1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát từ loại tính từ trong truyện kiều

55 631 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 173,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trớc đến nay các nhà nghiên cứu đều cho rằng Truyện Kiều hay bởi một nội dung xã hội mang tính chất điển hình và một t tởng nhân đạo sâu sắc, bởi nghệ thuật xây dựng nhân vật, phong c

Trang 1

Lời nói đầuTiếng thơ ai động đất trời Nghe nh non nớc vọng lời ngàn thu

Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thơng nh tiếng mẹ ru những ngày

(TốHữu) Truyện Kiều- nỗi lòng thơng yêu, trở thành một kiệt tác văn chơng vĩ đại của một danh nhân văn hóa thế giới, đã băng vợt cả không gian, xuyên suốt cả thời gian hoà lẫn với điệu tâm hồn của con ngời Việt Nam Tìm hiểu Truyện Kiều từ góc độ ngôn ngữ chính là để tìm hiểu rõ hơn tài nghệ của một danh nhân đã tạo nên một tinh hoa của dân tộc

Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nghiêm túc, tận tình của thầy giáo, tiến sĩ Trần Văn Minh và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa, nhất là các thầy, cô giáo bộ môn

Nhân dịp này cho phép tôi đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hớng dẫn và tất cả các thầy cô giáo trong tổ bộ môn

Khóa luận này là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên của chúng tôi, chúng tôi xem việc hoàn thành khóa luận này là một bớc rèn luyện, tập dợt để trởng thành về mọi mặt trong qúa trình nghiên cứu khoa học của mình Đây mới chỉ là bớc đầu có tính chất tập dợt nghiên cứu, do đó còn nhiều thiếu sót Kính mong đợc sự góp ý chỉ bảo chân tình của các thầy cô giáo, của các nhà nghiên cứu (nhất là các nhà nghiên cứu về Truyện Kiều) và của các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh , tháng 5 năm 2004

Trang 2

Đợc đánh giá là một “tập đại thành” của văn học cổ, tác phẩm đã có sức sống mãnh liệt và lâu dài trong đời sống tâm hồn của dân tộc Việt Nam Không phải ngẫu nhiên mà nhân dân ta vịnh Kiều, bói Kiều Rất nhiều nhà khoa học lấy Truyện Kiều làm đối tợng nghiên cứu Từ trớc đến nay các nhà nghiên cứu đều cho rằng Truyện Kiều hay bởi một nội dung xã hội mang tính chất điển hình và một t tởng nhân đạo sâu sắc, bởi nghệ thuật xây dựng nhân vật, phong cách, hành văn, chất thơ, đặc biệt là bởi ngôn ngữ thơ.

Về mặt thi pháp, Truyện Kiều của Nguyễn Du thuộc phạm trù văn học Trung

đại, nhng từ những nguyên tắc nghiêm ngặt đó, sự sáng tạo của thiên tài họ Nguyễn

đã đa ông lên “ Bậc thầy của ngôn ngữ văn chơng ” Việc nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều qua một từ loại cụ thể là một vấn đề lý thú mang tính khoa học, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Truyện Kiều, cũng nh khẳng định Nguyễn Du là một thiên tài, một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ

Xét về lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều từ trớc tới nay chúng ta thấy rằng các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đợc những đặc trng thi pháp của văn học cổ trong Truyện Kiều, nêu đợc vai trò to lớn của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối với sự thành công của tác phẩm, song cha có công trình nào đi sâu khám phá một cách cặn kẽ và có hệ thống về từ loại tính từ trong Truyện Kiều

Chúng ta nhận thấy rằng một tác phẩm có tầm cỡ nh Truyện Kiều thì việc nghiên cứu tác phẩm qua từ loại tính từ cũng là một vấn đề lý thú cần đợc quan tâm

Trang 3

Vì vậy chúng tôi chọn đề tài khảo sát từ loại tính từ trong Truyện Kiều để làm khóa luận tốt nghiệp Với hy vọng hệ thống hóa đợc từ loại tính từ trong Truyện Kiều và nêu bật đợc sự cống hiến to lớn của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ loại tính từ để biểu đạt nội dung t tởng

II Đối tợng mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

1 Đối tợng: Khảo sát toàn bộ Truyện Kiều của Nguyễn Du để tìm ra các từ loại tính

từ trong tác phẩm

2 Mục đích, nhiệm vụ:

a) Mục đích: Đi sâu khảo sát tìm hiểu hoạt động ngữ pháp và vai trò ngữ nghĩa của từ loại tính từ trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Từ đó góp thêm một cách hiểu, cách tiếp cận tác phẩm và cũng qua đó khai thác đợc hiệu quả sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du, nhằm tiếp nhận giá trị Truyện Kiều một cách sâu sắc hơn

Khẳng định thêm tài năng nghệ thuật của đại thi hào Nguyễn Du trên bình diện ngôn ngữ văn chơng

b) Nhiệm vụ: Thống kê, phân loại và so sánh miêu tả các tính từ đợc dùng trong Truyện Kiều về số lợng, cấu tạo ( đơn tiết, đa tiết ) nguồn gốc (thuầnViệt , Hán Việt), tiểu loại, vai trò ngữ pháp của tính từ

Phân tích giá trị ngữ nghĩa của các tính từ trong Truyện Kiều

III Lịch sử vấn đề liên quan:

Kể từ lúc ra đời đến nay trải qua một thời gian khá dài, thế nhng vấn đề nghiên cứu, bình luận Truyện Kiều vẫn cha bao giờ có thể coi là đã kết thúc

Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều từ trớc đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Riêng các công trình nghiên cứu đề cập đến từ loại tính từ thì rất ít mới chỉ đợc đề cập đến nh một luận điểm nhỏ, một phần nhỏ của công trình

Cụ thể nh : ở “ Thi pháp Truyện Kiều ” của Trần Đình Sử ở phần 6 của chơng V ông

đã nghiên cứu về tính từ màu sắc trong Truyện Kiều ở đây ông đã so sánh đối chiếu màu sắc trong Truyện Kiều và màu sắc trong “ Kim Vân Kiều Truyện ” của Thanh Tâm Tài Nhân và ông kết luận rằng màu sắc trong Truyện Kiều phong phú hơn trong Kim Vân Kiều Truyện gấp 5 lần Trong Kim Vân Kiều Truyện có khoảng 106

Trang 4

lần sử dụng từ màu sắc trên 10 vạn 6 nghìn chữ chiếm 0,1% Còn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du gồm 22778 chữ có khoảng 119 lần sử dụng từ chỉ màu sắc chiếm 0,52%.

Nhng vấn đề này không phải để dừng lại ở số lợng, ở “Kim Vân Kiều Truyện” các màu hoặc là mang nội dung biểu trng đã mòn “ lầu xanh ” “má hồng” hoặc là…các màu tả thực trong các chi tiết, tình huống cụ thể ở Truyện Kiều của Nguyễn Du nổi bật lên là khuynh hớng dùng màu sắc để tạo thành các hình

tợng có nội dung khái quát rộng lớn giàu giá trị thẩm mỹ

Trần Đình Sử đã nêu tỷ lệ số lần nhắc đến một màu nào đó trong tổng số lần nhắc

đến các màu trong Truyện Kiều nh sau:

đồng thời cũng là mù sắc sang trọng vơng giả cao quý

ở phần này ông cũng nêu ra cách sử dụng từng cặp màu tơng phản trong miêu tả trần thuật, và ý nghĩa của sự tơng phản đó

Cuối cùng ông kết luật bảng màu ngũ sắc trong Truyện Kiều ít tính chất tả thực, nặng tính biểu trng thể hiện những bản chất bất biến trong mô hình thế giới của tác phẩm – tác giả Ưu thế của các màu sáng thể hiện “ nốt lạc quan tơi sáng yêu đời trong cái nhìn của tác giả về nhân sinh và vũ trụ ”

Nh vậy, Trần Đình Sử cũng đã đề cập đến tính từ trong Truyện Kiều, tuy nhiên

ông chỉ dừng lại ở phần nhỏ đó là màu sắc trong Truyện Kiều

Giáo s Phan Ngọc trong “Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều ”, đã đề cập

đến tính từ ở một phần nhỏ, ông đã đề cập đến vấn đề sự kết hợp của tính từ và vị trí của tính từ Ông viết “ Tính từ đứng sau danh từ thì nó có ý nghĩa ngữ pháp chỉ một

Trang 5

tính chất khách quan của sự vật và đợc hiểu theo nghĩa thực ”.

