Chính vì vậy trong thực tế, nhiều lúc, nhiều nơi đã tuyệt đối hóa bàitập vật lí, coi DHVL có nhiệm vụ chính là dạy HS giải BTVL đặc biệt là các lớpluyện thi tốt nghiệp, tuyển sinh Đại họ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HUỆ
NGHI£N CøU D¹Y HäC BµI TËP CH¦¥NG
“DßNG §IÖN XOAY CHIÒU” VËT LÝ 12 TRUNG
HäC PHæ TH¤NG BAN C¥ B¶N THEO Lý THUYÕT PH¸T TRIÓN BµI
TËP VËT Lý
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Vật lý
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHẠM THỊ PHÚ
Trang 2VINH - 2011
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới :
PGS.TS Phạm Thị Phú, người đã định hướng đề tài, hướng dẫn khoa học và động viên nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, quý thầy cô giáo khoa Vật lý Trường Đại học Vinh cùng quý thầy cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy.
Ban giám hiệu, thầy cô giáo tổ Vật Lí - Tin, trường THPT Nguyễn Mộng Tuân - Thanh Hoá đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian tiến hành thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, quý bạn hữu và đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành luận văn này
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Lê Thị Huệ
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp mới của luận văn 3
Chương 1 DẠY HỌC BÀI TẬP THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÍ NHẰM PHÁT HUY HIỆU QUẢ CÁC CHỨC NĂNG LÝ LUẬN DẠY HỌC CỦA BÀI TẬP 5
1.1 Chức năng của lý luận dạy học BTVL 5
1.1.1 Khái niệm bài tập vật lí 5
1.1.2 Chức năng của BTVL 5
1.1.3 Phân loại bài tập vật lí 8
1.1.4 Các cách hướng dẫn HS giải BTVL 10
1.1.5 Các hình thức dạy học bài tập vật lí 12
1.2 Lý thuyết phát triển bài tập vật lí 16
1.2.1 Khái niệm phát triển bài tập vật lí 16
1.2.2 Nội dung của lý thuyết phát triển bài tập vật lí 16
1.2.3 Tại sao trong dạy học BTVL cần vận dụng lý thuyết phát triển BTVL ?19 1.2.4 Quy trình dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL20 1.2.5 Quy trình thiết kế bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL 21
1.2.6 Cấu trúc bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL 21
1.2.7 Các hình thức dạy học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 24
Chương 2 DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BTVL 26
2.1 Vị trí, đặc điểm của chương “Dòng điện xoay chiều” 26
2.1.1 Vị trí 26
Trang 52.3 Nội dung dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” 29
2.3.1 Các đơn vị kiển thức cơ bản của chương “Dòng điện xoay chiều” 29
2.3.2 Cấu trúc lôgic chương “Dòng điện xoay chiều” chương trình chuẩn31 2.4 Thực trạng dạy học bài tậpVật lí chương “Dòng điện xoay chiều” ở các trường THPT hiện nay 31
2.5 Xây dựng hệ thống BTVL chương “Dòng điện xoay chiều” theo lý thuyết phát triển bài tập nhằm phát huy chức năng LLDH của BTVL34 2.5.1 Lựa chọn bài tập cơ bản 34
2.6 Sử dụng hệ thống bài tập chương “Dòng điện xoay chiều” theo lý thuyết phát triển BTVL 59
2.6.1 Bài học luyện tập giải bài tập 59
2.6.2 Giáo án tổng kết chương: ÔN TẬP CHƯƠNG DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU66 Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 73
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 73
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 73
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 73
3.5 Nội dung thực nghiệm sư phạm 74
3.5.1 Lựa chọn lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 74
3.5.2 Tiến hành thực nghiệm 74
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 75
3.6.1 Về phương pháp dạy và học 75
3.6.2 Về kết quả kiểm tra đánh giá hai bài sau thực nghiệm sư phạm 75
3.7 Phân tích kết quả thực nghiệm 78
3.8 Kiểm định giả thiết ngẫu nhiên 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7MỞ ĐẦU
Trang 81 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong dạy học vật lí, bài tập là một phương tiện, phương pháp có hiệu quả thựchiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phát triển tư duy và nhiệm vụ giáo dục kỹthuật tổng hợp Chính vì vậy trong thực tế, nhiều lúc, nhiều nơi đã tuyệt đối hóa bàitập vật lí, coi DHVL có nhiệm vụ chính là dạy HS giải BTVL (đặc biệt là các lớpluyện thi tốt nghiệp, tuyển sinh Đại học, bồi dưỡng học sinh giỏi…); Trong hiệusách ngoài bộ sách giáo khoa (2 quyển) thì đa số là sách bài tập các loại, có khicùng một nội dung vật lí có đến hàng chục cuốn sách bài tập của nhiều tác giả; phụhuynh và HS hoang mang trước thực trạng quá nhiều các bài tập, làm thế nào để cóthể học hết được các bài tập trong đó khi mà thời gian thì rất hạn hẹp Thực tế nàyđặt ra cho GV vật lí một câu hỏi: Dạy bài tập như thế nào để phát huy được cácchức năng LLDH, chức năng nhận thức luận của BTVL ? Nếu như bài học xâydựng kiến thức mới các mục tiêu, nội dung đã được nêu tường minh trong SGV,SGK thì bài học bài tập vật lí hoàn toàn do GV xác định từ mục tiêu, nội dung đếnphương pháp, phương tiện
Thực tế cho thấy, nhiều giáo viên rất lúng túng không biết nên dạy BTVL nhưthế nào để đạt được hiệu quả cao nhất Cho nên trong các đợt thao giảng, dự giờ, tiếtdạy bài tập ít được giáo viên lựa chọn Trong tiết dạy bài tập, thông thường giáoviên chỉ bám sát phân phối chương trình và bài tập sách giáo khoa để ra bài tập chohọc sinh hướng dẫn học sinh giải bài tập đó sao cho ra kết quả rồi chuyển sang bàitập khác Chính vì vậy mà học sinh học một cách thụ động, không phát huy đượctính sáng tạo trong giải bài tập vật lí và khi áp dụng cũng không linh hoạt, nhất là tacho bài tập khác dạng thì học sinh lúng túng không giải quyết được Bên cạnh đó đa
số học sinh hiện nay cũng còn thụ động trong việc học tập của mình, các em chỉ họcxoay quanh những gì mà giáo viên đã cung cấp chứ ít chủ động tìm tòi học tập điềumới ngoài thông tin từ người thầy Trong quá trình dạy BTVL đòi hỏi người giáoviên phải chọn các bài tập từ đơn giản đến phức tạp, các bài tập phải liên hệ vớinhau một cách có hệ thống làm thế nào để thông qua việc giải một số bài tập cơ bản,trang bị cho các em phương pháp giải để các em giải được nhiều dạng bài tập khác.Qua đó, học sinh nắm được kiến thức vững vàng, sâu sắc, chủ động, mà không mấtnhiều thời gian, phát huy mạnh tính sáng tạo của học sinh
Trang 9Để giải quyết vấn đề trên, tôi nhận thấy có một lý thuyết đã được xây dựngbởi các nhà nghiên cứu về LLDHVL đó là “Lý thuyết phát triển bài tập vật lí”; tinhthần cơ bản của lý thuyết này là từ một bài tập cơ bản phát triển thành các bài tậptổng hợp khác nhau theo nhiều phương án khác nhau nhằm huy động các kiến thức
cơ bản khác trong việc giải bài tập; GV xây dựng BT và dạy cho HS cũng xây dựngBT; phân tích bài tập tổng hợp thành các bài tập cơ bản; kết quả HS vừa củng cốkiến thức lý thuyết, vừa biết phương pháp giải BT và đặc biệt HS còn biết tự đặt bàitập để giải theo yêu cầu của GV; biến HS từ chỗ thụ động giải BT do GV yêu cầuthành chủ động đặt BT để giải; đó là một cách cụ thể thực hiện chiến lược dạy họctập trung vào người học
Chương “Dòng điện xoay chiều” là chương rất quan trọng trong chươngtrình Vật lí 12 THPT Lượng bài tập ở chương này rất nhiều và khó, nhiều học sinhcảm thấy rất khó khăn không biết giải quyết bài tập như thế nào
Với những lí do trên tôi chọn đề tài: Nghiên cứu dạy học bài tập chương
“Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 THPT ban cơ bản theo lý thuyết phát triển bài tập vật lí.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng được hệ thống bài tập chương “Dòng điện xoay chiều” (Vật lí 12
cơ bản) và đề xuất các phương án dạy học bài tập vật lí theo lý thuyết phát triển bàitập nhằm phát huy các chức năng lý luận dạy học của bài tập trong dạy học chương
“Dòng điện xoay chiều”
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Bài tập vật lí, lý thuyết phát triển bài tập vật lí
- Quá trình dạy học vật lí
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chương “ Dòng điện xoay chiều” vật lí lớp 12 ban cơ bản.
