Đặc điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên Theo Điều 38 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty TNHH hai thành viên trở lên có những đặc điểm cơ bản sau: Công ty TNHH trong suốt quá hìn
Trang 1Trờng Đại học Vinh
Khoa luật ********************
Phan thị minh thanh
Những quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của công ty tnhh hai thành viên
trở lên thực trạng và giải pháp
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Ngành cử nhân luật
Vinh, 2011
Trang 2Trêng §¹i häc Vinh
Khoa luËt ********************
Ngêi híng dÉn : ThS NguyÔn ThÞ TuyÕt
Sinh viªn thùc hiÖn : phan ThÞ Minh Thanh
Líp : 48b2 - luËt
Vinh, 2011
Trang 3Lời cảm ơn.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân,
em đã nhận được sự giúp đỡ của Hội đồng khoa học Khoa Luật, các Thầy giáo, Cô giáo trong tổ bộ môn Luật Kinh tế - Quốc tế Đặc biệt là sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của Cô giáo – Thạc sỹ Nguyễn Thị Tuyết.
Em xin trân trọng cảm ơn cô giáo – Thạc sỹ Nguyễn Thị Tuyết – người trực tiếp hướng dẫn khóa luận, xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học Khoa Luật, các Thầy giáo,
Cô giáo trong tổ bộ môn Luật Kinh tế - Quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình triển khai đề tài khóa luận.
Với năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, đề tài sẽ không tránh khỏi thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được góp ý kiến của của Hội đồng khoa học Luật, các Thầy giáo, Cô giáo cũng như những người quan tâm đến vấn đề này.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
PHAN THỊ MINH THANH
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu .4
5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khoá luận 5
7 Kết cấu của đề tài 5
NỘI DUNG Chương 1 : BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2005 6
1.1 Sự ra đời và phát triển của Công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Việt Nam .6
1.2 Bản chất pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo luật doanh nghiệp 2005 .9
1.3 Quy chế pháp lý về việc thành lập và chấm dứt hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên .12
1.4 Quyền và nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 26 1.5 Quy chế thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 33
1.6 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên .38
1.7 Vốn và chế độ tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên .42
Kết luận chương 1 44
Chương 2: NHỮNG TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN .45
2.1 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên 45
2.2 Nguyên nhân của tồn tại 62
2.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên 63
Kết luận chương 2 67
KẾT LUẬN 68
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
CHXHCN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐKKD ĐĂNG KÝ KINH DOANH
ĐKDN ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
TNHH TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
XHCN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
WTO TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công ty TNHH hai thành viên trở lên đã xuất hiện từ lâu, đầu tiên là ởĐức năm 1982 là kết quả của hoạt động lập pháp Đúng như dự đoán của cácnhà làm luật, sau khi có luật công ty TNHH, ngay lập tức nó nhận được sựhưởng ứng của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có vốn Vì nó kết hợp
ưu điểm về chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần và ưu điểm về chế độ chịutrách nhiệm hữu hạn của công ty đối vốn; đồng thời nó còn kết hợp được ưuđiểm về chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần và ưu điểm thành viên quenbiết nhau của công ty đối nhân Từ khi ra đời đến nay, số lượng của công tyTNHH hai thành viên trở lên đã phát triển nhanh chóng, qui mô, và là một trongnhững loại hình công ty quan trọng trên thế giới
Ở Việt Nam, loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng rất đượccác nhà đầu tư quan tâm và yêu thích Nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên khitham gia công ty, Nhà nước cần có sự điều chỉnh đối với sự hoạt động của công
ty Năm 1990, với sự ra đời của Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân thì
sự tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân mới được Chính phủ thừanhận Đây là bước chuyển biến cơ bản có vị trí đặc biệt quan trọng mở đầu choquá trình đổi mới nền kinh tế quốc dân và đường lối phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần theo định hướng XHCN Đến kỳ họp ngày 12/06/1999, Quốc hộinước CHXHCN Việt Nam đã ban hành Luật doanh nghiệp thay thế cho Luậtcông ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Và đến kỳ họp 29/11/2005, Luật doanhnghiệp 2005 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ
8 thông qua, thay thế cho Luật doanh nghiệp 1999 Với sự ra đời của Luật doanhnghiệp 2005, thì những quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của công tyTNHH hai thành viên trở lên đã có những bước hoàn thiện và hợp lý hơn
Luật doanh nghiệp 2005 đã quy định về quyền và nghĩa vụ của công tyTNHH hai thành viên trở lên, cách thức thành lập, phạm vi hoạt động, điều kiện
Trang 8của thành viên công ty Ưu điểm lớn nhất của công ty TNHH hai thành viên trởlên là chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn Thành viên của công ty chỉ chịu tráchnhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi tài sản của mình Do có chế độtrách nhiệm hữu hạn mà nó giúp các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào bất cứ lĩnhvực nào của nền kinh tế Thực tế cho thấy, công ty TNHH hai thành viên trở lên
cơ cấu thành viên trong công ty thường là người quen biết, có sự tin cậy nhấtđịnh vào nhau rất phù hợp với những doanh nghiệp có qui mô trung bình và nhỏ
Nhìn chung, sự phát triển của công ty TNHH hai thành viên trở lên diễn
ra khá nhanh.Trong một thời gian ngắn, nó đã phát huy được tác dụng tích cựcđối với việc huy động vốn, giải quyết việc làm, đáp ứng được yêu cầu của thịtrường, kích thích tính năng động sáng tạo và thức tỉnh ý thức kinh doanh tựvươn lên hạn chế sự trông chờ ỷ lại của các công ty vào Nhà nước Tuy nhiên,cho đến nay, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế, đặc biệt là việc nước
ta đã chính thức gia nhập WTO, qua thực tiễn áp dụng Luật doanh nghiệp 2005
ở nước ta đã xuất hiện nhiều điểm bất cập, không phù hợp với nền kinh tế hiệnnay Vì thế, vẫn có nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu, trao đổi thêm nhằmgiúp cho Luật doanh nghiệp 2005 thực sự phát huy tác dụng và đi vào cuộcsống, đồng thời nhằm hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của công ty TNHHhai thành viên trở lên, một loạt hình doanh nghiệp có nhiều điểm phù hợp vớiđiều kiện phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “ Những quy định của pháp luật về địa vị
pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên Thực trạng và giải pháp.”
làm khoá luận tốt nghiệp cho mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề địa vị pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên có ý nghĩarất to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn Chính vì vậy, đề tài này đã được nhiều tácgiả nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Chẳng hạn như:
PGS.TS Lê Hồng Hạnh (1997),” Cấu trúc vốn của công ty”, Đề tài cấp
cơ sở
Trang 9Tiến sỹ Trần Ngọc Dũng (2000), “Những vấn đề về công ty trong Luật
doanh nghiệp”, Đề tài cấp cơ sở.
PGS.TS Nguyễn Viết Tý (2002), “Phương hướng hoàn thiện pháp luật
kinh tế trong điều kiện có Bộ luật Dân sự”, Luận văn Tiến sỹ.
Thạc sỹ Nguyễn Như Hoa (2006), “Vấn đề hoàn thiện địa vị pháp lý của
công ty TNHH”, Luận văn Thạc sỹ.
Các bài báo, tạp chí chuyên ngành:
Tiến sỹ Bùi Ngọc Cường (1995), “Nội dung cơ bản và những điểm mới
của luật Doanh nghiệp Nhà nước”, Tạp chí Luật học, Tr 25, số 4/1995.
Thạc sỹ Đồng Ngọc Ba (2005), “Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về
các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, Tr 12, số 6/2005.
PGS.TS Nguyễn Viết Tý (2007), “Hai mươi năm phát triển của Luật kinh
tế nhìn dưới góc độ phương pháp luận”, Tạp chí Luật học, Tr.15; số 1/2007.
