Thực hiện đề tài Ngôn ngữ Nguyễn Tuân trong các bài viết về văn học nghệ thuật, chúng tôi muốn khám phá những nét độc đáo về ngôn ngữ ở một mảng khá quan trọng trong di sản của nhà văn.
Trang 1Lời nói đầu
Nguyễn Tuân là một trong những tác giả lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông đợc mệnh danh là “nghệ sĩ ngôn từ, ngời thợ kim hoàn của chữ” Thực hiện đề tài Ngôn ngữ Nguyễn Tuân trong các bài
viết về văn học nghệ thuật, chúng tôi muốn khám phá những nét
độc đáo về ngôn ngữ ở một mảng khá quan trọng trong di sản của nhà văn Mặc dù đã rất cố gắng, song do thời gian và trình độ có hạn, lại đứng trớc một hiện tợng độc đáo nh Nguyễn Tuân, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, chúng tôi mong nhận đợc sự cảm thông, góp ý từ phía
từ các thầy cô và các bạn sinh viên
Chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với thầy giáo Đặng Lu - ngời trực tiếp hớng dẫn đề tài, các thầy cô trong khoa cùng các bạn đã tận tình giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khoá luận này
Vinh, ngày 02 tháng 5 năm 2006
Sinh viên
Đào Thị Hải
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Tuân là một trong những cây bút trụ cột của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, ngời đợc xem là “bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ”, là
“thầy chữ”, là “nghệ sĩ đa cái đẹp thăng hoa”, là “ngời đi săn tìm cái
đẹp” Với tài hoa độc đáo, với sự uyên bác và phong cách riêng của mình, Nguyễn Tuân đã tạo đợc những nét riêng về cách sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ, xứng đáng để nhiều ngời học tập Và vì thế, trên văn đàn Việt Nam, Nguyễn Tuân là ngời có vị trí quan trọng Chúng ta học ở ông rất nhiều về cách dùng từ, đặt câu, cũng nh tinh thần lao động khổ hạnh vì nghệ thuật Cho
đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân với những qui mô khác nhau Thế nhng, một mảng khá phong phú và quan trọng trong di sản của Nguyễn Tuân là những bài viết về văn học nghệ thuật lại cha đợc giới nghiên cứu phê bình chú ý đúng mức, nhất là về phơng diện ngôn ngữ Để thấy hết đợc phong cách ngôn ngữ độc đáo, đa dạng của Nguyễn Tuân chúng tôi đã chọn đề tài này
1.2 Nguyễn Tuân là một trong những tác gia có tác phẩm đợc học từ bậc phổ thông đến bậc đại học Trong chơng trình cải cách hiện nay, khi ph-
ơng pháp tích hợp đợc áp dụng rộng rãi, việc tìm hiểu ngôn ngữ của một nhà văn có tầm quan trọng đặc biệt Đối với một nhà văn nh Nguyễn Tuân, điều này càng thể hiện rõ Lựa chọn đề tài này, chúng tôi có dịp đợc học tập và nghiên cứu, hiểu sâu thêm một nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam, nhằm phục vụ tốt hơn cho nhiệm vụ giảng dạy ngữ văn ở bậc phổ thông theo những yêu cầu mới
Trang 32 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Tuân Với những qui mô khác nhau, song nhìn chung các tác giả đã khái quát lên đợc những cơ bản về phong cách của nhà văn tài hoa độc đáo này Trớc một số lớn các bài nghiên cứu, chúng tôi tạm chia ra làm hai khuynh hớng Một khuynh hớng nghiên cứu trên phơng diện văn học và khuynh hớng nghiên cứu trên phơng diện ngôn ngữ
Trên phơng diện văn học, do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ xin đợc
đa ra nhận xét khái quát nhất của Nguyễn Đăng Mạnh về nhà văn Nguyễn Tuân Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng, trớc cách mạng Nguyễn Tuân là một hiện tợng phức tạp với quan điểm duy mĩ, chỉ chú ý đến cái đẹp hình thức Sự phức tạp ấy còn thể hiện ở chủ nghĩa “xê dịch”, ở cái “bệnh tôi” mà Nguyễn Tuân cố ném ra để chơi ngông với đời Sau cách mạng, ngòi bút này đã chuyển biến về phong cách, đề tài cổ không còn là linh hồn tác phẩm của Nguyễn Tuân, mà trong những trang viết của ông, luôn luôn có sự hiện diện của cuộc sống thực tại Cái đẹp đợc ông nâng niu, ca tụng là cái đẹp của cảnh sắc và hơng vị của quê hơng đất nớc Việt Nam, cái đẹp của con ngời Việt Nam tài hoa nghệ sĩ
Một số nhà nghiên cứu nh Vũ Ngọc Phan, Phan Cự Đệ, Trơng Chính, Vơng Trí Nhàn, Nguyễn Đình Thi, Hà Minh Đức, Hoài Anh, Ngọc Anh, Tạ Tỵ đều nhất trí cho rằng Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa độc đáo, có phong cách hết sức nổi bật, đặc biệt thành công ở thể loại tùy bút
Từ góc độ ngôn ngữ, đã có hàng loạt bài viết, một số luận án tiến sĩ, rất nhiều luận văn thạc sĩ và luận văn tốt nghiệp đại học chọn tác phẩm Nguyễn Tuân làm đề tài nghiên cứu Với sự tìm tòi về nhiều khía cạnh, cho đến nay ngời ta đã khái quát lên đợc những đặc trng về ngôn ngữ của nhà văn này Tạ
Tỵ cho rằng: “Toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Tuân không nhiều nhng mỗi tác phẩm đều súc tích và chứa đựng sự bắt buộc, vợt thoát của ngôn ngữ đi vào thế
Trang 4giới riêng biệt mà chỉ có Nguyễn Tuân mới đủ sức phung phí và sử dụng để hình thành một kiến trúc vĩ đại Mỗi chữ Nguyễn Tuân dùng đều trở nên quý giá Nguyễn Tuân viết mà nh điêu khắc, cầu kì chạm trổ vào mặt đá quý những nét trác tuyệt Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến một giá trị hiển nhiên,…
là khơi sáng lại dòng thời gian đã chìm khuất, là nhớ đến vùng trời xôn xao của thanh âm ngôn ngữ Hành trình đi vào tác phẩm của Nguyễn Tuân nh hành trình vào một cung điện tráng lệ đầy màu sắc diễm ảo Từng nguồn ánh sáng lung linh chiếu rọi vào mỗi dòng, mỗi chữ Thứ ánh sáng kỳ lạ làm mê hoặc gỗ đá vô tri, làm nhũn từng ý nghĩ bất tri niềm cô đơn nhất” [15, 36]
Nguyễn Lai cũng đánh giá rất cao ngôn ngữ trong tác phẩm Nguyễn Tuân: “Nguyễn Tuân là một nhà văn luôn có ý thức tôn trọng, nâng niu và giữ gìn sự phong phú, giàu có của tiếng Việt Ông đã tích luỹ cho mình một vốn
