1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp khi cho trẻ mẫu giáo lớn (5 6 tuổi) làm quen với biểu tượng hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quá

54 525 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 410 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuynhiên trong khi dạy trẻ quan sát giáo viên không nên vội vàng đa cho trẻnhững kết luận khái quát bằng lời bởi vì kinh nghiệm cảm giác của trẻ càngnghèo nàn bao nhiêu thì biểu tợng của

Trang 1

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

iện thực xung quanh có rất nhiều cái mà con ngời cha biết Nhiệm

vụ của cuộc sống và hoạt động thực tiễn luôn đòi hỏi con ngời phảihiểu thấu những cái cha biết đó ngày một sâu sắc, đúng đắn và chính xác hơn;Phải vạch ra đợc bản chất và những quy luật tác động của chúng Quá trìnhnhận thức đó gọi là t duy

H

T duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độnhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác, t duy phản ánh những thuộctính bên trong, bản chất, những mỗi liên hệ có tính quy luật của sự vật - hiệntợng mà trớc đó ta cha biết Quá trình phản ánh này là quá trùnh gián tiếp, độclập và mang tính khái quát, đợc nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sựnhận thức cảm tính nhng vợt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính Trongnhững thao tác của t duy thì khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để hợp nhấtcác đối toựng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính,những mối liên hệ, quan hệ chung nhất định Nh vậy khái quát hoá là mộttrong những thao tác cơ bản của t duy, giúp trẻ lĩnh hội trí thức một cách có hệthống - Nó đóng vai trò quan trọng trong việc chiếm lĩnh những khái niệmkhoa học ở trờng phổ thông

Sự phát triển khả năng khái quát hoá của trẻ ở trờng mầm non là vấn đề

đợc các nhà tâm lý học và giáo dục học tập trung nghiên cứu, đặc biệt là đốivới trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) - chuẩn bị vào lớp 1

Quan điểm giáo dục mầm non của nớc ta hiện nay họ đều cho rằng: Cầnphải sớm phát triển quá trình nhận thức, năng lực t duy cho trẻ Đặc biệt làthao tác t duy (Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trìu tợng hoá) Bêncạnh đó việc cung cấp và hình thành ở trẻ những biểu tợng về toán học nóichung và biểu tợng về hình học nói riêng cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) làmột cơ hội tốt để hình thành ở trẻ những khả năng tìm tòi, quan sát, so sánh,tổng hợp, khái quát hoá, phát hiện thói quen chính xác…Điều đó sẽ giúp trẻĐiều đó sẽ giúp trẻ

dễ dàng hơn trong việc tiếp thu trí thức sau này, chuẩn bị những hành trangcần thiết để trẻ bớc vào mái trờng phổ thông - Góp phần hình thành và pháttriển toàn diện nhân cách cho trẻ ngay từ tuổi ấu thơ

Cụ thể với biể tợng hình dạng thì ngay từ nhỏ đã cần dạy trẻ những biệnpháp khảo sát lần lợt theo đờng bao quanh của hình bằng của các đầu ngón tay

Trang 2

và cử động của mắt Trong quá trình khảo sát thì lời nói đóng vai trò vô cùngquan trọng - nó giúp trẻ hớng tới những điểm mà trẻ cần chú ý Cần phải có sựphối hợp giữa các biện pháp trong quá trình tổ chức các hoạt động cho trẻ Tuynhiên trong khi dạy trẻ quan sát giáo viên không nên vội vàng đa cho trẻnhững kết luận khái quát bằng lời bởi vì kinh nghiệm cảm giác của trẻ càngnghèo nàn bao nhiêu thì biểu tợng của trẻ về khách thể càng nông cạn bấynhiêu và hình ảnh cụ thể về khách thể vẫn sơ sài.

Cho trẻ làm quen với biểu tợng hình dạng ở trờng mầm non cũng là mộttrong những phơng tiện để phát triển khả năng khái quát hoá Đồng thời nếulựa chọn sử dụng hệ thống biện pháp một cách linh hoạt, phù hợp sẽ giúp ngờigiáo viên chủ động, tự tin, vững vàng trong khi dạy, tạo cho lớp học bầu khôngkhí sôi nổi, thoải mái, trẻ lĩnh hội tri thức một cách tự nhiên, chính xác, dễdàng

Thực tiễn hiện nay ở các trờng mầm non cho thấy giáo viên cha pháthuy tối đa của việc sử dụng hệ thống các biện pháp để phát triển khả năng kháiquát hoá cho trẻ khi làm quen với biểu tợng hình dạng đặc biệt ở giai đoạn trẻmẫu giáo lớn (5-6 tuổi) - chuẩn bị vào lớp 1, khả năng phát triển khái quát hoáthật sự đã đạt đến mức cao nhất là trong hoàn cảnh hiện nay Song song với sựphát triển trí tuệ của trẻ với tốc độ nhanh cùng với những đòi hỏi của xã hội thìviệc làm quen với biểu tợng hình dạng để phát triển khả năng khái quát hoáthông qua việc sử dụng hệ thống các biện pháp là có thể thực hiện đợc

Vì những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: "Một

số biện pháp khi cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) làm quen với biểu tợng về hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hoá" với mong muốn đóng góp

một phần nhỏ của mình vào lý luận và thực tiễn giáo dục mầm non ở ViệtNam hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng một sốbiện pháp cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) làm quen với biểu tợng toán học vềhình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hoá

3 Khách thể nghiên cứu và đối tợng nghên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi)

3.2 Đối tợng nghiên cứu: Khả năng khái quát hoá của trẻ mẫu giáo lớn

Trang 3

(5-4 Phạm vi nghiên cứu: 50 cháu ở trờng mầm non Hng Dũng I - Tp.Vinh - Nghệ An.

5 Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng đợc hệ thống các biện pháp khicho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) làm quen với biểu tợng về hình dạng một cách hợp

lý sẽ phát triển tốt ở chúng khả năng khái quát hoá

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu về những vấn đề lịch sử và cơ sở lý

luận có liên quan đến đề tài.

6.2 Điều tra thực trạng của việc sử dụng hệ thống các biện pháp khi cho

trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) ) làm quen với biểu tợng với hình dạng nhằm phát triểnkhả năng khái quát hoá

6.3 Xây dựng một số biện pháp theo định hớng của đề tài nhằm phát triển

khả năng khái quát hoá cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi)

6.4 Tổ chức thực nghiệm s phạm nhằm khẳng định tính khả thi của các

biện pháp đã đề xuất

7 Phơng pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu chính sau đây:

7.1 Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập và xử lý tài liệu có

liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2 Phơng pháp quan sát, đàm thoại, ghi chép, trao đổi, dự giờ, ghi

chép lại tiết dạy, trao đổi với giáo viên nhằm mục địch tìm hiểu nguyên nhândẫn đến thực trạng khả năng khái quát hoá về biểu tợng toán học hình dạng trẻmẫu giáo lớn (5-6 tuổi)

7.3 Phơng pháp điều tra An két:

7.4 Phơng pháp thực nghiệm s phạm: Thực nghiệm phát triển khả

năng khái quát hoá về biểu tợng toán học về hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn(5-6 tuổi)

