1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát cấu trúc điệp và đối trong thành ngữ tiếng việt luận văn thạc sỹ ngữ văn

84 472 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 430 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau một thời gian dài thành ngữ tiếng Việt mới thật sự được quan tâm như một đối tượng của ngôn ngữ học, một đối tượng nghiên cứu riêng, ngày càng có nhiều bài viết, những tiểu luận khoa

Trang 2

Vinh - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, Khoa sau Đại học Trường Đại học Vinh và các thầy cô giáo đã trực tiếng giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Ngôn ngữ khóa 17 tại Trường Đại học Vinh.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Hoàng Trọng Canh, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Mong nhận được các ý kiến phê bình, góp ý của Hội đồng chấm luận văn tại Đại học Vinh, các thầy cô giáo và đồng nghiệp để công trình nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn.

Tác giả

Lê Thị Viên

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chon đề tài

Ngôn ngữ của một dân tộc vừa là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, vừa là công cụ để phản ánh tư duy Ngoài ra ngôn ngữ còn có chức năng tàng trữ, lưu giữ những tinh hoa, tri thức, bản sắc văn hoá của dân tộc

Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ mang tính dân tộc sâu sắc Nó thường xuyên có mặt trong lời ăn tiếng nói của mỗi người dân trong cuộc sống Bất

kỳ nơi đâu, trong thời gian nào thì thành ngữ cũng có thể xuất hiện, khi viết chuyện, khi viết thư, khi giao tiếp với nhau Nó là một sản phẩm quý báu cùng với kho tàng tục ngữ ca dao Nói cách khác, thành ngữ được sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt quần chúng Vì thế, chúng thường xuyên xuất hiện trong môi trường dân dã Tất cả những đặc điểm trên làm thành ngữ trở thành một đối tượng hấp dẫn đối với nghiên cứu không chỉ ở ngành ngôn ngữ mà còn ở nhiều ngành khác: dân tộc học, văn hoá

Tuy nhiên có một thực tế cần thấy rằng lâu nay thành ngữ tuy vẫn được xem là một đơn vị đặc biệt của ngôn ngữ, nhưng trong từ vựng, ‘‘từ’’ lại chiếm vai trò chủ đạo, có số lượng vô cùng lớn Do đó các nhà ngôn ngữ học, các giáo trình ngôn ngữ thường tập trung nghiên cứu‘‘từ’’ mà ít chú ý thành ngữ, hoặc nếu có nhắc thành ngữ cũng chỉ là so sánh Trong mấy thập kỷ gần đây thành ngữ bắt đầu được quan tâm và chú trọng nghiên cứu nhiều Gần đây, đặc biệt là sự ra đời của công trình "Thành ngữ học tiếng Việt" của GS

TS Hoàng Văn Hành, có thể nói đây là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt Trong chuyên khảo này tác giả đi sâu nghiên cứu cấu trúc thành ngữ đối xứng, phương thức cấu tạo nghĩa, đi sâu vào cơ cấu nội dung và hình thức của các kiểu loại Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu các kiểu cấu tạo của thành ngữ Do đó có thể nói từ trước đến nay, việc đi sâu vào nghiên cứu cấu tạo của thành ngữ, trong đó có vấn đề

Trang 7

điệp - đối trong các thành ngữ còn là vấn đề bỏ ngõ cần được tiếp tục khảo sát, nghiên cứu.

Tính chất điệp và đối là hai tính chất có thể xem là một đặc trưng của thành ngữ, chi phối toàn bộ cấu trúc thành ngữ Nghiên cứu vấn đề này của thành ngữ là công việc vô cùng khó khăn Đã có một số bài viết đề cập tới vấn

đề này nhưng chưa có bài viết nào đi sâu tìm hiểu một cách cụ thể đầy đủ vấn

đề này trong thành ngữ tiếng Việt

Đó là những lý do chủ yếu khiến chúng tôi chọn ‘‘Khảo sát cấu trúc

điệp và đối trong thành ngữ tiếng Việt’’ làm nội dung nghiên cứu cho luận

văn này

2 Lịch sử vấn đề

Thành ngữ tiếng Việt là di sản văn hoá vô cùng quý báu của dân tộc, là đơn vị biểu hiện tập trung nhất, cô đọng nhất lời ăn, tiếng nói, cách cảm, cách nghĩ của dân tộc Thành ngữ biểu hiện trí thông minh, óc sáng tạo, lời nói tài tình của nhân dân lao động Nói cách khác, thành ngữ đã thể hiện phong tục, tập quán, lối sống, cách ứng xử của từng dân tộc

Ngành thành ngữ học xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào đầu thế kỷ

XX và Charle Bally được xem là người đặt cơ sở khoa học cho sự cần thiết phải nghiên cứu những cụm từ cố định trong ngôn ngữ - đó là thành ngữ

Ở Việt Nam, thành ngữ học chưa được xem là một bộ môn ngôn ngữ học Quá trình tìm tòi nghiên cứu thành ngữ đã diễn ra khá chậm, với những bài viết lẻ tẻ, rải rác, sau đó là những chương, phần trong các sách ngôn ngữ Sau một thời gian dài thành ngữ tiếng Việt mới thật sự được quan tâm như một đối tượng của ngôn ngữ học, một đối tượng nghiên cứu riêng, ngày càng

có nhiều bài viết, những tiểu luận khoa học, và đặc biệt là các chuyên khảo lớn của các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về thành ngữ trên các bình diện khác nhau

Trang 8

Sau đây có thể khái quát lại các quá trình nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt như sau:

2.1 Trước năm 1970

Thành ngữ được xem chủ yếu trong các giáo trình từ vựng học, trong các chương dành cho tục ngữ, ca dao hoặc là một phần, mục trong các công trình nghiên cứu của Viện ngôn ngữ học Ở đây thành ngữ chỉ được xem với

tư cách là những đơn vị định danh trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, hoặc chỉ được xem xét như những đơn vị thuộc phạm trù văn hoá

Những công trình sưu tập, biên soạn từ điển đã manh nha cho việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt Đầu tiên đó là sự xuất hiện ngẫu nhiên của thành ngữ bên cạnh tục ngữ Các tác giả biên soạn từ điển đã dùng thành ngữ vào cuối mục từ để minh họa cho việc dùng từ trong từ điển tiếng Việt Và cùng với nó, bước đầu thành ngữ đã được giải thích, thu thập và làm rõ với một số lượng tương đối lớn Và cũng từ đây, thành ngữ đã bắt đầu được chú ý

và nghiên cứu, sưu tập

Tác phẩm, công trình nghiên cứu thành ngữ đầu tiên của nước ta là:

“Về tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh (1921) Cùng với ca dao và tục ngữ, thành ngữ được nhắc đến trong sự đối chiếu và so sánh

Với công trình: “Những so sánh trong tiếng An Nam” (1925) nhà ngôn ngữ học người Pháp V Barbier là người nước ngoài đầu tiên nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt

Tập sách được coi là hợp tuyển đầu tiên có chứa một số lượng thành ngữ lớn là cuốn: “Tục ngữ và phong dao” của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1928) Tuy nhiên ở tập sách này, tác giả chưa có được sự phân biệt giữa các loại ngữ cố định, đặc biệt là sự phân biệt giữa tục ngữ và thành ngữ tiếng Việt Do đó thành ngữ đã được sưu tập và đưa vào lẫn lộn với các loại ngữ cố định khác

Trang 9

Sau cách mạng Tháng Tám thành ngữ đã được chú trọng nghiên cứu nhiều hơn do công việc giảng dạy, cũng như những đòi hỏi về nghiên cứu Cũng từ đây thành ngữ mới có được sự so sánh, phân biệt khá rạch ròi với tục ngữ và các ngữ cố định khác.

