Tuy vậy, ngời nghiêncứu cũng đã rút ra những kết luận cần thiết nhằm hớng dẫnhoạt động dạy học kịch: "Vấn đề khó nhất đối với kịch đram là phần diễn trên sân khấu, còn với kịch bản văn h
Trang 1Mở đầu
I - Lý do chọn đề tài
1- "Tôi tiếp nhận kịch nh một nghệ thuật của hìnhbóng…"(Thomas Mann) Là một thể loại văn học ra đời từ rấtsớm, bên cạnh tự sự và trữ tình, kịch làm cho đời sống vănhọc trở nên phong phú hơn Khi sáng tác hay tiếp nhận kịch,chúng ta đều đứng trớc một nghịch lý lạ lùng: vừa bị hút vào,vừa bị đẩy ra Ju.Olesha đã khái quát "Kịch là một sự thửthách nghiêm ngặt và sự bay bổng của tài năng là thử tháchcủa cảm giác hình thức và tất cả những cái độc đáo lạ lùnglàm thành tài năng " [ 101, 13] Cũng với ý tởng đó, Bunis đãphát biểu: "Đành phải nén t tởng vào những hình thức chínhxác Nhng chính đó lại là chỗ hấp dẫn " [ 101, 13] Nh vậy, sovới tự sự và trữ tình, kịch là một thế giới hấp dẫn nhngkhông dễ gì chiếm lĩnh đợc
2- Hiện nay, kịch đã đợc đa vào trờng phổ thông ở cảhai cấp học THCS và THPT Học sinh THCS chủ yếu đợc họckịch dân gian (chèo, tuồng); còn THPT thì học kịch hiện
đại Nhng việc dạy học kịch hiện nay ở phổ thông còn nhiềuhạn chế Thứ nhất tác phẩm đa vào chơng trình quá ít, chủyếu học sinh PTTH chỉ đợc học kịch bản văn học nớc ngoài;thứ hai, về phơng pháp dạy học, rất nhiều giáo viên cha đợcphân biệt đợc phơng pháp dạy học kịch với phơng pháp dạyhọc tự sự
3- Sở dĩ có những hiện tợng trên một phần là do hiệnnay việc nghiên cứu về phơng pháp dạy học kịch bản văn học
Trang 2cha đợc chú trọng, vì thế, dạy học kịch trở thành mảnh đấtquen mà lạ đối với giáo viên và học sinh.
Luận văn của chúng tôi ra đời nhằm góp một phần nhỏvào việc tháo gỡ sự bế tắc đó của việc nghiên cứu phơngpháp dạy học kịch bản văn học trong nhà trờng phổ thônghiện nay
Trang 3Đầu tiên cần kể đến bài viết có tên gọi là Kịch và giảng dạy kịch của Huỳnh Lý, in trong cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (Nxb Giáo dục, 1971) Đây là công
trình mở đầu cho việc nghiên cứu phơng pháp dạy học kịchbản văn học Sau khi đã trình bày tơng đối có hệ thống về
các khái niệm nh kịch, hành động, kịch tính, ngôn ngữ…
đồng thời khái quát đợc quá trình phát triển kịch nói ở ViệtNam và giới thiệu những vở kịch đợc học trong chơng trìnhcấp III trớc đây, tác giả đã nêu đợc nhiều gợi ý quý báu về ph-
ơng pháp dạy học kịch Tác giả viết: "… Thầy giáo, tức là mộtnhà phê bình, phải nắm những đặc thù của diễn xuất ởmức độ nhất định mới giảng dạy kịch tốt đợc " 239, 6 ở
đây tác giả đã lu ý chúng ta dạy học kịch bản văn học từ gócnhìn sân khấu, nghĩa là đề cao tính chất biểu diễn trongdạy học để làm giờ học sinh động Tác giả gợi ý: "ở cấp III, dùchỉ giảng văn một đoạn trích cũng phải liên hệ và khuyếnkhích học sinh đọc trọn tác phẩm; đối với kịch thì nênkhuyến khích xem diễn" 276, 6 ở đây, tác giả đã đa rabiện pháp khắc phục mặt hạn chế của việc học trích đoạnkịch đồng thời đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động
đọc - một hoạt động cơ bản trong cơ chế tiếp nhận văn học
Trang 4và đặt biệt đã nêu sự cần thiết của việc cho học sinh xemcác buổi diễn kịch.
Với công trình này, tác giả chủ yếu nghiên cứu kịch bảnvăn học về mặt lí luận chứ cha đi sâu vào việc dạy họckịch Về phơng pháp, tác giả mới chỉ dừng lại ở những "lu ý,
"chú ý”, “gợi ý” có tính chất mở đầu
Công trình thứ hai là cuốn Dạy học tác phẩm văn chơng theo loại thể (Nguyễn Viết Chữ, Nhà xuất bản ĐHQGHN,
2001) Trong cuốn sách này tác giả chú trọng nhiều hơn đếnphơng pháp dạy học hai thể loại tự sự và trữ tình, còn đối vớikịch thì tác giả lại bàn rất ít, chỉ khoảng hơn một trangtrong tổng số 203 trang của cuốn sách Tuy vậy, ngời nghiêncứu cũng đã rút ra những kết luận cần thiết nhằm hớng dẫnhoạt động dạy học kịch: "Vấn đề khó nhất đối với kịch
đram là phần diễn trên sân khấu, còn với kịch bản văn học
là phân tích cho đợc mâu thuẫn, khởi đầu, diễn biến vàkết thúc…", hay: "… trong quá trình phân tích kịch bản vănhọc nên thờng xuyên lu ý liên hệ tới kịch đram (sự thể hiệncủa nó trên sân khấu)", "… có thể hoạt động liên môn xemtrích đoạn trớc khi nghiên cứu kịch bản văn học”, "Trong quátrình dạy học kịch bản có thể sử dụng đọc thể hiện phânvai, kết hợp với những câu hỏi hình dung tởng tợng tái tạo vàonhững tình huống gay go nhất, có phẩm chất t tởng nghệthuật cao nhất Kết hợp phơng pháp đọc sáng tạo với nghiêncứu, có thể so sánh với các loại kịch trờng để hiểu kịch bảnvăn học mà ta đang nghiên cứu “145, 2
Những nhận xét trên của Nguyễn Viết Chữ tuy xác đángnhng thiếu sự chỉ dẫn cụ thể và cha toàn diện Đọc bài viết
Trang 5này chúng tôi có cảm giác tác giả hình nh không muốn khơisâu tìm hiểu về vấn đề dạy học kịch bản trong nhà trờng.
III - Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chính tên gọi đề tài (Một số vấn đề về phơng pháp dạy học kịch bản văn học trong trờng phổ thông) đã nói rõ phạm
vi nghiên cứu của luận văn: nghiên cứu kịch bản văn học dớigóc độ của phơng pháp dạy học Tuy nhiên, trong luận vănnày mới chỉ là những khám phá mở đầu đơn giản
Thuật ngữ "kịch " mà chúng tôi dùng ở đây là chỉ kịchbản văn học - tức là văn bản ngôn từ mà nhà văn sáng tác, baogồm lời thoại của nhân vật và các chú thích sân khấu - nhmột kế hoạch đã vạch sẵn ở đây cần phân biệt kịch bảnvăn học với kịch bản của sân khấu điện ảnh; hay kịch bảnvăn học với "vở kịch"
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu phơng pháp dạy học kịchbản văn học chủ yếu trong phạm vi nhà trờng THPT Nóicách khác, đê tài chỉ đa ra phơng pháp dạy học kịch hiện
đại, còn kịch dân gian và kịch thơ do chỉ có mặt ở chơngtrình văn học THCS, vì thế chúng tôi cha có điều kiệnnghiên cứu
IV - Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trong xu thế đổi mới phơng pháp dạy học nói chung và
đổi mới phơng pháp dạy học văn nói riêng, việc nghiên cứuphơng pháp dạy học kịch bản văn học là một việc làm thiếtthực và bổ ích Thiết lập một quan điểm dạy học kịch bảnvăn học với cái nhìn hiện đại - đó là một yêu cầu cấp báchtrong giai đoạn hiện nay Mục đích lớn nhất của đề tàichúng tôi là xây dựng đợc hệ thống phơng pháp, biện pháp
Trang 6dạy học kịch bản văn học có hiệu quả, dựa trên những hiểubiết về loại thể văn học, từ đó xây dựng những mô hìnhthiết kế thử nghiệm dạy học một kịch bản văn học có trongchơng trình văn học THPT
V - Phơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng những phơng phápnghiên cứu sau:
1- Phơng pháp so sánh - đối chiếu: tự sự, trữ tình, kịch
là ba loại cơ bản của văn học, tồn tại song song và có mối liên
hệ gần gũi với nhau, nhng mỗi thể loại có những đặc trngriêng Vì thế cần so sánh kịch với tự sự, trữ tình để thấy
đợc những đặc trng riêng biệt của kịch qua đó đề ra đợcphơng pháp dạy học kịch phù hợp với đặc điểm loại thể
Mặt khác, cần so sánh kịch nói hiện đại với kịch dângian (chèo, tuồng) để thấy đợc sự phát triển của kịch hiện
đại và sự tiếp thu giá trị truyền thống của nó
Do luận văn ra đời trong thời điểm chơng trình ngữvăn tích hợp đang đợc dự thảo, còn chơng trình chỉnh lýhợp nhất năm 2000 vẫn còn đợc sử dụng nên chúng tôi muốn
đối sánh hai chơng trình để rút ra những nhận xét cầnthiết
2- Phơng pháp thống kê
3- Phơng pháp liên ngành: luận văn của chúng tôi sử dụngnhững thành tựu và phơng pháp nghiên cứu của nhiều ngànhkhoa học khác nh: lý luận văn học, triết học, giáo dục học, ph-
ơng pháp dạy học văn…
VI- Cấu trúc của luận văn.
