, vốn từ thuật ngữ khoa học.v.v
Trong vốn từ nói riêng, ngôn ngữ nói chung, từ là đơn vị hạt nhân của vốn từ, là đơn vị cơ bản trung tâm của ngôn ngữ; là công cụ hoạt động lời nói;
là phần cấu trúc cấu tạo lời nói Xét lời nói trên nhiều phơng diện khác nhau nh: chức năng hành chức; trong quan hệ phản ánh với thực tại; về cấu trúc cấu tạo thì ở ph… ơng diện nào từ cũng là đơn vị cơ bản nhất
Trang 11Trong ngôn ngữ, từ vừa là đơn vị thực tại, vừa là đơn vị tiềm ẩn Không
có một đơn vị nào trong ngôn ngữ lại có thể đảm trách đợc nhiều chức năng
nh từ Ngoài chức năng định danh là cơ bản, ở từ còn tiềm ẩn nhiều chức năng khác Trong cấu tạo, trong hoạt động lời nói từ có thể biến hoá khôn l… ờng với những mức độ khác nhau, có thể đóng vai trò yếu tố có chức năng cấu tạo tơng
tự nh hình vị, hoặc có thể cùng với ngữ điệu mà trở thành câu thực hiện chức năng thông báo
Nghiên cứu nghĩa của từ nói riêng, ngữ nghĩa của vốn từ nói chung dù với mục đích phơng hớng nào, có ý thức hay không có ý thức, ở cấp độ nào cũng liên quan đến từ Hiển nhiên việc nghiên cứu từ nói riêng, vốn từ nói chung cũng gặp nhiều khó khăn, vì từ trong phơng ngữ có những quan hệ chằng chéo đan xen, nó có thể vừa nằm trong vốn từ ngôn ngữ toàn dân, lại có thể nằm trong vốn từ phơng ngữ Vì vậy, có những từ và nhóm từ ta có thể xếp chúng vào nhóm này và cũng có thể xếp chúng vào nhóm kia
Nghĩa của mỗi từ là cụ thể nhng trong từng ngữ cảnh cụ thể lại khác nhau; nhiều khi trong sử dụng, từ xuất hiện những sắc thái nghĩa mới khác với
ý nghĩa truyền thống Hơn nữa khi nghiên cứu nghĩa của từ, ngữ nghĩa của vốn
từ ta sẽ thấy rất phức tạp Nghiên cứu từ nghề nghiệp trong phơng ngữ nói chung, ngời ta phải tiến hành đối chiếu từ trong vốn từ toàn dân và cả trong vốn từ phơng ngữ Do nhiều nguyên nhân mà ta thấy, sự tơng ứng về nghĩa của
từ trong phơng ngữ nói chung, từ chỉ nghề nói riêng với từ trong ngôn ngữ toàn dân theo từng cặp một ít có sự sóng đôi toàn vẹn; mức độ đồng nhất và phân li
về nghĩa giữa từ ngôn ngữ toàn dân với từ trong phơng ngữ khá phức tạp
Việc xem xét nghiên cứu vốn từ chỉ nghề của một phơng ngữ hay của một ngôn ngữ là việc vô cùng phức tạp vì từ nghề nghiệp trong phơng ngữ không chỉ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể và có sự khác biệt với ngôn ngữ toàn dân cũng nh các phơng ngữ khác về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và còn có thể là biến thể của từ trong phơng ngữ đó Sự biến
đổi của ngôn ngữ có tính lịch sử và các biến thể của ngôn ngữ chồng lớp lên
Trang 12nhau theo thời gian Từ nghề nghiệp nói riêng, phơng ngữ nói chung ngoài những cái chung, cơ bản mang tính thống nhất với ngôn ngữ toàn dân, còn có những nét dị biệt Chính những khác biệt, không trùng khớp ấy giúp chúng ta tìm hiểu kỹ hơn mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với vốn từ toàn dân và vốn từ
địa phơng Đây là mối quan hệ đa chiều về không gian và thời gian của qui luật phát triển biến đổi và tồn tại của ngôn ngữ Khi đối sánh ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữ trong đó có lớp từ nghề nghiệp, ta thấy sự khác biệt đầu tiên chính
là ngữ âm Sự khác biệt lớn thứ hai chính là ngữ nghĩa Vốn từ của phơng ngữ trong đó có vốn từ chỉ nghề với vốn từ của ngôn ngữ toàn dân, khác biệt nhau, trớc hết là do sự phát triển của lịch sử ngữ âm từ vựng ngữ nghĩa nói riêng, ngôn ngữ nói chung của tiếng Việt
Từ trong vốn từ vựng ngôn ngữ toàn dân hoặc từ trong vốn từ của các
ph-ơng ngữ trong đó có lớp từ chỉ nghề khác nhau có thể rất đa dạng với những mức độ phơng diện khác nhau Có thể đó là sự khác nhau hoàn toàn (không có quan hệ về âm và nghĩa) vì chúng có nguồn gốc, sự vay mợn, tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau Cũng có thể sự khác nhau giữa các từ trong từ vựng của phơng ngữ so với từ trong ngôn ngữ toàn dân chỉ là ở dung l-ợng ngữ nghĩa rộng hay hẹp, số lợng nghĩa nhiều hay ít
Vốn từ vựng của ngôn ngữ toàn dân với vốn từ vựng của phơng ngữ, ngoài cái mã chung giống nhau còn có những nét dị biệt; chính những nét khác biệt ấy đã thể hiện rõ bản sắc văn hoá của c dân vùng phơng ngữ Vốn từ ph-
ơng ngữ góp phần khu biệt địa phơng này với địa phơng khác trong một quốc gia
Việc nghiên cứu, chỉ ra mối quan hệ giữa vốn từ toàn dân với vốn từ
ph-ơng ngữ trong đó có lớp từ chỉ nghề giúp chúng ta hình dung đợc phần nào lịch
sử phát triển biến đổi của ngôn ngữ Vốn từ vựng phơng ngữ nói chung, từ chỉ nghề nói riêng góp phần vun đắp, xây dựng ngôn ngữ văn hoá ngày càng phát triển
Trang 133 Vốn từ nghề nghiệp trong phơng ngữ và trong vốn từ toàn dân.
