1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong truyện kiều

101 545 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 516,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài của chúng tôi đi sâu vào nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều với mong muốn khám phá những nét đẹp của Truyện Kiều cũng nh để khẳng định thêm những đóng góp của thi h

Trang 1

Bộ Giáo dục và đào tạo

Đại học Vinh -*** -

Hoa Quỳnh giang

lời nói đầu

Bộ Giáo dục và đào tạo

Trang 2

Cho đến nay, Truyện Kiều đã trở nên vô cùng quen thuộc với tất cả bạn

đọc qua nhiều thế hệ Nhng mỗi khi giở lại những trang Kiều, chúng ta vẫn không khỏi ngạc nhiên trớc sức hấp dẫn của tác phẩm vĩ đại này

Vẻ đẹp của Truyện Kiều đợc thể hiện trên nhiều phơng diện khác nhau

và vẫn luôn ẩn chứa những giá trị lớn, tiềm tàng Một trong những vẻ đẹp đó

là ngôn ngữ Truyện Kiều Đề tài của chúng tôi đi sâu vào nhóm từ chỉ bộ

phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều với mong muốn khám phá những nét

đẹp của Truyện Kiều cũng nh để khẳng định thêm những đóng góp của thi hào

Nguyễn Du trong quá trình hiện đại hoá ngôn ngữ dân tộc

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của TS Trần Văn Minh, ngời trực tiếp hớng dẫn đề tài, GS Đỗ Thị Kim Liên, các thầy cô giáo trờng đại học Vinh, gia đình, ngời thân và bạn bè đồng nghiệp đã giúp chúng tôi hoàn thành bản luận văn này

Dù đã hết sức cố gắng nhng luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong quý thầy cô và các bạn lợng thứ

Vinh, ngày 16 tháng 12 năm 2006

Tác giả

Mục lục Trang I lý do chọn đề tài 1

II mục đích nhiệm vụ và đối tợng 2

III lịch sử vấn đề 3

IV phơng pháp nghiên cứu 7

V Đóng góp của đề tài 8

VI Cấu trúc của luận văn 8

Chơng 1 - một số giới thuyết chung 9

1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chơng của Nguyễn Du 9

Trang 3

1.1.1 Về cuộc đời và con ngời Nguyễn Du 9

1.1.2 Sự nghiệp văn chơng 11

1.2 Các khái niệm từ vựng - ngữ nghĩa học liên quan đến đề tài 21

1.2.1 Trờng nghĩa 21

1.2.2 Từ nhiều nghĩa 22

1.2.3 Các loại nghĩa của từ 24

1.2.4 Phơng thức chuyển nghĩa 27

1.2.5 Các lớp từ tiếng Việt 29

Chơng 2 - diện mạo nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều 32

2.1 Về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể 32

2.1.1 Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong vốn từ cơ bản 32

2.1.2 cấu trúc ngữ nghĩa của trờng tên gọi bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt 33

2.2 Hoạt động của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều 37

2.2.1 Thống kê và phân loại từ chỉ bộ phận cơ thể trong Truyện Kiều 38

2.2.2 Tần số xuất hiện của từ chỉ bộ phận cơ thể trong Truyện Kiều 40

2.2.3 Nhận xét chung 43

Chơng 3 - ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều 45

3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều 45

3.1.1.Thống kê và phân loại số lợng nghĩa của từ chỉ bộ phận cơ thể trong Truyện Kiều 45

3.1.2 Tần số xuất hiện nghĩa của từ chỉ bộ phận cơ thể trong Truyện Kiều 51

3.1.3 Nhận xét chung 53

3.2 Phong cách ngôn ngữ và những đóng góp của Nguyễn Du vào sự giàu đẹp của vốn từ tiếng Việt 56

3.2.1 Phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Du qua cách dùng nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời 56 3.2.2 Những đóng góp của Nguyễn Du với việc phát triển

Trang 4

và làm giàu đẹp vốn từ tiếng Việt 59

kết luận 85

tài liệu tham khảo 87

phụ lục 89

Mở đầu

I Lí DO CHọN Đề TàI

1 Nh ta đã biết, mỗi loại hình nghệ thuật đều có một loại phơng tiện biểu hiện riêng, chẳng hạn hội hoạ dùng màu sắc và ánh sáng, điêu khắc dùng hình khối, âm nhạc dùng thanh âm và giai điệu Với văn học, ngôn ngữ là chất liệu, là phơng tiện mang tính đặc thù “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn chơng” (M Gorky) Mặt khác, văn học và ngôn ngữ tuy là hai loại hiện tợng

khác nhau nhng giữa chúng lại có những mối quan hệ gắn bó không tách rời nhau Những mối quan hệ này diễn ra theo cả hai chiều: ngôn ngữ là phơng tiện, làm công cụ cho văn học, ngợc lại văn học cũng tác động trở lại đối với ngôn ngữ, phát huy tiềm năng, tinh hoa sáng tạo ngôn ngữ và làm giàu có thêm cho ngôn ngữ Vì vậy, khảo sát mối quan hệ giữa chất liệu ngôn ngữ với nội dung tác phẩm văn chơng là việc luôn cần thiết Biểu hiện của quan hệ này trong Truyện Kiều ngày càng cần đợc khảo sát chi tiết hơn, vì đây là một tác

phẩm lớn của văn học cổ điển Việt Nam, đã đợc nghiên cứu nhiều

2 Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều là mảng đề tài

cha đợc khảo sát Chúng tôi cho rằng kết quả nghiên cứu về lớp từ này sẽ gợi

mở nhiều điều thú vị và ý nghĩa, cho thấy rõ những đóng góp của Nguyễn Du trong việc phát triển vốn từ tiếng Việt cũng nh trong việc làm đẹp thêm vốn từ Bên cạnh đó, thực tế dạy - học tác phẩm Truyện Kiều ở trờng phổ

thông còn cần những t liệu cụ thể về ngôn ngữ Truyện Kiều, nhất là ở mặt ngữ

nghĩa của từ Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho việc dạy và học tác phẩm Truyện Kiều đợc tốt hơn.

Trang 5

II mục đích, nhiệm vụ và đối tợng

1 Mục đích

Đề tài “Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều” của luận

văn này hớng tới những mục đích sau:

1.1 Trớc hết, đề tài góp phần tìm hiểu sâu thêm Truyện Kiều và đóng

góp của tác giả Nguyễn Du về phơng diện ngôn ngữ qua việc khảo sát nhóm

2 Nhiệm vụ

Từ những mục đích trên, đề tài đặt ra hai nhiệm vụ cơ bản sau:

2.1 Khảo sát nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể trong Truyện Kiều, cụ thể là

tiến hành thống kê, phân loại dựa trên các mặt:

+ Số lợng và tỷ lệ nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều (so với nhóm từ này trong tiếng Việt).

+ Số lợng từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều xét về nguồn

Trang 6

2.2 Tìm hiểu, phân tích, miêu tả các sắc thái nghĩa, cách sử dụng củaNguyễn Du đối với nhóm từ này trong Truyện Kiều Tiếp tục đi sâu phân tích

một số từ chỉ bộ phận cơ thể ngời tiêu biểu trong Truyện Kiều, thể hiện giá trị

nghệ thuật, tài năng và sự sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du Qua đó, khẳng

định vai trò của thi hào trong việc góp phần hiện đại hoá ngôn ngữ dân tộc,làm cho tiếng Việt thêm phong phú và đa dạng

3 Đối tợng khảo sát

Xuất phát từ những mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ nêu trên, đối tợngkhảo sát, nghiên cứu của luận văn chính là toàn bộ nhóm từ chỉ bộ phận cơ thểngời trong Truyện Kiều (Bản do Đào Duy Anh khảo đính - Nhà xuất bản Văn

hoá thông tin - Hà Nội - 2000)

III Lịch sử vấn đề

1 Tình hình nghiên cứu Truyện Kiều nói chung

Truyện Kiều là một tác phẩm văn học có vai trò và vị trí vô cùng quan

trọng trong nền văn học nớc nhà cũng nh đối với lịch sử phát triển ngôn ngữdân tộc Đúng nh khẳng định của tác giả Trần Đình Sử “Chúng ta may mắn có

đợc Truyện Kiều, nhờ đó mà văn hoá Việt Nam thêm rạng rỡ, vẻ đẹp của tiếng Việt đợc tôn xng, tài năng của ngời Việt đợc khẳng định Giá trị của Truyện Kiều trớc hết là một giá trị sáng tạo văn hoá, văn chơng tuyệt đỉnh” [17, 5].