8 Kế hoạch và thời gian nghiên cứu

-Tháng 12 năm 2001 nhận đề tài

- Tháng 01 đến tháng 02 năm 2002 viết đề cơng

Trang 4

- Tháng 02 đến tháng 04 năm 2002 dự giờ ở lớp mẫu giáo lớn

và tiến hành thực nghiệm trên trẻ

- Tháng 05 năm 2002 hoàn thành và nộp khoá luận tốt nghiệp

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài gồm có 3 chơng

húng ta biết rằng sự phát triển t duy, các thao tác t duy trong đó có t duykhái quát hoá là vấn đề dợc nhiều nhà tâm lý học để tâm nghiên cứu Cócác quan điểm nghiên cứu về t duy của trẻ em

- Giai đoạn 1: (Từ sơ sinh đến 2 tuổi) T duy giác động: Lúc này cha có

thao tác nhng trong hành vi bên trong có thể thấy những mần mồng thuậnnghịch của các thao tác

- Giai đoạn 2: (Từ 2 đến 7 tuổi) Giai đoạn t duy tiền thao tác ở trẻ

ngôn ngữ phát triển, các biểu tợng đợc hình thành bắt đầu quá trình tích cựcchuyển hành động bên ngoài với các đồ vật váo ý nghĩ Đây là giai đợn hìnhthành t duy trực quan của trẻ mà J Piaget gọi là trực giác

Trang 5

- Giai đoạn 3: (Từ 7 đến 8 đến 11 - 12 tuổi) Giai đoạn thao tác cụ thể.

Hoạt động trí tuệ có tính chất thuận nghịch và hình thành trong cấu trúc xác

định

- Giai đoạn 4: (Từ 11 - 12 đến 14 - 15 tuổi) Giai đoạn t duy hình thức.

Đặc trng của giai đoạn này là khả năng của trẻ thực hiện những thao tác trong

óc, sử dụng những lập luận và những khái niệm Logic Các thao tác trí tuệ bêntrong chuyển thành cấu trúc tổ chức hoàn chỉnh

+ Đối với trẻ mẫu giáo liên quan đến giai đoạn đầu và giai đoạn 2

Trong giai đoạn 2, J Piaget chia làm 2 thời kỳ: Thời kỳ t duy biểu ợng và Thời kỳ t duy tiền khái niệm - thời kỳ t duy trực giác Thời kỳ đầuliên quan đến lập luận tiền khái niệm của trẻ

t-Với Hangri Valong (1879 - 1962) là nhà tâm lý học ngời Pháp, ôngcũng coi trí tuệ của trẻ đợc phát triển nh là sự chuyển dần các hành động bênngoài và ý nghĩ nhng khác với J Piaget, ông chỉ so vai trò của dạy học - của sựluyện tập trong sự phát triển t duy của trẻ, trong đó đặc biệt chú ý đến nộidung và biện pháp phát triển t duy dới ảnh hởng của luyện tập

Trong tác phẩm "Tâm lý học nhận thức" Gbeuner - Nhà tâm lý học ngời

Mỹ đã nghiên cú khái quát hoá và vai trò của nó ở các mức độ khác nhautrong hoạt động nhận thức: Từ tri giác đến t duy khái niệm - ông khẳng định: ởtrẻ em sản phẩm của quá trình t duy chính là các biểu tợng hình ảnh nhng ởmức độ khác nhau

Trong khi đó, các nhà tâm lý học Đông Âu và Liên Xô (Cũ) lại tiếnhành những nghiên cứu của mình theo 2 hớng chính:

Hớng 1: Nghiên cứu t duy là nghiên cứu quá trình phân tích - tổng hợp

đặc biệt là mối quan hệ giữa chúng và kết quả của nó là khái quát hoá trìu t ợng hoá

-Hớng 2: Nghiên cứu t duy nh là một hệ thống với các thao tác nhập vào

trong theo cơ chế nhập tâm

Hai hớng trên trong tâm lý học s phạm đợc thể hiện trong hai loạinghiên cứu dạy học cụ thể

Trang 6

- Thuyết hình thành khái niệm: Những nhà nghiên cứu đại diện cho

h-ớng này nh: D.N Bogoia Vlenskyi, Na Mentrinxlaia, L Vzankov, Kalanova

…Điều đó sẽ giúp trẻ

Theo hớng nghiên cứu đó các tác giả cho rằng động lực quan trọngtrong việc phát triển trí tuệ của trẻ chính là sự nỗ lực tích cực vợt qua đợc khókhăn gặp phaỉ trong quá trình lĩnh hội các tri thức mới

- Thuyết hình thành các thao tác trí tuệ.

Đại diện cho thuyết này có các nhà tâm lý học: A.L Leonchep, P.A.Ganperin, D.B Enkonhin, V.V Đavuđôp …Điều đó sẽ giúp trẻ

Theo hớng này các tác giả cho rằng: Cách thức quan trọng để phát triển

t duy của trẻ em chính là việc điều khiển các giai đoạn hình thành thao tác tduy bằng con đờng chuyển từ ngoài vào trong

ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu theo hớng này

tr-ớc hết phải kể đến Hồ Ngọc Đại với các cộng sự của ông đã nghiên cứu sựphát triển t duy của học sinh đầu cấp tiểu học Ngoài ra, một số công trìnhnghiên cứu của các tác giả nghiên cứu nh: Nguyễn Thị Hồng nga, Phạm Thị

Đức …Điều đó sẽ giúp trẻ cũng đề cập đến vấn đề khả năng khái quát hoá nhằm nâng cao nănglực t duy cho trẻ ở tỉểu học

Riêng ở bậc học mẫu giáo, cũng đã xuất hiện nhiều công trình vềnghiên cứu khả năng khái quát hoá của trẻ của các tác giả nh: Lê Thanh nga,

Đinh Thị Mai - Trong đó có luận án tiến sỹ của tác giả Trần Xuân Hơng theohớng nghiên cứu t duy tìm hiểu trực quan sơ đồ, giúp hình thành ở trẻ biểu t-ợng khái quát qua biện pháp xây dựng và sử dụng các mô hình, các sơ đồ trựcquan Nhìn chung các tác giả này đều có một mối quan tâm chung là tìm tòicác phơng pháp, biện pháp để phát triển khả năng khái quát hoá của trẻ, mỗitác giả đều xác định cho mình một cách tiếp cận khác nhau Việc nghiên cứukhả năng khái quát hoá và biện pháp hình thành khả năng đó cho trẻ mẫu giáo,nhất là khả năng khái quát hoá các biểu tợng toán học về hình dạng cho trẻvẫn cha đợc quan tâm đúng mức

1.2 Những vấn đề lý luận về khái quát hoá

1.2.1 Bản chất của khái quát hoá

T duy của con ngời là một quá trình nhận thức có nội dung chủ yếu là

Trang 7

của nhiều nhà khoa học và tâm lý học đã chỉ ra rằng: Sự phản ảnh của t duyluôn mang tính khái quát trên cơ sở phân tích - tổng hợp và trìu tợng hiện thực

đợc phản ánh

Theo các tác giả Phạm Minh Hạc và Trần Trọng Thuỷ "Khái quát hoá làquá trình con ngời dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tợng khác nhau nhng cóchung những thuộc tính, liên hệ, quan hệ …Điều đó sẽ giúp trẻ nhất định thành một nhóm, mộtloại Khái quát hoá đem lại một cái nhìn nào đó"