từ hết sức phong phú Câu văn của Nguyễn Tuân giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm cùng với nhịp điệu không bị gò bó Câu văn của Nguyễn Tuân rất khó bắt mạch quy luật ngữ pháp Câu dài trong văn Nguyễn Tuân không chỉ khắc phục đợc lối văn biền ngẫu mà nó còn gợi mở cách dùng từ tiếng Việt với những câu dài phóng khoáng nhất, Nguyễn Tuân thờng biến những câu miêu tả thành những câu tình thái trong khi miêu tả Văn Nguyễn Tuân có nhiều câu dài ít chủ ngữ Cái sắc thái tự nhiên đợc đa vào văn viết mà không xô bồ, rối rắm Văn Nguyễn Tuân chấm câu khá tự do, cực đoan trong việc dùng dấu phẩy, mạnh dạn dùng dấu nối để tạo tổ hợp định danh mới” Do vậy, Nguyễn Lai kết luận rằng: “tiếng Việt của Nguyễn Tuân là thứ tiếng Việt tự
do, nằm ngoài khuôn mẫu nhà trờng” [7, 86]
Đồng ý với Nguyễn Lai, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Ngôn từ của Nguyễn Tuân có một thứ ma lực, văn xuôi của anh giàu hình tợng, giàu nhạc
điệu và chất thơ: “Câu văn của Nguyễn Tuân có nhiều kiểu cấu trúc đa dạng và
ông là nghệ sĩ ngôn từ biết chú trọng đến nhịp diệu của câu văn xuôi” [10, 82]
Nh vậy, tuy các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của Nguyễn Tuân
Trang 5những điều kiện khác nhau nên các kết luận ít nhiều còn mang tính khái quát, cha thực sự đi sâu khảo sát một cách tỉ mỉ sự độc đáo của ngôn ngữ Nguyễn Tuân ở mọi cấp độ cũng nh ở các thể loại cụ thể
Với đề tài này chúng tôi muốn đề cập đến nét độc đáo trong phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân ở một mảng cha đợc giới nghên cứu khai thác nhiều, mong có đợc cái nhìn toàn diện hơn về phong cách ngôn ngữ của nhà văn Cũng từ đó có thể thấy thêm rằng: Nguyễn Tuân không những là bậc thầy về tiếng Việt trong truyện ngắn, tuỳ bút hay bút ký mà Nguyễn Tuân còn là nghệ
sĩ tài hoa độc đáo khi bàn về văn học nghệ thuật
3 Giới hạn đề tài
3.1 Về ngữ liệu cần khảo sát
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành khảo sát trên 700 trang viết của Nguyễn Tuân in trong cuốn Nguyễn Tuân bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn Việt Nam, 1999
3.2 Nội dung nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những nét riêng, độc đáo trong việc
sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thể hiện trên các khía cạnh: vốn từ vựng
và nghệ thuật sử dụng từ ngữ, những đạc sắc về cú pháp, về một số biện pháp
tu từ mà Nguyễn Tuân sử dụng trong các bài viết về văn học nghệ thuật
4 Mục đích và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích xuyên suốt đề tài này là tìm ra đặc điểm ngôn ngữ phê bình văn học nghệ thuật của Nguyễn Tuân, để thấy đợc rằng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân không chỉ độc đáo, tài hoa trong các thể loại văn học khác mà trong văn phê bình, Nguyễn Tuân cũng là một cây bút có nhiều đặc sắc
Trang 64.2 Phơng pháp nghiên cứu
Với một đối tợng nh vậy, luận văn sẽ sử dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu: phơng pháp thống kê, phân loại; phơng pháp đối chiếu so sánh; phơng pháp phân tích - tổng hợp
Trang 7Chơng 1
Mảng bài viết về văn học nghệ thuật trong sự nghiệp sáng tác của nguyễn tuân
1.1 Nguyễn Tuân viết phê bình văn học
Nói đến Nguyễn Tuân, ngời ta thờng nghĩ ngay đến một cái "tôi" đặc biệt tài hoa, nhng cũng hết sức tài tử Trong lĩnh vực văn học lại càng nh vậy Nghĩa là chỉ viết những gì mình thích, chứ không chịu trói buộc vào một yêu cầu xã hội nào Tuy nhiên, ấn tợng chung về cây bút này là vậy: tuỳ thích, tuỳ hứng, chỉ bình chứ không phê, vừa bình vừa tán, luôn luôn tô đậm cá tính độc
đáo của mình trên từng câu chữ Kể ra những cây bút sáng tác viết phê bình ít…nhiều đều nh thế cả, nhng Nguyễn Tuân vẫn thể hiện rõ nhất, đậm nét nhất
Đóng góp có giá trị nhất trong hoạt động phê bình văn học của Nguyễn Tuân là dựng chân dung văn học và phê bình tác phẩm
1.1.1 Nguyễn Tuân dựng chân dung văn học
Chân dung văn học gần nh là một thể văn sáng tác - một thứ bút ký về ngời thật, việc thật (ngời thật ở đây là một nhà văn) Đây là chân dung những tài năng nên rất đợc ngời đọc hâm mộ Vì tài cũng nh sắc là những của quý hiếm trong trời đất, ai chả muốn chiêm ngỡng Đọc những bài chân dung văn học, ngời ta háo hức muốn tìm xem mặt mũi của cái tài nó nh thế nào Thú vị nhất là đợc cái tài trong sinh hoạt đời thờng Nhng viết chân dung không phải
dễ Phải quan sát giỏi để nắm đợc chi tiết tiêu biểu Lại phải từ ngoại hình, cái ngoại hiện mà bắt lấy tinh thần của đối tợng Ngời viết chân dung giỏi chỉ viết
về ngời mà thấy đợc văn, nghĩa là phát hiện ra đợc sự thống nhất giữa văn và ngời ở chiều sâu Tóm lại, phải hết sức thấu hiểu đối tợng của mình ấy là cha nói còn phải có sức tởng tợng mạnh mẽ và có tài miêu tả sinh động
Trang 8Năm 1939, nhân cái chết của Tản Đà, Nguyễn Tuân viết một bài về chân dung thi sĩ đăng trên báo Tao Đàn ấn tợng đậm nhất của ông truyền đợc cho ngời đọc là cái ngông của nhà thơ : Ngông nên toàn làm những chuyện khác đời, ngợc đời Con ngời rất mực phóng túng ấy, chỉ biết có rợu, và chỉ biết sống đến tận cùng cái cá tính độc đáo của mình Cho nên làm khách của ngời ta mà tự tiện đào nền nhà lên trồng húng; ngời ta cất công từ lục tỉnh Nam Kỳ ra để hỏi chuyện thơ thì chỉ toàn nói chuyện ăn chuyện uống v.v…Nhng cái điều Nguyễn Tuân muốn nói không phải là bản thân những hành vi ngông cuồng quái đản ấy Đấy chẳng qua chỉ là biểu hiện gai góc của một
đấng tài hoa bất đắc chí, của một cái thiên lơng lạc lõng giữa đời phàm tục
Trong bữa rợu cuối cùng với Tản Đà ở Ngã T Sở, Nguyễn Tuân có đợc thi sĩ nói cho nghe về đặc tính của con cá diếc: "Nội trong loài cá, chỉ có con diếc là sạch nhất và khó câu nhất Giống nó chỉ hay ở chỗ nớc trong và ăn toàn bọt nớc Thả cái gì nó cũng chê cả Định lấy một cái mồi thơm mà dữ nó nh là ngời ta dữ một con rô hay con chuối, thực cái anh đi câu đã làm một việc tối vụng về" [14, 46]
Tản Đà chính là con cá diếc ấy Cho nên mới bị đầy vào cảnh bần cùng cho đến chết Nguyễn Tuân đã ghi lại những gì gọi là tài sản cuối cùng còn lại trên giờng bệnh của nhà thơ lúc tắt nghỉ: "Vẫn bên chồng sách bừa bãi đây đó mấy trang bản thảo Tập di cảo! Trời ! Và lẻ loi ở góc bàn vẫn là cái hũ rợu cáp giới ngày nọ Tất cả chỉ có thế thôi, với một đàn thê tử yếu và đuối" [14, 50]