Từ năm 1970, việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt mới thật sự có được cơ sở khoa học

2.2 Sau năm 1970

Sau một thời gian dài của những tìm tòi, khảo nghiệm ban đầu, đến lúc này công việc tìm hiểu, nghiên cứu thành ngữ mới thật sự bắt đầu Thành ngữ

đã trở thành một đối tượng nghiên cứu khoa học độc lập

Đầu tiên là sự xuất hiện của khá nhiều bài viết thành ngữ tiếng Việt trên các Tạp chí Ngôn ngữ về các phương diện khác nhau:

Cù Đình Tú: “Hồ Chủ Tịch dùng thành ngữ, tục ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/1970 Nguyễn Văn Mệnh: “Bước đầu tìm hiểu sắc thái tu từ của thành ngữ tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ số 3/1971 Nguyễn Văn Mệnh: “Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ số 3/1971 Cù Đình Tú: “Góp ý về phân biệt thành ngữ và tục ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/1973 Nguyễn Thành Giang: “Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt", Tạp chí Ngôn ngữ số 3/1975 Nguyễn Đức Dân: “Ngữ nghĩa của thành ngữ và tục ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ số 3/1986 Nguyễn Văn Mệnh: “Góp phần xác định khái niệm thành ngữ, tục ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3/1986 Hoàng Văn Hành: “Tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt”, Văn hoá dân gian, số 1/1987

Có thể khẳng định rằng các bài viết này đã góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt một cách cụ thể, rõ ràng và có cơ sở, bên cạnh đó việc phân biệt thành ngữ với tục ngữ cũng đã chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của thành ngữ tiếng Việt Một số bài viết cũng đã chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của thành ngữ tiếng Việt Nhưng nhìn chung do dung lượng hạn

Trang 10

hẹp, cho nên những bài viết này chỉ có ý nghĩa tham khảo, mà chưa góp ích được nhiều cho công việc giảng dạy và nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt trên bình diện rộng lớn.

Năm 1979, sự ra đời của công trình "Thành ngữ tiếng Việt" của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang được xem như mốc quan trọng nhất trong tiến trình nghiên cứu, tìm hiểu, sưu tầm thành ngữ tiếng Việt Mặc dù cuốn sách

đã không bao quát được một khối lượng lớn thành ngữ tiếng Việt nhưng nó đã trở thành tài liệu bổ ích, là căn cứ, cơ sở cho việc nghiên cứu, tìm hiểu thành ngữ một cách khoa học và chuyên sâu hơn Cuốn sách đã sưu tập được hơn

3000 thành ngữ tiếng Việt Nói chung đây là những thành ngữ quen thuộc, hay dùng, và gần gũi với đời sống nhân dân Chương mở đầu tác giả đã khái quát rõ tình hình nghiên cứu, sưu tập thành ngữ tiếng Việt

Trong một số giáo trình ngôn ngữ học, sách ngôn ngữ học các tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề thành ngữ ở những mức độ và những

phương diện khác nhau:“Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại” của Hồ Lê

(1976); “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” (Nguyễn Văn Tu) (1976); “Từ

và nhận diện từ tiếng Việt” (Nguyễn Thiện Giáp) (1996); “Từ và các bình diện từ vựng tiếng Việt” (Đỗ Hữu Châu) (1996); “Từ vựng học tiếng Việt” (Nguyễn Thiện Giáp) (1998)

Trong đó đáng chú ý nhất là hai công trình:

+ Trong công trình "Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại" của Nguyễn Văn

Tu, tác giả đã nêu lên khái niệm thành ngữ tiếng Việt và đã căn cứ vào kết cấu ngữ pháp để chia thành ngữ thành hai loại chính là: câu đơn giản và câu phức hợp, sau đó tác giả chia nhỏ thành các tiểu loại Như vậy ở đây tác giả đã khẳng định thành ngữ là đơn vị câu, phần lớn là những câu rút gọn Tuy nhiên trong thực tế thành ngữ chỉ là những cụm từ cố định

Trang 11

+ Trong công trình "Từ vựng học tiếng Việt" của Nguyễn Thiện Giáp Trong chương 1 tác giả đã dành dung lượng số trang khá lớn cho thành ngữ tiếng Việt Tác giả đã nêu khái niệm thành ngữ tiếng Việt, phân loại thành ngữ- đây là vấn đề mà tác giả đi sâu nghiên cứu nhất Tác giả đã phân loại thành ngữ gồm: thành ngữ hoà kết và thành ngữ hợp kết Bên cạnh đó tác giả cũng đi vào phân biệt ngữ định danh và cụm từ tự do Trong sự phân biệt này, tác giả đã chỉ ra nhiều đặc trưng ở thành ngữ tiếng Việt về cấu tạo cũng như ngữ nghĩa.

Cũng năm 1998, một cuốn từ điển giải thích thành ngữ đã ra đời, đó là cuốn: “Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý) chủ biên, (viện Ngôn ngữ học thuộc trung tâm Khoa học Xã hội và nhân văn quốc gia, NXBGD, 1998) Trên cơ sở kế thừa, chọn lọc, phát triển, tổng hợp các kết quả mà các tác giả đi trước đã đạt được, cuốn sách đã thu thập được khối lượng lớn thành ngữ tiếng Việt gồm hơn 3000 thành ngữ (tuy nhiên đây cũng chỉ là những thành ngữ tiếng Việt thông dụng nhất) Đặc biệt sau sự chú thích

và lý giải, tác giả còn đưa ra rất nhiều dẫn chứng về sử dụng thành ngữ đó một cách rõ ràng

Gần đây nhất, cuốn sách: “Thành ngữ học tiếng Việt” của GS.TS Hoàng Văn Hành ra đời, đó là kết quả sau bao năm tìm tòi, say mê và nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt của tác giả, là chuyên khảo mà tác giả ấp ủ từ lâu Sau những bài viết lẻ tẻ về thành ngữ tiếng Việt của mình trên các tạp chí Ngôn ngữ, cuốn sách đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu thành ngữ tiếng Việt trên cả phương diện cấu trúc và ý nghĩa Ông đã phân loại thành ngữ tiếng Việt dựa trên phương thức tạo nghĩa và cấu trúc Từ đó, ông đã xem mỗi tiểu loại là một nội dung vấn đề khảo sát, và cứ theo cách lưỡng phân này ông tiếp tục phân thành những tiểu loại nhỏ hơn để tiếp tục đi vào khảo sát Trong chương 5, tác giả đi vào khảo sát giá trị và nghệ thuật sử dụng thành ngữ, và

Trang 12

chương 6: thành ngữ từ góc nhìn của văn hoá học, cuối cùng là sự sưu tập cung cấp một tài liệu cơ sở về vốn thành ngữ tiếng Việt đã được sắp xếp vào

hệ thống Tuy nhiên tất cả những vấn đề này chủ ý của tác giả không đưa ra những kết luận, những điều khẳng định cuối cùng về các kiến giải khoa học của mình, mà chỉ muốn bỏ ngỏ, nhường chỗ cho những nghiên cứu tiếp theo, những hướng quan tâm mới

Có thể nói “Thành ngữ học tiếng Việt” của GS.TS Hoàng Văn Hành là một công trình nghiên cứu và sưu tập thành ngữ tiếng Việt quy mô nhất lần đầu tiên có mặt ở nước ta mà mục đích cuối cùng là nhằm đặt nhiệm vụ xây dựng một bộ môn độc lập của ngôn ngữ học là thành ngữ học

Như vậy, quá trình khởi xướng, manh nha, tìm tòi, sưu tập, nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt là cả một chặng đường dài Từ đó có thể nhận ra những khó khăn, thách thức trong việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt

Trước hết xét về mặt đối tượng nghiên cứu: Thành ngữ là một hiện tượng phức tạp, một đối tượng ngôn ngữ đa diện Mặc dù có cấu trúc khá bền vững, nhưng thành ngữ không có sự đồng nhất về hình thái, nội dung, chức năng của một đơn vị ngôn ngữ, ngược lại thành ngữ là một đơn vị có sự giao thoa với nhiều đơn vị ngôn ngữ khác: tục ngữ, từ, ca dao, cụm từ tự do Đó không chỉ là khó khăn trong việc nghiên cứu, tìm hiểu mà còn là khó khăn trong việc xác định đối tượng cho thật chính xác Điều đó đòi hỏi các nhà ngôn ngữ phải đưa ra được những tiêu chí cụ thể, có cơ sở khoa học nhất định cho việc xác định và phân xuất thành ngữ tiếng Việt

Như vậy, về cấp độ của thành ngữ, các nhà nghiên cứu đã không có được sự thống nhất:

- Có ý kiến cho rằng: thành ngữ là đơn vị cấu tạo cùng cấp độ với từ, nằm trong hệ thống từ vựng

- Ý kiến khác cho rằng: thành ngữ là những câu rút gọn (Nguyễn Văn Tu)

Trang 13

- Thành ngữ là những cụm từ cố định, là những ngữ cố định.