Ví dụ: Ngày vui ngắn chẳng đầy gang ( 425)

Hơng còn thơm nức ngời đà vắng tanh ( 290 )

Tính từ đứng trớc danh từ thờng mang ý nghĩa ngữ pháp khác là chỉ sự đánh giá chủ quan và nhiều lúc đợc hiểu theo nghĩa bóng

Ví dụ: Thân nghiên kín cổng cao tờng ( 267 )

Trong Truyện Kiều không có trờng hợp nào tính từ kết hợp với phó từ chỉ mức độ

“rất” Từ “ rất ” chỉ xuất hiện một lần trong Truyện Kiều nhng lại đi với danh từ Tính

từ không có cấp độ so sánh

Cũng nh Trần Đình Sử, tác giả Phan Ngọc mới chỉ đề cập đến một phần nhỏ của

từ loại tính từ mà cha đi sâu vào nghiên cứu từ loại tính từ nh là một hệ thống

Cuốn “ Từ điển Truyện Kiều ” của Đào Duy Anh đã hiệu đính, chú giải hết sức

tỷ mỉ về từ trong Truyện Kiều Ông đã có sự đóng góp rất lớn trong việc tiếp cận tìm hiểu Truyện Kiều Nhng do tính chất, phạm vi của công trình ông không hệ thống đợc các từ loại tính từ thành một hệ thống

Từ việc tìm hiểu trên ta thấy rằng tính từ trong Truyện Kiều cũng đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến Song vì mục đích của ngời viết, vì mục đích của công trình nghiên cứu, nên vấn đề tính từ trong Truyện Kiều chỉ mới đợc tìm hiểu ở cấp

độ , là một khía cạnh của một bài viết nhỏ , hoặc chỉ nêu sơ qua vài luận điểm của vấn

đề liên quan , mà cha đi sâu nghiên cứu nh một chỉnh thể có hệ thống

ở luận văn này chúng tôi sẽ khảo sát và đi sâu tìm hiểu phân tích các tính từ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du một cách đầy đủ nhằm giúp cho việc tìm hiểu Truyện Kiều và tài năng của Nguyễn Du một cách thấu đáo

IV Phơng pháp nghiên cứu đề tài:

Xuất phát từ đối tợng và mục đích nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số phơng pháp sau:

- Phơng pháp khảo sát

- Phơng pháp thống kê lựa chọn

Trang 6

- Phơng pháp phân tích miêu tả.

- Phơng pháp so sánh tổng hợp khái quát

V Dự kiến đóng góp của đề tài:

Đề tài không đi sâu vào nghiên cứu Truyện Kiều ở các bình diện nh phân tích nội dung, tìm hiểu giá trị nghệ thuật, sử dụng ngôn từ, ngôn ngữ nhân vật, thế giới nội tâm, ngôn ngữ thiên nhiên mà chúng tôi đi vào nghiên cứu tác phẩm từ một từ loại…

cụ thể để phát hiện ra những yếu tố đặc sắc của Truyện Kiều

Thông qua đề tài này góp phần phân tích nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều qua một từ loại cụ thể Từ đó nêu lên hiệu quả biểu hiện của nó đối với các nội dung mà

nó biểu đạt trong tác phẩm

Trang 7

Phần hai: Nội dung

Chơng I: Một số vấn đề chung

1 Vấn đề nghiên cứu tính từ trong tiếng Việt:

Từ loại tính từ trong tiếng Việt, đợc rất nhiều các nhà việt ngữ quan tâm nghiên cứu Bàn về từ loại tính từ có thể thấy có 2 xu hớng:

Xu hớng thứ nhất: Gạt bỏ từ loại trong tiếng Việt trong đó có tính từ

Xu hớng thứ hai: Thừa nhận sự có mặt của từ loại trong tiếng Việt trong đó có tính từ

Theo hớng thứ nhất có H.Mapero, M.Gram man, Lê Quan Trinh, Hồ Hữu Tờng, H.Bonchet Hớng này chịu ảnh hởng của một số nhà ngôn ngữ học ấn - Âu dựa vào tiêu chuẩn hình thái để phân chia từ loại Khi thấy trong tiếng Việt, tiếng Hán từ không có sự biến hoá hình thái nên họ phủ nhận phạm trù từ loại trong các ngôn ngữ này Hồ Hữu Tờng kết luận: “ Tiếng Việc cơ cấu theo một lối khác hẳn với các ngôn ngữ phơng Tây, nên không có từ loại” Hớng ý kiến này không đợc mấy tác giả thừa nhận vì vậy không có sức sống lâu dài Dựa vào sự không biến hình để kết luận tiếng Việt không có từ loại là không đúng

Hớng ý kiến thứ 2 theo thời gian đã đợc đông đảo các tác giả chấp nhận Các tác giả khi nghiên cứu đến vấn đề này đã dựa trên những tiêu chí khác nhau và họ thừa nhận sự tồn tại của tính từ trong tiếng Việt Điều này đợc phản ánh trong nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Việt từ trớc cho tới nay

Trớc 1954 các tác giả nh Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hiển Chi, Lê

Th-ớc đã dựa vào tiếng Pháp có bao nhiêu từ loại thì tiếng Việc có bấy nhiêu từ loại.…

Họ chia tiếng việt có 9 từ loại trong đó có tính từ ( danh, động, tính, số, định , liên, giới, trạng, thán)

Sau 1954 ngành ngôn ngữ học Việt Nam đã bắt đầu đợc chú ý và đợc đa vào giảng dạy ở bậc đại học Đội ngũ các nhà nghiên cứu đợc bổ sung nhiều thêm với nhiều tên tuổi nh: Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Phan Thiều, Đinh Văn Đức, Hoàng Tuệ, Lê Biên, Hoàng Văn Thung, Lê A

Trang 8

Trong đó có nều tác giả tham gia nghiên cứu vấn đề từ loại trong tiếng Việt Các tác giả đa ra những tiêu chí, những ý kiến riêng của mình về từng từ loại cụ thể trong tiếng Việt Nhng có một điểm chung là các tác giả này đều thừa nhận sự có mặt của tính từ trong tiếng Việt.