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Trang 10Có thể xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương “Dòng điện xoaychiều” theo lý thuyết phát triển BTVL trong dạy học nhằm phát huy hiệu quả cácchức năng LLDH của bài tập, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu LLDH bài tập vật lí ở trường phổ thông
- Nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết phát triển bài tập vật lí
- Tìm hiểu thực trạng dạy học bài tập vật lí ở một số trường THPT tỉnhThanh Hoá
- Tìm hiểu mục tiêu dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” vật lí lớp 12
ban cơ bản, nội dung dạy học chương - cơ sở Vật lí cho việc xây dựng hệ thống bài
tập vật lí theo lý thuyết phát triển bài tập chương “Dòng điện xoay chiều”.
- Xây dựng hệ thống bài tập chương “Dòng điện xoay chiều”
- Đề xuất các phương án dạy học sử dụng hệ thống BTVL theo lý thuyết pháttriển bài tập đã xây dựng nhằm phát huy hiệu quả các chức năng LLDH của BTVL
- Thực nghiệm sư phạm các phương án dạy học đã thiết kế
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận dạy học và các tài liệu liên quan đến lýthuyết bài tập phát triển
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa và sách bài tập, các tài liệu thamkhảo
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm sư phạm: kiểm tra giả thuyết khoahọc của đề tài
- Phương pháp thống kê toán học
7 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Trang 117.2 Về ứng dụng
- Xây dựng được hệ thống gồm 1 BTCB, 30 bài tập điển hình minh hoạ dùng
cho dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” vật lí lớp 12 ban cơ bản theo lý thuyết
phát triển bài tập Vật lí
- Xây dựng 5 tiến trình dạy học gồm: một bài học luyện tập giải BTVL; mộtbài học tổng kết chương; một bài học kiểm tra đánh giá; một bài học giải BTVL ởnhà của HS; 1 bài học tự chọn học sinh khá giỏi theo lý thuyết phát triển BT pháthuy chức năng LLDH của BTVL
8 Cấu trúc luận văn
Mở đầu (4 trang)
Nội dung chính: gồm 3 chương
Chương 1 Dạy học bài tập theo lí thuyết phát triển bài tập vật lí nhằm phát huy hiệuquả các chức năng lí luận dạy học của bài tập trong DHVL (21 trang)
Chương 2 Dạy học bài tập chương “Dòng điện xoay chiều” theo lý thuyết phát triểnBTVL (47 trang)
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm (9 trang)
Tài liệu tham khảo (2 trang)
Phụ lục (21 trang)
Trang 12Chương 1 DẠY HỌC BÀI TẬP THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BÀI TẬP VẬT LÍ NHẰM PHÁT HUY HIỆU QUẢ CÁC CHỨC NĂNG
LÝ LUẬN DẠY HỌC CỦA BÀI TẬP
1.1 Chức năng của lý luận dạy học BTVL
1.1.1 Khái niệm bài tập vật lí
Bài tập vật lí được hiểu là vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhỏnhững suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm dựa trên cơ sở các địnhluật các phương pháp vật lí Hiểu theo nghĩa rộng thì mọi vấn đề xuất hiện donghiên cứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài tập đối với học sinh Sự địnhhướng tư duy một cách tích cực là việc giải BTVL
lí Đề tài này đề cập đến BTVL với sự kết hợp cả hai cách hiểu trên
- Xét theo lí luận dạy học thì BTVL có những chức năng sau:
+ Củng cố trình độ tri thức và kĩ năng xuất phát cho HS:
Để thực hiện chức năng này thì BTVL là một phương tiện rất có hiệu quả.Bằng cách giao cho HS giải những bài tập có nội dung và phương pháp gắn với nộidung và phương pháp của vấn đề sắp được nghiên cứu, GV có thể giúp HS nhớ lại,củng cố kiến thức đã học một cách vững chắc Do đó họ sẽ vững vàng hơn khi bướcvào tiếp thu bài mới Hơn nữa, khi thấy được sự liên quan logic giữa tri thức và kỹnăng cũ với vấn đề mới, HS càng hứng thú hơn với việc tham gia xây dựng bài mới.Bởi vì một mặt họ thấy tính hữu ích của tri thức đã học, mặt khác họ vững tin hơnvào khả năng của mình
+ Đặt vấn đề nhận thức:
Trang 13Nhiều loại bài tập thực hiện chức năng này rất tốt như bài tập nghịch lý, bàitập thí nghiệm, bài tập - câu hỏi thực tế,… trước khi vào bài học, nghiên cứu mộtvấn đề mới, GV có thể đặt ra cho HS các bài tập có dạng trên và liên quan đến hiệntượng, quá trình vật lí sắp được nghiên cứu, vừa tạo cho các em cảm giác hưngphấn, kích thích tính tò mò, ham học, vừa định hướng cho các em cái đích mà các
em cần đạt được sau khi nghiên cứu vấn đề đó Khi đã định hướng được thì sự quansát, chú ý có chủ định sẽ được nâng cao mà không bị “loãng”, khắc phục được tìnhtrạng GV giảng bài, HS không biết thầy cô đang làm gì ? Tại sao lại làm như thế ?Bài học này có mục đích gì?
+ Hình thành tri thức, kỹ năng mới cho HS:
Một số bài tập thực hiện được chức năng này nhưng không phải nhiều Cólúc trong dạy học một số đề tài mà việc hình thành tri thức mới thực chất là hệthống hóa nhiều vấn đề riêng lẻ đã học để khái quát hóa quy nạp mà có (Ví dụ nhưbài “Định luật bảo toàn cơ năng” vật lí lớp 10 cơ bản) Kết quả của những bài tậploại này sẽ được khái quát hóa lại thành định luật, hệ quả, tri thức mới cho HS.Cũng có trường hợp ngược lại, có những đề tài, bài học mà nội dung của nó chính là
sự diễn dịch: vận dụng trường hợp tổng quát cho từng trường hợp cụ thể (Ví dụ: khidạy kiến thức “Động cơ phản lực” vật lí lớp 10 cơ bản)
+ Ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng cho HS:
Đây là lĩnh vực mà BTVL phát huy tác dụng tốt nhất Bởi vì BTVL làphương tiện để GV giao cho HS những nhiệm vụ gắn liền với việc củng cố cácđường mòn liên hệ tạm thời của thần kinh trung ương về tri thức và kỹ năng vừahọc ở lớp, để họ tập dượt việc tìm kiếm các mối liên hệ giữa kiến thức đã học vàvận dụng chúng vào các tình huống: từ quen biết, quen biết có biến đổi đến tìnhhuống mới lạ
Qua việc làm bài tập, không những rèn luyện cho HS năng lực ghi nhớ, củng
cố tri thức, kỹ năng đã học mà còn bắt buộc họ phải có những hoạt động sáng tạo,như tìm ra mối liên hệ, những kỹ năng mà trong dạy học vật lí họ chưa có điều kiệnthực hành, thử nghiệm,…
+ Tổng kết, hệ thống hóa kiến thức của từng chương, từng phần và cảchương trình bộ môn
Trang 14Các bài học có nhiệm vụ củng cố tri thức lý thuyết đơn thuần, nhưng BTVLvẫn có thể được sử dụng rất có hiệu quả trong nhiều trường hợp: Thứ nhất, GV rabài tập theo một chuỗi liên kết với nhau Để giải được loại bài tập đó, HS sẽ phảilần lượt sử dụng đến tất cả các tri thức đã học của chương hoặc phần tri thức lýthuyết định tổng kết và hệ thống hóa Thứ hai, qua từng phần nhỏ tri thức đã tổngkết, GV đưa ra những bài tập điển hình mà phải nhờ vào những tri thức ấy mới giảiquyết được Làm như vậy vừa đỡ nhàm chán vừa giúp các em ghi nhớ được lâuhơn, hiểu rõ bản chất vật lí hơn là việc bắt HS nhắc đi nhắc lại lý thuyết.