Bài viết về Vũ Trọng Phụng - Một đêm họp đa ma Phụng - cũng là một bài thật độc đáo Để khóc một ngời chết, một đám bạn bè kéo nhau xuống xóm
để hát để nói, để cời, để đập trống trầu và để hút Chao ôi, ở trên đời có những cái buồn nó đã kết thành nỗi đau và uất, nhiều khi lại chỉ có thể giải toả bằng tiếng cời "Muốn khóc mà ta cứ hát tràn" Nguyễn Tuân đã diễn tả đợc cái cời
đầy nớc mắt của một bọn cầm bút ngày xa, trớc cái chết của một đồng nghiệp,
Trang 9thấy cần phải quây quần lại cho đỡ lạnh: "Một ngời nói Một ngời hút Một
ng-ời không làm gì cả Hai ngng-ời áp mặt vào tờng, cng-ời và thở dài với cái bóng in trên tờng đầy máu rệp và xác muỗi khô Tôi đánh trống, gãi hai chiếc hai chầu Cố
đánh cho tử tế, mà tôi nhận thấy tiếng trống của tôi chỉ là tiếng trống bản Và tiếng phách của Tỳ bà đủ là những tiếng sênh chấp hiệu cho một cỗ đòn đám khởi hành xuống huyệt" [14, 76]
Sau cách mạng tháng Tám, những bức chân dung đạt nhất của Nguyễn Tuân có lẽ là những bức vẽ về Tú Xơng, Nguyên Hồng (… Thời và thơ Tú X-
ơng, Con ngời Nguyên Hồng)
1.1.2 Nguyễn Tuân viết phê bình tác phẩm
Về phê bình tác phẩm của Nguyễn Tuân (phê bình gọn một tác phẩm hay toàn bộ sự nghiệp của một nhà văn), nói đến những bài hay nhất, phải kể
đến các bài viết về Sêkhốp, Đôxtôepxky, Tú Xơng, về Truyện Kiều
Nguyễn Tuân chỉ viết về những gì mình thích, nhng đã viết thì viết rất công phu và tỏ ra có quan điểm và phơng pháp khoa học Con ngời này đã làm gì thì làm đến triệt để - uống rợu phải uống cả cấn "dĩ tận vi độ" - ông thờng nói nh thế Ông vốn là một nhà báo, bút ký, phóng sự, vì thế có khuynh hớng ghi chép, khảo cứu t liệu rất công phu Để giải thích một hiện tợng văn học nào đấy, ông thờng dựng lên một bầu không khí lịch sử - xã hội rất cụ thể, sống động, trong đó nhà văn hít thở, cảm hứng và sáng tác Chẳng hạn, để giải thích thế giới hình tợng và cái giọng điệu vừa xót xa chua chát, vừa ngang ng-
ợc "ác khẩu" của thơ Tú Xơng, ông đã dựa vào rất nhiều t liệu chắc hẳn đợc tích lũy từ lâu để gợi ra cái không khí lịch sử rất cụ thể ở nớc ta cuối thế kỷ XIX khi thực dân Pháp hạ thành Nam Định, lấp sông Vị Hoàng, khi những khoa thi Hán cuối cùng có Tây đến ra bài, có bà đầm "đít vịt" đến dự, có tiệc rợu, có nhảy đầm, có bắn súng ca nông thị uy để đề phòng phong trào chống…Pháp của Đề Thám, của Nam Kỳ vẫn đang âm ỉ, chỉ chờ dịp để trở lại Mà đề cập đến cái gì ông cũng nói có ngành có ngọn Chẳng hạn, ngời khác có thể
Trang 10chỉ viết: "Năm 1873 sĩ quan thủy quân Pháp hạ xong thành Hà Nội thì xuống
đánh luôn thành Nam Định " Nh… ng Nguyễn Tuân thì nhất định phải viết tiếp: Thành Nam Định ba cửa: Cửa Tây, cửa Nam, cửa Đông cùng bị đánh một lúc, tớng Gácnhe bắc thang leo vào thành "…
Nhng đối với phê bình văn học, công việc khó khăn nhất vẫn là phân tích đánh giá chính văn bản của tác phẩm Đọc Nguyễn Tuân mới biết ông luôn sử dụng khái niệm "t tởng nghệ thuật" Trong bài "Đọc Sêkhốp", ba lần
ông nêu khái niệm này:
"Nađia đây là cái hậu thân tất nhiên của những tiền kiếp đau khổ kia trong thế giới chúng sinh Sêkhốp Nói một cách khác nữa, Nađia đây là cái hoá thân cuối cùng của t tởng nghệ thuật của Sêkhốp"
"Để hiểu rõ t tởng nghệ thuật của Sêkhốp và thái độ của Sêkhốp đối với cái thiên chức nhà văn, đối với cuộc sống "…
“T tởng nghệ thuật Sêkhốp, có lúc đã là một chú bé đi học trọ phơng xa, qua vùng thảo nguyên, nhìn anh đào thành ra "mùa anh đào chín quả" [14,…248]
Chính "t tởng nghệ thuật" là khái niệm - chìa khoá rất quan trọng, giúp Nguyễn Tuân mở đợc những cánh cửa để bớc vào lâu đài Nghệ thuật của các nhà văn Qua cách hiểu của Nguyễn Tuân về khái niệm này, ông có quan niệm
về tác phẩm nghệ thuật rất chính xác và có phơng pháp tiếp cận tác phẩm rất
đúng đắn
Đối với Nguyễn Tuân, t tởng nghệ thuật không phải là một thứ t tởng khô khan, trừu tợng, một ý niệm lý trí Đó là t tởng thấm nhuần tình cảm, cảm xúc thẩm mỹ T tởng ấy chỉ có cách diễn đạt duy nhất là hình tợng nghệ thuật
Nó là "thế giới chúng sinh Sêkhốp", là "một chú bé học trọ phơng xa", là
"Mùa anh đào chín quả" T… tởng này toát ra toàn bộ thế giới hình tợng của tác phẩm, đó tác động đến ngời đọc nh một chỉnh thể, một hệ thống sống
Trang 11Nhờ quan điểm và phơng pháp tiếp cận tác phẩm chính xác, Nguyễn Tuân đã khám phá ra chất trữ tình lãng mạn, nó bay nhẹ trên những câu thơ
đầy chất hiện thực của Tú Xơng; đã nhận ra bức chân dung lạc quan của nhân vật chị Dậu hiện lên sừng sững trên cái nền tăm tối đen ngòm của xã hội Tắt
đèn trong tác phẩm của Ngô Tất Tố; đã phát hiện cái chất sống ngồn ngột đủ
màu sắc trong Truyện Kiều - với những gam màu tơi sáng "óng ánh cả lên nh múa bằng hồi quang của hào quang" - Nó át đi, thậm chí "phản hẳn lại" cái màu thiền của đạo phật "tức là chiều già sắt sắt không không" mà Nguyễn Du không khỏi bị ám ảnh …
1.2 Nguyễn Tuân viết phê bình nghệ thuật
Vốn là một ngời đi nhiều, đọc nhiều và đọc đủ thứ Vì thế, đối tợng mà Nguyễn Tuân quan tâm khi viết phê bình không chỉ là văn chơng Trong cuốn
Nguyễn Tuân bàn về văn học nghệ thuật, bên cạnh mảng bài viết về văn
ch-ơng, Nguyễn Tuân còn viết phê bình về các môn nghệ thuật khác, nh hội hoạ,
điện ảnh sân khấu…
1.2.1 Nguyễn Tuân viết về hội hoạ
Bên cạnh Nguyễn Tuân, giới nghệ sĩ phê bình trong làng văn học nớc ta không phải là hiếm: Xuân Diệu, cặp phê bình Hoài Thanh, Hoài Chân, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi Tuy nhiên viết nhiều và viết rộng rãi thì chỉ có…Nguyễn Tuân - ngời đi tiên phong trong lĩnh vực phê bình nghệ thuật Những trang viết phê bình nghệ thuật của Nguyễn Tuân đã làm đa dạng hoá sáng tác của mình, đồng thời đem lại những thực đơn mới cho bạn đọc yêu thích văn chơng của ông
Đến với hội hoạ, một đối tợng mới đối với văn học Việt Nam Và cũng