Trang 7Ngoài các phần Mở đầu, Phụ lục, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung gồm 3 chơng nh sau:
Chơng 1- Những đặc trng cơ bản của kịch bản văn học
2.1- Chơng trình dạy học kịch bản văn học trong nhà ờng phổ thông
3.1- Nhóm phơng pháp cắt nghĩa sâu nhằm làm sáng rõgiá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
3.1.1- Phơng pháp đọc diễn cảm - đọc phân vai trongdạy học kịch
3.1.2- Xác định hành động kịch trớc và sau đoạn trích
đợc học - một hoạt động tóm tắt cốt truyện kịch
Trang 83.1.3- Phơng pháp gợi mở, đặt câu hỏi xoay quanh xung
đột trung tâm, hành động trung tâm và nhân vật trungtâm
3.1.4- Phơng pháp giảng bình trong kịch
3.2- Nhóm phơng pháp, biện pháp tổ chức hình thức dạyhọc nhằm tạo ra giờ học kịch sinh động
Trang 9Nội dung
Chơng 1 : Những đặc trng cơ bản của kịch bản văn
học 1.1- Khái niệm
Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học ( Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi ), thuật ngữ kịch đợc dùng ở haicấp độ: cấp độ loại hình và cấp độ loại thể
ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba loại cơ bản củavăn học (kịch, tự sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừathuộc văn học Nó đợc sáng tác ra vừa để diễn lại vừa để
đọc Kịch bản chính là phơng diện văn học của kịch Songnói đến kịch phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu củacác diễn viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ và lời nói
ở cấp độ loại thể, thuật ngữ kịch (dram) đợc dùng đểchỉ một thể loại văn học - sân khấu có vị trí tơng đơng với
bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này, kịch cũng đợc gọi làchính kịch (hoặc kịch đram) Cũng giống nh hài kịch, kịchtái hiện cuộc sống riêng của con ngời bình thờng nhng mục
đích không phải là cời nhạo, chế diễu các thói h tật xấu mà
là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịchtính đối vơí xã hội và cũng giống nh bi kịch, kịch tái hiệnnhững mâu thuẫn gay gắt, song những xung đột của nókhông căng thẳng đến tột độ, không mang tính chất vĩnhhằng và về nguyên tắc có thể giải quyết đợc ổn thoả Còncác tính cách của kịch không có gì đặc biệt phi thờng
42,8
Trang 10Aritstote trong cuốn Nghệ thuật thơ ca đã xác định
bản chất của kịch: "Là sự mô phỏng một hành động quantrọng và trọn vẹn có một quy mô nhất định, [sự mô phỏng]
đó nhờ vào ngôn ngữ - Ngôn ngữ này trong mỗi phần có sựtrau chuốt khác nhau; bằng hành động chứ không phải quacác câu chuyện kể, bi kịch*, qua cách [khêu gợi lên] sự xót th-
ơng và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc các cảm xúc đó" 1,34.Trên cơ sở lý luận văn học hiện đại, Huỳnh Lý cũng đồngtình với quan điểm của Aritstote và đa ra khái niệm vềkịch nh sau: "Kịch là sự tái hiện nghệ thuật hoá (chứ khôngphải bắt chớc, rập khuôn, khôi phục một cách tự nhiên) một
sự kiện cho rằng đã xẩy ra bằng cách tái hiện các nhân vậttrong những quan hệ giữa họ với nhau, với hành động và lờinói của nhân vật, khiến khán giả có cảm giác là mình nghethấy và nghe trực tiếp chứ không thông qua ngôn ngữ củamột "ngời thứ ba" diễn thuật "214, 6
Tóm lại, kịch là một nghệ thuật tổng hợp vừa thuộc vănhọc vừa thuộc sân khấu, nó là nghệ thuật tổng hợp các loạihình nghệ thuật khác: hội hoạ, kiến trúc, âm nhạc, vũ đạo…Kịch còn là sự tổng hợp hai phơng pháp biểu hiện của vănhọc, phơng pháp tự sự và trữ tình: "Kịch là sự dung hợp củacác yếu tố đối lập của tính khách quan tự sự và tính chủquan trữ tình" (Bêlinxki) Bên cạnh đó, kịch còn là một loạihình nghệ thuật biểu diễn, nói nh nhà văn Nga Gôgôn:
"Kịch chỉ sống đời sống trọn vẹn trên sân khấu Nếu không
có sân khấu thì kịch giống nh ngời có tâm hồn mà không
có thể xác" Tuy nhiên, ở trong trờng phổ thông, do bị quy
định về mặt thời gian, không gian và các yếu tố khác trong
Trang 11cấu trúc của quá trình dạy học, kịch không đợc nghiên cứutrong đời sống trọn vẹn của nó và ngời ta chỉ dạy học kịchvới t cách là kịch bản văn học.
Kịch bản văn học là gì?
Kịch bản (dramaturgie) "Là cơ sở kết cấu cốt truyện củacác vỡ diễn và bộ phim Nó có thể có hoặc là hình thức kịchvăn học (một tác phẩm trong đó chủ yếu gồm các lời nói củacác nhân vật), hoặc là hình thức kịch bản (scenario) (mộttác phẩm trong đó bên cạnh lời nói của các nhân vật còn cóvai trò lớn của việc miêu tả những cái mà về sau khán giả sẽnhìn thấy trên sân khấu hoặc màn ảnh) Hình thức kịchbản có trong nghệ thuật điện ảnh - sân khấu kịch phầnnhiều dựa vào vở kịch do nhà văn học sáng tác, vở kịch nàysau sẽ đợc đạo diễn dựng vở chuyển thành kịch bản(scenaro) và sau đó chuyển thành vở diễn" 115,13
Kịch bản văn học khác với kịch bản điện ảnh, sân khấu.Nếu kịch bản điện ảnh gắn liền với hình tợng thị giác, tậptrung miêu tả các yếu tố thấy đợc của đối tợng thì kịch bảnvăn học lại biểu hiện nhân vật, hành động, xung đột, cốttruyện… qua ngôn ngữ của các nhân vật Kịch bản và vănhọc làm cơ sở để xây dựng tác phẩm điện ảnh và truyềnhình Có thể thấy rõ điều này khi chúng ta biểu diễn quan
điểm của G N Pospelov qua sơ đồ sau:
Kịch bản văn học Kịch bản điện ảnh
Vở kịch
(do nhà văn sáng tác) (đạo diễn) (Diễn viên)
Trang 12Kịch bản văn học là tác phẩm ghi lại lời nói của nhânvật Nhng vì nó còn là cơ sở cho vở diễn trên sân khấu, nên
nó không chỉ có lời nói của nhân vật mà còn có các yếu tố
khác nữa Do đó, kịch bản văn học là một kế hoạch, thể
hiện ở những chỉ dẫn sân khấu "Sự sắp xếp gặp gỡ củanhân vật, ghi tuổi tác, quan hệ giữa họ với nhau, địa điểmthời gian xẩy ra sự việc chính, bài trí, trang phục, những chúdẫn cần thiết về hành động thậm chí có tác giả cẩn thận,
sợ đạo diễn và diễn viên không đủ thông minh để qua lời nói
và nghiệm ra nhân vật phải làm gì, nên ghi cả những khicần phải cời, khóc, đau đớn, giận giữ, quát, đập bàn… nhvậy đúng kịch bản là một kế hoạch"242,6
Luận điểm trên là cơ sở để chúng tôi xác định đặc
tr-ng của kịch bản văn học đồtr-ng thời xác định phơtr-ng phápdạy học kịch bản văn học trong trờng phổ thông, về đặc tr-
ng của kịch bao gồm hai phần: phần đặc trng cơ bản vàphần phụ trợ Phần cơ bản bao gồm các yếu tố: xung đột,hành động, nhân vật, ngôn ngữ Phần phụ trợ bao gồm cácyếu tố: chú dẫn sân khấu (tuổi, số nhân vật trang phục, bàitrí, ánh sáng ); chú dẫn về hành động (cời, khóc, đau đớn,quát, giận giữ, đập bàn…) Nh vậy, dạy học kịch bản văn họctrong trờng phổ thông không chỉ là việc giúp các em hiểugiá trị nội dung - nghệ thuật của tác phẩm mà còn là việc dạycho học sinh hiểu về nghệ thuật biểu diễn (chí ít cũng phảigiúp cho các em tổ chức đợc giờ học kịch thực sự sinh động
và có màu sắc khác với giờ học thơ hay truyện) Từ nhận thứctrên, chúng tôi chia phơng pháp dạy học kịch bản văn họctrong trờng phổ thông ra làm hai nhóm: nhóm phơng pháp
Trang 13cắt nghĩa sâu nhằm làm sáng rõ nội dung t tởng của tácphẩm và nhóm phơng pháp tổ chức hoạt động cho học sinhnhằm tạo ra giờ học kịch sinh động.