Vấn đề từ loại tính từ có nhiều công trình, có nhiều phát hiện mới trong nghiên cứu Có thể kể tên một số giáo trình ngữ pháp tiếng Việt nh: Cuốn ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban, ngữ pháp tiếng Việt của Đỗ Thị Kim Liên, ngữ pháp tiếng Việt của Đinh Văn Đức, ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn…

Trong cuốn “ Ngữ pháp tiếng Việt ” của Diệp Quang Ban ông chia tính từ thành

2 lớp, lớp từ chỉ đặc trng không xác định thang độ và lớp từ chỉ đặc trng xác định thang độ

Lớp từ đặc trng không xác định thang độ là những tính từ chỉ đặc trng không biểu thị ý nghĩa thang độ tự thân thờng kết hợp với phụ từ: rất, hơi, khi, qúa, lắm gồm…

6 Tính từ chỉ đặc trng mùi vị: thơm, thối, đắng cay, ngọt bùi…

Lớp tính từ chỉ đặc trng xác định thang độ: Không kết hợp với phụ từ: qúa, hơi, rất, lắm, khi Trong loại này ông chia thành 2 tiểu nhóm nhỏ:…

1) Tính từ chỉ đặc trng tuyệt đối dùng kèm với danh từ, động từ, để bổ sung ý nghĩa cho danh từ, động từ

Ví dụ: riêng – chung, chính – phụ, công – t …

2) Tính từ chỉ đặc trng tuyệt đối: Không làm cặp đối lập: đỏ lòm, xanh rì, trắng phau, đo đỏ, xanh xanh…

Nh vậy, Diệp Quang Ban đã chỉ ra đặc trng của tính từ và phân chia tính từ thành từng lớp và từng tiểu nhóm nhỏ theo đặc trng riêng

Trang 9

Cũng nh Diệp Quang Ban, tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn “ Ngữ pháp tiếng Việt” của mình đã chỉ ra đặc điểm của tính từ và tiểu nhóm của chúng Tuy nhiên cũng có sự khác nhau giữa 2 ngời.

Đỗ Thị Kim Liên đã nêu ra đặc điểm của tính từ nh ý nghĩa, khả năng kết hợp, và

có phần so sánh với động từ

- ý nghĩa: Tính từ là những từ chỉ tính chất, màu sắc

- Khả năng kết hợp: Có khả năng trực tiếp làm vị ngữ, có khả năng kết hợp phổ biến với những phó từ chỉ mức độ: rất, hơi, quá, khi…

- Những đặc điểm của tính từ khác động từ: Tính từ có khả năng kết hợp phổ biến với những phó từ chỉ mức độ, còn động từ thờng kết hợp với những phó từ chỉ thời gian Tính từ thờng làm định ngữ cho danh từ, còn động từ kết hợp hạn chế hơn

Trong phần tiểu nhóm của tính từ tác giả chia ra thành 4 tiểu nhóm và trong từng tiểu nhóm tác giả cũng nêu lên ý nghĩa và khả năng kết hợp

4 nhóm cụ thể:

1 Tính từ chỉ tính chất- phẩm chất:

ý nghĩa: Thờng đánh giá tính chất - phẩm chất sự vật

Khả năng kết hợp: Có khả năng kết hợp với danh từ ở phía sau:

2 Nhóm tính từ chỉ trạng thái:

- ý nghĩa: Thờng chỉ trạng thái nhất định của sự vật khi hoạt động

- Khả năng kết hợp: Có khả năng kết hợp với danh từ để chỉ trạng thái hoạt động hoặc kết hợp trớc danh từ để chỉ thuộc tính của sự vật

3 Nhóm tính từ chỉ kích thớc số lợng:

- ý nghĩa: Thờng chỉ kích thớc số lợng sự vật

- Khả năng kết hợp: Có khả năng kết hợp trớc số từ và danh từ để chỉ kích thớc số lợng sự vật

4 Nhóm tính từ chỉ màu sắc:

- ý nghĩa: Thờng chỉ màu sắc sự vật

- Khả năng kết hợp: Thờng kết hợp với phó từ chỉ mức độ ở phía sau

Trang 10

ở đây tác giả còn lu ý đến nhóm tính từ song tiết và đa ra nhận định về tính từ song tiết “ Tính từ song tiết thờng là từ láy và đây là nhóm từ chiếm số lợng lớn, mang ý nghĩa phức tạp trong các kết hợp cụ thể ”

Qua những vấn đề vừa nêu trên chúng tôi nhận thấy rằng tác giả đã có những

đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu từ loại tính từ trong tiếng Việt

Nh vậy từ loại tính từ trong tiếng Việt đợc khẳng định nh một chân lý hiển nhiên

2 Vấn đề khảo sát từ loại tính từ trong các tác phẩm văn học cụ thể:

Trớc đây việc nghiên cứu văn học và ngôn ngữ thờng tách bạch nhau thành hai lĩnh vực độc lập Việc tiếp cận một tác phẩm văn học hầu hết thờng đợc nghiên cứu từ bình diện giải mã ngữ nghĩa, phân tích nội dung

Ngày nay thi pháp học hiện đại phát triển, việc tiếp cận một tác phẩm văn học đợc

mở rộng ra từ nhiều góc độ khác nhau Việc nghiên cứu tác phẩm văn học không dừng lại ở bình diện giải mã ngữ nghĩa, phân tích nội dung nữa mà ngời tiếp nhận văn học đã tiếp nhận nhiều thành tựu khoa học khác nhau để phân tích giải mã

Xu hớng tiếp cận nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ ngôn ngữ hiện nay đã

đ-ợc rất nhiều nhà nghiên cứu áp dụng Việc tiếp cận tác phẩm văn học từ góp độ ngôn ngữ này sẽ phát hiện ra đợc vai trò ý nghĩa của nó trong việc biểu hiện nội dung tác phẩm và thể hiện phong cách nhà văn

Vấn đề khảo sát từ loại tính từ trong các tác phẩm văn học cũng đã có một số bài viết đề cập đến

Tác giả Biện Minh Điền có bài viết “ màu sắc ngôn ngữ và ngôn ngữ màu sắc ” trong thơ Nguyễn Khuyến

Nhiều luận văn thạc sỹ viết về các từ chỉ màu sắc, chỉ mùi vị trong các tác phẩm văn học nh: “Màu sắc trong thơ mới”, “Màu sắc trong thơ Tố Hữu”, “Từ chỉ mùi vị trong thơ mới”…

Mặc dù các bài viết mới chỉ đề cập đến một tiểu loại nhỏ trong từ loại tính từ,

nh-ng các tác giả cũnh-ng khônh-ng phân tích đợc giá trị nh-ngữ nh-nghĩa của nó và vai trò của

Trang 11

nó trong việc biểu hiện nội dung tác phẩm, t tởng tác giả.

3 Vắn đề nghiên cứu Truyện Kiều từ trớc đến nay:

Truyện Kiều của Nguyễn Du đợc biết đến từ đầu thế kỷ thứ 19, kế từ đó đến nay Truyện Kiều đã trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứu bình luận và nhiều cuộc bút chiến “ Dù có ý thức hay không có ý thức những ngời nghiên cứu và thởng thức Truyện Kiều qua nhiều thời đại đã đem đến chân trời của tác phẩm này những màu sắc khác nhau, những tiếng nói khác nhau, những quan niệm khác nhau về nhân sinh về nghệ thuật ” ( Nguyễn Lộc - Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đến hết thế thế kỷ XIX )

Tìm hiểu vấn đề nghiên cứu Truyện Kiều ta thấy rằng các công trình nghiên cứu Truyện Kiều ngày càng có quy mô và chất lợng khoa học cao Một số công trình tiêu biểu nh: “ Thi pháp Truyện Kiều ” của Trần Đình Sử, “ Tìm hiểu phong cách Nguyễn

Du trong Truyện Kiều” của Phan Ngọc , “ Chữ nghĩa Truyện Kiều” của Nguyễn Quảng Tuân , “ Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh, Báo kỳ yếu 200 năm sinh của Nguyễn Du…

Riêng vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều từ trớc đến nay có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu

Giữa thế kỷ XX trong báo Thanh Nghị, Hoài Thanh đã có những bài báo viết về ngôn ngữ Truyện Kiều Tuy nhiên ở đây Hoài Thanh chỉ mới đề cập đến ngôn ngữ nhân vật

Trong cuốn “ Văn học Việt Nam nữa cuối thế kỷ XVIII - đến hết thế kỷ XIX” của Nguyễn Lộc có phần ngôn ngữ trong Truyện Kiều Trong phần này tác giả đã khẳng

định thành công của Nguyễn Du về phơng diện ngôn ngữ, đặc biệt là việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc “ Truyện Kiều đã đem lại lòng tin cho mọi ngời về khả năng phong phú của tiếng Việt, và Truyện Kiều đã có công khai sáng cho nhiều nhà văn nhà thơ

đời sau về phơng diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn chơng”

Cũng ở phần này Nguyễn Lộc còn phân tích cách sử dụng từ Hán Việt, phân tích thể thơ nhịp thơ và cuối cùng ông kết luận “ Trong Truyện Kiều tất cả các mặt ấy,…

có khả năng thể hiện tổng hợp ngay ở từng câu thơ Do đó mà câu thơ Truyện Kiều

Trang 12

dờng nh chỗ nào cũng óng ánh Nó vừa thoả mãn đợc tình cảm, vừa thoả mãn

đợc trí tuệ, lại vừa thỏa mãn đợc mỹ cảm của ngời đọc Nguyễn Du thâu tóm đợc trong tác phẩm của mình tinh hoa của ngôn ngữ bác học với tinh hoa của ngôn ngữ bình dân đã nhào nặn lại và góp phần nâng cao nó Công đóng góp của Nguyễn Du về phơng diện ngôn ngữ là có một không hai trong lịch sử ”

Trong cuốn “ Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du của Truyện Kiều ” của tác giả Phan Ngọc có đề cập đến nhiều vấn đề trong Truyện Kiều trong đó ở chơng IV tác giả

đã viết về ngôn ngữ Truyện Kiều, đó là ngôn ngữ tác giả (Phần I ), ngôn ngữ nhân vật ( Phần II ), ngôn ngữ thiên nhiên ( Phần IV )

Cuốn “ Chữ nghĩa Truyện Kiều ” của Nguyễn Quảng Tuân, tác giả đã nghiên cứu

về mặt chữ nghĩa của Truyện Kiều ở công trình này ông đã đối chiếu bản phiên âm với các bản nôm cổ và lần lợt tìm hiểu từ bản in sớm nhất củaTrơng Vĩnh Ký (1875 ) đến bản gần đây nhất của Đào Duy Anh ( 1984 ) để phát hiện ra những câu dịch sai làm ảnh hởng đến ý nghĩa của tác phẩm

Trong “Báo kỷ yếu 200 năm sinh của Nguyễn Du” tác giả Đào Thản có bài viết

đặc điểm ngôn ngữ Truyện Kiều

Ngôn ngữ Truyện Kiều còn là đề tài cho nhiều luận văn thạc sỹ khoa học ngữ văn

nh : “ Các đơn vị trái nghĩa trong Truyện Kiều ” của Lê Thị Thoa, “ Vốn từ đồng nghĩa trong Truyện Kiều ” của Hoàng Thị Hinh…

Truyện Kiều là tác phẩm có một không hai trong văn học Việt Nam đợc nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu Truyện Kiều không những thu hút các học giả trong nớc mà còn thu hút rất nhiều học giả là ngời nớc ngoài Tìm hiểu th mục nghiên cứu Truyện Kiều tác giả Trần Đình Sử trong “ Thi pháp Truyện Kiều ” đã đa ra 660 th mục, trong đó có rất nhiều th mục của các tác giả nớc ngoài

Viết về lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều trong cuốn giáo trình “ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ thứ XVIII đến hết XIX ” của Nguyễn Lộc tác giả đã nêu lên các giai đoạn nghiên cứu bình luận Ông cho rằng lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều có thể chia làm 4 giai đoạn

Giai đoạn thứ nhất: Từ khi Truyện Kiều ra đời cho đến hết thế kỷ thứ XIX Trong

Trang 13

giai đoạn này chủ yếu là bình luận về các nhân vật trong Truyện Kiều mà trọng tâm bình luận nhân vật Thuý Kiều ở đây hình thành hai khuynh hớng Một khuynh hớng

đứng trên quan điểm đạo đức phong kiến để bình luận, một khuynh hớng đứng trên quan điểm nhân sinh, quan điểm xã hội để bình luận

Giai đoạn thứ hai: Từ đầu thế kỷ thứ XX đến đầu năm 1930, bớc sang giai đoạn này việc bình luận Truyện Kiều bị thu hút theo một chiều hớng khác Trong giai đoạn này Nguyễn Lộc nêu lên ba tác giả tiêu biểu là Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng Phạm Quỳnh hết sức ca ngợi Truyện Kiều, còn Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng có thái độ đối với Truyện Kiều cha đợc thoả đáng Ngô Đức kế cho văn Truyện Kiều tuy hay mà “ Truyện là truyện phong tình thì cái vẽ ai, dâm sầu, oán,

đaọ, dục, tăng, bị, tám chữ ấy không tránh đàng nào cho khỏi ” Huỳnh Thúc Kháng

ví Truyện Kiều với chiếc hộp sơn son thiếp vàng về mặt mỹ thuật rõ là cực tốt mà trong đựng những vật có chất độc, mấy lần cụ gọi Thuý Kiều là con đĩ

Giai đoạn ba: Từ đầu những năm 30 đến năm 1945: Việc nghiên cứu Truyện Kiều trong giai đoạn đầu 30 đến 1945 là khá phức tạp, có ngời tiếp tục đánh giá trên quan

điểm đạo đức phong kiến, có ngời nặng về mặt khảo cứu, có ngời nặng về mặt diễn giảng các tác giả tiêu biểu nh… Hoài Thanh, Lu Trọng L, Đào Duy Anh, Nguyễn Bách Khoa

Giai đoạn thứ t: Từ cách mạng tháng 8 đến nay, các nhà nghiên cứu đã không đặt

ra vấn đề luân lý đạo đức, không đi vào những chi tiết tủn mũn vô bổ, không tuyệt đối hoá giá trị văn chơng Truyện Kiều, không thần bí hóa thiên tài nghệ thuật của Nguyễn

Du Trong giai đoạn này có rất nhiều tên tuổi nh: Đặng Thái Mai, Lê Trí Viễn, Lê

Đình Kỵ hầu hết các nhà nghiên cứu giai đoạn này đều đứng trên lập tr… ờng quan

điểm Mác – Lê Nin để phân tích

Đặc biệt trong giai đoạn này ngôn ngữ Truyện Kiều là một đề tài đợc nhiều tác giả chú ý Nguyễn Lộc đã giới thiệu một số tác giả đi sâu vào nghiên cứu Truyện Kiều từ góc độ ngôn ngữ nh Đào Thản- đi tìm một vài đặc điểm của ngôn ngữ Truyện Kiều Hoàng Văn Hành-từ nhiều nghĩa trong Truyện Kiều , một biểu hiện

Trang 14

phong phú về vốn từ vựng của Nguyễn Du Nguyễn Phan Cảnh mô hình cơ cấu ngữ

âm học của vần hiệp trong Truyện Kiều và vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Nguyễn Lộc đã hệ thống một cách đầy đủ các giai đoạn lịch sử nghiên cứu bình luận Truyện Kiều

Qua đó ta thấy rằng Truyện Kiều ra đời đã đợc chú ý ngay từ đầu, và từ đó đến nay vấn đề nghiên cứu phê bình tác phẩm này vẫn cha bao giờ có thể coi là kết thúc

