1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4

130 730 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 664,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Thị Bích Hợi trong Quy trình hướng học sinh lớp 4, 5 luyện tập vềphép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả.. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu của các công trình nàyvâ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THÀNH DỘI

HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG PHÉP TU TỪ SO SÁNH

NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC VIẾT VĂN

CHO HỌC SINH LỚP 4.

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Trang 2

Vinh - 2011MỞ ĐẦU

Trang 3

sát được HS sẽ thể hiện bằng cách viết các bài văn với những hình ảnh sosánh thật phong phú, sinh động và hấp dẫn người đọc, người nghe.

Ở chương trình SGK Tiếng Việt lớp 3 đã giới thiệu sơ lược về phép tutừ so sánh Trong chương trình chưa đi sâu vào lý thuyết của phép tu từ sosánh mà bước đầu chỉ hình thành cho HS những hiểu biết ban đầu về phép tutừ so sánh thông qua hệ thống các bài tập thực hành Phép tu từ so sánh đượcxem là một trong những cách thức để tạo hình, gợi cảm, diễn tả liên tưởngnhững hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẫm mĩ đẹp đẽ, trong sáng chongười đọc, người nghe cảm nhận Qua đó giúp HS cảm thụ được cái đẹp, cáihay trong những hình ảnh thơ văn và đồng thời giúp HS vận dụng phép tu từ

so sánh vào quan sát và miêu tả các sự vật, hiện tượng và con người ở xungquanh Phép tu từ so sánh giúp HS thể hiện vào thực hành các bài văn miêutả được phong phú hơn, sinh động và hấp dẫn hơn

Trong thực tế, GV và HS lớp 4 còn gặp rất nhiều khó khăn khi vậndụng về phép tu từ so sánh trong văn miêu tả, hiệu quả dạy học về phép tu từ

so sánh trong văn miêu tả chưa cao HS lớp 4 nhận biết được các hình ảnh sosánh nhưng việc vận dụng kiến thức về phép tu từ so sánh vào nói, viết thìcòn nhiều hạn chế GV còn lúng túng khi hướng dẫn HS tìm hiểu cách sosánh và tác dụng của phép so sánh HS chưa thật sự vận dụng sáng tạo trongtrường hợp nào thì dùng phép tu từ so sánh vào bài văn miêu tả của mình.Bài văn miêu tả thường tẻ nhạt mà nếu có sử dụng hình ảnh so sánh thì cũnglà của người khác vì thế lời văn của HS chưa thật sự độc đáo, sáng tạo vàmang sắc thái của riêng mình

Mặt khác, GV chưa thật sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng củaviệc vận dụng phép tu từ so sánh vào văn miêu tả, GV lớp 4 chưa có nhữnghiểu biết cặn kẽ về phép tu từ so sánh và biện pháp để nâng cao chất lượng

Trang 4

phân môn Tập làm văn trong dạy học Bên cạnh đó, các công trình nghiêncứu về vấn đề này hầu như chưa có, vì vậy, GV tiểu học còn gặp nhiều khókhăn trong việc tìm các tài liệu tham khảo.

Xuất phát từ những lý do trên, đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài nghiêncứu “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ sosánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4.”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Văn miêu tả và dạy – học văn miêu tả cũng như việc vận dụng phép tutừ so sánh trong văn miêu tả đã có một số công trình nghiên cứu đề cập như:

1 Nguyễn Trí trong Dạy tập làm văn ở tiểu học, công trình này đã giới thiệu

về văn miêu tả, đặc điểm của văn miêu tả, giới thiệu quy trình làm các kiểubài làm văn miêu tả cũng như phương pháp dạy các kiểu bài văn miêu tả.Mặc dù sách đã đề cập đến vấn đề văn miêu tả, những nét đặc sắc của sự vật,hiện tượng khi miêu tả, song cũng chỉ nói qua, chưa hình thành và đề cậpđến phép tu từ so sánh và việc vận dụng phép tu từ so sánh vào luyện tậplàm văn miêu tả

2 Vũ Khắc Tuân trong Bài tập luyện viết văn miêu tả ở tiểu học, tác giả đã

đi sâu vào giới thiệu các bài tập thuộc các loại bài của văn miêu tả và nột sốkinh nghiệm của các nhà văn trong việc làm văn miêu tả, một số giai thoạitrong việc dùng câu chữ khi viết văn

3 Lê Phương Nga – Nguyễn Trí đồng tác giả trong Phương pháp dạy họcTiếng Việt ở tiểu học Phần đầu của cuốn sách đã bàn về những vấn đềchung của dạy tiếng Việt ở tiểu học và sau đó đi sâu vào phương pháp dạyhọc các phân môn cụ thể Công trình này cũng bàn nhiều về phương phápdạy học văn miêu tả, đã đề cập đến những tồn tại và đưa ra những kiến nghị

Trang 5

trong dạy học văn miêu tả Tuy nhiên, những kiến nghị và giải pháp mà côngtrình đưa ra còn ở góc độ khái quát, chưa vận dụng được vào thực tiễn dạy –học văn miêu tả ở nhà trường tiểu học hiện nay, chưa đưa ra việc vận dụngphép tu từ so sánh vào trong dạy – học văn miêu tả.

4 Vũ Tú Nam – Phạm Hổ - Bùi Hiển – Nguyễn Quang Sáng trong Văn miêu

tả và kể chuyện Sách gồm 2 phần:

Phần 1: Giới thiệu những bài viết của những nhà văn nói về những suy nghĩ,kinh nghiệm của bản thân khi viết văn miêu tả và kể chuyện

Phần 2: Những đoạn văn miêu tả và kể chuyện được chọn lọc của nhiều tácgiả khác nhau

Cũng như những công trình nghiên cứu ở trên, công trình này chỉ mớiđề cập những nét chung nhất của một bài văn miêu tả, những vấn đề đưa ravẫn còn là vấn đề trừu tượng đối với giáo viên và học sinh Vì thế, giáo viênrất khó vận dụng vào quá trình dạy – học văn miêu tả ở lớp 4, 5

5 Đinh Trọng Lạc viết 99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt.

Đây là cuốn sách đề cập đến các biện pháp tu từ và các phương tiện diễn đạt,trong đó có phép tu từ so sánh Tuy nhiên, công trình này chỉ dừng lại ở việcnghiên cứu về lí thuyết chứ chưa chỉ ra sự vận dụng phép tu từ so sánh vàodạy – học văn miêu tả ở tiểu học

6 Nguyễn Thị Hạnh trong Phương pháp dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3.

Đây là công trình nghiên cứu sâu về phép tu từ so sánh, song luận văn nàychỉ dừng lại ở lớp 3 Việc vận dụng phép tu từ so sánh chỉ hướng đến cácphân môn của môn Tiếng Việt ở lớp 3 Công trình nghiên cứu chưa đề cậpđến việc hướng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trongTập làm văn miêu tả

Trang 6

7 Lê Thị Bích Hợi trong Quy trình hướng học sinh lớp 4, 5 luyện tập về

phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả Đây là công trình nghiên cứu

có đề cập đến vận dụng biện pháp tu từ so sánh và quy trình hướng dẫn họcsinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả Tuynhiên, công trình chỉ tập trung vào xây dựng quy trình hướng dẫn mà chưađưa ra được một hệ thống bài tập vận dụng phép tu từ so sánh nhằm rènluyện kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5

Trên đây là một số công trình nghiên cứu về vấn đề phép tu từ so sánhvà văn miêu tả Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu của các công trình nàyvẫn chưa có tính hệ thống và đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu về:

Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4.