3.1 Khái niệm “vốn từ nghề nghiệp”
3.1.1 Khái niệm “từ nghề nghiệp”.
Theo giáo s Đỗ Hữu Châu, “từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị
từ vựng đợc sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc(nghề thuốc, ngành văn th ).”[9, tr.234 ].…
Nh vậy, từ nghề nghiệp chỉ sinh ra và tồn tại trong quá trình sản xuất của nghề Trong quá trình hoạt động, từ ngữ nghề nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố
do hoạt động sản xuất của nghề qui định Nói cách khác, từ nghề nghiệp chỉ có
ý nghĩa trong môi trờng của nó
Nguyễn Văn Tu trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” cũng
đã so sánh “Những từ ngữ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ đợc chuyên dùng
để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết Từ nghề nghiệp còn khác thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh có nhiều sắc thái vui
đùa”[23,tr.126]
Khi so sánh từ nghề nghiệp với thuật ngữ khoa học thì Nguyễn Văn Tu
đã nhấn mạnh phơng thức truyền miệng của từ nghề nghiệp, và cũng chính
ph-ơng thức truyền miệng này mà từ nghề nghiệp mang tính khẩu ngữ rõ nét; tác giả còn đề cập đến tính chất gợi hình gợi cảm của từ nghề nghiệp Mặt khác, từ nghề nghiệp sản sinh là do yêu cầu của nghề, nh vậy nó cũng sẽ mất đi khi nghề đó không còn tồn tại Đó chính là tính lâm thời của từ nghề nghiệp Xét trên bình diện ngôn ngữ học, thì từ ngữ nghề nghiệp không có vốn ngôn ngữ riêng Khi một nghề nào đó ra đời, cần phải có từ ngữ để đặt tên cho những công cụ, sản phẩm, quá trình trong nghề Vốn từ đó, ng… ời ta lấy ngay trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phơng để lâm thời gọi tên cho các đối tợng trong nghề Do vậy, ý nghĩa của từ nghề nghiệp chỉ tồn tại trong bối cảnh của nghề nghiệp mà thôi
Trang 14Từ nghề nghiệp chỉ ra đời khi có một nghề mới ra đời; do nghề thủ công tồn tại và phát triển trong một phạm vi hẹp nên tính xã hội của từ nghề nghiệp
bị hạn chế Từ nghề nghiệp mang tính thực dụng rõ nét Cũng chính vì thế mà khả năng hoạt động của từ nghề nghiệp hạn chế, nó gần nh biệt lập trong phạm
vi hoạt động của nghề Tuy nhiên cũng có một số nghề truyền thống, phạm vi hoạt động rộng nh nghề trồng lúa, nghề cá thì tính biệt lập gần nh… không có
Do từ nghề nghiệp đợc lấy trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phơng nên tính địa phơng thể hiện rõ nét trên hình thức ngữ âm của từ, sau đó là ngữ pháp
và từ vựng ngữ nghĩa
Nh vậy, “từ nghề nghiệp là các từ ngữ đặc trng cho cho ngôn ngữ của các nhóm ngời thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó” [21,tr.389]
3.1.2 Khái niệm “vốn từ nghề nghiệp”
Nh chúng tôi đã trình bày (ở mục 1.2), vốn từ là toàn bộ những từ ngữ cố
định của một ngôn ngữ, đợc tổ chức theo những quan hệ nhất định, nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau
Vậy vốn từ nghề nghiệp là toàn bộ những từ ngữ của những ngời làm một nghề nào đấy trong xã hội dùng phục vụ cho hoạt động sản xuất hành nghề của nghề đó
3.2 Vốn từ nghề nghiệp trong phơng ngữ và trong vốn từ toàn dân
Từ toàn dân là lớp từ vựng cơ bản nhất, quan trọng nhất cuả mỗi ngôn ngữ; từ vựng toàn dân là cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ dân tộc, là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học Từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện t-ợng, những khái niệm quan trọng và cần thiết nhất trong đời sống Đa số các từ thuộc vốn từ toàn dân là những từ trung hoà về mặt phong cách
Quan hệ giữa từ nghề nghiệp và từ toàn dân là quan hệ giao thoa, đan xen trong qui luật phát triển vận động của ngôn ngữ Từ nghề nghiệp không có
từ đồng nghĩa tơng ứng trong ngôn ngữ toàn dân; nó là tên gọi duy nhất của hiện tợng thực tế Từ nghề nghiệp thờng đợc dùng trong khẩu ngữ của những
Trang 15ngời cùng nghề nghiệp, nó cũng đợc sử dụng trong vốn từ của ngôn ngữ văn học
Khi nói đến từ “đầu tút” không phải ai cũng hiểu đợc nếu ngời đó không sống trong làng nghề dệt vải.“Đầu tút” có nghĩa là đầu của một tấm vải, nơi bắt
đầu dệt những sợi đầu tiên Do thực hiện bằng thao tác thủ công nên bao giờ cũng cha đều sợi dù ngời dệt đã thạo nghề, vì thế mà tấm vải ở phía đầu tút bao giờ cũng tha và mỏng
Mua vải thì mua đầu giàn
Đừng mua đầu tút mà oan trự tiền (đồng tiền).
Câu ca dao trên chính là kinh nghiệm của các bà, các chị khi đi chợ mua vải
Sở dĩ có hiện tợng trên là do từ nghề nghiệp không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Từ nghề nghiệp có ý biểu vật cụ thể trong ngành nghề; nó là tên gọi duy nhất của nghề nghiệp trong thực tế Từ nghề nghiệp không đồng nhất với từ toàn dân nhng có một bộ phận từ nghề nghiệp có thể dễ dàng trở thành ngôn ngữ toàn dân, đó là khi những công cụ sản xuất, những khái niệm riêng của nghề đã trở nên phổ biến rộng rãi
Tuy rằng từ nghề nghiệp là lớp từ riêng của một nghề nhng lớp từ đó có thể đợc phổ biến rộng rãi trong xã hội phụ thuộc vào mức độ và đặc điểm của nghề Trong xã hội Việt nam, có những nghề đặc biệt, có tính chất hạn chế về phạm vi, khu vực hoạt động thì từ nghề nghiệp thuộc các nghề này có phạm vi hoạt động rất hạn chế Ví dụ: nghề đúc đồng, nghề sơn mài, nghề gốm, nghề làm giấy Lớp từ nghề nghiệp của những nghề này thì chỉ có ng… ời trong nghề mới hiểu đợc
Cũng nh thế, đối với những nghề có tính chất lâu đời, mức độ phổ biến rộng rãi nh nghề trồng lúa, nghề cá thì một bộ phận lớn những từ nghề nghiệp
đã trở thành ngôn ngữ toàn dân
Với một đất nớc thuộc nền văn minh lúa nớc nh Việt Nam, nơi mà tỷ lệ
c dân trồng lúa chiếm số đông, địa bàn dân c làm nghề lại phân bố rộng từ Bắc
Trang 16đến Nam, từ miền ngợc xuống miền xuôi nên có một số lợng đáng kể những từ thuộc nghề trồng lúa đã trở nên quen thuộc với mọi ngời và đã trở thành lớp từ toàn dân.
Chẳng hạn, những từ của nghề trồng lúa nh là: cuốc, cày, bừa, mạ, lúa, gặt, xay thóc, giã gạo…đã trở thành từ toàn dân; những từ này ngày nay không
hề xa lạ với những ngời làm ngành nghề khác trong xã hội, chúng đợc dùng một cách tự nhiên Đây cũng là một biểu hiện nói lên mối quan hệ khăng khít giữ vốn từ toàn dân và vốn từ nghề nghiệp
Tuy vậy, nghề nào cũng có lớp từ nghề nghiệp riêng, nhng mức độ phổ biến của các từ lại không nh nhau nên có những từ ngữ chỉ riêng ngời trong nghề mới hiểu và dùng Ví dụ ở trong từ nghề cá, ngoài những từ quá quen thuộc với mọi ngời nh: thuyền, lới, đánh cá, thả câu …là những từ rất xa lạ với
những ngời ngoài nghề nh: rùng, rẹo, rê, đáy Nh… vậy trong lớp từ nghề nghiệp có những từ đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân nhng cũng có những từ chỉ riêng ngời trong nghề mới hiểu
Nói một cách khác, từ nghề nghiệp là một trong những nơi cung cấp thêm vốn từ cho từ toàn dân
Bất cứ nghề nghiệp nào cũng nằm trong một khu vực địa lí nhất định, và
nó gắn liền với với phơng ngữ của khu vực đó Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp và phơng ngữ diễn ra tự nhiên trong đời sống hàng ngày Mặc dù không tách biệt khỏi phơng ngữ, song từ nghề nghiệp cũng không hoàn toàn trùng khít với từ phơng ngữ
Quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ phơng ngữ là quan hệ tác động qua lại, đan xen phức tạp Có những từ nghề nghiệp trùng với từ phơng ngữ, cũng
có những từ nghề nghiệp chỉ chịu ảnh hởng của cách cấu tạo từ phơng ngữ C dân của từng địa phơng có thể có những từ riêng để chỉ những đặc điểm riêng
về nghề Nh lớp từ chỉ nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh Chẳng hạn:
ló má, bắc má, toóc, cơn toóc Những từ này là những từ nghề nghiệp nh… ng lại mang đặc điểm phơng ngữ về âm và nghĩa Lại có những từ nghề nghiệp mà
Trang 17phạm vi sử dụng của chúng rất hẹp, chỉ có những ngời trong ngành nghề đó mới hiểu, thậm chí chỉ một vùng một làng nào đó mới hiểu: vè, que vè, cày vè…
Nh vậy, đặt trong mối quan hệ với phơng ngữ, ngôn ngữ toàn dân, từ nghề nghiệp vừa có những đặc điểm riêng nhng cũng vừa mang những đặc
điểm chung của lớp từ địa phơng và từ toàn dân Đi vào khảo sát lớp từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh trên cơ sở các khái niệm đa ra chúng tôi
sẽ chủ yếu miêu tả và đặt nó trong quan hệ với phơng ngữ và từ toàn dân để xét
3.3 Vốn từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh
3.3.1 Sơ lợc về nghề cá ở Nghệ Tĩnh
Nghệ Tĩnh là tên gọi chung cho một mảnh đất thuộc Bắc Trung Bộ, hiện nay là hai tỉnh : Nghệ An và Hà Tĩnh Và trong luận văn này chúng tôi dùng cụm từ Nghệ Tĩnh để chỉ một khu vực địa lý bao gồm hai tỉnh : Nghệ An, Hà Tĩnh
Nghệ Tĩnh, bắc giáp Thanh Hoá, nam giáp Quảng Bình, phía tây là nớc bạn Lào và phía đông là biển Cũng nh các tỉnh duyên hải miền Trung khác, Nghệ Tĩnh có một đờng bờ biển tơng đối dài
Về mặt địa hình của Nghệ Tĩnh hội đủ 3 yếu tố: rừng núi, đồng bằng và biển Ba yếu tố này hoà hợp lẫn nhau, bổ sung cho nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã hội, trong đó biển là một trong những thế mạnh quan trọng Với 230 km bờ biển, và một ng tròng đánh bắt rộng lớn thì biển là một tiềm năng tự nhiên to lớn cho sự phát triển của mảnh đất này
Hàng năm ng dân khai thác đợc hàng trăm ngàn tấn tôm cá và các loại hải sản khác C dân làm nghề biển tập trung đông nhất ở các xã ven biển, ven cửa sông T liệu trong luận văn này là do chúng tôi đã tiến hành khảo sát ở 6 huyện, những nơi có truyền thống và nổi tiếng về nghề cá ở Nghệ Tĩnh Đó là các huyện : Quỳnh Lu, Diễn Châu, Nghi Lộc (thuộc tỉnh Nghệ An), Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên (thuộc tỉnh Hà Tĩnh) Ngoài ra chúng tôi còn
Trang 18điền dã tìm hiểu từ ngữ chỉ nghề cá của c dân đánh cá nớc ngọt ở các làng nghề.