Thạc sỹ Nguyễn Thị Yến (2008), “Những “hạt sạn” trong Luật doanh
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Những quy định của pháp luật về địa vị pháp lý
của công ty TNHH hai thành viên trở lên Thực trạng và giải pháp” làm công
trình nghiên cứu nhằm cung cấp một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn vềviệc hoàn thiện địa vị pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên tronggiai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của khoá luận
Làm rõ bản chất pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên trongpháp luật hiện hành Qua đó, phân tích, đánh giá, nhằm đưa ra những phương
Trang 10hướng, giải pháp nhằm góp phần làm hoàn thiện địa vị pháp lý của công tyTNHH hai thành viên trở lên trong giai đoạn hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ của khoá luận
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của công ty TNHH hai thànhviên trở lên
Thu thập các tài liệu, khảo sát thực trạng của việc áp dụng các quy địnhcủa pháp luật về địa vị pháp lý công ty TNHH hai thành viên trở lên để từ đó tìm
ra các thành tựu và những điểm còn hạn chế trong qui định của pháp luật
Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hơn địa vị pháp lý củacông ty TNHH hai thành viên trở lên trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực trạng áp dụng những quyđịnh của pháp luật về địa vị pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận phân tích, đánh giá khái quát những thành tựu và hạn chế trongquy định của luật doanh nghiệp 2005 về địa vị pháp lý của công ty TNHH haithành viên trở lên để từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiệnhơn địa vị pháp lý của công ty TNHH hai thành viên trở lên trong giai đoạn hiệnnay
5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở khoa học
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở khoa học là quan điểm của chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật và những đề tài, công trìnhnghiên cứu của các tác giả về những nội dung có liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bởi việc sử dụng kết hợp các phương pháp như:Phương pháp logic và phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp
Trang 11khái quát hóa trong đó phương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp chủđạo.
6 Đóng góp của khoá luận
Khoá luận góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của công
ty TNHH hai thành viên trở lên Cũng như quá trình áp dụng những quy định đótrong thực tiễn Để qua đó, tìm ra những kết quả đạt được, những hạn chế và từ
đó đề ra các giải pháp khắc phục
Với kết quả nghiên cứu đạt được của khoá luận thì khoá luận có thể dùnglàm tư liệu tham khảo cho các doanh nghiệp, thương nhân, các cơ quan thực thipháp luật, sinh viên chuyên ngành Luật, Chính trị - Luật và những người có sựquan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củakhoá luận gồm 2 chương, 10 tiết
Trang 12NỘI DUNG
Chương 1
BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2005
1.1 Sự ra đời và phát triển của Công ty TNHH hai thành viên trở lên
ở Việt Nam.
Trong xã hội, khi nền tảng hàng hoá đã phát triển ở lĩnh vực nhất định để
mở mang kinh doanh, các nhà kinh doanh cần phải có nhiều vốn để đáp ứng nhucầu về vốn buộc các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau trên cơ sở vốn và tintưởng lẫn nhau, sự liên kết theo các hình thức nhất định tạo ra mô hình tổ chứcmới là công ty
Mặt khác, khi sản xuất hàng tiêu dùng, hàng hoá phát triển thì sự cạnhtranh trên thị trường ngày càng khắc nghiệt hơn Các nhà doanh nghiệp có vốnđầu tư thấp thường ở vào vị trí bất lợi trong quá trình cạnh tranh vì vậy, các nhàkinh doanh phải liên kết với nhau thông qua hình thức là góp vốn để thành lậpmột doanh nghiệp vững chắc trên thị trường Hơn nữa, trong kinh doanh thườnggặp rủi ro, các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau để nếu có rủi ro xảy ra thìnhiều người cùng gánh chịu, điều này có lợi hơn so với doanh nghiệp một chủ
Mô hình liên kết này tỏ ra hấp dẫn, phù hợp với nền kinh tế thị trường và nhữngngười kinh doanh
Do vậy, công ty đã được các nhà kinh doanh tiếp thu và áp dụng Nhưvậy, sự ra đời của công ty là một quy luật khách quan trong nền kinh tế thịtrường
Ra đời năm 1982 tại Đức, công ty TNHH hai thành viên trở lên được luậtpháp các nước Châu Âu lục địa thừa nhận và phát triển mạnh mẽ cho tới ngàynay Ở các nước phát triển đặc biệt là các nước tư bản chủ nghĩa, công ty TNHHhai thành viên trở lên đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động thương mạicũng như trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Đây là loại công ty kết hợp được
Trang 13những ưu điểm về chế độ TNHH của công ty cổ phần và ưu điểm các thành viênquen biết nhau của công ty đối nhân Nó khắc phục được nhược điểm về sựphức tạp khi thành lập và quản lý của công ty cổ phần, nhược điểm không phânchia được rủi ro của công ty đối nhân Chính vì vậy mà hiện nay công ty TNHHhai thành viên trở lên đã và đang thu hút được sự chú ý của thương nhân nhiềunhất Trong nền kinh doanh thị trường, chế độ trách nhiệm hữu hạn tạo điều kiệncho các nhà kinh doanh hạn chế rủi ro bằng cách chia sẻ trách nhiệm cho nhiềungười, giúp cho các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực kinh tế nào
có lợi cho xã hội Công ty đã tạo điều kiện cho bất kỳ nhà đầu tư nào cũng cóthể góp vốn của họ Điều này đã thu hút được nhiều các nhà đầu tư cũng nhưngười có vốn quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh Vì thế, có thể nóicông ty TNHH hai thành viên trở lên đã chiếm vị trí hết sức quan trọng trongnền kinh tế thị trường Việc thu hút đầu tư từng bước đưa nền kinh tế phát triển,
mở rộng quy mô địa bàn và đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh Số lượng cáccông ty TNHH hai thành viên trở lên ngày càng tăng và đã dần dần chứng minhđược tầm quan trọng của nó
Thực tế ở Việt Nam cho thấy các nhà đầu tư cũng rất thích thú với loạihình kinh doanh này Nhất là trong tình hình hiện nay nước ta đang từng bướcđổi mới nên kinh tế toàn diện trong đó có cơ cấu kinh tế hoà nhập với nền kinh
tế của các nước trên thế giới
Trước năm 1986, nền kinh tế nước ta có đặc điểm là xây dựng nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung chủ yếu là hai thành phần quốc doanh và tập thể Trongthời kỳ này kinh tế tư nhân không có điều kiện phát triển do hoàn cảnh lịch sử.Thành phần kinh tế tư nhân lại dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ và là thành phần kinh
tế không thuần nhất Nói chung về mặt kinh tế họ đều là những sở hữu nhỏ, tiếnhành hoạt động kinh tế bằng chính lao động của mình Nền kinh tế Việt Namgiai đoạn này là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp chứkhông phải là nền kinh tế hàng hoá với sự đa dạng của các thành phần kinh tế Ở
đó không có sự cạnh tranh mà chỉ có hai thành phần là kinh tế quốc doanh và tập
Trang 14thể với vai trò bao trùm của Nhà nước từ khâu sản xuất đến khâu phân phối, lưuthông, Nhà nước không khuyến khích làm giàu, không khuyến khích tư nhânphát triển kinh tế Tư nhân không được phép đầu tư vào các dự án lớn, vì vậythời kỳ này không có cạnh tranh nên không có rủi ro Cơ chế đó đã làm vai tròcủa nền kinh tế tư nhân trong giai đoạn này không phát triển và không có vị trítrong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp ở nước ta.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 do có sự nhận thức đúngđắn tình hình kinh tế của nước ta lúc bấy giờ nên Nhà nước ta chuyển nền kinh
tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế Việt Nam trước đây chủ yếu là tự cấp tự túc với cơ chế cấpphát giao nộp tiền thì hiện nay nền kinh tế của Việt Nam đã chuyển đổi để phùhợp với sự phát triển của đất nước Nhà nước đã dần dần giảm bớt các chỉ tiêupháp lệnh có tính áp đặt và xoá bỏ sự không có giới hạn vào quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, chuyển dần việc điều chỉnh củamình thông qua việc quản lý vĩ mô như thuế, pháp luật
Các thành phần kinh tế nước ta, tập thể và tư nhân có thể thay đổi về vaitrò và cơ chế hoạt động trong đó có vai trò chủ đạo vẫn thuộc về thành phầnkinh tế quốc doanh, nghĩa là quốc doanh vẫn nắm giữ một số ngành then chốt,thông qua kinh tế quốc doanh, Nhà nước tác động vào nền kinh tế Mục đích củaviệc giữ vai trò chủ đạo cho nền kinh tế quốc doanh là nhằm đảm bảo cho sựphát triển ổn định và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, các thành phần kinh tế khác như kinh tếtập thể, hợp tác xã cũng có những thay đổi theo hướng giảm dần sự can thiệpcủa Nhà nước Vì vậy, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường của Việt Namkhông chỉ đơn giản là sự chuyển biến thuần tuý về mặt kinh tế mà phải gắn liềnvới sự thay đổi căn bản về mặt xã hội và tạo ra sự thống nhất giữa tăng trưởngkinh tế với công bằng tiến bộ xã hội
Trang 15Hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các thành phầnkinh tế đều được khuyến khích phát triển Các doanh nghiệp đều bình đẳng vớinhau trong hoạt động kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật Trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, phạm vi hoạt động, lĩnh vực hoạt động của kinh tếquốc doanh sẽ thu hẹp nhưng nó vẫn giữ vai trò chủ đạo bởi nó vẫn sẽ tồn tại vàphát triển ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế Nhà nướccần phải có những công ty TNHH hai thành viên trở lên ở những lĩnh vực khácnhau can thiệp vào nền kinh tế thị trường Sự tồn tại của công ty TNHH haithành viên trở lên trong nền kinh tế thị trường và đặc biệt là ở nước ta hiện nay
là một tất yếu khách quan Để công ty TNHH hai thành viên trở lên phát huyđược vai trò chủ đạo của mình đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách hợp lý vớicông ty TNHH hai thành viên trở lên Đó là yếu tố quan trọng chi phối qua trìnhthành lập và điều chỉnh pháp lý đối với việc tổ chức và hoạt động của công tyTNHH hai thành viên trở lên