nh viết phê bình văn học, quan điểm của nghệ sĩ không thay đổi, vẫn là bình chứ không phê và vừa bình vừa tán Nguyễn Tuân chỉ bình một số chi tiết đặc sắc của đối tợng chứ không bao quát hoàn toàn và đụng đến đâu thì nói cho
đến ngành đến ngọn mới thôi
Trang 12Viết phê bình hội hoạ, Nguyễn Tuân chú ý đến đờng nét, đề tài và xoáy sâu vào một số tiêu điểm mang đặc trng của hội hoạ và cảm xúc thẩm mĩ, nhất
là màu sắc trong tranh- cái hồn của tác phẩm
Màu sắc của hội hoạ đợc Nguyễn Tuân cảm nhận và phân tích ở góc độ
đa chiều Nếu tiếp xúc với một bức tranh nào đó, ngời xem tranh chỉ có thể nhận thấy ở đó những gam màu sáng tối, độ đậm nhạt về màu sắc của bức tranh Còn với Nguyễn Tuân "ngời chẻ sợi tóc làm t" thì cái màu sắc ấy không phải chỉ là màu sắc chung chung, màu nổi mà là những màu tơi sáng, nhẹ nhõm, nặng nề cho đến cái màu nghiêm nghị: "nhng khác với lần trớc, bây giờ những tác phẩm của ông đều nhuộm những màu tơi sáng, nhẹ nhõm Cái nặng
nề của màu thuốc trong các tác phẩm đầu tiên đã nhờng chỗ cho cái tơi tỉnh ngày nay trong sự ghép màu và dàn đề Những bức họa ngày trớc nhiều ngời không a thích vì màu thuốc nghiêm nghị Nghiêm nghị ở chỗ tối" [14, 34]
Nguyễn Tuân không chỉ thể hiện sự am hiểu của mình đối với hội hoạ
từ cách ghép màu và dàn đề trong cách cảm nhận của ông mà Nguyễn Tuân còn mang đến cho hội hoạ một màu sắc mới, một cái nhìn mới "Màu nghiêm nghị" có lẽ là màu chỉ có ở văn Nguyễn Tuân
Cha dừng lại ở đó, màu sắc hội hoạ đợc Nguyễn Tuân tiếp tục khai thác không chỉ là màu nhẹ nhõm, nghiêm nghị mà còn có những màu ấm nóng, nâu đậm, nâu nhạt Màu gạch tờng kinh niên, màu ngói già trăm năm ma nắng Thú vị hơn, Nguyễn Tuân đã phân tích cái màu nhẹ nhõm trong tranh Phố Phái "nó chắc nịch cái màu đá, xanh xanh cái màu cựu thạch, lờn lợt cái màu tân thạch khí" [14, 710] Thật là độc đáo!
Bên cạnh sự cảm nhận về màu sắc của tranh, Nguyễn Tuân còn lột tả
đ-ợc cái hồn, cái thần của tất cả những gì mà hoạ sĩ thể hiện trên tranh vẽ Đó là những cảm giác êm dịu, có tính cách quê mùa, "những đầu đề giản dị, êm ái, bình lặng", "một thi vị thấm thía" Rồi ông đi đến kết luận "đặt cảm giác nồng
Trang 13nàn vào cái đơn giản nh thế, lấy cái đơn giản ấy tìm đợc cảm xúc mạnh ở ngời xem, nếu không chịu gọi nh thế là nghệ thuật thì còn gọi là gì?" [14, 36].
Trong cảm quan của Nguyễn Tuân, bất cứ nghề gì mà làm với sự tinh xảo, tài hoa thì đều là nghệ thuật Hội hoạ đối với Nguyễn Tuân cũng là nghệ thuật, cũng nh văn chơng đều là những môn nghệ thuật đích thực! Và nhà văn cũng nh hoạ sĩ đều phải khe khắt trong sáng tác
Cái nhìn đa chiều của Nguyễn Tuân đối với hội hoạ còn đợc thể hiện ở phơng diện sáng tác của ngời hoạ sĩ Nguyễn Tuân nói đến cái gì cũng cặn kẽ,
có đầu có cuối, thể hiện sự am hiểu của ông về nghệ thuật Ông có những cách nhìn, cách đánh giá sâu sắc, xác đáng với những nhân cách mà ông ngỡng mộ
1.3 Nguyễn Tuân dựng chân dung nghệ sĩ
Nguyễn Tuân là ngời luôn đi tìm cái đẹp và điều này không chỉ thể hiện trong sáng tác văn chơng mà cả trong những bài dựng chân dung nghệ sĩ Ông không chỉ tìm cái đẹp trong đời sống mà cả ở trong văn chơng nghệ thuật, ở nét tài hoa nghệ sĩ Qua đó ta cũng nhận ra một Nguyễn Tuân rất ngông nhng cũng rất tài hoa, thờng thể hiện cái "tôi" của mình lên trang viết
1.3.1 Đối tợng mà Nguyễn Tuân quan tâm khi xây dựng chân dung nghệ sĩ
Bất kỳ môn nghệ thuật nào đều có đối tợng riêng của mình Trong phê bình văn học cũng vậy Đối với Nguyễn Tuân, đối tợng mà ông quan tâm khi xây dựng chân dung nghệ sĩ đó là các nghệ sĩ trong nớc và nớc ngoài
Những bài viết về chân dung nghệ sĩ của Nguyễn Tuân hầu hết chỉ xoay quanh những tài năng mà ông cảm phục, cá tính mà ông a thích, nhân cách mà
ông quý trọng Vì thế, đối tợng tiếp cận của ông không có giới hạn về địa lý cũng nh lịch sử Từ Sêkhốp, Đôxtôiepxki bên Tây, Lỗ Tấn bên Tàu, đến Tú X-
ơng, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Thạch Lam của nền văn học…Việt Nam ta Dờng nh Nguyễn Tuân có thể tiếp cận đợc mọi đối tợng Nó mở
Trang 14rộng một biên độ rất rộng cho sự sáng tạo của nhà văn đối với lĩnh vực dựng chân dung nghệ sĩ
Tóm lại, đối tợng mà Nguyễn Tuân quan tâm khi xây dựng chân dung nghệ sĩ là những nghệ sĩ thuộc nhiều thời đại, cả trong nớc và cả nớc ngoài Vì thế mỗi chân dung hiện lên là hiện thân cho một lĩnh vực, một thời đại khác nhau
1.3.2 Cách tiếp cận đối tợng của Nguyễn Tuân
1.3.2.1 Đi vào đời t và thông qua tác phẩm
Khi xây dựng chân dung nghệ sĩ qua đời t, Nguyễn Tuân thờng đi sâu vào cái nghèo đói, túng thiếu của đối tợng Viết về Tản Đà, Nguyễn Tuân đã ghi lại những gì gọi là tài sản cuối cùng còn lại trên dờng bệnh của nhà thơ lúc tắc nghỉ: "Vẫn bên chồng sách bừa bãi đây đó mấy trang bản thảo Tập di Cảo! Trời! Và lẻ loi ở góc bàn vẫn cái hũ rợu cáp giới ngày nọ Tất cả chỉ có thể thôi, với một đàn thê tử yếu và đuối" [14, 50] Đó còn là cuộc đời của Vũ Trọng Phụng : "Đời Phụng cha có một cái mộng nào để ôm, cha mở mang đợc cái gì để thỉnh thoảng lìa khỏi cái tẹp nhẹp mè nheo ở đời này Trong đời Phụng, Phụng cứ hành động theo suy nghĩ nhiều quá Cha một giây phút nào hắn dám điên cuồng lấy một tỵ" [14, 79] Ta biết một Vũ Trọng Phụng với những thiên tiểu thuyết, phóng sự nổi tiếng một thời, nhng đời t thì luôn nghèo
đói túng thiếu mà cả đời văn chỉ có một ao ớc tởng thật giản dị nhỏ nhoi nhng cũng không có đợc : "Tao chỉ mong sao mỗi khi chúng mày đàn đúm kéo nhau về chơi tao, thì có đợc mãi mãi một mâm cơm tơm tất và cái khay đèn không phải thiếu thuốc" [14, 82]
Viết nh vậy, không phải Nguyễn Tuân muốn bôi bác đời sống văn nghệ
sĩ, mà hơn hết qua đó, ông tỏ lòng cảm thông đối với họ bởi "cơm áo không
đùa với khách thơ": "Nghĩ càng thấy nhớ anh thi sĩ kiết thiếu áo Tú Xơng ngày xa vẫn đợc cái áo bông rách cả mùa hè: "Bức sốt nhng mình vẫn áo
bông", " Một tuồng rách rới con nh bố" [14, 484].