Bởi vậy, cho đến nay đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về

Truyện Kiều trên đủ mọi mức độ rộng - hẹp, lớn - nhỏ khác nhau Trong đó có

nhiều công trình lớn, nghiên cứu công phu và đã đánh giá đúng đợc tầm cỡcủa tác phẩm

Đầu tiên chúng ta không thể không nhắc đến một công trình đã để lạidấu ấn sâu đậm trong lòng ngời đọc cũng nh trong giới nghiên cứu, đó là cuốn

Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” của GS Phan Ngọc

(công trình đợc viết xong năm 1965, năm 1985 mới xuất bản, năm 2003 đã

đ-ợc tái bản có bổ sung - Nxb Thanh niên) Đây là một công trình xuất sắc đãkhái quát đợc toàn bộ phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, cho thấy

những cống hiến nghệ thuật của riêng thi hào Nguyễn Du (trớc đó cha ai làm

đợc và sau này cũng khó có ai làm đợc) ở cuối công trình, tác giả viết: “Tôi

cố gắng xét vấn đề ở mặt phổ quát Tôi nghiên cứu Truyện Kiều không phải vì Truyện Kiều, mà có thể nói, mợn Truyện Kiều để nhìn văn học Việt Nam và thế giới, trả lời những câu hỏi mang tính phổ quát: là một tác phẩm văn học bất tử phải đạt đợc những gì,…” [13, 404].

Trang 7

Cũng nghiên cứu về phong cách Nguyễn Du, chuyên luận “Thi pháp Truyện Kiều” của tác giả Trần Đình Sử (Nxb Giáo dục - 2002) đã đi vào tìm

hiểu, nghiên cứu nhiều phơng diện khác nhau của Truyện Kiều nh con ngời,

không gian, thời gian, hình tợng tác giả, độc thoại nội tâm, cấu trúc tự sự,ngôn ngữ, màu sắc,…cung cấp một cái nhìn khá đầy đủ về Truyện Kiều, nhất

là mặt nghệ thuật

Trong vô số những công trình nghiên cứu về Truyện Kiều, có những

công trình đã tập hợp đợc nhiều bài viết tiêu biểu, nhiều đánh giá khác nhaucủa nhiều tác giả thuộc các thế hệ công chúng, các nhà nghiên cứu phê bìnhtrong và ngoài nớc Chẳng hạn cuốn “Nguyễn Du - Về tác gia và tác phẩm”

[6], hoặc nh cuốn “Truyện Kiều - Những lời bình” [8] Trong đó có những bài

viết, những công trình nghiên cứu đáng chú ý: “Nghệ thuật điển hình hoá và ngôn ngữ trong Truyện Kiều” của tác giả Nguyễn Lộc, “Đặc sắc của văn học

cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều” của tác giả Đặng Thai Mai,…

Hầu hết các tác giả đều cho rằng Nguyễn Du là bậc thầy của ngôn ngữ dântộc, là tập đại thành về ngôn ngữ của thời đại ông, là ngời đã nâng ngôn ngữvăn học dân tộc của thời đại lên một đỉnh cao chói lọi “Công đóng góp của Nguyễn Du về phơng diện ngôn ngữ là có một không hai trong lịch sử”

(Nguyễn Lộc)

Một công trình nữa không thể không nói tới khi tìm hiểu Truyện Kiều

chính là cuốn “Từ điển Truyện Kiều” của tác giả Đào Duy Anh (đợc xuất bản

lần đầu tiên vào năm 1974 - Nxb Giáo dục, đến nay đã đợc tái bản nhiều lần)

Đây là cuốn từ điển đầu tiên ở Việt Nam dành cho một tác phẩm của một tácgiả cụ thể Trong cuốn từ điển, tác giả đã dày công thống kê và giải thích tấtcả những từ ngữ đợc Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều cùng với số lần

mà nó xuất hiện, số nghĩa đã đợc sử dụng Và tác giả đã sắp xếp theo thứ tự 1,

2, 3 Sau mỗi từ đó còn có những từ ghép, thành ngữ, từ tổ,… hệ thuộc Cuốn

từ điển tuy mới chỉ dừng lại ở việc giải thích một cách ngắn gọn và khái quátnghĩa của từ song đây là một công cụ đắc lực giúp chúng ta đi sâu tìm hiểu,nghiên cứu ngôn ngữ Truyện Kiều một cách cụ thể ở từng lớp từ, nhóm từ và

thấy rõ đợc những yếu tố mà Nguyễn Du đã sáng tạo để làm giàu cho ngônngữ dân tộc

2 Tình hình nghiên cứu về các lớp từ hoặc nhóm từ trong Truyện Kiều

Trang 8

Về ngôn ngữ Truyện Kiều, từ lâu đã có nhiều tác giả chú tâm nghiên

cứu với nhiều công trình xuất sắc, có giá trị lớn, nhng riêng về các lớp từ,nhóm từ trong Truyện Kiều thì cha nhiều.

Một số trờng từ vựng trong Truyện Kiều đã đợc nghiên cứu nh: trờng

từ ngữ chỉ thiên nhiên, trờng từ ngữ chỉ đặc điểm tâm lý con ngời,…Trong sốcác bài viết đó, đáng chú ý nhất là bài viết của tác giả Hoàng Văn Hành “Từ nhiều nghĩa trong Truyện Kiều - một biểu hiện phong phú về vốn từ vựng của Nguyễn Du” (in trên Tạp chí Văn học - 1966, số1, tr.76) đã đề cập đến khả

năng vận dụng linh hoạt lớp từ đa nghĩa của Nguyễn Du trong tác phẩm

Truyện Kiều, khẳng định sự phong phú về vốn từ vựng cũng nh khả năng lựa

chọn tài tình của Nguyễn Du

Ngoài ra, theo hớng này còn có một số luận văn Thạc sĩ Ngữ văn đãbảo vệ tại trờng Đại học Vinh, nh: “Từ đa nghĩa trong Truyện Kiều”- (Phan

Hữu Quyền - 1998), “Các đơn vị trái nghĩa trong Truyện Kiều” (Lê Thị Thoa

-1999), “Vốn từ đồng nghĩa trong Truyện Kiều” (Hoàng Thị Hinh - 1999), “Từ loại phụ từ trong Truyện Kiều” (Nguyễn Văn Dũng - 2004), …

3 Tình hình khảo sát về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể trong vốn từ tiếng

Việt

Đến nay, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt đã cónhững tác giả đề cập đến, nh: bài viết của Bùi Khắc Việt “Về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt” (in trong “Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phơng Đông”, H, Viện ngôn ngữ học, 1986, tr.10-13), “Cơ chế chuyển nghĩa theo phơng thức ẩn dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt” của Phan Thị Hồng Xuân (đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 5 –

1999) Trong bài viết của mình, Phan Thị Hồng Xuân đã vận dụng quan điểm

về từ cơ sở để lựa chọn một số từ tiêu biểu cho trờng từ vựng đang xét và tìm

ra cơ chế chuyển nghĩa của từng từ, từ đó rút ra kết luận về cơ chế chuyểnnghĩa theo phơng thức ẩn dụ của cả trờng Tác giả đã chỉ ra rằng rất nhiều từchỉ bộ phận cơ thể ngời đợc dùng để gọi tên các sự vật hiện tợng trong thế giớixung quanh con ngời

Đặc biệt là các bài viết của tác giả Nguyễn Đức Tồn: “Đặc điểm phạm trù hoá trong bức tranh dân tộc về thế giới của tiếng Việt và tiếng Nga qua từ chỉ bộ phận cơ thể ngời” (BCKH - Viện ngôn ngữ học, H, 1993, tr.10), “Tên gọi bộ phận cơ thể trong tiếng Việt với việc biểu trng tâm lý tình cảm” (Tạp

chí Văn hoá dân gian, số 3, 1994, tr.60-65), “Ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ

Trang 9

thể ngời trong tiếng Việt và tiếng Nga” (lần đầu in trên Tạp chí Ngôn ngữ, số

4 - 1989 sau này thành một phần trong cuốn “Tìm hiểu đặc trng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và t duy ở ngời Việt trong sự so sánh với những dân tộc khác”- Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội - 2002) Trên cơ sở phân tích nghĩa vị,

tác giả đã cho thấy cấu trúc ngữ nghĩa, đặc điểm chuyển nghĩa và khái quátnên những nhận định quan trọng về giá trị ngữ nghĩa của các từ chỉ bộ phận cơthể ngời cũng nh giá trị biểu trng tâm lý, tình cảm - dùng bộ phận cơ thể đểbiểu trng cho thế giới nội tâm con ngời

