Nhận thức được ý nghĩa vai trò quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường nên tôi chọn đề tài “ Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở các
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Bảo vệ môi trường đã và đang trở thành mối quan tâm mang tính toàncầu Giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) vì mục tiêu phát triển bền vững làmột trong các nhiệm vụ giáo dục quan trọng được Đảng và Nhà nước ta dànhcho mối quan tâm đặc biệt Ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ chính trị đã banhành Nghị quyết số 41/NQ-TƯ về tăng cường công tác bảo vệ môi trường(BVMT) trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; ngày
17 tháng 10 năm 2001, thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg phê duyệt đề án “ đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáodục quốc dân” và ngày 2 tháng 12 năm 2003 ban hành Quyết định số256/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và địnhhướng đến năm 2020 tạo cơ sở vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâmBVMT
1363/QĐ-Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông hiện nay có vị trí đặcbiệt, những bài học về môi trường, Tự nhiên và xã hội đặt bên cạnh các môn họckhác mang ý nghĩa giáo dục ý thức, nếp sống văn minh cho học sinh tuổi vịthành niên Nhà trường là nơi có nhiều cơ hội, điều kiện giáo dục môi trường chohọc sinh Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việcđào tạo các em học sinh trở thành công dân tốt cho đất nước Các biện pháp chỉđạo hoạt động GDBVMT cho học sinh của Hiệu trưởng ở trường Tiểu học nhằmmục đích xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh đã tạo ra phong trào thi đuasôi nổi, phấn đấu giữ vẻ đẹp môi trường Sư phạm thực hiện phong trào xanhsạch đẹp của thành phố, của địa phương Đó cũng là một trong những nội dung
Trang 2của phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà
Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động
Thực tế ở một số trường Tiểu học, vấn đề giáo dục bảo vệ môi trườngchưa được quan tâm đúng mức Một số giáo viên (GV) và học sinh (HS) chưanhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của môi trường (MT) trong nhà trường Tiểuhọc ảnh hưởng như thế nào đối với bầu không khí học tập và quá trình rènluyện, phát triển toàn diện nhân cách học sinh
Nhận thức được ý nghĩa vai trò quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi
trường trong nhà trường nên tôi chọn đề tài “ Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường Tiểu học quận Bình Thạnh thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề ra những biện pháp
giáo dục sinh động, giúp học sinh có ý thức và tích cực tham gia vào các hoạtđộng bảo vệ môi trường đồng thời giúp tôi học hỏi thêm kinh nghiệm, cải tiếnphương pháp quản lý đem lại hiệu quả cao hơn cho lĩnh vực giáo dục bảo vệ môitrường cho học sinh trong trường Tiểu học
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp quản
lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường tiểu học quận Bình Thạnh,thành phố Hồ Chí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Trang 34 Giả thuyết khoa học
Nếu các giải pháp quản lý này được xây dựng mang tính khoa học, khả thicao và được áp dụng phù hợp ở các trường Tiểu học quận Bình Thạnh sẽ gópphần xây dựng thành công hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh,đáp ứng mục tiêu do Bộ giáo dục và Đào tạo đề ra cho các trường Tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận một số vấn đề về giáo dục bảo vệ môi trường chohọc sinh trong giai đoạn hiện nay
5.2 Điều tra thực trạng về giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong cáctrường Tiểu học, nhận định những mặt mạnh, mặt yếu và nguyên nhân của thựctrạng
5.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường chohọc sinh nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục bảo vệ môi trường ởtrường Tiểu học quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở
lý luận của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu; phương pháp so sánh; phương pháp
hệ thống hóa
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cưú thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xâydựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sauđây:
Trang 4- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Để xử lý số liệu thu được thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS
7 Đóng góp của đề tài
- Về lí luận: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt
động dạy học nói chung và công tác GDBVMT nói riêng ở các trường Tiểu học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục bảo vệ môi trường ở các
trường Tiểu học quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở các
trường Tiểu học quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 5Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, cólúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồnnước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng;khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyênthiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch;
đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấpnước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp,dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi mật độ dân số đã quá
Trang 6cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một số vùng nông thôn, miềnnúi, các thảm họa do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đangtăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường, đặt công tác bảo vệ môitrường trước những thách thức gay gắt.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 được Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảng thông qua đã khẳng định quan điểm phát triển đấtnước là "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi vớithực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường"
Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại.Bảo vệ môi trường nói chung và giáo dục, đào tạo về bảo vệ môi trường nóiriêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm từ nhiều năm nay và đã có một số chủtrương, biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường
Trong những năm vừa qua, thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Đưa các nộidung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân", Quyết đinh số256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lựơcBảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đặcbiệt Nghị quyết số 41-NĐ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môitrường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Bộ Giáo dục và Đào tạo đãchỉ đạo các cơ sở giáo dục trong cả nước tổ chức triển khai các nhiệm vụ về giáodục bảo vệ môi trường và thực hiện tốt các hoạt động giáo dục bảo vệ môitrường trong nhà trường Nhiều nội dung bảo vệ môi trường đã được thực hiện ởcác cơ sở giáo dục, bước đầu đạt được những kết quả nhất định Các nhà trường
Trang 7đã tổ chức nhiều hoạt động như: tuyên truyền thông tin về môi trường, xây dựngmôi trường giáo dục xanh-sạch-đẹp; tổ chức thành công một số cuộc thi viết, vẽ,thi văn nghệ về chủ đề bảo vệ môi trường
Để thực hiện các chỉ thị, nghị quyết trên của Đảng và chính phủ, Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cấp quản lý giáo dục (QLGD), các
cơ sở giáo dục tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường vànhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi trường
Nhận thức đầy đủ giáo dục bảo vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng củangành giáo dục và đào tạo, từ đó có các giải pháp hữu hiệu để triển khai giáo dụcbảo vệ môi trường ở tất cả các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo; đào tạo, bồidưỡng nguồn nhân lực bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
Thực hiện các mục tiêu giáo dục và đào tạo về bảo vệ môi trường nêutrong Quyết định số 1363/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
- Giáo dục học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệthống giáo dục quốc dân hiểu biết sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường; có kiến thức về môi trường để
tự giác thực hiện
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ nghiên cứu khoa họccông nghệ và cán bộ quản lý về bảo vệ môi trường
Thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến năm 2010
Nhiệm vụ trọng tâm công tác giáo dục bảo vệ môi trường của ngành giáodục và đào tạo từ nay đến năm 2010 là triển khai thực hiện Đề án "Đưa các nội
Trang 8dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân" Để thực hiện tốtnhiệm vụ quan trọng này, toàn ngành cần tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Đối với giáo dục mầm non: Hình thành cho trẻ những hiểu biết đơn giản về cơthể, về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung, biết giữgìn sức khỏe bản thân, có hành vi ứng xử phù hợp để bảo vệ môi trường, sốngthân thiện với môi trường nhằm đảm bảo phát triển lành mạnh về cơ thể và trítuệ
- Đối với giáo dục phổ thông: Trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng về môitrường và bảo vệ môi trường bằng hình thức phù hợp trong các môn học vàthông qua các họat động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp
- Đối với giáo dục nghề nghiệp và đại học: Đảm bảo cho học sinh, sinh viênđược học các kiến thức và kỹ năng về môi trường và bảo vệ môi trường; đào tạocán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý ở trình độ trung học chuyên nghiệp, caođẳng, đại học và sau đại học về các chuyên ngành môi trường để từng bước đápứng nhu cầu nguồn nhân lực bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
- Xây dựng chương trình khung, chương trình chi tiết, tài liệu và giáo trình vềmôi trường, phù hợp với từng đối tượng học sinh, sinh viên; tổ chức đào tạo, bồidưỡng giáo viên và cán bộ quản lý các cấp
- Xây dựng mô hình nhà trường "xanh - sạch - đẹp" phù hợp với các vùng, miền
- Xây dựng và sử dụng có hiệu quả các phòng thí nghiệm hiện đại nhằm phục vụnghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môitrường
- Xây dựng hệ thống thông tin về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững phục
vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế Cho đến nay, đã
Trang 9có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về môi trường và GDBVMT của cácnhà khoa học và nghiên cứu viên ở các viện, các trường Đại học và Cao đẳng,các trường phổ thông trong nước.
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường
- Môi trường là tập hợp các điều kiện bên ngoài mà sinh vật tồn tại trongđó
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanhcon người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của conngười và sinh vật
- Môi trường sống của con người bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và xãhội Các yếu tố tự nhiên và xã hội chi phối sự sống, sản xuất của con người nhưtài nguyên thiên nhiên, đất, nước và không khí; ánh sáng; công nghệ, kinh tế,chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mỹ học
Môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên và môitrường xã hội
- Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố thiên nhiên như vật lý, hóa học,sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người
Trang 10- Môi trường xã hội là tổng hòa các mối quan hệ giữa con người với conngười Đó là các luật lệ, thể chế, quy định nhằm hướng các hoạt động của conngười theo một khuôn khổ nhất định, tạo thuận lợi cho sự phát triển cuộc sốngcủa con người.
