biến ớc mơ thành sự thật, nho sĩ diễn châu đã tạo dựng cho quê hơng mình thành một vùng đất linh thiêng với truyền thống "văn chơng khoa bảng"của xứ nghệ và của cả dân tộc.. là ngời con
Trang 1
Trờng đại học vinhKhoa lịch sử - -
Nguyễn Văn Huy
Khoá luận tốt nghiệp
Nho sĩ diễn châu trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ quê hơng,
đất nớc thế kỷ XIX
Chuyên ngành: Lịch sử việt nam
lớp 46a (2005 -2009)
Vinh, 2009
Lời cảm ơn
Lời đầu tiên ,tác giả trân trọng nói lời cảm ơn chân thành tới Thầy giáo:Hồ Sĩ Huỳ, ngời đã hớng dẫn hết sức tận tâm để tác giả có thể hoàn thành tốt khoá luận này Đồng thời tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo trong khoa Lịch sử - Trờng Đại học Vinh, trung tâm th viện
Đại học Vinh, th viện Nghệ An, phòng văn hoá thông tin huyện Diễn Châu,
uỷ ban nhân dân xã Diễn Thái đã giúp đỡ và tạo diều kiện thuận lợi cho tác giả thực hiện đề tài.
Trang 2Trong khoảng thời gian ngắn, đặc biệt với năng lực có hạn, khoá luận chăc chắn sẽ không tránh khỏi sai sót.Tác giả rất mong đợc sự quan tâm góp ý của Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên
Tác giả
Nguyễn Văn Huy
mục lục
mở đầu 1
1 lý do chọn đề tài 1
2 lịch sử vấn đề 5
3 đối tợng phạm vi nghiên cứu 6
4 nguồn tài liệu và phơng pháp 7
5 đóng góp của khoá luận 7
6 bố cục khoá luận 8
nội dung 9
Trang 3Chơng1:khái quát điều kiện hình thành truyền thống đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của
nho sĩ diễn châu 9
1.1 điều kiện địa lí - tự nhiên 9
1.2 điều kiện lịch sử - văn hoá 16
1.3 tiểu kết 21
Chơng2: đóng góp của nho sĩ diễn châu trong sự nghiệp xây dựng quê hơng đất nớc trong thế kỉ xix 22
2.1 nho sĩ diễn châu tiếp tục làm rạng danh truyền thống khoa cử của cha anh 22
2.2 nho sĩ diễn châu trong sự nghiệp chính trị, văn hoá - t tởng 37
2.3 một số nho sĩ tiêu biểu 44
2.3.1 cao xuân dục - một sĩ phu có tinh thần dân tộc, một nhà văn hoá lớn thời cận đại 44
2.3.2 đặng văn thuỵ - một nhà nho uyên bác, một học quan có nhân cách 48
2.3.3 nguyễn xuân ôn - một nhà thơ, một nhà t tởng lớn 52
2.4 một vài nhận xét 60
Chơng 3: nho sĩ Diễn Châu với sự nghiệp chống pháp nửa sau thế kỉ xix 62
3.1 giai đoạn trớc cần vơng 62
3.2 nho sĩ Diễn Châu trong phong trào cần vơng chống pháp (từ 1885_1896) 63
3.2.1 phong trào cần vơng chống Pháp ở xứ nghệ 63
3.2.2 nho sĩ diễn châu trong khởi nghĩa nguyễn xuân ôn 65
3.3 nhận xét về phong trào đấu tranh của nho sĩ diễn châu nửa sau thế kỉ xix 71
kết luận 73
phụ lục 76
tài liệu tham khảo 91
Trang 4mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
danh xng diễn châu xuất hiện từ năm 627 (thời nhà đờng đô hộ) nhng mảnh đất này đã gắn bó với non sông nớc Việt từ thuở hồng hoang của lịch sử Trải qua bao thăng trầm biến đổi, c dân xứ Diễn bằng bàn tay khối óc và cả con tim nồng cháy đã tạo dựng nên những giá trị vật chất và tinh thần cho quê hơng trong đó tầng lớp nho sĩ là lực lợng tiên phong
cũng nh nho sĩ các vùng khác ở xứ Nghệ, nho sĩ Diễn châu bao đời vốn nổi tiếng với tinh thần hiếu học, khổ học, thông minh, cơng trực và luôn khát khao mơ một ngày rồng mây gặp vận, cửa khổng sân trình rộng mở để trở thành ông nghè, ông cống làm rạng danh quê hơng biến ớc mơ thành sự thật, nho sĩ diễn châu đã tạo dựng cho quê hơng mình thành một vùng đất linh thiêng với truyền thống "văn chơng khoa bảng"của xứ nghệ và của cả dân tộc
không chỉ làm rạng danh truyền thống khoa bảng, nho sĩ diễn châu còn mang trong mình tinh thần yêu nớc, ý chí kiên cờng, sẵn sàng xông pha trận mạc đánh đuổi ngoại xâm nội phản, giữ yên bờ cõi, xng đáng là trang nam tử trên đời
những năm cuối thế kỉ xix, thực dân pháp xâm lợc triều đình phong kiến nhà
nguyễn đớn hèn từng bớc nhợng bộ trớc tàu đồng đại bác của giặc Sự tồn vong của dân tộc đợc đặt lên bàn cân, lòng dân nghiêng ngả, sĩ phu không biết theo ai, thì chiếu cần v-
ơng ban ra nh lời hiệu triệu cả dân tộc.cả nớc dậy sóng căm thù giặc pháp với truyền thống yêu nớc, thơng dân, bản lĩnh của "tôi trung"nho sĩ xứ diễn đã lãnh đạo nhân dân quê nhà phất cờ cần vơng đứng lên khởi nghĩa, tiêu biểu là Tiên sĩ Nguyễn Xuân Ôn, các cử nhânTrần Quang Diệm, Đinh Nhật Tân
vì vậy tìm hiểu hoạt động của tầng lớp nho sĩ diễn châu ở thế kỉ xix sẽ cho chúng
ta cái nhìn đầy đủ hơn những đóng góp của họ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê
h-ơng đất nớc, thấy đợc vai trò lãnh đạo, tổ chức kháng chiến và khai thác sức mạnh quần chúng nhân dân của họ thiết nghĩ từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc hiện nay
Trang 5lịch sử địa phơng là một phần không tách rời lịch sử đân tộc song trong thời gian dài vấn đề này không đợc coi trọng và thực tế trên quê hơng diễn châu thì sự hiểu biết của ngời dân về lịch sử quê hơng cũng cha tờng tận.
là ngời con của quê hơng, học tập chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, với mong muốn góp phần nhỏ những hiểu biết của mình làm sáng rõ hơn những truyền thống quê hơng, tôi mạnh dạn chọn đề tài: nho sĩ diễn châu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê h-
1380 năm lịch sử _văn hoá_nhân vật do Ninh Viết Giao(chủ biên) Nxb Nghệ An, 2007; Diễn Châu địa chí văn hoá và làng xã của Ninh Viết Giao và Trần Hữu Thung ( chủ biên )NxbNghệ An,1995; Giáo dục khoa cử Diễn Châu thời Nguyễn (1802 - 1919)của Nguyễn Thị Uyên,khoá luận tốt nghiệp Đại học Vinh- 2007 các tác phẩm trên đã nêu tóm tắt tiểu
sử của những cử nhân, phó bảng, tiến sĩ Việt Nam dới triều Nguyễn trong đó có nhiều
ng-ời con Diễn Châu
- Về truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm, nội phản trong giai đoạn này có các tácphẩm : Lịch sử Việt Nam ( tập1 ) Nxb Khoa học xã hội,1971; Lịch sử Nghệ Tĩnh ( tập 1) Nxb Khoa học xã hội,1984; Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam huyện Diễn Châu
1930_2005 (sơ thảo) Nxb Lao động xã hội; Diễn Châu trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc từ 1885 - 1945,Trần Thị Việt Hà,khoá luận tốt nghiệp Đại học Vinh2007
và một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành
từ nhiều góc độ khác nhau các tác giả đã phác hoạ về các danh sĩ diễn châu với những đóng góp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng đất nớc.nhng nhìn chung các công trình trên chỉ tập trung đánh giá chung chung mà cha có công trình nào trình bày
cụ thể, hệ thống về vai trò của tầng lớp trí thức Nho học trên quê hơng diễn châu ở thế ki
Trang 6xix vậy nên khoả lấp khoảng trống trên là mục tiêu mà tác giả hớng tới trong đề tài nghiên cứu này.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
trớc năm 1945 phủ Diễn châu gồm đất 3 huyện: diễn châu,yên thành, quỳnh lu hiện nay.tuy nhiên trong đề tài nghiên cứu này tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu tầng lớp nho sĩ trên đất huyện diễn Châu hiện nay.Trong hàng ngàn năm tồn tại cùng đất mẹ Việt Nam, con dân Diễn Châu đã tạo dựng cho quê hơng mình nhiều truyền thống tốt đẹp, trong đó nổi bật với truyền thống văn chơng khoa bảng và yêu nớc chống ngoại xâm Trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu vai trò của tầng lớp nho sĩ Diễn Châu trong thế kỉ xix thể hiện qua hai truyền thống trên
Mặc dù giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là thế kỷ xix, nhng trong khoá luận nhiều chỗ có vợt ra ngoài phạm vi đó Điều đó do một số nhân vật có vai trò quan trọng lại sống ở cả hai thế kỷ, mà tác giả thấy cần phải đa thêm vào mong khoá luận đợc đầy đủhơn