Trang 15

Ch ơng II :

Đặc điểm ngữ pháp của

Từ loại tính từ trong truyện kiều

tính từ trong Truyện Kiều có vai trò nổi bật Nguyễn Du, đã sử dụng tính từ rất hữu hiệu trong tạo hình và biểu cảm.Có thể nói ,Nguyễn Du đã đạt đến trình độ cao trong việc sử dụng tính từ vào thơ nôm để chúng thực chức năng thi ca

2.1: Tính từ trong truyện Kiều xét về mặt cấu trúc:

Theo thống kê của chúng tôi,Truyện Kiều có khoảng 1385 lần sử dụng tính từ (với tổng số tính từ là 458 từ ) Xét về cấu tạo, có tính từ đơn tiết và tính từ đa tiết Trong tính từ đa tiết có tính từ láy và tính từ ghép

Bảng kết quả thống kê, phân loại về cấu tạo của tính từ trong Truyện Kiều:

đẳng lập

Ghép chính phụ

Trang 16

Tính từ đa tiết trong Truyện Kiều chiếm tỷ lệ cao hơn 2,5 lấn so với tính từ đơn tiết Tính từ đa tiết gồm tính từ láy và tính từ ghép.

Trong tính từ ghép có tính từ ghép chính phụ và tính từ ghép đẳng lập Nguyễn

Du sử dụng nhiều từ ghép chính phụ (131từ, chiếm tỷ lệ 28,60% )

Nh : bạc phau, đen rầm, đen sì, trắng ngà, trắng ngần, xanh rì, phong tình ,phong vận , đoan chính, linh đình , trang trọng , thanh vắng, lạnh ngắt, trong veo, trong vắt, uy linh ,uy nghi

Nguyễn Du đã sử dụng các tính từ ghép chính phụ (từ ghép phân nghĩa) một cách có hiệu quả, để sắc thái hoá nghĩa tính chất của sự vật đợc miêu tả

Chẳng hạn, cũng để tả màu đen của sự vật, hiện tợng, Nguyễn Du đã sử dụng hai

từ ghép phân nghĩa “đen rầm’’ và “ đen sì’’ “Đen rầm” chỉ sắc đen sẫm, “đen sì” chỉ sắc đen ở mức độ đậm, hai từ này mang hai sắc thái nghĩa khác nhau

- Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây (912)

- Trông lên mặt sắt đen sì (1409)

“ Đen rầm” dùng để miêu tả màu của một khoảng không gian, không gian nh

đặc quánh, bao phủ, bủa vây con ngời Còn “đen sì” thờng để miêu tả những sự vật cụ thể, và miêu tả nớc da của ngời, ở đây Nguyễn Du đã dùng “ đen sì” để miêu tả màu da của Thúc Sinh

Hay khi miêu tả sự vắng lặng tĩnh lặng của sự vật, tác giả dùng từ “ vắng tanh”

Ta thấy “vắng tanh” so với “ vắng” nó có nghĩa biểu hiện cao hơn Vắng là ít

ng-ời, ít tiếng , cũng có thể là không có ngng-ời, không có tiếng

- Vắng nhà chẳng tiện ngồi dai (441)

- Nói lời trớc mặt rơi châu vắng ngời (1930)

“ Vắng tanh” là vắng hẳn, không hề có một bóng dáng gì đã từ lâu:

Trang 17

- Mà đây hơng khói vắng tanh thế này (60)

- Hơng còn thơm nức ngời đà vắng tanh (292) Nói chung, các tính từ ghép phân nghĩa trong Truyện Kiều, đã tạo nghĩa biểu cảm và nghĩa sắc thái cho câu thơ

Ngoài từ ghép chính phụ, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du còn sử dụng các tính

từ ghép đẳng lập ( ghép hợp nghĩa ) So với tính từ ghép chính phụ, tính từ ghép đẳng lập có số lợng ít hơn (46 từ, chiếm tỷ lệ 10,05%)

Ví dụ: ấm lạnh, cay đắng, ấm no, chông gai, chua xót, hôi tanh, khôn ngoan, may rủi, mặn nồng, ngọt bùi, nguy hiểm, sắt đá, ngẩn ngơ, phẳng lặng, nhặt tha, nhỏ to, xa gần

Các tính từ đẳng lập, đợc Nguyễn Du dùng đều gồm hai hình vị Hai hình vị có vai trò tơng đơng nhau, không phụ thuộc vào nhau, tạo thành một từ mang ý nghĩa khái quát, khác với nghĩa của từng thành tố

Thí dụ, tính từ “cay đắng”: Nếu xét từng thành tố, ta thấy “ cay” là một cảm giác do vị giác đa lại, “ đắng” cũng là một cảm giác mà con ngời cảm nhận đợc khi nếm hoặc ăn một cái gì đó; tức là cả hai đều cùng các cảm giác do vị giác đa lại Nhng khi hai thành tố “ cay”, “đắng” ghép lại với nhau thì lại cho ta nghĩa khái quát hơn, đó là chỉ sự khổ cực mà con ngời nếm trải trong cuộc đời của mình

Khi nói về nổi khổ lu lạc mời lăm năm của Kiều, Nguyễn Du sử dụng đến ba lần tính từ “cay đắng”

Từ “hôi tanh”: Nếu tách ra từng thành tố “hôi”, “tanh” thì đều có nghĩa chỉ mùi khó chịu Nhng khi cả hai thành tố này kết hợp với nhau, thì từ “hôi tanh” lại

có nghĩa khái quát hơn, ngoài nghĩa chung là mùi khó chịu do thính giác đa lại,

nó còn chỉ cái gì là bẩn thỉu, nhơ nhớp Thuý Kiều khi phải tiếp khách ở Lầu Xanh, nàng nghĩ rằng con ngời mình, thân phận mình giống tuồng hôi tanh ( “ Tuồng chi là giống hôi tanh” ( 853))

Trang 18

Từ “xa gần”: Nếu nh ta tách từng thành tố ra, thì “xa” là một khoảng cách tơng

đối lớn trong không gian, “gần” là một khoảng cách tơng đối nhỏ trong không gian Nhng khi hai thành tố này ghép lại thành từ “xa gần” thì nó mang ý nghĩa khái quát chỉ khoảng vừa xa vừa gần, còn có nghĩa chỉ khắp nơi (“ Tin sơng đồn

đại xa gần xôn xao” ( 622)); ( “Mảnh tiên kể hết xa gần” (1081))

Hoặc từ “ ngọt bùi”: Nếu tách ra từng thành tố, thì “ngọt” là cảm giác do vị giác đa lại, “ có vị nh vị của đờng” (Từ điển tiếng Việt- NXB Đà Nẵng), “bùi” cũng là cảm giác do vị giác đa lại “ có vị ngon hơi béo” ( Từ điển tiếng Việt- NXB Đà Nẵng ) Khi cả hai thành tố này kết hợp với nhau ngoài nghĩa là chỉ vị ngọt và thơm, còn có ý nghĩa chỉ niềm vui hạnh phúc của cuộc sống con ngời Trong Truyện Kiều “ ngọt bùi” đợc Nguyễn Du dùng để chỉ những miếng ngon, miếng ngọt và niềm hạnh phúc mà con cái cung dỡng cha mẹ ( “Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi” (1630))

Nh vậy, tính từ ghép nghĩa chiếm số lợng lớn trong Truyện Kiều Các tính từ này, đợc Nguyễn Du sử dụng rất đắt khi miêu tả sự vật, sự việc

Cùng với tính từ ghép nghĩa, tính từ láy cũng đợc Nguyễn Du sử dụng rất nhiều trong Truyện Kiều