1.2- Đặc trng của kịch bản văn học
1.2.1- Xung đột kịch.
Theo nghĩa chung nhất xung đột kịch đó là "Sự đốilập, sự mâu thuẫn, đợc dùng nh một nguyên tắc để xâydựng các mối quan hệ tơng tác giữa các hình tợng của tácphẩm nghệ thuật"638, 8
Xung đột kịch là những mâu thuẫn tồn tại trong hiệnthực đã đạt đến một giai đoạn phát triển nhất định và bộc
lộ rõ bản chất cuả cuộc sống đợc biểu hiện rõ nhất qua tínhchất căng thẳng của các quan hệ trong hệ thống nhân vật
và có khi trong chính quan điểm của nhân vật
Ví dụ: vở Âm mu và tình yêu của Sile là một vở kịch lôi
cuốn ngời xem từ đầu đến cuối, có nhiều nguyên nhân
nh-ng cái làm nên sức mạnh to lớn của vở kịch chính là tác giả đãxây dựng đợc những xung đột kịch gay cấn căng thẳng tạo
ra cho ngời đọc, ngời xem những hình dung về số phận củanhân vật qua đó thấy đợc những phẩm chất đáng quý củanhân vật chính diện là Phecđinăng, cha con nhạc côngMile… đồng thời cũng thấy đợc bản chất tàn ác của giai cấpthống trị - tập đoàn phong kiến đứng đầu là quan tể tớngVante Xung đột chính trong vở kịch là cuộc đấu tranhkhông khoan nhợng giữa hai hệ ý thức tiêu biểu cho thời đạicủa Sile Phecđinăng - là con trai của tể tớng - đại diện cho
hệ thức mới, tiến bộ, đòi tự do dân chủ, trong khi Van te,Vuôm, Kabơ là những kẻ đối lập ,với bản chất bảo thủ, ngoan
Trang 14cố bảo vệ chế độ phong kiến mục ruỗng ở Đức và hệ t tởngphản tự do, dân chủ, phản nhân văn của chế độ này.
* Xung đột là đặc trng cơ bản của kịch
"Trong kịch cái đợc đề lên hàng đầu nhất thiết phải lànhững hoàn cảnh đời sống có gắn với những sự đối khángmâu thuẫn, va chạm nào đó" Phađêep cũng từng khẳng
định: "Xung đột là cơ sở của kịch"
Nói điều đó không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn yếu
tố xung đột trong các thể loại khác Với thơ ca, trong sự vận
động hình tợng nghệ thuật cũng bộc lộ mâu thuẫn giữanhững trạng thái tình cảm khác biệt của cảm xúc: vui -buồn; hạnh phúc - đau khổ Trong tác phẩm tự sự nh tiểuthuyết, truyện cời, truyện ngắn, các yếu tố mâu thuẫn tồntại ngay trong sự vận động của cốt truyện và trong sự pháttriển của các tính cách nhân vật Nhng ở kịch, yếu tố xung
đột mang một sắc thái thẩm mĩ khác Sự khác biệt ấy
chính là tính chất tập trung cao độ của xung đột kịch, sự
chi phối trực tiếp đến cấu trúc tác phẩm, đến nhịp độ vận
động dồn dập khác thờng của cốt truyện
Thực vậy, xung đột là động lực thúc đẩy sự phát triểncủa các hành động kịch nhằm xác lập nên những quan hệmới giữa các nhân vật vốn đợc coi là kết thúc tất yếu củatác phẩm kịch Thiếu xung đột tác phẩm kịch sẽ mất đi
đặc trng cơ bản đầu tiên của thể loại sẽ trở thành vô nghĩahoặc chỉ có thể là "những vở kich tồi" Gơt trong bức th gửicho Sile đã nhận xét: Đối với kịch các duyên cớ liên tục đẩyhành động đi tới là đặc trng nổi bật hơn hẳn so với tự sự.Nói đến kịch là nói đến tính chất căng thẳng của hành
Trang 15động kịch điều đó biểu hiện ở chỗ tập trung sự việc biến
cố dồn nén một cách tối đa trong một khoảng thời gian,không gian bó hẹp hạn chế Hành động kịch là yếu tố trựctiếp thể hiện nội dung xung đột kịch nhng chính xung độtkịch lại là yếu tố quy định chọn lọc và tổ chức hành độngkịch
Ví dụ: Trong đoạn trích Cha vẫn kiên quyết không chuyển chăng (trích âm mu và tình yêu - SGK văn 11) có
xung đột giữa Vate với Phecđinăng cùng gia đình Mile.Van
te muốn chia cắt tình yêu của hai ngời (Phecđinăng vàLuydơ) nên đã hạ nhục Luydơ và bắt giam ông Mile Để bảo
vệ ngời yêu và hạnh phúc của mình trớc sự tàn ác của cha,Phecđinăng đã thuyết phục, cầu xin, cuối cùng đe doạ và kếtthúc đoạn trích là chàng đã thắng và Vante thất bại phải bỏ
ra về.Từ xung đột của hai phía một bên ra sức phá vỡ mộtbên ra sức chống đỡ, bảo vệ quyết liệt Mỗi bên giữ một lậptrờng riêng biệt và lập trờng ấy đã quyết định cho mỗinhân vật thực hiện một chuỗi hành động riêng Tể tớngVante chửi rủa, thoá mạ ngời khác đòi bắt giam hạ ngục gia
đình Mile, ép Phecđinăng rời bỏ ngời yêu … ngợc lạiPhecđinăng thì từ khuyên nhủ đến cầu xin và đe doạ
Xung đột kịch quy định những giai đoạn chính của sựphát triển cốt truyện: trình bày, khai đoan, thắt nút, phát
triển, kết thúc Ví dụ, vở kịch Vũ Nh Tô của Nguyễn Huy
T-ởng kể về bi kịch của một kiến trúc s tài hoa, vì muốn xâydựng điểm tô đất nớc bằng những công trình to lớn hùng vĩsánh ngang với nớc Tàu, nớc Xiêm, ông đã dựa vào ông vua LêTơng Dực để xây Cửu Trùng Đài, là một công trình kiến trúc
Trang 16to lớn, vì thế gây nhiều tổn thất cho cuộc sống của nhândân vốn đã cơ cực bởi phu phen, tạp dịch … Cuối cùng, TrịnhDuy Sản đã cùng với nhân dân lao khổ đã nổi lên giết vuaHồng Thuận đốt cháy Cửu Trùng Đài và đem ra xử trảm ngờikiến trúc s tài hoa Vũ Nh Tô.