Như vậy, việc xây dựng một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sửdụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp

4 đang là vấn đề cần thiết mà chưa được chú trọng Việc tìm ra hệ thống bàitập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lựcviết văn cho học sinh lớp 4 sẽ nhằm nâng cao chất lượng dạy – học văn miêutả ở lớp 4

3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụngphép tu từ so sánh này sẽ giúp học sinh nâng cao năng lực viết văn diễn đạttrôi chảy, mạch lạc, sinh động

- Giúp học sinh phát triển kĩ năng diễn đạt bằng văn bản với nhiềuhình ảnh, mang tính biểu cảm thông qua các bài tập làm văn Đó là thước đocuối cùng của khả năng lĩnh hội phân môn Tiếng Việt

Trang 7

- Sử dụng và phát huy tốt hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụngphép tu từ so sánh này góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở bậc Tiểu họchiện nay.

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học về phép tu từ so sánhtrong văn miêu tả ở lớp 4

3.2 Đối tượng nghiên cứu : Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụngphép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Trong chương trình Tiếng Việt ở lớp 4, phân môn Tập làm văn cónhiều thể loại, tuy nhiên trong phạm vi đề tài, tôi chỉ tập trung nghiên cứu vềphép tu từ so sánh và việc xây dựng hệ thống bài tập để rèn luyện kĩ năng sửdụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn miêu tả cho họcsinh lớp 4

- Công trình nghiên cứu này được thực hiện trong phạm vi một sốtrường tiểu học trên địa bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và vận dụng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụngphép so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4có tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làmvăn ở Tiểu học

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết về phép tu từ so sánh và việc vận dụng phép tutừ so sánh trong dạy học văn miêu tả lớp 4

Trang 8

- Nghiên cứu thực trạng về chất lượng dạy - học của GV và HS trongviệc vận dụng phép tu từ so sánh trong văn miêu tả ở lớp 4.

- Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ sosánh trong văn miêu tả lớp 4

- Đề xuất các kiểm chứng tính hiệu quả của việc sử dụng hệ thống bàitập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lựcviết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

8 Các phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, đề tài sử dụng các nhóm phươngpháp nghiên cứu sau đây:

8.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết

Nhằm phân tích, khái quát, thu thập những thông tin lý luận về đề tàinghiên cứu: khảo sát, đánh giá nội dung vận dụng phép tu từ so sánh vào dạyvăn miêu tả theo SGK Tiếng Việt

8.2 Phương pháp quan sát - điều tra

Trò chuyện, trao đổi với các giáo viên dạy lớp 4 và quan sát hoạt độnghọc, bài làm kiểm tra của học sinh lớp 4 được nghiên cứu để phát hiện ranhững vấn đề cần nghiên cứu, cần có những giải pháp khắc phục

8.3 Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành thực hiện các loại bài tập trắc nghiệm, tự luận, bài tập kếthợp trắc nghiệm và tự luận, nhằm kiểm tra tính hiệu quả của các đề xuất xâydựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằmbồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4

8.4 Phương pháp thống kê toán học

Trang 9

Tiến hành thống kê các số liệu, kết quả thu thập được trong quá trìnhđiều tra và thử nghiệm

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần: mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ sosánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4

Chương 3 Thực nghiệm và kết quả thực nghiệm

Trang 10

1.1.1.1 Thế nào là văn miêu tả ?

Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển, miêu tả là “ Lấy nét vẽhoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra” Vì thế trong cuộcsống hàng ngày, muốn mọi người cùng nhận ra điều mình thấy, đã làm, đãsống….Chúng ta cần miêu tả Mỗi bài văn miêu tả là sự kết tinh của nhữngnhận xét tinh tế, là sản phẩm, là sự đúc kết của việc tiếp thu và vận dụngnhững kiến thức đã học Trong văn miêu tả người ta đã vẽ ra các sự vật, hiệntượng, con người… bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Văn miêu tảgiúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng rượng ra chúng như chính mình đangnhìn tận mắt, bắt tận tay các hình ảnh đó Tuy nhiên văn miêu tả là sự kếttinh của những nhận xét tinh tế, những rung cảm sâu sắc mà người quan sátthể hiện qua văn miêu tả, làm cho cảnh vật như sống động, như hiện ra trongtâm trí người đọc, và đặc biệt như truyền cảm xúc qua những hình ảnh sosánh

Qua lời văn miêu tả của tác giả Thi Sảnh, ta như thấy cảnh Vịnh HạLong hiện ra thật kì vĩ và duyên dáng:

“Vịnh Hạ Long là một thắng cảnh có một không hai của đất nước Việt

Nam

Cái đẹp của vịnh Hạ Long trước hết là sự kì vĩ của thiên nhiên Trên một diện tích hẹp mọc lên hàng nghìn đảo nhấp nhô khuất khúc như rồng

Trang 11

chầu phượng múa Đảo có chỗ sừng sững chạy dài như bức tương thành vững chãi, ngăn khơi với lộng, nối mặt biển với chân trời Có chỗ đảo dàn

ra thưa thớt, hòn này với hòn kia biệt lập, xa trông như quân cờ bày chon von trên mặt biển Tùy theo sự phân bố của đảo, mặt vịnh Hạ Long lúc tỏa mênh mông, lúc thu hẹp lại thành ao thành vũng, lúc bị kẹp giữa hai triền đảo như một dòng suối, lúc uốn quanh chân đỏa như một dải lụa xanh.

Thiên nhiên Hạ Long chẳng những kì vĩ mà còn duyên dáng Nét duyên dáng của Hạ Long chính là cái tươi mát của sóng nước, cái rạng rỡ của đất trời Sóng nước Hạ Long quanh năm trong xanh Đất trời Hạ Long bốn mùa sáng nắng Bốn mùa Hạ Long mang trên mình một màu xanh đằm thắm : xanh biếc của biển, xanh lam của núi, xanh lục của trời Màu xanh ấy như trường cửu, lúc nào cũng bát ngát, cũng trẻ trung, cũng phơi phới.”

Trong đoạn văn miêu tả trên đây, cảnh Hạ Long hiện lên thật cụ thể,

từ “một diện tích hẹp mọc lên hàng nghìn đảo nhấp nhô khuất khúc như

rồng chầu phượng múa” đến “Đảo có chỗ sừng sững chạy dài như bức tương thành vững chãi” hay “Có chỗ đảo dàn ra thưa thớt, hòn này với hòn kia biệt lập, xa trông như quân cờ bày chon von trên mặt biển”… Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp mê hồn của vịnh Hạ Long thể hiện qua “Nét duyên dáng của Hạ Long chính là cái tươi mát của sóng nước, cái rạng rỡ của đất trời” hay cái màu xanh của đất trời “ Bốn mùa Hạ Long mang trên mình một màu xanh đằm thắm : xanh biếc của biển, xanh lam của núi, xanh lục của trời” Từ những nét miêu tả đó tác giả đã phác họa lên một hình ảnh Hạ

Long lung linh mà kì ảo, kì vĩ mà duyên dáng, làm nổi bật những hình ảnhthiên nhiên kì thú ớ Hạ Long Qua đó, tác giả đã diễn tả được xúc cảm mãnhliệt của mình trước cảnh thiên nhiên tươi đẹp của đất nước Tóm lại, biết

Trang 12

quan sát và lựa chọn tinh tế những hình ảnh miêu tả, tác giả đã phác họanhững nét đặc sắc để tạo ra bức tranh Hạ Long rực rỡ, giàu cảm xúc và hàihòa về màu sắc.