Nh vậy, kết quả của khái quát hoá là hình thức phản ánh cái chung, phản

ánh những mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiện tợng giúp con ngời phânbiệt các sự vật và hiện tợng có chung những thuộc tính nhất định Nh vậy, kháiquát hoá vừa đợc xem nh là một thao tác t duy, là sản phẩm t duy

* Khái quát hoá là thao tác cơ bản của t duy

Trong tâm lý học hiện đại, các công trình nghiên cứu về t duy đã chỉ rarằng: T duy là quá trình cá nhân thực hiện các thao tác nhất định để giải quyếtvấn đề, nhiệm vụ trí tuệ nào đó Xét về mặt cấu trúc, quá trình t duy bao gồmcác thao tác: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trìu tợng hoá

Các công trình nghiên cứu về t duy của các nhà khoa học nh: Piaget,L.X Vgôtki, Đ.B Encônhin, V.V Đavđôp, P.I.A Ganperin Hăngrivaley đãxác định đợc khái quát hoá có từ lúc 1 đến 3 tuổi khi trẻ bắt đầu hoạt động đốivới thế giới đồ vật theo cơ chế bắt chớc Chính việc theo dõi, bắt chớc cáchành động của ngời lớn ở trẻ là cơ sở của khả năng khái quát hoá sau này.Việc hình thành khả năng khái quát hoá thể hiện rõ ràng trong quá trình lĩnhhội khái niệm khái quát hoá phản ánh các dấu hiệu bản chất và thuộc tínhchung của các sự vật và hiện tợng trong thế giới khách quan, từ đó xây dựngnên khái niệm Khái niệm tồn tại trong các từ - khi lĩnh hội một từ mới trẻ phảilĩnh hội cả nghĩa của từ Khi lĩnh hội đợc nghĩa của từ thì trẻ sẽ lĩnh hội đợckhái niệm

Khái quát hoá hình thành mối quan hệ thực tế của các quan hệ đặc biệt

từ đó mở ra các đặc điểm chung, mơ ra các bản chất của các đối tợng, dần dần

đi đến cái chung của một nhóm đối tợng

Khác với các hình thức phản ánh các hiện tợng khách quan khác, kháiquát hoá phản ánh các đặc điểm và thuộc tính chung của các sự vật , hiện tợngtrong hiện thực khách quan, phản ánh các mối quan hệ nguồn gốccủa một hệthống trọn vẹn nào đó Kết quả là khái quát hoá giúp hình thành các khái niệm

Trang 8

mà theo L.X Vgôtxki đã xác định thì khái quát hoá là một hành vi từ ngữ đặcbiệt của ý nghĩa Còn V.V Đavđôp thì cho rằng khái quát hoá đã giúp tổnghợp lại các dấu hiệu trìu tợng từ đó tạo nên khái niệm.

Trong các công trình nghiên cứu của X.L Rubinstein chỉ ra quá trìnhkhái quát hoá diễn ra phụ thuộc 2 loại khái quát

+ Khái quát hoá kinh nghiệm diễn ra bằng con đờng so sánh đẻ tách racác dấu hiêu chung giống nhau ở hai hay nhiều sự vật, hiện tợng và tình huốngkhác nhau

+ Khái quát hoá khoa học diễn ra bằng con đờng phân tích để tách rathuộc tính, các mặt và các mối quan hệ cơ bản của các sự vật - hiện tợng

Nh vậy khái quát hoá là một thao tác t duy phức tạp và diễn ra bằng con

đờng phân tích, tổng hợp, so sánh để tìm ra những dấu hiệu chung giống nhauhay bản chất của các sự vật Hiện tợng và tìm tên gọi để biểu đạt chung Phântích, so sánh, tổng hợp là các thao tác t duy tham gia vào quá trình khái quáthoá Khái quát hoá đựơc coi là sự tổng hợp ở mức cao

* Khái quát hoá là sản phẩm của t duy

Khái quát hoá bao giờ cũng là hình thức phản ánh cái chung, cái giốngnhau nào đó đợc tách từ 2 hay nhiều sự vật Hiện tợng riêng lẻ và liên kết lạithành hệ thống trọn vẹn nào đó

Những thuộc tính mà khái quát hoá phản ánh có thể là những thuộc tínhgiống nhau theo dấu hiệu bề ngoài hoặc thuộc tính bản chất Do vậy nhữngbản chất thuộc tính đồng thời là thuộc tính chung cho một nhóm nào đó nhngnhững thuộc tính giống nhau cha hẳn là thuộc tính bản chất Việc tách nhữngdấu hiệu chung bản chất để liên kết các sự vật trên cơ sở loại bỏ các thuộc tínhbên ngoài không bản chất giúp trẻ lĩnh hội những khái niệm đơn giản, dễ ràng

Nh vậy, khái niệm là sự phản ánh khái quát tòn bộ một nhóm các đối ợng giống nhau có dấu hiêu chung bản chất Khái niệm không mang hình thứccảm tính, mặc dù nó đợc xây dựng trên cơ sở cảm giác Do đó khái niệm là sảnphẩm của t duy sáng tạo

t-Khái quát hoá phản ánh những mối liên hệ, quan hệ qua lại giữa các sựvật, hiện tợng xung quanh có tính quy luật Khi đó từ ngữ đợc sử dụng trongnhững trờng hợp này để khái quát hoá kinh nghiệm

Trang 9

Theo quan điểm của tâm lý học thì nghĩa của từ trớc hết có sự khái quáthoá, khái quát hoá dễ dàng nhìn thấy - đó là một hành vi đặc biệt của ý nghĩ.Hiện thực khách quan đợc phản ánh trong cảm giác và tri giác trực tiếp.

Khái quát hoá là hành động tìm từ để biểu đạt sự hiểu biết, là hoạt đọngmang ý nghĩa về mặt nhận thức Nếu không có từ để biểu đạt hành động thìkhái quát hoá không có ý nghĩa về mặt nhận thức

Trong quá trình khái quát hoá, dựa vào những dấu hiệu chung, vào vốn

từ ngữ, chủ thể t duy xác định đợc các sự vật - hiện tợng riêng lẻ, cụ thể phùhợp với dấu hiệu chung đó Vì vậy kết quả của quá trình khái quát hoá còn phụthuộc vào sự lĩnh hội từ ngữ

Nh thế thì khái quát hoá không chỉ là sản phẩm của quá trình t duy màhơn thế - nó là sản phẩm của t duy ngôn ngữ mà kết quả của nó là sự lĩnh hộinghĩa của từ, hình thành các khái niệm và hệ thống khái niệm mà khái niệm -sản phẩm của qúa trình khái quát hoá trở thành phơng tiện của hoạt động t duycho phép con ngời ngày càng đi xâu hơn tìm hiểu, khám phá những bí ẩn của

tự nhiên

1.2.2 Đặc điểm khái quát hoá của trẻ

Chúng ta biết rằng, bất kỳ mọi sự vật - hiện tợng nào cũng đều tồn tại

d-ới nhiều dấu hiệu, thuộc tính khác nhau (Bản chất và không bản chất) nhiềumối liên hệ, quan hệ Các sự vật, hiện tợng đợc khái quát vào một nhóm, mộtloại có thể theo dấu hiệu chung bên ngoài không bản chất hoặc theo dấu hiệuchung bản chất, từ đó xác định mức độ khái quát hoá của chủ thể t duy Vì vậy