Trang 15Sau cách mạng tháng Tám, có lẽ bức chân dung đậm nhất của Nguyễn Tuân là bức vẽ Nguyên Hồng Đây là đôi bạn rất xa nhau về phong cách sống
và viết nhng lại gần nhau về t tởng và nhân cách Vẽ Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân đã tóm đợc những chi tiết thật đích đáng: "Tôi là thằng thích phá chùa,
mà anh đúng là ngời thích chuyện tô tợng đúc chuông" [14, 665] ấy là nhà văn Nguyên Hồng Hay là "Nguyên Hồng đã đa vào phòng khách sạn thành phố tất cả phù sa, quý hoá của đồng ruộng ven sông Hồng" ấy là con ngời Nguyên Hồng
Nguyễn Tuân không chỉ dựng chân dung nghệ sĩ qua đời t mà ông còn thông qua tác phẩm văn học để vẽ lên chân dung của họ Dựng chân dung qua tác phẩm là một phơng pháp không còn mới mẻ nữa Hơn nửa thế kỉ trớc, Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam đã làm rồi và họ làm rất thành công Hai tác giả này qua việc lựa chọn và trích dẫn những tác phẩm của một
số tác giả trong phong trào Thơ mới, thông qua đó mà vẽ lên bức chân dung của ho Thế Lữ xây dựng Xuân Diệu bằng những hình ảnh của một thi nhân với dáng vẻ hào hoa lộng lẫy "nhà thi sĩ ấy là một chàng trai trẻ, hiền hậu và say mê Tóc nh mây vờn trên đài trán ngây thơ, mặt nh lu luyến bao ngời và miệng cời rạng rỡ nh tấm lòng sẵn sàng ân ái" Đúng là Ngời thơ trong mắt
nhau [16, 49]
Nguyễn Tuân cũng thờng xuyên dựng chân dung các nghệ sĩ qua những bài phê bình Vì chỉ viết về những gì mình thích nên Nguyễn Tuân chỉ bình chứ không phê Quan điểm "văn tức là ngời", "văn học là nhân học" (Gorki) đ-
ợc thể hiện rất rõ ở những trang viết này ở đây, chúng ta cần thấy rằng, việc lựa chọn tác giả hay tác phẩm để dựng chân dung là một việc làm hết sức khó khăn Cần phải có sự cảm thụ sâu sắc và một cái nhìn tinh tế mới thực hiện đ-
ợc Tuy nhiên, cũng tuỳ thuộc vào con mắt của ngời lựa chọn khi nhìn nhận chân dung đó ở phơng diện nào, thời điểm nào
Trang 16ở những tác phẩm quá khứ, Nguyễn Tuân chủ yếu là nhìn nhận lại giá trị một tác phẩm, qua đó nêu lên ý kiến, quan điểm của mình Viết về Nguyễn
Du - đại thi hào đã đợc định vị một cách chắc chắn, ổn định trong nền văn học dân tộc - ông đã có sự đánh giá lại những tác phẩm của tác giả lớn này một cách rất công phu Ông khám phá ra cái chất sống ngồn ngộn của Truyện
Kiều nó át đi thậm chí phản hẳn lại cái màu thiền của đạo phật "tức là chiền
già sắc sắc không không" mà tác giả Đoạn trờng tân thanh không khỏi bị ám
ảnh Qua những đánh giá ấy của Nguyễn Tuân về Truyện Kiều, ta càng thấy
đ-ợc cái tài của Nguyễn Du trong sáng tạo nghệ thuật
Trong bài viết về Tản Đà, Nguyễn Tuân có nói: "Phải, ông Tản Đà khi nào ông không làm thơ thì thực là chán mớ đời" [14, 68], Oscar Wilde cũng nói "không có gì tầm thờng bằng một nghệ sĩ ở ngoài tác phẩm của họ", trờng hợp đó rất đúng với Tản Đà Khi nhận xét về thơ Tản Đà Nguyễn Tuân khái quát: "Tản Đà đáng kể ở những tập thơ nghe êm nh lời gọi của bấy nhiêu cung nữ, của tất cả những nớc quân chủ còn sống trên thế giới và ngông nghênh nh những cái thiên tài phất phơ trong cuộc sống bằng sự thờ ơ mọi cái xung quanh mình" [14, 69] Nhận xét đó có phần cay độc, chua chát nhng cũng
đúng Nhà văn khi bớc ra khỏi tác phẩm của mình thì cũng chỉ là những con ngời bình thờng trong đời thờng mà thôi
Nguyễn Tuân còn dựng một số chân dung nghệ sĩ nh Tú Xơng, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố qua những tác phẩm của họ, và đó cũng là…những bức chân dung rất thành công
Thể loại chân dung nghệ sĩ còn đợc Nguyễn Tuân mở rộng phạm vi khi
ông viết về những nhà văn nớc ngoài Qua những tác phẩm của họ, ông làm hiện lên một chân dung thật đầy đủ Ta gặp một Anđecxen: "Chiến đấu và bảo
vệ giá trị con ngời", "Anđecxen đã gợi lên cái tình hữu nghị giữa các dân tộc, Anđecxen thù ghét chiến tranh, cũng là trên cái tinh thần bảo vệ cho bằng đợc mọi công trình văn hoá của các dân tộc" [14, 195]
Trang 17Văn học là sự phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính chủ quan của nhà văn Do đó tác phẩm văn học không chỉ phản ánh thế giới khách quan của nhà văn mà qua sáng tác của mình thế, giới khách quan, lý tởng và ớc mơ của nhà văn cũng đợc thể hiện Nguyễn Tuân đã cho ta thấy đợc sự phong phú của thế giới quan của nhà văn và lý tởng hiện thực và quan niệm của mỗi nhà văn
là khác nhau Do vậy mà chân dung của mỗi ngời hiện lên rất đa dạng không giống nhau
1.3.2.2 Nguyễn Tuân thể hiện sự tâm đắc với tài năng, nhân cách, cá tính đối tợng
Nguyễn Tuân không chỉ dựng chân dung nghệ sĩ qua đời t, qua tác phẩm, ông còn miêu tả chân dung thể hiện sự tâm đắc với tài năng, nhân cách, cá tính đối tợng Nghĩa là tác giả quan sát họ ở cả những u điểm, ở cả những mặt trái của đời sống với một cự ly gần và ngời hơn Những con ngời đó trớc hết là những con ngời đời thờng nh bao con ngời khác, họ cũng ăn uống, đi lại, nói cời suồng sã Không những thế, có ngời còn bộc lộ những nét tuềnh toàng, những ngộ nhận, cần đợc hiểu và thông cảm Đi tìm cái đẹp là tìm ở cuộc sống đời thờng này, bởi "cái đẹp chính là cuộc sống" (Secnepxki)
Vốn là một con ngời đầy cá tính, nên khi viết về các nhà văn nhà thơ, Nguyễn Tuân thờng chú ý đến những nét cá tính của đối tợng mà mình yêu thích