1.2 Bản chất pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trong luật doanh nghiệp 2005.
1.2.1 Khái niệm công ty TNHH hai thành viên trở lên
Theo Điều 38, luật doanh nghiệp 2005, khái niệm về công ty TNHH hai
thành viên là: ‘’Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình công ty gồm
không quá 50 thành viên, công ty chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình’’.
1.2.2 Đặc điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên
Theo Điều 38 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty TNHH hai thành viên trở lên có những đặc điểm cơ bản sau:
Công ty TNHH trong suốt quá hình hoạt động là một pháp nhân, có tàisản độc lập, có trụ sở ổn định, có mục tiêu kinh doanh rõ ràng và có thể lànguyên đơn, bị đơn trước pháp luật, số thành viên luôn từ hai đến năm mươi
Trang 16Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết vào doanh nghiệp.
Phần góp vốn của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy địnhtại Điều 43, 44, 45 của Luật này
Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượtquá 50
Công ty TNHH hai thành viên trở lên không được phát hành cổ phiếu,nhưng vẫn được phát hành trái phiếu
Công ty TNHH hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngàyđược cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Do công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình công ty trung giangiữa công ty cổ phần và công ty đối nhân với một loạt các ưu điểm của hai loạihình công ty nên công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng mang các đặc điểmcần được pháp luật chú ý Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên việc bảo vệ chủ
nợ rất cần thiết và vì vậy, luật có những quy định đặc biệt với công ty TNHH haithành viên trở lên, nó được thể hiện qua các đặc điểm sau:
Thứ nhất, công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có tư
cách pháp nhân, có các quyền về tài sản và các quyền khác, có thể là nguyênđơn hoặc bị đơn trước cơ quan tài phán
Thứ hai, phần vốn góp của các thành viên phải được đóng đầy đủ ngay
sau khi thành lập công ty dù phần vốn góp đó là hình thức nào (tiền, hiện vật,bản quyền sở hữu ) Là loại công ty có chế độ TNHH nên pháp luật quy địnhđóng đủ ngay phần vốn góp nhằm bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba có giaodịch với công ty Tuy rằng ở đây có quan điểm khác so với công ty cổ phần, ởcác công ty cổ phần nếu phần góp của các thành viên công ty bằng tiền thì khithành lập công ty họ chỉ cần đóng góp một nửa giá trị số cổ phần nhận mua là đủ
để trở thành thành viên của công ty (tuy nhiên họ sẽ phải nộp đủ số còn lại trongthời gian nhất định được quy định trong điều lệ) Ở đây, cần được lưu ý thờiđiểm công ty được thành lập về mặt pháp lý là khi được ghi tên vào đăng ký
Trang 17kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Từ thời điểm này,công ty có tư cách pháp nhân và được tiến hành mọi hoạt động kinh doanh củamình.
Thứ ba, phần vốn góp của các thành viên công ty không được thể hiện
dưới hình thức nào (giấy tờ có giá trị như cổ phiếu mà nó được ghi nhận trongđiều lệ công ty), trong điều lệ có ghi rõ phần góp vốn của các thành viên công ty
và họ được cấp một bản sao điều lệ công ty và lấy nó làm bằng chứng cho tưcách thành viên của mình Đặc điểm này của công ty TNHH hai thành viên trởlên khác với công ty cổ phần
Thứ tư, công ty không được phát hành ra bên ngoài công chúng để huy
động vốn như cổ phiếu,mà chỉ được phát hành trái phiếu và các loại chứngkhoán khác theo luật chứng khoán Công ty chỉ có thể huy động vốn bằng việctăng cường vốn điều lệ, vay vốn của ngân hàng và các khoản vay tín dụng khác
Do vậy, khả năng huy động vốn của công ty TNHH hai thành viên trở lên là hạnchế hơn so với công ty cổ phần (công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu hoặctrái phiếu ra công chúng để huy động vốn Người mua cổ phiếu lập tức trở thànhthành viên công ty, còn người mua trái phiếu là chủ nợ của công ty Cổ phiếu vàtrái phiếu được tự do chuyển nhượng nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhữngngười sở hữu)
Thứ năm, việc chuyển nhượng phần vốn góp của công ty bị hạn chế Điều
44 Luật doanh nghiệp 2005 quy định“thành viên muốn chuyển nhượng vốn phải
chào bán phần vốn góp đó cho tất cả thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty nếu các thành viên còn lại của công
ty không mua hoặc không mua hết” Đây là điểm khác so với công ty cổ phần,
phần vốn góp của cổ đông được thể hiện bằng cổ phiếu mà cổ phiếu được tự dochuyển nhượng trừ các cổ phiếu có ghi tên Đặc điểm này của công ty làm chongười ta nghĩ tới việc nó vẫn mang một số đặc điểm của công ty đối nhân Trongcác công ty đối nhân, việc thay đổi thành viên có thể là lý do để giải thể công ty
Trang 18Các thành viên có mối quan hệ tương đối chặt chẽ nên phải xem xét tới nhânthân của người muốn vào công ty và phải xem họ có đủ tin cậy, uy tín để vàocông ty hay không.
Thứ sáu, các bảng hiệu, hoá đơn, quảng cáo và các tài liệu, giấy tờ giao
dịch khác đều phải ghi tên của công ty kèm theo chữ “trách nhiệm hữu hạn”.
Đây là biện pháp để bảo vệ quyền lợi cho người giao dịch với công ty và cũng làthông báo cho họ biết về sự chịu trách nhiệm của công ty về các khoản nợ củamình Theo pháp luật của một số nước, nếu như công ty vi phạm nghĩa vụ nàythi sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với công chứng giao dịch với mình, bởi
vì, những vi phạm sẽ được coi là lừa dối trong kinh doanh Tuy nhiên, pháp luậtViệt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề này
Thứ bảy, cơ cấu quản lý thường gọn nhẹ và phụ thuộc vào số lượng thành
viên Cụ thể, số lượng thành viên dưới 11 người thì việc thành lập, quản lý công
ty được tiến hành theo những quy định hết sức đơn giản, họ sẽ họp toàn thểthành viên phân công nhau đảm nhiệm chức trách quản lý, khảo sát công ty, cửhoặc thuê giám đốc Nếu công ty có 11 thành viên trở lên thì phải tiến hành đạihội, bầu hội đồng quản trị, bầu chủ tịch, giám đốc công ty và kiểm soát viên
1.3 Quy chế pháp lý về việc thành lập và chấm dứt hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
1.3.1 Quy chế thành lập công ty.
Nhiều nước trên thế giới, những người muốn thành lập công ty để tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ cần làm thủ tục đăng ký kinh doanhtại toà án thương mại hoặc toà án kinh tế là có quyền kinh doanh hợp pháp
Do hoạt động quản lý kinh doanh ở nước ta trong giai đoạn đầu của nềnkinh tế còn non yếu, các công cụ để quản lý như pháp luật, các cơ quan quản lýkinh doanh còn thiếu đồng bộ Việc đưa ra quy định về xin phép và cấp phépthành lập công ty là hết sức cần thiết nhằm hạn chế những thiệt hại có thể xảy racho xã hội như việc sản xuất hàng giả, hàng hoá kém phẩm chất so với tiêu
Trang 19chuẩn đã đăng ký, trốn thuế, lừa đảo, lừa khách huy động vốn quá lớn so với khảnăng kinh doanh, khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.