để xác định có thể đợc dấu hiệu chung bản chất (Thờng bị che lấp bởi các dấuhiệu bên ngoài không bản chất) cần có sự phân tích tổng hợp sâu sắc đối vớicác đối tợng định khái quát, giúp chủ thể có thể có cái nhìn khái quát giữa cáichung và cái riêng trong một tập hợp trọn vẹn

ở trẻ khái quát hoá đợc phát triển cùng với sự phát triển của các hìnhthức t duy khác nhau có liên quan chặt chẽ với sự phát triển ngôn ngữ và mức

độ lĩnh hội các khái niệm sinh hoạt ngay từ lúc 2 tuổi, khi t duy trực quanhành động phát triển thì khái quát hoá cũng bắt đầu xuất hiện trong hành

động Dần dần khi ngôn ngữ xuất hiện thì khái quát hoá đợc củng cố với giatốc ngày càng cao hơn

Nghiên cứu của A.A Liublinkuia đã chỉ ra sự phụ thuộc trực tiếp củamức độ khái quát hoá vào việc lính hội nghĩa của từ ngữ khái quát vào việc

Trang 10

thông thạo ngôn ngữ của trẻ Nhng không phải bất cứ từ nào có đặc trunggiống nhau bên ngoài cũng giống nhau về bản chất, cho nên cần phải phân tíchnghĩa của từ Việc hiểu đúng và đầy đủ nghĩa của từ cũng nh sự phong phú vềvốn từ sẽ giúp cho khả năng khái quát hoá của trẻ phát triển tốt.

Nhìn chung đặc điểm khái quát hoá của trẻ mang tính chất phiến hoạnhanh, có nghĩa là trẻ hợp nhất các đối tợng giống nhau theo một cái gì đócảm tính mà không có sự phân tích và tách ra những dấu hiệu chung bản chất

Có thể thấy nguyên nhân rõ nhất là do t duy của trẻ mang năng màu sắc trựcquan cảm tính và xúc cảm mạnh

Những dấu hiêu nào gây ấn tợng mạnh mẽ và đạp ngay vào mắt trẻ dễlàm cơ sở dể trẻ hợp nhất chúng

Một đặc điểm nổi bật khác nữa là khái quát hoá của trẻ chủ yếu là kháiquát hoá kinh nghiệm do đặc trng t duy của trẻ mẫu giáo là thao tác t duy tổhợp đơn giản Trẻ dựa vào các biểu tợng đã có để liên kết và phân loại các đốitợng theo nhiều dấu hiệu khác nhau Trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm hoạt

động mà trẻ hình thành đợc những khái niệm

Nh vậy, khái quát hoá của trẻ có đợc phải thông qua các thao tác t duygắn liền với ngôn ngữ nhng sự khái quát hoá của trẻ chủ yếu là khái quát kinhnghiệm và mang tính phiếm hoạ nhanh

1.2.3 Khả năng khái quát hoá và sự hình thành khái quát hoá ở trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)

Khả năng khái quát hoá xuất hiện khi t duy của trẻ phát triển đến mức

độ nhất định nào đó Những kết quả của các nhà nghiên cứu tâm lý học chothấy: Khả năng khái quát hoá có từ 2 - 3 tuổi trên cơ sở so sánh các đối tợngcùng loại và bằng cách trìu xuất và khái quát các đặc điểm đặc trng cho tất cảcác dối tợng đó Khi quan sát các sự vật, hiện tợng xung quanh, trẻ thờng chú

ý đến các dấu hiệu bên ngoài, những nét trực tiếp đập vào mắt trẻ và trẻ kháiquát hoá theo những dấu hiệu bên trong của sự vật - nh thế thì cơ sở đầu tiên

để trẻ khái quát các sự vật - hiện tợng là đặc điểm bên ngoài Đến 4 - 5 tuổi trẻbắt đầu chú ý đến thuộc tính bên trong, đến nguyên nhân bên trong của sự vật

- hiện tợng - lúc này nội dung t duy của trẻ thay đổi kéo theo sự thay đổi hìnhthức t duy Cùng với sự chuyển quá trình t duy từ "Bình diện bên ngoài" vào "Bình diện bên trong" trẻ khái quát dựa vào các hình ảnh mà nó tri giác đợc

Trang 11

Thời kỳ này năng lực khái quát của trẻ phát triển mạnh - trẻ biết kháiquát các sự vật - hiện tợng theo những dấu hiệu bản chất hơn bỏ qua nhữngthuộc tính thứ yếu kém bản chất.

Ví dụ: Khi trẻ phân các đồ vật thì công dụng và cách dùng của chúng là

những dấu hiệu bản chất mà trẻ quan tâm hơn Đến 5 tuổi trẻ bắt đầu lĩnh hộimột số khái niệm cùng loại, cùng họ…Điều đó sẽ giúp trẻ và tiến hành các thao tác khái quát ởmức độ cao hơn trên cơ sở phân tích tổng hợp những sự vật, hiện tợng quan sát

đợc, trẻ rút ra đợc những dấu hiệu bản chất theo kinh nghiệm sống của mình

Sự hình thành khả năng khái quát có liên quan trực tiếp với việc biến đổi

từ ngữ Khi trẻ chiếm lĩnh đợc lời nói và cách diễn đạt của ngời lớn về các đồvật và các hành động thì ở trẻ cũng hình thành đợc những phơng thức hành

động khái quát và khái quát đựơc bằng lời Ban đầu là những khái quát bềngoài không căn bản, dần dần những khái quát đợc cố định bằng lời nói sẽ trởnên chính xác, hoàn hảo hơn Khi hành động chuyển sang mức ngôn ngữ, cácthuộc tính chung của các sự vật - hiện tợng biến thành nghĩa của từ Các từluôn chỉ ra mối liên hệ tồn tại giữa các sự vật, hiện tợng: Từ bao giờ cũng biểuhiện sự nhận thức khái quát về một loại quan hệ nhất định tồn tại giữa các sựvật - hiện tợng

Công trình nghiên cứu của L.Rixnhicova chỉ ra cơ sở hình thành kháiquát hoá theo các giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Giai đoạn tổng hợp đơn giản.

Trẻ thực hiện các hành động thực tế song cha nhận thức đợc dấu hiệuchung, cha tìm đợc thuật ngữ để thực hiện thao tác khái quát

- Giai đoạn 2: Khái quát trực quan cụ thể.

Trẻ thờng thử gọi tên cho nhóm nh là một chỉnh thể nhng thuật ngữ chachính xác, cha phù hợp - cái chung đợc phản ánh thông qua cái cụ thể

- Giai đoạn 3: Khái quát ngôn ngữ cụ thể.

Trẻ dùng tên gọi khái quát để ký hiệu cho cả nhóm nh là một thể thốngnhất

- Giai đoạn 4: Trớc khi thực hiện hành động phân nhóm các sự vật trẻ

đã biết gọi tên chung của một nhóm nhng trẻ sử dụng các từ thông qua các vật

cụ thể trong nhóm

Trang 12

- Giai đoạn 5: Trẻ gọi tên khái quát của nhóm trớc khi xác định các vật

- Bớc 1: Chọn và liên kết các đối tợng một cách may rủi

- Bớc 2: Lựa chọn trên cơ sở các dấu hiệu không gian của các đồ vật

- bớc 3: Đa đến khái niệm chung cho tất cả các đồ vật

+ Giai đoạn 5.2: Hình thành khái niệm.