Trong văn miêu tả, người viết đã khéo léo dùng ngôn ngữ để miêu tảcác sự vật hiện tượng trong quá trình vận động, biến đổi theo thời gian, kể cảnhững thứ vô hình như âm thanh, hương vị và cả những tư tưởng tình cảmcủa con người được gửi gắm trong bài văn; khác với sự miêu tả bằng ngônngữ hội họa với màu sắc và đường nét cũng không thể nói hết lên đượcnhững thông điệp mà tác giả muốn gửi đến mọi người

Tóm lại, “Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh,của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đốitượng ấy” (theo SGK TV4 – Tập 1- Chương trình TV hiện hành)

1.1.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả

a Văn miêu tả chứa đựng nội dung mang tính thông báo, thẫm mĩ, chứa đựng cảm xúc của người viết.

Khi quan sát tả đồ vật gần gũi quen thuộc như cái thước kẻ, cái bànhọc, cái trống trường; hay tả cây cối như cây sầu riêng, bãi ngô, cây gạo…vàcũng như tả các con vật nuôi gần gũi trong gia đình như gà, chim, chó, mèo,lợn,… thì bao giờ người tả cũng phải có cách nhìn, quan sát một một cáchtinh tế những chi tiết nổi bật về sự vật định tả Bên cạnh đó, người tả cũngđã lồng ít nhiều những tình cảm hay ý kiến đánh giá nhận xét của mình vàolới văn Những lời văn này đều mang cảm xúc chủ quan dễ đi vào lòngngười Nhưng ngoài ra, những sự vật được nói đến nhìn chung cũng đã gắnliền với những kỉ niệm đẹp, gắn liền với tình yêu quê hương làng xóm.Những cảm xúc chân thật sẽ làm xúc cảm của người viết lan tỏa vào lòng

Trang 13

người đọc, đó cũng chính là thế mạnh của văn miêu tả, chính vì vậy mà vănmiêu tả chứa đựng nội dung mang tính thông báo, thẫm mĩ và chứa đựngcảm xúc của người viết.

Chính từ những đặc điểm này mà nó phân biệt giữa văn miêu tả trongvăn học khác với các loại miêu tả khác trong các môn học như : khoa học,lịch sử, địa lí…

Ví dụ: Cùng nói về cuộc sống của người Việt cổ thì sách sử ghi lại

rằng : “Dưới thời của các vua Hùng, nghề chính các lạc dân là làm ruộng.

Họ trồng lúa, khoai, đỗ, cây ăn quả, rau và dưa hấu Họ cũng biết nấu xôi, gói bánh chưng, làm bánh giầy, làm mắm…

Ngoài ra, người Lạc Việt còn biết trồng đay, gai, trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải Họ cũng biết đúc đồng làm giáo, mác, mũi tên, lưỡi rìu, lưỡi cày, vòng tay, hoa tai, trống, chiêng, lục lạc,…

Những ngày hội làng, mọi người thường hóa trang, vui chơi, nhảy múa theo nhịp trống đồng Các trai làng thường đua thuyền trên sông hoặc đấu vật trên những bãi đất rộng.”(SGK Lịch Sử 4 – Chương trình Lịch Sử

hiện hành)

Đoạn miêu tả trên chỉ thuần túy mang tính chất thông báo, liệt kê Cácchi tiết thể hiện một cách đầy đủ nhưng lời văn không chứa đựng cảm xúc, ývăn khô khan Trong đoạn văn ta chưa nhận được những tình cảm của nhữngngười Việt cổ trong những hoạt động sinh hoạt thường ngày, chưa nêu lênđược tình yêu quê hương, làng xóm, sự lạc quan yêu đời và tình yêu đôi lứa

Đoạn thứ hai thông qua hình ảnh “Trống đồng Đông Sơn”(SGK TV4– tập 2 – Chương trình TV hiện hành) tác giả Nguyễn Văn Huyên đã mangđến cho chúng ta những hình ảnh miêu tả về sinh hoạt của người Việt cổ,

Trang 14

đồng thời cũng qua đoạn văn tác giả đã khéo léo đưa vào những nhận xétđánh giá chủ quan của mình đầy xúc cảm của một người Việt Nam yêu

chuộng hòa bình : “Trống đồng Đông Sơn đa dạng không chỉ về hình dáng,

kích thước mà cả về phong cách trang trí, sắp xếp hoa văn Giữa mặt trống bao giờ cũng có hình ngôi sao nhiều cánh tỏa ra xung quanh Tiếp đến là những hình tròn đồng tâm, hình vũ công nhảy múa, chèo thuyền, hình chim bay, hươu nai có gạc,…

Nổi bật trên hoa văn trống đồng là hình ảnh con người hòa với thiên nhiên Con người lao động, đánh cá, săn bắn Con người cầm vũ khí bảo vệ quê hương và tưng bừng nhảy múa cảm tạ thần linh,… Đó là con người thuần hậu, hiền hòa, mang tính nhân bản sâu sắc Bên cạnh và xung quanh con người đầy ý thức làm chủ ấy là những cánh cò bay lả bay la, những chim Lạc, chim Hồng, những đàn cá lội tung tăng,… Đó đây, hình tượng ghép đôi muông thú, nam nữ còn nói lên sự khát khao cuộc sống ấm no, yên vui của người dân.”

Trong đoạn văn, tác giả đã miêu tả cuộc sống của người Việt cổ thật

sinh động “Hình ảnh con người hòa với thiên nhiên Con người lao động,

đánh cá, săn bắn Con người cầm vũ khí bảo vệ quê hương và tưng bừng nhảy múa cảm tạ thần linh” Bên cạnh đó, người Việt cổ là những con người

yêu chuộng hòa bình, mang đậm tính nhân văn của người Việt Nam “Những

cánh cò bay lả bay la, những chim Lạc, chim Hồng, những đàn cá lội tung tăng,… Đó đây, hình tượng ghép đôi muông thú, nam nữ còn nói lên sự khát khao cuộc sống ấm no, yên vui của người dân.”

Từng hình ảnh miêu tả sống động trong đoạn văn, tác giả đã vẽ ra mộtbức tranh sống động về cuộc sống của người Việt cổ, những nét tả tinh tế,

Trang 15

những tình cảm trong sáng của tác giả miêu tả đã cho người xem một bứctranh sinh đông và chất nhân văn.

b Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình

Một bài văn được coi là sinh động và tạo hình khi các sự vật, đồ vật,con người được miêu tả hiện lên qua từng câu văn, từng dòng chữ như trongcuộc sống thực tế, mà qua đó ta có cảm tưởng như có thể cầm nắm được,nhìn ngắm được… những chi tiết tạo hình và mang tính sinh động trong vănmiêu tả là những chi tiết sống động, gây ấn tượng cho người đọc, mà ngườiđọc như đang hòa mình vào hình ảnh đó; nếu không có nó bài văn miêu tảtrở nên vô vị, nhạt nhẽo

Bài tả : “Con chuồn chuồn nước” của nhà văn Nguyễn Thế Hội đã khắc họa lên hình ảnh sống động của con chuồn chuồn nước “Ôi chao ! Chú

chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao ! Màu vàng trên lưng chú lấp lánh Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thủy tinh Thân chú nhỏ và thon vàng như màu vàng của nắng mùa thu Chú đậu trên một cành lộc vừng ngả dài trên mặt hồ Bốn cánh khẽ rung rung như đang còn phân vân.”