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài, chúng tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu:tài liệu chuyên khảo viết về truyền thống hiếu học khoa cử xứ Nghệ; nho sĩ Việt Nam; những bài đánh giá về các nhân vật lịch sử; tài liệu lu trử tại th viện Nghệ An; th viện Đại học Vinh; phòng văn hoá thông tin huyện Diễn Châu; các xã và dòng họ khoa bảng ở Diễn Châu Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập vận dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháplôgic để tái hiện qúa khứ, rút ra những nhận xét về vai trò của tầng lớp nho sĩ Diễn Châu trong thế kỉ xix đối với quê hơng, đất nớc
5 Đóng góp của khoá luận
Khoá luận cố gắng trình bày hệ thống về vai trò của tầng lớp nho sĩ Diễn Châu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hơng, đất nớc thế kỉ xix Qua đó giúp bạn đọc
có cái nhìn toàn diện về đóng góp của nhân dân Diễn Châu đối với sự nghiệp chung của dân tộc, rút ra những đóng góp chủ yếu của nho sĩ đối với quê hơng, đất nớc mà các công trình trớc cha có điều kiện làm rõ
Khoá luận góp phần hoàn chỉnh những hiểu biết về lịch sử địa phơng, là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh huyện nhà trong các giờ học lịch sử địa phơng
Đồng thời hi vọng có thể góp phần giúp các nhà lãnh đạo huyện nhà thấy đợc vai trò của tầng lớp trí thức đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc hiện nay, từ đó hoạch
định chính sách thu hút nguồn chất xám, xây dựng Diễn Châu ngày càng giàu mạnh, phồnvinh
Trang 76 Bố cục khoá luận.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1: khái quát điều kiện hình thành truyền thống đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của nho sĩ diễn châu
Chơng 2: đóng góp của nho sĩ diễn châu trong sự nghiệp xây dựng quê hơng, đất nớc ở thế kỉ xix
Chơng 3: nho sĩ diễn Châu trong sự nghiệp chống Pháp nửa sau thế kỉ xix
nội dung
Chơng 1
khái quát điều kiện hình thành truyền thống
đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của tầng lớp nho sĩ diễn châu
1.1 Điều kiện địa lí - tự nhiên
Đất Diễn Châu gắn bó với máu thịt tổ quốc việt nam ngay từ thời các vua hùng dựng nớc nhng địa giới hành chính có nhiều thay đổi trong qua trình biến động lịch sử Thời Bắc thuộc trải qua bao triều đại, đất Diễn Châu thuộc huyện Hàm Hoan đời Hán,thuộc quận Cửu Đức đời Ngô và đời Tấn, thuộc huyện Đức Châu của quận Nhật Nam đời Nam Lơng(502_507)
Sau đó nhà Tiền Lý của Lý Bí xây dựng nền tự chủ đợc một thời gian (544_603) thì bịnhà Tuỳ xâm chiếm Nhà Tuỳ trị vì Trung Quốc khoảng 37 năm (581_618) và chiếm đợc Giao Châu khoảng 15 năm (603_618) thì bị nhà Đờng lật đổ Buổi đầu nhà Đờng cha nắm
đợc Giao Châu Năm Vũ Đức thứ 15 đời Lý Cao Tổ nhà Đờng đặt Giao Châu đại tổng quản phủ lãnh 10 châu Năm Điều Lộ thứ nhất (679) đổi An Nam đô hộ phủ cai trị 12 châu Nhng trớc đó nămTrinh Quán thứ nhất (627) đời Lý Thái Tông, nhà Đờng đổi Đức Châu thành Hoan Châu, Hoan Châu cũ gọi là Phù Diễn sau đổi thành Diễn Châu Song lúc
Trang 8bấy giờ Diễn Châu chỉ là một đơn vị hành chính của huyện Hoài Hoan nằm trong Hoan Châu Mãi đến năm Quảng Đức thứ hai(764) nhà Đờng mới tách phần đất của Hoan Châuthành Diễn Châu ngang với Hoan Châu, có lẽ là phần đất phía bắc Nghệ An ngày nay gồm: Diễn Châu, Quỳnh Lu,Yên Thành, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, lỵ
sở đóng tại Quỳ Lăng (Lăng Thành_Yên Thành)
Năm 939 nớc ta dành đợc quyền tự chủ, các triều đại Ngô (939_980)Tiền Lê
(980_1009) đều bỏ chế độ quận, huyện Đinh Tiên Hoàng chia nớc ta làm 10 đạo, làm lộ, phủ, châu Nhng cho đến nay cha rõ duyên cách địa lí hành chính và tên gọi các đạo thời
Đinh và lộ, phủ, châu thời Tiền Lê nh thế nào Cả dải đất từ khe Nớc Lạnh cho đến Đèo Ngang vẫn thấy sử cũ gọi là Hoan Châu và Diễn Châu
Năm 1010 nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê, chia cả nớc làm 12 lộ thì Diễn Châu là một trong 24 lộ nhng sách vẫn gọi là Nghệ An và Diễn Châu là châu Năm Thiên Thành thứ ba(1030) đời Lý Thái Tông đổi Hoan Châu thành Nghệ An Tên Nghệ An có từ đó
Năm 1225 nhà Trần lên thay nhà Lý Năm 1226 nhà Trần đổi Nghệ An và Diễn Châulàm trại nhng sau đó gọi là phủ Năm Long Khánh thứ hai đời Trần Duệ Tông (1373) đổi lại là lộ Diễn Châu Năm Quang Thái thứ 10 (1397) Hồ Quý Ly làm phụ chính thái s, sửa
đổi chế độ hành chính, đã đổi các lộ, phủ ra làm trấn Nghệ An tức miền đất Hà Tĩnh và
từ Nghi Lộc kéo dài đến Kì Sơn hiện tại làm trấn Lâm An, còn Diễn Châu làm trấn Vọng Giang Sang đời nhà Hồ, Hồ Hán Thơng đổi phủ Diễn Châu từ trấn Vọng Giang thành phủLinh Nguyên Phủ Linh Nguyên vẫn là phần đất đời Lý, Trần trở về trớc
Phủ Linh Nguyên hay trấn Vọng Giang hay châu Diễn đời Lý, Trần, Hồ gồm huyện Phù Dung (tức đất huyện Quỳnh Lu ngày nay), huyện Phù Lu, huyện Quỳnh Lâm (có lẽ
là đất huyện Nghĩa Đàn và phủ Quỳ Châu cũ) và huyện Thiên Động là đất của hai huyện Yên Thành và Diễn Châu hiện tại
Thời thuộc Minh, Diễn Châu gọi là phủ Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, thiên hạ
đại định, Lê Lợi chia cả nớc ra làm 5 đạo, Diễn Châu thuộc đạo Hải Tây
Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nớc để thống thuộc các huyện chia cả nớc làm 15 thừa tuyên mới hợp cả Hoan Châu và Diễn Châu làm một gọi là thừa tuyên Nghệ An
Bởi vậy tác giả Nguyễn Hữu Tâm trong bài tham luận "Góp thêm t liệu xác định thời
điểm xuất hiện Diễn Châu và bàn về vị trí của Diễn Châu trớc khi đợc sát nhập vào thừa
tuyên Nghệ an năm1469 "Ttrong vòng 8 thế kỉ (627_1469) trải qua nhiều triều đại, với nhiều biến động lịch sử, duyên cách Diễn Châu cũng khá phức tạp Nhng Diễn Châu luôn
có một vị trí là đơn vị hành chính địa phơng cấp cao nhất Không những chỉ là nơi trọng
Trang 9trấn về quân sự mà trong một thời gian dài đã đại diện cho quốc gia đón tiếp các thơng thuyền ngoại quốc tới giao lu kinh tế Trong lịch sử vùng này đã thể hiện đầy đủ vai trò quan trọng địa kinh tế, địa quân sự của mình Ngời Diễn Châu luôn tự hào với truyền thống đánh giặc giữ nớc, xây dựng kinh tế của quê hơng [ 20 ,44]
Năm Hồng Đức thứ 21(1490) đổi thừa tuyên làm xứ Sang đời Hồng Thuận lại đổi lại làm trấn Trấn Nghệ An bấy giờ có 7 phủ: Đức Quang, Diễn Châu, Anh Đô, Hà Hoa, QuỳChâu, Trà Lân, Trấn Ninh và hai châu là Trinh Cao và Quỳ Hợp.Sang thời Tây Sơn,
Quang Trung đổi làm Trung Đô gọi là trấn Nghĩa An Năm Minh Mạng11 (1831) mới đặttỉnh gọi là Nghệ An và Hà Tĩnh
Diễn Châu đời Lê và sau này đời Nguyễn có hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lu
Đông Thành gồm cả Diễn Châu và Yên Thành Đầu thời Nguyễn, Đông Thành có 7 tổng,
242 thôn, trang, sách, vạn, phờng
Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) nhà Nguyễn chia Đông Thành theo chiều Đông - Tây làm hai huyện: Đông Thành và Yên Thành Huyện Yên Thành gồm các tổng: Hoàng Tr-ờng, Vạn Phần, Thái Trạch, Quan Triều, Cự Lẫm do phủ Diễn Châu thống đạt, trị sở đóngtại Yên Lý (Diễn Yên ngày nay) Những tổng còn lại: Cao Xá, Quan Trung, Vân Tụ, nằm trong huyện Đông Thành, trị sở đóng tại xã Cao Xá
Nh vậy là huyện nào cũng có núi, có sông, có đồng bằng, có biển, nhng đến năm Thành Thái thứ 10 (1898) chính quyền thực dân Pháp và nhà Nguyễn thấy chia nh vậy có
điều không thuận tiện, nên mới chia lai theo chiều Bắc - Nam, huyện Đông Thành ở phía
đông, Yên Thành ở phía tây, cả hai đều thuộc phủ Diễn Châu Huyện Đông Thành gồm các tổng: Cao Xá, Thái Xá, Lý Trai, Vạn Phần, Hoàng Trờng Từ năm 1919 nhà nớc bỏ cấp phủ đổi huyện Đông Thành thành phủ Diễn Châu, gọi là phủ nhng chỉ ngang hoặc hơn cấp huyện tí chút
Cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, các phủ, huyện, châu đều đổi làm huyện và có điều chỉnh lại một số phần đất Phần đất phía bắc tổng Hoàng Trờng cắt về huyện Quỳnh Lu Hiện nay Diễn Châu có 38 xã và một thị trấn, là vùng đồng bằng ven biển ở phía bắc Nghệ An từ 105o30/ - 105040/ kinh độ đông;