Tuy phải đối mặt thờng xuyên với thiên nhiên khắc nghiệt: nắng thì nắng
đến “bể trốc”, ma thì “lút mặt”, lại còn có cả gió Lào nh… ng con ngời Nghệ Tĩnh với truyền thống “chung lng đấu cật” đã đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, gắn
bó với nhau trong tình làng nghĩa nớc Khi cần thì xả thân vì nghĩa cả để gìn giữ quê hơng đất nớc
Biết bao nhiêu thế hệ ngời Nghệ đã qua nhng họ đã để lại cho mảnh đất này biết bao tài sản văn hoá tinh thần và văn hoá vật chất vô giá “Nớc chảy đá mòn”, thời gian đã làm biến mất cũng nh thay đổi rất nhiều giá trị nhng giá trị tinh thần của con ngời qua các thế hệ thì dờng nh là vĩnh cửu, không có thứ bụi thời gian nào có thể phủ lấp hay xoá nhoà đợc
Tiến hành “Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh” chúng tôi những muốn góp một phần sức lực bé nhỏ của mình trong việc gìn giữ tiếng nói của cha ông, tổ tiên và phần nào lí giải, hé mở cái mạch văn hoá của những con ngời mộc mạc, chịu thơng chịu khó nơi mảnh đất khắc nghiệt này
3.3.2 Vốn từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh
Nghề cá, một nghề đánh bắt thuỷ, hải sản bao gồm cá, tôm, cua, nghêu,
sò, ốc, hến phát triển khá sớm ở Nghệ Tĩnh Cũng nh… nhiều địa phơng khác trong cả nớc, nghề đánh bắt tôm cá không chỉ dành riêng cho nhũng ngời làm nghề cá, tức là những ngời chuyên nghề ng, mà cả những ngời làm nghề khác
nh làm nông nghiệp, lâm nghiệp cũng tham gia vào việc đánh bắt Cách đánh bắt cá tôm cũng vô cùng phong phú và đa dạng Từ đánh bắt bằng các phơng tiện máy móc hiện đại đến đánh bắt bằng phơng pháp thủ công nhất, sơ khai nhất: đánh bắt cá bằng tay Có thể tát cạn nớc ở trong vũng, trong ao, dùng tay bắt cá trong các hang hốc của ghềnh đá; cũng có thể đánh bắt cá ở đại dơng rộng lớn Có thể đánh bắt các loại nhỏ li ti nh con tép, con moi , song cũng có thể đánh bắt cả những con ngừ, con mập nặng hàng tạ Địa bàn đánh bắt của…
Trang 19những ngời làm nghề hết sức rộng lớn, ở đâu có nớc thì ở đó có cá: Cá sông, cá
hồ, cá biển, cá khe, cá suối Hàng trăm loại cá tôm với hàng trăm tên gọi,…hàng trăm cách chế biến, hàng trăm món ăn khác nhau nên việc tìm kiếm…một cách đầy đủ các từ có liên quan là việc vô cùng khó khăn, nếu nh không muốn nói là không thể Đó là cha kể đến việc dù ở trong cùng một phơng ngữ nhng một đối tợng lại có rất nhiều tên gọi khác nhau Ví dụ nh: Cùng là con cá bâu có vùng gọi là cá ngật ngáng nhng có vùng lại gọi là cá cạch cạch
Điều này chứng tỏ rằng, việc tìm kiếm và khảo sát tất cả những từ liên quan đến nghề cá là điều không dễ; chúng tôi chỉ cố gắng tìm kiếm và khảo sát những từ ngữ mang tính thông dụng thuộc phơng ngữ Nghệ Tĩnh
Phơng pháp chủ yếu của chúng tôi là “tai nghe, mắt thấy”, tuy vậy, có nhiều đối tợng lại đợc tiếp cận một cách gián tiếp qua sự miêu tả cuả nhân dân nên rất khó để xác định độ chính xác Vì vậy, đây chỉ là những kết quả bớc
đầu, cần phải có thời gian và sự hỗ trợ nhiều hơn nữa mới hi vọng tập hợp, miêu tả từ chỉ nghề cá ở Nghệ Tĩnh chính xác và đầy đủ
Sau đây là kết quả khảo sát bớc đầu về vốn từ vựng chỉ nghề cá trong
ph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh
Tổng số từ điều tra thống kê đợc là: 570 từ
Trong đó số từ dùng gọi tên các loại cá là 388 từ Bao gồm từ chỉ tên các loại cá sông, cá biển, tôm, cua, mực Số lợng từ nh trên, theo chúng tôi, cha nhiều nh thực tế các loại cá tồn tại trong sông, biển, ao, hồ Tuy nhiên, số l… -ợng từ mà chúng tôi điều tra đợc đã phản ánh khá đầy đủ các loại cá phổ biến, các loại cá có giá trị kinh tế, các loại cá phục vụ đời sống hàng ngày cũng nh xuất khẩu thu ngoại tệ
Trong hàng loạt những từ chỉ nghề cá liên quan mà ai cũng biết nh cá thu, cá rô…thì cũng có những loại cá không phải ai cũng biết nh cá cu cò, cá triệng…
Số từ chỉ tên các phơng tiện, dụng cụ đánh bắt, các quá trình, hiện tợng liên quan là 182 từ Số l… ợng từ này theo chúng tôi là còn rất ít Tuy nhiên đối
Trang 20tợng mà chúng tôi muốn phản ánh ở đây là đối tợng có tính chất truyền thống
Ví dụ, khi miêu tả các phơng tiện di chuyển trên mặt nớc, chúng tôi chỉ miêu tả thuyền bè truyền thống, không đi vào điều tra, miêu tả cấu tạo tàu thuyền hiện đại
Việc tìm hiểu, nghiên cứu vốn từ vựng chỉ nghề cá trong phơng ngữ giúp chúng ta hiểu thêm về vốn ngôn ngữ toàn dân, đồng thời hiểu thêm về đặc trng tâm lí, bản sắc văn hoá của ngời Việt Những từ chỉ nghề cá trong ngôn ngữ không chỉ là những kí hiệu ngôn ngữ, cấu trúc ngôn ngữ đơn thuần nữa mà khi các đơn vị từ vựng ấy trở thành một thành tố trong ngôn ngữ để biểu hiện văn hoá thì nó là nơi lu giữ những yếu tố đặc trng nhất của văn hoá dân tộc Từ việc nhìn khái quát chung về vốn từ vựng chỉ nghề cá trong phơng ngữ, chúng ta có cơ sở để định hớng nghiên cứu về vốn từ vựng chỉ nghề cá, thấy đợc mối quan
hệ giữa vốn từ vựng chỉ nghề cá trong phơng ngữ với vốn từ vựng chỉ nghề cá trong ngôn ngữ toàn dân, về đặc điểm cấu tạo–ngữ nghĩa, cách thức định danh, gọi tên của lớp từ này
Trang 21không có một bộ phận nào thuộc văn hoá của một cộng đồng ngời cụ thể lại
đ-ợc nghiên cứu tách rời khỏi các biểu tợng ngôn ngữ trong hoạt động của chúng
Trong thực tế hoạt động, ngôn ngữ chi phối lại cơ chế, kiến trúc văn hoá trên nhiều mặt và thông qua nhiều cấp độ phức tạp
Từ nghề nghiệp là một thành phần trong vốn từ vựng của ngôn ngữ, nó cũng mang trong mình chức năng phản ánh thực tại khách quan (thế giới khách quan) Thực tại khi đợc phản ánh vào trong ngôn ngữ, trong ý nghĩa của từ là
đã đợc nhìn nhận qua lăng kính chủ quan của con ngời, cấu trúc hoá bởi ngôn ngữ con ngời Cho nên qua phân tích từ ngữ chúng ta không những biết từ gọi cái gì mà còn biết cách gọi tên của từ nh thế nào
Đi vào khảo sát lớp từ nghề nghiệp chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi chú trọng tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm cấu tạo của chúng, qua đó thấy đợc độ phong phú từ vựng, tính đa dạng về thành phần số l-ợng từ cũng nh nét độc đáo trong cách gọi tên của từ nghề nghiệp trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh
đánh bắt; các quá trình hiện tọng liên quan Trong đó, lớp từ chỉ đối tợng đánh bắt chiếm tới 68% tổng số từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh Số còn lại thuộc về các mảng hiện thực phản ánh khác
Nh vậy, có thể thấy từ chỉ nghề có nội dung phản ánh rất hẹp Hay nói cách khác, các nội dung, các mảng hiện thực mà từ chỉ nghề phản ánh là những
sự vật, quá trình, hoạt động liên quan và gắn bó trực tiếp với nghề nghiệp mà từ
Trang 22phản ánh Hầu nh không có từ chỉ thái độ tình cảm nên tính chất định danh thể hiện rất rõ trong từ nghề nghiệp, từ nghề nghiệp không mang sắc thái biểu cảm.