Trong nhà trường Tiểu học còn có khái niệm môi trường sư phạm và môitrường thân thiện Môi trường sư phạm là môi trường đặc trưng của ngành giáodục Nơi đó, những hành vi ứng xử đều nằm trong chuẩn mực nhất định mangđậm tính giáo dục Môi trường thân thiện của trẻ em là môi trường bảo vệ trẻ vàlành mạnh; là nơi thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất các quy định và các quyền
cơ bản của trẻ em mà Công ước Quốc tế về quyền trẻ em và một số điều trongLuật Giáo dục đã đề ra Môi trường thân thiện còn là mối quan hệ gần gũi, gắn
bó giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên và giáo viên với giáo viên;
là nơi trẻ em mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ, tình cảm, dám bày tỏ những ý kiến phảnhồi của mình và được giáo viên lắng nghe, giải thích ; cơ sở vật chất đáp ứng đầy
đủ và trẻ biết chia sẻ, giúp đỡ nhau và hiểu được trách nhiệm bổn phận củamình; là nơi mà mỗi ngày trẻ thật sự thấy được “ Mỗi ngày đến trường là mộtngày vui”
1.2.1.2 Giáo dục bảo vệ môi trường
Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình (thông qua các hoạt độnggiáo dục chính quy và không chính quy) hình thành và phát triển ở người học sựhiểu biết, kĩ năng, giá trị và quan tâm tới những vấn đề về môi trường, tạo điềukiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái
Giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có
sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó (nhận thức);những khái niệm cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường (kiến thức); những
Trang 11tình cảm, mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường (thái độ, hànhvi); những kĩ năng giải quyết cũng như thuyết phục các thành viên khác cùngtham gia ( kĩ năng); tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề môi trường và cónhững hành động thích hợp giải quyết vấn đề (tham gia tích cực).
1.2.2 Quản lý và quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường
1.2.2.1 Quản lý
- Quản lý: Hoạt động quản lý là nhân tố cần thiết, tất yếu để duy trì sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài người, ở bất kỳ một lĩnh vực hoạt động nào của conngười nếu không được tổ chức, quản lý sẽ dẫn tới hỗn loạn, tự phát và kém hiệuquả
Từ nhiều góc độ, có thể có những định nghĩa khác nhau về quản lý, song về cơbản khái niệm quản lý có nội hàm sau:
Thứ nhất: Quản lý là sự lựa chọn các tác động có chủ đích, có tổ chức của chủthể đến khách thể quản lý Bởi vì bộ phận quản lý có thể có nhiều hệ thống tácđộng khác nhau vào đối tượng, trong số những tác động đó, người quản lý tùytheo chủ đích, sự phán đoán và dự báo của mình mà lựa chọn một tác động để cóthể cho kết quả có triển vọng cao nhất
Thứ hai: Quản lý là sự sắp xếp hợp lý của các tác động đã lựa chọn Bởi vìmuốn cho việc lựa chọn các tác động trên là chính xác và hợp lý, đem lại kết quảnhư mong muốn thì cần phải sắp xếp và thể hiện một cách hợp lý các tác động
đó trên cơ sở xử lý tốt mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý
Thứ ba: Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy nhân tố con ngườitrong một tổ chức Vì vậy các tác động quản lý có mục đích, có kế hoạch sắp xếphợp lý, được tổ chức kiểm tra sẽ có tác dụng làm cho đối tượng bị quản lý vậnđộng và phát triển đúng mục tiêu đã được xác định Như vậy có thể nói hoạtđộng quản lý làm giảm tính bất định, và làm tăng tính tổ chức của đối tượng
Trang 12Vậy có thể hiểu Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về các tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định.[11,7]
- Chức năng quản lý: Quá trình quản lý luôn gắn chặt với những công việc mà
chủ thể quản lý phải thực hiện nhằm đạt được các mục đích quản lý Nói cáchkhác chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu đượccủa chủ thể quản lý Hoạt động quản lý luôn gắn với một tổ chức, một hệ thống
và gắn chặt với quá trình lao động tập thể và kết quả của sự phân công lao động
xã hội, các chức năng quản lý đóng vai trò then chốt Việc phân định các chứcnăng quản lý là nhu cầu khách quan xuất phát từ tính đa dạng, phức tạp của quátrình sản xuất, từ sự phân công và chuyên môn hóa lao động, xã hội càng pháttriển sự chuyên môn hóa lao động càng cao
Theo tác giả Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ: “Chức năng quản lý là loạihình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công laođộng và chuyên môn hóa quá trình quản lý”
“Hoạt động quản lý gồm có bốn chức năng quản lý chủ yếu, cơ bản là: Kếhoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo – lãnh đạo, và kiểm tra”.[2]
- Kế hoạch hóa: Là sự xác định mục tiêu Mục đích cần đạt được trong tương lai
của tổ chức và chỉ rõ các con đường, biện pháp, cách thức để đưă tổ chức đạtđược mục tiêu đã đề ra Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa:Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức: Xác định và bảođảm (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạtđược mục tiêu này; Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạtđược mục tiêu đó
- Tổ chức: Là sự bố trí sắp xếp, điều phối một cách khoa học các nguồn lực
(nhân lực, vật lực, tài lực) có trong tổ chức và các nguồn lực khác để chuyển hóa
Trang 13các ý tưởng được hình thành trong kế hoạch thành hiện thực Nhờ việc tổ chức
có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp và điều phối tốt hơn các nguồn lựcsãn có
- Lãnh đạo (chỉ đạo): Là quá trình định hướng dài hạn cho chuỗi các tác động
của chủ thể quản lý, lãnh đạo là quản lý những mục tiêu rộng lớn hơn, xa hơn,khái quát hơn Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã được hình thành,nhân sự đã được tuyển dụng thì cần phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổchức Lãnh đạo (chỉ đạo) là chức năng điều hành, liên kết, huy động các nguồnlực để biến kế hoạch thành hiện thực, biến mục tiêu đã định thành kết quả cụ thể
- Kiểm tra: Là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm
hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành cáchoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Đó chính là quá trình tự điều chỉnh
1.2.2.2 Quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường
Quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường là việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉhuy, giám sát và điều tiết đối với công tác giáo dục bảo vệ môi trường để thuđược hiệu quả xã hội tốt hơn.[20]
1.2.3 Giải pháp và giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường
1.2.3.1 Giải pháp: là cách giải quyết một vấn đề khó khăn hay nói cách
khác, giải pháp là phương pháp giải quyết vấn đề cụ thể, khó khăn nào đó [15]
1.2.3.2 Giải pháp quản lý công tác giáo dục bảo vệ môi trường: là phương
pháp giải quyết những vấn đề cụ thể trong quản lý công tác giáo dục bảo vệ môitrường để nâng cao chất lượng của công tác này trong nhà trường [15]
1.3 Một số đặc điểm của học sinh tiểu học trong GDBVMT
1.3.1 Đặc điểm về sinh thể
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy
Trang 14dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô cầnphải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, antoàn.