Còn về nhóm từ này trong Truyện Kiều, cho đến nay vẫn là một đề tài

cha ai nghiên cứu Do đó, luận văn này của chúng tôi đã đi vào tìm hiểu

Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều

IV phơng pháp nghiên cứu

nguồn gốc (Hán - Việt, Thuần Việt), về nghĩa (nghĩa đen, nghĩa từ vựng cố

định, nghĩa chuyển, nghĩa văn chơng),…

Tiếp theo là thống kê, phân loại số lợng nghĩa, tần số xuất hiện củatừng từ và nghĩa của chúng

một số từ chỉ bộ phận cơ thể ngời tiêu biểu đợc Nguyễn Du sử dụng trong

Truyện Kiều ) để thấy đợc tài năng cũng nh những đóng góp của thi hào

Nguyễn Du đối với sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, của tiếng Việt

Trang 10

4 Quy nạp - tổng hợp

Cuối cùng từ những kết quả phân tích trên cùng số liệu thu thập đợctiến hành nhận xét, đánh giá, tổng hợp và kết luận Thông qua đó có đợc cáinhìn bao quát hơn, trọn vẹn hơn về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời nói riêng

và ngôn ngữ - tác phẩm Truyện Kiều nói chung

V đóng góp của đề tài

1 Đề tài góp phần tìm hiểu sâu một nhóm từ Nguyễn Du đã sử dụngtrong Truyện Kiều, mà cụ thể ở đây là nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời, nhất

là về nghĩa của từ (dùng với nghĩa bóng, nghĩa riêng, nghĩa mới)

2 Từ đó thấy đợc công lao của Nguyễn Du trong việc phát triển vốn từtiếng Việt: không những ông làm giàu đẹp vốn từ mà còn là ngời đặt nềnmóng cho ngôn ngữ văn học Việt Nam hiện đại

VI Cấu trúc của luận văn

Ngoài danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục (danh sách các từ chỉ bộphận cơ thể trong Truyện Kiều), luận văn gồm ba phần:

1 Mở đầu

2 Nội dung: Bao gồm 3 chơng

- Chơng 1: Một số giới thuyết chung

- Chơng 2: Diện mạo nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều

- Chơng 3: Ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong

Truyện Kiều

3 Kết luận

Chơng I một số giới thuyết chung

1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chơng của Nguyễn Du

1.1.1 Về cuộc đời và con ngời Nguyễn Du

Nguyễn Du sinh năm 1765, (thời Cảnh Hng năm thứ 28) trong một gia đìnhquan lại phong kiến bậc cao ở Thăng Long Thân sinh Nguyễn Du là NguyễnNghiễm - ngời làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Mẹ củaNguyễn Du là Trần Thị Thấn - con gái thứ ba quan Câu kê họ Trần, ngời làngHoa Thiều, huyện Đông Ngạn, xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh)

Trang 11

Nguyễn Du thuộc họ lớn nhất ở huyện Nghi Xuân và danh vọng nhất ở

đời Lê Mạt Hơn thế, gia đình Nguyễn Du còn là một nhà có nhiều ngời cùnglàm quan ở Triều Lê

Nguyễn Du ngay từ khi còn nhỏ đã thiên t thông minh, lại ham xemsách nên sách Nho, sách Phật, Lão lẫn Binh th đều biết đến Nguyễn Du bắt

đầu học từ năm 6 tuổi Đến năm ông 11 tuổi thì nhà có biến lớn Năm 1776,Nguyễn Nghiễm cùng Hoàng Ngũ Phúc đem quân đánh chúa Nguyễn, nửachừng bị bệnh trở về rồi mất Năm 1778, mẹ Nguyễn Du cũng nối tiếp qua

đời Các anh Nguyễn Du làm quan cũng mấy năm thăng giáng bất thờng Cóthể nói, cùng với sự sụp đổ của chế độ Lê - Trịnh, gia đình họ Nguyễn cũngdần dần suy sụp Nguyễn Du đã từng trải qua những biến cố lớn lao của thời

đại và của gia đình mình

Năm 1784, Nguyễn Du đỗ Tam trờng thi Hơng Vốn là ngời học rộng,nhớ nhiều, Nho, Phật, Đạo đều thông hiểu, uyên thâm nhng vì không đỗ đạtcao, ông chỉ tập ấm ngời bố nuôi họ Hà mà giữ chức chính thủ hiệu đội quânHùng hậu hiệu tỉnh Bắc Thái, sau khi ông này qua đời Khi vua Chiêu Thốngchạy sang Tàu, nghe tin ông định theo ngự giá nhng không kịp, bèn về quê vợ

ở làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình) Ôngcùng với anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn mu phục nhà Lê song thất bại, phải lulạc lâu năm ở đất Bắc

Thấy sức mình mong manh không làm nổi việc phục quốc, ông toankiếm đờng vào Gia Định giúp chúa Nguyễn ánh nhng việc bị lộ, Nguyễn Du

bị bắt Ông bị giam ở Nghệ Tĩnh ba tháng rồi đợc tha Từ đó ông về quê sốngcuộc đời ẩn dật tự xng là “phờng săn núi Hồng, dân chài bể Nam” (Hồng sơn liệp hộ, Nam hải điếu đồ), sống một cuộc sống đầy thiếu thốn và gian khổ.

Trong lòng ông luôn mang một tâm trạng buồn rầu, buồn vì cảnh thân khôngnhà, ốm không thuốc, rét không áo, gia đình thì ly tán, chí hớng thì không đạt,văn võ đều không có chỗ dùng và đặc biệt là buồn trớc cảnh diệt vong của Lê

- Trịnh Tuy nhiên, đây cũng là những năm tháng Nguyễn Du gần gũi và thấmthía về cuộc sống của nhân dân mình Sự gần gũi ấy đã giúp Nguyễn Du có đ-

ợc sự hiểu biết sâu sắc, có cái nhìn đúng đắn về lòng ngời và cuộc đời

Khi nhà Lê mất, nhà Nguyễn lên, tuy Nguyễn Du không phải không

có những nỗi niềm nhớ cổ thơng kim nhng ông không hoàn toàn rút lui khỏicuộc đời Ông vẫn có những lo âu, trăn trở với đời, với ngời Vì vậy, sau nhữngnăm ở Tiên Điền Nguyễn Du trở lại làm quan dới triều Nguyễn Tháng 8 năm

Trang 12

đầu hiệu Gia Long (1802), ông đợc bổ tri huyện Phù Dung (Hà Nam Ninh nay là Nam Định) Tháng 11 năm 1802, ông đợc thăng làm tri phủ Thờng Tín.Năm 1805 lại đợc thăng hàm Đông các đại học sĩ Năm 1809, làm cai bạQuảng Bình Năm 1813, đợc cử đi tuế cống nhà Thanh, lúc về đợc thăng Thamtri bộ lễ.

Năm đầu Minh Mệnh, vua Thánh Tổ mới lên ngôi, Nguyễn Du lại đợc

đặc phái làm chánh sứ sang Trung Quốc cầu phong nhng cha kịp đi thì cảmbệnh Ông mất tại kinh ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn, tức ngày 16 tháng

9 năm 1820 dơng lịch, hởng thọ 56 tuổi

Con ngời Nguyễn Du là sự kế thừa tinh hoa của quê cha đất mẹ, của dòng

họ và gia đình Dòng họ Nguyễn Du là dòng họ nổi tiếng về khoa hoạn Cadao còn có câu: “Bao giờ Ngàn Hống hết cây, sông Rum hết nớc họ này hết quan” là để ca ngợi vậy Đây là dòng họ có nền nếp gia phong, chữ nghĩa

và cũng là một gia thế đợc đời trọng vọng về lòng trung nghĩa Mặt khác,quê cha Hà Tĩnh là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, nơi có non sông hùng vĩnhng vô cùng khắc khổ, nơi đã sinh ra bao thế hệ anh tài Đất mẹ Kinh Bắc

là xứ xa nay nổi tiếng tao nhã, phong lu nhất ở Bắc Kỳ với những hội Lim,với những câu quan họ ngọt ngào, đằm thắm Nhờ ảnh hởng của mẹ mà

ông có đợc tính nhã nhặn, phong lu và đa tình của ngời Kinh Bắc Nhờ ảnhhởng của cha mà ông thừa kế hào khí của đất Hồng Lam, hùng tâm của ng-

ời Nghệ Tĩnh, cùng lòng tiết nghĩa, khiếu văn chơng do gia phong truyềnlại trải bao nhiêu đời.Trong thiên tài Nguyễn Du, ta còn nhận thấy dấu vết

đài các phong lu của hoàn cảnh quí phái giữa Kinh đô là nơi Nguyễn Dusinh trởng suốt buổi thiếu thời

Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình quí tộc, là con cháu các quan

đầu triều nhng cuộc đời của ông lại rất lận đận: suốt mời mấy năm ròngkhi lu lạc đất Bắc, khi gửi thân chốn quê nhà, giữa chốn quan trờng thìkhông sao sống đợc với lũ ngời ô hợp, luôn tranh giành o ép lại mang trongmình nỗi hoài Lê, nỗi băn khoăn về sự trung trinh của mình Nhng đối vớidân, ông đợc tiếng là “chính sự giản dị, sĩ dân yêu mến”