Xung đột chính trong vở kịch chính là vấn đề giảiquyết mối quan hệ giữa quyền lợi dân tộc và quyền lợi củanhân dân Quyền lợi dân tộc đại diện là vua Hồng Thuận,quyền lợi nhân dân tiêu biểu là thợ thuyền, ngời dân laokhổ, Thị Nhiên … Trong hai bình diện ấy Vũ Nh Tô đứng ở
đâu? Xung đột này dẫn đến số phận bi kịch của Vũ Nh Tô.Hoàn cảnh lịch sử xã hội về bản thân Vũ đã không thể tựdung hoà đợc hai thứ quyền lợi ấy Đọc tác phẩm, chúng ta sẽthấy khi đứng trên lập trờng bảo vệ quyền lợi của nhân dân,
Vũ Nh Tô đã chống lại triều đình, đem cả vợ con bỏ trốn, khi
bị bắt chỉ chịu nhận cái chết chứ quyết không hợp tác vớivua Hồng Thuận Ngợc lại, khi phục vụ cho quyền lợi của dântộc, muốn đất nớc mình không thua nớc bạn Vũ Nh Tô đã vôtình đứng về phía kẻ thù của nhân dân - là tập đoànphong kiến vô lại, là vua Hồng Thuận và lũ cung nữ dâm ô.Trong mối quan hệ này Vũ Nh Tô đã đi ngợc với quyền lợi củanhân dân, kết cục nhân dân nổi dậy, ra tay chấm dứt cái
đại sự phục vụ dân tộc vốn đầy thiện chí của con ngời yêuquý giống nòi Vũ Nh Tô
Xung đột này xuyên thấm trong suốt cả vở kịch trên bềmặt hình thức và quá trình vận động cốt truyện ở giai
đoạn trình bày; Vũ Nh Tô bị bắt giải về kinh, nói chuyện vớivua Hồng Thuận, nhng Vũ kiên quyết chịu chết chứ không
Trang 17hợp tác - ở đây chính là Vũ đang đứng trên lập trờng bảo
vệ quyền lợi của nhân dân Vở kịch đợc thắt nút ở biến cố
Đan Thiềm coi giữ Vũ Nh Tô và diễn ra cuộc trò chuyện giữahai con ngời "đồng bệnh " Đan Thiềm là ngời cung nữ tàisắc mà thâm trầm, ngời học trò xuất sắc của án Anh, conngời say đắm với sự vẻ vang của non sông nớc Việt Nàng đãthức tỉnh ở Vũ Nh Tô cái thiên chức của một ngời nghệ sĩmuốn đợc thể hiện, muốn đợc đem tài năng điểm tô đất n-
ớc ; nàng khuyên ông rằng : "Ông biết một mà không biết hai,
ông có tài, cái tài ấy phải đem cống hiến cho non sông đấtnớc không nên để mục nát với cỏ cây… Chấp kinh phải tòngquyền Đây là lúc ông nên mợn tay vua Hồng Thuận mà thựchiện cái mộng lớn của ông … Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ
sẽ mất đi nhng sự nghiệp của ông sẽ còn lại với muôn đời.Dân ta nghìn thu đợc hãnh diện không phải thẹn với nhữngcung điện đẹp của nớc ngoài, thế là đủ Hậu thế sẽ xétcông cho ông và nhớ ơn ông mãi mãi …" Nghe lời khuyên ấy Vũ
Nh Tô nh bừng tỉnh thiên chức ngời nghệ sĩ và ông đã vàocuộc với quyết tâm tạo tác một kì công kiến trúc lớn lao tráctuyệt cho dân Việt Sau bớc ngoặt này, tác phẩm phát triểntheo một giai đoạn mới Vũ Nh Tô xây dựng Cửu Trùng Đài dầndần xa rời và đối lập với nhân dân mà đầu tiên là nhữngngời thợ dới quyền ông, công việc bộn bề buộc ông phải ra tay
đánh đập, thậm chí chém giết những ngời phu làm cho ôngtrở thành trung tâm của những mối căm thù trong lòng ngờidân khốn khổ, vở kịch đợc giải quyết khi nhân dân nổidậy đốt Cửu Trùng Đài giết vua Hồng Thuận và xử trảm Vũ
Nh Tô
Trang 18Đặc điểm thứ hai của xung đột kịch đó là xung độtkịch phải đạt đến tính chân thực và điển hình Bởi vì donhu cầu phản ánh cuộc sống đến mức tối đa trong khi kịchvốn sinh ra là để biểu diễn nên phụ thuộc rất nhiều vàokhông gian, thời gian của sân khấu, do đó ngời viết kịchphải tập trung vào những mâu thuẫn cơ bản trung tâmmang tính đối lập cao Trong một vở kịch, nếu thiếu đitính điển hình vở kịch đó chỉ sự mô phỏng những mâuthuẫn vụn vặt, tầm thờng của đời sống Thiếu ý nghĩachân thực vở kịch chỉ là sự giả tạo, là những dòng líthuyết suông Công chúng tìm đến nghệ thuật kịch là tìm
đến một sự đồng cảm hoặc phản bác đối với tác giả trớcnhững vấn đề quan trọng của đời sống Nghệ thuật kịch,vì vậy, luôn luôn là diễn đàn t tởng của cuộc sống là mốigiao cảm sâu xa giữa tác giả và khán giả
Trong vở kịch phải đảm bảo tính chân thực, điều đókhông có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn tính chất ớc lệ trongkịch, Những xung đột mang tính chất thực là xung đột đợcnảy sinh trên nền tảng mâu thuẫn của hiện thực khách quan.Tuỳ theo các thể loại kịch khác nhau xung đột kịch cũngkhác nhau Xung đột giữa cái cao cả với cái cao cả nảy sinhcảm hứng bi kịch Xung đột giữa cái cao cả với cái thấp hèntạo ra cảm hứng anh hùng ca, xung đột giữa cái thấp hèn vàcái cao cả thì tạo ra cảm hứng trào phúng
Nếu nhìn một cách khái quát về những thành tựu rực rỡcủa thể loại kịch trên thế giới thì những tác phẩm u tú lànhững tác phẩm xoáy sâu vào các xung đột xã hội sâu sắc:
bi kịch cổ đại Hi Lạp là xung đột giữa khát vọng của con
Trang 19ng-ời với những quy luật nghiệt ngã của định mệnh (Etsilơ,Xôphôclơ); bi kịch của Sêchxpia là xung đột giữa lí tởngnhân nhân văn cao cả với những trở lực đen tối của xã hội Kịch Sêkhôp đi từ nỗi bế tắc của mỗi số phận để phản ánhnhững vấn đề sâu xa của xã hội Cả Sile, Ipxen, Acbuđôp,Brêch… và những tên tuổi tài năng khác đã đi từ nhữngxung đột cụ thể của dân tộc mình, thời đại mình, để vơntới tầm phản ánh lớn lao cho đời sống của toàn nhân loại
* Các loại xung đột trong kịch bản văn học
Các xung đột trong kịch thờng xuất hiện dới dạng những
va chạm tức là những đụng độ trực tiếp, sự chống đối giữacác thế lực hoạt động đợc mô tả trong tác phẩm Cụ thể cócác loại xung đột sau đây:
- Xung đột nội tâm : đây là trạng thái phân thân của
nhân vật, là sự đụng độ một cách quyết liệt nhng âm ỷtrong chính một con ngời, đó có thể là sự giằng xé trongtâm hồn của nhân vật kịch trớc một sự việc, một tìnhhuống éo le Với xung đột nội tâm, ta thờng hay bắt gặptrong kịch của Raxin với những nhân vật ham mê quyền lực,tình yêu, bàn tay nhuốm đầy tội lỗi và họ luôn phải sốngtrong sự dằn vặt đau khổ và phải luôn "tự vấn" lơng tâm
mình Đó là Orest, trong vở Angđrômac, sau những toan
tính hắn đã phát điên vì vỡ mộng, vì hối hận và xót xa run
sợ, hắn tự hỏi : "Những con rắn đang phun phì phì trên
đầu các ngơi là dành cho ai ? " Hay là trờng hợp nữ chúa Hồigiáo Roxane trong vở Bajazet đã căm hờn rít lên quyết đigặp ngay Bajazet đẹp đẽ kiêu hãnh để hỏi xem chàng cóyêu mình không, rồi nàng lại tự bảo với lòng mình rằng :
Trang 20" Ta đi gặp Bajazet đây Ta sẽ không thể nói đợc gì Nếu không biết trái tim chàng có hoà nhập với tim takhông ? "
Tiêu biểu nhất cho kiểu xung đột nội tâm đó là màn
Sống hay không sống - Đó là vấn đề (Văn học 10),ở đây
diễn ra cuộc xung đột của chàng Hoàng tử Hămlet về vấn
đề lựa chọn giữa sự sống - hành động và cuộc sống thụ
động bất lực:"Sống hay không sống - Đó là vấn đề Chịu
đựng tất cả những viên đá mũi tên của số mệnh phũ phànghay là cầm vũ khí vùng lên mà chống lại sóng gió của biểnkhổ, chống lại để mà diệt chúng đi đằng nào cao quýhơn ?"
- Xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh: tính cách ở
đây đợc hiểu là những con ngời cá thể Những con ngời nàymang những quan điểm của một lực lợng nào đó trong xã hội
và đại diện cho lực lợng đó mâu thuẫn với một thế lực kháccản trở kìm hãm đấu tranh với tính cách đó
Điều này thể hiện rõ trong vở Tôi và chúng ta của Lu
Quang Vũ Vở kịch xây dựng hình tợng trung tâm là HoàngViệt, giám đốc mới của xí nghiệp Thắng Lợi một xí nghiệp
"luôn luôn thất bại" luôn ở trong tình trạng "lỗ thật lãi giả"công nhân không có việc làm sống lay lắt bằng đồng lơngchết đói ấy thế mà nó vẫn tồn tại trong "vòng tay bao cấp"của cơ chế Hoàng Việt muốn bứt phá muốn cải tạo hoàntoàn phơng thức sản xuất kinh doanh của xí nghiệp theocung cách mới "muốn đợc quyền chủ động công việc muốnthay đổi những điều quá bất hợp lí trong cơ chế quản lí ".Nhng tất cả ham muốn ấy đều bị cơ chế cũ khống chế gắt
Trang 21gao bị bủa vây bởi những nguyên tắc đã lỗi thời nhng vẫncòn hiệu lực Hoàng Việt đã thẳng thắn trả lời một vị lãnh
đạo : "Trong khi trên cha kịp sửa đổi thì cho phép chúngtôi đợc tự sửa đổi" Một quan điểm táo bạo và chắc chắnphải gánh chịu nhiều nguy hiểm Anh còn khoát đạt nói vớicông nhân của mình : "Xây dựng Chủ nghĩa xã hội cónghĩa là gì các đồng chí có biết không ? là đi từ thế giớicủa cái tôi, sang thế giới của chúng ta Không còn "tiền củatôi " "của cải của tôi " "quyền lợi của riêng tôi " mà là quyền lợicủa chúng ta, của cải của chúng ta, hạnh phúc chung cho tấtcả chúng ta! Và cái Chúng ta ấy phải đợc làm bằng khả năngcủa cái Tôi cụ thể "
- Xung đột ở quan điểm của nhân vật đối với sự việc diễn ra: có nghĩa là ở đây kịch tính hấp dẫn không nằm
trong sự xung đột giữa tính cách nhân vật khác nhau, cũngkhông nằm trong sự diễn biến của các sự việc xảy ra đối vớinhân vật - Vì những sự việc đó nhiều khi đối với một số vởkịch cuả một số phong cách tác giả không có ý nghĩa quyết
định - mà chính là ở cái quan điểm của nhân vật đối vớinhững sự việc xẩy ra, nó bộc lộ phần sâu kín nhất của tâmhồn mỗi con ngời Đó là trờng hợp những xung đột kịch diễn
ra trong các tác phẩm kịch của Sêkhôp mà tiêu biểu là 2 vở
Chim hải âu và Cậu Vania.
Trong vở Chim hải âu xung đột chính của vở kịch nằm
ở quan điểm của các nhân vật về vấn đề tình yêu và nghệthuật Nh nhân vật Nina Zaretrnaia, một cô gái xinh đẹp vàtrong trắng nh một con chim hải âu cô đã bớc vào đời vớitấm lòng khát khao tình yêu và nghệ thuật Thế nhng chính
Trang 22ở đây tác giả đã xây dựng tình huống để xuất hiện xung
đột kịch trong chính quan điểm của Nina Với tình yêu, cô
đã từng ruồng bỏ tình yêu của ngời tình chân thực làT'replev để chạy theo tiếng gọi của T'rigorin, cô đã bị hắnphụ bạc một cách tàn nhẫn nhng vẫn chung thuỷ Nh chínhNina đã nói với T'replev: "khi nào anh gặp T'rigorin, đừng nóigì với ông ta cả Em yêu ông ta Có phần em còn yêu ông tamãnh liệt hơn trớc nữa (…) em yêu ông ấy, yêu tha thiết, yêu
đến tuyệt vọng " Với nghệ thuật, cô say mê nghệ thuật,thích đợc làm nữ diễn viên nổi tiếng, có lần cô cô đã nói vớiT'rigorin "Để có cái hạnh phúc đợc trở nên một nữ sĩ hay mộtnữ diễn viên, tôi có thể bằng lòng để cho họ hàng ruồng bỏ,chịu mọi thiếu thốn, thất vọng, tôi có thể sẵn sàng sốngtrong những gian phòng sát nóc, chỉ ăn bánh mì đen; tôi
đau khổ vì những nhợc điểm của mình, cứ bất mãn vớichính mình, nhng ngợc lại tôi đòi hỏi phải có danh vọng…Một cái danh vọng thực sự, lẫy lừng…" và vì thế cô đã đitheo cái h vinh của nghệ thuật Sau này cô đã thất bại: "…dần dần cả tôi nữa, tôi cũng hết tin ở sân khấu, tôi đâm rachán nản… Cộng vào đấy là những chuyện yêu đơng, ghentuông, chuyện lo lắng ngày đêm cho thằng con… tôi khôngcòn biết sử dụng đôi tay ra làm sao, không biết đứng trênsân khấu nh thế nào và không làm chủ đợc giọng nói củamình nữa " sau này, tuy sa chân lỡ bớc nhng cuối cùng cô đã
đạt đợc mục đích, giữ đợc lòng tin và nhìn thấy chân lí:
"Bây giờ thì em biết rồi, em hiểu rồi, anh Coxtia ạ, rằng cáichính trong nghề chúng ta - dù là nghề sân khấu hay lànghề viết văn - cái chính không phải là danh vọng, hình
Trang 23thức, hào nhoáng, hoặc là những thứ em đã ớc mơ, cái chínhchỉ là biết kiên nhẫn mà thôi… Phải biết chịu đựng và cómột lòng tin ".
Tơng tự nh vậy, trong vở Cậu Vania cũng thể hiện xung
đột kịch qua quan điểm của các nhân vật đối với sự việcxẩy ra, xung đột của vở kịch thể hiện qua quan niệm củanhân vật chính là cậu Vania Vania cùng với một ngời bạn củamình là Xonia già nửa đời ngời hi sinh cho một thần tợng,
đó là lão Xerebriacov, một giáo s đại học hồi hu con ngời viết
về nghệ thuật mà không hiểu tí gì về nghệ thuật, trong haimơi lăm năm liền đã giữ một chức vụ, một địa vị khôngphải của mình Lão già nua tật bệnh, cáu kỉnh, khinh mạn,suốt đời sống ăn bám vào sức lao động của mẹ vợ, em vợ, congái; và cuối cùng, lão muốn chiếm đoạt cả gia sản bằng cách
định bán nó đi, để hởng thụ một mình, lão đã lộ rõ là một
kẻ ích kỷ, vô ơn bạc nghĩa, táng tận lơng tâm Vania trớc đó
hy sinh, tận tuỵ với lão vì lầm tởng lão là ngời có tài năng, đạo
đức và có t tởng tiến bộ… khi nhận ra bản chất đê tiện củalão Xerebriacov, Vania quyết liệt phản kháng còn định giếtlão giáo s để trả thù, nhng cuối cùng vẫn nhẫn nhục làm việc
Nh vậy xung đột của nhân vật Vania là ở chính quan niệmcủa anh về chính là mẫu hình lí tởng mà anh tôn thờ, nhngthực tế, anh lại nhận ra đó một kẻ độc ác, bất tài vô dụng nhmột cục đất thó, là "Con khỉ thông thái" mà thôi Tiếp đến
là sự xung đột củaVania khi đã nhận ra sự bỉ ổi của lãoXerebriacov, anh định giết lão, nhng rồi lại nhẫn nhục vàkhông giết đợc lại tiếp tục làm việc một cách bế tắc, nghẹtthở không có lối thoát
Trang 241.2.2 Hành động kịch
Thuật ngữ dram (kịch) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ
là drao, có nghĩa là hành động Với cách gọi tên này phầnnào gợi lên vai trò quan trọng trong thể loại kịch
Từ thời cổ đại Aritxtôt khi phân biệt anh hùng ca với bikịch đã khẳng định : Hành động là đặc trng của kịch.Theo ông, nếu anh hùng ca phản ánh bằng hình thức kểchuyện thì bi kịch là bằng hành động Sau này khi Hêghen
đề cập đến các phơng thức phản ánh trong văn học cũngcho rằng: "Nội dung chủ yếu cuả tự sự là sự kiện của trữtình là tâm trạng và của kịch là hành động"
Trong kịch nếu xung đột đợc coi là điều kiện cần thiết
để làm nảy sinh tác phẩm, thì hành động là yếu tố duy trì
sự vận hành của tác phẩm Trong mối giao lu đó, xung đột lànơi quy tụ, chọn lọc, tổ chức hành động kịch, còn hành
động là nơi thể hiện trực tiếp nội dung xung đột kịch Tínhkịch của tác phẩm nằm trong xung đột, nhng hành động lại
là yếu tố giải toả nội dung của xung đột ấy, vì vậy nó làyếu tố đặc trng không thể thiếu đợc đối với bất kỳ kịchbản văn học nào
Trang 25Do thời gian và không gian sân khấu hạn chế về quy mô
và quá trình biểu diễn, cũng do sự thởng thức cùng lúc củamột tập thể khán giả cùng theo dõi buổi trình diễn, cho nênhành động trong kịch phải tập trung thống nhất;, và phảithật dồn nén Chính vì thế aritxtot nói : "Không nên sáng tác
bi kịch bằng lối kết cấu sử thi Tôi hiểu lối kết cấu sử thi lànội dung bao gồm nhiều cốt truyện " Arburôp nhà viết kịchLiên Xô cũng viết: "Trong kịch không có những yếu tố tuỳhứng mà ngời nghệ sĩ có quyền dùng nh điều khiển số phậnnhững con ngời trong các tiểu thuyết và các truyện, ở đây
có khuôn khổ rất chặt chẽ, đây là tám mơi lăm trang viếtkín không có thì giờ mạn đàm, giải thích, luận bàn,ta không
có quyền làm những việc đó" Thực vậy, trong tiểu thuyếtcòn có những yếu tố "phi cốt truyện" ở đó có miêu tả phongcảnh, khắc hoạ nội tâm những đoạn triết lí bình luận, tiêubiểu cho yếu tố ngoài cốt truyện này là những ngoại đề của
tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari và Những ngời khốn khổ
của V Huygô Còn trong kịch bản văn học chỉ có cốt truyện,
"thuần tuý" Hơn nữa cốt truyện ở đây phải thật dồn nén,chỉ chứa những tình tiết thật sự tiêu biểu và cần thiết, có ýnghĩa tợng trng khái quát cao