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các
em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự antoàn cho trẻ
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy
của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duytrừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ,các cuộc thi trí tuệ Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hútcác em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg.Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm(nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ làtrung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xêdịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tươngđối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh
1.3.2.Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống
1.3.2.1 Hoạt động của học sinh tiểu học
- Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đếntuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt
động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học
tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
Trang 15+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật
sang các trò chơi vận động
+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân
và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa Ngoài ra, trẻ còn còn thamgia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa
+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của
trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong
1.3.2.2 Những thay đổi kèm theo
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể
tham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong cácgia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn các em phảitham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học
đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phươngpháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thứchọc tập tốt
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang
tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt là các emmuốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình
Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập.
1.3.3 Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ)
1.3.3.1 Nhận thức cảm tính
Trang 16- Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.
- Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập
kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó )
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác.
+ Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻmầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuynhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
Trang 17Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững
và dễ thay đổi
Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những
hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tươngđối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làmthơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bịchi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện
tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện.
+ Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắtđầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển
mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khámphá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảmtính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữnói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thểđánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Trang 18Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí, Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng.
+ Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát,
điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú không chủ định chiếm ưu thếhơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờhọc có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có
cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bềnvững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập
Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý
của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗlực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thứctoán hay một bài hát dài Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạncủa yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làmmột việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quyđịnh
Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá
Trang 19thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ.
+ Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic
Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu
thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ
có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quáthóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường.
Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủđịnh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ củacác em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thúcủa các em
Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.
+ Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu
cầu của người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen,quét nhà để được ông cho tiền ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thựcthi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đếncùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Trang 20Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn
thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững,chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếuphụ thuộc vào hứng thú nhất thời
Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục
sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha
mẹ, thầy cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ.
Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường
thay đổi: đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút.Chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Bước đầukiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp,chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thaotác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết, Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốntrẻ vượt qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của giađình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học
1.3.4 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền
với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là
trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư
Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so
với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn rất nhiều
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh tiểu họcluôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện cácnăng khiếu như thơ, ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện và bồi
Trang 21dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thuichột năng khiếu của trẻ.
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị khi tác động đến các em; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,
1.3.5 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường
nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnhdạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những
đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình
cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân
cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các
em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ
và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành,
việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh
tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhâncách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
1.4 Một số lý luận về giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học
1.4.1 Mục tiêu của GDBVMT
Mục đích của giáo dục bảo vệ môi trường là “Làm cho các cá nhân và cáccộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường
Trang 22nhân tạo; đem lại cho họ kiến thứ, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thựchành để họ tham gia một cách có hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường Cụ thể:+ Cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những kiến thức, sự hiểu biết cơ bản
về MT và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và MT
+ Khuyến khích các cá nhân, cộng đồng họ tham gia tích cực vào việc cải thiện
Sơ đồ 1.1
1.4.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
Xuất phát từ mục tiêu GDMT, theo UNEP (1995) về nội dung GDMTnhằm truyền đạt cho người học những vấn đề sau:
- Huy động kinh nghiệm của đối tượng giáo dục, tức là khai thác nhữngkinh nghiệm thực tế sống phong phú và làm việc cho bản thân (work withexperience)
Hiểu biết kiến thức
-Thái độ.
-Ứng xử.
Khả năng hành động
vì môi trường -Kiến thức.
-Kỹ năng và sự tham gia.
-Dự báo các tác động.