18020/ - 19005/ vĩ độ bắc Phía bắc giáp với Quỳnh Lu, nam giáp Nghi Lộc, tây bắc giáp Nghĩa Đàn, tây giáp Yên Thành, đông là một vùng biển mênh mông
Diễn châu, diễn là nớc chảy trong lòng đất [16,73] H breton và các nhà địa chất học
đều cho rằng: Qủa đất có nhiều biến thiên kinh động vào kỉ thứ 3, ở bán đảo Đông Dơng
có nhiều lớp tinh thạch ở kỉ 1 và sa thạch ở kỉ 2 bị đảo lộn lung tung làm cho mặt địa cầu không ổn định trong cơn chuyển động dữ dội đó.Vì có biến cố lớn đó nên mặt đất bào
Trang 10mòn cũ ở vùng này bị kênh, phía đông trồi lên, phía tây tụt xuống nên đã thành ra dãy ờng Sơn hiện nay Mặt khác nớc biển lùi ra xa để lại nhiều núi non trong đó có những dãynúi hoa cơng ở ven biển Nghệ Tĩnh Đầu kỉ 4 có một hiện tợng phổ biến, liên tục diễn ra trong quá trình xâm thực Nó lấp những chỗ sâu, bào mòn những mỏm nhọn, tạo thành những cao nguyên rộng lớn, những thung lũng, những đồng bằng giữa những xếp đất tạo
Tr-ra dần dần những châu thổ rộng nh vùng hạ lu các con sông Lam và dòng sông khác Trong thời gian này cánh đồng Diễn - Yên - Quỳnh ra đời Trên mặt đất bùn đen xa là đáycủa một phá nớc mặn mà ngày nay trở thành lớp trên của lòng đất ở phần lớn các đồng bằng ven biển Bầu nớc này đang lu liên chảy dới đất từ Nghệ Tĩnh đến mãi Quy Nhơn Địa hình Diễn Châu ba bề có núi bao bọc chỉ hở mặt biển Trớc đây là một phá nớc mặn, mênh mông có thể gọi là vịnh Diễn Châu Nhng rồi nớc biển lùi ra xa, để lại mặt địahình nh ngày nay Trầm tích biển với các loại vỏ sò và cát đã tham gia đáng kể vào việc cấu tạo nên đồng bằng Diễn Châu Đồng bằng này còn đợc tạo nên bởi các đợt ma lũ, đất
đai ở các đồi núi bị bào mòn đổ xuống bởi phù sa của sông Bùng , sông Dinh
Ngày nay cùng với thời gian và những đổi thay của tự nhiên, địa hình Diễn châu đã thay đổi có thể chia làm 3 vùng:
- Vùng sờn đồi: Gồm các xã Diễn Lâm, Diễn Lợi, và một phần Diễn Thắng, Diễn Phú, Diễn Đoài
- Vùng đất phù sa đồng bằng gồm nhiều xã trừ các xã ven biển
- Vùng đất cát ven biển: Đất nhẹ và kém màu mở phần lớn do biển bồi tụ mà thành
Tuy thiếu chất dinh dỡng nhng đất này vẫn canh tác tốt nhờ có dòng nớc ngầm ngay
d-ới Bởi vậy dân gian có câu"Đợc mùa Cao Xá, thiên hạ rã mồm"là thế Cho nên nhân dân
Nghệ Tĩnh thờng nhắc đến câu ca:
Đông Thành là mẹ là cha
Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành
Có đợc sự hng thịnh đó không chỉ nhờ thiên nhiên thuận lợi mà yếu tố hàng đầu là do con ngời Trải qua bao thăng trầm lịch sử, bằng bàn tay gân guốc cần cù, bãn lĩnh và trí thông minh, ngời dân nơi đây đã chế ngự thiên nhiên, khai sơn phá thạch tạo dựng nên vùng đất này
Tác giả"Nghệ An thập nhị huyện"đã vịnh nh sau:
tú bạt tinh phong biến địa trung
bình lâm bạn hải cực thiên đông
nhân tài tự cổ đa hào kiệt
nhân vật nh kim diệc đại đồng
Trang 11thục miếu tớc đề kim cổ thụ
ngô Thành ngu dật tịch triều phong
tối linh động khẩu tà dơng trủng
thành Ngô gió nổi dáng trâu sóng triều
cửa hang mộ hắt ráng chiều
tiên đồng truyện kể bao điều phạm viên
Thiên nhiên đã u đãi cho Diễn Châu một địa hình tơng đối bằng phẳng, ít núi so với các huyện trong tỉnh Nghệ An Các nhà phong thổ thờng nhắc đến núi Mộ Dạ có đền thờ
An Dơng Vơng, núi Bạc ở Diễn Phú, núi Động Thờ ở Diễn Thắng, rồi Rú Ta, Rú Mụa ở Nho Lâm, hòn Trơ ở Yên LýThợng, núi Nhuệ ở làng Đăng Cao Nhng đáng kể là lèn HaiVai mà tên chữ là Lỡng Kiên Sơn Phải nói rằng lèn Hai Vai đã gắn liền với bao thăng trầm của Diễn châu.ở đó thắng cảnh gắn liền với truyền thống, với kỳ tích lịch sử, tâm
hồn, bao quan niệm nhân sinh, quan niệm nhập thế "Lèn Hai Vai lung linh sinh động, vẫn
là nơi gửi gắm niềm tin sức sống, lòng kiêu hãnh và tình đau đáu yêu quê hơng của ngời Diễn châu Lèn Hai vai còn tiêu biểu cho cốt cách văn hoá, cho đạo lý làm ngời, cho cả những suy nghĩ ao ớc về thế cuộc, về tơng lai của ngời dân cả một vùng [11,43] Vì vậy xa
đến nay lèn Hai Vai là hình ảnh tợng trng cho khí phách cứng cỏi và ý chí, đạo đức làm ngời của bà con Diễn Châu
Nh một cặp sóng đôi, dơng phải có âm, bên cạnh Lỡng Kiên Sơn là dòng Bùng giang hiền hoà uốn lợn từ Yên Thành chảy xuống các xã Diễn Minh, Diễn Bình, Diễn Cát về cầu Đò Đao, từ đó chảy qua Diễn Phúc, Diễn Thành, Diễn Hoa, Diễn Ngọc, Diễn Kỷ rồi chảy xuống Diễn Vạn và đổ ra biển ở cửa Vạn Vào những đêm trăng sáng, sông lặng nớctrắng sau những cơn ma rào mùa lũ, ánh trăng vàng nh tấm lụa mênh mang trải trên mặt sông, bầu trời lồng lộng, vầng trăng lơ lửng trên cao, tao nhân mặc khách không thể thờ ơ
với cảnh sông nớc hữu tình ấy "Ngời Diễn Châu ta, ngẩng đầu thấy núi Hai Vai, cúi đầu
thấy bóng mình trong lòng sông Bùng, nh núi Nùng sông Nhị đối với đất Thăng Long, núi
Trang 12Ngự sông Hơng đối với xứ Huế, núi Hồng sông Lam đối với đất Hoan Châu Nói đến Hai Vai và sông Bùng là nói đến Diễn Châu và ngợc lại "[14,09] Ngoài sông Bùng, Diễn
Châu còn có các con sông khác nh sông nhà Lê, sông Cầu Lồi, sông Yên Sở Nhng nhìn chung các con sông ở đây thờng ngắn và hẹp không xuất phát từ núi cao nên ít phù sa Bù lại Diễn châu lại đợc thiên nhiên ban tặng một Bạng Cáp Sa hay còn gọi là "Cao Xá Long
Cơng"."Bạng Cáp sa là khối vỏ vãng bể đời cổ, từ phía bắc núi Mộ Dạ đến phủ Thành,
ba đống song song nổi lên kết thành khối chồng chất Đoạn dới hơi tha đó là Ngoạ
Long"[11,54] Ngô Trí Hợp cũng viết" Gò Rồng này khởi từ Hơng Aí, nguyên có ba đầu
đều do vỏ sò, bạng kết thành, bổ về phía bắc xã Cao Xá, mặt đất dần dần cao mãi nhân dân gọi là Long Cơng, lại có tên là gò vỏ vãng (Bạng Cáp Sa) đi mãi tới địa phận hai xã Trang Thung và Trang Bích thì hết Nhà địa lí cho"'tam đầu cửu vĩ"(ba đầu chín đuôi) là
nó Đó là những việc kì dị vì thời gian quá lâu không biết khởi đầu từ bao giờ"[11,55].
Nh xứ Nghệ _chung dãi khí hậu miền Trung khắc nghiệt_ mảnh đất Diễn châu cũng vậy Suốt năm ngời dân xứ Diễn phải gồng mình chống chọi với thiên nhiên, hết nắng gắt gió Lào đến lũ lụt, nạn hồng thuỷ, bão bùng Nhng khác với các vùng khác trong tỉnh Nghệ An, Diễn Châu đợc thiên nhiên u đãi bởi gần biển Biển nh chiếc quạt gió khổng lồ
điều hoà chế ngự gió Lào, cho nên ở Diễn Châu gió Lào không găy gắt nh các vùng khác Với vai trò là nơi trọng trấn của một thời, vị trí địa lí tự nhiên, thiên nhiên có nhiều u
đãi, song cũng hết sức khắc nghiệt đã góp phần tôi luyện nên bản lĩnh của ngời Diễn châu: cần cù, nhẫn nại trong lao động sản xuất chế ngự tự nhiên, kiên trung trong đấu tranh chống ngoại xâm Để lại tiếng thơm là vùng "địa linh nhân kiệt"của nớc Việt yêu thơng
1.2 Điều kiện lịch sử - văn hoá
C dân Diễn châu mang trong mình truyền thống dân tộc đợc biểu hiện trong hoàn cảnh
cụ thể, đợc gìn giữ và phát triển, góp phần tạo dựng nên những giá trị tốt đẹp của quê
h-ơng
Không chỉ có cảnh đẹp của núi sông, biển cả mà Diễn châu còn đợc biết đến là vùng
đất có bề dày lịch sử văn hoá, là nơi hội tụ giao lu văn hoá bắc - nam từ lâu đời
Các nhà khảo cổ học, qua nhiều lần khai quật đã kết luận rằng: Ngay từ buổi hồng hoang ở đây đã có ngời Việt cổ sinh sống Những riù đá có vai, đồ gốm có trang trí hoa văn tìm thấy tại di chỉ Rú Ta(Diễn Thọ), những sọ ngời cổ, rìu đá mài nhẵn hai mặt , những hoa văn trang trí độc đáo trên bình gốm tìm thấy ở di chỉ lèn Hai Vai (Diễn Minh) Rồi một số mộ chôn đơn, chôn đôi, chôn trong vò tại di chỉ Đồng Mõm (Diễn Thọ) Tất
Trang 13cả đã góp phần khẳng định Diễn Châu là một bộ phận khăng khít trong đại gia đình, là con cháu các vua Hùng - gắn bó với đất Việt ngay từ đầu.