Để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên pháp luật phải quy
định một cách chặt chẽ ai là người có đủ điều kiện để tham gia thành lập, gópvốn vào công ty
1.3.1.1 Điều kiện chủ thể thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Theo khoản 1, Điều 13 luật doanh nghiệp 2005 quy định:” tổ chức, cá
nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này”.
Khoản 2, Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005 quy định nghiêm cấm cơquan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản của Nhànước và công quỹ để thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn vào doanh nghiệpthu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình Ngoài ra, pháp luật còn quy định ngườichưa thành niên, người thành niên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sựkhông đủ khả năng tự đem tài sản góp vào công ty hay bảo vệ lợi ích chính đángcủa họ thì cũng không được thành lập công ty Vì vậy, việc pháp luật quy địnhcấm đối với người chưa thành niên, người thành niên bị hạn chế hoặc mất nănglực hành vi dân sự là dựa trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của chính người đó, để tạocho công ty hoạt động có hiệu quả Hạn chế đối với người đang bị truy cứu tráchnhiệm hình sự hay người đang chấp hành phạt tù hoặc bị toà án tước quyền hànhnghề nếu để họ thành lập công ty có thể gây ra nhiều tiêu cực nên quy định này
có giá trị ngăn ngừa trước
Đối với một số ngành nghề kinh doanh đặc biệt như in, khắc con dấu, saochụp, nghề kinh doanh có sử dụng chất nổ, chất độc mạnh, chất phóng xạ Những người không được làm các nghề kinh doanh đặc biệt này bao gồm:
Những người đang bị quản chế, cải tạo không giam giữ, bị án tù nhưngcho hưởng án treo
Trang 20Người có tiền án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc có tội khác quan
hệ trực tiếp tới nghề kinh doanh đặc biệt mà họ phải xin phép kinh doanh, người
có tiền án mà họ đã lợi dụng hoạt động kinh doanh ngành nghề đặc biệt để hoạtđộng phạm tội
Những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc đang có liên quan trực tiếpđến các vụ án hình sự mà cơ quan thẩm quyền đang tiến hành điều tra
Các quy định trên đây nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, giữ trật tự an toán
xã hội, ngắn ngừa việc lợi dụng kinh doanh để hoạt động phi pháp
Nhà nước ta thừa nhận quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luậtđồng thời cũng quy định chặt chẽ việc thực hiện quyền đó để bảo vệ lợi ích củangười tiêu dùng, các tổ chức kinh tế khác, của toàn xã hội Pháp luật quy định:Người quản lý điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn tưvấn mà pháp luật đòi hỏi đối với một ngành nghề Vì trong thực tế, không ít lĩnhvực người ta không quản lý, điều hành công ty nếu họ không nắm vững chuyênmôn ngành nghề kinh doanh, chạy theo lợi nhuận cũng có thể gây ra thiệt hạikhông thể lường trước được cho người tiêu dùng và cho toàn xã hội (như kinhdoanh dịch vụ khám chữa bệnh, kinh doanh dược phẩm, kinh doanh dịch vụkiểm toán, kinh doanh thiết bị công trình )
1.3.1.2 Điều kiện về trụ sở giao dịch.
Địa điểm làm việc chính thức của công ty là trụ sở giao dịch, ở đây có bộmáy quản lý điều hành và tiến hành các hoạt động giao dịch trong mọi quan hệ.Đối với xã hội, cần phân biệt trụ sở giao dịch chính của công ty với các phânxưởng sản xuất, cửa hàng đại lý bán lẻ sản phẩm của công ty ở trong và ngoàitỉnh Về sở hữu trụ sở của công ty có thể là tài sản riêng của công ty hoặc docông ty thuê mướn Đơn xin phép thành lập công ty phải xuất trình các vănbằng, chứng chỉ, hợp đồng thuê mướn được cơ quan công chứng chứng thựctrong trường hợp thuê mướn của người khác Có thể có nhiều trụ sở giao dịch ởnhiều địa bàn khác nhau trong một công ty song đều đảm nhận là đầu mối giaodịch và tiến hành các hoạt động kinh doanh Nước ta hiện nay do hoạt động kinh
Trang 21doanh còn có quy mô hạn chế thông thường trụ sở giao dịch được đặt tại các cửahàng dịch vụ buôn bán sản phẩm hàng hoá của công ty Việc quy định công ty
có trụ sở giao dịch là cần thiết nhằm đảm bảo tính chính thức, tính công khaiđược mọi người thừa nhận
1.3.1.3 Điều kiện về vốn
Theo quy định tại khoản 1, điều 6, nghị định 102/2010/NĐ-CP thì :”Vốnđiều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là tổng giá trị cácphần vốn góp do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn cụthể và đã được ghi vào Điều lệ công ty”
Thời hạn mà thành viên, chủ sở hữu công ty phải góp đủ số vốn đãcam kết vào vốn điều lệ quy định tại các khoản 1, Điều 6 của nghị định này
nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký bổ sung, thay đổi thành viên
Tại điều 10, Nghị định 102/2010/NĐ-CP cũng quy định rõ vấn đề kinhdoanh phải có vốn pháp định như sau:
“1 Ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, mức vốn pháp định
cụ thể, cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về vốn pháp định, cơ quan, tổchức có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định, hồ sơ, điều kiện và cách thức xácnhận vốn pháp định áp dụng theo các quy định của pháp luật chuyên ngành
2 Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc(Tổng giám đốc) đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, Chủ tịch Hội đồng quảntrị và Giám đốc (Tổng giám đốc) đối với công ty cổ phần, tất cả các thành viênhợp danh đối với công ty hợp danh và chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân đối vớidoanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác củavốn được xác nhận là vốn pháp định khi thành lập doanh nghiệp Doanh nghiệp
có nghĩa vụ bảo đảm mức vốn điều lệ thực tế không thấp hơn mức vốn phápđịnh đã được xác nhận trong cả quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
Trang 223 Đối với đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp kinh doanh ngành,nghề phải có vốn pháp định, trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có thêm xácnhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định Người trựctiếp xác nhận vốn pháp định cùng liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác,trung thực của số vốn tại thời điểm xác nhận.
4 Đối với doanh nghiệp đăng ký bổ sung ngành, nghề phải có vốn phápđịnh thì không yêu cầu phải có thêm xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩmquyền xác nhận vốn pháp định nếu vốn chủ sở hữu được ghi trong bảng tổng kếttài sản của doanh nghiệp tại thời điểm không quá 03 tháng, kể từ ngày nộp hồ
sơ, lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định theo quy định.”