Viết về Tản Đà - một ngời có nhiều ảnh hởng đối với Nguyễn Tuân -ông thờng nhấn mạnh đến cái "ngông" Ngông nên và làm toàn làm những chuyện khác đời, ngợc đời Con ngời rất mực phóng túng ấy chỉ biết có rợu và thơ, và chỉ biết sống đến tận cùng cái cá tính độc đáo của mình Ngoài ra không thiết đến cái gì hết, không coi cái gì là quan trọng hết Tản Đà "ngông" nên mới tự tiện đào nền nhà ngời ta lên để trồng rau húng bởi "ăn thiếu rau bực chết đi đợc Chén rợu nào cũng cứ nhạt phèo" Không chỉ "ngông" trong sinh hoạt, ăn uống mà ông còn có tài múa kiếm "khi có rợu tôi thấy thi nhân
Trang 18đẹp lắm!" Tản Đà qua nét phác hoạ của Nguyễn Tuân là một ngời ngông nghênh, có quyền "hạ chai bố, đánh ngã chai con" để rồi "cho vơi hũ rợu cho
đầy túi thơ" Nhng bên trong cái vẻ khinh bạc ấy là "những hạng ngời sống một cách lẻ loi giữa đám đông không hiểu đợc mình, để rồi lúc gần rũ áo, lúc tan giấc mộng lớn mới buông thõng một câu: "Ai đỉnh chung gì với thế nhân" [14, 44]
Viết về Tản Đà nh thế, Nguyễn Tuân thể hiện sự cảm thông trân trọng
đối với một cá tính, một tài năng mà ông có nhiều ảnh hởng
Hay về một Nguyên Hồng, một "Gorki của Việt Nam", Nguyễn Tuân
đã vẽ những nét thật giản dị nhng khá thần tình Đó là một ngời tính xuề xoà, rất gần gũi với bạn trẻ" Nhng đó cũng là một con ngời rất cần mẫn, kiên trì lao tâm khổ tứ trong công việc sáng tác "Có những buổi anh không hứng thú gì lắm nhng vẫn cặm cụi viết, tự coi mình là ngời thợ của ngôn từ phải tự hàng ngày đứng máy cho đủ giờ" [14, 664] Nguyên Hồng là một tấm gơng về lao
động nghệ thuật chân chính, qua đó, Nguyễn Tuân cho chúng ta thấy đợc sự trân trọng và đáng kính đối với nghề văn
Không chỉ thể hiện sự tâm đắc đối với một cá tính, nhân cách, Nguyễn Tuân còn thể hiện sự quý trọng đối với những tài năng Vì thế, ông nhận thấy
"có những nhà văn diễn tả chủ yếu bằng mắt" thì "Đốt diễn tả bằng tai, đôi tai rất lạ của Đốt" [14, 204] Còn đối với Tônxtôi, Nguyễn Tuân có sự so sánh
độc đáo: Tônxtôi viết văn (cho truyện ngắn cũng vậy, cho tiểu thuyết trờng thiên cũng vậy) cứ đều đều ngời Mèo leo núi leo dốc thong thả đều đặn và liền bớc, đi ra đi, nghỉ ra nghỉ, không bị mỏi, không tỏ vẻ mệt, hơi thở và tim đập
đều đều khi tới đỉnh, khi tới đỉnh mới thấy cái bao quát vĩ đại cha thấy đợc lúc bắt đầu leo" [14, 349] Chỉ vài nét phác, Nguyễn Tuân cho ta thấy đợc Tônxtôi
có một sức viết dài hơi đã làm nên những bộ tiểu thuyết đồ sộ nh Chiến tranh
và hoà bình, Annakarênina…
Trang 19Trên đây, chúng tôi đã khảo sát cách tiếp cận đối tợng trong việc dựng chân dung nghệ sĩ của Nguyễn Tuân Ông không chỉ dựng chân dung qua đời
t mà còn qua tác phẩm Nguyễn Tuân thể hiện cái nhìn chủ quan của mình đối với đối tợng, thiên về mặt tích cực là chủ yếu Vì vậy, mỗi chân dung qua nét
vẽ của ông hiện lên thật phong phú đa dạng không trộn lẫn
1.4 Nguyễn Tuân viết về tiếng Việt
Nguyễn Tuân nhà văn, nhà phê bình lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Đã có rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu nhận định, đánh giá tài năng của Nguyễn Tuân Đây là một tài năng đích thực và sở dĩ ông trở nên có tên tuổi trên văn đàn là bởi vì Nguyễn Tuân có một sự am hiểu về tiếng Việt, có một số lợng vốn từ cực kỳ phong phú và đặc biệt, ông biết cách tái sinh chúng
và sử dụng chúng một cách "đắt" nhất, hiệu quả nhất
1.4.1 Nguyễn Tuân viết về tiếng Việt với lòng tự hào, quý trọng
Trớc hết, ông viết về tiếng Việt với tất cả sự yêu quí trân trọng: "Nghĩ
về sự đầy đủ, trong trẻo, đẹp đẽ, sáng sủa và giàu sang của tiếng nói Việt Nam " "Tôi nhìn trân trân vào khoảng không ngoài cửa sổ lộng trời xanh mà…lòng thấy dào dạt lên những lời cảm ơn" [14, 663]
Có lẽ cha có nhà ngôn ngữ học nào nói về tiếng Việt nh Nguyễn Tuân Chúng ta đã từng nghe và vẫn thờng nghe những câu quen thuộc về tiếng Việt nh: tiếng Việt giàu và đẹp, tài sản vô giá của dân tộc Còn riêng Nguyễn…Tuân, ông đa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh về tiếng ta "sự đầy đủ, trong trẻo, đẹp đẽ, sáng sủa và giàu có của tiếng nói Việt Nam"
Ngôn ngữ là sản phẩm của quá trình lao động và sáng tạo của con ngời Nhờ ngôn ngữ mà cuộc sống của con ngời khác với cuộc sống của thế giới
động vật Trong quá trình tiến hoá của mình, mỗi cộng đồng ngời đều sáng tạo
ra cho mình một thứ ngôn ngữ riêng Vì thế, trên thế giới có bao nhiêu dân tộc thì có bấy nhiêu thứ ngôn ngữ
Trang 20Nguyễn Tuân là một nhà văn luôn ý thức đợc những giá trị truyền thống của dân tộc đăc biệt là ngôn ngữ - tiếng nói thần diệu của dân tộc Ông "thấy chịu ơn, biết ơn rất nhiều đối với đất nớc ông bà tổ tiên, đối với quê hơng ông
bà đã truyền lại cho tôi cái thứ tiếng nói đậm đà mà tôi hằng nói từ lúc mới
đ-ợc chào đời cho đến cái phút cuối cùng không đđ-ợc chứng sống nữa" Nguyễn Tuân coi tiếng Việt nh "cái tiếng nói ruột thịt tuỷ xơng", nh một bộ phận không thể thiếu đợc của cơ thể sống
Nguyễn Tuân yêu quý, trân trọng tiếng nói của dân tộc Ông tôn thờ
đến mức: "Có những lúc lại lẫn thẫn nghĩ dại dột rằng bây giờ tự nhiên mình lại mất trí mà quên hết, bay hết khỏi đầu mình chỗ kho tàng tiếng nói Việt Nam này, thì có lẽ mình sẽ phải chết mất" [14, 640] Thế mới biết Nguyễn…Tuân yêu quý tha thiết nhờng nào tiếng nói Việt Nam của chúng ta
1.4.2 Nguyễn Tuân phát hiện ra sự tinh vi linh diệu của tiếng Việt
Không chỉ yêu quý, tự hào và trận trọng, Nguyễn Tuân còn phát hiện ra
sự tinh vi, linh diệu của tiếng Việt mà ông gọi là "ngôn ngữ thần diệu cố hữu"