Do những khó khăn trên, nên công việc tìm hiểu, khảo sát, sưu tập thành ngữ tiếng Việt chưa có được sự chuyên sâu và quy mô cần thiết, tương xứng với vai trò vị trí của nó

Tóm lại, đối với vấn đề cấu trúc điệp và đối các bài viết có liên quan đến thành ngữ đã đề cập đến ít nhiều nhưng chưa có tác giả nào dành trọn chuyên mục riêng cho việc nghiên cứu cấu trúc điệp và đối trong thành ngữ tiếng Việt như một đối tượng

Luận văn này được viết với hy vọng bù lấp một phần nhỏ khoảng trống ấy

của điệp và đối trong thành ngữ tiếng Việt.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đề tài này chúng tôi tiến hành tìm hiểu khảo sát tính chất điệp và đối trong cấu tạo của thành ngữ tiếng Việt Tư liệu nghiên cứu là từ hai cuốn:

- Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang) [7]

- Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Như Ý - chủ biên) [29]

4.2 Nghiên cứu cấu trúc điệp và đối trong thành ngữ tiếng Việt

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài này chúng tôi khảo sát chỉ ra cấu trúc điệp và đối trong thành ngữ tiếng Việt

Trang 14

7 Cái mới của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên đi vào nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt trên bình diện cấu trúc điệp và đối

Ở đề tài này cung cấp cho chúng ta tư liệu với số lượng điệp và đối trong thành ngữ tiếng Việt cũng như đặc điểm về điệp và đối trong thành ngữ được công bố

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn này gồm 3 chương:

Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Điệp trong thành ngữ tiếng Việt

Chương 3: Đối trong thành ngữ tiếng Việt

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm về thành ngữ

1.1.1 Định nghĩa

Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn từ của ngôn ngữ Tiếng Việt có một khối lượng thành ngữ rất phong phú và đa dạng Thành ngữ giới thiệu một cách cô đọng cụ thể, sinh động một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách…của tự nhiên, xã hội và con người Do

đó có thể nói: kho tàng thành ngữ tiếng Việt là di sản văn hoá vô cùng quý báu của dân tộc

Xung quanh vấn đề khái niệm thành ngữ tiếng Việt đã có nhiều ý kiến khác nhau:

Tác giả Nguyễn Văn Tu đã xác lập: “Thành ngữ là cụm cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải là nghĩa của thành tố tạo ra Có thể có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có” [26;189]

Cũng quan điểm trên, tác giả Đái Xuân Ninh trong cuốn: "Hoạt động của từ tiếng Việt" cũng đưa ra định nghĩa: “Thành ngữ là một cụm từ cố định

mà các yếu tố tạo thành đã mất đi tính độc lập ở cái mức nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [21;23]

Tác giả Nguyễn Văn Mệnh, trong khi so sánh thành ngữ và tục ngữ

cũng đã khẳng định: “Mỗi thành ngữ cũng chỉ là một cụm từ, chưa phải là

một câu hoàn chỉnh” [19;12]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Thành ngữ nằm trong kết cấu” (tiếng kết hợp với tiếng sẽ thành những đơn vị cao hơn - gọi chung là kết

Trang 16

cấu) Cũng tác giả này trong: "Từ vựng học tiếng Việt" khi bàn về thành ngữ cũng đưa ra nhận định: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm…bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm theo sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định” [8;12].

Tác giả "Từ điển thuật ngữ văn học" (Lê Bá Hán – chủ biên) đã đưa ra định nghĩa về thành ngữ tiếng Việt là: “Đoạn câu, cụm từ có sẵn tương đối cố định bền vững không nhằm diễn đạt ý, một nhận xét mà nhằm thể hiện một quan niệm dưới một hình thức sinh động, hàm súc… Dù ngắn hay dài, xét về nội dung ý nghĩa cũng như về chức năng ngữ pháp thành ngữ cũng chỉ tương đương như từ, nhưng là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động, có nghệ thuật” [10; 297]

Tác giả Nguyễn Lực, Lương Văn Đang trong cuốn "Thành ngữ tiếng Việt" cũng đã khẳng định: “Thành ngữ cũng là những cụm từ cố định, hoặc những ngữ cố định có nội dung ngữ nghĩa sâu rộng nên nó đã giữ được nhiều khái niệm thuộc về truyền thống Những khái niệm này đã phản ánh được nhiều mặt tri thức về giới tự nhiên và đời sống xã hội của các thời đại đã sản sinh ra nó trên đất nước Việt Nam" [7;7]

Tác giả Nguyễn Văn Tu lại có một cách nhìn nhận khác về thành ngữ tiếng Việt Theo tác giả thì: “Những thành ngữ tiếng Việt phần lớn là những câu rút gọn, hoặc đủ các thành phần chủ yếu, thứ yếu hoặc một vài thành phần Phần lớn thành ngữ được cấu tạo bởi bốn thực từ, cũng có một số thành ngữ trên bốn thực từ”[26;76]

Tác giả Dương Quảng Hàm trong "Việt Nam văn học sử yếu" (1943) trong khi so sánh thành ngữ và tục ngữ cũng đã khẳng định: “Thành ngữ là những lời có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý hoặc một trạng thái gì cho câu có màu mè” Từ đó tác giả mở rộng thêm: Nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm Thành ngữ là một hiện tượng, hình thức phát triển

Trang 17

của từ ngữ là từ ghép, từ láy, là cụm từ cấu tạo thành lời nói hay, bóng bẩy, màu mè Giới hạn thấp nhất của thành ngữ là câu.

Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau chưa thống nhất, nhưng chung quy lại, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu cũng đã tập trung khẳng định các đặc điểm cơ bản của thành ngữ:

- Về sử dụng: thành ngữ dù dài hay ngắn chúng đều được sử dụng tương đương như từ

1.1.2 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ

Thời kỳ đầu do chưa có những tiêu chí để xác định thành ngữ do đó những người sưu tập tục ngữ đã vô tình sưu tập cả thành ngữ và xem đó là tục ngữ Dần dần thành ngữ tiếng Việt được quan tâm, được tìm tòi và nghiên cứu Từ đó người ta mới có sự tách bạch giữa thành ngữ và tục ngữ Cũng từ đây rất nhiều bài viết đã đi sâu vào vấn đề này, thậm chí trong những chuyên khảo, những tiểu luận nhỏ, những bài viết trên các tạp chí Ngôn ngữ các nhà nghiên đã đi vào phân biệt thành ngữ và tục ngữ để từ đó đưa ra các khái niệm và đặc trưng riêng của thành ngữ tiếng Việt

Để nhận diện thành ngữ, truyền thống ngữ văn học, ngôn ngữ học đã cố gắng để xác định ranh giới giữa thành ngữ, quán ngữ và tục ngữ Nhưng lâu nay trong ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu thường chú ý nhiều tới thành ngữ và tục ngữ Bởi vì giữa thành ngữ và tục ngữ có nhiều nét tương đồng