Tổ hợp trên cơ sở của một vài dấu hiệu liên kết Có thể có 4 loại tổ hợp:

- Tổ hợp theo bất kỳ một dấu hiệu thay thế bên ngoài nào đó

- Liên kết các đồ vật trên cơ sở của những dấu hiệu chức năng

- Liên kết theo từng dấu hiệu, trong một vật thể có nhiều đồ vật đợcliên kết theo những dấu hiệu khác nhau

- Giả khái niệm (Bên ngoaì là khái niệm, bên trong là tổ hợp)

+ Giai đoạn 3: Hình thành khái niệm thực sự.

Hình thành kỹ năng tách, trìu tợng các thành phần và sau đó tổng hợpchúng thành khái niệm chung bên ngoài phụ thuộc vào đồ vật Giai đoạn nàybao gồm:

- Giai đoạn tiền khái niệm: Trẻ phân nhóm đồ vật theo một dấu hiệuchung nào đó

- Giai đoạn khái niệm thật: Trẻ trìu tợng hành động dấu hiệu cần thiết

và đầy đủ để xác định khái niệm, sau đó trẻ tổng hợp và xếp vào một kháiniệm tơng ứng

Trang 13

Loại t duy tổ hợp - t duy tiền khái niệm đặc trung ở trẻ mẫu giáo, cáckhái niệm dù là khái niệm đời thờng cũng không xuất hiện một cách rời rạc,

đơn độc, chúng thống nhất xen lẫn giữa các yếu tố trực quan biểu tợng với t,chúng nhập vào quá trình t duy của trẻ dới dạng những biểu tợng khái quát.khi nghiên cứu quá trình khái quát của trẻ, N.H Savashin đã xác định các mức

độ:

+ Khái quát trên cơ sở tính chất chung của các dấu hiệu bên ngoài đậpvào mắt

+ Khái quát trên cơ sở gọi đúng bằng từ (Tên gọi)

+ Khái quát trên cơ sở tách một dấu hiệu chung cho các đối tợng khácnhau nhng không phải dấu hiệu bản chất

+ Khái quát trên cơ sở tính chất chung các dấu hiệu cơ bản đợc trẻ táchbiệt trong các đối tợng khác nhau

Ph I Fratkina và một số tác giả nghiên cứu sự phát triển khái quát hoácủa trẻ trong quá trình hình thành khái niệm, bà đã chỉ ra cơ sở khái quát củatrẻ Theo bà trẻ thờng khái quát theo các dấu hiệu:

- Dấu hiệu ngẫu nhiên

- Theo bộ su tập (Bộ đồ uống trà, tách li )…Điều đó sẽ giúp trẻ

- Theo chức năng công dụng đựoc tách ra: để đựng, để mặc …Điều đó sẽ giúp trẻ

- Theo vật liệu: Gỗ, nhựa, kim loại…Điều đó sẽ giúp trẻ

- Theo loại, dạng đối tợng

Tác giả còn nhấn mạnh: Trẻ mấu giáo thờng hớng vào các dấu hiệu đadạng khi khái quát các đối tợng Mức độ khái quát mà trẻ đạt đợc phụ thuộcvào:

- Trình độ quen thuộc của trẻ với sự đa dạng của vật đợc đa vào nhóm

- Sự hiểu biết về từ mà nó khái quát đa vào nhóm

Ngoài ra, một số tác giả phân loại theo cấp độ khái quát của trẻ

Theo Matvâyeva, có 2 loại khái quát:

- Khát quát theo cấp độ cảm tính (Diễn ra sự biệt hoá các dấu hiệu cảmtính)

- Khát quát theo cấp độ khái niệm (Phân biệt các dấu hiệu bản chất củakhái niệm)

Trang 14

Theo Vgôtxki và Saxarôp trong tác phẩm "T duy và ngôn ngữ", kháiquát đợc diễn ra theo mức độ:

- Khái quát hoá đơn giản: Là sự hình thành những tập hợp hình thứcliên kết các đối tợng trên cơ sở một đặc điểm ngẫu nhieen nào đấy Tập hợpnày đợc gọi là hỗn chung vì các đối tợng không có mối liên hệ khách quan nàocả

- Khái quát hoá phức hợp: Là sự hình thành các khái niệm - tập hợptrên cơ sở liên kết một dấu hiệu khách quan khác nhau (Liên kết theo dấu hiệucảm tính, theo dấu hiệu chức năng…Điều đó sẽ giúp trẻ)

- Khái quát hoá khái niệm: Là sự khái quát trong đó các đối tợng đợcphân loại và liên kết theo dấu hiệu cần thiết để xác định khái niệm sau đó tổnghợp và đa chúng vào định nghĩa phù hợp

Nh vậy có thể nói khái quát hoá của trẻ phụ thuộc vào kinh nghiệm hoạt

động, kinh nghiệm hình ảnh và vốn ngôn ngữ Khi xem xét khái quát hoá theomức độ, theo loại dạng thì việc phát triển khái quát hoá cho trẻ 5 - 6 tuổi vẫn

là nhiệm vụ cần thiết để tạo cơ sở cho t duy logic phát triển trớc khi trẻ đến ờng phổ thông Song khái quát hoá sẽ đợc phát triển tốt nếu tổ chức đầy đủ vàbảo đảm các thao tác sau:

tr-+ Thiết hợp mối tơng quan giữa các đối tợng định khái quát trên cơ sởphân tích, tổng hợp để rút ra dấu hiệu chung, cơ bản

+ Rút ra két luận khái quát theo các dấu hiệ chung cơ bản trên cơ sở sosánh đối chiếu các dấu hieeu giống nhau

+ Biểu thị bằng lời dấu hiệu khái quát đó

1.2.4 Khả năng khái quát hóa biểu tợng hình dạng của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)

Khả năng khái quát hoá của trẻ là một trong các yếu tố quan trọng đánhgiá sự phát triển t duy của trẻ Cho nên việc chuẩn bị cho trẻ đến trờng phổthông cần phải quan tâm đúng mức đến việc hình thành khả năng khái quáthoá cho trẻ mẫu giáo lớn thông biểu tợng về hình dạng dới sự tác động của cácbiện pháp

Trang 15

ở trẻ mẫu giáo việc nhận thức vật thể và các hình học chủ yếu là bằngcác giác quan Biểu tợng về hình dạng của vật Giới hạn giữa vật và môi trờngxung quanh xuất hiện ở trẻ rất sớm - hay từ nhỏ trẻ đã có thể nhận ra các vật

mà không lệ thuộc vào vị trí không gian giữa chúng

Ví dụ: Cái bàn để ngợc chân lên trẻ vẫn có thể nhận ra nó là cái bàn.