Ông là ngời có năng khiếu, tài hoa, là một tâm hồn phong phú, đa dạng vàcũng rất phong tình Ông là ngời có cái nhìn sắc cạnh đối với hiện thựccuộc đời, có cái thông cảm tinh nhanh và sâu xa đối với những con ngời bị

áp bức, lầm than (nhất là những kẻ hèn yếu trong xã hội là em bé và phụ

Trang 13

nữ), về nỗi thống khổ cũng nh niềm mơ ớc cao nhất của họ Đồng thời, ôngcòn là một ngời hiểu biết tinh tờng về vốn văn nghệ dân gian, về ngôn ngữcủa nhân dân Điều này đợc thể hiện sâu sắc trong toàn bộ hệ thống tácphẩm của Nguyễn Du và nhất là trong tác phẩm lớn nhất của ông: Đoạn tr- ờng tân thanh (Truyện Kiều)

đời Đó không chỉ là những áng văn chơng tuyệt đỉnh mà trớc hết là tấmlòng, là trái tim lớn khát khao, mơ ớc về một cuộc sống công bằng, tự do,hạnh phúc cho nhân dân, đặc biệt là cho trẻ em và phụ nữ dới chế độ phongkiến

Hiện nay, việc su tầm tác phẩm của Nguyễn Du còn có những hạnchế nhất định Song dựa trên những thi liệu đã su tập đợc, ta có thể thấy rõsáng tác của Nguyễn Du gồm hai phần:

Các sáng tác bằng chữ Hán: (khoảng 130 bài thơ) có các tập:

Thanh Hiên tiền hậu tập ”, “Bắc hành tạp lục”, “Nam trung tạp ngâm”.

(Theo Đào Duy Anh số bài tìm đợc “chỉ mới có độ chừng hơn phần nửa số trong toàn thể thi phẩm của Nguyễn Du”) Tuy vậy, các bài thơ hiện có

cũng đã thể hiện một cách đầy đủ nỗi niềm của nhà thơ, đó là tâm lý bi

th-ơng, u uất của một kẻ cô thần tuyệt vọng, một kẻ hào kiệt cùng đồ

Các sáng tác bằng Quốc âm: Chúng ta từng biết đến “Văn tế thập loại chúng sinh” (thờng gọi là “Văn chiêu hồn”) - một bài văn chứa chan

tấm lòng trắc ẩn, nỗi thơng cảm của Nguyễn Du đối với con ngời nhng lại

đợc ông thể hiện bằng một giọng điệu nghiêm nghị, “Thác lời trai phờng nón” vừa có vẻ chơi đùa vừa rất tơi tắn, nhẹ nhàng; hay “Tế sống hai cô gái Trờng Lu” đầy xúc động Nhng tác phẩm lớn nhất, vĩ đại nhất trong sự

nghiệp văn chơng của Nguyễn Du phải kể đến “Đoạn trờng tân thanh”

-còn quen gọi là “Truyện Kiều”.

Trang 14

Đoạn trờng tân thanh” hay “Truyện Kiều” đợc xem là một tác

phẩm có tầm nhân loại Tác phẩm hiện đã đợc dịch ra nhiều thứ tiếng trênthế giới và rất đợc yêu thích

Vốn là một con ngời tài hoa, đa cảm lại mang trong mình nhữngmối sầu uất, nỗi cô đơn bất đắc chí nên khi đọc đợc cuốn tiểu thuyết “Kim

- Vân - Kiều truyện” của Thanh Tâm tài nhân bên Trung Quốc (thuật lại

cuộc đời lu lạc của một cô gái tài sắc mà bạc mệnh), Nguyễn Du dờng nhbắt gặp cuộc đời của mình, số phận của mình ở đó Và từ sự đồng cảm,Nguyễn Du đã viết lại thành Truyện Kiều Tuy nhiên, “Đoạn trờng tân thanh” của Nguyễn Du không phải là một quyển sách dịch đúng nguyên

văn mà đã đợc Nguyễn Du “hoán cốt đoạt thai” từ “Kim - Vân - Kiều truyện ” để tạo nên một tác phẩm hoàn toàn mới, một tác phẩm đầy tính

sáng tạo độc đáo

Truyện Kiều là một câu chuyện tình yêu, kể về cuộc đời của một cô gái

trong suốt mời lăm năm lu lạc với “thanh lâu hai lợt, thanh y hai lần” đầy tủinhục, cơ cực Nhng mời lăm năm ấy cũng là mời lăm năm chứng minh cho vẻ

đẹp phẩm chất, sức vơn lên mạnh mẽ của một con ngời tài hoa Có thể nóiNguyễn Du dờng nh sáng tác nên tác phẩm bằng nỗi đau của chính mình khichứng kiến hiện thực cuộc sống với “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” Những điều trông thấy trong cuộc đời, trong thời đại ấy đã đợc biểu

hiện một cách sâu sắc trong Truyện Kiều để làm nên giá trị rất cao cho tác

phẩm Đồng thời hiện thực ấy cũng đợc thể hiện trong tác phẩm bằng mộtnghệ thuật cao siêu Điều đặc biệt của Truyện Kiều là ở chỗ: đây là một tácphẩm truyện thơ vừa có tính tự sự vừa có tính trữ tình

a Chủ đề và t tởng:

Có thể xem t tởng là một hình tợng trong tác phẩm Nó đợc thể hiệnqua các quan niệm của tác giả

Quan niệm đầu tiên của tác giả ở Truyện Kiều là quan niệm về Tài

-Sắc và Mệnh Phan Ngọc từng nhận xét “Câu chuyện tài mệnh tơng đố đặt ra

ở thời Nguyễn Du với ba đặc điểm là phổ biến, lộ liễu và gay gắt nhng không

ở đâu câu chuyện này lại phổ biến, lộ liễu và gay gắt bằng Truyện Kiều Đã thế, trên cái phong cách chung này của thời đại, ông còn biết áp dụng những thao tác kỹ thuật rất công phu mà ta cần phải tiếp thu và học tập để biến câu chuyện nhất thời thành câu chuyện muôn đời Và cống hiến về mặt phong

Trang 15

cách chính là đây” [13, 76] “Tài - Sắc” là hai trong những phẩm chất cao nhất

của con ngời Còn “Mệnh” là số phận con ngời đợc quyết định bởi khách quan(thiên mệnh) Nguyễn Du đa vào tác phẩm với quan niệm “Tài mệnh tơng đố”.Ngay từ những câu mở đầu nhà thơ đã viết:

Trăm năm trong cõi ngời ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

hay “Hồng nhan bạc phận”, “Tài sắc bạc mệnh”, hễ có nhan sắc thì mệnhmỏng Và quả thật cuộc đời Kiều là cuộc đời tài hoa, cuộc đời bạc mệnh Vấn đề thứ hai đợc đề cập đến trong tác phẩm là Thân và Kiếp Đây làmột điều rất lớn trong t tởng của Nguyễn Du Phải nói rằng Nguyễn Du là mộtngời nghệ sĩ lớn chính ở tấm lòng nhân ái, yêu thơng con ngời Nhà thơ yêuthơng con ngời một cách rất cụ thể Chúng ta thấy trong Truyện Kiều tác giả

đã nói nhiều về thể xác nàng Kiều sau đó mới nói đến mối quan hệ giữa thân

và kiếp (cũng là mệnh): “Chờ cho hết kiếp còn gì là thân”.Tuy nhiên kiếp lớn

hơn thân Thân bị đầy đọa là do kiếp (mệnh trời) Không cỡng lại đợc vớimệnh trời, chứng kiến nỗi đau của Thuý Kiều, nhà thơ dờng nh không kìm nổinớc mắt mà thốt lên : “Lẽ nào hồng rụng thắm rời chẳng đau” Ngay lời lẽ ấy

đã hàm chứa một sự trân trọng, một sự nâng niu và yêu thơng đối với Kiều.Trớc Nguyễn Du, cha có một ngời nào nói nh thế! Khi Tố Hữu viết: “Tố Nh

ơi! Lệ chảy quanh thân Kiều”, chính là biểu lộ sự đồng cảm nh vậy.