Trang 18

Nhưng qua việc nghiên cứu chúng tôi thấy thành ngữ và tục ngữ lại khác nhau

về bản chất, thuộc hai phạm trù khác nhau

1.1.2.1 Về cấu trúc

Thành ngữ và tục ngữ là những tổ hợp từ cố định song thành ngữ tồn tại dưới dạng cụm từ còn tục ngữ tồn tại dưới dạng câu hoàn chỉnh Theo GS.TS Hoàng Văn Hành, tục ngữ không những là một câu hoàn chỉnh mà

“Có thể nhận định tục ngữ là một câu - thông điệp nghệ thuật” [11;32] Sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ về cấu trúc được Nguyễn văn Mệnh nhận định “Về hình thức ngữ pháp, nói chung mỗi thành ngữ chỉ là một cụm

từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu” Theo quan điểm ngữ pháp chức năng, tục ngữ luôn có cấu trúc đề thuyết Thí dụ : Gần mực/thì đen, nước mưa/là cưa trời, người ta/là hoa đất… Ngay cả những câu tục ngữ tồn tại như những cụm từ cố định thì bản chất vẫn là cấu trúc đề thuyết Ví dụ như: Cây/cau; rau/cải, nhân ngãi/vợ, đầy tớ/con…

Vấn đề nhập nhằng là ở một số thành ngữ có hình thức tồn tại là một câu, thậm chí là một câu ghép như: Cá/nằm trên thớt; chó/ ngáp phải ruồi, trống/đánh xuôi, kèn/ thổi ngược…Đối với những thành ngữ này thì tiêu chí cấu trúc không thể phân biệt được mà phải dựa vào tiêu chí khác đó là ngữ nghĩa

1.1.2.2 Về ngữ nghĩa

GS Cù Đình Tú khẳng định “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở sự khác nhau về chức năng, thành ngữ là những đơn vị định danh, về mặt này thành ngữ tương đương như từ, còn tục ngữ thì cũng như các sáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo” [27-40] Có nghĩa là nó thông báo một nhận định nào đó của thế giới khách quan

Trang 19

Nội dung của thành ngữ là những nội dung của khái niệm, còn nội dung của tục ngữ là nội dung của những phán đoán Cho nên nội dung của thành ngữ phần lớn là cái hình chiếu của những yếu tố tạo thành Nói khác đi phải hiểu nó theo nghĩa bóng do mối tương quan hình ảnh của những yếu tố tạo

thành xác định Ví dụ: Nếm mật nằm gai có nghĩa là chịu đựng gian khổ,

Đứng núi này trông núi nọ có nghĩa là dao động, thay đổi Hầu như không có

trường hợp nào nghĩa của thành ngữ được hiện ra trên cơ sở phân tích những

thành tố của nó như những tục ngữ sau: Nhất nước nhì phân, cỏ gà trắng thì

mưa… Chính chức năng định danh ấy xác định thành phần của nó, kể cả

những khi nó có một kết cấu bình thường là một cụm chủ vị như tục ngữ Ví

dụ: “Nước đổ lá khoai” (phí công không có tác dụng) Từ đó chúng ta có thể

thấy rằng thành ngữ dùng các hình ảnh biểu trưng để biểu thị khái niệm hay nói cách khác thành ngữ là tổ hợp từ chỉ có nghĩa định danh

Tục ngữ thì khác hẳn, nó không biểu thị khái niệm như thành ngữ

mà biểu thị những phán đoán, miêu tả một sự kiện, một hoàn cảnh thực tế Nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định

về một chân lý, một lẽ thường đối với một nền văn hóa nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh. Ví dụ: Nước mưa là cưa trời biểu trưng cho sức

bào mòn ghê gớm của nước mưa Đó là một chân lý cụ thể được điển hình

hóa Tục ngữ biểu thị phán đoán bằng hình tượng biểu trưng Ví dụ: Quá

mù ra mưa không dừng lại ở sự miêu tả một hiện tượng cá biệt của thiên

nhiên Tính chân thực và điển hình của nó đã khiến người ta liên hệ từ những mối quan hệ giữa cái cụ thể của thiên nhiên đến những mối liên hệ tương tự trong đời sống, trong tư duy của con người, nhiều khi nâng lên thành một triết lý sâu sắc Đó là: mỗi sự vật có một chừng mực nhất định Nếu vượt qua giới hạn đó thì sự vật này sẽ chuyển thành sự vật kia Đó chính là cái mà người nói muốn thông báo

Trang 20

Như vậy đặc trưng ngữ nghĩa cho phép chúng ta phân biệt được thành ngữ và tục ngữ Thành ngữ là những tổ hợp mang tính định danh còn tục ngữ

là những tổ hợp có nghĩa thông báo Cho nên thành ngữ là những đối tượng của từ vựng học còn tục ngữ là một thông điệp, là sản phẩm của ngôn ngữ, là đối tượng của văn học dân gian

Tuy nhiên có những trường hợp tục ngữ được dùng như những thành ngữ Đó là hiện tượng trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ Đối với những trường hợp như thế theo chúng tôi phải vận dụng vào tiêu chí khác đó là tiêu chí chức năng dụng học

1.1.2.3 Tiêu chí chức năng dụng học

Trên đây là tiêu chí phân biệt thành ngữ và tục ngữ trên cơ sở về mặt lý thuyết còn trong hoạt động hành chức thì khác, có khi thành ngữ được sử dụng như tục ngữ và ngược lại Trong những trường hợp như thế thì tiêu chí chức năng dụng học cho phép chúng ta xác định được tư cách của các đơn vị này Tiêu chí này chỉ áp dụng lâm thời khi các đơn vị khác đang hành chức

Ví dụ: Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau, đục nước béo cò, ăn cây nào

rào cây ấy… Đây là những đơn vị vốn là tục ngữ nhưng nhiều khi chúng

được sử dụng như những thành ngữ Chúng tôi xin đơn cử một trường hợp để

chúng ta thấy rõ được điều đó Thí dụ: Ăn cỗ đi trước lội nước theo sau là

một tục ngữ Đây là một phán đoán, một chân lý, một lẽ thường có tính kinh nghiệm trong cuộc sống cũ và do đó là một lời khuyên Lời khuyên đó là: trong đời sống xã hội nên tính toán sao cho mình có lợi nhất và gặp ít thiệt thòi nhất còn ai sao thì mặc Nhưng trong ngữ cảnh: “Mỗi người phải ra sức

góp công, góp của để xây dựng nước nhà Chớ nên ăn cỗ đi trước lội nước

theo sau” (Hồ Chí Minh) lúc này câu tục ngữ đã mất tính nhận xét, là một

chân lý, mất tính chất là một lời khuyên mà biểu thị một thái độ sống đáng

Trang 21

phê phán: thái độ tự tư tự lợi chỉ biết có mình còn ai ra sao thì mặc Lúc này câu tục ngữ hoạt động như là thành ngữ.