Tuy vậy trẻ không nhìn thấy ự giống hệt về hình dạng của các vật khác nhau.Thế nhng vớ sự tham gia tích cực của t duy và hệ thống tín hiệu thứ 2 thì trẻkhông chỉ nhận ra đối tợng mà còn khái quát chúng bằng lời

Và ở trẻ 5 - 6 tuổi đã có thể hệ thống đợc kiến thức về các hình học khichính hình dạng đợc trình bày với trẻ nh là một tập hợp liên tục bao gồm các

điểm, cạnh, góc, đỉnh

Việc hình thành các biểu tợng về hình dạng thông qua sự tác động của

hệ thống các biện pháp thì trẻ dễ dàng khái quát hoá chúng theo những dấuhiệu bản chất hay không bản chất Từ đó trẻ phân biệt rõ dấu hiệu của đối tợng

và xác định rõ đói tợng riêng lẻ nhng có chung đặc điểm nào đó vào một nhómxác định Trẻ khái quát hoá chúng bằng lời một cách hệ thống và logic

Trang 16

Ch ơng 2: Thực trạng của đề tài 2.1 Chơng trình hiện hành với nội dung hình thành biểu tợng hình dạng cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)

Trong cuốn "Chơng trình chăm sóc - giáo dục mẫu giáo 5 - 6 tuổi" ghirõ: Dạy trẻ biết chọn các khối (Khối cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật,

có màu sắc, kích thớc khác nhau) Theo mẫu và theo tên gọi Dạy trẻ phân biệtkhối cầu với khối trụ, khối vuông với khối chữ nhật qua các dấu hiệ bề mặtbao khối, số lợng và hình các mặt của khối

Nh vậy với nội dung của chơng trình đã đặt ra yêu cầu hình thành chotrẻ khả năng khái quát khaí niệm về hình dạng trên cơ sở tách đợc dấu hiệuchung đặc trng cho nhóm đối tợng Trẻ chọn đợc các khối có màu sắc, kích th-

ớc khác nhau theo mẫu hay theo tên gọi và đồng thời còn yêu cầu dạy trẻ biếtphân biệt các khối qua các dấu hiệu bề mặt bao khối, số lợng và hình các mặtcủa khối Vì lẽ đó mà việc sử dụng một số biện pháp khi cho trẻ làm quen vớibiểu tợng hình dạng để phát triển khả năng khái quát hoá là hết sức cần thiết

Hiện nay trong phân phối chơng trình số tiết dạy của nội dung hìnhdạng còn quá ít, nó chỉ chiếm 17% trong tổng số các tiết học về biểu tợngtoán Chính vì thế mà vấn đề đặt ra trong nội dung của chơng trình là cần phảităng thêm số tiết về chơng hình dạng để giúp trẻ dần dần lĩnh hội khái niệm vàtiến tới phát triển khả năng khái quát hoá lên mức cao nhất

2.2 Thực trạng của việc sử dụng hệ thống các biện pháp khi cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) làm quen với biểu tợng hình dạng để phát triển khả năng khái quát hoá.

Chúng tôi tiến hành dự giờ ở lớp mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) do cô Minhchủ nhiệm Tổng số là 3 tiết dạy thì chúng tôi có đợc nhận xét về mặt u và tồntại sau:

- Ưu điểm: Cô giáo rất nhiệt tình, năng động, có tinh thần trách nhiệm

với tiết dạy Có sự cố gắng chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi, tạo điều kiện để tiết dạy

đạt kết quả trên trẻ Đồng thời đã linh hoạt trong việc sử dụng các thủ thuậtnên tiết học khá sôi nổi, trẻ hứng thú nghe bài

- Nh ợc điểm: Mặc dù các tiết dạy đã gây đợc hứng thú cho trẻ thế nhng

khả năng khái quát hoá của trẻ cha đạt đến mức cao, giáo viên cha vận dụng

Trang 17

một cách sáng tạo khi sử dụng các biện pháp trong giờ làm quen với biểu tợnghình dạng.

Chúng ta biết một trong những yếu tố quyết định tới sự thành bại củamột tiết dạy là tổng số trẻ hiểu bài sau giờ học Mục đích của việc tổ chức hoạt

động học tập là cung cấp cho trẻ những biểu tợng tri thức chuẩn, chính xác vàtrên cơ sở ban đầu cho việc học tập ở các bài tiếp theo cho đợc thuận lợi

ở trẻ thì nhận thức mọi vấn đề còn hết sức thụ động Cô giáo và ngời ớng dẫn bảo sao thì trẻ nói vậy hay nói chính xác hơn "Các cháu chính làphiên bản của các cô mẫu giáo", cô mà nói đúng, dạy đúng thì kiến thức trẻlĩnh hội đúng, chính xác Qua 3 tiết dự giờ thì chúng tôi thu đợc kết quả sau:

Bằng lời

KQH hành

động

KQH bằng lời

KQH

h động

KQH Bằng lời

Trang 18

Ví dụ: Yêu cầu cháu Trần Kim Oanh lấy khối cầu giơ lên và đồng thời

nói cả tên khối thì cháu cứ ấp úng đến khi cô giáo gợi ý: "Khối mà có các mặt

đều tròn thì đó là khối cầu" khi đó trẻ mới cầm khối cầu giơ lên Hay cháuTrần Quỳnh Anh cũng thế, cô yêu cầu lấy khối trụ và tên khối thì khi cô nói:

"Khối mà khi để ngang mà lăn đợc còn khi đặt thẳng đứng thì không lăn đợc"lúc đó cháu mới cầm khối trụ giơ lên

Sang tiết dạy "Nhận biết phân biệt khối vuông, khối chữ nhật" thì cũng

nh tiết dạy trớc, trong giáo án cô thể hiện rất rõ việc khái quát hoá bằng lời vàkhái quát hoá bằng hành động nhng khi vào tiết dạy thì cô lại thiên về kháiquát hoá bằng hành động Mặc dù vậy nhng trong phần luyện tập thì khả nănglấy đúng khối của trẻ rất nhanh

Ví dụ: Cháu Tô Hoài Thanh và cháu Nguyễn Xuân Bách khi cô yêu cầu

lấy khối vuông và khối chữ nhật thì các cháu cầm đúng ngay khối giơ lên vàcòn diễn đạt đợc bàng lời:

Khối có 6 mặt và các mặt bằng đều bằng nhau là hình vuông thì đó làkhối vuông Khối chữ nhật cũng có sáu mặt nhng 4 mặt dài hơn và 2 mặt ngắnhơn

ở tiết "Ôn nhận biết, phân biệt các khối: khối cầu, khối trụ, khối vuông,khối chữ nhật" thì ở tiết này yêu cầu trẻ là phải chọn và gọi đúng tên khối, biếtphân tích những dấu hiệu cơ bản của khối hình học và so sánh đúng các khốihình học, có nghĩa là trẻ biết khái quát hoá về các khối Tuy nhiên ở tiết dạynày thì trong giáo án cô giáo lại nghiêng hẳn về khái quát hoá bằng hành động

mà ít chú ý tới khái quát hoá bằng lời nên khi yêu cầu trẻ giơ khối hay qua tròchơi "Về đúng nhà" thì trẻ giơ khối và chơi trò chơi rất tốt nhng khi hỏi cháugiơ khối gì và về ngôi nhà mang khối gì thì cháu laị lúng túng và không trả lời

đợc Hay yêu cầu trẻ so sánh khối cầu và khối trụ; Khối vuông và khối chữnhật cháu không trả lời đợc

Nh thế thì khả năng khái quát hoá bằng lời của trẻ còn rất kém Có thể

do thời gian phân phối chơng trình về chơng hình dạng còn ít nên cô giáo luônvội vàng trong cách tiến hành nhng củng có thể do cô áp dụng các biện phápvào trong tiết dạy cha hợp lý nên dẫn đến việc khái quát hoá của trẻ còn rấtkém trong khi yêu cầu đặt ra của độ tuổi và cần phải khái quát hoá bằng lời vàkhái quát hoá bằng hành động khi làm quen với biểu tợng hình dạng Vì vậynên vai trò truyền đạt bài dạy của cô giáo là hết sức quan trọng Cho nên côcần phải nắm rõ ở tiết dạy nào thì nên sử dụng biện pháp này, biện pháp kia,

Trang 19

biện pháp nào là hộ trợ Có xác định nh thế thì tiết dạy mới gây đợc hứng thúcho trẻ, kích thích đợc t duy và đạt hiệu quả cao, từ đó nhằm phát triển khảnăng khái quát hoá.