Theo quy định của pháp luật hiên hành thì những nghành nghề kinhdoanh đòi hỏi phải có vốn pháp định đó là:
“1 Tổ chức tín dụng
a Ngân hàng thương mại cổ phần: 1000 tỷ đồng
b Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: 15 triệu USD
2 Quỹ tín dụng nhân dân
a Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 1000 tỷ đồng
b Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: 0.1 tỷ đồng
8 Kinh doanh cảng hàng không:
a Kinh doanh cảng hàng không nội địa: 30 tỷ đồng
b Kinh doanh cảng hàng không quốc tế: 100 tỷ đồng
Trang 239 Cung cấp dịch vụ hàng không tại cảng hàng không (không phải làdoanh nghiệp cảng hàng không):
a Kinh doanh tại cảng hàng không nội địa: 10 tỷ đồng
b Kinh doanh tại cảng hàng không quốc tế: 30 tỷ đồng
10 Kinh doanh vận chuyển hàng không:
a Vận chuyển hàng không quốc tế:
Khai thác từ 1 đến 10 tàu bay: 500 tỷ đồng
Khai thác từ 11 đến 30 tàu bay: 800 tỷ đồng
Khai thác trên 30 tàu bay: 1000 tỷ đồng
b Vận chuyển hàng không nội địa:
Khai thác từ 1 đến 10 tàu bay: 200 tỷ đồng Khai thác từ 11 đến 30 tàubay: 400 tỷ đồng
Khai thác trên 30 tàu bay: 500 tỷ đồng
11 Kinh doanh hàng không chung: 50 tỷ đồng”
1.3.1.4 Điều kiện về ngành nghề kinh doanh
Theo quy định tại điều 7, luật doanh nghiệp 2005 và hướng dẫn chi tiết tạinghị định số 102/2010-CP đã quy định rõ về điều kiện ngành nghề kinh doanh
Về cơ bản pháp luật quy định có các nhóm nghành nghề sau:
Một là, Nhóm ngành nghề kinh doanh tự do, chẳng hạn như: buôn bán
hàng tạp hóa, buôn thúng bán mẹt,
Hai là, Nhóm ngành nghề kinh doanh có điều kiện (phải có chứng chỉ
thẩm quyền của Việt Nam hoặc hiệp hội nghề nghiệp được Nhà nước ủy quyềncấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về mộtngành, nghề nhất định) Theo các quy định hiện hành, những ngành nghề sauđây cần có chứng chỉ hành nghề trước khi đăng ký kinh doanh: Kinh doanh dịch
vụ pháp lý; Kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm;Kinh doanh dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y; Kinh doanh dịch vụ thiết
kế quy hoạch xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giám
Trang 24sát thi công xây dựng; Kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Sản xuất, gia công, sangchai, đóng gói, mua bán thuốc bảo vệ thực vật; Kinh doanh dịch vụ xông hơikhử trùng; Kinh doanh dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải; Mua bán di vật, cổvật, bảo vật quốc gia; Kinh doanh dịch vụ kế toán; Dịch vụ môi giới bất độngsản; dịch vụ định giá bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản.
Ba là, Nhóm ngành nghề khuyến khích kinh doanh, đó là những ngành
nghề truyền thống như: dệt may, đan lát đồ mỹ nghệ, thủ công,
Bốn là, Nhóm ngành nghề kinh doanh bị cấm như: Kinh doanh vũ khíquân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự,công an; quân trang (bao gồm cả phù hiệu, cấp hiệu, quân hiệu của quân đội,công an), quân dụng cho lực lượng vũ trang; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư
và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng; Kinh doanhchất ma túy các loại; Kinh doanh hóa chất bảng 1 (theo Công ước quốc tế); Kinhdoanh các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tớigiáo dục thẩm mỹ, nhân cách; Kinh doanh các loại pháo; Kinh doanh các loại đồchơi, trò chơi nguy hiểm, đồ chơi, trò chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sứckhỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự an toàn xã hội; Kinh doanh các loạithực vật, động vật hoang dã, gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã đượcchế biến, thuộc danh mục điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định
và các loại thực vật, động vật quý hiếm thuộc danh mục cấm khai thác, sử dụng;Kinh doanh mại dâm, tổ chức mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em; Kinh doanhdịch vụ tổ chức đánh bạc, gá bạc dưới mọi hình thức; Kinh doanh dịch vụ điềutra bí mật xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, công dân;
Như vậy, nhà đầu tư có thể lựa chọn bất cứ ngành nghề nào nằm ngoàinhóm ngành nghề bị cấm kinh doanh đặc biệt đối với ngành nghề kinh doanh cóđiều kiện thì việc chọn nghành nghề được coi là hợp pháp khi nhà đầu tư đápứng được đầy đủ các yêu cầu của pháp luật liên quan đến ngành nghề đó
1.3.1.5 Điều kiện về tên doanh nghiệp
Trang 25Với điều kiện về tên doanh nghiệp thì tại khoản 1, khoản 2, điều 31 luậtdoanh nghiệp 2005 đã quy định rất rõ.Theo đó, tên doanh nghiệp phải được viếtbằng tiếng việt và có thể kèm theo chữ số và ký hiệu, phải phát âm được và có ítnhất hai thành tố: loại hình doanh nghiệp và tên riêng Như vậy, với quy địnhnày, tên của tất cả các công ty TNHH hai thành viên trở lên phải kèm theo cụm
từ “TNHH” Ngoài ra, pháp luật còn nêu ra một sổ trường họp cấm trong khi lựachọn tên cho công ty như: không được đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với têncủa công ty đã đăng ký, không được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lựclượng vũ trang nhân dân tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội đểlàm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của công ty trừ trường hợp có sự chấpthuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó; không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu
vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dântộc để đặt tên riêng cho công ty Ngoài ra, pháp luật cũng cho phép các công tyđược dịch tên công ty sang tên tiếng nước ngoài hoặc viết tắt, tuy nhiên trongmọi trường hợp vẫn phải thể hiện đầy đủ tên công ty bằng tiếng việt trên biểnhiệu của công ty
1.3.1.6 Thủ tục thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Người muốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên phải nộp đủ
hồ sơ kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 tại cơ quan đăng kýkinh doanh thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nơidoanh nghiệp đặt trụ sở chính, phải tự chịu trách nhiệm về tính xác thực trungthực của hồ sơ kinh doanh Cơ quan đăng ký kinh doanh không có quyền yêucầu người thành lập doanh nghiệp trình các giấy tờ, hồ sơ khác ngoài hồ sơ màLuật doanh nghiệp 2005 quy định đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên
Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng
ký kinh doanh
Trong quá trình thành lập, thành viên sáng lập hoặc người đại diện theo
uỷ quyền của nhóm thành viên sáng lập ký kết hợp đồng phục vụ cho việc thànhlập công ty Hợp đồng này được doanh nghiệp tiếp nhận quyền và nghĩa vụ
Trang 26trong trường hợp doanh nghiệp được thành lập Nếu doanh nghiệp không đượcthành lập thì người giao kết hợp đồng hoàn toàn hay liên đới chịu trách nhiệm
về việc thực hiện hợp đồng đó Để trách tình trạng tranh chấp sau này, khi chuẩn
bị thành lập, các thành viên sáng lập cần thoả thuận với nhau trách nhiệm thựchiện hợp đồng trong trường hợp doanh nghiệp không được thành lập (Điều 11Luật doanh nghiệp 2005)
Đăng ký kinh doanh không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân cáccông ty mà còn có ý nghĩa về mặt quản lý nhà nước Theo Luật doanh nghiệp
2005, các doanh nghiệp có quyền đăng ký kinh doanh hoạt động các ngành nghề
có điều kiện do pháp luật quy định Vì vậy, chỉ thông qua công tác quản lý kinhdoanh Nhà nước mới quản lý được các doanh nghiệp Nội dung đăng ký kinhdoanh còn là thông tin cần thiết để xử lý trong quan hệ kinh doanh với cácdoanh nghiệp khác
Theo điều 18 Luật doanh nghiệp 2005 hồ sơ đang ký kinh doanh của công
ty TNHH hai thành viên gồm:
“1 Giấy đề nghị điều kiện đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
2 Dự thảo điều lệ công ty.
3 Danh sách thành viên và các giấy tờ kèm theo sau đây:
a, Đối với thành viên là cá nhân: bản sao giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân họp pháp khác.
b, Đối với thành viên là tổ chức: bản sao quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tài liệu tương ứng khác của tổ chức; văn bản ủy quyền, giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân dân hợp pháp khác của người đại diện theo ủy quyền.
Đối với thành viên là tiên là tổ chức nước ngoài thì bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đăng ký không quá 3 tháng trước ngày nộp hồ sơ đăng
ký kinh doanh.
Trang 274 Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối cới công ty kinh doanh ngành nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn phấp định.
5 Chứng chỉ hành nghề của giám đốc hoặc tổng giám đốc và cá nhân khác đối với công ty kinh doanh ngành nghề mà theo quy định của pháp luật pjải có chứng chỉ hành nghề.”