Lấy ý tưởng từ cuộc sống đời thường, những chi tiết miêu tả sao màgần gũi và đáng yêu đến thế, ta như thấy hiện ra trước mắt một chú chuồnchuồn nước sinh động với hình ảnh dễ nhận biết, chi tiết miêu tả không cầukì, nhưng mang đậm nét những hình ảnh của nông thôn Việt Nam và gần gũivới trẻ em, giúp trẻ em cảm nhận được ngay một chú chuồn chuồn nước giảndị, qua ngòi bút của tác giả bỗng trở nên “đẹp làm sao!” Tuy nhiên trong bàivăn miêu tả cũng cần phải biết chọn lọc những chi tiết, hình ảnh đặc sắc, nổibật; cân tránh khuynh hướng mổ xẻ sự vật tả, đưa quá nhiều chi tiết vào bài

Trang 16

văn miêu tả, làm bài văn trở nên rườm rà, theo kiểu liệt kê, đơn điệu, gâynhàm chán cho người đọc Chính vì vậy, cần phải biết chắt lọc, gạt bỏ nhữngchi tiết thừa, chi tiết không có sức gợi tả, gợi cảm để bài văn miêu tả đượcdiễn đạt xúc tích và giàu chất gợi hình.

c Ngôn ngữ trong văn miêu tả

Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu hình ảnh và cảm xúc, chính vì lẽ đómà ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn đạt cảm xúc của người viết, chitiết tả sinh đông mang tính tạo hình Qua quan sát nhiều văn bản miêu tả, tathấy ngôn ngữ miêu tả thường hay sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhânhóa, ẩn dụ Do sự phối hợp đó mà ngôn ngữ miêu tả luôn luôn hấp dẫnngười đọc, gợi lên trong lòng họ những cảm xúc, ấn tượng, sinh động vềhình ảnh sự vật được miêu tả

Ví dụ : Đoạn văn miêu tả Sa Pa của tác giả Nguyễn Phan Hách :

“Xe chúng tôi leo chênh vênh trên con đường xuyên tỉnh Những đám

mây trắng nhỏ sà xuống cửa kính ô tô tạo nên cảm giác bồng bềnh huyền

ảo Chúng tôi đang đi bên những thác xóa tựa mây trời, những rừng cây âm

âm, những bông hoa chuối rực lên như ngọn lửa Tôi lim dim mắt ngắm mấy con ngựa đang ăn cỏ trong một vườn đào ven đường Con đen huyền, con trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng, chùm đuôi cong lướt thướt liễu rũ”

1.1.1.3 Dạy văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt tiểu học hiện nay

Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học hiện nay, văn miêu tả đã đượcđưa vào ngay từ lớp 2, với dạng bài tập quan sát và trả lời câu hỏi HS đã bắtđầu làm quen với thể loại văn miêu tả Có nhiều lý do để lý giải vì sao lạiđưa văn miêu tả vào chương trình từ lớp 2: văn miêu tả phù hợp với tâm lý

Trang 17

của các em; trong độ tuổi này, HS rất thích quan sát các sự vật hiện tượngxung quanh, thích miêu tả và đưa ra những nhận xét cảm tính về các sự vậthiện tượng xung quanh; văn miêu tả góp phần nuôi dưỡng và phát triển mốiquan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên Từ đó góp phần giáo dục HSnhững xúc cảm thẫm mĩ, yêu cái đẹp, góp phần bảo vệ môi trường và pháttriển tư duy, ngôn ngữ ở HS Học văn miêu tả, HS có thêm điều kiện để tạonên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, conngười với thiên nhiên, xã hội, để từ đó khơi gợi ra ở các em những tình cảm,cảm xúc, những ý nghĩ cao thượng đẹp đẽ… Nhà giáo dục Xu-khôm-lin-xki

đã cho rằng: Việc học sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả

cảnh vật nhìn thấy, nghe thấy… là con đường có hiệu quả nhất để giáo dục

và phát triển ngôn ngữ ở trẻ.

Ở bậc tiểu học, căn cứ vào đặc điểm phù hợp nhận thức và tâm lí HS,nội dung văn miêu tả ở chương trình TV 4 đã xác định cụ thể thể loại, dạngbài để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS thông qua nhiềukiểu bài miêu tả : tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật Nội dung này tích hợp kiếnthức tiếng Việt với các mảng kiến thức về Văn học, Thiên nhiên, Con ngườivà Xã hội thông qua các chủ điểm học tập Cụ thể như sau :

Bảng 1.1 : Nội dung chương trình văn miêu tả lớp 4

Tuần Chủ điểm Nội dung Trang

14 Tiếng sáo diều Thế nào là miêu tả ? 140

14 Tiếng sáo diều Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật 143

15 Tiếng sáo diều Luyện tập miêu tả đồ vật 150

15 Tiếng sáo diều Quan sát đồ vật 153

16 Tiếng sáo diều Luyện tập miêu tả đồ vật 162

Trang 18

17 Tiếng sáo diều Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật 169

17 Tiếng sáo diều Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật 172

19 Người là hoa đất Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn

miêu tả đồ vật 10

19 Người là hoa đất Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn

miêu tả đồ vật 11

20 Người là hoa đất Miêu tả đồ vật (Kiểm tra viết) 18

21 Người là hoa đất Trả bài văn miêu tả đồ vật 28

21 Người là hoa đất Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối 30

22 Vẻ đẹp muôn màu Luyện tập quan sát cây cối 39

22 Vẻ đẹp muôn màu Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối 41

23 Vẻ đẹp muôn màu Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối 50

23 Vẻ đẹp muôn màu Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối 52

24 Vẻ đẹp muôn màu Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối 60

25 Những người quả

26 Những người quả

cảm Luyện tập miêu tả cây cối 83

27 Những người quả

cảm Miêu tả cây cối (Kiểm tra viết) 92

27 Những người quả

cảm Trả bài văn miêu tả cây cối 94

29 Khám phá thế giới Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật 112

30 Khám phá thế giới Luyện tập quan sát con vật 119

31 Khám phá thế giới Luyện tập miêu tả các bộ phận của con vật 128

31 Khám phá thế giới Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con

Trang 19

sống văn miêu tả con vật

33 Tình yêu cuộc

sống Miêu tả con vật (Kiểm tra viết) 149

34 Tình yêu cuộc

sống Trả bài văn miêu tả con vật 159

Khảo sát nội dung phân môn Tập làm văn trong chương trình SGKTiếng Việt 4, tôi có những nhận xét sau :

- Về thời lượng chương trình : nếu tính cả các tiết ôn tập có nội dungTập làm văn thì tổng thời lượng cho nội dung dạy học văn miêu tả ở lớp 4 là34/70 tiết, chiếm tỉ lệ 48,6% Điều này chứng tỏ rằng, chương trình Tập làmvăn ở lớp 4 tập trung vào thể loại văn miêu tả, nhấn mạnh việc rèn luyện kĩnăng và phát triển khả năng tư duy, sáng tạo ngôn ngữ của học sinh

- Sắp xếp nội dung chương trình văn miêu tả ở lớp 4 : Từ phân tíchnội dung chương trình thì vấn đề dạy văn miêu tả được thể hiện qua hai kiểubài là Hình thành kiến thức mới và Luyện tập thực hành

Kiểu bài Hình thành kiến thức mới : Nội dung bài dạy có cấu tạo gồm

ba phần : Nhận xét, Ghi nhớ và Luyện tập Phần Nhận xét và Luyện tập được xây dựng dưới dạng bài tập Phần Ghi nhớ là nội dung lý thuyết khái quát được rút ra từ phần Nhận xét Phần Ghi nhớ sẽ được củng cố, mở rộng thêm ở phần Luyện tập.

Các bài tập ở phần Nhận xét là những đoạn văn mẫu, là những ngữ

liệu cụ thể, rõ ràng và qua hệ thống câu hỏi SGK định hướng giúp các emphân tích các ngữ liệu đó để rút ra các khái niệm hay những quy tắc cần ghinhớ

Trang 20

Kiểu bài Luyện tập thực hành : Kiểu bài này bao gồm tổ hợp các bàitập Các bài tập trong phần Luyện tập thực hành bao gồm hai dạng : bài tậpnhận diện và bài tập vận dụng Bài tập nhận diện giúp học sinh củng cốnhững kiến thức đã được rút ra từ phần Ghi nhớ Bài tập vận dụng mục đíchlà giúp HS vận dụng những kiến thức vừa được học vào thực hành làm vănmiêu tả qua các hình thức luyện nói, luyện viết miêu tả từng bộ phận hoặctoàn bài theo nhiều cách khác nhau theo định hướng gợi ý của một đề tài haymột tình huống cụ thể, từ đó tạo môi trường cho HS thỏa sức sáng tạo theo ýtưởng, vốn sống của mình và tạo điều kiện để GV định hướng trong việcgiảng dạy.