2.2 Thực trạng của việc sử dụngmột số biện pháp khi cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen với biẻu tợng hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hoá

Để nắm rõ hơn việc sử dụng các biện pháp khi cho trẻ làm quên với biểutợng hình dạng cũng nh khả năng hiểu về đặc điểm tâm sinh lý trẻ thì chúngtôi tiến hành đa ra những câu hỏi mở và điều tra trên 30 cô giáo lớp lớn ở 5 tr-ờng:

1 Trờng mầm non Hng Dũng I – Thành Phố Vinh. Thành Phố Vinh.

2 Trờng mầm non Hoa Sen – Thành Phố Vinh. Thành Phố Vinh.

3 Trờng mầm non Hoa Hồng – Thành Phố Vinh. Thành Phố Vinh.

4 Trờng mầm non Bình Minh – Thành Phố Vinh. Thành Phố Vinh.

5 Trờng mầm non Trờng Thi – Thành Phố Vinh. Thành Phố Vinh.

Chúng tôi thu đợc kết quả sau:

Bảng 2 Những biện pháp mà giáo viên sử dụng khi hình thành biểu ợng về hình dạng để phát triển khả năng khái quát hoá?

t-Biện pháp í kiến lựa chọn Tỷ lệ %

Trang 20

Đa phần giáo viên lựa chọn biện pháp đàm thoại, gợi ý và biện pháp tròchơi, làm mẫu mà trong khi đó ý kiến lựa chọn biện pháp sử dụng cơ quancảm giác là còn quá ít (33,3%) mà ở tiết dạy về hình dạng thì rất cần đến biệnpháp này Vì theo chúng tôi thì biểu tợng về hình dạng nếu đợc trẻ khắc sâu thì

sẽ phát triển ở chúng khả năng khái quát hoá Chính vì thế mà chúng tôi lại đa

ra câu hỏi: "Vai trò của việc phát triển biểu tợng hình dạng nó ảnh hởng nh thếnào đến khả năng khái quát hoá?" Sau khi phát phiếu điều tra thì chúng tôithu nhận đợc kết quả:

Bảng 3 Vai trò của việc phát triển biểu tợng hình dạng ảnh hởng đếnkhả năng khái quát hoá

Bảng 4 Khả năng khái quát hoá phát triển lớn nhất ở các độ tuổi:

Qua câu hỏi này thì số đông ý kiến của các cô giáo đều khẳng định là

Trang 21

hỏi "Tại sao?" thì hầu hết các chị không lý giải đợc Và thực tế để chúng tanhận thấy là ở trẻ t duy phát triển từ rất sớm nên ở trẻ mẫu giáo bé cũng có đủkhả năng khái quát hoá bằng lời và khái quát hoá bằng hành động bởi trớc hết

là do đặc điểm tâm sinh lý của trẻ phát triển nhng mặt khác là nhờ vào quátrình dạy học s phạm của các cô giáo mầm non Do đó ở trẻ mẫu giáo bé cũng

có khả năng hình thành năng lực khái quát hoá nhng ở mức độ cha cao mà nóchỉ tập trung phát triển mạnh nhất là ở trẻ mẫu giáo lớn rất nhiều (100%)chứng tỏ các chị cũng nắm đợc đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi

Bảng 5 Khả năng khái quát hoá phát triển thông qua các hình thức

động lâu dài cuả quá trình dạy học ở ý kiến này thì các chị hiểu rất rõ về cáchình thức dạy học, qua các hình thức đó thì ở trẻ mới phát trỉên và hình thànhkhả năng khái quát hoá

Cuối cùng, để hiểu rõ hơn về cách lên lớp của các giáo viên nên câu hỏi:

"Nếu xây dựng tốt hệ thống các biện pháp khi cho trẻ làm quen với biểu tợnghình dạng thì sẽ phát triển ở chúng khả năng khái quát hoá" mà chúng tôi đa rathì có 100% giáo viên lựa chọn ý kiến đúng Điều này lại một lần na giúpchúng tôi nhận thấy ở các giáo viên đều hiểu đợc vai trò của các biện pháp đểphát triển khả năng khái quát hoá khi cho trẻ làm quen với biểu tợng hìnhdạng Thế nhng trong quá trình lên lớp thì các biện pháp đó cha đợc sử dụngmột cách hợp lý Chính điều này nó sẽ ảnh hởng không tốt đến khả năng kháiquát hoá của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)

Trang 22

Ch ơng 3 Thực nghiệm s phạm.

3.1 Mục đích thực nghiệm.

Nhằm làm chính xác hoá và kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoahọc mà đề tài đã nêu ra Cụ thể là nghiên cứu của việc cho trẻ làm quen vớibiểu tợng toán học về hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hoá

3.2 Nội dung nghiên cứu.

Chúng tôi xây dựng các bài dạy mà trong đó sử dụng tích hợp các biệnpháp rồi tiến hành thử nghiệm, thực nghiệm trên trẻ để tìm hiểu về khả năng

Trang 23

ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, trong qúa trình học tập và vui chơi thì việc tíchhợp các phơng pháp là hết sức quan trọng Tuy nhiên khi trẻ làm quen với biểutợng hình dạng thì tất cả các phơng pháp đều sử dụng đồng loạt mà nó tuỳthuộc vào hiệu quả các biện pháp nằm trong phơng pháp đó bởi phơng pháp là

lý thuyết dẫn đờng để tìm ra cách thức tác động đến đối tợng (Là tổ hợp cáccách thức mà nhà khoa học sử dụng để tác động khám phá đối tợng) Và một

điều mà chúng tôi khẳng định là để phát triển khả năng khái quát hoá cho trẻthì chúng ta cần phải sử dụng đồng thời hệ thống các biện pháp một cách khoahọc Chính vì thế mà chúng tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống các biện phápsau:

Ví dụ: Câu so sánh khối vuông và khối chữ nhật hay: Khối vuông có

những đặc điểm gì? Khối trụ có những tính chất gì?

+ Biện pháp giải thích: Nhằm gợi mở giúp trẻ dễ dàng nhận biết và sosánh đợc những đặc điểm cơ bản của khối Thông qua những lời gợi mở nh:

Khối có sáu mặt đều là hình vuông đó là khối gì?

Khối có các mặt đều tròn có lăn đợc không?