Xét về nghĩa, từ láy làm thành một nhóm riêng khác với từ ghép, (đẳng lập và chính phụ) “ Nhìn một cách bao quát, đặc trng chung về nghĩa từ láy đợc hình thành từ nghĩa của đơn vị gốc theo hớng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cờng hay giảm nhẹ tổng hợp hay chuyên biệt hoá ( Sắc thái hoá) Nghĩa của từ láy khác với nghĩa của tiếng gốc” ( Đỗ Thị Kim Liên – Ngữ pháp tiếng Việt – 33)

Nguyễn Du đợc xem là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc Trong Truyện Kiều, ông đã sử dụng các tính từ láy một cách sinh động Qua khảo sát chúng tôi thấy, tính từ láy đợc Nguyễn Du sử dụng rất phong phú, có 99 từ, chiếm 21,62% tổng số tính từ trong Truyện Kiều

Nhiều tính từ láy, đợc Nguyễn Du sử dụng nhiều lần trong Truyện Kiều và có

ý nghĩa biểu cảm sâu sắc

Trang 19

Ví dụ: “ào ào” ở các câu (578,1212), “chênh chênh” ở các câu (185, 241),

“chênh chếch” ở câu (173), “dập dìu” ở các câu (47,1208) , “dìu dặt” ở các câu (3135, 3197), “khấp khểnh” ở câu (870), “khấp khởi” ở câu (1867), “ tà tà” ở các câu ( 51, 1254), “ thảnh thơi” ở các câu (1565, 2063), “thênh thênh” ở các câu

(2110 , 2478), “ thiu thiu” ở các câu ( 186 , 435), “ thủng thỉnh” ở câu ( 1589),

“thoăn thoắt” ở câu (378)

Tính từ láy trong Truyện Kiều, gồm cả tính từ láy hoàn toàn và tính từ láy bộ phận Nguyễn Du đã khai thác triệt để vốn từ láy của ngôn ngữ dân tộc Đây là sự khác biệt so với các tác phẩm văn học đơng thời “ Tác giả cố sử dụng những từ dân dã để làm dịu bớt ảnh hởng bác học” ( Phan Ngọc – Phong cách Nguyễn

Du trong Truyện Kiều, 354)

Việc sử dụng tính từ láy làm cho câu thơ trong Truyện Kiều có sắc thái bao quát Các tính từ láy này có ý nghĩa sắc thái hoá

Khi miêu tả tiếng gió thổi và tiếng ngời ồn ào với nghĩa nhấn mạnh, tác giả đã

sử dụng tính từ láy “ ào ào” Tất cả nh kéo đến, đổ đến một cách bất ngờ, ồn ào

và hỗn loạn

- “ ào ào đổ lộc rung cây” ( 121)

- “ Ngời nách thớc kẻ tay đao

Đầu trâu mặt ngựa ào ào nh sôi” ( 577 – 578)

Khi miêu tả khung cảnh vắng vẻ, tàn tạ hoang dại đến lạnh lẽo, ở vờn Thuý khi Kim Trọng trở lại tìm Thuý Kiều Nguyễn Du dùng từ “ quạnh quẽ” “Quạnh quẽ” tức là vắng vẻ lắm ( “ Song trăng quạnh quẽ vách ma rã rời” (2746)) Nh vậy tính từ láy “quạnh quẽ” mang sắc thái nhấn mạnh

Không những thế, trong Truyện Kiều, có nhiều trờng hợp các tính từ láy mang sắc thái giảm nhẹ

Trang 20

Nh khi miêu tả tiếng nhạc vàng của vó ngựa Kim Trọng, trong buổi chị em Thuý Kiều đi tảo mộ chơi xuân, tác giả dùng tính từ láy “ gần gần” (“Nhạc vàng

đâu đã tiếng nghe gần gần” (134)) “ Gần gần” tức là không phải gần, chỉ hơi gần, nhng cũng không xa lắm

Hay từ “mập mờ”: “Mập mờ” có nghĩa giảm nhẹ hơn so với “ mờ” “Mờ” có

nghĩa là không tỏ, không nhìn thấy rõ, không minh bạch “ Mập mờ” là lúc tỏ lúc

mờ, không rõ rệt Trong Truyện Kiều “ mập mờ” đợc tác giả dùng để chỉ sự không rõ ràng, không dứt khoát, ( “Mập mờ đánh lận con đen”(893))

Với những tính từ láy âm, Nguyễn Du đã tạo ra một thế giới hình ảnh thơ sinh

động và huyền ảo:

- “ Chênh chênh bóng nguyệt xế mành” (185)

- “ Hiên tà gác bóng chênh chênh” (241)

- “ Gơng nga chênh chếch dòm song” (173)

- “ Thấy lời thủng thỉnh nh chơi” (1589)

- “ Lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng” (424)

Nh vậy các tính từ láy trong Truyện Kiều, mang tính chất biểu cảm, có tính chất sắc thái hoá Các tính từ láy này, mang sắc thái giảm nhẹ hoặc nhấn mạnh Nhờ các tính từ này, chúng ta cảm nhận đợc cái phong thái dân dã của câu thơ nhng lại rất nghệ thuật

2.1.2.Tính từ đơn tiết trong truyện Kiều:

So với tính từ đa tiết, các tính từ đơn tiết trong Truyện Kiều, chiếm tỷ lệ thấp hơn ( có 182 từ, chiếm 39,73% tổng số tính từ trong Truyện Kiều) Tất cả các tính

từ đơn tiết, đều có nghĩa cụ thể, không có từ đơn tiết nào có nghĩa trừu tợng

Ví dụ: An, ác, ấm, bạc, cay, cũ, cực, chung, dễ, dữ, đắng, đắt, đẹp, đục, trong,

êm, già, trẻ, hơn, kém, kín, khéo, khó, khổ, lành, lạnh, lạt, lỏng, mát,

Trang 21

Trong Truyện Kiều, các tính từ đơn tiết có số lợng ít, nhng số lần xuất hiện của mỗi từ rất nhiều

Ví dụ: Từ “an” xuất hiện hai lần ở các câu ( 1708, 2938), từ “ ấm” xuất hiện 3 lần ở các câu ( 1560, 1630, 3240), từ “cũ” xuất hiện 12 lần ở các câu ( 1661,

1671, 1756, 1794, 2055, 2056, 2328, 2744, 3078, 3144, 3147, 3196), từ “cực” xuất hiện ba lần ở các câu ( 659, 1970, 2782), từ “ chầy” ( muộn, chậm) xuất hiện 9 lần ở các câu ( 217, 544, 803, 1516, 1613, 1883, 2228, 3140), từ “chật” xuất hiện 3 ở các câu (988, 2252, 2314), từ “dễ” xuất hiện 15 lần ở các câu ( 298,

338, 348, 368, 523, 1334, 1780, 2022, 2100, 2346, 2370, 2400, 2470, 2474, 2738), từ “đẹp” xuất hiện 3 lần ở các câu ( 512, 1492, 2212), từ “đục” xuất hiện 6 lần ở các câu ( 482, 879, 1026, 1423, 3120, 3181), từ “ êm” xuất hiện 3 lần ở các câu ( 289, 683, 1506), từ “già” xuất hiện 11 lần ở các câu ( 607, 655, 662, 687,