Trong trường hợp doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh các ngành nghềphải có vốn pháp định còn phải có thêm xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩmquyền về việc có đủ vốn pháp định (Điều 10, nghị định số 102/2010/NĐ-CPngày 1/10/2010)
Đơn đăng ký kinh doanh được làm theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng
ký kinh doanh quy định và có nội dung quy định tại Điều 21 Luật doanh nghiệp2005
Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký kinhdoanh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký kinh doanhhợp lệ (khoản 2, Điều 15 Luật doanh nghiệp 2005) Nếu từ chối cấp giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh thì phải thông báo bằng văn bản cho người thành lậpdoanh nghiệp biết Thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu bổ sung, sửa đổi
Doanh nghiệp được cung cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu đủcác điều kiện theo quy định tại Điều 18 Luật doanh nghiệp 2005 Doanh nghiệp
có quyền hoạt động kinh doanh kể từ ngày được chứng nhận đăng ký kinhdoanh Trong quá trình kinh doanh nếu thay đổi tên, địa chỉ, trụ sở chính, chinhánh văn phòng đại diện (nếu có), mục tiêu và ngành nghề kinh doanh vốn điều
lệ, thay đổi người quản lý, người đại diện theo pháp luật của công ty và các vấn
đề khác trong nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh, công ty phải đăng ký thay đổinói trên với các cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất 10 ngày trước khi thựchiện việc thay đổi Trong trường hợp có thay đổi trong nội dung giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận thay đổiđăng ký kinh doanh
Trang 28Để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp theo khoản 1,Điều 27 Luật doanh nghiệp 2005 thì cơ quan đăng ký kinh doanh có nghĩa vụgửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho cơ quan thuế, cơ quanthống kê, cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cùng cấp, uỷ ban nhân dânhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính trongthời hạn 7 ngày kể từ ngày cấp.
Để phục vụ cho hoạt động của mình, cá nhân, cơ quan, tổ chức, có quyềnyêu cầu các cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp thông tin về nội dung đăng kýkinh doanh, cung cấp bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứngnhận thay đổi đăng ký kinh doanh, hoặc bản trích nội dung đăng ký kinh doanhphải trả hợp lệ Cơ quan đăng ký kinh doanh có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịpthời các thông tin về nội dung đăng ký kinh doanh cho các cơ quan, tổ chức, cánhân có yêu cầu (theo khoản 2, Điều 27 luật doanh nghiệp 2005)
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh hoặc giấy chứng nhận thay đổi đăng ký kinh doanh, công ty phảiđăng báo địa phương, phải đăng báo hàng ngày của trung ương về nội dung chủyếu sau: Tên công ty, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh văn phòng (nếu có) mụctiêu và ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ tên, địa chỉ của các thành viênsáng lập và người đại diện theo pháp luật của công ty, nơi đăng ký kinh doanh
1.3.1.7 Thủ tục chuyển quyền sở hữu vốn góp vào công ty.
Để đảm bảo cho công tác kinh doanh của công ty cũng như trách nhiệmcủa công ty trong kinh doanh Điều 22 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: Saukhi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh người cam kết góp vốn vàocông ty TNHH hai thành viên trở lên phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tàisản góp cho công ty theo quy định đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền
sử dụng đất thì người góp vốn phải có đầy đủ giấy tờ sở hữu và làm thủ tụcchuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại các cơquan có thẩm quyền Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn khôngphải chịu lệ phí trước bạ Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu việc góp
Trang 29vốn phải được thực hiện bằng cách giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằngbiên bản.
1.3.1.8 Tiến hành định giá các tài sản góp vốn
Tất cả các thành viên sáng lập là người định giá góp vốn vào công ty khithành lập Việc định giá các tài sản góp vốn được tiến hành theo nguyên tắc nhấttrí Trong quá trình hoạt động Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thànhviên trở lên là người thực hiện định giá tài sản, góp vốn Việc định giá phảiđược tiến hành khách quan, phù hợp với giá trị tài sản tại thời điểm định giá.Nếu trường hợp người định giá sai thì phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toánphần chênh lệch cho công ty và phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường chongười bị hại Trường hợp người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan chứngminh được tài sản góp vốn được định giá so với giá trị thực tế tại thời điểm gópvốn thì yêu cầu các cơ quan đăng ký kinh doanh buộc người giám định phảiđánh giá lại hoặc chỉ định tổ chức giám định để giám định lại tài sản vốn góp
1.3.2 Quy chế giải thể và phá sản công ty.
Chấm dứt hoạt động của công ty có thể là một hành động phụ thuộc hoàntoàn vào ý chí của công ty hoặc một hành vi của cơ quan có thẩm quyền Luậtquy định hai trường hợp chấm dứt hoạt động của công ty đó là giải thể và phásản
1.3.2.1 Giải thể.
Giải thể công ty là chấm dứt sự tồn tại của công ty Giải thể công ty trướchết là quyền của các thành viên trong công ty bởi họ đã tự nguyện hùn vốn thànhlập công ty thì họ có quyền thoả thuận việc giải thể công ty Mặt khác, công tycòn bị giải thể trong trường hợp luật định
Theo Điều157 Luật doanh nghiệp 2005, công ty bị giải thể trong cáctrường hợp sau:
Kết thúc thời hạn đã ghi trong điều lệ mà không quyết định ra hạn khithành lập công ty, thời gian hoạt động của công ty được các thành viên thoảthuận và ghi vào điều lệ Điều lệ của công ty là các cam kết của các thành viên
Trang 30về việc thành lập và hoạt động của công ty Khi hết thời hạn đã ghi trong điều lệ(nếu các thành viên công ty không muốn tham gia hoạt động thì công ty đươngnhiên phải tiến hành giải thể).
Công ty giải thể theo quyết định của hội đồng thành viên chủ sở hữu Giảithể công ty thuộc quyền quyết định của các thành viên công ty Các thành viêncông ty đã tự nguyện hùn vốn vào công ty thì họ cũng có quyền cùng nhau quyếtđịnh việc giải thể
Công ty giải thể khi công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểutheo quy định trong thời hạn sáu tháng liên tục Có đủ số lượng thành viên tốithiểu là một trong những điều kiện pháp lý để công ty tồn tại và hoạt động Phápluật quy định số lượng thành viên tối thiểu cho mỗi loại hình công ty khác nhau,khi không có đủ số lượng thành viên tối thiểu công ty phải kết nạp thêm thànhviên trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công ty không còn đủ số thành viên tốithiểu Nếu không công ty phải giải thể
Bị tịch thu giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh là căn cứ pháp lý không thể thiếu cho sự hoạt động và tồn tại củacác doanh nghiệp nói chung và công ty nói riêng Khi công ty kinh doanh viphạm các quy định của pháp luật và bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh thì công ty không thể tiếp tục tồn tại hoạt động Trong trường hợp nàycông ty phải giải thể theo yêu cầu của cơ quan đăng ký kinh doanh
Thủ tục giải thể công ty.
Để tiến hành giải thể, công ty phải thông qua quyết định giải thể công tyvới nội dung chủ yếu sau:
Tên, trụ sở doanh nghiệp
Lý do giải thể
Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ củadoanh nghiệp, thời hạn thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng không được vượt quásáu tháng kể từ ngày thông qua quyết định giải thể
Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động
Trang 31Thành lập tổ thanh lý tài sản, quyền và nhiệm vụ của tổ thanh lý tài sảnđược quy định trong phụ lục kèm theo quyết định giải thể.
Chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Sau khi thông qua quyết định giải thể công ty phải gửi quyết định giải thểđến cơ quan đăng ký kinh doanh, chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ, lợi ích liênquan trong vòng bảy ngày Khi gửi quyết định giải thể cho chủ nợ, công ty phảigửi kèm theo thông báo về phương án giải quyết nợ Thông báo này phải ghi rõ
họ tên, địa chỉ của chủ nợ, số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán
số nợ đó, cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ
Thanh lý tài sản, thanh toán các khoản nợ của công ty Đây là vấn đề quantrọng, chủ yếu khi công ty giải thể Việc thanh toán các khoản nợ là rất phức tạp
vì nó liên quan đến nhiều người, do đó phải tiến hành theo trình tự, thủ tục nhấtđịnh Sau đó chia tài sản còn lại của công ty cho các thành viên
Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thanh toán nợ của doanh nghiệp, tổthanh tra phải gửi hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh
Trường hợp công ty bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công
ty phải giải thể trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày bị thu hồi giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh
1.3.2.2 Phá sản
Phá sản là hiệu quả tất yếu của nền kinh tế thị trường, khi các nhà kinhdoanh hoạt động trong điều kiện kinh tế thị trường phải tuân theo các quy luậtkhách quan của nó: Quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh và hậu quả của cạnhtranh tất yếu sẽ dẫn đến phá sản Có thể do yếu kém của năng lực kinh doanh về
tổ chức và quản lý kinh doanh, về sự thích ứng với các điều kiện của thị trường.Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân khách quan như thời tiết, thiên tai, lũ lụt,chiến tranh, sự biến động về tài chính của khu vực và thế giới, những ảnh hưởngkhác như tình hình chính trị - xã hội Vì vậy, khi thừa nhận sự tồn tại và hoạtđộng của các loại hình công ty thì pháp luật đồng thời cũng phải thừa nhận hiệntượng phá sản và đưa ra quy chế pháp lý điều chỉnh vấn đề đó Phá sản không
Trang 32thuộc phạm vi quyền chủ thể, nó khác với giải thể là quyền công ty Nếu nhưviệc giải thể là do người chủ sở hữu đó tự mình quyết định hoặc cơ quan nhànước có thẩm quyền quyết định thì thẩm quyền tuyên bố phá sản thuộc về Toà
án nhân dân.Thủ tục tiến hành giải thể doanh nghiệp là thủ tục hành chính cònthủ tục tuyên bố phá sản doanh nghiệp là thủ tục tư pháp Trên cơ sở đơn xintuyên bố phá sản của công ty hoặc đơn yêu cầu của một số hay nhiều nhân sự,kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền, tuyên bố phá sản của cơ quan có thẩmquyền sẽ làm chấm dứt tư cách pháp nhân của công ty Trình tự thủ tục phá sảnthực hiện theo quyết định của pháp luật về phá sản
Trong nền kinh tế thị trường, giải thể và phá sản doanh nghiệp là hiệntượng không thể trách khỏi, doanh nghiệp muốn tồn tại không còn cách nàokhác là phải nhạy bén và thích ứng với thị trường, năng động sản xuất kinhdoanh có hiệu quả Nó là động lực kích thích công ty luôn tự đổi mới, hoàn thiệnhơn cách thức hoạt động của mình để đáp ứng yêu cầu của thị trường