1.2.2.2 Hành động trong kịch phải là hành động có ý nghĩa.
Hành động kịch khác với hành động bên ngoài đời thờng
ở chỗ : hành động kịch phải là những hành động nào có chủ
định, đợc xây dựng nhằm phục vụ mục đích nào đó,
Trang 26nghĩa là phải đợc quyết định bởi ý thức của ngời viết, cònhành động ngoài đời đôi khi không hoàn toàn nh vậy, cólúc, có hành động chỉ là do vô thức hoặc là do thói quen ởtrong kịch thì không thể có hành động vì ngẫu nhiên.
Hành động có ý nghĩa tồn tại trong kịch là những hành
động đợc quyết định một trạng thái tâm lý của nhân vật.Qua hành động điệu bộ, cử chỉ nhân vật bộc lộ tâm trạngthái độ, tình cảm của mình đối với hiện thực đợc đặt ratrong tác phẩm
Hành động mang ý nghĩa trong kịch còn đợc hiểu mốiquan hệ giữa nó với những hành động trớc và sau nó Cónghĩa là hành động ấy phải là kết quả của hành động đãdiễn ra ở phía trớc và đồng thời là nguyên nhân cho hành
động tiếp theo Ngời ta không thể hình dung trong một vởkịch mà diễn viên chỉ đứng trên sân khấu đọc lời thoại, kể
lể những công việc đã qua và sắp tới của mình Lại càngkhông thể tin đợc rằng nếu diễn viên có hành động, thìhành động ấy chỉ là những động tác vô thức Đó tuyệt nhiênkhông phải là kịch.ý nghĩa của hành động trong kịch làhành động ấy phải nhằm đạt một mục đích nào đó Ví dụ,
trong vở Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tởng ở hồi bốn là một
hồi thành công khi Thái và hai cán bộ cách mạng đi "nhầm "vào nhà Thơm trong lúc Ngọc chồng của Thơm đang ra sứctruy đuổi họ Thơm đã che dấu hai ngời trong buồng củamình Ngọc về, với những câu nói ỡm ờ tình tứ của Thơm,cùng với những cử chỉ âu yếm của nàng đối với chồng, đã
đánh tan mối hoài nghi của Ngọc và giúp Thơm cứu đợc haicán bộ cách mạng
Trang 271.2.2.3 Hành động trong kịch là hành động phải đa tới một sự kết thúc
Cần phải hiểu sự kết thúc ở đây là hoạt động chấm dứt,cuối cùng và giải quyết đợc mâu thuẫn Sẽ không phải là kịchnếu nhân vật chứng kiến sự bất công của xã hội, sự quan liêucủa cán bộ, và nỗi khổ của công nhân… nhân vật suy nghĩ,chửi bới, khiêu kích, bôi bác những cán bộ lạc hậu, tội nghiệpcho công nhân, thông cảm với họ trong cuộc sống trong muônvàn khó khăn bởi đồng lơng eo hẹp… Đến đó là chấm hết.Một vở kịch thật sự phải có thêm đoạn kết sau cùng, ngờilãnh đạo ấy phải tìm cách cải tổ trong sản xuất, quản lí phảimạnh dạn đi đầu phá bỏ những cái cũ kĩ, lỗi thời và tìm ra
đa xí nghiệp ấy đi lên, đa cuộc sống của công nhân ấm
và lí trí… Độc thoại chính là một biến dạng đặc biệt của
Trang 28đối thoại, là sự giao lu giữa mình với mình giữa hai thế lực
bị "tách đôi" trong bản thân một con ngời Vì thế có thểnói tính đối thoại là đặc trng bao trùm nhất của ngôn ngữtrong tác phẩm kịch Độc thoại không phải là ngôn ngữ mộtchiều trong kịch, mà là một ngôn ngữ có tính hành động,vì nó góp phần thúc đẩy mâu thuẫn kịch vận động vàphát triển
Ngôn ngữ trong kịch bao giờ cũng là lời nói của nhữngnhân vật có tính cách rõ nét, mà những tính cách đó thôngthờng đợc thể hiện một cách tập trung trong một xung độtcăng thẳng, vì thế, ngôn ngữ ấy mang màu sắc cá tính hoárất nổi bật Trong tay nhà viết kịch hầu nh không có vật liệugì khác để xây dựng tính cách nhân vật ngoài ngôn ngữcủa chính các nhân vật Do đó, một trong những dấu hiệutài năng viết kịch là biết sử dụng một cách thành thạo nhất,với những hiệu quả cao nhất chất liệu này sao cho nó vừabộc lộ đợc nét độc đáo của tính cách, vừa góp phần thúc
đẩy tình huống kịch phát triển Nhà viết kịch Nga nổitiếng A.Ôxtơrôpxki có lần nói : "Chúng tôi coi điều kiện trớctiên của tính nghệ thuật trong việc miêu tả một điển hìnhnhất định là sự truyền đạt đúng lời ăn tiếng nói tức là ngônngữ, và thậm chí cả kiểu nói vốn có tác dụng qui định bảnthân giọng điệu của vai kịch" Qua đoạn đối thoại sau
đây, ta thấy hiện lên rất rõ thói bờm xơm của một tên cờnghào và tính bốp chát không biết sợ là gì của một ngời phụnữ nông thôn :
"Xã trởng : - Ơ, mẹ Đốp dạo này trông nhuận sắc ấy nhỉ !Này, mày đợc mấy con rồi ?
Trang 29Mẹ Đốp : Nhà cháu hiếm hoi, mới đợc có chín cháu, vớicháu này là mời…
Xã trởng : - Tốt nái đấy ! Này mẹ Đốp … Hôm nào mátgiời, cho tao sang gửi mày một đứa nhé…
Mẹ Đốp : - ấy chết ! Thầy là ngời lớn mà ăn nói sàm sỡthế ? Thế thầy không sợ bố cháu nó nghe thấy à ?
Xã trởng : - ờ, cái con mẹ này, rõ thật : Nhật nhật đa hỷ,lộng giả thành chân Ra mày hỗn láo thật ! Tao thấy mày máttay nuôi trẻ thì tao gửi mày một đứa nuôi hộ chứ … Dờ hồn,rồi sao cũng có ngày … "
(trích - Quan Âm Thị Kính)
Cũng vì bị chi phối bởi tính đối thoại nói trên mà so vớingôn ngữ thơ và văn xuôi, ngôn ngữ kịch gần gũi nhất vớikhẩu ngữ, với lời nói hàng ngày con ngời trong xã hội Ngônngữ trong tác phẩm kịch bao giờ cũng là tiếng nói phát ra từcửa miệng các nhân vật nên nó có tính linh hoạt và gợi cảm
nh sự tái hiện trực tiếp trong đời sống Nghe lời nói củanhân vật cụ Lang trong vở "Chén thuốc độc" của Vũ ĐìnhLong ta thấy đúng là giọng điệu của các ông "Lang băm " rấtquen thuộc trong xã hội cũ: "- Phong tà nhập não, phù du chihoả bốc lên hai thái dơng nên cố Thông nhức đầu, ta sai anhxuyên khung, anh bạch chỉ kéo cổ bác phù du chi hoả xuống,nhng sợ rằng hai anh đó kéo khoẻ quá ta thêm anh thăng macho bốc bớt lên … (đa đơn cho cụ Thông) Cứ đơn này màuống ba hôm, bệnh tất lui rầm rầm Thôi, tôi xin kiếu cụ, tôicòn phải lên Thuỵ, cứu một ngời vạn tử nhất sinh … " Hay
đoạn đối thoại dới đây giữa Thái tử Chiêm Thành với một ngời
Trang 30thợ khi xây dựng Cửu Ttrùng Đài, trong vở Vũ Nh Tô của
Nguyễn Huy Tởng:
Thái tử - Gió mạnh quá nhỉ (trông chung quanh ) Đài này
kể ra đẹp thực! Ngời An nam họ cũng tài, mà đây là họ mớibắt đầu đấy Đến khi xong cả thì đẹp biết chừng nàotrông lớn lao đồ sộ thực
Ngời thợ - Tởng Thái tử không nên xây giúp họ cái đàinày mới phải Nào tải đá, nào kén thợ, nào mộ phu để bâygiờ thuyền đắm, ngời chết hàng nghìn Họ lại mợn cớ khôngcho Thái tử vì nớc nữa !