Trang 23- Không ngừng nâng cao nhận thức về MT của đối tượng giáo dục, làmcho người học hiểu rõ bản chất, tầm quan trọng của các vấn đề MT và tráchnhiệm của họ đối với các vấn đề này ( increase awareness)
- Xem xét thái độ và quan điểm về giá trị Tức là xem xét tính đúng đắn và
sự phù hợp của thái độ và quan niệm của người học về các vấn đề về MT(examine attitudes and valuaes)
- Xây dựng ý thức trách nhiệm, nghĩa là thái độ và quan niệm về giá trịphải được thể hiện thành ý thức trách nhiệm, cam kết của người học đói với cácvấn đề về MT cụ thể mà họ gặp (build commitment)
- Tăng cường hiểu biết về các vấn đề MT cần xử lý cũng như cần ngănngừa và khả năng khoa học, công nghệ, quản lý để thực hiện việc này (increaseknowledge and understanding)
- Cung cấp kĩ năng: đó là những kĩ năng cụ thể để quan sát, phân tích,quyết định, hành động và tổ chức hành động (provide skills)
- Khuyến khích hành động: các nội dung nêu trên cần được thể hiện trongthực tế thành hành động cụ thể của người học (encourage action)
1.4.3 Phương pháp và phương thức GDBVMT [7, 9]
1.4.3.1 Phương pháp
Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình lâu dài, cần được bắt đầu từmẫu giáo và được tiếp tục ở các cấp phổ thông cũng như trong cuộc sống saunày Để chuyển tải được nội dung giáo dục bảo vệ môi trường tới học sinh mộtcách hiệu quả cần lựa chọn được cách tiếp cận hợp lý và khoa học Lựa chọn cácphương pháp giáo dục phải xuất phát từ quan điểm tiếp cận trong giáo dục bảo
vệ môi trường Đó là giáo dục về môi trường, giáo dục trong môi trường và giáodục vì môi trường
Trang 24Theo Matarasso (2004), có 3 cách tiếp cận để thực hiện GDMT:
+ Giáo dục về môi trường: Tăng cường kiến thức và hiểu biết về các quá trìnhsinh thái, xã hội, văn hóa, kinh tế, và chính trị thiết yếu đối với cộng đồng Việcnày giúp người có học có thể đưa ra được những quyết định có thông tin đầy đủ
về cách ứng xử với môi trường
+ Giáo dục trong môi trường: Tạo cơ hội cho việc tìm hiểu trên thực tế các vấn
đề MT mà địa phương đang gặp phải và sử dụng MT làm nơi học tập, nghiêncứu, giảng dạy về các vấn đề MT như một “phòng thí nghiệm thực tế”
+ Giáo dục vì môi trường: Giúp người học có khả năng thực hiện thay đổi vì mộtthế giới tốt đẹp hơn, đương đầu với những vấn đề và nguy cơ của địa phương.Việc này giúp thiết lập sự đồng tâm nhất trí cũng như mối quan tâm đến MT vàthay đổi thái độ, hành vi, phát huy vai trò trách nhiệm chăm sóc bảo vệ môitrường Trong thực tế, cần sử dụng cả ba cách tiếp cận trên để tiếp cận GDMTmột cách toàn diện nhất Phương pháp tiếp cận phải đạt được:
- Chương trình và các bài giảng về GDMT phải thích hợp với trình độ giáo viên
Do đặc thù, giáo dục bảo vệ môi trường có thể sử dụng nhiều phươngpháp dạy học đa dạng như thảo luận nhóm, trò chơi, phương pháp dự án, đóng
Trang 25vai…đồng thời giáo dục bảo vệ môi trường còn sử dụng các phương pháp dạyhọc đặc thù của các môn học.
- Giáo dục qua kinh nghiệm thực tế của người học, người học được tiếp xúc trựctiếp với đối tượng học tập nghiên cứu Thông thường người học được giao một
việc làm cụ thể và được chỉ dẫn phương pháp, quy trình để quan sát, phân tích
các hiện tượng, các dữ liệu và tự mình rút ra kết luận về các vấn đề MT đang tồntại, các hậu quả và yêu cầu giải quyết
- Tham quan, khảo sát thực địa: người học quan sát một địa bàn thực tế khôngthể đem vào lớp học, được hướng dẫn phương pháp, quy trình để phân tích, đốichiếu, rút ra những kết luận
- Phương pháp giải quyết vấn đề: người học sử dụng các kiến thức và phươngpháp đã được học để xác định vấn đề cần giải quyết, xây dựng giả định, phântích dữ liệu liên quan và đề xuất giải pháp thích hợp
- Nghiên cứu những vấn đề MT thực tế, những trường hợp cụ thể của địa phươnghoặc cơ sở nơi người học ở hoặc học tập: lựa chọn vấn đề, làm rõ bản chất vấn
đề, phân tích vấn đề theo những quan điểm khác nhau, tìm kiếm những giải phápkhả thi cho vấn đề
- Phát triển thái độ, cách ứng xử, đạo đức cần có về MT cụ thể thông qua lồngghép các vấn đề giá trị trong bài giảng, giảng giải ý nghĩa của giá trị trong vàngoài bài giảng Các kĩ năng thường được dùng trong phương pháp này là tậphợp ý kiến của tập thể về giá trị, xếp loại, thăm dò quan niệm xây dựng và thựchiện kịch bản
1.4.3.2 Phương thức GDBVMT
Gia đình, cộng đồng và nhà trường là 3 phạm vi cơ bản của GDMT,GDMT phải bắt đầu từ gia đình đứa trẻ và môi trường xung quanh trẻ Nhưng
Trang 26giáo dục mới chính là công cụ để thay đổi xã hội, thay đổi tư duy, nhận thức củacon người Trong tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về “ MT con người” họptại Stockholm, 1972 đã nêu: “Việc GDMT cho thế hệ trẻ cũng như người lớnlàm sao để họ có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện MT”.