810, 841, 1069, 1534, 2087, 2208, 2237), từ “ hay” xuất hiện 9 lần ở các câu (489, 545, 1014, 1207, 1317, 1533, 1752, 3047, 3164), từ “ khuya” xuất hiện 8 lần, từ “khuyết” xuất hiện 3 lần, từ “lạt” xuất hiện 6 lần, từ “ mới” xuất hiện 5 lần,

từ “ non” xuất hiện 4 lần, từ “ nồng” xuất hiện 9 lần, từ “ riêng” xuất hiện 31 lần,

từ “ sớm” xuất hiện 3 lần, từ “ vội” xuất hiện 22 lần

Các tính từ đơn tiết trong Truyện Kiều, có tác dụng làm cho các sự vật, sự việc hiện lên một cách cụ thể

2.2: Tính từ trong Truyện Kiều xét theo nguồn gốc:

Cũng giống nh nhiều tác phẩm văn học đơng thời, ngôn ngữ trong Truyện Kiều gồm hai thành phần chính là từ thuần Việt và từ Hán Việt Các tính từ trong Truyện Kiều cũng không nằm ngoài quy luật ấy, có tính từ thuần Việt và tính từ Hán Việt Trong 458 tính từ có 79 tính từ Hán Việt ( chiếm 17,25%) và 379 tính

từ thuần Việt ( chiếm 82,75%)

2.2.1: Tính từ có nguồn gốc Hán Việt:

Tỷ lệ tính từ Hán Việt nh trên so với các tác phẩm cùng thời và so với các tính

từ thuần Việt trong tác phẩm là không cao Điều này cho thấy Nguyễn Du rất có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc

Trang 22

Với một sự hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ dân tộc và một ngữ cảm, Nguyễn Du

đã rất tài tình khi sử dụng tính từ có nguồn gốc Hán Việt để thể hiện nội dung thơ

Nh chúng ta biết, từ Hán Việt tạo sự trang trọng, tao nhã, mang sắc thái “ vĩnh viễn, im lìm của thế giới ý niệm” ( Phan Ngọc - Tìm hiểu phong cách

Nguyễn Du trong Truyện Kiều - 344 ) Từ Hán Việt thích hợp khi ta muốn vĩnh viễn hoá một sự việc, nó tạo cho ngôn ngữ sắc thái “đanh thép, dứt khoát của những chân lý vĩnh viễn” ( Phan Ngọc- sđd - 347)

- “ Cơ trời dâu bể đa đoan (175)

- “ Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới đợc phần thanh cao”( 3243 - 3244).

Khi cần miêu tả vẻ oai nghiêm của con ngời, của sự vật, Nguyễn Du đã sử dụng các tính từ Hán Việt:

“ Đoan chính” và “đoan trang” chỉ sự đứng đắn và nghiêm trang của ngời phụ nữ Trong Truyện Kiều, hai tính từ đó đợc Nguyễn Du dùng để miêu tả lời nói của nhân vật Thuý Kiều và Thuý Vân:

- “ Hoa cời ngọc thốt đoan trang” ( 21)

- “ Thấy lời đoan chính dễ nghe” (523)

Hay khi miêu tả Từ Hải, một con ngời anh hùng, tác giả dùng những tính từ “tề chỉnh”, “ uy nghi” “Tề chỉnh” là gọn gàng ngay ngắn đâu ra đó “ Uy nghi” là dáng oai vệ tôn nghiêm, gợi sự tôn kính Với tính từ “tề chỉnh”, “ uy nghi”, con ngời chọc trời khuấy nớc của Từ Hải hiện lên với dáng vẻ lịch thiệp oai vệ, tôn nghiêm mà tôn kính ( “Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi”) (2313)

Sử dụng các tính từ Hán Việt làm cho số lợng tính từ trong tác phẩm thêm phong phú và đa dạng, biểu hiện đợc những nội dung thơ thích hợp

2.2.2: Tính từ thuần Việt:

Bộ phận tính từ thuần Việt trong Truyện Kiều, chiếm tỷ lệ lớn Nguyễn Du đã

có những tìm tòi, khám phá và có đóng góp to lớn trong việc làm đẹp thêm tiếng Việt

Trang 23

Là một nhà thơ xuất thân quý tộc, nhng Nguyễn Du lại có biệt tài vận dụng ca dao , dân ca, ngôn ngữ quần chúng Ông rất có ý thức với ngôn ngữ dân tộc.

Nhìn chung, các tính từ thuần Việt, tạo nên những hình ảnh quen thuộc, giản dị, sinh động, có màu sắc Từ thuần Việt làm cụ thể hoá đối tợng, thể hiện những cảm xúc sinh động sôi nổi Chẳng hạn các tính từ: ấm lạnh, ấm no, bảnh bao, bèo bọt, cay

đắng, chua, chua xót, dặt dìu, dịu dàng, đục trong, êm ái, êm, hiu hắt, hiu hiu, loi thoi, long lanh, lớt mớt, mặn mà, mặn nồng, chênh chênh, chênh chếch, dập dìu, dìu dặt, khấp khởi , thiu thiu

Khi miêu tả một cảnh thực, bao giờ Nguyễn Du cũng dùng tính từ thuần Việt:

Ví dụ: - Đầy vờn cỏ mọc lau tha

Song trăng quạnh quẽ vách ma rã rời” (2745-2746)

- Nao nao dòng nớc uốn quanh

Díp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” (55-56)

- Sè sè nắm đất bên đờng Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh (57-58) Những tính từ thuần Việt, có tác dụng tạo nên những hình ảnh thiên nhiên chân thực, phù hợp với bản chất của cảnh vật, trong những hoàn cảnh nhất định

2.3: Các tiểu loại tính từ trong Truyện Kiều:

Tính từ trong Truyện Kiều, đa dạng phong phú, có thể chia ra các tiểu loại khác nhau: - Tính từ chỉ tính chất - phẩm chất sự việc

Tính từ chỉTrạng thái

Tính từ chỉ hình dạng kích thớc

số lợng

Tính từ chỉ màu sắc

Trang 24

100,0% 63,31% 16,38% 15,06% 5,25%

Số lợng giữa các tiểu loại tính từ trong Truyện Kiều, có sự chênh lệch nhau Chiếm

số lợng nhiều nhất là các tính từ chỉ tính chất – phẩm chất (290 từ), đứng thứ hai là tính từ chỉ trạng thái (75 từ), tính từ chỉ màu sắc chiếm số lợng ít nhất (24 từ)

2.3.1: Các tính từ chỉ tính chất - phẩm chất :

Trong tổng số tính từ đợc Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều, nhóm tính từ chỉ tính chất - phẩm chất sự vật chiếm tỷ lệ khá cao ( chiếm63,31%) Các tính từ này có ý nghĩa đánh giá phẩm chất của con ngời và tính chất của sự vật

Ví dụ : ác, an, anh hoa, anh hùng, ấm , ấm no, ân cần, bạc ác, bảnh bao, bao dung, biếng, bằng, bèo bọt, bẽ bàng, rối bời, cay, cay đắng, cay nghiệt, cũ, cũ càng, chật, chông gai, chề chề, chiền chiền, chua, chung, riêng, dai, dại, dàu dàu, dày dày, dễ

dễ dàng, diụ dàng, dơ, dỡ, dữ, đa đoan, đoan chính, đoan trang, tan tành, tàng tàng, rạch ròi, rã rời, rõ ràng, mơn mởn, mù khơi, tối rầm, tả tơi, tơi bời, trong veo, trong vắt, vững vàng, xơ xác

Theo khảo sát của chúng tôi, nhóm tính từ chỉ trạng thái có 75 từ, chiếm 16,38% tổng số tính từ xuất hiện trong Truyện Kiều Phần lớn các tính từ chỉ trạng thái trong Truyện Kiều là những tính từ đa tiết, đợc cấu tạo theo phơng thức láy, số còn lại đợc cấu tạo theo phơng thức ghép Số tính từ đơn tiết chiếm số lợng ít

2.3.3: Các tính từ chỉ kích thớc, số lợng, hình dạng:

Xét về ý nghĩa, nhóm tính từ này chỉ hình dạng, kích thớc, số lợng của các sự vật

Trang 25

Nh: bao la, bát ngát, bời, cả, cao, cạn, dày, cao lớn, cao sâu, gần gần, ít, khinh (nhẹ), khinh trọng, khơi, lớn, mỏng, nặng, nhẹ, ngắn ngủi, nông sâu, nhặt tha, nhiều ,nhỏ, nho nhỏ, nhỏ to, sâu rậm, thẳm, thâm, trờng, vắn, viễn vời, xa, xa xăm, xa xôi, to béo, đẫy đà Các tính từ chỉ hình dạng kích thớc, số lợng, có 69 từ chiếm 15,06%.