+ Kiểm tra, đánh giá chất lượng tri thức, kỹ năng của HS:
BTVL giúp GV kiểm tra được trình độ lĩnh hội tri thức của HS, kỹ năng thựchành, kỹ năng tính toán, kỹ năng vận dụng lý thuyết để giải quyết những tình huống
cụ thể của thực tiễn Ngoài ra khi dùng BTVL dưới dạng tự luận nó còn giúp GVkiểm tra và đánh giá được năng lực tư duy và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của HS
- Xét theo chức năng thực hiện nhiệm vụ bộ môn:
+ Giáo dưỡng: BTVL là một phương tiện không thể thiếu Bởi vì BTVL giúp
HS khắc sâu nội dung kiến thức, giúp họ đào sâu và xây dựng các mối liên hệ giữacác bộ phận kiến thức với nhau Nhờ đó mà kiến thức trở nên sống động, có ý nghĩatrong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra
+ Phát triển: BTVL là phương tiện giúp HS phát triển năng lực nhận thức.Thông qua việc giải BTVL, HS có được khả năng hình thành và phát triển các thaotác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa, biết lập kế hoạch giảiquyết một vấn đề, kể cả những vấn đề có tính kỹ thuật, sáng tạo Điều này đượcthực hiện khi HS quen với bài tập thí nghiệm, các bài tập gắn với giải quyết các vấn
đề thực tiễn sản xuất và đời sống Nhờ đó mà BTVL góp phần đào tạo HS thànhnhững người biết nhận thức thực tiễn và cải tạo thực tiễn
+ Giáo dục tư tưởng, đạo đức và nhân cách cho HS:
BTVL cũng là phương tiện giúp HS rèn luyện được những phẩm chất tâm lýquan trọng như sự kiên trì, nhẫn nại, có tính kế hoạch trong hoạt động nhận thức,rèn luyện tính tự lực, tự giác trong hoạt động học tập
+ Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp:
Trang 15Nhiều BTVL có nội dung kỹ thuật, nhiều bài gắn với thực tế và nhiều bài tậpthí nghiệm có tác dụng giúp cho HS củng cố được những kỹ năng thực hành, nhữnghiểu biết cần thiết theo nội dung của giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp.
1.1.3 Phân loại bài tập vật lí
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí Nếu dựa vào các phương tiện giải có thểchia bài tập thành bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập đồthị Nếu dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh, có thể chia bài tậpvật lí thành bài tập tập dượt, bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo
1.1.3.1 Bài tập định tính
- Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, HS không cần phải thực hiện
các phép tính phức tạp hay chỉ phải làm các phép tính đơn giản, có thể tính nhẩmđược Muốn giải những bài tập định tính, HS phải thực hiện những phép suy luậnlogic, do đó phải hiểu rõ bản chất (Nội hàm) của các khái niệm, định luật vật lí vànhận biết về những biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể Đa số các bàitập định tính yêu cầu HS giải thích hoặc dự đoán một hiện tượng xảy ra trong nhữngđiều kiện xác định
- Bài tập định tính có rất nhiều ưu điểm về phương pháp học Nhờ đưa được
lý thuyết vừa học lại gần với đời sống xung quanh, các bài tập này làm tăng thêm ở
HS hứng thú với môn học, tạo điều kiện phát triển khả năng quan sát của HS Vìphương pháp giải bài tập này bao gồm việc xây dựng những suy lý logic dựa trêncác định luật vật lí nên chúng là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy của HS.Việc giải bài tập đó rèn luyện cho HS hiểu rõ được bản chất của các hiện tượng vật
lí và những quy luật của chúng, dạy cho HS biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn.Việc giải các bài tập định tính này rèn luyện cho HS chú ý đến việc phân tích nộidung vật lí của các bài tập tính toán
- Do tác dụng về nhiều mặt như trên nên bài tập định tính được ưu tiên hàngđầu sau khi học xong lý thuyết và trong khi luyện tập, ôn tập về vật lí
- Bài tập định tính có thể là bài tập đơn giản, trong đó chỉ áp dụng một địnhluật, một quy tắc, một phép suy luận logic
1.1.3.2 Bài tập tính toán
Trang 16- Bài tập tính toán là những bài tập mà muốn giải chúng, ta phải thực hiệnmột loạt phép tính và kết quả là thu được một đáp số định lượng, tìm giá trị một sốđại lượng vật lí Có thể chia bài tập tính toán ra làm hai loại: bài tập tập dượt và bàitập tổng hợp [16]
- Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ đềcập đến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản.Những bài tập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho HS hiểu
rõ ý nghĩa định luật và các công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị vật lí vàthói quen cần thiết để giải những bài tập phức tạp hơn
- Bài tập tính toán tổng hợp là bài tập mà muốn giải nó thì phải vận dụngnhiều khái niệm, định luật, dùng nhiều công thức Những kiến thức cần sử dụngtrong việc giải bài tập tổng hợp có thể là những kiến thức đã học trong nhiều bàitrước Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức,thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lí, tập cho
HS biết phân tích những hiện tượng thực tế phức tạp ra thành những phần đơn giảntuân theo một định luật xác định
1.1.3.3 Bài tập thí nghiệm
- “Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chúng
lời giải giả thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập Những thínghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản, có thể làm ở nhà, với nhữngdụng cụ đơn giản dễ tìm hoặc tự làm được Để giải các bài tập thí nghiệm, đôi khicũng cần đến những thí nghiệm đơn giản Bài tập thí nhiệm cũng có thể có dạngđịnh tính hoặc định lượng” [16]
- Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng tốt về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục
và giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý thuyết
và thực tiễn
- Cần chú ý rằng: trong các bài tập thí nghiệm thì thí nghiệm chỉ cho các sốliệu để giải bài tập, chứ không cho biết tại sao hiện tượng xảy ra như thế Cho nênphần vận dụng các định luật vật lí để lý giải các hiện tượng mới là nội dung chínhcủa bài tập thí nghiệm
1.1.3.4 Bài tập đồ thị
Trang 17- “Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giảiphải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi HS phải biểu diễn quátrình diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị” [16]
lượng vật lí, tương đương với cách biểu đạt bằng lời hay công thức Nhiều khi nhờ
vẽ được chính xác đồ thị biểu diễn các số liệu thực nghiệm mà ta có thể tìm đượcđịnh luật vật lí mới Bởi vậy, các bài tập luyện tập sử dụng đồ thị có vị trí ngày càngquan trọng trong dạy học vật lí
1.1.4 Các cách hướng dẫn HS giải BTVL
1.1.4.1 Hướng dẫn giải theo mẫu (hướng dẫn Algôrit)
- Sự hướng dẫn hành động theo mẫu thường được gọi là hướng dẫn Algôrit
Ở đây hướng dẫn algorit được dùng với ý nghĩa là một quy tắc hành động hay mộtchương trình hành động được xác định một cách rõ ràng, chính xác và chặt chẽ, chỉcần thực hiện theo trình tự mà quy tắc đã chỉ ra thì chắc chắn sẽ đến kết quả
- Hướng dẫn Algôrit là hướng dẫn chỉ rõ cho học sinh hành động cụ thể cầnthực hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt kết quả mong muốn Nhữnghành động này được coi là hành động sơ cấp phải được học sinh hiểu một cách đơngiản và học sinh là nắm vững