Thái tử : - Mi hiểu làm sao đợc Ta giúp họ xây đài là vìhai cớ Cớ thứ nhất là để đợc chóng về nớc Cớ thứ hai là đểbáo thù cho giống Hời ta
Ngời thợ : - Bẩm giúp họ xây cái đài thì sao gọi là báo thù
đợc ?
Thái tử : - Mi ngu lắm Họ với ta có cái thù truyền kiếp họ
đã cớp đất giết dân ta, bắt hàng vạn ngời về làm nô tì VuaChế Bồng Nga xa dùng võ để báo thù không xong; nay tamuốn dùng kế khác Thấy vua họ xây Cửu Trùng Đài, ta mừnglắm, họ trúng kế ta Mi có biết không ? Nớc ta bại chỉ vì naylàm đền mai đẽo tợng , rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền
đài, còn họ chỉ nai lng, khơi sông, đắp đê, khai khẩnruộng hoang cho nên dân họ đông nớc họ mạnh, ngời họ hùngcờng mới lấn áp ta đợc, mi bảo nớc ta xây đài cho đẹp cóích gì không ? Thế mà bây giờ họ lại bắt chớc ta, nên ta nên
cố gắng giúp cho vua họ xây đài, cho hao ngời tốn của, cho
họ quyệt quệ nh ta Bao nhiêu tinh anh họ đổ cả vào cái đàinày Mi đã biết cha ? Rồi họ chết!…"[484,18]
Trang 31ở đặc điểm này, kịch hiện đại giống với kịch dân gian
đặc biệt là trong tuồng hài, ngôn ngữ tự nhiên, ít có sự khácbiệt so với lời nói bình thờng hàng ngày, ví dụ: lời Ngáo đòi
phật trả lại tiền trong vở tuồng hài Trơng Ngáo.
Cả tiếng kêu anh Phật
Đem tiền trả cho tôi (ủa ! lạ nầy ! )
Đòi sao hãy còn ngồi Hỏi sao không thèm lại ? (Tôi nghĩ lại anh cũng chẳng nghèo ngặt chi mà! )
Nhà thời lợp ngói Mình lại thếp vàng Anh thiệt kẻ giàu sang Chẳng phải ngời đói khó Sao không xấu hổ ?
Mà chẳng toan lo ?Dầu chối cãi ai cho ! Làm thinh hông muốn trốn (Hay mần răng đó ! nầy nầy !)
Đã không hoàn vốn Thời khá trả lời Phen này chẳng vị ngờiQuyết nhảy lên kéo áo Lời thơ sinh động đến mức ta tởng nh Ngáo đơng vungtay, múa máy trớc tợng Phật sơn son thếp vàng, ngự trên toàsen mơ màng thăm thẳm trong cõi im lặng siêu hình
Gắn liền với sự vận động khẩn trơng của mâu thuẫn, sựphát triển mạch lạc và căng thẳng của hành động, ngôn ngữ
Trang 32kịch cũng thiên về tình hành động, tức là chắc gọn, cảmxúc không có "độ thừa": Nhiều từ và câu có giá trị trọng
điểm, từ và câu "chốt" lại nhanh chóng tạo ra đợc tính kịch
Ví dụ: Vở Vũ Nh Tô của Nguyễn Huy Tởng - Khi Trịnh
Duy Sản cấu kết với quan trong triều và lính phu xây CửuTrùng Đài nổi dậy giết vua… một tên thái giám chạy vào cungbáo tin:
Trung mại : - Bẩm cụ lớn nguy đến nơi rồi Kìa mụ ĐanThiềm sao lại ở đây ? Mụ ta là giống quái…
Nguyễn Vũ: - Có việc chi, Trung Mại ?
Trung Mại :- Bẩm cụ lớn Trịnh Duy Sản mu với Lê Quảng
Đô, Trịnh Tri Sâm lập vua khác, đêm qua đã kéo quân vàocửa Bắc thần
…………
Trung Mại : - Bẩm , Trịnh Duy Sản sắm sửa thuyền bè khígiới …
Nguyễn Vũ : (Nóng ruột, dậm chân gắt ) - Thiên tử
đâu ? Nói mau lên
Trung Mại : Hoàng thợng trông thấy lửa ( ) chạy ra cửaBảo Khánh(…)
đến ao Chu Tớc ở phờng Bích Câu thì vừagặp Duy Sản …
Nguyễn Vũ : - Gặp Duy Sản ? Trời ! thế thì còn gì ? Nóimau lên
Trung Đại : - Ngài hỏi nó : Giặc ở đâu ? nó không đáp,ngoảnh mặt đi
cời nhạt Ngài quất ngựa về phía Tây, nó sai
võ sĩ là tên
Trang 33Hạch đuổi theo, đâm vua ngã ngựa rồi giếtchết (khóc)
Nguyễn Vũ : - Hoàng thợng ơi ! Hạ thần mới nghe quacâu chuyện đã
đoán ngay có cơ sự này (cảm động quá ngãxuống)
Trung Mại : (Nức nở ) - Khốn nạn, Khâm đức Hoàng hậuthơng vua
cũng nhảy vào lửa chết … (Không nói đợc nữa
…)
Ngoài ra, ngôn ngữ kịch có khả năng xây dựng đợcnhững bức chân dung chân thực về nhân vật Đó là lời phátbiểu của các nhân vật khác về con ngời của Hămlet:
"Rôdencran - Tha thật đúng là một ngời lịch thiệp "
"Ôphêlia " - Ôi một tâm hồn cao quý … đôi mắt của nhàthông thái, thanh gơm của trang hiệp sĩ, miệng lỡi của ngờihào hoa, niềm hy vọng, đoá hồng tơi của quốc gia gấm vóc,gơng sáng của thời trang, kiểu mẫu của mọi ngời, bao ngờithán phục …"
Hay là chân dung của Poxia tuyệt đẹp qua lời ca tụng
của Baxanio trong vở Ngời lái buôn thành Vơnidơ của
Sêchxpia:
Baxaniô - " Có vị á thần nào đã gần hoá công đợc đếnthế này? Đôi mắt kia động đậy chăng ? hay là, trậptrùng trên đôi đồng tử của mắt ta, nó có vẻ nh là động đậy ?Kìa, đôi môi hé mở đợc tách ra bởi một hơi thở ngọt ngào
nh mật ong: Một đôi bạn êm ái thế thì phải đợc ngăn cáchbằng một tầng rào êm ái nh thế Trong mái tóc kia
Trang 34nhà hoạ sĩ làm giống nh con nhện chăng tơ, đã dệt mộtmạng lới bằng vàng để bẫy trái tim của ngời ta một cách chắcchắn hơn là mạng nhện bẩy ruồi, nhng đôi mắt của nàng,hoạ sĩ đã làm thế nào trông thấy mà vẽ nên nhỉ ? ta tởngchừng cứ vẽ xong một con mắt thôi cũng đủ làm cho hoạ sĩ
mù cả đôi mắt của mình và bỏ dở dang tác phẩm Nhng hãytrông kìa : Cái hình bóng kia còn thua xa sự thực bao nhiêu,thì những lời ca tụng của ta cũng thua xa cái hình bóng đóbấy nhiêu "
Do sự hạn chế về thời gian, không gian sân khấu cho nênnhân vật trong kịch thờng ít, hiếm có dạng "nhân vật quầnchúng" nh trong kịch bản sân khấu, điện ảnh hay trong tự
sự Tuy nhiên ở trong kịch lại đợc phân ra nhân vật chính vànhân vật phụ, nhân vật chính là những nhân vật tiêu biểu,
Trang 35là ngời tập trung những xung đột và xung đột kịch đợc giảiquyết bởi nhân vật này Nhân vật phụ hay còn gọi là "vaiphụ" là những ngời có ý nghĩa bổ sung cho hành động,tính cách của nhân vật chính Đặc biệt trong kịch không
có nhân vật ngời kể chuyện nh trong tự sự Nh Gorki đãtừng nói: "Trong tiểu thuyết, trong truyện, những con ngời
đợc tác giả miêu tả hành động với sự giúp đỡ của tác giả, tácgiả ở bên cạnh họ , kịch bản không cho phép tác giả đợc tự
do can thiệp vào nh vậy, kịch bản loại trừ việc trong mách
n-ớc cho độc giả Trong mỗi kịch bản văn học tác giả vẫn cónhững chỉ dẫn sân khấu, song đó không phải ngôn ngữcủa ngời kể chuyện bởi nó không bao hàm một thái độ t t-ởng nào cả, lời chỉ dẫn sân khấu đơn thuần của là nhữnggợi dẫn về hành động, hoặc bố cục , vai diễn, nhân vật giúpcho đạo diễn và diễn viên thực hiện đúng ý đồ của tác giả Nhân vật kịch không thể đợc khắc hoạ với nhiều khíacạnh tỉ mỉ hay quá phức tạp nh trong tự sự, vì nó sẽ khôngphù hợp với việc thởng thức tiếp của một tập thể khán giảitrong một thời gian ngắn ngủi nhất định Do đó, tính cáchcủa nhân vật kịch phải thật nổi bật, thật ấn tợng Timôphêep
đã giải thích:"Hình tợng kịch phản ánh những mâu thuẫncủa đời sống đã chín muồi gay gắt và nhất đã đợc xác
định, chính vì vậy nó đợc xác định trên cơ sở nhấn mạnhtrong các tính cách con ngời sự cảm xúc phiến diện do cácmâu thuẫn trên quy định"
Nhân vật kịch do trực tiếp xuất hiện trớc đông đảokhán giả nên hình dạng, ngoại hình nhân vật không thể có
điều kiện miêu tả tỉ mỉ mà chủ yếu nó đợc chú ý khắc hoạ
Trang 36ở lĩnh vực biểu diễn sân khấu, ở lĩnh vực nghệ thuật biểudiễn ngoại hình nhân vật đợc hoá trang phù hợp với tính cáchnhân vật, nó ít nhiều mang tính ớc lê.Ví dụ: trong tuồng,chèo cách hoá trang phù hợp với tính cách:
Ngời trung ; Mặt đỏ , râu dài.