Tóm lại : Nội dung chương trình SGK Tiếng Việt 4 đã tập trung trọngtâm vào dạy văn miêu tả, có cấu trúc chặt chẽ, đi từ lý thuyết đến thực hànhluyện tập Nội dung SGK đã xây dựng vừa dựa trên vốn sống của HS, vừaqua phân tích các ngữ liệu mẫu để cung cấp và mở rộng thêm vốn từ cho

HS, giúp cho HS phát triển hài hòa phù hợp với tất cả các vùng miền trên cảnước

1.1.2 Phép tu từ so sánh và việc dạy học phép tu từ so sánh trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học

Trang 21

So sánh logic là một biện pháp nhận thức trong tư duy của con người,là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất địnhnhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng.

b So sánh tu từ

So sánh tu từ là “một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối

chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng”.

So sánh tu từ (còn gọi: so sánh hình ảnh) là một biện pháp tu từ ngữnghĩa nhằm gợi lên những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức người đọc,người nghe

Hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố:

Trong đó:

Trang 22

- Yếu tố (1) là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tùy theo

việc so sánh là tích cực hay tiêu cực

- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay

trạng thái của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trònêu rõ phương diện so sánh

- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng như nhau Ngoài từ “như” còn có các từ: “tựa”, “tựa như”, “giống

như”, “là”, “như là”, “ như thể”

- Yếu tố (4) là cái được so sánh tức là cái đưa ra để làm chuẩn so

sánh

- So sánh tu từ được dùng phổ biến trong các phong cách văn củatiếng Việt Nhưng chỉ trong việc tạo ra những văn bản mang tính nghệ thuậthay trong văn miêu tả thì so sánh tu từ mới có thể diễn tả đầy đủ nhất nhữngkhả năng tạo hình sinh động và gợi cảm của nó

Ví dụ:

Cả thung lũng như một bức tranh thủy mặc.

(Đình Trung – TV4 – Tập 2)

* Như vậy, so sánh tu từ khác với so sánh lôgic ở tính hình tượng, tínhbiểu cảm và tính dị loại của sự vật Nếu như giá trị của so sánh logic là xáclập được sự tương đương giữa hai đối tượng thì giá trị của so sánh tu từ là ởsự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảm xúc thẩm mĩ ở người đọc, ngườinghe

1.1.2.3 Chức năng của so sánh tu từ

a Chức năng nhận thức

Trang 23

Bản chất của sự so sánh là lấy một hình ảnh cụ thể để miêu tả mộthình ảnh chưa cụ thể Paolơ cho rằng: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức”Bên cạnh chức năng nhận thức, phép so sánh còn có chức năng biểu cảm-

cảm xúc Gôlúp nói: “hầu như bất kì sự biểu đạt hình ảnh nào cũng có thể

chuyển thành hình thức so sánh” Trong lời nói hàng ngày, chúng ta đã gặp

rất nhiều cách ví von rất hay, rất có hình ảnh, rất thấm thía Mỗi một sự so

sánh là một lời nhận xét mà ít có cách nói nào diễn đạt hiệu quả hơn: gầy

như mắm, béo như lợn, hôi như cú, gầy như quỷ

Rõ ràng cũng nói về biển nhưng nếu nói theo cách bình thường là: “Biển rất

rộng và nước có màu xanh thẳm” thì sẽ không tác động nhiều đến người nghe

bằng cách nói của Vũ Tú Nam: “Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ

bằng ngọc thạch” (TV3, tr 8) Bởi vì, ở cách nói thứ hai không chỉ đơn thuần

là thông tin, sự kiện mà nó còn thể hiện thái độ của người nói đối với sự kiệnđó Đúng là cũng nói về biển nhưng qua xúc cảm của nhà văn, biển trở nênđẹp và có hồn hơn bởi vì nhà văn đã sử dụng phép so sánh trong khi miêu tả

- Gầy như cò hương

- Vui như hội

Hoặc Bà như quả ngọt chín rồi

Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng

Trang 24

(TV3, Tập1 - tr.7)

Ở ví dụ trên, “bà” được ví như quả ngọt đã chín, bà càng có tuổi thì

tình cảm của bà càng sâu sắc, càng ngọt ngào như quả chín trên cây Với sự

so sánh này, người cháu đã thể hiện được tình cảm yêu thương, quý trọngcủa mình đối với bà

b Chức năng biểu cảm – cảm xúc

Chức năng biểu cảm trong phép tu từ so sánh giúp cho lời nói tronggiao tiếp dễ đi vào lòng người và dễ dàng đạt được mục đích giao tiếp Vớichức năng biểu cảm, so sánh là “cách nói” dễ đi vào lòng người, dễ chiếmđược lòng người, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu So sánh tutừ chính là một phương thức tạo hình, gợi cảm, là đôi cánh giúp cho chúng

ta bay vào thế giới của cái đẹp, của trí tưởng tượng vô cùng phong phú

Ví dụ:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

(Hồ Chí Minh)

Nhờ “tiếng hát xa” mà người đọc có thể hình dung ra âm thanh của tiếng suối và có tình cảm với tiếng suối Nhờ “vẽ” mà người đọc hình dung

ra rõ rệt độ sáng và đường nét của cảnh rừng với đêm trăng

Nhờ có so sánh tu từ mà những hình ảnh đời thường vốn rất giản dịgần gũi với con người, nhưng khi đi vào thi ca lại trở nên nhẹ nhàng, sâulắng, đầy cảm xúc

1.1.2.4 Các dạng so sánh

Trang 25

Khi xem xét các dạng của phép tu từ so sánh, ta có thể dựa vào mặtcấu trúc hoặc dựa vào mặt ngữ nghĩa của nó để chia thành các dạng sau

a Dựa vào cấu trúc, ta có thể chia phép so sánh thành các dạng:

Dạng 1: Phép so sánh đầy đủ 4 yếu tố:

Đây là dạng so sánh chuẩn vì nó có đầy đủ cả 4 yếu tố: cái so sánh, cơsở so sánh, mức độ so sánh và cái được so sánh

Dạng 2: So sánh vắng yếu tố (1):

Đây là dạng so sánh khuyết yếu tố 1, tức là không có cái so sánh Cái

so sánh là gì, điều đó phụ thuộc vào khả năng liên tưởng của người đọc,người nghe

Ví dụ:

Chòng chành như nón không quai Như thuyền không lái như ai không chồng.