Vấn đề thứ ba là quan niệm về Tâm và Tài Trong Truyện Kiều, triết lý

mà Nguyễn Du đa ra nh một chân lý: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Chữ

“tâm” đợc đặt lên đầu, trên “tài” Rõ ràng Nguyễn Du yêu cầu con ngời trớchết phải có tâm Nguyễn Du cho rằng đối với con ngời cái tâm là cao nhất,hơn tất cả và thắng tất cả Cùng với quan niệm đó là t tởng triết học: T tởngmệnh khổ, “Chữ tài liền với chữ tai một vần”, số mệnh trời đã quy định Trong Truyện Kiều, Thuý Kiều phải đau khổ lu lạc mời lăm năm, tất cả là do mệnh

trời gây ra: “Cho hay muôn sự tại trời”, “Bắt phong trần phải phong trần” (bắt

khổ phải khổ) ở đây thuyết định mệnh của Nho giáo đã ảnh hởng đến t tởngcủa Nguyễn Du Nguyễn Du không nói ra mà phát biểu bằng hình tợng nghệthuật Chẳng hạn nh hình tợng nghệ thuật Thuý Kiều trong mối quan hệ độclập với: Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, Bạc Bà, Bạc Hạnh…tức là với các thế lực con buôn, quan lại và đồng tiền bẩn thỉu…

Trang 16

Nói tóm lại, t tởng chủ đạo trong Truyện Kiều là tâm Và đồng hành với

tác phẩm luôn có mặt hai con ngời: một nhà nho, nhà t tởng Nguyễn Du vàmột nghệ sỹ Nguyễn Du thiên tài Cái hơn ngời của Nguyễn Du là ở chỗ ông

đã xây dựng nên những hình tợng điển hình trong Truyện Kiều.

Nội dung chủ đề lớn nhất của Truyện Kiều là quyền sống và quyền

hạnh phúc của con ngời Nguyễn Du đặt vấn đề quyền sống của con ngời (conngời nói chung, không riêng gì phụ nữ) là giá trị rất rộng trong Truyện Kiều.

Nguyễn Du đã nêu quyền sống con ngời, đã bênh vực cho con ngời bất hạnh,Nguyễn Du đã đòi bảo vệ quyền sống cho con ngời, Nguyễn Du cũng đã vôcùng đau đớn khi con ngời bị tớc đi quyền sống của mình.“Đau đớn thay phận đàn bà” là tiếng kêu từ đáy lòng ngời, là tiếng kêu có tầm nhân loại Nhà

thơ đã căm phẫn và mạnh mẽ vạch tội những thế lực đày đọa con ngời Chúng

ta biết rằng thời đại Nguyễn Du (thế kỷ thứ XVIII - XIX) con ngời không đòihỏi, không có cá nhân (trong gia đình sống theo ngời cha), không có sự riêng

t (tình yêu), tuổi trẻ không đợc đòi hỏi Dới chế độ phong kiến thối nát, trớc sựtan rã của tập đoàn phong kiến, trật tự phong kiến Lê - Trịnh, con ngời bị đày

đọa tột độ Nhng “già néo thì đứt dây” Con ngời bắt đầu đấu tranh và cá nhâncon ngời xuất hiện đòi quyền sống, đòi hạnh phúc Theo đó, tài năng cũng đòibộc lộ nh một nhu cầu tất yếu với một Nguyễn Du bản lĩnh, một Hồ Xuân H-

ơng sắc sảo, một Nguyễn Công Trứ ngông nghênh… Trong Truyện Kiều, Thuý

Kiều dám vợt ra khỏi ý thức hệ giai cấp tự tìm đến với tình yêu, thề nguyềnvới Kim Trọng, dám sống với tình yêu mà mình đã lựa chọn

Tình yêu luôn là chủ đề đợc nhiều tác giả đề cập đến Chủ đề tình yêucủa Nguyễn Du là tự do Xã hội không có tình yêu nhng trong tác phẩm lại có.Chính điều này đã làm nên tiếng vang cho Truyện Kiều bởi vì nó đã vợt ra

khỏi thời đại, trở thành một bớc tiến, một cuộc cách mạng trong quan niệmtình yêu, hôn nhân, nhất là với ngời phụ nữ Đến 100 năm sau Nguyễn ĐìnhChiểu nói đến tình yêu nhng lại không hề có tự do (Truyện Lục Vân Tiên) Và

cho tới mãi 1930 (sau 150 năm) ngời ta mới nói đến thứ tình yêu này (qua tiểuthuyết Tự lực văn đoàn)

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du quan niệm: Tình yêu đẹp chính là hạnh

phúc Trong khi đó, xã hội lại xem tình yêu là tội lỗi, tình yêu là bể khổ.Trong xã hội phong kiến, quy luật của nó là từ hôn nhân đến gia đình rồi mới

có tình yêu Truyện Kiều khác hẳn: có tình yêu mới có hôn nhân và mới hình

thành nên gia đình Tình yêu thực sự đợc đổi mới khi Kim Trọng “Xăm xăm đè

Trang 17

nẻo Lam Kiều lần sang” (câu 266), Thuý Kiều “Xăm xăm băng lối vờn khuya một mình” (câu 432) Với xã hội phong kiến, Nguyễn Du đã cho một quả bom

nổ chậm, một quả bom phá vỡ t tởng phi ngã Dù rằng ở ngay thế kỷ XVIIIkhông ai hởng ứng nhng 200 năm sau đã trở thành một hiện tợng vĩ đại, vangdội Vậy là Nguyễn Du đã một mình chống lại cả xã hội Nên trong tác phẩmcủa mình, Nguyễn Du cho nơi xuất hiện tình yêu thật đẹp, thật lý tởng: “Nẻo

xa trông tỏ lối vào thiên thai” Và cái khiến chúng ta khâm phục nhất trong t

tởng của Nguyễn Du về tình yêu, đó là tình yêu lý tởng , tình yêu linh hồnluôn gắn với tình yêu nhục cảm, nhục thể Tình yêu thật đẹp khi Kiều ớcnguyện với Kim Trọng Tiếng đàn Thuý Kiều là tình yêu Thuý Kiều Nhngtình yêu ấy càng thật và đẹp hơn khi trớc lời âu yếm có phần lả lơi của KimTrọng, Kiều đã can ngăn Đó là vẻ đẹp thánh thiện của tình yêu Sau này XuânDiệu - thi sĩ của tình yêu - cũng đã nói về một tình yêu tự do nhng là tình yêusầu não, vội vàng, một tình yêu ảo mộng, mơ ớc và không có thật

b Giá trị nhân bản của Truyện Kiều

Nói đến giá trị nhân bản là nói đến cái tốt đẹp của con ngời, bảnchất của con ngời Nguyễn Du, trong tác phẩm của mình, đã phát hiện và sángtạo thành những hình tợng về phẩm chất cao quý, đẹp đẽ của con ngời Giá trị

đó chủ yếu đợc tập trung thể hiện ở hai nhân vật: Thuý Kiều và Từ Hải

Nhân vật Thuý Kiều đợc mô tả là một con ngời Tài - Sắc - Tình, mộtcon ngời hoàn thiện Nguyễn Du đã xây dựng một con ngời mà mọi phơngdiện đều đợc miêu tả rất đặc biệt Hơn thế nữa lại là “Sắc đòi một” - nhan sắc

tột đỉnh mà con ngời có thể có Mong ớc của Nguyễn Du đòi hỏi con ngờiphải đẹp Và “tài hoạ hai” - cũng là tột đỉnh của cái tài, đa tài: cầm, kỳ, thi,

hoạ Đây là cái tài trong xã hội phong kiến của ngời phụ nữ, cái tài mang tínhlịch sử - xã hội nhất định Thuý Kiều tài nào cũng xuất chúng nên đã chinhphục đợc tất cả: khiến cho Hồ Tôn Hiến “Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình”,

làm Hoạn Th vì phục Kiều có tài mà tha - cái tài làm cho tình địch phải kính

nể, còn Kim Trọng, Từ Hải thì thán phục nàng hết mực

Dĩ nhiên, không phải ngẫu nhiên Nguyễn Du miêu tả Thúy Kiều nhthế Lịch sử thế kỷ XVIII không cho phép nói cái tài cá nhân của mình nhngNguyễn Du đã xng tài riêng của mình và khẳng định nó Vào thế kỷ XV, chỉ

có Nguyễn Trãi nh vậy (trong bài: “Tùng”) nhng thể hiện cha rõ Sang thế kỷ

Trang 18

XVIII có Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du… Do vậy Nguyễn

Du mới mô tả Thuý Kiều có tài sắc tuyệt đỉnh

Nhà thơ đề cao cái tài bao nhiêu thì quan tâm đến cái tình của Kiềubấy nhiêu Nguyễn Du đã xây dựng một tình yêu rất thắm thiết, thuỷ chung,cao thợng và đẹp Trong tác phẩm, về mặt chung thuỷ ta xét đến tình yêu Kim

- Kiều, là tình yêu đích thực của con ngời Tuy nhiên chữ hiếu vẫn quý hơn,lớn hơn cả tình yêu: “Làm con trớc phải đền ơn sinh thành”, hay “Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn” Kiều đã bán mình và quyết định rất nhanh Và

hiếu tâm đã động đến trời” Cuối cùng Kiều đã không chết ở sông Tiền

Đ-ờng Mặt khác, Kiều còn là một con ngời rất Việt Nam, hiện thân cho tâm hồnViệt Nam, phụ nữ Việt Nam: quên mình mà nghĩ đến ngời khác Ngay trongmàn báo ân báo oán, Kiều với lòng vị tha của mình đã tha bổng Hoạn Th:

Ghen tuông thì cũng ngời ta thờng tình” Những ngời Kiều mang ơn đều đợc

nàng hậu tạ xứng đáng

Nguyễn Du miêu tả Thuý Kiều có đời sống nội tâm phong phú, rất tốt

đẹp và đáng quý Kiều là một ngời rất cao thợng và trinh bạch, một ngời biếtgiữ danh dự, sẵn sàng chết khi bị chà đạp Kiều là con ngời rất dễ rung cảm tr-

ớc cái đẹp và trớc nỗi đau Cái buồn của Thuý Kiều đầy tính nhân bản Chẳnghạn lúc “Kiều ở lầu Ngng Bích”, Nguyễn Du đã khắc hoạ đợc hình tợng Thuý

Kiều trong nỗi buồn có sắc thái và vẻ đẹp riêng Trong tác phẩm ta thấy độcthoại nội tâm rất nhiều và trong những trạng huống đó nội tâm Thúy Kiều đềurất đẹp

Với Từ Hải, Nguyễn Du lại tiếp tục khẳng định cái tài và Từ Hải hiệnlên cũng với cái tài bậc nhất Lý tởng mà Từ Hải mang trong mình là tự do,công lý Từ Hải yêu cầu công bằng, không có gì quý bằng tự do Lý tởng của

Từ Hải cũng là lý tởng Nguyễn Du

Ngoài ra, giá trị nhân bản còn biểu hiện ở chỗ nhà văn đã xây dựngnên các hình tợng phản nhân bản điển hình Cho đến bây giờ, Tú Bà, Mã GiámSinh, Sở Khanh, không còn là những nhân vật của riêng Truyện Kiều mà đã trở

thành những kiểu ngời đặc trng

Giá trị nhân bản của Truyện Kiều còn đợc biểu hiện bằng cảm hứng

nghệ sỹ của Nguyễn Du trớc con ngời Đó là tình yêu con ngời, nỗi đau trớccon ngời, lòng trân trọng nâng niu con ngời với niềm khao khát tự do, hạnhphúc cho con ngời, lòng căm ghét những gì thù địch với con ngời mà Nguyễn

Du đã gửi gắm trong tác phẩm của mình

Trang 19

c Giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều:

1/ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nguyễn Du đã xây dựng nhân vậttâm lí Miêu tả nhân vật là nhân vật bộc lộ tính cách của bản thân mình bằngtâm lý Trớc Nguyễn Du trong văn học Việt Nam, cha ai xây dựng đợc nhânvật tâm lý Thúy Kiều là một nhân vật riêng, khác biệt với những nhân vậtkhác, không giống bất kỳ ai Con ngời tài hoa ấy đợc mô tả, khắc hoạ, xâydựng với nhiều cung bậc khác nhau Có thể nói, con ngời Thúy Kiều rất riêng

và rất đặt biệt Biểu hiện nh khóc, cời, hay lúc đánh đàn mỗi lần nàng cời,khóc hoặc đánh đàn đều khác nhau, thể hiện những tâm trạng khác nhau,nhiều Thuý Kiều trong nhiều lần ở tác phẩm Nguyễn Du đã mô tả con ngời ởtâm lý với hàng vạn tâm trạng và hàng vạn cuộc đời

Để thể hiện chủ đề phê phán, lên án cái ác, cái xấu của xã hội, Nguyễn

Du đã đa vào tác phẩm hai loại hình tợng: quan lại và con buôn cùng đồngtiền bẩn thỉu Loại nhân vật này thờng là những kẻ thiếu nhân bản và tính ng-

ời Đó là loại ngời trớc cái đáng buồn thì buồn ít, đáng vui thì ít vui và đáng

đau thì ít đau

Đặc biệt là khi nhà thơ miêu tả nhân vật con ngời trong cuộc sống con ngời nhân vật - con ngời tâm lý Thuý Kiều là nhân vật đầu tiên của vănhọc Việt Nam đợc miêu tả trực tiếp bằng tâm lý, các hành động của nhân vậtthể hiện tâm lý (ngoài Truyện Kiều, trong các tác phẩm khác Nguyễn Du

-không xây dựng một nhân vật tâm lý nào nữa) Thuý Kiều còn là con ngời vũtrụ (thiên - nhân nhất thể: quan niệm thiên nhiên - con ngời là một) Trong

Truyện Kiều, nhân vật Thuý Kiều gắn chặt với thiên nhiên Qua đoạn “Kiều ở lầu Ngng Bích”, Thuý Kiều là thiên nhiên và thiên nhiên là con ngời Thuý

Kiều Hay khi miêu tả sắc đẹp nàng Kiều, sắc của Kiều đợc đo bằng thiênnhiên, quan hệ với thiên nhiên Và thiên nhiên cũng không phải là “nhờng”

mà là “ghen”, là “hờn”: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”, một vẻ đẹp

nh dự báo trớc những tai ơng sẽ gặp phải trong đời

Tài năng miêu tả nhân vật của Nguyễn Du thể hiện sâu sắc nhất khi

ông miêu tả con ngời tài hoa Trớc thế kỷ XVIII, trong văn học cha xây dựnghình tợng con ngời tài hoa Đến văn học thế kỷ XVIII mới có ngời tài, nhânvật tự xng tài và ngời đời cũng xng tài để khẳng định mình, khẳng định cánhân (Kiều, Từ Hải, Kim Trọng,…)

Trang 20

2/ Ngôn ngữ tiểu thuyết: Ngôn ngữ văn xuôi có hai loại: Ngôn ngữtruyện (Truyện Lục Vân Tiên, Thạch Sanh, các truyện nôm khuyết danh) và

Ngôn ngữ tiểu thuyết (chỉ đến Truyện Kiều mới xuất hiện) ở Truyện kiều, nhà

thơ đã sử dụng rất nhuần nhuyễn ngôn ngữ hiện thực và ngôn ngữ ớc lệ Ngônngữ hiện thực tả thực, không cách điệu đợc dùng nhiều khi mô tả nội tâm Cònngôn ngữ ớc lệ dùng một biểu tợng để chỉ nội dung chủ yếu khi mô tả ngoạicảnh Trong tác phẩm, nhà thơ vừa dùng ngôn ngữ tự sự vừa dùng ngôn ngữtrữ tình, vừa kể và tả (lời kể và lời tả) vừa là những lời bộc lộ (tỏ) trực tiếp tìnhcảm Đồng thời, nhà thơ cũng dùng rất nhiều ngôn ngữ thiên nhiên Tác giả đểcho thiên nhiên nói hộ lòng ngời và qua miêu tả thiên nhiên để miêu tả lòngngời Chẳng hạn tình cảm của Thuý Kiều sau khi gặp Đạm Tiên, Kim Trọngtrong lễ đạp thanh:

Bóng chiều nh giục cơn buồn

Dới cầu nớc chảy trong veo Trên cầu tơ liễu bóng chiều thiết tha ”

Hay “Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày”.“Rêu” là thiên nhiên (bao bọc lấy

giày) Nhà văn miêu tả “rêu” - thiên nhiên muốn giữ cho Kim Trọng hình ảnhcủa Thúy Kiều Việc Kiều mắc nạn đã động đến thiên nhiên Cái tài củaNguyễn Du là đây Vừa miêu tả thiên nhiên vừa khiến cho thiên nhiên cấttiếng nói

Sau này có nhiều tác giả khác cũng sử dụng ngôn ngữ thiên nhiên nhmột phơng tiện nghệ thuật để xây dựng hình tợng: Xuân Diệu ( trong Thơ duyên), Nam Cao (ánh trăng trong Chí Phèo).