Xứ Nghệ trong tâm thức ngời Việt là một vùng đất cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt nên
cuộc sống ngời Nghệ luôn phải chắt chiu dành dụm Vì vậy Bùi Dơng Lịch đã viết"Ngời Nghệ An khí chất chất phác đôn hậu, tính tình từ tốn chậm chạp không sắc sảo, cho nên làm việc gì cũng giữ cẩn thận, bền vững ít bị xáo động bởi những lợi hại trớc mắt Song
đất mạch từ xa kéo đến mỗi nơi một khác mà tính ngời bẩm thụ khí đó không giống
nhau [26,211] Song đất Nghệ lại nổi danh với truyền thống hiếu học đỗ đạt trong khoa
cử khiến ngời tứ phơng phải nể phục
Diễn Châu trong dòng chảy văn hoá xứ Nghệ cũng đợc biết đến là vùng đất văn chơng
và khoa bảng.Vợt lên những khốn khó đời thờng, gửi mộng công danh vào trong mỗi tên
đất tên làng là sự thể nguyện ớc muốn của ngời dân nơi đây Nhiều tên đất tên làng vẫn còn lu giữ đến ngày nay nh Nho Lâm, Bút Trận ,Văn Hiến Để khuyến khích học hành nhiều thôn xã có cả học điền, có văn miếu, hội t văn, t võ, hội đồng môn Bởi vậy những
cố gắng của họ đã đợc đền đáp xứng đáng." Từ đời Lí cho đến đời Nguyễn, kể từ khoa thi
đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919 hơn 800 năm thi cử, có 2896 ngời thi đỗ, cả tiến sĩ và phó bảng Nghệ Tĩnh có 280 ngời trúng bảng (gần 10%) thì Diễn Châu có 23 ngời " [14,277] Đặc biệt Diễn Châu là quê hơng của trại trạng nguyên Bạch
Liêu - ngời khai khoa cho xứ Nghệ - quê ở làng Nguyên Xá huyện Đông Thành nay thuộc xã Diễn Lợi Ông đỗ khoa thi Bính Dần - Thiệu Long thứ 9 (1266) đời Trần Thánh Tông Từ đó về sau theo "Liệt huyện đăng khoa lục"của Phan Huy Ôn và "Đông Yên nhị huyện khoa phổ" thì cả huyện Đông Thành có 41 ngời đỗ đại khoa riêng Diễn Châu có
23 ngời
Diễn Châu còn nổi danh với nhiều dòng họ có truyền thống hiếu học, khoa bảng nh dòng họ Ngô ở Lý Trai (Diễn Kỷ), họ Cao ở Thịnh Mỹ ( Diễn Thọ), họ Đặng ở Nho Lâm,
họ Trần ở Đông Luỹ
Là một vùng đồng bằng thuần nông, cây lúa là cây lơng thực chủ yếu, ngoài ra còn
có các loại cây nh ngô, khoai, vừng, lạc Nói nghề nông là chính nhng ở Diễn Châu nghề phụ cũng có phát triển với nhiều làng nghề nổi tiếng nh Nho Lâm luyện quặng, nung sắt; Phợng Lịch nuôi tằm dệt vải; nứớc mắm Vạn Phần
Ngời Diễn châu có đời sống văn hoá tinh thần phong phú và rất độc đáo, ở các làng xã
đều có đền thờ thành hoàng, có chùa thờ bụt, thờ phật Ngày tế lễ thần là ngày lễ quan trọng đợc tiến hành thờng niên, qua đó giáo dục ý thức cộng đồng cho thế hệ trẻ về truyềnthống cha anh Ngoài ra hàng năm còn tổ chức "yến lão "cho các vị lão niên
Trang 14Vào ngày xuân khắp nơi trên đất Diễn châu đều tổ chức ca hát, nhảy múa Nhiều thôn xã đều có phờng hát nổi tiếng nh hát hội làng Bùng, hát chèo Lí Nhân, hò đại thánh ở
Đông Câu Các loại hình chủ yếu là hát ví, hát dặm và kể chuyện vè Họ hát trong lao
động sản xuất, hát về nghề nghiệp nh ví phờng vải, ví phờng gặt Vè rất thịnh hành trở thành công cụ ngợi ca hay châm biếm đã kích rất lợi hại Ngày nay vẫn còn lu truyền nhiều bài vè có giá trị lịch sử nh vè Nguyễn Xuân Ôn, vè Tú Mai, Tú Tấn và một hệ thống truyện dân gian truyền miệng đa dạng với các thể loại cổ tích, thần thoại, chuyện c-
ời gắn với sinh hoạt cộng đồng, với tên đất tên làng, ngọn núi, con sông quê hơng
Đợc thiên nhiên u đãi nhng vùng đất này cũng phải hứng chịu nhiều tai ơng bất trắc Vì vậy ngời dân Diễn Châu phải luôn nhìn thẳng vào sự hiểm nghèo, quen sống trong hồi hộp, lúc nào cũng sẵn sàng tâm thế tự vệ Chính cuộc sống bấp bênh ấy, cùng với truyền thống văn hoá quê hơng đã hun đúc cho ngời dân nơi đây những đức tính quý báu Nhờ
vậy ngời dân nơi đây đã biến vùng đất biên cơng hẻo lánh "hơu hoẳng đầy gò, tiếng kêu vang đầy nội, chim công bay lợn che rợp núi trời (Lịch Đạo Nguyên:Thuỷ kinh chú) thành vùng đất phì nhiêu trù mật Những cánh đồng mênh mông dập dìu sóng lúa, những vờn cây trĩu quả, làng mạc xanh rờn có luỹ tre bao bọc, những trờng học rộn rả tiếng cời, chợ búa đông kịt ngời qua lại "[1, 35]
Không chỉ là vùng đất khoa bảng văn chơng, đời sống văn hóa tinh thần phong phú, nhân dân Diễn Châu còn rất kiên cờng chống ngoại xâm và các thế lực hắc ám vơn lên làm chủ cuộc đời Mỗi tên đất tên làng, tên núi, tên sông đều thấm đẫm mồ hôi, nớc mắt
và cả xơng máu của cha anh trong sự nghiệp dựng xây và bảo vệ tổ quốc Diễn Châu xa vốn là vùng biên cơng, là vùng "trọng trấn""viễn trấn" của đất nớc Nơi đây khi mạnh có thể đánh ra, khi yếu có thể giữ vững, khi xông pha trận mạc thì dũng cảm bất khuất, khi
gian khổ thì gan góc lầm lì, khi làm việc nghĩa thì son sắt thuỷ chung "Thái bình thịnh trị trăm họ âu ca thì dân xứ ta vui say lao động, quên mình cho đất nớc tng bừng, cho quê h-
ơng núi Hồng, sông Lam phồn vinh trù phú Gặp lúc tổ quốc lâm nguy trăm nhà điêu
đứng, xứ sở ta luôn xuất hiện những anh hùng lỗi lạc phi thờng ra cứu nớc giúp dân"[2, 7] Diễn Châu có lúc trở thành trung tâm của các cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm, có
lúc trở thành nơi trao gửi niềm tin của bộ phận lãnh đạo trong những giây phút hiểm nghèo Hiện trên đất Diễn Châu con hơn 90 di tích là minh chứng cho tinh thần chống xâm lăng của ngời xứ Diễn
Năm 208 tcn An Dơng Vơng đã có ý định dựa vào địa thế hiểm yếu vùng Diễn Châu làm điểm tựa dựng lại cơ đồ Nhng vì "nỏ thần vô ý trao tay giặc"mà cuối cùng đã phải nhảy xuống biển tự vẫn ở cửa Thiện Môn dới chân núi Mộ Dạ
Trang 15Trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên (1258_1288) nhân dân Diễn Châu đã tích cực giúp Tĩnh quốc đại vơng Trần Quốc Khang trấn thủ Diễn Châu, cùng với Trần Nhật Duật xây dựng Hoan Diễn thành vùng hậu cứ vững chắc Diễn Châu đã đóng góp nhiều ngời con kiệt xuất cho cuộc chiến nh Bạch Liêu, Hoàng Tá Thốn
Thế kỉ xv, khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, nhân dân Diễn Châu hào hứng tham gia Nhiều con em Diễn Châu đã quy tụ dới ngọn cờ của nghĩa quân Lam Sơn nh Cao Nhân Tới (Diễn Hoa) Đậu Nhân Nghĩa, Đậu Nhân Lý (Diễn Thịnh) Nhiều vùng đất trở thành vùng kháng chiến nh Cẩm Bào, Long Ân ở Cẩm Bào ngày nay còn lu truyền câu ca: Quê tôi ở đất cẩm bào
ai muốn đánh giặc thì vào quê tôi
ăn trầu thì nhớ đến vôi
ai muốn đánh giặc nhớ thời vua lê
Trong thế kỷ nông dân khởi nghĩa, Diễn Châu đã góp phần không nhỏ trong đại thắng quân Thanh vào đầu xuân năm Kỷ Dậu(1789)
Nửa sau thế kỷ xix, đất nớc rơi vào tay giặc Pháp Triều đình phong kiến bất lực từng bớc đầu hàng, nhng văn thân sĩ phu vẫn kiên quyết kháng chiến Tại Diễn Châu các
lò rèn vẫn ngày đêm hoạt động rèn đúc vũ khí, nhiều thôn xóm lập điểm rào đờng bảo vệ quê hơng Trong Cần Vơng ứng nghĩa nhiều con em Diễn Châu đã tích cực tham gia dới
sự lãnh đạo của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn mãi là niềm tự hào cho quê hơng
1.3 Tiểu kết
Cách đây gần 1400 năm tên Diễn Châu đã ra đời trong sử sách, nhng lịch sử mảnh đất này thì đã có từ lâu đời Các kết quả khảo cổ học đẫ cho thấy rằng từ rất sớm c dân Việt
cổ đã có mặt ở đây Điều này khẳng định mảnh đất này đã gắn với non sông đất Việt ngay
từ buổi đầu của lịch sử dân tộc
Bằng bàn tay khối óc vợt lên sự khắc nghiệt của tự nhiên, chế ngự tự nhiên mà ngời dânDiễn Châu đã biến vùng đất trong nhiều thế kỷ là vùng "thắng địa"biên cơng xa xôi phía nam thành vùng đất trù phú mà dân gian ngợi ca:
Đông Thành là mẹ là cha
Đói cơm,rách áo thì ra Đông Thành
Cùng với xây dựng làng xóm, đấu tranh với thiên nhiên, c dân Diễn Châu còn không ngừng đấu tranh chống giặc ngoại xâm giữ vững biên cơng và chính trong quá trình ấy đã hình thành nên truyền thống quê hơng Đó là truyền thống cần cù trong lao động sản xuất,hiếu học khổ học, truyền thống chống ngoại xâm
Trang 16Truyền thống ấy đợc lu truyền và thấm sâu vào mỗi ngời con xứ Diễn, đợc tầng lớp nho
sĩ trong thế kỉ xix tiếp tục làm rạng rỡ hơn bởi những đóng góp của họ Không chỉ ghi tên bảng vàng, vang danh thiên hạ, nắm những chức vụ cao trong triều mà khi tổ quốc lâmnguy họ cũng sẵn sàng nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo nhân dân bảo vệ quê hơng, đất nớc tiêu biểu là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn, cử nhân Đinh Nhật Tân,Trần Quang Diệm
Lịch sử mãi ghi nhớ công ơn của họ, những ngời con u tú nhất, những ngời tiên phong
lu giữ và phát huy truyền thống quê hơng
Chơng 2:
đóng góp của nho sĩ diễn châu trong sự nghiệp xây
dựng quê hơng đất nớc thế kỷ xix
Năm 1802 sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn ánh lên ngôi hoàng đế lập nên triều Nguyễn, đóng đô ở Phú Xuân Thiết lập triều đại, cũng nh các vơng triều trớc, nhà
Nguyễn vẫn lấy Nho học làm đạo trị nớc an dân, làm phơng tiện giáo hoá Các vua nhà Nguyễn cố gắng chăm lo cho học hành thi cử, đào tạo tuyển chọn nhân tài cho đất nớc Tiếp bớc cha anh, sĩ tử Diễn Châu ngày đêm đèn sách, sôi kinh nấu sử chờ ngày ứng thí Phát huy truyền thống quê hơng dới triều Nguyễn, sĩ tử Diễn Châu lại ghi danh bảng vàng, cống hiến cho quê hơng đất nớc nhiều nhân tài trên các lĩnh vực: khoa cử, giáo dục, chính trị, văn hoá t tởng
2.1 Nho sĩ Diễn Châu tiếp tục làm rạng danh truyền thống khoa cử của cha anh.
Khi nền giáo dục Nho học còn tồn tại thì ở xứ Nghệ, xứ Diễn cái cảnh:
Sáng trăng trải chiếu hai hàng
tộc Điều đó tạo nên truyền thống tốt đẹp và tự hào của nhân dân xứ Nghệ nói chung,
Diễn Châu nói riêng Vì vậy Phan Huy Chú đã nhận xét '"Ngời Hoan Diễn thuần mà chăm học".