- Kiểu hướng dẫn Algôrit không đòi hỏi học sinh tự mình tìm tòi xác địnhcác hành động cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra mà chỉ đòi hỏi học sinhchấp hành các hành động mà giáo viên chỉ ra, cứ theo đó học sinh sẽ giải được cácbài tập đã cho Kiểu hướng dẫn này đòi hỏi giáo viên phải phân tích một cách khoahọc việc giải bài toán để xác định một trình tự chính xác, chặt chẽ của các hànhđộng cần thực hiện để giải các bài toán Cần đảm bảo cho các hành động đó là hànhđộng sơ cấp đối với học sinh, nghĩa là kiểu hướng dẫn này đòi hỏi phải xây dựngđược Algôrit bài toán
- Kiểu hướng dẫn Algôrit thường được áp dụng khi cần dạy cho học sinhphương pháp giải một bài tập điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho học sinh kỹnăng giải một bài toán xác định Người ta xây dựng các Algôrit giải cho từng loạibài toán cơ bản, điển hình và luyện tập cho học sinh kỹ năng giải các bài toán đódựa trên việc làm cho học sinh được các Algôrit giải
Trang 18- Kiểu hướng dẫn Algôrit có ưu điểm là bảo đảm cho học sinh giải bài toán
đã cho một cách chắc chắn, nó giúp cho việc rèn luyện kỹ năng giải bài toán củahọc sinh có hiệu quả Tuy nhiên, nếu chỉ hướng dẫn học sinh luôn luôn áp dụngkiểu Algôrit để giải bài toán thì học sinh chỉ quen chấp hành những hành động đãđược chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn, do vậy ít có tác dụng rèn luyện cho học sinh khảnăng tìm tòi, sáng tạo và sự phát triển tư duy bị hạn chế
1.1.4.2 Hướng dẫn tìm tòi (ơrixtic)
- Hướng dẫn tìm tòi là kiểu hướng dẫn mang tính chất gợi ý cho học sinh suynghĩ, tìm tòi, phát hiện cách giải quyết vấn đề Ở đây không phải là giáo viên chỉdẫn cho học sinh chấp hành các hành động theo hướng đã có để đi đến kết quả, màgiáo viên gợi mở để học sinh tự tìm cách giải quyết, tự xác định các hành động cầnthực hiện để đạt kết quả
- Kiểu hướng dẫn tìm tòi được áp dụng khi cần giúp đỡ học sinh vượt quakhó khăn để giải quyết được bài toán, đồng thời vẫn đảm bảo được yêu cầu pháttriển tư duy cho học sinh, tạo điều kiện để học sinh tự lực tìm tòi cách giải quyết
- Ưu điểm của kiểu hướng dẫn này là tránh được tính trạng giáo viên làmthay cho học sinh trong việc giải bài tập Nhưng vì kiểu hướng dẫn này đòi hỏi họcsinh phải tự lực tìm cách giải quyết chứ không chỉ chấp hành theo mẫu nhất định đãđược chỉ ra nên không phải bao giờ cũng bảo đảm cho học sinh giải được bài toánmột cách chắc chắn Khó khăn của kiểu hướng dẫn này chính là ở chỗ hướng dẫncủa giáo viên phải làm sao không đưa học sinh đến chỗ thừa Sự hướng dẫn như vậynhằm giúp học sinh trong việc định hướng suy nghĩ vào phạm vi cần tìm tòi, chứkhông thể ghi nhận tái tạo cái có sẵn
1.1.4.3 Định hướng khái quát chương trình hóa
Trang 19- Định hướng khái quát chương trình hoá cũng là sự hướng dẫn cho học sinh
tự tìm tòi cách giải quyết vấn đề Nét đặc trưng của kiểu hướng dẫn này là giáo viênhướng dẫn hoạt động tư duy của học sinh theo đường lối khái quát của việc giảiquyết vấn đề Sự định hướng ban đầu đòi hỏi sự tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề củahọc sinh Nếu học sinh không đáp ứng được thì giúp đỡ tiếp theo của giáo viên là sựđịnh hướng khái quát ban đầu, cụ thể hoá thêm một bước bằng cách gợi ý thêm chohọc sinh để thu hẹp phạm vi tìm tòi, giải quyết cho vừa sức với học sinh Nếu họcsinh vẫn không đủ khả năng tự lực tìm tòi giải quyết thì sự hướng dẫn của giáo viêntrở thành hướng dẫn theo mẫu để đảm bảo cho học sinh hoàn thành được yêu cầumột bước, sau đó yêu cầu học sinh tự lực tìm tòi giải quyết bước tiếp theo Nếu cầngiáo viên giúp đỡ thêm cho đến khi giải quyết xong vấn đề đặt ra Kiểu hướng dẫnnày được áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn tiến trình hoạt động giải bài toán củahọc sinh, nhằm giúp học sinh tự giải được bài toán đã cho, đồng thời dạy cho họcsinh cách suy nghĩ trong quá trình giải bài toán
- Kiểu hướng dẫn này có ưu điểm kết hợp được việc thực hiện các yêu cầu:
+ Rèn luyện tư duy của học sinh trong quá trình giải toán
+ Đảm bảo để học sinh giải được bài toán đã cho
- Để làm tốt thì yêu cầu giáo viên phải theo sát tiến trình hoạt động giải toán
và có sự điều chỉnh thích hợp với từng đối tượng học sinh
1.1.5 Các hình thức dạy học bài tập vật lí
1.1.5.1 Dạy học bài tập vật lí trong tiết học tài liệu mới
Vào đầu tiết học, các bài tập được đưa ra cho học sinh nhằm mục đích kiểm trakiến thức, hoặc để củng cố tài liệu đã học Giáo viên thường sử dụng các biện phápsau:
- Cho học sinh lên bảng và yêu cầu học sinh giải bài tập do giáo viên đưa ra Tuỳthuộc vào mức độ nội dung của bài tập mà có thể cho học sinh lên bảng lần lượt từng
em hoặc đồng thời vài ba em
- Cho học sinh giải bài tập mà giáo viên đưa ra vào giấy nháp, sau đó trình bày
Trang 20- Sử dụng các bài tập nhằm mục đích khái quát hóa kiến thức đã cho, nêu đượcvấn đề sắp được nghiên cứu trong tiết học Khi nghiên cứu tài liệu mới, tuỳ theo nộidung của tài liệu và phương pháp giảng dạy, các bài tập có thể là một phương tiệnđóng vai trò minh hoạ cho kiến thức mới hoặc là một phương tiện để rút ra kiến thứcmới Ở giai đoạn củng cố tài liệu mới, các bài tập được được đưa ra yêu cầu học sinhphải vận dụng kiến thức mới để giải quyết với thời lượng khoảng 10 phút Ở đây, tốthơn cả là giáo viên phân tích bài tập tạo cho được không khí hứng khởi đối với họcsinh để giải quyết vấn đề bài tập đặt ra
1.1.5.2 Dạy học bài tập trong tiết thực hành giải bài tập vật lí
Cấu trúc tiết học giải bài tập trong tiết thực hành giải bài tập vật lí được bố trínhư sau:
1 HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan (10 phút) để học sinh tập dượt kiếnthức lí thuyết, giáo viên phải giúp học sinh nhớ lại, hệ thống lại các kiến thức líthuyết đã được học trước đó liên quan đến tiết học
2 Học sinh giải bài tập cơ bản (10 phút) để học sinh rèn luyện kĩ năng giảiBTCB Giáo viên tường minh đề bài qua sơ đồ, hướng dẫn học sinh tự làm bài tậptrên bảng vào vở
3 Giải bài tập tổng hợp (20 phút)
Giáo viên đưa ra bài tập mẫu, hướng dẫn cách giải để các em có phươngpháp giải Sau đó học sinh giải bài tập tương tự Khi trình bày phương pháp giảinhững bài tập loại mới, giáo viên phải giải thích cho học sinh nguyên tắc giải, sau đóphân tích một bài tập mẫu làm cho học sinh hiểu rõ lôgic giải để từ đó vận dụng vàolàm bài thực hành
Có thể vận dụng các biện pháp như:
- Nêu ý nghĩa, mục đích của việc giải bài tập làm cho học sinh thấy được tầmquan trọng của việc luyện tập
- Tổ chức đàm thoại giữa giáo viên và học sinh, hoặc giữa các học sinh với nhau
về nội dung bài tập để đưa ra một giả thuyết hoặc một vài giả định có thể mâu thuẫnnhau làm cho học sinh xem xét, nghiên cứu hiện tượng từ nhiều góc độ khác nhau,chống thói quen suy nghĩ rập khuôn, máy móc
- Sử dụng các bài tập vui, các bài tập nghịch lí và ngụy biện
Trang 21- Sử dụng các tài liệu trực quan (tranh ảnh, mô hình, các video clip…) và các thínghiệm vật lí.