Mặc dù những nội dung phản ánh rất hẹp song với số lợng từ chỉ nghề đã thu thập đợc cho chúng ta thấy tính chất đa dạng, phong phú của từ chỉ nghề, nói cách khác cho chúng ta thấy khả năng khái quát hiện thực khách quan của
bộ phận dân c trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh Ví dụ tiêu biểu nhất, cùng phản
ánh một bộ phận điều khiển của chiếc nốc gỗ, c dân Nghệ Tĩnh đã có tới bốn tên gọi khác nhau: là lái, tà lái, trèo lái, chèo lái Trong đó có thể chia làm hai
cặp từ biến âm là lái-tà lái và trèo lái-chèo lái.
Nội dung phản ánh của từ chỉ nghề rất hẹp, nhng nó lại có một số lợng
từ lớn; điều đó chứng tỏ rằng nghề cá đã có một lịch sử lâu đời và có vai trò quan trọng trong đời sống c dân Nghệ Tĩnh Ngoài những từ chỉ đối tợng đánh bắt tơng đối cố định thì những từ chỉ kinh nghiệm, thao tác đánh bắt, sản phẩm
đánh bắt, hay phơng tiện, công cụ đánh bắt luôn luôn đợc bổ sung Và cứ thế,
số lợng từ mới đã không ngừng tăng lên, nhiều thêm theo thời gian
2.Vốn từ vựng của nghề cá ở Nghệ Tĩnh xét về ph– ơng diện cấu tạo.
Trong số lợng 570 đơn vị từ ngữ mà chúng tôi bớc đầu thu thập đợc, số
từ đơn chiếm 10,7 %( 61 từ) trong bảng từ vựng chỉ nghề cá của phơng ngữ Nghệ Tĩnh Số từ còn lại là từ ghép chiếm số lợng lớn Trong đó kiểu ghép chính- phụ (ghép phân nghĩa) chiếm số lợng cao hơn; kiểu ghép đẳng lập (ghép hợp nghĩa) có số lợng từ ít hơn
2.1 Từ đơn
Số lợng các từ đơn trong từ vựng chỉ nghề cá ở Nghệ Tĩnh tuy ít ( chiếm 10,7%) nhng nó có mặt hầu hết ở các nội dung phản ánh hiện thực Đó là những từ chỉ đối tợng đánh bắt của nghề nh: dam, rạm, quác, moi, tép…Đó là
những từ chỉ phơng tiện dụng cụ đánh bắt, sản xuất nh: nốc, thùng, phồm, náo,
lù, guốc…Đó còn là những từ chỉ thao tác đánh bắt nh: trặc, vạt, nậu…
Trang 23Tóm lại, số lợng từ đơn trong từ vựng chỉ nghề cá ở Nghệ Tĩnh ít Đại bộ phận các từ đơn chỉ nghề cá trong ngôn ngữ là những từ đợc dùng rộng rãi quen thuộc với c dân làm nghề cá ở Nghệ Tĩnh nên có thể xem đó là từ phơng ngữ Nghệ Tĩnh.
điểm của nghề Trong khi đó số từ ghép phân nghĩa thu thập đợc là 501 từ Những từ ghép phân nghĩa ở đây cũng không phải là những từ quen thuộc với mọi ngời nh: Trèo lái, ép khẩu, sần sạp, là lái, tà lái, hậu đạo.
Theo quan điểm của giáo s Hồ Lê và các nhà nghiên cứu về cấu tạo từ tiếng Việt thì cấu trúc từ ghép chính phụ trong tiếng Việt có rất nhiều kiểu nh:
Khi đối chiếu những kiểu ghép trên, chúng tôi thấy rằng: hầu hết những
từ ghép trong vốn từ chỉ nghề cá mà chúng tôi điều tra đợc là những từ ghép chính phụ (ghép phân nghĩa) có kết cấu dạng danh từ + danh từ và danh từ + tính từ Đặc biệt dạng ghép danh từ + tính từ rất phổ biến Chẳng hạn:
- Từ ghép danh + danh:
Cá + bòCua + bể
Trang 24Tôm + sắtNốc + vạn
- Từ ghép danh + tính Tôm + bạc
Nốc + sángNốc + nậyCá thèn + đỏTrong những từ ghép chính phụ vừa nói ở trên, ở thành phần phụ có loại
có lí do và có loại không có lí do (từ ghép võ đoán) Loại từ ghép có lý do, các yếu tố cấu tạo từ có thể giải thích đợc Ví dụ:
Cá bò khờ : Cá bò, bơi chậm, lại ăn nổi trên mặt nớc, rất dễ bắt nên gọi là khờ (khờ khạo)
Trang 25Số còn lại là loại từ ghép có 2 âm tiết.