Bên cạnh đó còn có một loại ngôn ngữ nữa mà ở bất kỳ tác phẩm nàocũng phải có là ngôn ngữ nhân vật Trong tự sự xuất hiện hai dạng: Ngôn ngữnhân vật và lời nói nhân vật Ngôn ngữ nhân vật biểu hiện ở các mặt: là ngônngữ nói, tiếng nói của lòng mình, tiếng nói của tâm trạng, dùng từ ngữ, câu cúcủa riêng mình và thờng có giọng điệu riêng Trong Truyện Kiều, Thuý Kiều

bao giờ cũng nói tình và thể hiện con ngời Kiều là một con ngời đa cảm, đằmthắm, đa tình, thông minh và ân nghĩa Từ ngữ trong lời nói nhân vật, giọng

điệu không giống ai Khi nói đến ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều, Xuân

Diệu đã từng nhận xét về nhân vật Tú Bà là “Tú Bà nói một câu mà bọt văng

đến nghìn năm”; Từ Hải thì giọng anh hùng gắn với đất trời; Kim Trọng thì

giọng điệu … “mê gái”; Thúc Sinh thì si tình, sợ vợ; Sở Khanh thì xỏ lá; …

Trang 21

Ngôn ngữ tác giả trong Truyện Kiều cũng đóng vai trò vô cùng quan

trọng Nguyễn Du trong tác phẩm của mình vừa phân tích sự kiện vừa phântích tâm lý nhân vật và có khi phân tích cả tâm lý của chính mình

3/ Thể thơ lục bát Truyện Kiều: Lục bát là thể thơ dân tộc Nguyễn Du

đã nâng cấp lục bát dân gian thành lục bát Truyện Kiều Vần bằng của thể lục

bát tạo nên nhịp điệu, vần điệu, âm điệu nhịp nhàng, uyển chuyển, êm ái, đằmthắm … Nguyễn Du đã sử dụng những đặc điểm, đặc sắc đó của lục bát dângian đa vào tác phẩm Nhịp điệu trong Truyện Kiều thờng sau một đoạn 2/2

đổi nhịp 3/3, 4/4 (diễn tả cái mạnh) và cứ thế rồi tiếp tục trở lại, tránh đợc sựnhàm chán, tạo ra đợc các phần khác nhau rõ ràng trong tác phẩm Truyện Kiều.

Nói tóm lại, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm lớn, chứa

đựng trong nó những giá trị nội dung, nghệ thuật độc đáo, sâu sắc và mới

mẻ Vì vậy, cho đến nay Truyện Kiều vẫn luôn là một đối tợng hớng đến

của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc Chúng tôi, trong giới hạn củamột luận văn, chỉ xin đề cập đến một số vấn đề cơ bản mang tính khái quát

về Truyện Kiều còn chủ yếu là đi sâu vào nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời

đã đợc tác giả sử dụng trong tác phẩm

1.2 Các khái niệm từ vựng - ngữ nghĩa học liên quan đến đề tài

Đề tài này chủ yếu đi sâu nghiên cứu phơng diện ngữ nghĩa của nhóm

từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều nên một số khái niệm công

cụ đợc xác định cách hiểu trong luận văn này:

1.2.1 Trờng nghĩa

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, trờng nghĩa là:

1 - Một mảng, một phần hiện thực khách quan đợc chia tách theokinh nghiệm của con ngời và có sự tơng xứng về mặt lý thuyết trong ngôn ngữdới dạng một nhóm từ, một tiểu hệ thống từ vựng nào đó.Ví dụ Trờng nghĩa thời gian, trờng nghĩa màu sắc, trờng nghĩa không gian, …

2 - Toàn bộ từ, ngữ tạo thành một dãy chủ đề và bao trùm mộtphạm vi ý nghĩa nhất định, chẳng hạn Trờng nghĩa thời gian quy tụ các từ sau

đây: giây, phút, giờ, ngày, đêm, tuần, tháng, quý, năm, …[22, 322]

Theo Đỗ Hữu Châu: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa đợc gọi là một ờng nghĩa Đó là nhữmg tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa Với các trờng nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ

Trang 22

tr-ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ tr-ngữ nghĩa giữa các trờng nghĩa

và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trờng” [4; 159].

Cơ sở để tập hợp các từ vào một trờng nghĩa là sự tồn tại một đặc trngngữ nghĩa chung để liên kết tất cả các đơn vị trong một trờng nghĩa Cònnhững đặc trng ngữ nghĩa riêng của từng từ trong một trờng là dấu hiệu khubiệt chúng với nhau Ví dụ: Trong trờng nghĩa các động từ chuyển động: chạy, nhảy, đi, lăn, lao, xoay, vần, phóng…thì đặc trng ngữ nghĩa chung là “sự di chuyển trong không gian” còn các đặc trng ngữ nghĩa riêng, có giá trị khu

biệt nghĩa là “tốc độ”, “phơng thức chuyển động”, “hớng chuyển động”, “môi trờng chuyển động”,…

1.2.2 Từ nhiều nghĩa

Từ nhiều nghĩa (còn gọi là từ đa nghĩa) là một vấn đề rất cơ bản của từvựng học, là hiện tợng có tính phổ quát của các ngôn ngữ và là một biểu hiệncủa tính tiết kiệm trong ngôn ngữ Cho đến nay, có rất nhiều tác giả nghiêncứu về hiện tợng đa nghĩa và đã đa ra những quan niệm, những định nghĩakhác nhau

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: Từ có từ hai nghĩa trở

lên, còn gọi là từ nhiều nghĩa, đối lập với từ đơn nghĩa là từ chỉ có một nghĩa[22, 337 - 338]

Nguyễn Văn Tu trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại thì cho rằng

“Khi nói về từ nhiều nghĩa là nói về một từ có nhiều nghĩa khác nhau” [19,81] Còn Đỗ Hữu Châu trong Giáo trình Việt ngữ (tập 1, Nxb Giáo dục, 1962)

thì định nghĩa “Từ đa nghĩa là một từ, có sự thống nhất về nội dung và hìnhthức Trong một giai đoạn lịch sử nhất định các nghĩa khác nhau của một từ đanghĩa vẫn có liên hệ chặt chẽ với nhau và không thoát li nghĩa chính” [tr 85– 86] Hay nh ý kiến của Hà Quang Năng trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt: “Nếu từ tham gia vào những lớp tổ hợp, đợc dùng với những chức

năng điển hình, đặc trng cho một từ loại nhất định thì đó là dấu hiệu của hiệntợng nhiều nghĩa của từ ” (tập 2, tr.51) Còn theo Nguyễn Thiện Giáp, “Từ đanghĩa có thể vừa có nghĩa tự do, vừa có nghĩa hạn chế” [7, 170 - 171]; theoMai Ngọc Chừ, “Từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc

điểm , thuộc tính khác nhau của một số đối tợng , biểu thị nghĩa đối tợng khácnhau của thực tại” [5, 205]; theo Nguyễn Ngọc Trâm, “Từ đa nghĩa là từ dùngmột vỏ âm thanh diễn đạt nhiều nghĩa khác nhau nhng có quan hệ gắn bó vớinhau” (“Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, Nxb KHNV, H, 1981)

Trang 23

Tóm lại, nói đến từ đa nghĩa trớc hết là nói tới số lợng nghĩa, từ đó phải có hai nghĩa trở lên và các nghĩa phải có quan hệ với nhau, theo một trong hai quan hệ là ẩn dụ và hoán dụ, trên cơ sở các nét nghĩa của chúng.

Ví dụ: Chân ( 22, tr 140) theo Từ điển tiếng Việt có các nghĩa:

(1) - Bộ phận dới cùng của cơ thể ngời hay động vật dùng để đi, đứng,thờng đợc coi là biểu tợng của hoạt động đi lại của con ngời VD: Gãy chân

(2) - Chân con ngời, coi là biểu tợng của cơng vị, phận sự của một ngờivới t cách là thành viên của một tổ chức Ví dụ: Có chân trong hội đồng Thiếumột chân tổ tôm

(3) - (Khẩu ngữ) Một phần t con vật có bốn chân, khi chung nhau sửdụng hay chia nhau thịt Ví dụ: Đánh đụng một chân lợn

(4) - Bộ phận dới cùng của một số đồ dùng, có tác dụng đỡ cho các bộphận khác Ví dụ: Chân đèn, chân bàn, chân ghế, chân gờng, …

(5) - Phần dới cùng của một số vật, tiếp giáp và bán chặt vào mặt nền

Ví dụ: Chân núi, chân tờng, chân răng, …

1.2.3 Các loại nghĩa của từ

1.2.3.1 Phân biệt các loại nghĩa từ quan điểm lịch đại

Dựa vào nguồn gốc và quá trình phát triển biến đổi của từ, ngời taphân biệt nghĩa gốc và nghĩa phái sinh

Nghĩa gốc: là nghĩa từ vựng vốn có của từ ngay từ khi nó xuất hiệnhoặc nghĩa vốn có từ xa xa của bộ phận vật chất của từ Còn gọi là nghĩa ban

đầu, nghĩa có trớc, nghĩa xuất phát, nghĩa từ nguyên (Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học).[22, 146]

Nghĩa gốc thờng là nghĩa không giải thích đợc lí do và có thể nhận ramột cách độc lập không cần thông qua nghĩa khác

Ví dụ: “Mũi”: Là bộ phận cơ thể ngời (động vật), có dáng nhọn,nhô ra trên mặt.( Từ điển tiếng Việt)