Trang 17Cảnh "Sáng khoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa" rất quen thuộc trong cuộc sống của ngời Nghệ Song từ cái nghèo mà xứ sở này nổi danh với truyền thống "Ông đỗ, cha
đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà" trong làng khoa bảng nớc nhà Một xứ Nghệ đẹp nh trong câu ca:
Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ
Và một xứ Nghệ phải gánh chịu nắng cháy và gió Lào, với bão bùng quanh năm, trên hết
là một vùng đất đã sản sinh ra cho dân tộc những nhân tài kiệt xuất Tự hào về quê hơng
cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn đã viết:
Non nớc Hoan Châu đẹp tuyệt vời
Nêu gơng trung nghĩa biết bao ngời
Thơ vịnh gơm rồng đầy khí tiết
Sử truyền bảng hổ lắm anh tài
Năm 938 với chiến thăng Bạch Đằng lừng lẫy của Ngô Quyền, nớc Nam thoát khỏi ngàn năm Băc thuộc, bớc đầu dựng nền độc lập tự chủ.Từ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê việc tuyển chọn quan lại cho đất nớc chỉ theo lệ ban phong và tập ấm chứ cha có thi cử Sang triều Lý do nhu cầu phát triển và quản lí đất nớc, đạo Nho và chữ Hán đợc đề cao làm công cụ giáo hoá, tề gia trị quốc bình thiên hạ Năm 1075 khoa thi Nho học đầu tiên đợc
tổ chức khởi đầu cho sự nghiệp giáo dục và tuyển chọn hiền tài cho đất nớc.Trong thời kì
đó xứ Nghệ là vùng biên cơng xa xôi nhng khoa cử cũng không kém các nơi khác.Thật
đáng tự hào cho ngời Diễn Châu! Ngời khai khoa cho cả xứ Nghệ là trạng nguyên Bạch Liêu Ông là ngời làng Nguyên xá (nay là xã Diễn Lợi) đỗ khoa thi Bính Dần - Thiệu Long thứ 9 (1266) Từ đó sĩ tử xứ Nghệ nói chung, Diễn Châu nói riêng tiếp nối nhau ghi tên bia đá ngàn năm, lu danh thiên cổ Ngời đỗ đạt thì nhiều nhng trải qua bao thăng trầm lịch sử, sử sách phần nhiều bị thất lạc nên tên tuổi nhiều ngời không đợc sử ghi lại, mà chỉ đợc truyền tụng trong dân gian Theo thống kê trong "Liệt huyện đăng khoa lục"và
"Đông Yên nhị huyện khoa phổ"thì ở Đông Thành từ ngày Bạch Liêu khai khoa đến trớc triều Nguyễn có 41 ngời đỗ đại khoa (biệt lục, khuyết nghi 16 ngời) riêng Diễn Châu có
23 ngời (biệt lục ,khuyết nghi 12 ngời) Theo sách "Các nhà khoa bảng Việt Nam"từ nhà
Lý cho đến nhà Nguyễn hơn 800 năm thi cử có 2896 ngời thi đỗ cả tiến sĩ và phó bảng, Nghệ Tĩnh có 280 ngời thì Diễn Châu có 23 ngời trúng bảng
Đó là:
1 Cao Quýnh:
Ngời thôn Phú Trung xã Cao Xá nay là xã Diễn Thành Đỗ Thám hoa khoa ất Mùi niênhiệu Hồng Đức thứ 6 (1475) đời Lê Thánh Tông
Trang 184 Ngô Trí Tri(1537 - 1628)
Ngời xã Lý Trai nay là xã Diễn Kỷ Cha của Ngô Tri Hoà, ông nội của Ngô Sĩ Vinh, cao tổ của Ngô Công Trạc và Ngô Hng Giáo Đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Quang Hng 15 đời Lê Thế Tông (1592), làm quan đến Giám sát ngựsử
10 Ngô Hng Giáo (1666 - 1710)
Trang 19Ngời xã Đào Hoa nguyên quán xã Lý Trai em Ngô Công Trạc, năm 45 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Dần niên hiệu Vĩnh Trị 6 đời Lê Dụ Tông (1710).
Ngoài ra theo "Đông Thành khoa phổ bị lục"có 11 ngời khác cũng đỗ đại khoa là:
1 Chu Viết Đoan
Ngời xã Hạnh Lâm nay là Diễn Quảng Đỗ tiến sĩ khoa Hoành từ năm Quý Tỵ đời
Trang 20Ngời thôn Trung Hậu nay là xã Diễn Hoa Đỗ tiến sĩ khoa Hoành từ đời Lê Trang Tông.
Những thống kê trên đã đợc sử sách ghi lại, nhân dân truyền tụng, song còn nhiều sĩ
tử, nhà nho uyên thâm tài đức nhng không đi thi hay trờng thi với nhiều quy tắc, điều lệ
mà"Học trò Nghệ chuộng khí thế, nhiều ngời hào mại, có chí chăm học, văn chơng thì
dùng lời lẽ cứng cát, không cần đẹp lời"nên không đỗ đạt Nhng đóng góp vầ tài năng của
họ cho quê hơng vẫn mãi đợc nhân dân truyền tụng
Nghèo là mẫu số chung của đa phần sĩ tử ở Diễn Châu Nhiều ngời sau này đỗ đạt vẫn
đợc nhắc đến nh tấm gơng vợt khó: Hoàng giáp ăn khoai là Tế Tửu Quốc tử giám Đặng Văn Thuỵ; Tiến sĩ ra Nông Cống làm thuê là cụ Nguyễn Xuân Ôn còn học ,đọc sách trênlng trâu, làm văn bên bếp lửa thì nhiều cụ lắm! Nghèo nhng không cam phận, biến cái nghèo, cái khổ thành động lực, ý chí vơn lên, khổ học để mong ngày thành danh là mong
ớc của các sĩ tử Với họ học là con đờng thoát nghèo Bởi vậy mổi tên đất tên làng đều
gắn với những ớc mơ của họ " Nghĩ về làng bà con Đông Giai có câu:Nhất cầm,nhất hạc,nhất bút, nhất nghiên,nhất khanh tớng,nhất công hầu,nhất đại tiên.ý muốn nói rằng ở
Đông Giai có 4 doi cát, doi cát tựa cái đàn, doi tựa con hạc, doi tựa cái bút, doi giống cái nghiên nên mới sinh ra một khanh tớng, một công hầu và một đại tiên."[11, 190]
Cắp sách đến cửa Khổng sân Trình, nội dung đạo lí mà các cụ tiếp thu là Tứ th, Ngũ
kinh, Tinh lí đại toàn, Bắc sử, Nam sử, Bách gia ch tử Trong đó lung linh những câu châm ngôn vàng đá nh: sát thân thành nhân (hi sinh bản thân để làm điều nhân nghĩa) xả sinh thủ nghĩa (thà chết để làm việc nghĩa).Với họ: học sao cho thông kim bác cổ"cách vật trí tri"(việc gì cũng biết) thì mới có các trớc thuật để "chính tâm tu thân "rồi mới"tề gia trị quốc bình thiên hạ" Học để làm ngời, giúp đời là mục đích cao nhất của sĩ tử Diễn Châu
Do vậy các gia đình dù khó khăn nhng cũng muốn con cái theo nghiệp đèn sách, theo thầy học chữ, học đạo thánh hiền Ngay từ lúc con còn trong nôi các bà mẹ đã có ý thức chăm lo việ học hành qua lời ru:
Trang 21Con ơi mẹ bảo con này
Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm
Làm ngời đói sạch rách thơm
Công danh là nợ nớc non phải đền
Lời ru của mẹ, gửi gắm trong đó niềm tin, niềm mong ớc lớn lao, mong con học hành đỗ đạt làm rạng danh gia đình, dòng tộc, đền trả ơn nớc nhng đồng thời cũng là ph-
ơng tiện để thay đổi cuộc sống đói nghèo nơi thôn quê
Làm trai có chí thì nên
Họ Trần đói khổ mà nghiền thi th
Aó rách đổi lấy võng cờ
Nón mê đổi lấy lọng dù vua ban
Đạt đợc kết quả cao trong khoa cử ở Diễn châu không chỉ là từ sự chăm lo giáo dục của gia đình mà còn bởi sự động viên chăm lo của làng xã Đâu phải chỉ là sự cổ vũ chungchung mà ở nhiều làng xã đã trở thành tập tục và hơn thế đã trở thành một cơ chế hẳn hoi.Hầu hết các làng xã ở Diễn Châu đều có đất làm "học điền" "biếu điền, quy định về lao dịch cho các sĩ tử chăm lo đèn sách, quy định về đón rớc ngời đỗ đạt Những ngời đang
đi học đợc miễn phu phen tạp dịch "Nh ở Lý Trai trong khoán ứớc đã xác định: Trong xã ngời nào theo học mà chuyên cần có chí thì su sai tạp dịch đợc miễn Hay ở làng Đông Tháp lệ làng quy định: Những ai cắp sách đến cửa Khổng sân Trình thì đợc miễn thôn dịch và tuần phòng, còn là khoá sinh đợc miễn cả quan dịch"[11, 342].Không những vậy
ngời đi học không bị gọi là anh đỏ, anh đen, anh đĩ nh ngời không học mà đợc gọi là anhnho, anh khoá Đến tuổi đi việc làng đợc ngồi chiếu trên mâm truớc so với những ngời
cùng tuổi."Nh lệ làng Nho Lâm, Yên Lý, Hậu Luật quy định trúng nhất trờng ngồi ngang với chánh lí, đậu tú tài ngồi ngang với chánh tổng Làng còn có tiền hỗ trợ cho thí sinh
đi dự thi đợc gọi là lộ phí nh lệ làng Lý Trai đi thi Hơng làng cho 2 quan, đi thi Hội làng cho 5 quan; nh làng Đông Tháp, đi thi Hơng làng cho 3 quan, đi thi Hội làng cho 10 quan "[11,344] Ngời đỗ đạt đợc làng xã hết sức tôn trọng Đầu tiên là một lễ đón rớc t-
ng bừng, đợc mừng và giúp đỡ khi ăn khao" Nh ở làng Trung Phờng đỗ tú tài làng mừng
1 quan tiền, một câu đối đỏ và trầu rợu Còn đỗ cử nhân làng mừng 5 quan tiền và nếu thủ khoa thêm 3 quan cùng với câu đối và trầu rợu ở Vạn Phần, An Bài, Mỹ Quan đỗ
cử nhân, tiến sĩ khi ăn khao làng mừng
cử nhân 5 quan, tiến sĩ 10 quan ngoài câu đối, pháo và trầu rợu [11,345]
Trang 22Điều đó cho thấy làng xã xa có nhiều u đãi trong khuyến khích việc học Một vùng đất nghèo, xa kinh kì không đợc nhà nớc chu cấp ấy vậy mà ở Diễn Châu trờng học đợc mở nhiều Nhiều thầy đồ nổi tiếng uyên thâm, tận tâm nh Ngô Trực Thanh, Ngô Mẫu Cử đó chính là sự nỗ lực của nhân dân nơi đây mà đóng góp của làng xã quả không nhỏ Chính sách của làng xã phần nào tạo điều kiện cho con em theo học.