Sự tinh vi linh diệu đó của tiếng Việt có nhiều vẻ, càng tìm, càng thấy Trong bài Về tiếng ta, Nguyễn Tuân đã dẫn chứng sự tinh vi linh diệu đó của kho tàng tiếng nói Việt Nam, chỉ bằng vài từ đơn giản Chẳng hạn: từ "sống",
"chết", "sinh sản" …
Nói về cái chết, tùy vào từng lứa tuổi mà dùng từ cho thích hợp: của trẻ con thì nói: "Cảm ơn ông hỏi thăm Em nó đi (hoặc em nó ngủ) đợc gần tháng nay" Của ngời lớn thì nói: "Cụ tôi về từ năm ngoái" Tùy vào từng đối t… ợng
mà có những cách dùng từ khác nhau Đối với cái chết của nhà chùa thì phải dùng chữ "tịch" "nhà s ấy tịch rồi", có nghĩa là đã thoát khỏi sự sống náo động
để trở lại "cái tịch mịch tuyệt đối" Ngoài ra cái chết còn vô số từ khác để thể hiện tuỳ vào đối tợng và tính chất của cái chết đó nh thế nào
Sự tinh vi linh diệu của ngôn từ Việt Nam mà Nguyễn Tuân nói ở đây cũng chính là tính đa nghĩa và hàm súc của tiếng Việt Đây chính là sự độc
Trang 21đáo kỳ diệu của Tiếng Việt so với một số ngôn ngữ khác Chúng ta hoàn toàn
tự hào về điều đó
Ngoài từ chỉ cái chết, ở bài viết này, Nguyễn Tuân còn dẫn ra một số từ ngữ khác về vấn đề truyền chủng của sự sống cũng chứng tỏ sự giàu có của tiếng nói Việt Nam bằng cách dùng nhiều tiếng, nhiều từ và phân ra thứ chữ nào dùng cho ngời, thứ chữ nào dùng cho cầm thú …
Đặc biệt, Nguyễn Tuân đã lột tả vẻ đẹp của tiếng Việt trong thi ca nhất
là những kiệt tác văn chơng của dân tộc nh Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều
Nguyễn Tuân đã phát hiện ra những lời hay ý đẹp và coi đó nh những "câu thần" Nguyễn Tuân cho rằng: "Cái đợc nêu lên thành thứ thần thờng tạo nên bởi sự tinh luyện về hình tợng, bởi sự hợp kim tài tình về từ âm Trong Chinh phụ ngâm và Kiều rất nhiều chữ thần, câu thần mà càng đọc đi đọc lại nhiều
lần, càng nh đi vào những cuộc phát minh hứng thú khó lòng chấm dứt Sảng khoái và lâng lâng biết bao khi đọc khi ngâm: "Trống Tràng thành lung lay
bóng nguỵêt", "Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần", "Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày".
Lời hay ý đẹp của tiếng Việt còn đợc thể hiện qua những lời bình rất
"đắt" của Nguyễn Tuân nh chữ "phong" trong câu thơ Kiều Từ đó, Nguyễn Tuân đã khái quát tài nghệ và sự đóng góp của đại thi hào đối với tiếng nói của dân tộc, "là cái vẻ ngất trời của cách nói Nguyễn Du nhiệm màu, nó góp phần rất nhiều công của vào cái thần diệu bản sắc của ngôn ngữ Việt Nam"
1.4.3 Với Nguyễn Tuân sự trong sáng của tiếng Việt phải đi đôi với
sự giàu có, đa dạng
Hoạt động sáng tạo văn chơng là hoạt động nghệ thuật đặc thù, lấy ngôn từ làm chất liệu Nhng ít ai nghĩ đợc rằng, sự trong sáng của tiếng Việt là tấm lòng và khối óc là vấn đề tai mắt của ngời viết văn Nguyễn Tuân luôn có
sự đắn đo về ngôn từ, dùng từ nh thế nào là hợp lý, là đảm bảo cho sự trong sáng của tiếng Việt Bởi vì theo quan điểm của ông, "những điều mình nghĩ đ-
Trang 22ợc và những điều mình cảm thấy nay đã viết ra xong, nhng khi đã viết ra rồi, cha có nghĩa là đã xong hẳn" Vì thế, cần phải đọc lại nhiều lần, không những
đọc bằng mắt mà còn đọc bằng tay, đem cả năm giác quan ra mà kiểm định, thẩm tra lại cái ý tốt, cái lời trong của mình" [14, 642]
Để kiểm tra thẩm định, ngoài việc "soi lắng", "lọc" hết những bụi bặm còn bám theo cái tiếng vừa nói đối với thầy chữ Nguyễn Tuân vẫn còn cha đủ, cha thoả mãn "chất lợng con chữ" Nguyễn Tuân còn phải "nếm lại cái lời mình viết ra kia, trớc khi bng nó cho ngời ta thởng thức" Đúng là một tấm lòng yêu ngôn ngữ vô cùng Ông coi việc "nếm chữ" cũng giống nh việc cứu chữa trong bệnh viện, nh đầu bếp nêm gia vị cho những món ngon Độ mặn chát của câu văn đến nh thế nào thì cũng dễ chữa hơn những trang nhạt, câu nhạt
Nguyễn Tuân luôn gắn sự trong sáng với sự giàu có của tiếng Việt Ông không tách rời hai vấn đề này để luận bình Thú vị hơn, Nguyễn Tuân liên hệ
so sánh hai vấn đề đó với những sự vật, hiện tợng thuộc thế giới vật chất khách quan Hãy nghe Nguyễn Tuân vừa bình luận, vừa so sánh về sự trong sáng và giàu có của tiếng Việt: "Tôi nghĩ rằng trong sáng không khi nào lại có nghĩa
đạm bạc, là nghèo còm trong kho từ vựng đem ra dùng, trong cách cảm, cách nghĩ và nhất là nói ra những cảm nghĩ đó Trong sáng lại càng không phải là
đơn điệu Bởi vì có nhiều vẻ trong: nớc ma, nớc lọc, nớc cất, giấy kính, cát nung chảy rồi ép bằng đi để ép khuôn cửa sổ rồi tới pha lê gọt, tất cả đều là trong nhng không giống nhau về chất trong Và sáng cũng có những nguồn sáng khác nhau: sáng của dầu cá, của lạc, của dầu than đá, của dầu ô-liu, của bóng điện tròn và của điện ống dài màu sáng xanh" [14, 637].…
Tóm lại, qua các bài viết về tiếng Việt của Nguyễn Tuân, chúng ta thấy một bậc thầy của ngôn từ am hiểu rất sâu sắc về tiếng Việt- thứ tiếng nói mẹ
đẻ, tài sản vô giá của dân tộc- với một tấm lòng biết trân trọng, tự hào và tinh thần đóng góp cho tiếng nói của nớc nhà ngày càng giàu và đẹp
Trang 24Về mặt từ vựng, Nguyễn Tuân đã trang bị cho mình một vốn liếng từ vựng không thua kém bất cứ một nhà văn nào cùng thời Vốn từ vựng đó Nguyễn Tuân đã biết cách làm cho nó có ý nghĩa và giá trị cao nhất Có thể một ý nhng Nguyễn Tuân dùng nhiều từ khác nhau để biểu thị Một từ khi thì dùng với ý nghĩa này, khi thì dùng với ý nghĩa khác, hoặc dùng các từ cùng một trờng ngữ nghĩa Đó chính là sự phong phú, linh hoạt trong cách dùng từ của Nguyễn Tuân.