Vì vậy GDBVMT trong nhà trường có vai trò hết sức quan trọng, đó là một quátrình cần vận dụng khéo léo các phương thức sau đây:
- Tiếp cận với thực tế
- Tăng cường tri thức và hiểu biết
- Kiểm nghiệm cách ứng xử và các giá trị
Trang 27Kĩ năng trách nhiệm
MT, mà còn là những định hướng vì MT, hướng tới những hoạt động thích nghi,tạo lập MT (Sơ đồ 1.2)
Tình cảm và thái độ tốt với MT
Tri thức
và hiểu biết vềMT
Thái độ trách nhiệm và hành vi tốt đối với MT
Kĩ năng trách nhiệm
và khả năng cải tạo MT
Bậc Mầm non
Bậc Tiểu học
Bậc PTTH THCN & DN
Bậc Đại học
Bậc học
Mục tiêu
Trang 281.5 Cơ sở pháp lý của công tác giáo dục bảo vệ môi trường ở trường tiểu học
Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam tới công tác giáo dục, đàotạo, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường thể hiện qua việc Ban hành cácVăn bản Pháp luật Công tác bảo vệ môi trường nói chung và công tác giáo dục,đào tạo và nâng cao nhận thức về môi trường nói riêng đã được Đảng, Nhànước ta quan tâm từ nhiều năm nay và đã có những chủ trương, biện pháp giảiquyết các vấn đề môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Điều này đã được thể hiện rất rõ trong nhiều văn bản quy phạm pháp luậtcủa Việt Nam:
- Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 25/6/1998 về “Tăng cường công tácbảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đãchỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại;
là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói giảmnghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vitoàn thế giới” Chỉ thị đã đưa ra 8 giải pháp lớn về bảo vệ môi trường, trong đógiải pháp đầu tiên là: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thóiquen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường”
Trong MT, về MT và vì MT
Nội dung
GDMT
Trang 29- Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môitrường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Giảipháp đầu tiên được nêu ra là: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nângcao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường” Quyết định số 1363/QĐ-TTgngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa các nộidung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”.
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ
về “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020”
- Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam” (Chươngtrình nghị sự 21 của Việt Nam)
- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hộiNước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong đó, Điều 5 và Điều 6 đề cậpđến chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường và những hoạt động đượckhuyến khích, trong đó có công tác tuyên truyền, giáo dục Riêng Chương XI,Điều 107 Giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường,quy định rõ:
Công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nângcao hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường
Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khoá củacác cấp học phổ thông
Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường, khuyếnkhích mọi tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường
Trang 30 Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môitrường chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục về môitrường và đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường.
- Chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường
- Chỉ thị số 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 22/07/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thânthiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013
Kết luận chương 1
Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việcđào tạo các em trở thành các công dân tốt cho đất nước “Cái gì (Về nhân cách)không làm được ở cấp tiểu học thì khó làm được ở các cấp học sau.” Giáo dụcbảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học tức là làm cho gần 10% dân số hiểu biết
về môi trường và bảo vệ môi trường Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu các
em biết và thực hiện được tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong cộng đồng,từng bước tiến tới trong tương lai ta có cả một thế hệ biết và hiểu về môi trường,sống và làm việc vì môi trường, thân thiện với môi trường
Giáo dục bảo vệ môi trường là một lĩnh vực cần thiết phải đưa vào nhàtrường Tiểu học nhất là trong giai đoạn hiện nay khi bảo vệ môi trường là vấn đềtoàn cầu Nhà trường là nơi có nhiều cơ hội, điều kiện giáo dục môi trường chohọc sinh
Trong chương này, tác giả đã phân tích khái quát, đảm bảo tính cơ bản vàkhoa học một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài và đề cập lý giải một
số lý thuyết của giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường tiểu học như: mục tiêu,
Trang 31nội dung, phương pháp, phương thức tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường, cũngnhư những cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý giáo dục BVMT.