Không chỉ đợc vinh quy bái tổ trong niềm cảm phục của mọi ngời, võng lọng đón
r-ớc mà khi chết đi cũng đợc ngời đời quan tâm giỗ chạp cúng viếng Trong hơng r-ớc làng
Đông câu (Diễn Hải)"Các ông danh sắc kì cựu có chết đi thì làng phải biện câu đối với trầu rợu đến điếu" Hay ở thôn Xuân Dơng một thời gian dài dới triều Lê chỉ một ông
Đoàn Trọng Đạt đỗ sinh đồ, sau khi ông chết dân làng đã tôn làm phúc thần lập đền thờ
Ông Thái Doãn Nguyên ở thôn Trung Hậu (Diễn Hoa) vừa là tổ triệu cơ lập ấp, vừa là
ng-ời đỗ đại khoa cũng đợc tôn làm thần hoàng làng, sắc vua phong "Thợng thợng đẳng tôn thần" ở một số làng xã nổi tiêng khoa bảng đều cho xây dựng nhà văn, nhà thánh để thờ
đạo Nho, dựng bia đá khắc tên những ngời đỗ đạt.ở Diễn Châu nhiều làng, tổng còn tổ chức lễ cầu khoa rất lớn để khuyến khích việc học hành của nho sinh và tởng nhớ các bậc tiền nhân Họ Phan ở Th Phủ phát về võ quan, muốn phát về văn đã huy động con cháu
đắp cồn Bút và xin đổi tên làng Cự Trận thành Bút Trận Tổng Quan Trung cứ 3 năm một lần có lễ cầu khoa ở đền Ca Vũ trên đất Phú Lâm (Diễn Minh)
Sự đỗ đạt của cha anh, mong ớc của gia đình, dòng họ, sự cổ vũ khích lệ của làng xã và
ý thức học để làm ngời đã góp phần nuôi dỡng tinh thần ham học, say mê đèn sách, dùi mài kinh sử của sĩ tử Diễn Châu Tiếp bớc cha anh làm rạng danh quê hơng là trách nhiệmcủa lớp sĩ tử đi sau Thời Nguyễn nền giáo dục khoa cử Nho học sau một thời gian suyyếu đã đợc chấn chỉnh trong thời kì đầu Tình hình giáo dục khoa cử ở Nghệ An nói chung, Diễn Châu nói riêng có nhiều khởi sắc Trải qua 48 khoa thi Hơng và 39 khoa thi Hội do nhà Nguyễn tổ chức (từ 1807 - 1918 thi Huơng, 1822 - 1919 thi Hội ) ở
Diễn Châu có 13 vị đỗ đại khoa, 80 ngời đỗ cử nhân bên Văn và nhiều ngời cũng đỗ cao bên Võ, đóng góp cho vờn hoa khoa bảng nớc nhà nhiều gơng mặt anh tài trên nhiều lĩnh vực Nhiều làng đợc mệnh danh là đất khoa bảng nh Nho Lâm (Diễn Thọ),Thịnh Khánh (Diễn Thịnh), Trung Phờng (Diễn Minh) Diễn Thọ có 10 cử nhân, 1 hoàng giáp, 2 phó bảng; Diễn Hồng có 8 cử nhân; Diễn Kỷ có 8 cử nhân; Diễn Thái có 8 cử nhân; Diễn Thịnh có 7 cử nhân Đó là cha kể đến những ông mền, ông kép, ông tú, anh nho, anh học nổi tiếng tài trí nhng thi không đỗ hoặc không đi thi Diễn Châu ngời đi học đợc nhân dân coi trọng, ngỡng mộ:
"Chẳng tham ruộng cả ao liền
Trang 23Tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ"
Trong số 138 ngời đỗ cả tiến sĩ, phó bảng của cả tỉnh thì Diễn Châu có 13 ngời chiếm 9,4% Đó là:
1 Cao Xuân Tiếu (1866 - ?)
Ngời làng Thịnh Mỹ huyện Đông Thành nay là xã Diễn Thịnh, con Cao Xuân Dục
Đỗ cử nhân khoa Tân Mão (1891), năm 30 tuổi đỗ phó bảng khoa ất Mùi niên hiệu ThànhThái 7 (1895) trớc khi thi Hội làm Giáo thụ Diễn Châu hàm Trớc tác Cao Xuân Tiếu hiệu
là Bạng Sa, sau khi đỗ đại khoa làm quan đến Thợng th Hiệp biện Đại học sĩ, làm biên tập
và tổ chức khắc in bộ sách Quốc triều Hơng khoa lục của Cao Xuân Dục (thân phụ ông ) biên soạn từ năm Thành Thái 5 (1893)
2 Chu Thiện Sự (1882 - ?)
Ngời xã Long Ân nay là xã Diễn Trờng Đỗ cử nhân khoa Quý Mão (1903) Năm 35 tuổi đỗ phó bảng khoa Bính Thìn niên hiệu Khải Định 1(1916), làm Kinh lịch tỉnh Thanh Hoá
3 Đặng Văn Thuỵ (1858 - 1936)
Ngời làng Nho Lâm nay là Diễn Thọ, 27 tuổi đỗ cử nhân (1882), làm Giáo thụ Diễn Châu Năm 47 tuổi đỗ Đình nguyên Đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Giáp Thìn niênhiệu Thành Thái 6(1904)
4 Đặng Văn Oánh (1886 - 1953)
Ngời làng Nho Lâm tổng Cao xá nay là xã Diễn Thọ, con Đặng Văn Thuỵ, anh Đặng Văn Hớng, đỗ cử nhân khoa Nhâm Tý(1912) Năm 34 tuổi đỗ phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919), làm Giáo thụ huyện Yên Nhân, Hải Dơng rồi Thị Lang Tham tri bộ Lễ
Trang 24Ngời xã Lơng Điền nay là Diễn Thái Năm 38 tuổi đỗ cử nhân (1867), 42 tuổi đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ khoa Tân Mùi niên hiệu Tự Đức 24 (1871).
9 Phan Xuân Trạch (1832 - ?)
Ngời xã Cao Xá nay là Diễn Thành, đỗ cử nhân khoa ất Mão (1850) Năm 37 tuổi đỗ phó bảng khoa Nhâm Tuất niên hiệu Tự Đức 15 (1862), làm quan Tri huyện Thọ Xơng , sung Bang biện Lạng Sơn, Tri phủ Anh Sơn, Hàn lâm thị giảng
Chỉ tính riêng những ngời đỗ đại khoa thì giáo dục Nho học ở Diễn Châu thời Nguyễn
có những thành tựu đáng kể Nếu đặt Diễn Châu với ý nghĩa là một huyện trong tỉnh, thì Diễn Châu chỉ đứng sau huyện Nam Đàn
Trang 25Trong tổng số 510 cử nhân đời Nguyễn ở Nghệ An, Diễn Châu có 80 cử nhân chiếm 15,6% có vị trí cao trong tỉnh.
1 Tạ Hữu Khuê
Ngời làng Bút Điền nay là xã Diễn Cát Đỗ khoa Mậu Tý (1828) niên hiệu Minh Mệnh
9, làm quan đến Bố chánh Quảng Bình, giáng Hàm thị độc
2 Cao Hữu Chí
Ngời làng Tiền Song nay thuộc xã Diễn Thịnh Đỗ khoa Mậu Thân (1848) niên hiệu Tự
Đức 1, làm quan đến Giáo thụ Diễn Châu
3 Lê Huy Giám
Ngời thôn Gia Hậu nay là xã Diễn Quảng Đỗ khoa Giáp Tý niên hiệu Tự Đức 17
(1864), làm quan đến Tri huyện Cẩm Thuỷ (Thanh Hoá)
Thôn quê dòng họ mạnh hay yếu, một tiêu chí quan trọng là số ngời đỗ đạt Vì vậy mà
ở Diễn Châu, để "mở mày mở mặt " với thiên hạ, khẳng định vị thế dòng họ, nên có sự ganh đua giữa các họ Nhiều họ tập trung nuôi dỡng, khích lệ những con em có t chất thông minh quyết tâm học tập, thi đỗ để không thua kém các dòng họ khác Nhờ vậy mà ở
đây có nhiều họ nhiều đời, nhiều thế hệ đỗ đạt Tiêu biểu là các dòng họ sau:
1 Họ Ngô ở Diễn Kỷ
Trang 26Ngô Trí Hoà đỗ HoàngGiáp năm 1592; Ngô Trí Tri là cha Ngô Trí Hoà đỗ tiến sĩ cùng năm Ngô Công Trạc đỗ Đình Nguyên tiến sĩ năm 1694; Ngô Sĩ Vinh đỗ tiến sĩ năm 1674; Ngô Hng Giáo đỗ tiến sĩ năm 1710 Đỗ cử nhân thì nhiều: Đời Lê có Ngô Trí Cơ; Ngô Trí Hợp; Ngô Tiến Giám; Ngô Mẫu Cử; Ngô Sĩ Tuấn ; Ngô Sĩ Tín; Ngô Trí Liêu; Ngô Trí Khoa; Ngô Trí C Đời Nguyễn có Ngô Sĩ Tùng; Ngô Trí Dung; Ngô Trí Thực Còn Sinh đồ đời Lê vá Tú tài đời Nguyễn thì dính bảng gấp 9_10 lần
2 Họ Cao ở Thịnh Mỹ cũng nổi tiếng đỗ đạt
Cao Xuân Tiếu đỗ phó bảng khoa ất Mùi niên hiệu Thành Thái 7 (1895) Nhng nổi tiếng nhất là Cao Xuân Dục, đỗ cử nhân khoa Bính Tý (1876) làm quan Thợng th bộ Học, Tổng tài Quốc sử quán, Đông các Đại học sĩ Ngoài ra còn có Cao Xuân Tảo đỗ cử nhân năm 1912, Cao Xuân Sang đỗ cử nhân năm 1919, Cao Xuân Thụ đỗ cử nhân năm 1918
3 Họ Đặng ở Nho Lâm
Ngoài Đặng Văn Thuỵ đỗ Đình Nguyên, Hoàng giáp năm 1904, hai con của ông :
Đặng Văn Oánh, Đặng Văn Hớng đều đỗ phó bảng năm 1919 và nhiều tú tài Hán học , Tây học
4 Họ Hoàng ở Hà Cát
Hoàng Kiêm đỗ tiến sĩ năm1904 đời Nguyễn Trớc đó đời Lê có Hoàng Nhạc đỗ tiến
sĩ năm 1502 đời Lê Hiến Tông Hoàng Cao Xán cháu của Hoàng Nhạc đỗ Hơng Cống, Hoang Trí Đạo, Hoàng Trí Lĩnh, Hoàng Quốc Tuy, Hoàng Công Trụ cũng đỗ Huơng Cống
Những khó khăn vất vã về kinh tế không thể khuất phục, làm nhụt ý chí và tinh thần hiếuhọc của sĩ tử Diễn Châu Ngợc lại chính quá trình lao động vật lộn với thiên nhiên càng hun đúc, tôi luỵên thêm cho ngời dân nơi đây tính cần cù chịu khó, chịu khổ mà quyết tâm dùi mài kinh sử Nhiều gia đình dù cơm cha đủ ba bữa vẫn cố gắng cho con đôi ba chữ để làm ngời, biết sống sao cho phải đạo Mộng công danh không hẳn là để đợc bổng lộc của vua mà còn là trả "nợ công danh"của "chí làm trai" Cái cảnh ngời vợ, ngời mẹ sớm hôm tần tảo nuôi chồng, nuôi con ăn học không phải là hiếm trên đất Diễn Châu Với
họ chồng, con đỗ đạt là sự bù đắp xứng đáng nhất
Điều đó đã góp phần cũng cổ vũ truyền thống hiếu học của nhân dân, vừa khích
lệ các sĩ tử đang miệt mài đèn sách Nhờ vậy dến thế kỉ xix dới triều Nguyễn khoa bảngDiễn châu nở rộ với 13 ngời đỗ đại khoa, 80 ngời đỗ cử nhân và rất nhiều tú tài, ông kép,
ông mền Con số đó thật đáng ghi nhận và tự hào!