Rõ ràng tục ngữ khi dùng như thành ngữ thì đã có sự thay đổi về chức năng, hình thức cụ thể có thể vẫn giữ nguyên, nhưng cấu tạo bên trong đã thay đổi

Mặt khác có một số đơn vị vốn là thành ngữ nhưng khi đi vào ngữ cảnh

lại có thể trở thành tục ngữ Thí dụ: Đàn gẩy tai trâu Đây là một thành ngữ

chỉ những việc làm vô ích, không có tác dụng vì người tiếp thu không hiểu Nhưng trong ngữ cảnh:

Đàn đâu mà gẩy tai trâu

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồiThành ngữ này không còn là một tổ hợp định danh nữa mà ý nghĩa của

nó đã phát triển thành một phán đoán có tính khuyên răn của tục ngữ Bài ca khuyên chúng ta đừng làm những việc hão huyền mất công vô ích

Đối với những trường hợp như thế chúng ta phải nhận thấy rằng, tục ngữ khi dùng đúng chức năng của nó thì thường độc lập với văn cảnh, thường được dùng như một câu độc lập với các câu khác, hoặc như một thành phần biệt lập trong câu Còn thành ngữ thì ít khi dùng tách biệt, mà thường là một thành phần hoặc bộ phận của thành phần trong câu Nói cách khác, do đặc điểm của mình nên thành ngữ lệ thuộc vào câu hơn tục ngữ Qua sự phân tích trên đây chúng ta thấy giữa thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tương đồng có thể chuyển hóa cho nhau, nhưng về bản chất là khác nhau, xét cả về mặt hình thái cấu trúc cũng như về mặt ngữ nghĩa, nội dung biểu đạt và chức năng của chúng trong giao tiếp xã hội Sự khác biệt

ấy thể hiện “Thành ngữ là tổ hợp từ đặc biệt, biểu hiện những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật”[10;31]

Trang 22

1.1.3 Khái quát về cụm từ cố định

1.1.3.1 Khái niệm

Trong tiếng Việt, bên cạnh cụm từ tự do chúng ta còn có cụm từ

cố định (hay còn gọi là ngữ cố định): “Ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ) nhưng đã cố định hoá, cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính chất xã hội như từ” (Theo Đỗ Hữu Châu- Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt - NXBGD, 1999) [4;71]

Như vậy, so với cụm từ tự do thì sự khác biệt cơ bản nhất của cụm từ

cố định là về hình thức của nó (các từ tạo nên nó, trật tự và quan hệ giữa các từ) là cố định

Không chỉ khác với cụm từ tự do mà ngữ cố định (cụm từ cố định) còn

có sự khác nhau cơ bản với tục ngữ: trong khi ngữ cố định có tính chất tương đương với câu, tương đương với nghĩa của cụm từ thì nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về một chân lý, một lẽ thường đối với một nền văn hoá nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh

Ngữ cố định có tính chất chặt chẽ, cố định Tuy nhiên trong hành chức khi vào trong câu văn, câu thơ cụ thể, chúng vẫn có sự biến đổi Sự biến đổi này đa dạng hơn, tự do hơn trong các biến thể của từ phức:

Trang 23

Chó ngáp phải ruồi - Chó đớp phải ruồi Vong ân bội nghĩa - Vong ơn bội nghĩa

Giá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định: ngữ cố định có cấu trúc ngữ nghĩa tương đương với cấu trúc ngữ nghĩa của cụm từ tự do, có nghĩa là ý nghĩa của ngữ cố định có thể truyền đạt thành một cụm từ tự do trong đó có một

từ trung tâm, hoặc một cụm từ trung tâm và những thành phần phụ bổ sung cho ý nghĩa của thành phần trung tâm những sắc thái phụ Ý nghĩa của thành phần trung tâm là ý nghĩa nòng cốt của ngữ cố định, quy định phạm

vi biểu vật của ngữ đó

Dựa vào giá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định mà chúng ta có:

- Những ngữ cố định mà từ trung tâm nằm ngay trong ngữ thì đồng nghĩa một cách hiển nhiên với từ có sẵn:

Dốt có chuôi Dốt đặc cán mai Hồn xiêu phách lạc Thần hồn nát thần tính Hồn vía lên mây

- Những ngữ cố định mà thành phần trung tâm được suy ra không phải

là một từ mà là một cụm từ thì không đồng nghĩa với một từ đã có sẵn nào cả

Ví dụ:

Ôm cây đợi thỏ Đầu đuôi xuôi ngược Anh hùng rơm

Có thể tóm tắt những đặc điểm của ngữ cố định về mặt ngữ nghĩa gồm:

- Tính biểu trưng: Các ngữ cố định là những bức tranh thu nhỏ về những vật thực, việc thực cụ thể, riêng lẻ được nâng lên để nói về cái phổ biến, khái quát, trừu tượng

Trang 24

- Tính dân tộc: Thể hiện trước hết ở các tài liệu, tức là các vật thực, việc thực…mà ngữ cố định dùng làm biểu trưng cho nội dung của chúng Ngoài ra tính dân tộc của ngữ cố định còn thể hiện ở chính nội dung của nó.

- Tính hình tượng và tính cụ thể: Tính hình tượng của thành ngữ có ý nghĩa phổ biến, khái quát, song các ngữ cố định không phải có thể dùng cho bất cứ sự vật, hiện tượng nào miễn là nó có đặc điểm hay tính chất mà ngữ biểu thị

- Tính biểu thái: Các ngữ cố định thường làm theo thái độ, cảm xúc, sự đánh giá có thể nói lên hoặc lòng kính trọng, hoặc sự ưu ái, hoặc sự xót thương, hoặc sự không tán thành, hoặc lòng khinh bỉ, thái độ chê bai, sự phủ định…của chúng ta đối với người, vật hay việc được nói tới

1.1.3.2 Phân loại ngữ cố định (cụm từ cố định)

Có thể phân chia các ngữ cố định tiếng Việt (cụm từ cố đinh) về hình thức theo các kết cấu cú pháp gốc của chúng Loại trừ các ngữ cố định gốc Hán thì các ngữ cố định tiếng Việt được phân thành hai loại lớn:

+Ngữ cố định có kết cấu cụm động từ c-p

Bắn như mưa Cưỡi hổ về nhà Chạy long tóc gáy

Trang 25

+ Ngữ cố định có kết cấu là cụm tính từ c-p

Bầm gan tím ruột Yếu như sên

To gan lớn mật

+ Ngữ cố định có kết cấu cụm số từ

Năm cha sáu mẹ

Ba cọc ba đồng Năm thê bảy thiếp

Trong từng loại này, chúng ta lại có thể chia nhỏ ra thành nhiều tiểu loại khác Chính nhờ sự phân loại ngữ cố định phát hiện ra được những đặc trưng về ngữ nghĩa cũng như cấu trúc của các ngữ cố định

Sở dĩ chúng tôi khảo sát ngữ cố định (cụm từ cố đinh) vì hầu hết ý kiến của các nhà nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt đều thống nhất rằng: thành ngữ

là những cụm từ cố định Do đó những đặc trưng về ngữ nghĩa, về cấu tạo của ngữ cố định chính là những đặc trưng cơ bản của thành ngữ Việt Nắm rõ những đặc trưng này chúng tôi sẽ có cơ sở để khảo sát, phân loại thành ngữ tiếng Việt

1 2 Đặc trưng của thành ngữ

Thành ngữ là đơn vi định danh bậc hai có chức năng sử dụng tương đương như từ Thành ngữ tiếng Việt không chỉ có số lượng lớn mà còn phong phú đa dạng về cách thức phản ánh và phương tiện biểu hiện Cho nên thành ngữ

có giá trị hiệu quả cao trong sử dụng Nó được ví là đội quân tinh nhuệ của ngôn ngữ dân tộc Tạo nên giá trị đó là do các đặc trưng của thành ngữ quy định

1.2.1 Đặc trưng về cấu trúc

1.2.1.1 Tính cố định về hình thái - cấu trúc

Thành phần từ vựng của thành ngữ nói chung là ổn định, nghĩa là các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong sử dụng mà trong

Trang 26

thói quen sử dụng sự thay thế các yếu tố trong thành ngữ thường làm phá vỡ kết cấu cũng như nội dung biểu trưng của thành ngữ Chẳng hạn phải nói:

Chân đăm đá chân chiêu chứ không được nói "chân phải đá chân trái" mặc dù

"đăm" thời cổ có nghĩa là phải, "chiêu" có nghĩa là trái

Tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ còn thể hiện ở sự cố định về

trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ Thí dụ thường nói Nước mắt cá sấu chứ không thể nói cá sấu nước mắt hoặc Cá mè một lứa chứ không thể nói