3.3.2 Phơng pháp thực hành.

+ Biện pháp trò chơi: Nhằm tạo hứng thú cho trẻ trong quá trình học

Trang 24

Bởi chúng ta biết ở trẻ "học mà chơi - chơi mà học" Hơn na thông quatrò chơi sẽ phát triển ở trẻ trí tởng tợng, khả năng phán đoán và giúp cho t duycủa trẻ thêm phần hoàn thiện nh qua trò chơi "Về đúng nhà", trò chơi "Chiếctúi kỳ lạ…Điều đó sẽ giúp trẻ"

+ Biện pháp luyện tập: Sử dụng các dạng bài tập có tác dụng củng cố,

ôn luyện

Ví dụ: Yêu cầu trẻ lấy đúng khối, nói lên đợc những đặc điểm của khối.

Tìm những đồ dùng, đồ chơi mà giống dạng khối vừa học

+ Thông qua hoạt động tạo hình nh: Vẽ, nặn, xé dán…Điều đó sẽ giúp trẻ thì một mặt rènkhả năng khéo léo của trẻ nhng mặt khác lại khắc sâu hơn trong đầu trẻ vềhình ảnh của khối

Ví dụ: Sau khi dạy trẻ nhận biết phân biệt khối cầu, khối trục thì sau

phần luyện tập có thể tổ chức cho trẻ nặn các khối vừa học

+ Sử dụng cơ quan cảm giác nh thị giác, thính giác tức là trẻ nhìn và nói

đợc tên khối hay chỉ sở không nhìn cũng gọi đúng tên khối Với biện pháp nàynhằm góp phần phát triển các giác quan, giúp trẻ phát triển toàn diện nhâncách

3.3.3 Phơng pháp trực quan.

+ Biện pháp sử dụng đồ vật thật bằng đồ dùng, đồ chơi để nhằm giúp trẻbiết so sánh, đối chiếu

Ví dụ: trong khi trẻ nhận biết, phân biệt khối cầu, khối trụ cô có thử

mang quả táo hay hộp sữa…Điều đó sẽ giúp trẻ để giúp trẻ liên hệ đợc là xung quanh mình có rấtnhiều đồ dùng, đồ chơi có dạng khối cầu, khối trụ chứ không phải có các gỗkhông thôi

+ Sử dụng mô hình nhằm kích thích tính tò mò và khả năng phán đoáncủa trẻ

Ví dụ: Có thể xây dựng mô hình về ngã t đờng phố có nhiều xe qua lại.

Hỏi trẻ: ô tô đợc ghép bằng những khối gì? (Khối cầu, khối vuông, khối chữnhật)

Trang 25

Có thể khẳng định: Trong quá trình cho trẻ làm quen với biểu tợng hìnhdạng để nhằm phát triển khả năng khái quát hoá nếu đợc sử dụng hợp lý hệthống các biện pháp thì hiệu quả sẽ rất cao.

3.4 Tiến hành thực nghiệm.

3.4.1 Một số giáo án có sử dụng các biện pháp trên.

* Giáo án 1: Nhận biết phân biệt khối cầu, khối trụ.

I Yêu cầu:

Trẻ nhận biết và gọi tên đợc khối cầu và khối trụ

II Chuẩn bị: Mỗi trẻ có 2 khối cầu, 2 khối trụ và có màu sắc khác nhau

(Xanh, đỏ) Cô cũng có 2 khối cầu, 2 khối trụ nhng kích thớc lớn hơn của trẻ

- Các đồ dùng, đồ chơi có dạng khối cầu, khối trụ

- Đất nặn cho trẻ

III Cách thức tiến hành

Phần 1: Gây hứng thú

- Đã vào giờ học rồi cô mời cả lớp

cùng hát bài "Quả bóng" nào

Phần 2: Dạy trọng tâm bài

Bớc 1: Nhận biết, gọi tên các khối

- các con ạ! Nghe tin các con học

giỏi nên bạn thỏ đã gửi tới tặng các con

những rổ đồ chơi các con nhẹ nhàng lấy ra

phía trớc nào

- Trong rổ đồ chơi của các con có rất

nhiều khối Nào cả lớp chọn một khối

giống với khối của cô nào

(Cô chọn khối cầu màu xanh giơ lên

- Trẻ hát cùng cô

- Trẻ lấy rổ đồ chơi

ra phía trớc

- Trẻ chọn khốigiống khối của cô giơ lên

Trang 26

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

để trẻ chọn theo)

Trang 27

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

- Có con nào biết đây là khối gì

không?

- Đây là khối cầu đấy các con ạ!

(Cho cả lớp nhắc lại 2 - 3 lần rồi gọi cá

nhân trẻ nhác lại)

- Thế khối cầu này màu gì?

- Các con xem có còn khối cầu nào

nữa?

Nào! Các con nhẹ nhàng để khối cầu

vào rổ và cùng lấy khối giống khối cô cầm

trên tay

- Thế các con biết đây là khối gì

không?

- Các con ạ! Đây là khối trụ (Cho cả

lớp nhắc lại 2 - 3 lần rồi gọi cá nhân trẻ

- Cả lớp giỏi lắm Bây giờ cô muốn

các con cùng chơi trò chơi với cô, các con

- Màu xanh ạ!

- Khối cầu màu đỏ

ạ!

- Trẻ chọn khốigiống khối của cô giơlên

- Trẻ chọn khối cầu

Ngày đăng: 15/12/2015, 12:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Daparozet A.V những cơ sở lý luận của giáo dục học mẫu giáo năm 1977. Biên - đại học s phạm I 1994 Khác
3. V.V Davadop - Các dạng khái quát trong dạy học - Tạp chí NCGD số 8- 1992 Khác
4. Hồ Ngọc Đại - Giải pháp giáo dụ - NXBGD 1991 Khác
5. Phạm Thị Đức - Một số suy nghĩ về năng lực KQH - tạp chí nghiên cứu GD số 5 - 1995 (Trang 22 - 28) Khác
6. Đ.B.Enconhin - Vấn đề phát triển tâm lý học của trẻ em. (Trong tâm lý học Liên Xô) - NXB Tiến Bộ - 1978 Khác
7. Nguyễn Thị Thanh Hà - Khả năng khái quát hoá và sự hình thành khả năng khái quát hoá cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi thông qua tiết học cho trẻ làm quen với toán, đồ vật Khác
8. Lensina - Phơng pháp cho trẻ làm quen với toán - Nguyễn Tuyết Nga dịch - NXB Matxcơva Khác
9. Lê Thị Thanh Nga - Khả năng khái quát hoá của trẻ mẫu giáo lớn và con đờng hình thành trên các tiết học làm quen với số lợng và hình dạng Khác
11. Dodicop - T duy trẻ mẫu giáo - NXB Matxcơva năm 1977 Khác
12. Nguyễn Thạc - Nguyễn Xuân Thức - sự phát triển trí tệu của trẻ mẫu giáo - tạp chí giáo dục 1999 Khác
13. Nguyễn Thị ánh Tuyết (chủ biên) - TLH lứa tuổi mầm non đại học s phạm I- Hà Nội 1994 Khác
14. Nguyễn Thị ánh Tuyết - TLH trẻ em - NXBGD 1998 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng tổng hợp kết quả dự giờ: - Một số biện pháp khi cho trẻ mẫu giáo lớn (5 6 tuổi) làm quen với biểu tượng hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quá
Bảng 1 Bảng tổng hợp kết quả dự giờ: (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w