2.2 Nho sĩ Diễn Châu trong sự nghiệp chính trị, văn hóa t tởng
Trang 27Trải qua một thời gian đất nớc bất ổn, khi lên cầm quyền thiết lập nền thống trị củamình nhà Nguyễn cũng rất coi trọng việc giáo dục khoa cử, xem đó là phơng thức chọnlựa đào tạo hiền tài, làm chỗ dựa của đất nớc Năm 1807 Gia Long xuống chiếu nóirằng:"nhà nớc cầu hiền tài tất do đờng khoa mục Tiên triều ta chế đọ khoa c đời nào cũng
có cử hành Nay thiên hạ cả định, nam bắc một nhà, cầu hiền tài chính là sự cần kíp." Sựnghiệp khoa cử triều Nguyễn đã đợc nho sĩ Diễn Châu góp phần không nhỏ Bởi nhữngnhà nho Diễn Châu nổi tiếng là những ông thầy uyên thâm về kinh truyện có đạo đức lốisống đợc mọi ngời vị nể
Một vùng đất xa chốn kinh kỳ, không đợc Nhà nớc chu cấp cho việc học hành nên
sự học của Diễn Châu đều do gia đình tự lo liệu Những gia đình khá giả thờng mời thầy
về dạy cho con cháu trong nhà, có nhiều nhà cùng phối hợp với nhau mời thầy về mở lớprồi gửi con đến học Thầy đợc nhân dân nuôi ăn, lo may quần áo, có thêm tiền gửi về nhà
mà quan trọng hơn là có mái trờng của mình Thầy muốn có nhiều ngời học cũng hết lòngvì học trò, mong đào tạo nên những ngời trọng lễ nghĩa Vì vậy thầy phải gơng mẫu, sángngời về đạo đức, về kinh truyện, kiến thức Nho học phải uyên thâm ở Diễn Châu nổidanh dới thời Nguyễn có thầy Cao Trọng Sính là thầy học của Đông các đại học sĩ CaoXuân Dục và Hoàng giáp Đặng Văn Thuỵ Cao Xuân Dục, Đặng Văn Thụy cũng lànhững ngời thầy có tiếng - thầy học của hoàng tử Vĩnh San sau là vua Duy Tân
Thầy đồ Diễn Châu xuất thân từ tầng lớp nho sĩ nghèo nhng nổi tiếng chịu khó, chịukhổ và ham học Họ mở trờng không phải để làm giàu mà cốt để tiếng thơm Các trờnghọc xa đều có sách ghi tên hay bia ghi danh những ngời đỗ đạt làm tiếng thơm cho trờng
Có trờng trò đông không có nhà để học, thầy trò phải kéo nhau lên núi lấy đá làm bảngviết, lấy gốc cây làm nơi ngồi, thế mà thầy nổi tiếng dạy giỏi, trò nổi tiếng đỗ cao Nhândân rất biết ơn quý trọng công lao của thầy Địa vị của thầy đợc đặt trên cả địa vị chatrong trật tự xã hội Thầy chết trò phải để tang 3 năm nh cha mẹ, phải góp công của làmnhà thờ, xây lăng, làm giỗ… Truyền thống ấy đ Truyền thống ấy đợc nhân dân xứ Nghệ cũng nh Diễn Châucoi trọng và thực hiện chu đáo
Học để làm ngời, để phục vụ đất nớc “tề gia, trị quốc bình thiên hạ” là mục đíchcuối cùng của kẻ sĩ khi xa Các kỳ thi Hơng, thi Hội, thi Đình đợc tổ chức là nhằm tuyểnlựa những hiền tài cho đất nớc Vì vậy việc phân định bài thi, chấm thi phải là những ngờiuyên thâm về Nho học kinh truyện, đạo đức và thanh liêm Trong số đó Diễn Châu cũng
có nhiều ngời đợc cử giữ chức chánh phó chủ khảo, đề điệu, quan coi thi, chấm thi… Truyền thống ấy đ nh:
1 Phạm Duy Quán
Trang 28Ngời làng Đào Viên đỗ cử nhân, làm bố chánh Phú Yên chủ khảo trờng thi Bình
Định khoa Canh Tý - Thành Thái 12 (1900) phó chủ khảo trờng thi Thanh Hoá khoa BínhNgọ - Thành Thái 18 (1906)
2 Cao Xuân Dục
Ngời làng Thịnh Mỹ đỗ cử nhân Làm chủ khảo kỳ thi Hơng trờng Nam Định niênhiệu Thành Thái 6 (1894) Chánh chủ khảo kỳ thi Hội ở Huế năm Tân Sửu (1901) Chánhchủ khảo hội đồng thẩm định kỳ thi Hội năm 1907
3 Cao Xuân Tiếu
Ngời làng Thịnh Mỹ - đỗ phó bảng, làm bố chánh Hà Tĩnh chủ khảo trờng thi ThanhHoá khoa Bính Ngọ - Thành Thái 18 (1906)
có đóng góp không nhỏ
Danh sách những ngời đỗ đại khoa (Tiến sĩ, Phó bảng) của Diễn Châu từng làmquan dới triều Nguyễn
1 Cao Xuân Tiếu
(1886 - ?)
Làng Thịnh Mỹ(nay là Diễn Thịnh)
- Giáo thụ Diễn Châu Hàmtrớc tác
- Thợng th tham tri bộ Lễ
- Sung Biên tu sử quán
2 Chu Thiện Sự
(1882 - ?)
Xã Hoàng Trờng (nay là Diễn Trờng)
- Kinh lịch Thanh Hoá
3 Đặng Văn Hớng
(1888 - 1954)
Làng Nho Lâm(nay Diễn Thọ)
- Giáo thụ Diễn Châu
- Giáo thụ Phủ Tĩnh Gia
- Tỉnh trởng Nghệ An
- Bộ trởng bộ không BộChính phủ Việt Nam DânChủ Cộng Hoà
4 Đặng Văn Oánh Xã Nho Lâm - Giáo thụ phủ Yên Nhân,
Trang 29(nay Diễn Thọ) Hải Dơng
- Huấn đạo Nông Cống
- Giáo trụ Diễn Châu
- T nghiệp quốc tử giám
- Tế tửu quốc tử giám
Tri phủ Quảng Ninh Quảng Bình
- án sát Lạng Sơn
- Bố chính Cao Bằng
- Viên ngoại lang bộ Lễ
Trang 30- Thừa phái Bộ Binh
1 Cao Xuân Dục (cử nhân) từng làm:
- Hậu bổ tỉnh Quảng Ngãi
- Tổng tài Quốc sử quán
- Thợng th bộ Học sung Phụ chính đại thần
- Thái tử thiếu bảo Tớc An Xuân tử
- Phủ thừa Thừa Thiên
- Hải phòng tham biện ở Thuận An
- Hồng Lô tự khanh
- Tham biện sự vụ Nghệ Tĩnh
Trang 31Và còn nhiều ngời khác đều đợc giữ các chức vụ cao ở địa phơng và trong triều đãkhẳng định đợc tài năng và đạo đức của mình.
Là tầng lớp có học trong xã hội phong kiến, đợc nhân dân tin tởng và ngỡng mộ vềtài và đức nên mỗi khi có việc làng việc xã, dân chúng và hơng lý thờng tham khảo ý kiếncủa họ
Bởi vậy Bùi Dơng Lịch trong Nghệ An ký có viết “theo chế độ cũ mỗi khoa thi ngạch đỗ đợc hơn 40 ngời, 3 năm một khoa, ngời sung vào cống cử khá nhiều Trong những ngời ấy, đỗ tiến sĩ thì đợc bổ dụng ở triều đình, ngời đỗ nhiều lần trúng trờng thì đ-
ợc làm việc ở các phủ, huyện Còn những ngời dù không có chỗ bổ dụng cho hết nhng đã
là cống cử thì vẫn đợc dân làng suy tôn coi trọng Phần nhiều những công việc tục lệ ở trong dân thờng đem chất chính với họ Lễ nghĩa liêm sỉ cũng trông vào đó mà trở nên tốt Từ các quan đại thần triều đình đến các quan ở châu quận đều lấy lễ đãi ngộ
họ nhà nớc sở dĩ cố kết đợc lòng dân và duy trì đợc gốc nớc cũng đều nhờ ở đây" [ 26,
216 ].