"một lứa cá mè"…

1.2.1.2 Thành ngữ có tính cân đối hài hoà

Phần lớn thành ngữ gồm hai vế đối nhau có trục đối xứng ở giữa, tạo nên tính cân đối nhịp nhàng của chúng Giữa hai vế đối có trục làm đối xứng

Thí dụ: Dây cà ra dây muống, cá lớn nuốt cá bé, hoặc trục đối xứng là chỗ

ngắt giọng Thí dụ: Quýt làm/cam chịu

Tính đối xứng thể hiện rõ ở mặt đối ý, đối chữ rất chỉnh giữa hai vế như: nay đợi/ mai chờ (nay/mai) Hay: long trời/ lở đất( trời/ đất)

Thành ngữ thường sử dụng vần lưng, đây là cái dấu nối âm thanh giữa hai vế làm cho những yếu tố của thành ngữ gắn liền với nhau thành một khối

âm điệu hài hoà dễ nhớ Thí dụ: Giật đầu cá vá đầu tôm, Sức dài vai rộng…

Đặc biệt có nhiều thành ngữ có sự kết hợp hài hoà cả hai phương thức điệp và đối trong một thành ngữ

Ví dụ: Tối mặt tối mũi

1.2.2 Đặc trưng về nghĩa

Thành ngữ có tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa Thành ngữ biểu thị những khái niệm hoặc biểu trưng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nói một cách khác thành ngữ là đơn vị định danh của ngôn ngữ Song khác với đơn vị từ vựng bình thường, thành ngữ là đơn vị định danh bậc hai, nghĩa là “Nội dung của thành ngữ không hướng tới điều được nhắc

Trang 27

đến trong nghĩa đen của các từ tạo nên thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó suy

Đặc biệt là các thành ngữ biểu thị tình thế có tính chất biểu trưng cao

Ví dụ như tình thế được diễn đạt bằng thành ngữ Chuột chạy cùng sào Đó là

tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào bước đường cùng, không có lối thoát mặc dù đã xoay xở hết cách Nếu diễn đạt bằng cụm từ tự do thì sẽ dài dòng Cho nên thành ngữ là con đường tốt nhất để vừa đảm bảo được đủ ý vừa đạt được tính hàm súc cao mà lại gây được ấn tượng sâu sắc Biểu trưng

là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định, mà từ vựng phải sử dụng để ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn Biểu trưng hoá của thành ngữ có ý nghĩa quan trọng Vấn đề biểu trưng hoá làm sáng tỏ quá trình hình thành nghĩa của thành ngữ Như vậy có nghĩa là nghĩa của thành ngữ được hình thành từ cơ chế biểu trưng hoá

Theo GS.TS Hoàng Văn Hành, nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường

là kết quả của hai quá trình biểu trưng hoá: hình thái tỉ dụ (so sánh) và hình

thái ẩn dụ (so sánh ngầm) Bằng phép tỉ dụ ta có thành ngữ như: Nóng như

lửa, nhức như búa bổ, nợ như chúa chổm, nắng như đổ lửa, phận bạc như vôi, mạnh như chẻ tre… Bằng phép ẩn dụ ta có những thành ngữ như: Đầu voi đuôi chuột, ếch ngồi đáy giếng, chuột sa chĩnh gạo, ăn cháo đá bát, dã tràng

xe cát, được voi đòi tiên…

Trên thực tế chúng ta thấy có một bộ phận thành ngữ tiếng Việt dùng

các hoán dụ để biểu trưng hoá nghĩa cho mình Ví dụ: Tai to mặt lớn, chân

lấm tay bùn, mồm năm miệng mười…Như vậy có thể nói rằng hoán dụ cũng

Trang 28

là một phương thức biểu trưng hoá của thành ngữ tiếng Việt nhưng thực chất

là dùng hoán dụ để ẩn dụ hóa

Ngoài ra, còn có một phương thức biểu trưng hoá nghĩa của thành ngữ

dựa trên cơ sở điển tích, điển cố Ví dụ như: Bá Nha kỳ tử, lá thắm chỉ hồng,

châu về Hợp Phố…Phép ngoa dụ như: Rán sành ra mỡ, vắt cổ chày ra nước…Nhưng đích cuối cùng vẫn là ẩn dụ.

Cuối cùng, cần phải đặt thành ngữ vào trong các ngữ cảnh sử dụng của chúng để thấy được khả năng vượt trội của nó trong các hoạt động phong phú của người Việt Khi hành chức, ngoài chức năng định danh thông thường, với những đặc điểm ngữ nghĩa hết sức quan trọng trong cấu trúc ngữ cảnh mà nó tham gia

Như vậy chúng ta thấy rằng thành ngữ có giá trị cao trong sử dụng nhờ những đặc trưng của chúng, một trong những đặc trưng quan trọng đó là tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt Điều đó chúng tôi có thể làm rõ hơn qua

sự phân biệt thành ngữ với các đơn vị có liên quan

1.3 Điệp và đối

1.3.1 Điệp

Theo Từ điển tiếng Việt điệp có nghĩa là: “có sự lặp lại về mặt ngôn ngữ” Điệp là một biện pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến dùng để khắc sâu một từ ngữ, một âm điệu, một hình ảnh nào đó vào tâm trí người đọc đồng thời nó tạo ra sự liên tưởng so sánh và mang tính gợi cảm lớn

Nét bản chất của điệp chính là sự lặp lại, sự nhắc lại có ý thức, nhằm một mục đích nhất định nào đó, sự lặp lại có thể lặp lại một lần, hoặc nhiều lần, có thể lặp lại phụ âm đầu, lặp lại vần, lặp lại tiếng, lặp lại từ, lặp cụm từ, hoặc lặp câu Đây không phải là sự lặp lại một cách tùy tiện, vô ý thức mà là

sự lặp lại có tính nghệ thuật, hiệu quả cuối cùng của điệp là đem đến cho người đọc, người nghe các vẻ đẹp lặp lại Vì là sự lặp lại có ý thức nên theo diễn biến của thời gian, điệp đem đến cho người đọc, người nghe những ấn

Trang 29

tượng mới mẻ, gợi ra những xúc cảm mạnh mẽ trong lòng người đọc, người nghe Điệp là một biện pháp vừa mang tính cấu trúc, vừa mang tính nghệ thuật Điệp được sử dụng rất phổ biến nhất là trong thơ ca và trong thành ngữ.

Ví dụ:

Trong thơ:

Trong bài thơ “Ba mươi năm đời ta có Đảng” Tố Hữu viết:

Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt Đảng ta đây xương sắt da đồng Đảng ta muôn vạn công nông Đảng ta muôn vạn tấm lòng niềm tin…

Nhờ điệp ngữ “Đảng ta” tác giả làm nổi bật sự vĩ đại của Đảng Cộng

sản Việt Nam Đảng ta là sức mạnh, là niềm tin

Trong thành ngữ:

Chén tạc chén thù Tím mày tím mặt Bữa đực bữa cái

(Thành ngữ)Như vậy, điệp không chỉ dùng để nhấn mạnh, điệp còn dựa vào cơ sở thuộc vào quy luật tâm lý, khi một từ ngữ xuất hiện nhiều lần, sẽ gây được sự chú ý, gây được ấn tượng ở người đọc

Hay có thể lý giải một cách khác điệp không chỉ đơn thuần là lặp từ, mà qua lặp từ, tăng thêm lượng nghĩa, gợi lên những cảm xúc trong lòng người đọc

Nét nổi bật của điệp chính là sự lặp lại, sự nhắc lại có ý thức của tác giả nhằm một mục đích nhất định nào đó Sự lặp lại này có thể là một lần hoặc nhiều lần, có thể lặp lại phụ âm đầu, lặp vần, lặp tiếng, lặp từ, lặp cụm từ, hoặc lặp lại câu…Đây là sự lặp lại có dụng ý, có tính nghệ thuật

Trang 30

Các kiểu đơn vị điệp:

(Thành ngữ)Trong thơ ca:

+ Đi đâu mà vội mà vàng

Mà vấp phái đá mà quàng phải dây

Đây là hình thức trùng điệp âm hưởng bằng cách lặp lại cùng một cụm

từ, để nhấn mạnh, có khi điệp cụm từ có hai âm tiết

Ví dụ:

+ Máu chảy / đầu rơi

Gió dập / sóng dồi Lưng dài / vai rộng Miệng nói / tay làm

Ăn làm sao/ nói làm sao

Ăn miếng / trả miếng

Trang 31

(Tố Hữu)Trong thành ngữ:

Sức dài vai rộng

Có mới nới cũ

Lừ đừ như ông Từ vào đền Giật đầu cá vá đầu tôm Chửi mèo quèo chó Đồng không mông quạnh

Trang 32

+ Ra môn ra khoai

Mũ cao áo dài Nước mắt cá sấu Nói có sách mách có chứng

Như vậy điệp không chỉ đơn thuần là sự lặp lại, mà điều cốt yếu là thông qua sự lặp lại đó để nhằm chuyển tải nội dung, tư tưởng góp phần tạo nên âm hưởng hài hoà, tăng thêm lượng nghĩa, gợi lên những cảm xúc trong lòng người

1.3.2 Đối

Theo "Từ điển tiếng Việt" định nghĩa: "Đối là sự cân xứng với nhau về nội dung, giống nhau về từ loại, trái nhau về thanh điệu bằng trắc và được đặt

ở thế trên dưới ứng với nhau thành từng cặp để tạo nên một giá trị nhất định"

Đối là một biện pháp tu từ trong đó người ta dùng đặt trong cùng một chuỗi cú đoạn những âm thanh, những khái niệm, những hình ảnh, ý nghĩa đối lập nhau, được diễn tả bằng những đơn vị lời nói khác nhau

Một trong những đặc điểm vô cùng quan trọng để làm nổi bật hình ảnh,

ý nghĩa, đó là cách sử dụng nghệ thuật đối Cũng có người hiểu, đối chỉ bao gồm cái tương phản, đối ứng với nhau theo một cách nhất định nào đó Cũng

có người hiểu đối là sự cân đối giữa các vế trong cùng một dòng Thực ra khái niệm đối cần được hiểu theo một nội dung rộng hơn, có đầy đủ ý nghĩa hơn

Trang 33

Đối không chỉ bao gồm sự tương phản, đối ứng hoặc cân đối nhau mà còn bao gồm cả những cái tồn tại trong thế bổ sung cho nhau.

Biện pháp đối được thể hiện rất đa dạng, đối được thể hiện trên cơ sở những kiến trúc sóng đôi những đơn vị như nhau với một trật tự giống nhau

Nghiên cứu đối về mặt ngôn ngữ, ta có thể đứng từ nhiều góc độ khác nhau.Chẳng hạn, đứng từ góc độ quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện ta có thể thấy sự đối ứng của ngôn ngữ được biểu hiện qua mặt âm thanh

và ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ Đứng từ góc độ xem xét ngôn ngữ là một

hệ thống cấu trúc, trong đó các yếu tố tồn tại theo thứ bậc, ta có thể thấy đối thể hiện ở bậc từ, cụm từ, câu…Cuối cùng từ góc độ xem xét về mặt vị trí và quan hệ giữa các yếu tố, có đối trực tiếp, hoặc gián cách

Trong thực tế có rất nhiều kiểu đối Theo cấp độ ngôn ngữ có đối vần, đối tiếng, đối thanh, đối từ, đối ngữ, đối câu trong đó nổi bật là đối thanh, đối cụm từ, đối câu Đây là những kiểu đối đem lại hiệu quả nghệ thuật cao

Các kiểu đơn vị đối:

- Đối thanh:

Nói đến tính đăng đối về âm thanh phải nói đến đối thanh điệu

Đối thanh chiếm phần chủ đạo và căn bản Các thanh điệu trong tiếng Việt ngoài sự đối lập nhau về bằng/trắc, còn đối lập nhau về đường nét, về âm vực:

+ Âm vực:

Âm vực cao: Thanh Sắc, thanh ngã, thanh không dấu

Âm vực thấp: Thanh nặng, thanh huyền, thanh hỏi

+ Đường nét:

Bằng phẳng: Không dấu, thanh huyền

Không bằng phẳng: thanh ngã, thanh hỏi, thanh nặng, thanh sắc

Theo truyền thống ngữ văn người Việt, có cách chia thứ hai:

+ Cao: Thanh ngang, thanh hỏi, thanh sắc

Trang 34

+ Thấp: Thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng

Trong thành ngữ, về ngữ âm đối được hiểu là hiện tượng dùng các cặp

từ đối lập nhau về bằng - trắc giữa hai vế

Ví dụ:

Sức dài / vai rộng (B -T) Giật đầu cá / vá đầu tôm (T - B)

Đối tạo nên sự đối xứng giữa hai vế

Sự đối xứng làm nổi bật vẻ đẹp của nội dung và hình thức, đánh thức

cơ chế liên tưởng của người đọc

Ví dụ:

Trống đánh xuôi kèn thổi ngược Khôn nhà dại chợ

Nước mất nhà tan Làm vương làm tướng Lạc lối lầm đường

(Thành ngữ)

- Về nghĩa, đối được hiểu là hiện tượng sử dụng các cặp từ đối lập nhau

về nghĩa giữa hai vế

Ví dụ:

Lên voi / xuống chó Chết đi / sống lại

Trong đối từ ta có trường hợp đối thực từ với nhau:

+ Đối từ thuần Việt – thuần Việt

Ví dụ:

Lên thác / xuống ghềnh

+ Đối từ Hán Việt – Hán Việt

Trang 35

1.4 Tiểu kết Chương 1

Thành ngữ là đơn vị định danh bậc hai có chức năng sử dụng tương đương như từ Thành ngữ tiếng Việt không chỉ có số lượng lớn mà còn phong phú đa dạng về cách thức phản ánh và phương tiện biểu hiện Cho nên thành ngữ

có giá trị cao trong sử dụng Nó được ví như đội quân tinh nhuệ của ngôn ngữ dân tộc Tạo nên các giá trị đó là do các đặc trưng của thành ngữ quy định

Ở chương 1, chúng tôi tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận liên quan đến cấu trúc điệp và đối trong thành ngữ tiếng Việt Điệp và đối là hai tính chất quan trọng trong cấu trúc thành ngữ tiếng Việt, góp phần tạo ra sự giàu

có về âm thanh và ý nghĩa, sự hài hòa giữa nội dung và hình thức, góp phần làm giàu thêm ngôn ngữ dân tộc Nội dung về tính chất điệp và đối chúng tôi tập trung nghiên cứu ở chương 2 và chương 3

Trang 36

Chương 2 ĐIỆP TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG VIỆT

2.1 Tính chất điệp trong thành ngữ tiếng Việt

Điệp là một trong những tính chất quan trọng dễ nhận thấy nhất của thành ngữ tiếng Việt Điệp là một biện pháp vừa mang tính cấu trúc, vừa mang tính nghệ thuật, đồng thời điệp còn tạo nên sự hài hoà, cân đối cho thành ngữ tiếng Việt

Ở đây, trong thành ngữ tiếng Việt chúng ta có điệp về hình thức và điệp

về mặt ngữ nghĩa

- Điệp về mặt hình thức, đó là hiện tượng trong thành ngữ có hiện tượng điệp về ngữ âm (điệp vần, điệp tiếng, điệp thanh) hoặc về từ vựng - ngữ pháp (điệp từ, điệp cấu trúc)

+ Điệp vần: hiện tượng lặp lại phần vần

Ví dụ: Giật đầu cá vá đầu tôm

+ Điệp từ: hiện tượng lặp lại toàn bộ âm tiết

Ví dụ: Bữa đực bữa cái

+ Điệp thanh: hiện tượng lặp lại về thanh điệu

Ví dụ: Chó ăn đá / gà ăn sỏi

+ Điệp cấu trúc: hiện tượng vế thứ hai (cụm từ thứ hai) điệp lại cấu tạo của vế thứ nhất (cụm từ thứ nhất)

- Điệp về mặt ngữ nghĩa là hiện tượng sử dụng các cặp từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc lặp từ

2.2 Khảo sát và phân loại

2.2.1 Điệp về mặt hình thức

Trong mỗi thành ngữ, với số lượng âm tiết rất có hạn, hiện tượng điệp vần, điệp từ, điệp thanh là hết sức đặc biệt Các vần này được gối vào nhau,

Trang 37

kê liền vào nhau, làm cho các yếu tố trong thành ngữ liên kết lại với nhau một cách tự nhiên và chặt chẽ.