Dù 2, 3 hay 4 âm tiết thì những từ ghép này có dạng cấu tạo giống nh một cụm danh từ Sau từ trung tâm có thể là danh từ chỉ loại hoặc một danh từ, một động từ, một tính từ hạn định chỉ tính chất, đặc điểm của đối t… ợng đợc biểu hiện
đối tợng đợc đề cập, không dừng lại ở việc gọi tên một cách chung chung
Nói cách khác, vai trò tạo nên nghĩa cụ thể chính do yếu tố phụ; đây cũng chính là yếu tố thể hiện cách nhìn nhận, cách phân cách, phản ánh hiện thực của chủ nhân sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ
Ví dụ: riêng từ chỉ phơng tiện “nốc” xét từ ghép phân nghĩa chúng tôi thấy có những trờng hợp sau: 1 Nốc câu (thuyền dùng đi câu mực) 2 Nốc dạ cào
(thuyền dùng lới dạ, đánh cá xa bờ) 3 Nốc đèn (thuyền dùng đèn, đánh cá
đêm) 4 Nốc đáy (thuyền của ngời đánh cá sông) 5 Nốc góc (thuyền neo góc
của thuyền lớn đánh cá đèn) 6 Nốc gỗ (thuyền làm bằng gỗ) 7 Nốc nan
Trang 26(thuyền làm bằng nan) 8 Nốc nậy (thuyền lớn) 9 Nốc nghề (thuyền dùng làm
nghề) 10 Nốc nụ (thuyền dùng treo đen khi đánh cá đêm) 11 Nốc rẹo
(thuyền đánh cá bằng lới rẹo) 12 Nốc rê (đánh cá bằng lới rê) 13 Nốc rùng
(thuyền đánh cá bằng lới rùng) 14 Nốc sáng (nốc nụ) 15 Nốc thúng (thuyền
Nếu gọi A là yếu tố có nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân
Trang 27Ví dụ: Dạ ruốc, ruốc hôi, lái gớc, nốc nác …
Qua khảo sát chúng tôi thấy số lợng từ ghép hợp nghĩa ít Đặc biệt không có từ láy mà chỉ có từ ghép có yếu tố phụ là láy nh: cá trác trác, cá trao trao, cá bâu bâu, cá rù rì, cá ngật ngàng, cá cạch cạch, cá rèng rèng, cá rồng rồng, cá mụ mị….Lý do chính của đặc điểm này là từ chỉ nghề là loại từ trực
tiếp phục vụ cho công việc sản xuất nên tính cụ thể xác thực trong ngôn ngữ là một yêu cầu u tiên của việc đặt tên gọi Đặc điểm công việc sản xuất vốn yêu cầu tên gọi mang tính cụ thể, rạch ròi cao
Trang 28Đối chiếu kết quả khảo sát từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh với các từ thu thập đợc trong cuốn Từ điển tiếng Việt cùng phản ánh nghề
nghiệp này, chúng tôi thấy, xét tên gọi theo phạm vi phản ánh nào cũng thấy số lợng từ trong phơng ngữ bao giờ cũng phong phú hơn Điều đó cho thấy hoạt
động giao tiếp hàng ngày diễn ra trong thực tế xã hội vô cùng đa dạng, muôn màu muôn vẻ, trong khi đó vốn từ thu thập đợc trong từ điển chỉ phản ánh đợc
bộ phận từ vựng dùng phổ biến trong xã hội vì thế bộ phận từ vựng nghề nghiệp có mặt trong từ điển chiếm một tỷ lệ vô cùng nhỏ bé Để thấy hết bức tranh ngôn ngữ xã hội phong phú, đa dạng, cần phải có thêm các cuốn từ điển phơng ngữ, từ điển nghề nghiệp…
Mặt khác, độ phong phú từ vựng của các từ chỉ nghề trong phơng ngữ
nh vậy đã phản ánh lối t duy cụ thể, tỷ mỉ của ngời lao động làm nghề cá ở Nghệ Tĩnh; nói lên mối quan hệ sâu đậm của ngời dân nơi đây với nghề truyền thống của cha ông tổ tiên trên mảnh đất này Hiện thực đợc phân cách thành những mảnh, những đoạn nhỏ cụ thể nh vậy đã làm cho tên gọi phong phú,
điều đó cũng phản ánh dấu ấn văn hoá của ngời xứ Nghệ
2 Nguồn gốc thành phần các loại từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ
Tĩnh.
Nghiên cứu nguồn gốc từ chỉ nghề tức là nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ (cụ thể ở đây là từ ngữ nghề nghiệp) với xã hội Tìm hiểu nghề cá và từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi thấy rằng, đại đa số các từ ngữ đều ra đời từ lúc khởi nguyên của nghề; trong qua trình vận động, từ chỉ nghề có hai xu hớng sau đây xảy ra:
Thứ nhất, xu hớng xuất hiện thêm một số từ ngữ mới bổ sung vào vốn từ ngữ có sẵn của nghề Xu hớng này xảy ra ở tất cả các loại đối tợng đợc gọi tên, nhng nhiều nhất là ở loại đối tợng chỉ dụng cụ sản phẩm Cơ sở của xu hớng
Trang 29này là tính đa dạng hoá sản phẩm theo thời gian, do sự phát triển nhu cầu tiêu dùng của xã hội, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, mở rộng quan hệ kinh tế…
Thứ hai, xu hớng triệt tiêu hoá một số từ ngữ Cơ sở của xu hớng này là
do sự phát triển của nhận thức xã hội và sự phát triển của khoa học kĩ thuật
Xu hớng này không phổ biến trong từ chỉ nghề cá ở Nghệ Tĩnh Do những đặc điểm riêng tự nhiên và xã hội, hiện nay thì phơng ngữ Nghệ Tĩnh vẫn là khu vực bảo lu nhiều vốn từ cổ; mặt khác, do kinh tế không phát triển,
sự tiếp cận với khoa học công nghệ còn ít nên nghề cá ở Nghệ Tĩnh vẫn cha phát triển theo hớng chuyên nghiệp và hiện đại, mà vẫn còn thủ công Hơn nữa trong quá trình tiến hành khảo sát, chúng tôi chỉ chú trọng tìm hiểu những đối tợng, công cụ có tính chất truyền thống
Nhìn chung, các từ ngữ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh đều tồn tại vững bền qua thời gian Nghĩa là, tên gọi của một đối tợng nào đó từ khi ra
đời đến nay vẫn đợc bảo tồn
Xét về nguồn gốc thành phần cấu tạo của các từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh chúng tôi nhận thấy từ chỉ nghề cá có thành phần cấu tạo rất đa dạng
2.1 Từ chỉ nghề đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân
Lớp từ chỉ nghề trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh bao gồm một số lợng từ
đang đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân, đồng thời trong lao động sản xuất những ngời Nghệ làm nghề này cũng thờng xuyên dùng Trong lớp từ chỉ nghề cá, có một số từ đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân nh: cá cơm, cá thu, cá chim, nớc mắm cốt, …
Có thể nói rằng, đây là những từ chỉ nghề nghiệp đã gia nhập, bổ sung vào vốn từ toàn dân Do đặc điểm của nghề cá là một nghề truyền thống của c dân Việt; hơn nữa nghề cá cũng là nghề chính của c dân suốt một dải bờ biển
Trang 30dài trên 3200 km Phạm vi giao thoa, đan xen của từ nghề nghiệp với từ toàn dân là không nhỏ.
Theo chúng tôi, nguồn gốc của những từ vừa là từ chỉ nghề cá vừa là từ trong ngôn ngữ toàn dân đợc hiểu nh sau:
Thứ nhất, đời sống xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu có một vốn từ
t-ơng ứng với bức tranh xã hội trở thành nhu cầu thờng xuyên Bởi có nh thế thì con ngời mới có thể thể hiện đợc cả chiều rộng lẫn chiều sâu của không gian cuộc sống Vốn từ nghề nghiệp cũng nh thuật ngữ hay phơng ngữ đã “toàn dân hoá” theo cách thức này Ban đầu, có thể có những khó khăn trở ngại trong quá trình gia nhập của từ chỉ nghề vào vốn từ toàn dân, nhng cùng với thời gian và những nhu cầu của chính cuộc sống, những từ chỉ nghề đợc sử dụng rộng rãi và trở thành từ toàn dân nh thế
Thứ hai, do đặc điểm của nghề cá ở Việt Nam Việt Nam có một bờ biển dài hơn 3200 km, nghề cá trở thành một trong những nghề truyền thống lâu
đời Với địa hình trải dài và hẹp ngang, bộ phận dân c làm nghề cá phân bố từ
đầu đến cuối đất nớc; chiếm số lợng đông so với c dân làm nghề khác Hơn nữa, nghề cá không phải là một nghề có tính chất “độc quyền” của c dân làm nghề mà c dân bất cứ nghề nào cũng có thể đánh bắt cá; c dân nông nghiệp
đánh cá, c dân lâm nghiệp cũng có thể đánh cá bởi vì ở đâu có n… ớc là ở đó có cá C dân làm nghề đông nên mật độ sử dụng từ của nghề cao, thờng xuyên, dẫn đến sự gia nhập của từ chỉ nghề cá vào vốn từ toàn dân trở nên dễ dàng hơn
Những từ chỉ nghề đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân có phạm vi sử dụng rất lớn Những từ chỉ nghề, cụ thể hơn là những từ chỉ nghề cá đợc sử dụng trong ngôn ngữ toàn dân, đã đóng góp không nhỏ vào vốn từ toàn dân Những từ chỉ nghề đã làm vốn từ toàn dân trở nên phong phú và đa dạng, bức tranh xã hội về mặt ngôn ngữ trở nên sinh động và rõ nét hơn
2.2 Từ có nguồn gốc từ từ vay mợn
Trang 31Quá trình giao lu văn hoá, kinh tế, khoa học kĩ thuật giữa quốc gia này…với quốc gia khác dẫn đến sự gia nhập của một số đơn vị từ ngữ nớc ngoài vào
hệ thống ngôn ngữ bản địa Đối với nớc ta, qua quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, từ ngữ nớc ngoài đã xâm nhập vào vốn từ ngữ Tiếng Việt một số lợng lớn Sự xuất hiện của từ ngữ ngoại lai trong ngôn ngữ dân tộc làm phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc, tăng cờng khả năng diễn đạt của tiếng Việt trên mọi lĩnh vực Sự xâm nhập của từ ngữ nứoc ngoài vào tiếng Việt xảy ra trên mọi bình diện của ngôn ngữ Đặc biệt là hệ thống thuật ngữ khoa học Riêng đối với từ ngữ nghề nghiệp, từ ngữ nớc ngoài cũng xâm nhập vào và ngày càng có
xu hớng nhiều thêm.Ví dụ: trong nghề mộc có giờng Mô- đéc, ghế Sô- fa
Trong vốn từ chỉ nghề cá ở Nghệ Tĩnh, số lợng từ vay mợn của nớc ngoài không nhiều, theo nh kết quả khảo sát của chúng tôi thì có 1 từ (lái pô-li) trên tổng số 570 từ; nh vậy từ vay mợn chiếm cha đầy 0,2%- một tỷ lệ rất nhỏ
so với từ bản địa Tuy nhiên, số lợng từ mà luận văn khảo sát cha phải đã đầy
đủ nh số lợng từ phản ánh trong thực tế nên để có một kết qủa thật chuẩn xác cần phải có những công trình nghiên cứu thật sâu, thật qui mô đối với mảng đề tài này
Nguồn gốc của từ ngoại lai trong từ chỉ nghề cá đợc hiểu nh sau: trong quá trình phát triển của nghề, có nhiều dụng cụ, sản phẩm mới ra đời cần đợc gọi tên Nếu những dụng cụ, sản phẩm đó có nguồn gốc từ nớc ngoài thì những
từ ngữ gọi tên những dụng cụ, sản phẩm đó dễ dàng đợc vay mợn của từ ngữ
n-ớc ngoài Chẳng hạn, lái pô-li là một loại lới đợc làm từ chất liệu pô-li me, với
đặc điểm là sợi lới và mắt lới rất nhỏ, đợc dùng để đánh bắt thuỷ hải sản loại nhỏ Gọi lái pô-li để phân biệt với lái cớc (sự phân biệt về chất liệu sản phẩm) Nếu chúng tôi khảo sát cả những phơng tiện, dụng cụ đánh bắt, sản xuất hiện
đại thì chắc chắn số lợng từ vay mợn của nớc ngoài không dừng lại ở con số này Bởi vì, với những phơng tiện, dụng cụ đánh bắt hiện đại thì rất khó có ngôn ngữ tơng ứng trong tiếng Việt nên việc vay mợn từ để diễn đạt là điều hiển nhiên
Trang 322.3 Từ chỉ nghề đợc dùng trong phơng ngữ.