- Kết hợp làm việc tập thể và cá nhân một cách có hiệu quả
Trước khi giải một bài tập nào đó phải hướng dẫn cho học sinh dự kiến các cáchgiải theo khả năng tư duy của các em và để cho các em suy nghĩ vài phút Trong quátrình giải bài tập, giáo viên phải luôn lưu ý tới những học sinh còn yếu, nhắc nhở,động viên, khích lệ và đặt ra những câu hỏi nhằm giúp các em gỡ bỏ được nhữngkhúc mắc mà do tâm lí e ngại không dám thể hiện ra
4 Tổng kết ra bài tập về nhà (5 phút)
1.1.5.3 Dạy học bài tập trong tiết ôn tập tổng kết hệ thống hoá kiến thức
Trong tiết ôn tập, loại bài tập thường sử dụng là các bài tập có tính phát triển,cho phép khái quát hoá nội dung các bài tập tạo điều kiện đi sâu vào giải thích cáchiện tượng vật lí Đặc biệt là các bài tập có tính chất tổng hợp giúp học sinh liên hệrộng tới các đơn vị kiến thức đã học, khắc sâu thêm kiến thức, hệ thống hoá các kháiniệm, các định luật, các công thức cần nắm để vận dụng chúng
Cấu trúc của tiết học theo qui trình:
1 HS giải bài tập trắc nghiệm khách quan (10 phút)
2 Học sinh giải bài tập cơ bản (10 phút)
3 Giải bài tập tổng hợp (20 phút)
4 Tổng kết ra bài tập về nhà (5 phút)
1.1.5.4 Bài tập trong kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh
Bài tập kiểm tra là một phương tiện để đánh giá mức độ nắm vững kiến thức, khảnăng vận dụng kiến thức của học sinh Khi giải bài tập, học sinh phải làm việc hoàntoàn độc lập Tuỳ theo việc đánh giá mà giáo viên có thể vận dụng một trong haihình thức sau đây:
Trang 22- Kiểm tra nhanh: Hình thức này thường dùng để tìm hiểu trình độ, khả năng xuấtphát của học sinh để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, chọn lựa nội dung cũng nhưphương pháp giảng dạy cho phù hợp, sát đúng với đối tượng học sinh Hoặc cũngnhằm để đánh giá khả năng nhận thức của học sinh về một khía cạnh của một đề tàinào đó Các bài tập được chọn là những bài để học sinh làm trong thời gian ngắn (từ
10 - 15 phút) Ở đây nên lựa chọn các câu hỏi và các bài tập có nhiều đáp án, buộchọc sinh phải tư duy nhiều hơn để phân tích chọn lựa được phương án đúng (câu hỏi
có nhiều lựa chọn)
- Kiểm tra tổng kết: Hình thức này cho phép giáo viên đánh giá nhận thức củahọc sinh không phải chỉ một vài khía cạnh mà là cả một đề tài nào đó, hoặc cả mộtphần bài nào đó của tài liệu Các bài tập được chọn là những bài kiểm tra tổng kếtphức tạp hơn, đòi hỏi học sinh phải hiểu và vận dụng kiến thức ở phạm vi rộng,hoặc phải phân tích bài tập để nhận ra được những đặc điểm tinh tế ở trong bài.Tuy nhiên, để có tác dụng tốt hơn các bài tập kiểm tra tổng kết phải chọn lựa saocho vừa sức với học sinh Loại bài tập được sử dụng phải là bài tập tổng hợp và bàitập sáng tạo
1.1.5.5 Bài tập để phát hiện học sinh năng khiếu về vật lí
Hình thức này nhằm mục đích đích để phát hiện và tuyển chọn được những họcsinh khá giỏi về vật lí Các bài tập lựa chọn cho mục đích này phải là những bài tậpkhó đòi hỏi tư duy mức độ cao, buộc học sinh phải đề xuất ra được phương án giảihay hoặc có nhiều phương án trả lời và phải thực hiện các phương án đó
1.1.5.6 Dạy học bài tập trong bài học ngoại khoá
Trang 23Giải bài tập vật lí theo nhóm là một hình thức phổ biến của công tác ngoạikhoá về vật lí, nhóm giải bài tập thường là những học sinh có năng lực và rất yêuthích môn vật lí Bằng kinh nghiệm và sự sáng tạo của mình, giáo viên có thể tổchức được việc giải bài tập theo nhóm với nội dung phong phú một cách hào hứng.Đây là một môi trường học tập hết sức thuận lợi cho cá nhân học sinh, trong cácbuổi ngoại khoá học sinh được rèn luyện các kĩ năng giải quyết các bài tập khó,được cung cấp những thông tin hấp dẫn về bộ môn từ phía giáo viên hoặc từ nhữngthành viên khác của nhóm như các bản tổng kết, các báo cáo nêu lên ý nghĩa của cáchiện tượng vật lí đã được nghiên cứu, được thực hành về vật lí nhiều hơn… Nhưvậy, giải bài tập vật lí theo nhóm có tác dụng tích cực và trực tiếp đến kết quả họctập của học sinh, phát triển thế giới quan, bồi dưỡng được phương pháp nhận thứckhoa học vật lí, trang bị các kĩ năng cả về tính toán cho các em.
Các cuộc thi học sinh giỏi vật lí của chúng ta hiện tại là một dạng của ngoạikhoá vật lí Vì đề thi chưa thể hiện được phần thực hành của học sinh, nên tác dụnggiáo dục bộ môn này còn hạn chế
Vì vậy, để công tác ngoại khoá vật lí đúng nghĩa của nó, giáo viên nên lậpnhóm học sinh yêu thích môn vật lí, tổ chức cho các em làm việc với bài tập hay vàkhó tuyển chọn từ nhiều nguồn, trong đó phải lưu ý tới các bài tập hay thì mới có thểthực hiện được mục đích của công tác ngoại khoá vật lí
BTVL rất đa dạng và phong phú, mang đầy đủ ý nghĩa giáo dục, phát triển tưduy, giáo dưỡng và giáo dục kĩ thuật tổng hợp Giải BTVL đòi hỏi ở học sinh hoạtđộng trí tuệ tích cực, tự lập và sáng tạo
Dạy học bài tập vật lí phát huy được các chức năng lí luận dạy học của bài tập
và khai thác ở các hình thức dạy học khác nhau như đã trình bày ở mục 1.1 đòi hỏi
tự nghiên cứu và trải nghiệm Có nhiều con đường xây dựng BT dùng cho dạy họcsong việc tổng kết thành lí thuyết thì còn chưa được công bố nhiều
Trang 24Tác giả Phạm Thị Phú sau nhiều năm nghiên cứu, tổng kết, thực nghiệm qua
này cho phép vận dụng dạy học BTVL khá thành công trong nhiều chương của giáotrình vật lí phổ thông Trong khuôn khổ đề tài luận văn chúng tôi chúng tôi sẽ vậndụng lý thuyết này thực nghiệm dạy học BTVL ở khía cạnh mới: Lý thuyết pháttriển bài tập với việc thực hiện các chức năng LLDH của BTVL Sau đây giới thiệu
lý thuyết phát triển BTVL làm cơ sở lí luận cho đề tài
1.2 Lý thuyết phát triển bài tập vật lí
1.2.1 Khái niệm phát triển bài tập vật lí
- BTCB: là bài tập mà khi giải chỉ cần sử dụng một đơn vị kiến thức cơ bản(Một khái niệm hoặc một định luật vật lí), có sơ đồ cấu trúc như sau:
- BTTH: là bài tập mà khi giải cần sử dụng từ hai đơn vị kiến thức trở lên.Như vậy, BTTH là tổ hợp các bài tập cơ bản Thực chất của việc giải BTTH là việcnhận ra các BTCB trong các bài tập cơ bản đó
- Phát triển bài tập là biến đổi một BTCB thành các BTTH theo các phương
án khác nhau
1.2.2 Nội dung của lý thuyết phát triển bài tập vật lí
- Việc phát triển BTVL cần phải trải qua các hoạt động: Chọn BTCB, phântích cấu trúc của BTCB, mô hình hoá BTCB theo các phương án khác nhau
- Việc chọn BTCB là hành động có tính quyết định cho việc củng cố kiếnthức, kỹ năng nào? Hành động này bao gồm việc:
+ Xác định mục tiêu: Cần củng cố kiến thức cơ bản nào? Nội dungcủa kiến thức đó, phương trình liên hệ các đại lượng, công thức biểu diễn,
1 KTCB
Trang 25- Từ BTCB, có thể phát triển thành những BTTH muôn hình, muôn vẻ Vềmặt lý luận có thể khái quát thành năm hướng phát triển bài tập như sau:
Trang 26Phương án 1: Hoán vị giả thiết và kết luận của BTCB để được BTCB khác có độ
khó tương đương
Phương án 2: Phát triển giả thiết BTCB
- Dữ kiện bài toán không liên hệ trực tiếp với ẩn số bằng phương trình biểudiễn kiến thức cơ bản mà kiên hệ gián tiếp thông qua cái chưa biết trung gian a,
b, nhờ phương trình biểu diễn kiến thức cơ bản khác Phát triển giả thiết BTCB làthay giả thiết của bài tập đó bằng một số BTCB khác buộc tìm các đại lượng trunggian là cái chưa biết liên hệ dữ kiện với ẩn số
- Mức độ phức tạp phụ thuộc vào số bài toán trung gian (số cái chưa biết).Tuỳ thuộc vào đối tượng học sinh mà tăng hoặc giảm số bài toán trung gian
Phương án 3: Phát triển kết luận BTCB
f (a, b, c, x)
Giả thiết a, b, c Cho a, b, x Cho a, c, x Cho b, c, x
Tìm c
Tìm a Tìm b
Kết luận x
BTCB cũ:
KTCB b KTCB a
Trang 27- Cái cần tìm (ẩn số) không liên hệ trực tiếp với dữ kiện bằng một kiến thức
cơ bản mà thông qua các ẩn số trung gian Phát triển kết luận là thay kết luận của
BTCB bằng một số BTCB trung gian để tìm ẩn số trung gian X, Y, liên kết dữ liệu a, b, c và các ẩn số x 1 , y 1
- Mức độ phức tạp phụ thuộc số bài toán trung gian (số ẩn số trong bài toántrung gian
Phương án 4: Đồng thời phát triển giả thiết và kết luận của BTCB (kết hợp hướng
Trang 28Phương án 5: Đồng thời phát triển giả thiết, kết luận và hoán vị giả thiết kết luận
(kết hợp cả 4 hướng trên)