(Ca dao)

Trang 26

Dạng so sánh này có rất nhiều trong thành ngữ so sánh: đông như hội,

xấu như ma, lặng như tờ, ngọt như đường, sầu như dưa, trong như thạch, sạch như sương

Dạng 3: So sánh vắng yếu tố (2):

So sánh vắng yếu tố 2 còn gọi là so sánh chìm, tức là so sánh khôngcó cơ sở so sánh Thông thường, khi bớt cơ sở so sánh thì phần thuyết minhmiêu tả ở cái được so sánh sẽ rõ ràng hơn Ngoài ra, nó còn tạo điều kiệncho sự liên tưởng rộng rãi, phát huy sự sáng tạo của người đọc, người nghehơn là so sánh có đủ 4 yếu tố Dạng so sánh này kích thích sự làm việc củatrí tuệ và tình cảm nhiều hơn để có thể xác định được những nét giống nhaugiữa 2 đối tượng ở 2 vế và từ đó nhận ra đặc điểm của đối tượng được miêutả

Ví dụ:

Đây con sông như dòng sữa mẹ

(TV3, Tập1 - tr.106)

“con sông” được so sánh như “dòng sữa mẹ” và từ hình ảnh so sánh

này người đọc có thể suy nghĩ, liên tưởng tới nhiều hình ảnh khác nhau

Chẳng hạn:

Con sông đầy ăm ắp như dòng sữa mẹ

Con sông ngọt ngào như dòng sữa mẹ

Con sông tốt lành như dòng sữa mẹ

Dạng 4: So sánh vắng yếu tố (2) và yếu tố (3)

Trang 27

Đây là một dạng so sánh không đầy đủ, chỉ có cái so sánh và cái được

so sánh Yếu tố (2) và (3) được thay thế bằng chỗ ngắt giọng, dấu gạchngang hoặc là hình thức đối chọi

so sánh thứ hai vừa đẹp vừa lạ: tàu dừa mà thành chiếc lược, mây xanh màthành suối tóc thì thật kì diệu và thơ mộng

Ngoài ra, còn có trường hợp yếu tố (1) và yếu tố (4) đổi chỗ cho nhau, còn gọi là so sánh đổi chỗ.

Trang 28

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.

(Ca dao) Trong so sánh tu từ, còn có hình thức kết hợp một vế so sánh, một đốitượng so sánh với nhiều đối tượng được so sánh

Ví dụ: Đất Ê-ti-ô-pi-a là cha, là mẹ, là anh em ruột thịt của chúng

(TV3, Tập1 - tr 8)

Hoa đầu cành luôn là hoa luôn tươi thắm, xinh đẹp và bàn tay của bécũng xinh đẹp, và đáng yêu như bông hoa kia Đây chính là một sự so sánhngang bằng

Dạng 2: So sánh hơn - kém

Là dạng so sánh mà cơ sở so sánh luôn gắn liền với từ hơn: khoẻ hơn,

cao hơn, đẹp hơn

Ví dụ: Thần chết chạy nhanh hơn gió

(TV3, Tập1 - tr.29)

Trang 29

Đây là một hình ảnh so sánh trích trong tác phẩm “Người mẹ” của An-đéc-xen Thần Đêm Tối vì muốn thử thách người mẹ đã nói với bà rằng:

“Thần chết chạy nhanh hơn gió” Trong tâm thức của mỗi người, gió là vị

thần chạy nhanh hơn cả, và không có cách nói nào miêu tả sự chạy nhanhcủa thần chết hay hơn bằng một sự so sánh như thế Tuy nhiên, người mẹvẫn đuổi kịp thần chết, bởi một điều: không có gì chiến thắng được trái timngười mẹ, không có gì so sánh được với tình yêu của mẹ dành cho con

Dạng 3: So sánh bậc cao nhất (bậc tuyệt đối)

Đây là dạng so sánh dùng để khẳng định một việc gì đó theo cáchnhìn nhận, cách đánh giá riêng của người so sánh

(Việt Phương)Cũng có thể so sánh bậc cao nhất được thể hiện bằng câu hỏi tu từ:

Ví dụ: Gì sâu bằng những trưa thương nhớ

Hiu quạnh bên trong một tiếng hò?

(Tố Hữu)Những ví dụ trên cho ta thấy các đối tượng được đưa ra để so sánhkhác nhau về bản chất Nhưng do một cách nhìn đặc biệt, các đối tượng vốnlà khác loại, khác bản chất có thể chuyển hóa được cho nhau, có những đặcđiểm, những nét giống nhau Một so sánh đẹp là một so sánh phát hiện, pháthiện ra những gì nhiều người không nhìn ra, không nhận thấy

Trang 30

c Dựa vào sự phát triển của cấu trúc so sánh

Cấu trúc của phép tu từ so sánh luôn luôn vận động và phát triển theoquá trình phát triển của tư duy và quá trình hoàn thiện các phong cách chứcnăng trong tiếng Việt Quá trình này được thể hiện qua sự biến đổi về cấutrúc hình thức và nội dung ngữ nghĩa bên trong của phép so sánh

Thứ nhất, về mặt hình thức, trong thời kì hiện đại, phép so sánh có

chiều hướng phát triển về độ dài cấu trúc dưới các dạng sau:

A x B (ca dao)  A x B x C (thơ hiện đại)

 A x B1 x B2 x B3

(Trong đó: - A là cái so sánh

- B là cái được so sánh

- x là mức độ so sánh)

Một dãy núi mà hai màu mây Nơi nắng nơi mưa khí trời cũng khác Như anh với em, như Nam với Bắc Như Đông với Tây một dải rừng liền.

Trang 31

(Phạm Tiến Duật)

Thứ hai, về mặt nội dung ngữ nghĩa, sự thay đổi cấu trúc A x B còn

được biểu hiện qua sự biến đổi về quan hệ ngữ nghĩa giữa hai vế Xét vềmức độ ý nghĩa, mô hình so sánh thường gặp trong ca dao là:

A - x - B (trừu tượng) (cụ thể)

Trong đó, A được so sánh như B

Ví dụ : Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.

(TV3 – Tập 1 – tr 8)hoặc: A - x - B

(cụ thể) (cụ thể)

Ví dụ : Cây pơ mu đầu dốc

Im như người lính canh.

(TV3 – Tập 1 – tr 58)Nhưng trong phong cách nghệ thuật hiện đại ta gặp các phép so sánhở tất cả các dạng lí tưởng của nó:

A - B: trừu tượng - cụ thể

A - B: trừu tượng - trừu tượng

A - B: cụ thể - cụ thể

A - B: cụ thể - trừu tượngVí dụ: A - B: (Trừu tượng) - (Trừu tượng)

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

(TV3 – Tập 1 – tr80)

Ví dụ: A - B: (Cụ thể) - (Cụ thể)

Trang 32

Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu Thắp mùa đông ấm những đêm thâu.

(Phạm Tiến Duật)Ví dụ: A - B: (Cụ thể) – (Trừu tượng)

Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đương trăng lung linh dát vàng.

(TV3 – Tập 1 – tr 24)Tóm lại, so sánh tu từ có ý nghĩa rất quan trọng Nó là một phươngpháp làm tăng hiệu quả trong việc sử dụng ngôn ngữ Tất nhiên, mức độhiệu quả tuỳ thuộc vào khả năng cụ thể, vào vốn ngôn ngữ và sự rèn luyện kĩnăng thường xuyên ở mỗi người

1.1.2.5 Phép tu từ so sánh trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học

a.Nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và Câu lớp 3.

Bảng 1.2: Nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và Câu lớp 3

Tuần Chủ điểm Nội dung dạy học Trang

1 Măng non Làm quen với phép so sánh 8

3 Mái ấm Tìm hình ảnh so sánh và nhận biết các từ chỉ sự so sánh 24

5 Tới trường So sánh hơn kém, cách thêm các từ so sánh vào những câu chưa có từ so sánh 43

7 Cộng đồng So sánh sự vật với con người 58

Trang 33

10 Quê hương Làm quen so sánh âm thanh với âm thanh 79

12 Bắc- Trung-Nam So sánh hoạt động với hoạt động 98

15 Anh em một nhà Đặt câu có hình ảnh so sánh 126

* Nhận xét về nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong chương trình

em được nghe, được đọc Đây cũng là một cách chuẩn bị dần để các em sửdụng thành thạo hơn phép so sánh tu từ khi làm các bài văn kể chuyện, miêutả ở lớp 4 hoặc lớp 5