1.4 Quyền và nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn.
Quyền và nghĩa vụ của công ty là một bộ phận quan trọng trong hệ thốngpháp lý của công ty, nó thể hiện năng lực pháp lý, năng lực hành vi của công ty
1.4.1 Quyền của công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên.
Theo quy định tại Điều 8 Luật doanh nghiệp 2005, công ty có từ hai thành viên trở lên có các quyền sau:
Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp
Chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư (kể cảliên doanh, góp vốn vào doanh nghiệp khác, chủ động mở rộng quy mô, ngànhnghề kinh doanh)
Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký hợp đồng
Lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn
Kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu
Trang 33Tuyển, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh.
Tự chủ kinh doanh, chủ động áp dụng phương thức quản lý khoa học,hiện đại và nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh
Từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được phápluật quy định của bất kỳ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào, trừ các khoản đónggóp vì mục đích nhân đạo và công ích
Các quyền khác do pháp luật quy định
Công ty TNHH hai thành viên cũng như các chủ thể kinh doanh khácmuốn tồn tại và hoạt động thì phải có tài sản và những quyền năng nhất định đốivới tài sản đó Xuất phát từ quyền sở hữu được pháp luật cho phép thực hiệnviệc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình theo ý muốn Quyền sở hữubao giờ cũng gắn liền với chủ thể, do đó, nó là quyền tuyệt đối Công ty cóquyền chiếm hữu đó là việc nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình.Quyền định đoạt của doanh nghiệp là quyền quyết định số phận pháp lý và sốphận thực tế của tài sản trong doanh nghiệp Luật doanh nghiệp 2005 quy địnhviệc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn của các thành viên tại Điều 29 nhưsau:
Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người gópvốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hay quyền sử dụng đất chocông ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phítrước bạ
Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thựchiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản
Biên bản góp nhận phải có nội dung chủ yếu: Tên, địa chỉ, trụ sở giaodịch chính của công ty; tên, địa chỉ người góp vốn, loại tài sản và số đơn vị tàisản góp vốn, tổng giá trị số tài sản góp vốn và tỷ lệ tổng tài sản đó trong vốnđiều lệ của công ty, ngày giao nhận, chữ ký của người góp vốn và người đại diệntheo pháp luật của công ty
Trang 34Đây cũng là điểm khác biệt giữa quyền của công ty TNHH hai thành viêntrở lên đối với tài sản so với nhiều doanh nghiệp khác (như doanh nghiệp nhànước, doanh nghiệp tư nhân).
Trên cơ sở xác định nguyên tắc tự do kinh doanh, việc lựa chọn ngànhnghề và quy mô kinh doanh sao cho phù hợp với pháp luật, khả năng công ty vềtài chính cũng như trình độ chuyên môn, với nhu cầu của thị trường và các điềukiện khách quan khác Việc lựa chọn ngành, nghề đúng đắn quyết định sự thànhcông hay không trong kinh doanh Vì vậy, tuỳ thuộc vào quy luật cung cầu củathị trường, khả năng thực tế của bản thân mà lựa chọn ngành nghề kinh doanh.Quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh phải được thực hiện trong khuônkhổ pháp luật Công ty không được phép kinh doanh một số ngành nghề màpháp luật cấm và một số ngành nghề phải tuân thủ theo các quy định chặt chẽ vềthủ tục và điều kiện
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề mà luật, pháp lệnhhoặc nghị định quy định phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanhcác ngành nghề đủ các điều kiện theo quy định
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề, mà luật, pháp lệnhhoặc nghị định đòi hỏi phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề thìdoanh nghiệp đó chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ vốn hoặc chứng chỉhành nghề theo quy định của pháp luật
Trong quá trình kinh doanh, công ty TNHH hai thành viên trở lên cóquyền thay đổi mục tiêu ngành nghề kinh doanh (Điều 26 Luật doanh nghiệp2005) Quyết định này có tính năng động giúp cho công ty thích ứng nhu cầu thịtrường và tình hình thực tế Trong quá trình hoạt động, công ty có quyền lựachọn địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư, có quyền xác định mô hình kinh doanh.Pháp luật chỉ quy định vốn tối thiểu phải có để thành lập công ty trong một sốngành nghề chứ không hạn chế sự phát triển về vốn
Với tư cách là chủ thể kinh doanh độc lập, công ty được pháp luật quyđịnh cho quyền chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh Trong nền kinh tế thị
Trang 35trường, việc lựa chọn khách hàng để quan hệ làm ăn là vấn đề đặc biệt quantrọng, pháp luật không cấm đoán việc lựa chọn bạn hàng để giao dịch, ký kếthợp đồng Việc giao dịch với ai là phụ thuộc vào ý chí của công ty Công ty cóquyền trực tiếp giao dịch để ký kết hợp đồng theo nguyên tắc tự nguyện, bìnhđẳng và cùng có lợi không phân biệt các thành phần kinh tế, không trái phápluật.
Trong kinh doanh, vốn là yếu tố quan trọng, công ty muốn phát triển và
mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì phải huy động vốn ở nhiều nguồn khácnhau Mỗi loại công ty có cách thức và hình thức huy động vốn khác nhau và cóquyền lựa chọn những hình thức huy động vốn thích hợp với điều kiện cụ thểtheo quy định của pháp luật Công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ huy độngvốn bằng cách kết nạp thêm thành viên mới hoặc tăng phần góp vốn của cácthành viên công ty hay đi vay vốn ở các cơ quan, tổ chức khác
Việc ghi nhận quyền kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu cho các doanhnghiệp là yêu cầu tất yếu trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay,
nó đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của đông đảo các nhà kinh doanh.Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu là đảm bảo pháp lý quan trọng cho các doanhnghiệp cũng như công ty có một sân chơi đủ rộng và bình đẳng để phát triểnhoạt động kinh doanh Theo nội dung của nguyên tắc này, công ty có quyền trựctiếp tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá của mình bằng xuất khẩu cũng như nhập khẩuhàng hoá từ nước ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợpvới chức năng kinh doanh đã được xác nhận trong giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh của công ty Hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của công
ty phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật
Việc tuyển lao động, thuê mướn lao động là quyền của công ty Căn cứvào yêu cầu kinh doanh, công ty có quyền tuyển dụng về số lượng lao động,chất lượng chuyên môn, tay nghề kỹ thuật sẽ do ngành nghề kinh doanh vàquy mô kinh doanh quyết định, Nhà nước không can thiệp vào việc tuyển dụnglao động của công ty
Trang 36Trong phạm vi ngành, nghề đã đăng ký kinh doanh, công ty có quyền tựmình quyết định những vấn đề phát sinh trong hoạt động kinh doanh, có quyềnchủ động các phương thức quản lý khoa học để xây dựng các phương án sản xuấtkinh doanh và tổ chức thực hiện các kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả và khảnăng cạnh tranh Thị trường sẽ là nơi quyết định đúng đắn hiệu quả của kế hoạch.