Trang 32CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN BÌNH THẠNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Diện tích : 2076 ha
Dân số : 464397 người
Dân tộc : 21 dân tộc, đa số là người Kinh
Quận Bình Thạnh nằm về phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, ở vị trícửa ngõ thành phố, là vùng đất có một vị trí chiến lược quan trọng
Phía Đông Bắc giáp với quận 2 và Thủ Đức; ở phía Nam, Bình Thạnh vàquận 1 cách nhau bởi con rạch Thị Nghè; về phía Tây - Tây Bắc giáp với quận
Gò Vấp và Phú Nhuận
Quận Bình Thạnh có sông Sài Gòn bao quanh mạn Đông Bắc
Cùng với sông Sài Gòn các kinh rạch: Thị Nghè, Cầu Bông, Văn Thánh,Thanh Đa, Hố Tàu, Thủ Tắc đã tạo thành một hệ thống đường thủy đáp ứnglưu thông cho xuồng, ghe nhỏ đi sâu vào các khu vực trên khắp địa bàn BìnhThạnh, thông thương với các địa phương khác
Quận Bình Thạnh được xem là một nút giao thông quan trọng của thànhphố Hồ Chí Minh bởi vì Bình Thạnh là điểm đầu mối gặp gỡ các quốc lộ: Quốc
lộ 1, Quốc lộ 13; là cửa ngõ đón con tàu thống nhất Bắc Nam qua cầu Bình Lợivào ga Hòa Hưng và lại có Bến xe khách Miền Đông
Trang 342.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Những năm 90 của thế kỷ XX, bằng nhiều hình thức và bước đi thích hợp,quận Bình Thạnh đã khởi động sức sáng tạo của nhân dân trong sản xuất - kinhdoanh, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy nội lực, kích thích kinh
tế tăng trưởng
Trong giai đoạn 2001 - 2005, Bình Thạnh đã đẩy mạnh chuyển dịch cơcấu kinh tế, trong đó chú trọng phát triển thương mại, dịch vụ Từ năm 2006 đếnnay, kinh tế quận Bình Thạnh có những bước phát triển bền vững, trong đó khuvực dịch vụ phát triển theo đúng định hướng, chuyển động khá rõ nét, phát triển
đa dạng, phong phú so với các giai đoạn trước
Thương mại - dịch vụ bình quân hằng năm tăng 37,74%; giá trị sản xuấtcông nghiệp - tiểu, thủ công nghiệp tăng 78,26%, bình quân hằng năm tăng13,9% Hiện nay, tổng vốn đầu tư tăng 5,22 lần so với 5 năm trước, trong đó sốdoanh nghiệp ngành thương mại - dịch vụ chiếm 88,9%, với tổng vốn đầu tư là73%, chiếm 78% tổng thu ngân sách của quận Bình Thạnh tập trung lãnh đạothực hiện củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nâng caosức cạnh tranh, doanh số bình quân hằng năm tăng 12,5%
Tổng thu ngân sách của quận tăng bình quân 23%/năm, bảo đảm cân đốichi ngân sách thường xuyên, đồng thời nâng tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển:30%; chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo: 30,66%; chi sự nghiệp y tế, văn hoá, thểdục thể thao, xã hội: 10,64%
Công tác đầu tư phát triển, nâng cấp kết cấu hạ tầng được đẩy mạnh.Nhiều dự án công trình đã được đầu tư, triển khai việc chỉnh trang, xây dựngmới tại nhiều khu vực; nhiều khu dân cư mới được hình thành; kết cấu hạ tầng,như đường giao thông, mạng lưới điện, mạng lưới thông tin, trụ sở làm việc,
Trang 35trường học, bệnh viện, công viên cây xanh được đầu tư, từng bước đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận
Đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập của người dân được nâng lên.Bình Thạnh là một trong 5 quận đầu tiên của Thành phố hoàn thành mục tiêuchương trình xoá đói, giảm nghèo giai đoạn 2 và tiếp tục chủ động triển khaichương trình giảm hộ nghèo, nâng hộ khá
Hệ thống chính trị trong quận được củng cố, trình độ, năng lực lãnh đạocủa Đảng bộ chính trị quận từng bước được nâng lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ,tạo được sự tin tưởng gắn bó và tham gia tích cực của quần chúng nhân dântrong tiến trình xây dựng Bình Thạnh thành quận trung tâm của Thành phố ngàycàng văn minh, hiện đại hơn
2.1.3 Tình hình giáo dục của quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ( trong đó có giáo dục tiểu học)
2.1.3.1.Về quy mô giáo dục của quận
• Quy mô trường lớp, học sinh:
Trang 37tư cải tạo mở rộng, nâng cấp, xây mới trường lớp để đảm bảo đủ phòng học,giảm sĩ số học sinh trong một lớp, tăng tỉ lệ học sinh học 2 buổi/ngày ở tất cả cácngành học
Trang 38Ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng caochất lượng giáo dục để đạt và vượt kế hoạch đề ra Cụ thể là:
Giáo dục mầm non:
Trong thời gian từ 2006 đến 2010, ngành học mầm non tập trung thực hiệntốt các chủ trương đổi mới quản lý, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng caochất lượng giáo dục và đạt được những kết quả như sau:
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng:
+ Duy trì tốt mô hình chăm sóc nuôi dưỡng tại các trường công lập, cơ sởdân lập, tư thục và nhóm trẻ gia đình qua việc tuyên truyền thực hiện chươngtrình quốc gia phòng chống suy dinh dưỡng và phòng chống thừa cân, béo phì.(Hàng năm tỉ lệ giảm suy dinh dưỡng trên 70% đến 90% và dư cân – béo phìgiảm từ 10 đến 15% so với đầu vào); 100% các trường đều có bản tin tuyêntruyền đến phụ huynh cùng phối hợp với nhà trường chăm sóc nuôi dưỡng … + Cán bộ-Giáo viên-Công nhân viên và các cháu được khám sức khỏeđịnh kỳ 2 lần/năm
+ Hàng năm thường xuyên tổ chức các chuyên đề: Nâng cao chất lượnggiáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, giám sát chất lượng bữa ăn,đổi mới tổ chức bữa ăn cho trẻ
+ Thường xuyên quan tâm và đẩy mạnh công tác phòng bệnh, phòng dịch
và có biện pháp ngăn chặn kịp thời các bệnh dịch xảy ra trong trường mầm non,mẫu giáo, nhóm trẻ gia đình Ngoài ra còn thực hiện chương trình tiêm chủng
mở rộng, chủng ngừa các dịch bệnh theo mùa
- Công tác chăm sóc giáo dục:
+ Thực hiện tốt các chuyên đề: bé tập làm nội trợ, tăng cường vận độngcho trẻ dư cân – béo phì, giáo dục dinh dưỡng, ứng dụng chương trình Kidsmart,
Trang 39Mindjet - Mindmanager vào việc tổ chức cho trẻ hoạt động vui chơi, soạn giáo
án mới
+ Nâng cao chất lượng các chuyên đề: cho trẻ làm quen văn học – chữviết, làm quen với Toán, hoạt động thử nghiệm khám phá, môi trường xanh –vườn cây của bé, giáo dục an toàn giao thông, xây dựng thư viện của bé, các hoạtđộng nghệ thuật trong phòng hoạt động âm nhạc, đổi mới việc đánh giá hoạtđộng chăm sóc giáo dục trẻ, hoạt động giáo dục lễ giáo, hoạt động với nước vàbảo vệ môi trường, tổ chức các hoạt động lễ hội, giáo dục kỹ năng xã hội, truyềnthông “Sự thật về trẻ em và HIV/AIDS”
+ Hầu hết các trường mầm non công lập và tư thục thực hiện chương trìnhgiáo dục mầm non mới, mục tiêu của chương trình giúp cho trẻ phát triển toàndiện về thể chất cũng như tinh thần, rèn luyện kỹ năng sống cần thiết phù hợpvới lứa tuổi, khơi dậy tối đa những khả năng tiềm ẩn, mạnh dạn, tự tin, hồn nhiêngắn với cuộc sống và kinh nghiệm
Giáo dục phổ thông:
Ngành học Phổ thông đã tập trung chỉ đạo các trường tiếp tục thực hiệnchương trình thay sách, gắn việc đổi mới chương trình với đổi mới phương phápgiảng dạy, tăng cường phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh
Các trường kết hợp với Hội đồng giáo dục địa phương và Hội cha mẹ họcsinh, giáo viên chủ nhiệm trong việc tổ chức giáo dục đạo đức, hình thành nhâncách cho học sinh
Ngành đã tổ chức các chuyên đề – thao giảng – hội giảng ở nhiều bộ môn
từ Tiểu học đến Trung học cơ sở nhằm bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyênmôn cho giáo viên, tháo gỡ những vấn đề vướng mắc trong trong quá trình đổimới phương pháp dạy và học, đưa sinh hoạt tổ khối chuyên môn đi vào nề nếp
Trang 40Nhiều trường đã mạnh dạn đầu tư phương tiện dạy học hiện đại, mua sắm thêm
đồ dùng dạy học
Qua 5 năm triển khai, việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở các cấp học
đã được đội ngũ cán bộ - giáo viên nhận thức đúng mức Nhiều giáo viên tự nângcao trình độ chuyên môn – nghiệp vụ, đầu tư nghiên cứu bài dạy khi lên lớp, vậndụng phương pháp dạy học tích cực khá linh hoạt, hầu hết các giờ lên lớp đều sửdụng đồ dùng dạy học, tổ chức thảo luận theo nhóm nhỏ giúp học sinh tiếp thukiến thức mới một cách dễ dàng Đặc biệt, ở một số tiết dạy trên lớp, giáo viên
đã mạnh dạn sử dụng phương tiện hiện đại (máy chụp ảnh 3 chiều, máy chiếu đaphương tiện kết hợp vi tính, bảng thông minh…) minh hoạ cho bài giảng thêmsinh động, kích thích hứng thú học tập của học sinh
+ Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm được duy trì khá ổn định: năm học2006-2007 ở Tiểu học là 99.7% và THCS là 98,9 % ; đến năm học 2010-2011,Tiểu học là 100% và THCS là 98,5 %
+ Tỉ lệ học sinh cuối cấp thi nghề phổ thông do Thành phố tổ chức hàngnăm đều đạt kết quả cao từ 80% đến 97%