Trong vốn từ chỉ nghề cá ở phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi nhận thấy
có một số lợng không nhỏ là những từ vừa là từ chỉ nghề cá, vừa là từ phơng ngữ Những từ này đợc dùng nhiều ở địa bàn c dân Nghệ Tĩnh và có những nét khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân, mang sắc thái riêng của vùng phơng ngữ Nghệ Tĩnh, đó là những từ nh: nác trở, nác rặc, trặc, vạt … Nếu không đặt những từ ngữ này vào phạm vi từ nghề nghiệp thì chúng là những từ địa phơng chính hiệu; nói cách khác chính từ chỉ nghề cá đã mợn những từ này trong vốn
từ phơng ngữ Hoặc ngợc lại, vốn từ là từ chỉ nghề cá, do phạm vi sử dụng ngày càng mở rộng, ngời ngoài nghề ở Nghệ Tĩnh đều hiểu và dùng, qua thời gian cũng trở thành từ phơng ngữ
Theo chúng tôi, nguồn gốc của những từ vừa là từ chỉ nghề cá vừa là từ phơng ngữ đợc hiểu:
Thứ nhất, sự vật hiện tợng đợc phản ánh vào ngôn ngữ bằng nhiều phơng thức khác nhau Mức độ khái quát, phạm vi chia cắt hiện thực hoàn toàn không giống nhau giữa các ngôn ngữ Cũng nh với c dân nghề cá ở những phơng ngữ khác nhau, tuỳ từng sự vật, hiện tợng, hình thái cụ thể mà các phơng ngữ lại sử dụng các phơng tiện từ vựng và chọn lựa các đặc trng chính của các sự vật khác nhau để gọi tên vì thế mà tạo thành những nét riêng nếu xét trên góc độ định danh
Thứ hai, phơng ngữ Nghệ Tĩnh đợc hình thành trên cơ sở hình thành vùng phơng ngữ Trung, vùng phơng ngữ do ngôn ngữ chung Việt Mờng việt hoá mà thành [7,tr.141] Chịu ảnh hởng của những điều kiện lịch sử, địa lí nhất
định, cùng với những biến đổi của ngôn ngữ qua thời gian, nên qua thực tế lao
động, c dân nghề cá ở vùng phơng ngữ này đã tạo đợc nhiều từ chỉ nghề cá có những nét khác biệt so với từ chỉ nghề cá ở những vùng phơng ngữ khác Đó cũng là sự phản ánh qui luật vận động và tiếp xúc ngôn ngữ ở các vùng phơng ngữ
Trang 33Do đó, trong vốn từ chỉ nghề cá đã có một số lợng từ trở thành từ phơng ngữ, và ngợc lại có những từ phơng ngữ đã đợc sử dụng trong quá trình thao tác, sản xuất của nghề.
2.4 Từ riêng của nghề
Mỗi lớp từ chỉ nghề lại có một bộ phận từ riêng của nó, những từ này là những từ mà chỉ có những ngời trong nghề mới hiểu và sử dụng Những ngời không làm nghề sẽ không hiểu đợc những từ đó nhằm diễn đạt cái gì, tức không nắm đợc mã chung của nó
Nh mọi lớp từ chỉ nghề khác, từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh cũng có một bộ phận từ riêng nh thế Theo khảo sát của chúng tôi thì có 27 từ riêng, chiếm 4,9% tổng vốn từ chỉ nghề cá ở Nghệ Tĩnh Tỷ lệ những từ riêng của nghề thoạt nhìn là ít, nhng chúng ta biết rằng có đến 68% là từ chỉ đối tợng
đánh bắt, 32% còn lại là những từ chỉ phơng tiện, dụng cụ, thao tác liên quan.…Những từ riêng của nghề lại là những từ nằm trong phạm vi này, tức là những
từ chỉ phơng tiện, dụng cụ, thao tác Nếu xét tỷ lệ của những từ riêng của…nghề trong tơng ứng với nhóm từ chỉ dụng cụ, phơng tiện, thao tác và các quá…trình, hiện tợng liên quan thì chúng ta đợc một kết quả cao hơn, tỷ lệ là 16% (trừ vốn từ chỉ đối tợng đánh bắt)
Đó là những từ nh: am (dụng cụ đựng cá muối nớc mắm, hình dáng
giống cái vại), bô (gáo để rót nớc mắm), bê (vật đúc bằng chì, dài chừng 15
phân, có 6 chĩa nhọn, dùng làm lỡi câu), dép (bộ phận gắn dới dạ ốc, dùng để
cào Còn đợc gọi là guốc), dừng (thanh gỗ phân chia thuyền thành các khoang), luồi (sào dùng để chống thuyền khi ra vào bến của thuyền đi biển), nạp (nẹp
thuyền), nậu (hoạt động cuối cùng trong việc đánh bắt cá biển (Thả lới, kéo
khép vây lới vào bờ rồi nậu)…
Những từ ngữ thuộc từ riêng của nghề là những từ mà chỉ có ngời trong nghề mới biết và sử dụng Về mặt hình thức, những từ ngữ này không có gì khác biệt với từ ngữ toàn dân nhng về mặt ngữ nghĩa thì nó hoàn toàn khác biệt Ví dụ: Bô trong Từ điển tiếng Việt có nghĩa là: “1 Cụ già 2.Đồ dùng
Trang 34giống chậu nhỏ, có nắp đậy và quai cầm, thờng làm bằng sắt tráng men hoặc nhựa, để đại tiện, tiểu tiện”.[18,tr.74].
Bô trong từ chỉ nghề cá ở Nghệ Tĩnh là từ dùng để chỉ dụng cụ múc nớc
mắm (cái gáo múc nớc mắm) Nh vậy, từ bô trong vốn từ chỉ nghề cá ở Nghệ
Tĩnh có nét nghĩa gần nét nghĩa thứ hai của từ bô trong vốn từ toàn dân Và từ bô này đợc sử dụng trong phạm vi của những nguòi làm nghề đánh cá, ra khỏi
khu vực này, từ bô lại trở về ý nghĩa nh trong vốn từ toàn dân.