1.2.3 Tại sao trong dạy học BTVL cần vận dụng lý thuyết phát triển BTVL ?
- Vai trò của BTVL trong dạy học vật lí là hết sức quan trọng, việc sử dụngchúng trong giờ học lại càng quan trọng trong việc phát triển tính tích cực nhận thứccủa học sinh
- Để nâng cao hiệu quả của một giờ dạy BTVL và đặc điểm nâng cao hiệuquả của BTVL vừa chữa, chúng ta không nên thỏa mãn với việc tìm ra lời giải vàđáp số mà hãy nhìn nhận bài tập vừa chữa dưới góc độ khác nhau, với những lờigiải khác nhau (nếu có), hãy xem xét ý nghĩa các số liệu, đối chiếu chúng với thực
tế, rút ra những nhận xét bổ ích, chỉ ra được mấu chốt của từng lời giải, đâu là cáimới, cái cũ, Nói cách khác, chúng ta phải mổ xẻ bài tập vừa chữa cũng như lờigiải bài tập đó để tìm ra cái mới trong đó
- Mặt khác, trong thực tế dạy học học sinh thường gặp nhiều bài tập cùngdạng tuy chúng có thể khác nhau về cách diễn đạt nhưng lại dùng những công thức,kiến thức giống nhau để lập luận và tìm ra lời giải Nếu như vậy thì sẽ không hiệuquả khi chúng ta yêu cầu học sinh cứ giải hết bài tập này đến bài tập khác trongcùng một dạng, nó vừa mất thời gian dễ dẫn đến nhàm chán và không phát huyđược các đối tượng học sinh khá giỏi Chính vì vậy mà đối với bài tập điển hình đểchữa, sau đó thông qua bài tập điển hình nhận xét, đánh giá chỉ ra lời giải cho cácbài tập khác
- Trong tài liệu tham khảo học sinh thường gặp các bài toán phức tạp mà khigiải chúng buộc các em phải chia thành các bài tập nhỏ để giải, đó là các BTCB.Việc chuyển BTTH thành các BTCB là công việc khó khăn nhất của học sinh vì các
em khó phát hiện mình gặp bao gồm những BTCB nào Thế thì chúng ta hãy xuấtphát từ BTCB và biến nó thành BTTH (mở rộng bài tập) Nếu làm được điều nàythì khi gặp những BTTH, các bài tập cùng dạng với bài tập vừa chữa học sinh dễdàng tìm ra lời giải Nói như vậy có nghĩa là thông qua BTCB học sinh nắm đượcBTTH thông qua lời giải BTCB học sinh có lời giải BTTH
Trang 29- Phát triển BTCB thành BTTH làm cho học sinh không chỉ nắm được mộtbài tập mà thông qua đó nắm được nhiều bài tập nữa, học sinh không những nắmkiến thức một cách chắc chắn và sâu sắc mà còn làm tăng sự hứng thú, năng lực làmviệc độc lập, tích cực nhận thức của học sinh Vì ở đây học sinh vừa cố gắng hoànthành nhiệm vụ cho mình bằng cách tự đặt ra các đề bài tập Lúc này giáo viên chỉđóng vai trò làm trọng tài và cố vấn là chủ yếu.
- Tuy nhiên, trong các giờ dạy bài tập không nên phức tạp bài toán quá nhiều
và mất thời gian cho công việc này Chúng ta nên phân bố thời gian một cách hợp lý
để hoàn thành nhiệm vụ chữa bài tập, đó là củng cố kiến thức cũ, giúp học sinh nắmkiến thức mới, phát triển năng lực làm việc độc lập, tích cực nhận thức đồng thờigiúp học sinh nắm bắt thêm những dạng toán tương tự, những BTTH trên cơ sởnhững BTCB vừa chữa
1.2.4 Quy trình dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL
Dạy học một bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL thực hiện theo quytrình sau:
- Giáo viên xác định hệ thống BTCB của chương
+ Xác định nội dung kiến thức cơ bản của chương
+ Các phương trình biểu diễn
+ Lựa chọn BTCB
+ Mô hình hoá bài tập
- Học sinh giải BTCB (tập dượt để hiểu rõ và ghi nhớ kiến thức cơ bản)
- Giáo viên khái quát hoá phương pháp giải BTCB và phân tích bài tập các
dữ kiện a,b,c liên hệ với x bằng những phương trình, kiến thức cơ bản là
f(a,b,c) = f Nắm được phương trình này sẽ giải quyết được hàng loạt bài tập khác
- Giáo viên phát triển bài tập bằng cách hoán vị giả thiết, kết luận để đượcBTCB có độ khó tương đương
- Giáo viên yêu cầu học sinh phát triển bài tập theo hướng 1 (làm theo mẫu)bằng ngôn ngữ nói Điều này có tác dụng tốt trong việc học sinh nắm vững kiếnthức cơ bản và bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ nói cho học sinh
Trang 30- Giáo viên phát triển BTCB theo hướng phát triển giả thiết hoặc phát triển
kết luận, giáo viên có thể phân tích: nếu trong BTCB không cho a mà cho a 1 , a 2 , a 3
(a liên hệ với a 1 , a 2 , a 3 bằng kiến thức cơ bản mà học sinh đã học) thì các em cógiải được không ? Từ đó em hãy đặt lại vấn đề bài tập đã cho, các em học sinh khá
có thể tham gia xây dựng bài mới
Trang 311.2.5 Quy trình thiết kế bài học BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL
Thiết kế BTVL theo lý thuyết phát triển DHVL thực hiện theo các quy trình sau:
+ Hoạt động 1: Yêu cầu học sinh giải các bài tập cơ bản; phân tích các bàitập cơ bản Sau đó mô hình hoá bài tập cơ bản để xác định dự kiện, ẩn số phát triểnbài tập theo phướng án 1(hoán vị BT) Học sinh tự đặt BT theo phương án 1và giảicác BT theo phương án 1
+ Hoạt động 2: GV phát triển BT theo phương án 2 và tường minh quá trìnhgiải BT Học sinh đặt BT và HS phát triển đề bài tập theo phương án 2 và giải BTmới GV cho HS làm tương tự đối với đối với BTCB khác theo phương án 2
+ Hoạt động 3: Giáo viên phát triển BT theo phương án 3 và tường minh quátrình giải và yêu cầu HS phát triển BT theo phương án 3 và giải BT Cho HS làmtương tự thêm một số bài tập khác
Với một số HS khá có thể phát triển BT theo phương án 3 (hoạt động 3),phương án 4 (hoạt động 4) Với mỗi hoạt động giáo viên phát triển BT, tường minhquá trình giải HS đặt bài tập và phát triển BT theo phương án tương ứng và giải BT
1.2.6 Cấu trúc bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL
Bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL với mục tiêu:
Ngoài việc củng cố lí thuyết có liên quan; hình thành kỹ năng giải BT thì họcsinh còn có kỹ năng tự đặt BT và tự giải BT theo các phương án khác nhau tuỳthuộc vào đối tượng HS Đối cới HS trung bình phát triển BT theo phương án 1,phương án 2, đến phương án 3 Đối với HS khá giỏi phát triển BT đến phương án 4,phương án 5
Vì vậy giải BT gồm các giai đoạn như sau:
* Hoạt động 1: Giải BT cơ bản
Trang 32- GV: Giới thiệu BTCB.