Những kiến thức về so sánh được dạy cho HS lớp 3 còn ở mức độ đơngiản, dễ hiểu song thông qua đó chương trình còn muốn bước đầu trang bịcho HS những cách nói, cách nhìn giản dị mà sâu sắc, tinh tế về đời sống,văn hoá, văn học của con người Việt Nam Từ đó, góp phần hình thành vàphát triển tư tưởng, tình cảm và nhân cách HS

Trang 34

Qua phân tích nội dung dạy học, chúng ta thấy rằng, lớp 3 dạy phép tutừ cho HS thông qua hệ thống các bài tập, Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 cónhững loại bài tập sau:

Dạng 1: Bài tập nhận biết phép tu từ so sánh

Ở loại bài tập này, hình thức bài tập thường là nêu ngữ liệu (câu văn,câu thơ; đoạn văn, đoạn thơ) trong đó, có sử dụng phép tu từ so sánh; yêucầu HS chỉ ra các hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh, các vế so sánh,các từ so sánh, các đặc điểm so sánh với nhau trong các ngữ liệu đó.Trong dạng bài tập này có 4 kiểu bài cụ thể:

a/ Tìm những sự vật được so sánh

Dạng bài tập này giúp HS bước đầu nắm được cấu trúc của phép sosánh Các em sẽ tìm ra yếu tố 1(cái so sánh) và yếu tố 4 (cái được so sánh)trong phép so sánh

Ví dụ : Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ,câu văn dưới đây :

Hai bàn tay em Như hoa đầu cành.

Huy Cận

Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.

Vũ Tú Namb/ Tìm những hình ảnh so sánh

Trang 35

Dạng bài tập không chỉ yêu cầu HS tìm những hình ảnh so sánh màqua đó các em còn nắm cả cả cấu trúc có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ củaphép so sánh.

Ví dụ : Tìm những các hình ảnh so sánh trong các câu thơ, câu văndưới đây :

Mắt hiền sáng tựa vì sao Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.

Thanh Hải

Em yêu nhà em Hàng xoan trước ngõ

Hoa xao xuyến nở Như mây từng chùm.

Tô Hà

Mùa đông Trời là cái tủ ướp lạnh Mùa hè

Trời là cái bếp lò nung.

Lò Ngân Sủn

c/ Tìm các từ so sánh

Khi muốn so sánh, từ dùng để so sánh không gò bó chỉ một hoặc haitừ mà trong phép tu từ so sánh có rất nhiều từ dùng để so sánh như: là, tựa,như, giống như, tựa như thể, như là, Đó là sự phong phú, đa dạng cũngnhư sự tinh tế của so sánh tu từ, SGK đã có các bài tập tìm các từ so sánhnhư sau :

Trang 36

Ví dụ :

- Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đương trăng lung linh dát vàng.

Đất Nước Ngàn Năm

- Mắt hiền sáng tựa vì sao

Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.

Thanh Hải

- Em yêu nhà em

Hàng xoan trước ngõ

Hoa xao xuyến nở Như mây từng chùm.

Tô Hà

d/ Tìm các đặc điểm so sánh

So sánh tu từ không chỉ dùng lại ở so sánh đối chiếu 2 đối tượng khácloại của thực tế khách quan mà đối tượng của so sánh tu từ có thể là đốitượng cùng loại: âm thanh với âm thanh, hoạt động với hoạt động điềuquan trọng tất cả những so sánh này đều gợi lên những cảm xúc thẩm mĩ,đây là kết quả của sự liên tưởng, sự phát hiện mà không phải ai cũng nhìn ravà nhận thấy Đây là dạng bài tập tìm hiểu thêm về đặc điểm của phép sosánh với những kiểu so sánh khác nhau

Trang 37

Trên sân, trên cỏ.

Phạm Hổ

Cau cao, cao mãi Tàu vươn giữa trời Như tay ai vẫy Hứng làn mưa rơi.

Ngô Viết Dinh

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

(Hồ Chí Minh)

Dạng 2: Bài tập vận dụng phép tu từ so sánh

Ở dạng bài tập này có hai loại bài tập nhỏ Đó là, bài tập nhận biết tác

dụng của phép tu từ so sánh và bài tập đặt câu có dùng phép so sánh

Ở loại bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh, chương trình

không yêu cầu HS phải chỉ ra tác dụng của phép so sánh mà HS phải cảmnhận được cái hay,cái đẹp của hình ảnh so sánh và diễn đạt cảm nhận ấythành lời

Ví dụ : Quan sát từng cặp sự vật được vẽ dưới đây rồi viết những câucó hình ảnh so sánh các sự vật trong tranh (TV3 – tr 126)

Ở loại bài tập đặt câu có dùng phép so sánh, SGK đã cung cấp sẵn

nội dung so sánh qua các tranh vẽ từng cặp sự vật có đặc điểm giống nhau(hoặc gần giống nhau) về hình thức HS chỉ cần xác định đối tượng so sánh

Trang 38

và đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh ở từng cặp Cũng loại bài tập nàycòn có dạng bài điền từ thích hợp vào chỗ trống, bài tập cho trước cái sosánh yêu cầu HS tìm ra cái để làm chuẩn so sánh Cái khó là các em phải tìmđược những hình ảnh so sánh hợp lí và sinh động.

Ví dụ : Tìm những từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống :

a/ Công cha nghĩa mẹ được so sánh như …, như …

b/ Trời mưa, đường đất sét trơn như …

c/ Ở thành phố có nhiều tòa nhà cao như …

Tóm lại, chương trình SGK đã cung cấp nội dung về phép tu từ sosánh phù hợp với nhận thức và tâm lý của HS ở giai đoạn này Ngữ liệu đểdạy phép so sánh thể hiện tính linh hoạt và sinh động rất phù hợp với tâm lílứa tuổi HS tiểu học Đó là những câu thơ, câu văn vừa chứa đựng nội dungbài học, vừa mang dấu ấn ngộ nghĩnh trẻ thơ Nội dung so sánh cũng mởrộng, đối tượng không những là trẻ em mà lồng vào đó là tình yêu dành chogia đình, quê hương đất nước và Bác Hồ kính yêu Bên cạnh đó, nội dung vềphép tu từ so sánh còn được tích hợp trong tất cả các phân môn Tiếng Việt.Đây là cơ sở vững chắc để HS phát triển kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánhvà cũng là một cách chuẩn bị dần để các em sử dụng thành thạo hơn phép sosánh tu từ khi làm các bài văn kể chuyện, miêu tả ở các lớp trên

Từ những đặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS lớp 4, 5 là cơ sở để chúngtôi tiếp tục nghiên cứu, xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụngphép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn miêu tả cho học sinhlớp 4, phù hợp với sự phát triển tâm lí, trí tuệ lứa tuổi này

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng

Trang 39

Trong thực tế hiện nay ở các trường tiểu học, việc dạy Tập làm vănnói chung và dạy văn miêu tả ở lớp 4 nói riêng, bên cạnh những điểm tốt,trong những năm qua đã mang lại một số kết quả nhất định Nhưng bên cạnhđó còn một số nhược điểm của dạy và học Tập làm văn hiện nay là GV cònnói nhiều, chưa khơi gợi vốn hiểu biết, cách sử dụng từ ngữ mà bắt HS họcnhiều, yêu cầu HS nhớ nhiều để bắt chước rồi “ làm theo mẫu” Ngoài ra,hiện nay sách tham khảo, những bài văn mẫu được in và bày bán đầy trongcác nhà sách, phụ huynh không có điều kiện cho HS quan sát các đối tượngmiêu tả mà lệ thuộc vào các loại sách này hỗ trợ trong việc giúp HS làm bài.Về phía HS có những hiện tượng phổ biến như :