Tơng tự nh từ bô là từ dép (có nơi gọi là guốc) Trong vốn từ toàn dân,
dép là “đồ dùng để mang ỏ bàn chân, thờng bằng da, nhựa, thờng có đế và quai”[18,tr.245] Trong vốn từ chỉ nghề cá, dép lại là một vật tơng tự nh cái cào
Thứ hai, những c dân làm nghề đã thực sự sáng tạo nên một số lợng những từ mới, không mợn vỏ ngữ âm của từ trong vốn từ toàn dân Đây là những từ hoàn toàn mới, tính võ đoán cao Khi nghe những từ này, những ngời ngoài nghề sẽ không hiểu vì không có khái niệm tơng ứng Ví dụ: phồm, nậu, luồi, thẹo… Những c dân không làm nghề làm sao có thể biết phồm là từ chỉ
thùng đựng mắm, muối mắm; nậu là chỉ thao tác cuối cùng của quá trình đánh
cá biển; luồi là từ chỉ cái sào chống thuyền; thẹo là từ chỉ một lỡi câu trong
chùm câu 6 lỡi
Trang 35Tóm lại, vốn từ riêng của nghề càng nhiều, càng phong phú thì khả năng
đóng góp vào vốn từ toàn dân của từ chỉ nghề càng lớn Tuy nhiên, vốn từ riêng của nghề lớn lại chứng tỏ điều kiện kinh tế–xã hội của khu vực đó cha phát triển, và nghề nghiệp đó cũng cha phát triển theo hớng mở (tức là hội nhập), vẫn bó gọn trong tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún …
Xét về mặt ngôn ngữ thì việc bảo lu một số lợng từ riêng của nghề đã thực sự đóng góp vào sự phong phú, đa dạng của vốn từ toàn dân; mặt khác, đó cũng chính là biểu hiện sự khác biệt, độc đáo của từ chỉ nghề trong phơng ngữ
và trong vốn từ toàn dân Đây cũng là một gợi ý cho một hớng mới trong nghiên cứu từ chỉ nghề (từ nghề nghiệp) trong phơng ngữ và trong vốn từ toàn dân Nếu có điều kiện nghiên cứu thêm, chúng tôi tin rằng đây sẽ là một hớng
đi rất thú vị
Chơng III
Sắc thái văn hoá địa phơng Nghệ Tĩnh Qua tên gọi và cách gọi tên từ chỉ nghề cá.
1 Ngôn ngữ và sự tri nhận qua phản ánh (tên gọi) của từ.
F de Saussure nói rằng: “ Nếu ngôn ngữ không cung cấp đợc nhiều tài liệu chính xác và chân thật về những phong tục và thiết chế của dân tộc sử dụng nó thì ít nhất nó cho biết những đặc tính tâm lí của tập đoàn xã hội trong
đó nó lu hành không ? Một ý kiến đợc khá nhiều ngời chấp nhận cho rằng: một ngôn ngữ phản ánh đặc tính tâm lí của một dân tộc” [1,tr 123]
Trang 36Ngôn ngữ là một bộ phận không thể tách rời của kết cấu văn hoá Sự liên quan hữu cơ giữa ngôn ngữ và các khía cạnh của văn hoá gần gũi tới mức không còn một bộ phận nào thuộc văn hoá của một cộng đồng ngời cụ thể lại
đợc nghiên cứu tách rời khỏi các biểu tợng ngôn ngữ trong hoạt động của chúng
Trên nhiều cấp độ, ngôn ngữ là tiền đề cho đối tợng văn hoá phát triển
Sự phát triển của văn hoá tạo tiền đề trở lại cho ngôn ngữ phát triển Ngôn ngữ
và văn hoá đều là những thiết chế xã hội, nét đặc thù của thiết chế này là giá trị nhận thức về chúng bao giờ cũng bị qui định bởi tính ớc lệ vốn tạo ra bởi một cộng đồng ngời xác định gắn với một trạng thái không gian và thời gian xác
định Nói rõ hơn, ngôn ngữ là kết quả của một hoạt động tinh thần đợc gắn với nhận thức, thông qua những dấu hiệu vật thể, mặc dù cách thể hiện nhận thức giữa các cộng đồng ngời không trùng nhau Văn hoá cũng là một hoạt động tinh thần nói chung và loại hoạt động tinh thần trên cũng biểu lộ ra hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp bằng những dấu hiệu vật thể với tính ớc lệ
Hoạt động của ngôn ngữ luôn luôn gắn chặt với hoạt động t duy Ngôn ngữ đợc coi là một phơng tiện duy nhất có khả năng giải mã cho tất cả các loại hình nghệ thuật gắn với phạm trù văn hoá Từ cơ sở tiềm tàng đó, ngôn ngữ có khả năng tạo thành những tác phẩm ngôn từ tổng hợp, phản ánh một cách tơng
đối tập trung tiến trình phát triển bộ mặt văn hoá cộng đồng Tác phẩm nghệ thuật đợc tạo nên bằng ngôn từ có khả năng tổng hợp thể hiện cùng một lúc nhiều loại hình khác nhau của đời sống văn hoá nghệ thuật thông qua sự biểu
đạt của từ ngữ
Chức năng quan trọng hàng đầu của ngôn ngữ là làm phơng tiện để giao tiếp giữa mọi thành viên trong cộng đồng xã hội Và với t cách là một hệ thống tín hiệu, đặc trng nổi bật của hệ thống này là tính võ đoán F de Saussure nói rằng: “Một trạng thái ngôn ngữ nhất định bao giờ cũng là sản phẩm của những nhân tố lịch sử, và chính nhng nhân tố đó cắt nghĩa tại sao tín hiệu lại bất khả biến, nghĩa là kháng cự lại mọi thay thế võ đoán”[Dẫn theo 13] Ngôn ngữ theo
Trang 37cách sắp xếp hình thức là một bộ phận hợp thành của phạm trù văn hoá, nhng thức chất nó là tiền đề chi phối vừa trực tiếp, vừa sâu xa đối tợng văn hoá Chính vì vậy ngôn ngữ có khả năng giải mã cho mọi loại hình nghệ thuật thuộc phạm vi văn hoá Cũng từ cơ sở này, ngôn ngữ có khả năng hóa thân thành tác phẩm ngôn từ để phản ánh một cách tổng hợp, tập trung và sinh động nhất bộ mặt văn hoá và đời sống tinh thần của cộng đồng
Ngôn ngữ ngoài chức năng là công cụ t duy và giao tiếp của con ngời, ngôn ngữ còn chức năng phản ánh, chức năng tàng trữ những gì liên quan đến văn hoá của một cộng đồng Ngôn ngữ của một dân tộc là tấm gơng phản ánh tâm t, tình cảm, cách nhận thức, cách t duy của dân tộc ấy; trong đó hệ…thống từ vựng và những đặc trng ngữ nghĩa của nó đã đợc những ngời sử dụng sàng lọc lựa chọn Vì vậy thông qua vốn từ chỉ nghề nghiệp cụ thể, ở một địa phơng cụ thể, vốn từ chỉ nghề cá ở Nghệ Tĩnh phần nào phản ánh đợc những nét văn hoá biển của cộng đồng c dân sống bằng nghề chài lới
Với những thành tựu của các khoa học liên ngành nh ngôn ngữ học, lịch
sử học, khảo cổ học, văn hoá học các nhà khoa học đã xác định đ… ợc khu vực
Đông Nam á đứng bên cạnh các nền văn minh lớn khác nh Trung Hoa, ấn Độ
Đây là một khu vực có “nền văn minh nông nghiệp lúa nớc với một phức thể gồm ba yếu tố: văn hoá đồng bằng, văn hoá miền núi và văn hoá biển, trong đó yếu tố thứ nhất tuy có sau nhng chiếm vai trò chủ đạo, lịch sử ở đây đã diễn ra quá trình phát tán hội tụ dẫn đến những phức thể văn hoá mới chug cho toàn vùng, bớc hội tụ sau cao hơn bớc hội tụ trớc, đồng thời cũng để lại nhiều sắc thái khác nhau có tính chất dân tộc hoặc mang dấu ấn địa phơng” [10,tr.1]
Chắc chắn c dân Nghệ Tĩnh nói chung và c dân sống bằng nghề cá nói riêng cũng nằm trong phức thể ấy Dới góc độ ngôn ngữ, vốn từ vựng chỉ nghề cá của c dân vùng này chắc chắn sẽ có nhiều điều thú vị
Trong ngôn ngữ, từ là đơn vị cơ bản, đồng thời từ cũng là thành tố văn hoá Vì vậy, từ mang trong mình những nét đặc trng về văn hoá Nói cách khác, ở phơng diện này từ và các cụm từ cố định đợc coi nh là một thực thể văn
Trang 38hoá, trong đó yếu tố làm bộc lộ các biểu hiện về văn hoá là các đặc trng ngữ nghĩa Nó phản ánh mối liên tởng với hiện thực đời sống mỗi cộng đồng Tìm hiểu từ vựng ngữ nghĩa từ góc độ văn hoá là tìm hiểu lớp văn hoá ẩn chìm sau từng con chữ Từ ngữ liên quan đến phong tục tập quán, lối sống nếp nghĩ, phép ứng xử của mỗi dân tộc.