Ngời gian : Mặt trắng
Vai hề : Mặt nhiều màu sặc sỡ, đầu buộc khăn …
Trong kịch, nhân vật thờng có tính cách đối sánh nhau,
điều này là một trong những yếu tố cơ sở tạo nên xung độtkịch, biểu hiện cụ thể của nó là xung đột tính cách Chẳnghạn đó là xung đột căng thẳng giữa Vũ Nh Tô - Đan Thiềm lànhững con ngời tài hoa, biết sáng tạo và biết quý cái đẹp
đối lập với vua Lê Tơng Dực - cùng bọn cung nữ dâm dật,lăng loàn ngu muội, độc ác Nói dựa vào tính cách đối lậpgiữa các nhân vật để xác định đợc xung đột kịch là vìvậy
Tóm lại: kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp cácloại nghệ thuật nh: âm nhạc, điêu khắc, hội hoạ… Đồng thờikịch cũng là loại hình nghệ thuật tổng hợp hai phơng thức
tự sự và trữ tình Để phân biệt kịch và các loại hình nghệthuật khác cần phải dựa trên những đặc trng của nó đó là
đặc trng về xung đột, hành động, ngôn ngữ và nhân vật
Trang 38Chơng 2: dạy học kịch bản văn học trong nhà trờng
Phổ thông - Những khó khăn và thuận lợi
2.1 Chơng trình dạy học kịch bản văn học trong nhà trờng
Do luận văn của chúng tôi đợc thực hiện trong giai đoạngiao thời: hiện tại chơng trình chỉnh lí hợp nhất năm 2000
đang đợc dạy học, mặt khác chơng trình tích hợp đangnằm trong dự thảo và dần dần đợc hoàn thiện, dự kiến sẽ đợcbắt đầu đa vào trờng học vào năm học 2004- 2005 (Theonghị quyết số 40 ngày 9 /12/2000 của Quốc hội khoá X về
đổi mới chơng trình giáo dục phổ thông), vì vậy để thuậnlợi cho việc dạy học hiện tại chúng tôi cũng sẽ giới thiệu sơ lợc
về chơng trình đang hiện hành, tất yếu chúng tôi cũng sẽgiới thiệu chơng trình dạy học kịch bản văn học theo dự thảocủa Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhìn chung phần kịch bản văn học ở chơng trìnhchỉnh lí hợp nhất 2000 và chơng trình tích hợp 2004 - 2005
có những điểm tơng đối gần gũi trong việc lựa chọn tácphẩm, nhng chủ yếu vẫn là sự khác biệt giữa hai chơngtrình này Vì lí do đó chúng tôi đa cả hai chơng vào đểlàm một phép đối sánh, nhng quan trọng hơn là để chúng
ta có một cái nhìn hệ thống, liền mạch và biện chứng
2.1.1 Chơng trình lí hợp nhất năm 2000
Năm 2000 Bộ giáo dục và đào tạo đã thực hiện thốngnhất chơng trình dạy học trên phạm vi cả nớc, cụ thể đã hợpnhất đợc chơng trình của hai miền Nam - Bắc thành mộtchơng trình chung dựa trên cơ sở hợp nhất hai bộ sách giáo
Trang 39khoa do trờng Đại học s phạm Hà Nội và Hội nghiên cứu vàgiảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh biên soạn
Kết quả lớn nhất mà chơng trình lí hợp nhất năm 2000
đạt đợc đó là tạo ra một chơng trình dạy học thống nhấttrong cả nớc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và thi
cử của tất cả các học sinh
Đối với phần kịch bản văn học, trong chơng trình chỉnh
lí hợp nhất 2000 chỉ học ở lớp 10, lớp 11 và chỉ đợc tìm hiểucác tác phẩm kịch bản tiêu biểu của nớc ngoài chứ không cókịch bản văn học trong nớc Cụ thể, chơng trình đợc xâydựng nh sau :
Lớp 10 : Chỉ nghiên cứu một tác giả duy nhất của thời đạiPhục hng Đó là Sêchspia ở đây có một bài văn học sử và giới
thiệu hai vở bi kịch: Rômêô và Juliét và Hamlet Trong đó
có hai bài trích giảng văn học:
Lớp 11: Học sinh đợc tìm hiểu Sile qua các đoạn trích :
- Cha vẫn kiên quyết không chuyển chăng?
- Có ai đau khổ hơn anh (đọc thêm)
( trích Âm mu và tình yêu )
Phải thấy rằng, kịch bản văn học đã đa vào trong
ch-ơng trình chỉnh lí hợp nhất 2000 quá ít về cả tác giả lẫn tácphẩm, tổng số trong cả hai văn học chỉ có 6 tiết , trong đólớp 10 (4 tiết ) lớp 11 (2 tiết ) Chơng trình mới chỉ giới thiệu
Trang 40đợc hai tác giả tiêu biểu là Sếchspia và Sile, trong khi đónhững tác giả tiêu biểu khác nh : Gơt, Sêkhôp, Gorki, B.Brêch… thì cha đợc đa vào, thậm chí chỉ ở trong bài vănhọc sử Chủ yếu mới chỉ dừng lại giới thiệu kịch bản văn họcnớc ngoài ở thời kì trung đại, cha giới thiệu kịch bản ViệtNam Đặc biệt là cha mở rộng giới thiệu kịch bản ở các thờikì cổ đại và thời kì hiện đại Mà ở Việt Nam kịch bản vănhọc dân gian là một di sản văn học truyền thống cũng cha
đợc đa vào trong chơng trình
2.1.2 Chơng trình tích hợp (dự thảo)
Chơng trình cải cách môn Ngữ văn ở bậc phổ thôngtrung học đợc Bộ giáo dục và đào tạo dự thảo sẽ ban hànhvào năm 2004 -2005 đối với lớp 10 Chơng trình cải cáchnhằm mục đích xây dựng một nội dung mới theo quan
điểm tích hợp : "Là quan niệm về quá trình học tập trong
đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ởhọc sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trớc những điềucần thiết cho học sinh., nhằm phục vụ cho quá trình học tậptơng lai, hoặc nhằm hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao
động …
Ngoài những qúa trình học tập đơn lẻ cần thiết chocác năng lực đó còn dự định những hoạt động tích hợptrong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiếnthức, những kĩ năng và những động tác đã lĩnh hội mộtcách rời rạc … "
(Xavier Roegiers - Khoa s phạm tính hợp - Nxb Giáo
dục – 1996) Cũng theo Roegiers, khoa s phạm tích hợp nhằm
4 mục tiêu lớn :