2.3.4: Các tính từ chỉ màu sắc:

Các tính từ nay chỉ màu sắc sự vật

Ví dụ: áy, bạc, bạc phau, bạc đen, đào, đen, đen rầm, đen sì, biếc, hồng, lục, tía, thanh, thắm, trắng, trắng ngà, trắng ngần, vàng, son, xanh, xanh rì, xanh xanh, nâu sồng

Nhóm tính từ chỉ màu sắc có 24 từ (chiếm 5,25% số tính từ trong Truyện Kiều)

Nh vậy các tính từ trong Truyện Kiều đa dạng, phong phú về cấu tạo, nguồn gốc và tiểu loại

2.4: Vai trò ngữ pháp của tính từ trong câu thơ Truyện Kiều:

Tính từ có các vai trò ngữ pháp: Có khả năng trực tiếp làm vị ngữ, kết hợp phổ biến với phó từ chỉ mức độ, thờng làm định ngữ cho danh từ, và bổ ngữ cho động từ

Tính từ trong câu thơ Tuyện Kiều của Nguyễn Du cũng không nằm ngoài đặc điểm

đó.Tuy nhiên tính từ trong câu thơ chịu ảnh hởng của mạch cảm xúc, nên nhiều lúc có những kết hợp khác thờng

2.4.1:Tính từ đứng trớc và sau danh từ làm định ngữ cho danh từ

- Êm đềm trớng rũ màn che (37)

- Cỏ non xanh rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa (41-42)

- Díp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang (56)

- Gơng nga chênh chếch dòm song.(173) Tính từ đứng trớc hoặc sau danh từ lại mang ý nghĩa ngữ pháp khác nhau “Tính từ

đứng sau danh từ thì có ý nghĩa ngữ pháp là chỉ một tính chất khách quan của sự

Trang 26

vật và đợc hiểu theo nghĩa thực” (Phan Ngọc - Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều).

Ví dụ: - Dới cầu nớc chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thớt tha (169-170)

- Dới cầu dờng có bóng ngời thớt tha (290)

Tính từ đứng trớc danh từ thờng để đảm bảo luật bằng trắc, vần nhịp của thơ lục bát, nhng cũng có vai trò nhấn mạnh sự đánh giá chủ quan, và nhiều lúc đợc hiểu theo nghĩa bóng Trờng hợp này trong Truyện Kiều ít gặp:

- Thâm nghiêm kín cổng cao tờng (267)

- Ngắn ngày thôi chớ dài ngày làm chi (1328)

2.4.2: Tính từ có khả năng kết hợp với động từ để làm bổ ngữ trạng thái cho

động từ:

Ví dụ: - Lầm rầm khấn vái nhỏ to (95)

- ào ào đổ lộc rung cây (120)

- Hiên tà gác bóng chênh chênh (241)

- Nhớ câu kỳ ngộ vội dời chân đi (260)

- Tng bừng sắm sửa áo xiêm (373)

- Tần ngần dạo gót lầu trang (573)

- Dới đèn ghé đến ân cần hỏi han (714)

- Giọt riêng tầm tã tuôn ma (851 ) 2.4.3: Tính từ có khả năng trực tiếp làm vị ngữ :

- Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang (20)

- Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa (82)

- Vầng trăng vằng vặc giữa trời (449)

- Hoa trôi dạt thắm liễu xơ xác vàng (572)

2.4.4: Những kết hợp khác của tính từ trong câu thơ Truyện Kiều:

Nh trên đã nói, do đặc điểm hình thức của câu thơ quy định cho nên sự kết hợp của tính từ nhiều lúc có nhiều điểm khác thờng Trong Truyện Kiều nhiều câu chỉ có

Trang 27

một thành phần chính là vị ngữ còn chủ ngữ thờng vắng mặt Mặt khác trong câu thơ của Truyện Kiều, Nguyễn Du hay sử dụng biện pháp đảo ngợc vị trí của các thành phần câu, cho nên ta thấy có rất nhiều trờng hợp tính từ đứng đầu câu nhng cũng trực tiếp làm vị ngữ do chủ ngữ vắng mặt, hoặc chủ ngữ đợc đảo ra sau.

Do đặc điểm ngôn ngữ thơ khác với ngôn ngữ văn xuôi và nội dung của thơ bị dồn nén theo mạch cảm xúc, ngôn ngữ thơ nhiều lúc có những kết hợp “lạ” để tạo nên cái

“thần” cho câu thơ Tính từ trong Truyện Kiều cũng có đặc điểm đó

Trong Truyện Kiều, tính từ thờng kết hợp trực tiếp với danh từ, động từ mà ít khikết hợp với những phó từ chỉ mức độ Có trờng hợp tính từ kết hợp với phó từ chỉ thời gian

Ví dụ: - “ Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa”

Không có trờng hợp nào tính từ kết hợp với phụ từ chỉ mức độ “ rất”, bởi vì trong Truyện Kiều từ “rất” chỉ xuất hiện một lần nhng lại đi với danh từ ( “Phong lu rất mực hồng quần” (35)) Giáo s Phan Ngọc cho rằng tính từ trong Truyện kiều không

có cấp độ so sánh

Qua phân tích và miêu tả đặc điểm ngữ pháp của tính từ trong Truyện Kiều chúng

ta thấy việc sử dụng tính từ đã góp phần đa Nguyễn Du trở thành ngời Thầy của ngôn ngữ văn chơng cổ điển, với phong cách ngôn ngữ của riêng mình

Ngày đăng: 15/12/2015, 12:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh .Từ điển Truyện Kiều. NXB Văn hoá thông tin. Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2000
2. Diệp Quang Ban. Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại ). NXB GD, 1991 . 3. Nguyễn Du.Truyện Kiều. NXB GD. Hà Nội, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1991
6. Nguyễn Lộc. Văn học Việt Nam cuối thế kỷ 18đến hết thế kỷ 19 (Nguyễn Du ) NXB GD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam cuối thế kỷ 18đến hết thế kỷ 19 (Nguyễn Du )
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
7. Đổ Thị Kim Liên. Ngữ pháp tiếng Việt ( từ loại ). NXB GD, 1999 . 8. Đổ Thị Kim Liên . Bài tập ngữ pháp tiếng Việt. NXBGD, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt ( từ loại )
Tác giả: Đổ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
9. Phan Ngọc. Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều . NXB Thanh Niên, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2003
10. Nguyễn Quảng Tuân .Chữ nghĩa Truyện Kiều. NXB KHXH. Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ nghĩa Truyện Kiều
Tác giả: Nguyễn Quảng Tuân
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1985
11. Trần Đình Sử .Thi pháp Truyện Kiều. NXB GD, 2002 . 12.Từ điển tiếng Việt. NXB Đà Nẵng, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp Truyện Kiều
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w