Theo khoản 9 Điều 8 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty có quyền từchối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quyđịnh của bất kỳ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào trừ những khoản tự nguyệnđóng góp vì mục đích nhân đạo và công ích Công ty có quyền tự mình quyếtđịnh các hoạt động của công ty, không một tổ chức, cá nhân nào có quyền canthiệp vào hoạt động hợp pháp của công ty
Công ty có quyền đặt chi nhánh, văn phòng ở ngoài nơi đặt trụ sở chínhcủa công ty Chi nhánh và văn phòng đại diện của công ty là những bộ phận màcông ty thành lập nhằm mục đích mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và tạođiều kiện trong giao dịch Công ty còn có thể liên doanh, liên kết với các chủ thểkinh doanh khác trên cơ sở bình đẳng và thông qua hợp đồng kinh tế Đây làmột trong những quyền chủ động kinh doanh quan trọng nhằm kết hợp tối đa ưuđiểm, lợi tức của các bên liên doanh để sản xuất có hiệu quả cao Các hình thức
có thể góp vốn đầu tư liên doanh trên cơ sở hợp đồng quy định rõ quyền hạn vànghĩa vụ của các bên, phương án phân chia sản phẩm, lợi nhuận
1.4.2 Các nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
Quyền của các doanh nghiệp bao giờ cũng gắn liền với nghĩa vụ phải thựchiện và tạo thành thẩm quyền của chủ thể kinh doanh nói chung, của công ty nóiriêng Theo quy định của pháp luật, công ty có các nghĩa vụ sau (Điều 9 Luậtdoanh nghiệp 2005)
Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã đăng ký
Lập sổ kế toán, ghi chép sổ kế toán, hoá đơn chứng từ và lập báo cáo tàichính trung thực, chính xác
Trang 37Đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chínhtheo quy định của pháp luật.
Bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn đã đăng ký
Kê khai định kỳ, báo cáo chính xác, đầy đủ các thông tin về doanh nghiệp
và tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh; khipháthiện các thông tin đã kê khai hay báo cáo không chính xác, đầy đủ hoặc giảmạo thì phải kịp thời hiệu đính lại với cơ quan đăng ký kinh doanh
Ưu tiên sử dụng lao động trong nước, bảo đảm quyền lợi, lợi ích củangười lao động theo quy định của pháp luật về lao động; tôn trọng quyền tổ chứccông đoàn theo pháp luật về công đoàn
Tuân thủ quy định pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xãhội, bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lamthắng cảnh
Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Trong nền kinh tế thị trường, việc kinh doanh theo ngành, nghề nào là tuỳthuộc vào sự lựa chọn của công ty Khi đã lựa chọn được ngành, nghề kinhdoanh công ty phải đăng ký kinh doanh Trong quá trình kinh doanh, công ty cónghĩa vụ phải kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký trong giấy phépkinh doanh Nếu công ty muốn thay đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp vớinhu cầu thị trường thì công ty phải làm thủ tục thay đổi ngành, nghề kinh doanhtại cơ quan đăng ký kinh doanh
Pháp luật bắt buộc công ty kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã đăng kýtrong giấy phép kinh doanh là nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội, sự quản
lý của Nhà nước Mọi hoạt động kinh doanh của công ty chỉ được tiến hànhtrong phạm vi ngành nghề đã đăng ký Nếu kinh doanh không đúng ngành nghề
đã đăng ký thì bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và tuỳ theo mức độ vi phạm,công ty có thể bị phạt tiền hoặc bị thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh
Trang 38Kế toán thống kê là công tác rất quan trọng trong quá trình kinh doanh.Qua hoạt động kế toán, thống kê giúp cho công ty hạch toán được chính xác.Nghĩa vụ này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh công ty phải thực hiện ghi chép
sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và lập báo cáo tài chính theo quy định của phápluật, của Nhà nước về kế toán thống kê Việc quy định nghĩa vụ này nhằm mụcđích tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện sựkiểm tra, theo dõi, giám sát sự hoạt động tài chính của mình để phát hiện ranhững sai lầm và có biện pháp xử lý kịp thời Công ty có nghĩa vụ cung cấp cáctài liệu liên quan đến việc thanh tra và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra,kiểm toán
Đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế cho Nhà nước là nghĩa vụ của công
ty Thuế là công cụ của Nhà nước nhằm thu ngân sách quốc gia, điều hoàn cáclợi ích xã hội, công ty kinh doanh bất cứ ngành, nghề gì, quy mô lớn hay nhỏđều phải có nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của pháp luật Tránh tình trạng cơquan nhà nước ở trung ương và địa phương lạm dụng quyền, cản trở hoạt độngcủa công ty Đồng thời nghĩa vụ này được kèm theo với quy định quyền hạn của
cơ quan nhà nước về một chính sách thuế hợp lý, vi phạm nghĩa vụ nộp thuế là
vi phạm pháp luật, công ty phải chịu những hậu quả nhất định
Ngoài nghĩa vụ nộp thuế, đăng ký thuế, kê khai thuế là nghĩa vụ quantrọng nhất, công ty còn phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy địnhcủa pháp luật như đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở văn hóa, y tế, giáodục tại địa phương nơi công ty đóng trụ sở
Bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn đã đăng ký là một trongnhững nghĩa vụ của công ty đối với xã hội, đối với người tiêu dùng, đảm bảochất lượng hàng hoá là một trong những điều kiện quan trọng giúp cho cácdoanh nghiệp có thể đứng vững trong thương trường cạnh tranh khốc liệt Nhànước quy định việc đảm bảo chất lượng hàng hoá là nghĩa vụ của các doanhnghiệp nói chung và công ty nói riêng Quy định này nhằm mục đích bảo vệngười tiêu dùng đồng thời bảo hộ hàng hoá, sản phẩm của người sản xuất Vì
Trang 39vậy, sản phẩm của công ty được sản xuất ra phải đăng ký chất lượng tại cơ quannhà nước có thẩm quyền Công ty phải đảm bảo sản xuất lưu thông hàng hoá vớichất lượng đã đăng ký Nếu sản phẩm công ty làm ra không đảm bảo chất lượngtheo tiêu chuẩn đã đăng ký thì người tiêu dùng có quyền từ chối nhận hoặc bị cơquan nhà nước có thẩm quyền xét xử tuỳ theo mức độ vi phạm Công ty phảichịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước và người tiêu dùng.
Công ty có nghĩa vụ kê khai và định kỳ báo cáo, chính xác, đầy đủ cácthông tin về doanh nghiệp và tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quanđăng ký kinh doanh Qua đó Nhà nước thực hiện sự kiểm tra, đánh giá, theo dõi,giám sát theo đúng định kỳ hoặc bất thường của các cơ quan tài chính, công ty
có nghĩa vụ hợp tác kiểm tra, cung cấp các số liệu thống kê kịp thời, đầy đủ Khiphát hiện các thông tin đã kê khai hoặc báo cáo là không chính xác, không đầy
đủ hoặc giả mạo thì phải kịp thời hiệu đính lại các thông tin, báo cáo đó với cơquan đăng ký kinh doanh
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, tuyển dụng và thuê mướn lao động làquyền của công ty Trong quá trình sử dụng lao động, công ty phải có nghĩa vụđảm bảo quyền lợi của người lao động đã được pháp luật lao động quy định.Việc tuyển dụng, thuê mướn lao động trong công ty chủ yếu được thực hiệnthông qua hình thức hợp đồng lao động Công ty phải đảm bảo các điều kiện laođộng, tiền lương cho người lao động Khi tuyển dụng lao động phải ưu tiên laođộng trong nước, điều đó thể hiện ở chỗ nếu như công việc mà trình độ củangười lao động trong nước đảm nhiệm được thì công ty phải ưu tiên tuyển dụng,trường hợp công việc cần trình độ chuyên môn mà lao động trong nước khôngđáp ứng được thì mới được tuyển chọn lao động nước ngoài
Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lamthắng cảnh là nghĩa vụ của mọi công dân và tổ chức Công ty là những nơi sảnxuất kinh doanh có thể gây ô nhiễm môi trường, vì vậy, trong quá trình hoạtđộng công ty phải có những biện pháp để bảo vệ tài nguyên, môi trường xử lý