Điệp về mặt hình thức nhằm tạo ra sự hài âm Hài âm là biện pháp

tu từ ngữ âm trong đó người ta đã cố ý sử dụng một cách tổng hợp các biện pháp tu từ ngữ âm (điệp từ, điệp vần, điệp thanh…) nhằm tạo nên một sự phù hợp giữa hiệu quả biểu cảm, cảm xúc của hình tượng âm thanh với nội dung biểu hiện

2.2.1.1 Điệp từ

Điệp từ là hiện tượng lặp lại toàn bộ âm tiết trong một thành ngữ Đây

là hình thức trùng điệp âm hưởng bằng cách lặp lại cùng một từ, có khi đó chỉ

là một âm tiết, hoặc hai, ba âm tiết

Khảo sát 3242 thành ngữ tiếng Việt, thì có: 494 thành ngữ có hiện tượng điệp từ, chiếm 15,2%

Ví dụ:

Ra môn ra khoai Bước thấp bước cao Tối mày tối mặt

Xét về mặt cấu tạo: các từ điệp lại đều là một âm tiết Đó là do sự hạn chế, hạn định về mặt số lượng các âm tiết (từ) tham gia cấu tạo thành ngữ Thành ngữ vốn có cấu tạo ngắn gọn, súc tích, thường chỉ gồm bốn âm tiết Do

đó nếu có hiện tượng lặp từ trong một thành ngữ thì đó chỉ gồm một âm tiết

Ví dụ:

Chén tạc chén thù Bữa đực bữa cái Đâm bị thóc chọc bị gạo

Xét về mặt từ loại: các từ được lặp lại bao gồm cả thực từ và hư từ.Trong đó, số lượng thực từ vẫn chiếm nhiều hơn

Trang 39

Bảng 2.1 Các loại từ được điệp trong thành ngữ

Danh

từ

Động từ

Khảo sát 3242 thành ngữ tiếng Việt, chúng tôi thấy có 450 thành ngữ

có hiện tượng điệp vần, chiếm 13,8%

Dựa vào mức độ hoà âm, chúng ta có: điệp vần tuyệt đối và điệp vần tương đối

+ Điệp vần tuyệt đối:

Là hiện tượng láy lại toàn bộ phần vần ở một vị trí nào đó trong thành ngữ Đây là hiện tượng lặp vần có mức độ hoà phối âm thanh cao nhất Để nhận diện vần, người ta thường dựa vào ba yếu tố: đồng nhất về âm chính, đồng nhất về phần âm cuối, đồng nhất về đường nét và thanh điệu

Ví dụ:

Thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào

Trong thơ, vần chính bị trói buộc chặt chẽ với tính đồng nhất về thanh điệu Nhưng ở thành ngữ tiếng Việt vần chính không bị thanh điệu khống chế Những cặp vần thuộc những âm tiết có thanh điệu khác nhau về B-T, nhưng giống nhau về cao độ cũng được coi là vần chính

Trang 40

Ví dụ:

Ăn bờ ở bụi Mạnh như chẻ tre

Từ những trường hợp trên chúng ta có thể thấy được số lượng của vần tuyệt đối trong thành ngữ Thành ngữ loại này không chỉ đóng vai trò quan trọng về mặt liên kết, mà còn tạo ra sự hài hoà mà nó còn chiếm một số lượng lớn Đây cũng là bộ phận mà chúng tôi đi vào khảo sát, tìm hiểu

Bên cạnh thành ngữ cấu tạo có loại vần tuyệt đối, còn có thành ngữ gieo vần tương đối (hay còn gọi là vần thông) được tạo nên bởi sự hoà phối

âm thanh giữa các tiếng được gieo vần, trong đó phần vần không giống nhau hoàn toàn mà có sự khác nhau ở một thành phần nào đó

Ví dụ:

Ăn trắng mặc trơn Lấm le lấm lét

Im thin thít như thịt nấu đông

Tuy nhiên ở luận văn này, chúng tôi không đi vào khảo sát, tìm hiểu loại vần này Mặc dù đây cũng là hiện tượng rất thú vị, đáng để quan tâm Nó cũng có vai trò tạo ra tính nhạc, sự cân đối, nhịp nhàng cho thành ngữ Dựa vào khoảng cách giữa các vần trong thành ngữ, chúng ta có điệp vần liền và điệp vần cách

Thứ nhất là điệp vần liền: là hiện tượng trong thành ngữ, các tiếng gieo vần đứng kề bên nhau Vần được láy ở vị trí giữa trong cấu trúc và giữa chúng không có âm tiết trung gian nào cả

Khảo sát 450 thành ngữ tiếng Việt có hiện tượng điệp vần thì có 340 thành ngữ có hiện tượng điệp vần liền, chiếm 75,6%

Ví dụ:

Có mới nới cũ

Ngày đăng: 15/12/2015, 12:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1985), Truyện Kiều, NXB Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
Năm: 1985
2. Diệp Quang Ban (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2000
3. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, NXBVHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXBVHTT
Năm: 2001
4. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
5. Nguyễn Đức Dân (1986), "Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng", Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
6. Nguyễn Lực – Lương Văn Đang (1993), Từ điển thành ngữ tiếng Việt, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Lực – Lương Văn Đang
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1993
7. Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (2009), Thành ngữ tiếng Việt, NXBKHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Lực, Lương Văn Đang
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 2009
8. Nguyễn Thiện Giáp (2001), Từ vựng học tiếng Việt, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2001
9. Nguyễn Thiện Giáp ((1975), "Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt", Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (
Năm: 1975
10. Lê Bá Hán (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 1999
11. Hoàng Văn Hành (2003), Thành ngữ học tiếng Việt, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 2003
12. Hoàng Văn Hành (1999), Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1999
13. Hoàng Văn Hành (1987), "Thành ngữ trong tiếng Việt", Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1987
14. Hoàng Văn Hành (1973), "Suy nghĩ về cách dùng thành ngữ qua văn thơ của Hồ Chủ Tịch", Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về cách dùng thành ngữ qua văn thơ của Hồ Chủ Tịch
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1973
16. Đinh Trọng Lạc (1996), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt , NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996
17. Đinh Trọng Lạc (2001), Phong cách học tiếng Việt, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2001
18. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, NXBHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: NXBHN
Năm: 1976
19. Nguyễn Văn Mệnh (1972), "Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ", Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Mệnh
Năm: 1972
20. Nguyễn Văn Mệnh (1986), "Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt", Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Mệnh
Năm: 1986
21. Đái Xuân Ninh (1978), Hoạt động của từ tiếng Việt, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của từ tiếng Việt
Tác giả: Đái Xuân Ninh
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1978

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Các loại từ được điệp trong thành ngữ - Khảo sát cấu trúc điệp và đối trong thành ngữ tiếng việt  luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.1. Các loại từ được điệp trong thành ngữ (Trang 39)
Bảng 3.1.  Đối về mặt ngữ âm của thành ngữ tiếng Việt. - Khảo sát cấu trúc điệp và đối trong thành ngữ tiếng việt  luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 3.1. Đối về mặt ngữ âm của thành ngữ tiếng Việt (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w