- HS: Giải BTCB
* Hoạt động 2: Phát triển BT theo phương án 1
- GV: Mô hình hoá BTCB nêu câu hỏi định hướng để HS phát triển BTCBtheo phương án 1
- HS: giải BT đó
* Hoạt động 3: Chứng kiến quá trình phát triển BT theo phương án 2 và giải
BT mới
- GV: Tường minh quá trình suy nghĩ để giải BT theo phương án 2
- HS: Phát triển BT mới theo phương án 2 và giải BT
* Hoạt động 4: Chứng kiến quá trình phát triển BT theo phương án 3(phương án 4) và giải BT mới
- GV: Tường minh quá trình suy nghỉ để giải BT theo phương án đó
- HS: Xây dựng BT mới theo phương án và giải BT
Tuỳ thuộc vào đối tượng cụ thể mà có thể phát triển BT đến phương án 3, hay pháttriển BT đến phương án 4, 5
* Hoạt động 5: Tổng kết bài học
Bài học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL cần chú ý:
- Nội dung kiến thức cơ bản
- Kĩ năng xây dựng BT mới từ BT đã cho
1.2.7 Các hình thức dạy học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL
1.2.7.1 Bài học luyện tập giải bài tập
GV đưa ra BTCB, yêu cầu học sinh giải các bài tập cơ GV phân tích, môhình hoá BTCB cơ bản để xác định dự kiện, ẩn số và phát triển bài tập theophướng án 1(hoán vị BT) Học sinh tự đặt BT theo phương án 1 và giải các BTtheo phương án 1
Sau đó GV phát triển BT theo phương án 2 và tường minh quá trình giải BT.Học sinh đặt BT và HS phát triển đề bài tập theo phương án 2 và giải BT mới GVcho HS làm tương tự đối với đối với BTCB khác theo phương án 2
Trang 331.2.7.2 Bài học ôn tập tổng kết
Trong tiết ôn tập tổng kết giải bài tập cần sử dụng các bài tập cho phép kháiquát hoá nội dung các bài tập giúp học sinh nắm vững kiến thức đã học, khắc sâuthêm kiến thức, hệ thống hoá các khái niệm, các công thức, các định luật để từ đó
áp dụng chúng
Các bước tiến hành tương tự như hình thức luyện tập giải bài tập nhưng ở đâykhông chỉ dừng lại ở việc phát triển BT đến phương án 2 mà có thể phát triển BTtheo phương án 3, phương án 4, phương án 5 Đặc biệt lưu ý từ BT cơ bản lớn saukhi phát triển BT thì tổng hợp được một chuỗi các BTCB khác trong chương
1.2.7.3 Bài học kiểm tra, đánh giá
Bài học kiểm tra đánh giá là hình thức để đánh giá mức độ nắm vững kiếnthức, khả năng vận dụng kiến thức của học sinh Thông qua các bài tập cơ bản vàphát triển BTCB theo lý thuyết phát triển DHVL có thể kiểm tra được: mức độ nắmvững kiến thức; kiểm tra được kĩ năng phát triển BT; kĩ năng thiết kế BT
1.2.7.4 Tự học ở nhà
Thông các bài tập luyện tập ở lớp, học sinh có thể tự học ở nhà để củng cốthêm kiến thức đã học Các em về nhà có thể giải BT tương tự như mà giáo viên đãhướng dẫn Đồng thời về nhà các em tự đặt bài tập: tự đặt BTCB, sau đó đặt các BTtheo hướng phát triển bài tập lần lượt theo các phương án 1, phương án 2 phương án
3, phương án 4, phương án 5 và tự giải BT
1.2.7.5 Bài học tự chọn (bồi dưỡng HS khá giỏi, phụ đạo HS yếu)
Dạy học BTVL theo lý thuyết phát triển BTVL là hình thức hữu hiệu để pháthiện và tuyển trọn các học sinh khá giỏi về Vật lí để bồi dưỡng học sinh khá giỏi.Thông qua giải BTCB và phát triển bài tập theo các phương án của lý thuyết pháttriển bài tập có thể phụ đạo thêm cho học sinh yếu kém thông qua PA1, phát triểnbài tập theo PA3, PA4, PA5 có mức độ khó tăng dần lên, bồi dưỡng học sinh khágiỏi Để giải bài tập đòi hỏi học sinh phải đề xuất các phương án giải hay, hoặcnhiều cách giải và thực hiện các phương án đó Bồi dưỡng học sinh giỏi theo quytrình sau:
GV đưa ra mô hình BTCB, yêu cầu học sinh đặt đề bài tập cho BTCB và giảibài tập đó
Trang 34GV phân tích, mô hình hoá BTCB cơ bản để xác định dự kiện, ẩn số và pháttriển bài tập theo phương án 3, tường minh quá trình giải BT Học sinh đặt BT và
HS phát triển đề bài tập theo phương án 3 để được BT mới ở mức độ khó và giải BTmới
Sau đó, GV phát triển BT theo phương án 4 và tường minh quá trình giải BT.Học sinh đặt BT và HS phát triển đề bài tập theo phương án 4 và giải BT mới Cuối cùng GV phát triển BT theo phương án 5 và tường minh quá trình giải
BT Học sinh đặt BT và HS phát triển đề bài tập theo phương án 5 và giải BT mới
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong quá trình DHVL, các BTVL có tầm quan trọng đặc biệt Chúng được
sử dụng theo các mục đích khác nhau BTVL được hiểu là một vấn để đặt ra đòi hỏiphải giải quyết nhờ những suy nghĩ lôgic, những phép toán và thí nghiệm trên cơ sởđịnh luật và các phương pháp vật lí BTVL có vai trò quan trọng trong DHVL: làphương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức mới cho học sinh ở nhữnglớp trên của bậc trung học phổ thông với trình độ toán học đã khá phát triển; là mộtphương tiện ôn tập, đào sâu, củng cố và mở rộng kiến thức; là một phương tiện giúphọc sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thóiquen vận dụng kiến thức khái quát; là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệttrong rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinhgiải bài tập; là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh; là một phươngtiện có hiệu quả để giáo dục tình yêu lao động, tinh thần tự lập, ý chí kiên trì vượtkhó cho học sinh; là một phương tiện để kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh
BTVL rất phong phú và đa dạng, có thể là bài tập định tính, có thể là bài tập
tính toán, có thể là bài tập thí nghiệm, có thể là bài tập đồ thị.
BTVL trong DHVL có vai trò hết sức quan trọng, việc sử dụng chúng lạicàng quan trọng hơn Cần phải nâng cao hiệu quả một giờ dạy vật lí và đặc biệtnâng cao hiệu quả của BTVL vừa chữa thì chúng ta cần phải làm sao trong giờ dạyBTVL học sinh không nhàm chán, phát hiện được đối tượng học sinh khá giỏi Điều
đó cho thấy cần vận dụng lý thuyết phát triển BTVL trong DHVL
Trang 35Phát triển BTCB thành BTTH làm cho học sinh không chỉ nắm được một bàitập mà thông qua đó nắm được nhiều bài tập nữa, học sinh không những nắm kiếnthức một cách chắc chắn và sâu sắc mà còn làm tăng sự hứng thú, năng lực làm việcđộc lập, tích cực nhận thức của học sinh Vì ở đây học sinh vừa cố gắng hoàn thànhnhiệm vụ cho mình bằng cách tự đặt ra các đề bài tập Lúc này giáo viên chỉ đóngvai trò làm trọng tài và cố vấn là chủ yếu.
Phát triển BTVL vừa thực hiện tốt chức năng vai trò của BTVL, vừa góp phầnphát triển năng lực tư duy, tư duy logíc, tư duy biện chứng, tư duy sáng tạo của họcsinh, vừa phát triển năng lực diễn đạt ngôn ngữ cũa HS Việc học sinh tự đặt các đềbài tập để phát triển BTVL (sáng tạo các bài tập mối trên cơ sở BTCB) là biện phápbiến học sinh từ thụ động giải bài tập thành chủ động giải BT và hệ thống hoá BT,biến học thành tự học, hạn chế việc học sinh đến các lớp học thêm, lò luyện thi vừatốn công sức tiền của vừa không phát huy năng lực tự học của học sinh
Vậy thông qua việc phát triển BTVL kiến thức của học sinh không nhữngđược nâng cao mà học sinh chủ động đề xuất các vấn đề giải quyết, phát huy tính tựhọc, khơi dậy được tính tích cực tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng dạyhọc bộ môn vật lý nói riêng và trong dạy học nói chung
Trang 36Chương 2 DẠY HỌC BÀI TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”
THEO LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN BTVL
2.1 Vị trí, đặc điểm của chương “Dòng điện xoay chiều”
2.1.1 Vị trí
Chương “Dòng điện xoay chiều” có vai trò rất quan trọng trong chương trìnhVật lí phổ thông Các ứng dụng của điện xoay chiều trong cuộc sống rất phong phú,khi nắm vững các kiến thức về điện xoay chiều thì HS mới giải thích được một sốhiện tượng, quá trình vật lí diễn ra xung quanh ta Ngoài ra các em còn có thể vậndụng kiến thức của điện xoay chiều phục vụ cuộc sống
Chương trình Vật lí 12 chương trình Chuẩn lần lượt gồm: dao động cơ, sóng
cơ, dòng điện xoay chiều, dao động và sóng điện từ, sóng ánh sáng, lượng tử ánhsáng, hạt nhân nguyên tử, từ vi mô đến vĩ mô Trong đó lý thuyết chiếm 43 tiết,thực hành chiếm 6 tiết, bài tập chiếm 17 tiết, kiểm tra chiếm 4 tiết
Chương “Dòng điện xoay chiều” thuộc chương 3 của chương trình vật lí 12ban cơ bản, được đặt sau chương “Dao động cơ học” và sau khi học xong dòngđiện không đổi lớp 11 Việc sắp xếp này là hợp lý, thuận tiện cho giáo viên vàđảm bảo được việc tận dụng tối đa những tri thức về dao động cơ học để khảo sátdao động điện Đó là những kiến thức nền tảng để HS có thể học chương “Dòngđiện xoay chiều”
Mặt khác so với các phần kiến thức còn lại thì số tiết phân bố cho chương
“Dòng điện xoay chiều” trong chương trình là khá nhiều, chiếm 15 tiết Điều đócho thấy rằng kiến thức về “Dòng điện xoay chiều” là hết sức quan trọng, là mộttrong những phần kiến thức trọng tâm trong chương trình Vật lí 12
Những kiến thức cơ bản của chương “Dòng điện xoay chiều” có ứng dụngrất lớn trong kỹ thuật và đời sống Trong kỹ thuật dựa vào nguyên lý hoạt động củamáy điện mà ngành kỹ thuật chế tạo ra nhiều loại máy để phục vụ cho khoa học vàđời sống
Vì thế khi giảng dạy chương này cần phải tổ chức cho học sinh biết liên hệ tớinội dung liên quan ở các bài học khác, không nên độc lập tách rời nội dung của các
Trang 37tiết dạy và phải làm cho các em hiểu được nguyên lý hoạt động của các loại máy vàứng dụng của nó trong đời sống Điều này góp phần giáo dục kỹ thuật tổng hợp chohọc sinh.