Giáo s Đỗ Hữu Châu, khi bàn “về chức năng định danh của các tín hiệu ngôn ngữ” cũng cho biết: “Trong những luận đIểm ngôn ngữ học của trờng phái Praha viết: “ Từ theo quan đIểm chức năng, là kết quả của hoạt động…
định danh của ngôn ngữ đôI khi có liên hệ mật thiết với hoạt động ngữ đoạn …Nhờ hoạt động gọi tên, ngôn ngữ phân chia thực tế (không kể là thực tế bên trong hoặc bên ngoài, cụ thể hay trừu tợng) thành những yếu tố đợc xác định bởi ngôn ngữ”[9,tr.158]
Ông còn khẳng định thêm: “Tên gọi xuất hiện là do nhu cầu phân biệt các sự vật ở ngoại giới với nhau Chúng vừa là kết quả của sự phân biệt đồng thời cũng là phơng tiện để củng cố sự phân biệt Mà phân biệt đợc là nhận thức
đợc, phân biệt là bớc đầu của nhận thức, của t duy Nhờ các tên gọi con ngời
có những bàn đạp để từ những nhận thức cũ tiến lên những nhận thức cao hơn” [9,tr.158]
Nh vậy, Đỗ Hữu Châu cho rằng định danh liên quan đến t duy văn hoá con ngời, nói cách khác, nó phản ánh t duy và nhận thức của con ngời trong
đó Đó là sự tri nhận, là góc nhìn của chủ thể gọi tên
2 Đặc điểm định danh lớp từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh.
Chúng ta biết rằng, từ của mọi ngôn ngữ đều có một chức năng rất cơ bản là gọi tên (định danh) các sự vật hiện tợng trong thiên nhiên hay trong đời sống xã hội Trong lớp từ chỉ nghề cá thì những từ ngữ chỉ phơng tiện, dụng cụ
đánh bắt, sản xuất đều cho thấy những tên gọi này đ… ợc định danh khác nhau
Định danh, theo G.V.Kolsanxki, là “sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm- biểu niệm (singifikat) phản ánh những đặc trng nhất định của một biểu vật (denotat)- các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của
Trang 39các đối tợng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn
vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” Đồng thời G.V.Kolsanxki cũng cho rằng: “Bất kì kí hiệu ngôn ngữ nào cũng biểu thị những thuộc tính đã đợc trừu tợng hoá của các sự vật cụ thể, và do vậy, bao giờ cũng đợc gắn với một lớp đối tợng hay với một loạt hiện tợng.v.v.”[Dẫn theo 21,tr.33->34]
Mỗi sự vật hiện tợng của đời sống xã hội đều có một hệ thống thuộc tính
và mối liên hệ khác nhau Chúng tạo thành biểu tợng khá đa dạng, phức tạp trong ý thức chúng ta, nghĩa là tạo nên những hiểu biết trong chúng ta về đối t-ợng Việc định danh một đối tợng nào đó thể hiện trớc hết ở việc tìm thấy một
đặc trng nào đó của sự vật làm cơ sở cho việc gọi tên sự vật Những đặc trng này thờng là những đặc trng tiêu biểu, dễ khu biệt với những đối tợng khác và
đặc trng ấy đã có tên gọi trong ngôn ngữ
Về vấn đề lựa chọn đặc trng nào làm cơ sở để định danh, một số nhà ngôn ngữ học cho rằng, thờng ngời ta chỉ lựa chọn một trong những đặc trng quan trọng, căn bản để định danh Hiển nhiên là các đặc trng này có thể rất khác nhau trong ngôn ngữ khác nhau, thậm chí là trong cùng một ngôn ngữ
Đặc trng có thể đợc chọn là một trong số những đặc trng căn bản, quan trọng thuộc bản chất sự vật, mà cũng có thể là thuộc tính không căn bản, miễn là đặc trng đợc chọn có giá trị khu biệt sự vật này với sự vật khác Theo G.V Kolsanxki “đặc trng này phụ thuộc không phải vào cách thức trừu tợng hoá,
mà vào những đIều kiện thực tiễn cụ thể (quá trình lao động, văn hoá, truyền thống, hoàn cảnh địa lí.v.v ” [Dẫn theo 21,tr.43].…
Nh chúng tôi đã trình bày, từ của mọi ngôn ngữ đều có chức năng gọi tên (định danh) sự vật trong tự nhiên, đời sống xã hội Nhng những mảng hiện thực giống nhau hay một sự vật hiện tợng, hoạt động, một tính chất nh nhau trong thế giới thực tại, khi đợc phản ánh vào ngôn ngữ, qua tên gọi của các từ trong mỗi ngôn ngữ cũng nh qua từng phơng ngữ có thể là những mảnh, những
đoạn cắt khác nhau
Trang 40Để gọi tên một loại cây cảnh cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép có răng, hoa màu hồng, hơng thơm, quá trình định danh diễn ra nh sau: Dựa vào đặc trng đã
đợc tách ra nh trên, ngời Việt qui nó vào khái niệm đã có tên gọi trong ngôn ngữ là hoa (theo từ điển tiếng Việt: Cơ quan sinh sản hữu tính của cây hạt kín,
thờng có màu sắc và hơng thơm) Dựa vào đặc trng màu sắc đập vào mắt, có tên gọi là hồng, nên từ đó có tên hoa hồng Nhng khi thấy màu sắc của loài hoa
này không chỉ có màu hồng mà còn có nhiều màu khác: màu trắng, màu nhung, màu vàng nên lại có thêm tên gọi mới: hoa hồng bạch, hoa hồng nhung, hoa hồng vàng Do vậy, hoa hồng trở thành tên gọi chung cho một loại
hoa
Ta lấy ví dụ, cùng để phản ánh một loại cá nớc ngọt quen thuộc với ngời Việt, ngôn ngữ toàn dân gọi là cá quả và mỗi miền có một tên gọi khác nhau:
miền Nam gọi là cá lóc, miền Bắc gọi là cá chuối, còn ở miền Trung, đặc biệt
là Nghệ Tĩnh lại gọi là cá tràu Với loại cá này, ở Nghệ Tĩnh ngời ta lại căn cứ
vào bốn giai đoạn sinh trởng của cá mà gọi tên nên có bốn tên gọi có tính chất phân loại, đó là: cá ma ma (cá quả mới nở, khi đang sống theo đàn), cá tràu cóc (cá quả ở giai đoạn nhỡ, nhỏ hơn cán liềm trở xuống), cá tràu đô (cá lớn
bằng cán liềm) và khi cá lớn ở độ ổn đinh thì mới gọi là cá tràu Chúng ta
nhận thấy rằng, trong cấu tạo từ ghép phân nghĩa, yếu tố phân loại là yếu tố phản ánh đặc trng thuộc tính của sự vật mà con ngời lựa chọn để đặt tên
Hoặc với một ví dụ khác, trong các tên gọi về bừa, ngời Nghệ Tĩnh có
rất nhiều tên gọi, mỗi cách đều dựa vào một dấu hiệu, một đặc trng riêng, không giống nhau Theo hình dáng cấu tạo, chúng ta có bừa chữ chi, bừa răng, bừa ghim Theo mục đích tính chất hoạt động chúng ta có bừa dập, bừa xúc, bừa đạp…
Rõ ràng, đây là những tên gọi ít nhiều có lí do cụ thể Tên gọi sự vật, đối tợng thể hiện lăng kính chủ quan của con ngời, vì vậy mà từ tên gọi chúng ta biết đợc tâm lí dùng biểu trng, biểu vật riêng ra sao, nét riêng trong liên tởng