Nhiều ngời trong lớp nho sĩ Diễn Châu là nhà thơ, nhà văn đã để lại những tớc tác cógiá trị:
1 Cao Xuân Dục với tác phẩm:
- Long Cơng thi cảo (hơn 600 bài)
- Long Cơng liễn tập (gần 3000 câu đối)
- Long Cơng kinh để thi tập (180 trang)
- Long Cơng lai hạ tập (120 trang)
- Hu đình tập
- Long Cơng minh lơng khải cáo lục
- Long Cơng tàng quảng hàng văn bảo tập
- Long Cơng bát thập thọ ngôn biên tập… Truyền thống ấy đ
Trang 32- Ngọc Đờng văn tập… Truyền thống ấy đ
Không những vậy, nhiều nhà nho trên đất Diễn Châu khi mộng công danh khôngthành, về với làng quê với mái đình cây đa nhng họ vẫn giữ đợc ý nguyện giúp đời, giúpdân Nhiều nhà nho dạy học, nhng cũng có nhiều vị trở thành những thầy thuốc nổi tiếngtrị bệnh cứu ngời nh Hoàng Danh Sởng… Truyền thống ấy đ
Nh vậy với 13 vị đỗ đại khoa (tiến sĩ, phó bảng) 80 vị cử nhân cùng làng trăm tútài… Truyền thống ấy đở triều Nguyễn thì Diễn Châu đóng góp không ít nhân tài cho quê hơng đất nớc.Trong số họ nhiều ngời đỗ đạt giữ chức vụ quan trọng, góp sức xây dựng bộ máy chínhquyền ở các cấp Chính họ là những ngời có công lớn trong việc thiết lập lễ nghĩa lu giữtruyền thống văn hóa quê hơng, làng xã và để lại những tác phẩm có giá trị cho đời Sau
đây là một số gơng mặt xuất sắc:
2.3 Một số nho sĩ tiêu biểu
2.3.1 Cao Xuân Dục: Một sĩ phu có tinh thần dân tộc, nhà văn hoa lớn thời cận đại
Cao Xuân Dục tự là Tử Phát hiệu Long Cơng, sinh năm 1842 ở xã Thịnh Khánh (sau
đổi là Thịnh Mỹ), mất năm 1923 thọ 81 tuổi Cao Xuân Dục nổi tiếng thông minh từ khi
đi học đợc thầy Phan Thức Tự yêu mến và gả con gái cho Tuy vậy ông cũng lận đận về ờng thi cử, nên mãi đến năm 34 tuổi mới đỗ cử nhân (1876) đồng khoa với Phan ĐìnhPhùng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Đôn Tiết ở Thanh Hoá và Phan Văn ái ở Hà Nội Năm sau thìHội lại bị hỏng và bắt đầu nhận chức hậu bổ ở Quảng Ngãi Ông rất đợc tuần phủ, bốchánh Quảng Ngãi chú ý tiến cử nên nhanh chóng đợc làm Tri huyện ở Bình Sơn, rồi Mộ
đ-Đức Năm 1881 đợc điều về Huế làm ở bộ Hình rồi Nha thơng bạc với Nguyễn Văn Tờng,tham gia phái bộ thơng thuyết với quân Pháp ở Hà Nội Tiếp đó lần lợt làm biện lý bộHình, án sát rồi Bố chánh Hà Nội, Hải phòng sứ ở Hải Dơng, phụ trách Tán lý quân vụrồi Tuần Phủ Hng Yên, Tổng đốc ba tỉnh Sơn Hng Tuyên, phong làm Th hiệp biên đại học
sĩ, lãnh Tổng đốc Nam Định, Ninh Bình Năm 1898 làm Tổng tài Quốc sử quán, năm
1907 làm Thợng th bộ Học sung Phụ chính đại thần, Hàm thái tử thiếu bảo, Tớc An Xuân
Tử, Đông các đại học sĩ
Bớc đờng làm quan của cụ Cao theo tiến trình từ thấp lên cao đều đặn và suôn sẻ,không có đặc ân, không đề bạt vợt cấp, ngang tắt Thành tích ấy có lẽ chủ yếu là do khảnăng làm việc, vừa đức độ của ông chứ không thấy nói do ông đợc chiếu cố hay u đãi.Cũng không nghe nói ông cầu cạnh với quan trên hoặc dụng ý đút lót, mua chuộc bọn caitrị
Trang 33Sống và làm quan ở triều trong lúc đất nớc bị Pháp đô hộ nhng với đức độ của mình,Cao Xuân Dục luôn đề cao lòng tự tôn, tinh thần dân tộc.
Vào tháng 10/1888 khi biết Đội Lệ về công cán ở làng xã hay tống tiền dân, CaoXuân Dục đã đem ra xử và cách chức hắn Viên công sứ Hải Phòng lên can thiệp vàochuyện này và trong lúc cãi nhau ông này đã có thái độ khinh miệt quan Nam triều Ông
đã vác ghế đánh lại viên công sứ Pháp Vì việc này ông bị triều đình giáng một cấp nhngviên quan đó lại đề nghị ông giữ chức cũ Cũng có chuyện tơng tự kể rằng: dới triềuThanh Thái khi làm phụ chính đại thần Cao Xuân Dục ở trong Viện cơ mật ông cũng có
xu hớng bất hợp tác với Tây Xu hớng đó bộc lộ trong nhiều lần nh lúc bấy giờ Pháp định
đa Trơng Nh Cơng lên làm phó vơng bên cạnh vua nớc Nam Cuộc họp đình thần, dùnhiều ngời không đồng ý nhng không giám công khai chống lại Riêng Cao Xuân Dục saukhi lập đàn tế trời đã đọc trớc đình thần: Thiên vô nhị nhật, quốc vô nhị vơng, Thần Đôngcác đại học sĩ Cao Xuân Dục bất cảm ký (trời không có hai mặt trời, nớc không thể có haivua, thần Đông các đại học sĩ Cao Xuân Dục không dám ký) Rất nhiều ngời đã đồng ývới thái độ cơng quyết đó của cụ nên việc phong vơng bất thành Sự vệc này chứng tỏ t t-ởng độc lập, tinh thần dân tộc không chịu hùa theo bọn thực dân và quan lai tay sai của cụ
Cao Bởi vây cụ trở thành đối tợng nghi vấn của quan thầy Pháp Cao Xuân Dục thực sự là“
một ông quan chính hiệu, rất có học thức và rất độc đáo, rất mực cao ngạo Nhng ông ta không đem lại sự thật thà vốn rất cần thiết trong quan hệ giữa ông ta với chúng ta … Ông
ta vốn không phải là ngời nhiệt tâm đi theo chúng ta Ông ta sẽ là một trong những ngời
đầu tiên từ bỏ chúng ta trong một thời điểm khó khăn … Đáng lẽ ra phải cất b ớc đi cùng nhịp với chúng ta thì ông ta đã giã vờ, che đậy và tìm cách giảm bớt vị thế của ngời Pháp trớc ngời bản xứ [22, (107 - 108)].”
Làm quan trong tình cảnh đất nớc đã mất, Cao Xuân Dục đã thực hiện tốt phơng
châm “ẩn tại triều” ra tay che chở cho nhân dân, cứu giúp những ngời yêu nớc sa cơ mà
ông không đủ dũng khí để làm nh họ Nhân dân thôn Sài Sơn - Sơn Tây cảm kích công“
ơn của ông đã dựng tợng ông ở núi Phợng Hoàng tôn ông làm thành hoàng Đối với những ngời chống đối chính quyền thực dân ông tỏ ra có cảm tình riêng nhng khéo léo ca ngợi một cách tế nhị, bảo vệ một cách khôn ngoan Nguyễn Xuân Ôn ngời đồng hơng, một thủ lĩnh chống Pháp quyết liệt bị giam cầm, khi mất đợc Cao Xuân Dục làm câu đối riêng Công thị, công phi, sự đại bách niên ph
“ ơng định luận (nghĩa là có công ” “ , không có công ? việc lớn trăm năm sau mới nói đợc ) Cụ Nguyễn Sinh Sắc làm quan bị cách chức”
triệu hồi còn bị đe doạ phải trừng trị nặng hơn, ông đã tìm cách cứu giúp mà thoát vòng nguy hiểm Phan Bội Châu bị toà khâm sứ theo dõi cũng đợc cụ Cao giúp đỡ mà thoát
Trang 34nạn Phan Câu Trinh khi bị thực dân Pháp bắt ở Hà Nội đem về Huế xử án, theo lệnh Khâm sứ phải xử trảm quyết theo điều luệt 224 nhng quan lớn Cao Xuân Dục tuyên bố
điều luật 224 không nêu phải trảm quyết ngay , do đó Phan Châu Trinh đã khỏi bị tử”
- Về sử, địa Cao Xuân Dục chủ biên: Đại Nam thực lục, Quốc triều sử toát yếu, ĐạiNam nhất thống chí, Đại Nam d địa chí ớc biên, Quốc triều luật lệ toát yếu, Quốc triềukhoa bảng lục, Quốc triều Hơng khoa lục, Danh thần liệt truyện, Đại Nam chính biên liệttruyện, Viêm giao trờng cổ ký, Đại Nam hội điển sự lệ tục biên… Truyền thống ấy đ
- Về triết học - đạo đức học: ông biên soạn bộ sách Nhân thế tu tri (8 tập = 900trang) trích trong kinh sử những lời nói hay, việc làm tốt nhằm giúp giáo dục con ngờibiết tu dỡng, sửa mình
- Về văn hóa, Cao Xuân Dục đã để lại cho đời nhiều tập thơ văn cả chữ Hán lẫn chữNôm nh: Long Cơng thi cảo; Long Cơng biên tập; Long Cơng kinh để thi tập; Long Cơnglai hạ tập; Hu đình tập; Long Cơng Minh Lơng khải cáo lục; Long Cơng tàng quảng hànhvăn bảo tập… Truyền thống ấy đ
Một điều đáng trân trọng ở cụ Cao đối với truyền thống văn hóa nớc nhà là ông rất
có ý thức su tầm sách cổ và có dụng ý bảo lu kho tàng ấy một cách cẩn thận Khi về hu
ông đã thu thập đợc nhiều sách, muốn đề phòng thất lạc ông đã thuê ngời chép lại mỗi bộ
5 bản, giao cho con cháu mỗi ngời giữ một bản đề phòng sự mất mát sau này Gia đình
ông đã có cả một th viện lớn là Long Cơng tàng th Một số lớn sách quý đang đợc lu giữ ởcác th viện hiện nay là từ th viện này
Bởi vậy khi nói về Cao Xuân Dục, học giả " Charles Patris đã viết: Xuất thân từ một gia tộc cổ xa, đã từ lâu tôn sùng văn học, từ thuở nhỏ cụ Cao đã đợc tiếng thông minh, là một nho sĩ tinh tế, có những quan niệm độc đáo đợc diễn đạt bằng ngòi bút nhuần nhị và óng ả Một con ngời say mê văn hóa trí tuệ, một thi nhân lỗi lạc, một triết gia đợc nuôi dỡng bằng chất nhựa cây mãnh liệt của phơng châm Khổng giáo … cái ngọn lửa êm dịu và lung linh của những truyền thống cũng từ ngàn xa rọi về ấy … chính đó là cái mà cụ Cao muốn giữ lại cho hậu thế khi cụ viết những pho sách uyên bác kia [18,”
262]