2.1.2 Đặc điểm của chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 THPT
Chương “Dòng điện xoay chiều” là một trong những chương trọng tâm củachương trình Vật lí 12 THPT Kiến thức của chương này sự kế thừa và kếthợp những kiến thức cơ bản của “Dao động cơ học” và “Dòng điện khôngđổi”.Vì vậy, nội dung kiến thức của chương rất trừu tượng Để tiếp thu tốtnhững kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” đòi hỏi HS phải có những hiểubiết cơ bản về dao động cơ học, đặc biệt là dao động điều hòa, bên cạnh đó HS cần
ôn tập lại một số kiến thức liên quan đến dòng điện không đổi mà điển hình làcường độ dòng điện, điện áp và công suất
Trong chương trình Vật lí 12 ban cơ bản, phần “Dòng điện xoay chiều”được mở đầu bằng việc trình bày đại cương về dòng điện (khái niệm dòngđiện, nguyên tắc cơ bản để tạo ra dòng điện xoay chiều, các giá trị hiệu dụng.Sau đó đến các đặc tính của mạch điện chỉ có điện trở thuần R, chỉ có cuộndây thuần cảm L, chỉ có tụ điện Sau đó đến khảo sát những đặc tính của dòngđiện xoay chiều trong đoạn mạch nối tiếp RLC Theo sau đó, công suất củadòng điện xoay chiều lại được trình bày như là một phần bổ sung hoàn chỉnhcho những lý thuyết cơ bản về điện xoay chiều Những kiến thức cơ bản vềmáy phát điện xoay chiều, động cơ không đồng bộ, máy biến áp và sự truyềntải điện năng được trình bày sau cùng nhằm nhấn mạnh vai trò quan trọng củacác máy điện trong thực tế
Tuy kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” có tính trìu tượng caonhưng những nó lại hết sức gần gủi, sát với thực tế đời sống, có nhiều ứng
dụng trong khoa học - kỹ thuật và mang lại những hỗ trợ tích cực cho cuộc
sống Khi dạy chương này, bên cạnh việc hướng dẫn các em tiếp thu kiến thứcthật tốt thì mặt khác luôn có biện phát kích thích hứng thú học tập, luôn gắnbài học với thực tiễn cuộc sống xung quanh Từ đó hình thành cho các em kĩnăng tư duy, năng lực sáng tạo, phương pháp và kĩ thuật khoa học đáp ứngđược những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai
Trang 382.2 Mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng
Mục tiêu dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lí 12 THPT là:
Về kiến thức
- Viết được biểu thức của cường độ dòng điện và điện áp tức thời
- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính giá trị hiệu dụng củacường độ dòng điện và của điện áp xoay chiều
- Viết được công thức tính dung kháng, cảm kháng và tổng trở của đoạnmạch có R, L, C mắc nối tiếp và nêu được đơn vị đo các đại lượng này
- Viết được hệ thức của định luật Ôm đối với các đoạn mạch xoay chiềuthuần điện trở, thuần cảm kháng, thuần dung kháng và đối với đoạn mạch RLC nốitiếp
- Nêu được độ lệch pha giữa dòng điện và điện áp tức thời đối với các đoạnmạch xoay chiều thuần điện trở, thuần cảm kháng, thuần dung kháng và chứngminh được các độ lệch pha này
- Viết được công thức tính độ lệch pha giữa dòng điện và điện áp tức thời đốivới các đoạn mạch RLC nối tiếp và nêu được trong trường hợp nào thì dòng điện trễpha, sớm pha so với điện áp
- Viết được công thức tính công suất và hệ số công suất của đoạn mạch RLCnối tiếp
- Nêu được lí do tại sao phải tăng hệ số công suất ở nơi tiêu thụ điện
- Nêu được điều kiện và các đặc điểm của hiện tượng cộng hưởng điện đốivới đoạn mạch RLC nối tiếp
- Nêu được hệ thống điện ba pha là gì Trình bày được nguyên tắc hoạt động
và cấu tạo của các máy phát điện, động cơ điện xoay chiều ba pha, máy biến áp
Về kĩ năng
- Vận dụng được các công thức tính cảm kháng, dung kháng và điện kháng
- Vẽ được giản đồ Fre-nen cho đoạn mạch nối tiếp RLC
- Giải được các bài tập về đoạn mạch RLC nối tiếp
- Giải thích được nguyên tắc hoạt động của máy phát điện xoay chiều, động
cơ điện xoay chiều ba pha và máy biến áp
Trang 39- Vẽ được đồ thị biểu diễn hệ thống dòng điện ba pha, sơ đồ biểu diễn cáchmắc hình sao và cách mắc hình tam giác đối với hệ thống dòng điện ba pha.
- Giải được các bài tập về máy biến áp lí tưởng
- Tiến hành các thí nghiệm để khảo sát đoạn mạch RLC nối tiếp
2.3 Nội dung dạy học chương “Dòng điện xoay chiều”
2.3.1 Các đơn vị kiển thức cơ bản của chương “Dòng điện xoay chiều”
1) Nguyên tắc tạo ra dòng điện xoay chiều
2) Mạch điện xoay chiều chỉ có điện trở thuần, tụ điện, cuộn cảm
* Mạch điện xoay chiều chỉ có điện trở thuần.
- Hiệu điện thế xoay chiều có dạng: u = U0cost
- Áp dụng định luật Ôm như đối với dòng điện không đổi
Trang 403) Mạch điện xoay chiều ghép nối tiếp
- Định luật Ơm: I = U Z với Z R2 (Z L Z C)2 gọi là tổng trở
- Độ lệch pha giữa điện áp và dịng điện: tan =
R
C L
4) Cộng hưởng điện: Trong mạch RLC ghép nối tiếp, hiện tượng cộng
hưởng điện xảy ra khi =
C L.
1
(hay ZL = ZC) Khi đĩ: Zmin = R, Imax, Pmax
5) Cơng suất của dịng điện xoay chiều Hệ số cơng suất
Cơng suất trung bình: P = p = U.I.cos Hệ số cơng suất: cos = U U R = Z R
6) Máy phát điện xoay chiều
- Nguyên tắc hoạt động: Dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ.
- Máy phát điện xoay chiều: một pha, ba pha.
- Động cơ khơng đồng bộ ba pha
7) Máy biến áp
a Định nghĩa: Máy biến áp là thiết bị cĩ khả năng biến đổi điện áp (xoay chiều).
b Cấu tạo: Gồm 2 cuộn dây dẫn (cuộn sơ cấp và cuộn thứ cấp) cĩ số vịng
khác nhau, quấn cách điện trên một lõi chung bằng sắt kĩ thuật điện (gồm nhiều lá sắt mỏng cĩ pha silic ghép cách điện với nhau)
c Nguyên tắc hoạt động: dựa vào hiện tượng cảm ứng điện từ.
d Hoạt động: Nối 2 đầu cuộn sơ cấp vào mạng điện xoay chiều Dịng xoay
chiều chạy trong cuộn sơ cấp gây ra từ thơng biến thiên trong hai cuộn, làm xuấthiện trong cuộn thứ cấp một suất điện động xoay chiều Nếu mạch thứ cấp kín thì cĩdịng điện chạy trong cuộn thứ cấp
e Cơng thức máy biến áp:
1
2 2
1 1
2
N
N I
I U
U
8) Truyền tải điện
Trong quá trình truyền tải, do trên đường dây cĩ điện trở tổng cộng là r nên
nĩ sẽ gây ra một cơng suất hao phí do tỏa nhiệt: Php = r.I2 = r 2
phát
2 phát
áp tăng điện áp Uphát ở nơi phát điện (và giảm điện áp ở nơi tiêu thụ)