HS vay mượn ý tả sẵn của người khác, lười suy nghĩ cứ học thuộc bàivăn mẫu, đoạn văn mẫu, khi làm bài cứ sao chép ra và trở thành bài văn củamình Nói cách khác HS thường dễ dàng học thuộc một đoạn văn, bài vănmẫu hơn là phải suy nghĩ, vận dụng kiến thức, kĩ năng của bản thân để tạothành bài văn của chính mình Khi đó bài làm của HS không cần quan tâmđến đề bài quy định như thế nào, HS không cần biết đến đối tượng cần miêutả, không vận dụng các giác quan vào quan sát và từ đó không có cảm xúc gìvề đối tượng được miêu tả Khi chấm bài, GV đã không đánh giá đúng vềchất lượng bài văn của HS mình, mà vô tình chỉ là chấm “chính tả Nhớ-viết”, bài văn của nhiều em cứ na ná nhau Không chỉ văn miêu tả mà cácthể loại khác HS cũng tương tự như thế

HS miêu tả chung chung, bài văn không có sắc thái riêng biệt của đốitượng được miêu tả Bài văn khuôn sáo có thể gắn cho nhiều đối tượng miêutả cùng loại nào cũng được Nguyên nhân chủ yếu là vì các em không đượcquan sát hoặc không biết vận dụng kinh nghiệm sống của mình, không biết

Trang 40

cách quan sát nên không có được nhận xét gì cụ thể, tinh tế về đối tượngmiêu tả.

a Về phía giáo viên

Kết quả điều tra vào năm học 2010 – 2011 ở 5 trường tiểu họcNguyễn Thái Bình, Trần Khánh Dư, Nguyễn Huệ, Phan Văn Trị và KhaiMinh ở địa bàn quận 1, đối tượng là GV dạy lớp 4, cho thấy rằng: có 52,6%

GV chưa thấy được tầm quan trọng của việc vận dụng phép tu từ so sánhvào việc dạy và học văn miêu tả ở lớp 4 Chỉ có 47,4,6% GV hiểu được tầmquan trọng của việc vận dụng phép tu từ so sánh vào dạy và học văn miêu tảở lớp 4 Có 36,8% nắm được đặc điểm của phép tu từ so sánh trong vănmiêu tả, số còn lại khoảng 63,2% GV khi được phỏng vấn đều trả lời chungchung Điều này chứng tỏ, GV còn lúng trong việc rèn luyện bồi dưỡng nănglực viết văn cho HS Đa số GV đều cho rằng TLV là môn học khó dạy nhấtcủa GV, đặc biệt là thể loại văn miêu tả Có đến 73,7% GV gặp khó khănkhi dạy VMT, GV không biết phải lựa chọn hình thức nào để dạy cho HS dễhiểu, vận dụng được dễ dàng Ngoài khảo sát những hiểu biết chung của GVvề sử dụng phép tu từ so sánh trong dạy học văn miêu tả, chúng tôi cũng tiếnhành khảo sát về nhận thức cũng như thực trạng sử dụng phép tu từ so sánhtrong văn miêu tả, kết quả chỉ có 28,9% GV biết vận dụng phép tu từ so sánhkhi hướng dẫn HS nói, viết đoạn văn, bài văn miêu tả Tuy nhiên, kết quảmức độ và hiệu quả chưa cao, chưa thuyết phục

Qua khảo sát có thể thấy rằng, từ lý luận cho đến vận dụng vào giảngdạy còn là một khoảng cách với họ, vì thế việc vận dụng vào thực tiễn dạyhọc còn gặp nhiều khó khăn

Ngày đăng: 15/12/2015, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2004), Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạyhọc tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
2. Hoàng Hoà Bình (1999), Dạy văn cho HS tiểu học, NXB Giáo dục, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho HS tiểu học
Tác giả: Hoàng Hoà Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
3. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Đại họcquốc gia
Năm: 2001
4. Nguyễn Thái Hoà (2006), Từ điển tu từ- Phong cách thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ- Phong cách thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
5. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2001), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí họclứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Trần Mạnh Hưởng (2006), Vui học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vui học tiếng Việt
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
7. Trần Mạnh Hưởng (2002), Luyện tập về cảm thụ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập về cảm thụ văn học
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 2002
8. Đinh Trọng Lạc (1996), Vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học qua các bài tập đọc lớp 4, 5, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học qua các bài tậpđọc lớp 4, 5
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
9. Đinh Trọng Lạc (1998), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Đinh Trọng Lạc (2001), 99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếngViệt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
11. Đinh Trọng Lạc (1993) “Phong cách học với sự phát triển lời nói của HS”, Nghiên cứu giáo dục, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học với sự phát triển lời nói củaHS”
12. Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng (2004), Văn miêu tả và văn kể chuyện, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vănmiêu tả và văn kể chuyện
Tác giả: Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
13. Lê Phương Nga (1988) “Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS tiểu học, các dạng bài tập và những vấn đề lưu ý”, Tạp chí Giáo dục Tiểu học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HStiểu học, các dạng bài tập và những vấn đề lưu ý
14. Lê Phương Nga (2001), Dạy học Tập làm văn ở tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Tập làm văn ở tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 2001
15. Đào Ngọc, Vũ Quang Ninh (1993), Rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, Xưởng in văn phòng Bộ Giáo dục và đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng sử dụng TiếngViệt
Tác giả: Đào Ngọc, Vũ Quang Ninh
Năm: 1993
16. Đào Thị Oanh, Vũ Kim Dung, Phạm Thị Thanh (2006), Tiếng Việt và phương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt vàphương pháp dạy học tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Đào Thị Oanh, Vũ Kim Dung, Phạm Thị Thanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Dạy lớp 4 theo chương trình Tiểu học mới, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy lớp 4 theo chương trình Tiểu họcmới
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
18. Cù Đình Tú (1980), “Phong cách ngôn ngữ với việc dạy và học ngữvăn”, Nghiên cứu giáo dục, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách ngôn ngữ với việc dạy và học ngữ"văn”
Tác giả: Cù Đình Tú
Năm: 1980
19. Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1983
20. Bùi Tất Tươm (2003), Phương pháp dạy học môn tiếng Việt bậc trung học cơ sở, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn tiếng Việt bậc trunghọc cơ sở
Tác giả: Bùi Tất Tươm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 : Nội dung chương trình văn miêu tả lớp 4 - Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Bảng 1.1 Nội dung chương trình văn miêu tả lớp 4 (Trang 17)
Bảng 1.2: Nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và Câu lớp 3 - Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Bảng 1.2 Nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và Câu lớp 3 (Trang 32)
Bảng 1.3: Nhận thức của HS khi học phép tu từ so sánh trong văn miêu tả ở lớp 4 hiện nay. - Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Bảng 1.3 Nhận thức của HS khi học phép tu từ so sánh trong văn miêu tả ở lớp 4 hiện nay (Trang 43)
Bảng 1.4: Thực trạng hướng dẫn học sinh vận dụng phép tu từ so sánh trong dạy văn miêu tả ở lớp 4 hiện nay - Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Bảng 1.4 Thực trạng hướng dẫn học sinh vận dụng phép tu từ so sánh trong dạy văn miêu tả ở lớp 4 hiện nay (Trang 45)
Bảng 3.1: Các lớp thử nghiệm và đối chứng - Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Bảng 3.1 Các lớp thử nghiệm và đối chứng (Trang 98)
Bảng 3.2: Tỉ lệ kết quả của lớp thử nghiệm so với lớp đối chứng - Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Bảng 3.2 Tỉ lệ kết quả của lớp thử nghiệm so với lớp đối chứng (Trang 102)
Bảng 3.3: Biểu đồ biểu diễn tần suất kết quả thử nghiệm - Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Bảng 3.3 Biểu đồ biểu diễn tần suất kết quả thử nghiệm (Trang 103)
Bảng 3.4: Mức độ hứng thú học tập của HS đối với các bài học - Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4
Bảng 3.4 Mức độ hứng thú học tập của HS đối với các bài học (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w