Trang 25- Trờng thiên, thiện cảm, cố nhân lai, nghiệp dĩ, tửu ẩm, cử tiểu,
hào kiệt, th viện; (Tản Đà - một kiếm khách); Tang lễ chi hậu, thế nhân, thiên đình, gia vị, diện tích, tứ phơng, bát diện, hỗn chiến, tứ diện (Chén r-
ợu vĩnh biệt); điếu văn, thi nhân, quan tài, tốc lực, thuỷ thủ, khởi hành,
khuê oán, cơ tâm, tâm điển, nhân tâm, nghĩa trang, nan y, ẩm thực, lệ,
pháp trờng (Tản Đà tửu điếm); hành khách, tốc hành, thiếu phụ, lữ hành, thiên lý, quan lục (Trớc một vẻ đẹp); bất đắc kỳ tử, dã sử, gia pháp, tửu đồ,
khai trơng, nguyên đán, điền lục nhật, phu nhân nhã giám, cận trạng, nhất đẳng điền, phong lu, tri kỷ, hai nội ch quân tử, giải phẩu, mâu
thuẫn, quảng đại, tiêu ngữ, lu giản (Những đứa con hoang); biên thuỳ,
khai hội, mộ, hành binh, hành lang, cố thủ, khai hoả, trờng thiên, dĩ vãng, kiến quốc, nội hoá, ngoại hoá, trờng kỳ, đồng hành, nhân sự, thuỷ
thổ, nhân tâm, khai mạc, xạ trờng, nguỵ vận (Cháy bản thảo);: nhập
quan, cố nhân, hoàng hô, tiến hoá, côn trùng, ngạn ngữ, xuất xử, trung
dung, thiên hạ, lu, bỉ nhân (Lột xác) viễn trinh, xâm lăng, biên thuỳ, bại tẩu, phong thuỷ, yểm huyệt (Ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng); đoản thiên, đại
tự, lợi tức, nhật trình, khởi thuỷ, hữu d, uý lạo (Truyện ngắn Lỗ Tấn)…
Qua những từ ngữ trong các bài viết đã liệt kê trên đây cũng có thể thấy rằng, nhà văn Nguyễn Tuân không chỉ là một ngời yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ,
mà ông còn rất am hiểu ngôn ngữ, nhất là từ Hán Việt - một thứ từ ngữ hàm súc và khó hiểu Đặc biệt, Nguyễn Tuân đã biết sử dụng thứ từ ngữ ấy rất
đúng lúc, đúng chỗ, tạo giá trị thẩm mĩ và giá trị biểu cảm cho câu văn Chính vì thế, mặc dù là văn phê bình, nhng khi đọc lên ta không cảm thấy khô khan, triết lí mà rất súc tích và ý vị nh văn chơng nghệ thuật của ông Điều này cho
ta thấy sự hài hoà, pha trộn giữa phong cách của một văn nhân Nguyễn Tuân
và một nhà phê bình Nguyễn Tuân Đó là một nghệ sĩ của ngôn từ
2.1.1.2 Từ vay mợn gốc ấn - Âu
Trang 26Trong Nguyễn Tuân bàn về văn học nghệ thuật, ngoài hai lớp từ chính
là từ thuần Việt và từ Hán Việt, Nguyễn Tuân còn sử dụng các từ gốc ấn Âu khi viết phê bình Chính vì lẽ đó, văn phê bình của Nguyễn Tuân có phong cách hiện đại
Từ gốc ấn Âu trong các bài viết của Nguyễn Tuân là tên gọi của một số
sự vật, hiện tợng, cũng có thể là tên gọi của ngời Từ gốc ấn Âu đã đợc Nguyễn Tuân đa vào bài viết của mình bằng hai cách: có thể phiên âm từ gốc qua một thứ từ trung gian, chẳng hạn: con gác-xon-ni-e, Béc-na-fôn, com-
mang-ca, ca-mi-ông, Tờ-rác, Giôn-sơn, Pe-rôn, USA … hoặc có thể phiên
âm trực tiếp: Bernard Fall (Béc-na-fôn), Sesxpia, Hans Christian
Andersen, HenriHeine, Charlers DicKens, Karamzine, Pouchkine, Dostoievsky, Rembandt…
Đa vào những trang viết của mình những từ ngữ nớc ngoài có tính chất quốc tế, cho thấy sự am hiểu của Nguyễn Tuân về ngôn ngữ hiện đại, hợp với
xu hớng quốc tế hoá đang diễn ra mạnh mẽ trong thời đại ngày nay Vì vậy, tuy là văn phê bình nhng ngôn từ của Nguyễn Tuân rất phong phú
khuyến, quan phu, đối ngạn, quần phong, văn hoả, nhật kỳ, lộng hiểm, triệt soạn, quyện huyệt, liễm kết, thiên trờng hận ca, nhập nhĩ nhập nhỡn, hỗn thế hỗn trần những từ ngữ này khiến cho tác phẩm không dễ…cảm thụ nếu thiếu sự chú giải cẩn thận
2.1.1.4 Cách nói sáng tạo
Trang 27Nguyễn Tuân luôn tìm tòi sáng tạo về cách nói Vì thế nó rất độc đáo, rất khác ngời, và cũng rất Nguyễn Tuân Chẳng hạn :
Ông gọi thuốc lào là "cỏ tơng t", trí thức gọi là "bọn bán óc", thơ lục bát
là "cách nói sáu tám", chết đợc gọi là "mạch sống đứt phựt", tàu hoả thành "ô
- tô ray", đèn pha ô-tô đợc thay bằng "con mắt điện" có thể tìm vô số những…dẫn chứng kiểu này trong văn Nguyễn Tuân
Càng về sau tần số xuất hiện của chúng càng cao Đây là một trong những "bí thuật" mà Nguyễn Tuân a dùng để làm giàu thêm vốn từ và luôn thay đổi "thực đơn" cho ngời đọc thởng thức, dẫu có lúc vì điều này mà ông không khỏi là mang tiếng là cầu kỳ, là "vầy vò chữ nghĩa" và thiếu tính đại chúng Một phong cách ngôn ngữ không dễ đáp ứng của những yêu cầu của những thị hiếu khác nhau
2.1.1.5 Dùng khẩu ngữ
Ngoài cách nói sáng tạo, Nguyễn Tuân còn sử dụng khẩu ngữ vào văn phê bình, tạo cho câu văn có sức hấp dẫn Theo thống kê, số lợng khẩu ngữ đ-
ợc sử dụng trong Nguyễn Tuân bàn về văn học nghệ thuật tơng đối nhiều nh:
miếng sống miếng chín, chửa hoang đẻ hoang, hơng cời sắc cời, bù khú đú
đởn, sinh quán sinh trú, tăng bo lũ lĩ, giở giọng ba rọi mà bí bơ, thi hội thi
đình, tai họng tai mũi, hóng dài hóng mãi, thủ khoa thủ khiếc, voi ngà bít bạc ném vàng, chả phợng thịt công, mộng lành mộng đẹp, dốt đặc dốt lỏng, tí chua tí chát, đắp móng xây tờng, trình tự trật tự, thi tài thi tiếc, hề mòi hề gậy, xa xỉ om sòm, đỗ cao đỗ đầu, đại khoa đại khiếc, nửa buồn nửa bực, nhốn nháo la đà, la mã hoá la tinh hoá, việc kín việc hở, chi hồ chi dã, chi huyện chi hiếc, cử nhân cử nhiếc, về danh về lợi, dẫn chứng dẫn việc, xửa xa…Sử dụng khẩu ngữ với mật độ cao nh vậy, Nguyễn Tuân đã
làm cho lời văn phê bình nghệ thuật trở nên gần gũi với ngôn ngữ sinh hoạt,
dù có lúc cần thiết, ông vẫn thể hiện sự uyên bác trong câu chữ của mình