Nghĩa phái sinh: Là nghĩa bắt nguồn từ nghĩa gốc, nghĩa ban đầu.Chúng thờng là nghĩa có lí do và đợc nhận qua nguồn gốc của từ Còn gọi lànghĩa có sau, nghĩa chuyển.[22, 147]

Ví dụ: “Mũi” có các nghĩa phái sinh nh sau:

(1) - Bộ phận phía trớc của một số vật có dạng nhọn (mũi kim, mũigiáo, mũi giày …)

(2) - Chỉ phần đất nhô ra, ăn ra biển, ra sông (mũi đất, mũi Cà Mau)

Trang 24

Quan hệ giữa nghĩa gốc và nghĩa phái sinh có tính chất biện chứng:một nghĩa có thể là nghĩa phái sinh của từ này nhng đồng thời lại có thể trởthành nghĩa gốc của nghĩa kia (nghĩa tiếp theo) Nghĩa là ở đây sự biến đổinghĩa giữa nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới diễn ra theo kiểu móc xích (xâuchuỗi) Tức là từ nghĩa đầu tiên chuyển sang nghĩa thứ hai, từ nghĩa thứ haichuyển sang nghĩa thứ ba, từ nghĩa thứ ba chuyển sang nghĩa thứ t,…phân biệtvới kiểu thứ hai là “toả ra” (hớng tâm) Tức các nghĩa mới của từ đợc tạo ra

đều từ nghĩa ban đầu (dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện)

Ví dụ 1: Thẻ (từ đa nghĩa kiểu xâu chuỗi):

Nghĩa 1: Mảnh gỗ, tre đợc dùng để viết

Nghĩa 2: Mảnh xơng, ngà ghi chức tớc mà các quan đeo ở ngực (thời ớc)

tr-Nghĩa 3: Giấy chứng nhận t cách thành viên của một tổ chức nào đấy

Ví dụ 2: Miệng (từ đa nghĩa kiểu hớng tâm):

Nghĩa 1: Bộ phận trên mặt ngời hay ở phần trớc của đầu động vật, dùng

để ăn và (ở ngời) để nói …: Miệng nói tay làm

Nghĩa 2: miệng ăn nhân khẩu: nhà có năm miệng ăn

Nghĩa 3: (giao tiếp bằng) lời nói trực tiếp, không phải viết.: Dịch miệng,trao đổi miệng …

Nghĩa 4: phần trên cùng, chỗ mở ra thông với bên ngoài của vật cóchiều sâu: Miệng bát, miệng giếng,…

1.2.3.2 Phân biệt các loại nghĩa từ quan điểm đồng đại

Xem xét nghĩa của từ trong một giai đoạn lịch sử nhất định, dựa vàomối quan hệ giữa từ và đối tợng từ phản ánh, ta có nghĩa trực tiếp và nghĩachuyển tiếp

Nghĩa trực tiếp: là nghĩa phản ánh sự vật hiện tợng một cách trực tiếpkhông thông qua ý nghĩa nào khác của từ này (còn đợc gọi là nghĩa đen) Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: nghĩa đen là nghĩa từ

vựng của từ theo đúng nghĩa của nó, khác với nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ, bóngbẩy và cũng khác với nhứng sắc thái cảm xúc, biểu cảm đi kèm theo nó.Nghĩa đen đồng thời cũng là nghĩa ban đầu, nghĩa xuất phát, không có căn cứ,không có tính lí do, không giải thích đợc.[22, 145]

Ví dụ: Đầu: là bộ phận trên hết hay trớc hết của con ngời (hay động vật,

có chứa não).(Từ điển tiếng Việt)

Trang 25

Nghĩa chuyển tiếp: là nghĩa phản ánh đối tợng một cách gián tiếp ờng thông qua sự vật hiện tợng hay nét đặc thù của sự vật hiện tợng mà từ gọitên (còn gọi là nghĩa bóng).

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: nghĩa bóng là nghĩa

phái sinh, nghĩa thứ yếu của từ, bắt nguồn từ nghĩa đen hay một nghĩa bóngkhác nhờ kết quả của việc sử dụng từ có ý thức trong lời nói để biểu thị sự vậtkhông phải là vật quy chiếu tự nhiên, thờng xuyên Một từ có đợc nghĩa bóngkhi nó định danh sự vật không phải trực tiếp, mà qua sự vật khác theo phép ẩn

dụ, hoán dụ hay cải dung Nh vậy nghĩa bóng của từ là nghĩa có căn cứ, cótính lí do, nghĩa có thể giải thích đợc qua nghĩa trực tiếp (nghĩa đen).[22, 144]

Ví dụ: Đầu: chỉ ý chí và trí tuệ (đầu óc minh mẫn, có đầu … ) là nghĩa

chuyển tiếp từ cái nghĩa trực tiếp của “đầu” đã nói ở trên

1.2.3.3 Các loại nghĩa dựa vào tiêu chí nghĩa đang xét đã nằm trong cơ cấu

ổn định hay còn cha ổn định, vào khả năng hoạt động tự do hay lệ thuộc của

từ ta có nghĩa ổn định và nghĩa lâm thời

Nghĩa ổn định là nghĩa đã đi vào cơ cấu chung ổn định vững chắc củanghĩa từ và đợc nhận thức nh nhau trong mọi hoàn cảnh khác nhau, khônghoặc ít phụ thuộc vào ngữ cảnh, có thể hoạt động một cách tự do Nghĩa ổn

định có thể bao gồm trong đó cả nghĩa gốc và nghĩa phái sinh, nghĩa trực tiếp

và nghĩa chuyển tiếp

Ví dụ: Vàng:

Nghĩa 1: Chỉ kim loại quý (vàng mời)

Nghĩa 2: Chỉ những cái gì có giá trị đáng trân trọng (tấm lòng vàng,

Ví dụ: Đầu xanh:

Nghĩa 1: Mái đầu

Nghĩa 2: Chỉ thời đầu tóc còn đen, tức thời tuổi trẻ.(Ngời trẻ tuổi)

Đầu xanh đã tội tình gì?

Trang 26

Má hồng đến quá nửa thì cha thôi.

Tuy nhiên, nghĩa lâm thời khi đợc sử dụng với một phạm vi rộng vàxuất hiện thờng xuyên nhiều lần, đi vào cách hiểu, cách cảm của ngời bản ngữthì nó dần dần đi vào cơ cấu ổn định

Ví dụ: Từ “Hoa”: chỉ ngời con gái

Từ “Xuân”: chỉ tuổi trẻ, tình yêu

1.2.4 Phơng thức chuyển nghĩa

Trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới, có hai phơng thức, cách thứcchuyển nghĩa phổ biến là ẩn dụ và hoán dụ Cho đến nay đã có rất nhiều địnhnghĩa khác nhau về hai phơng thức này

1.2.4.1 Khái niệm ẩn dụ và hoán dụ

* ẩn dụ:

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: ẩn dụ là phép sử dụng

từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên cơ sở sự tơng đồng, sự giống nhau giữa cácthuộc tính của cái dùng để nói và cái muốn nói đến.[22, 18-19]

* Hoán dụ:

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: Hoán dụ là phơng

thức chuyển đổi tên gọi, cách sử dụng từ ở nghĩa chuyển của từ đa nghĩa bằngcách thay tên gọi của sự vật này bằng sự vật khác theo quan hệ tiếp cận củahai sự vật; hai sự vật liên quan với nhau về một khía cạnh nào đó có thể đợc

định danh bởi một từ Cơ sở của hoán dụ là các quan hệ giữa các phạm trùriêng rẽ của hiện thực đợc phản ánh trong nhận thức của con ngời và đợc địnhhình bằng ý nghĩa của từ Các quan hệ đó có thể là quan hệ giữa các sự vật,quá trình, hoạt động, con ngời, vị trí, thời gian, sự kiện, …[22, 121-122]

Về khái niệm ẩn dụ và hoán dụ, tác giả Đỗ Hữu Châu đã khái quát lại

nh sau:

Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x ( Tức x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phơng thức ẩn dụ là phơng thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y ( để biểu thị y) nếu nh x và y giống nhau Còn hoán dụ là phơng thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế ” [4, 155]

Ví dụ 1: (Theo phơng thức ẩn dụ) :

Cổ: 1 Bộ phận cơ thể ngời (động vật)

2 Chỗ eo lại ở gần phần đầu của một số đồ vật giống hình cái cổ:

Cổ chai, cổ hũ

Trang 27

Ví dụ 2: (Theo phơng thức hoán dụ)

Nhà: 1 Công trình để ở: Nhà trệt, nhà ngói.

2 Chỉ tập hợp ngời có cùng quan hệ trong cùng một nhà - gia

đình : Nhớ nhà, cả nhà đi vắng,

1.2.4.2 Các dạng cơ bản của ẩn dụ và hoán dụ

a Về phơng thức ẩn dụ, tác giả Đỗ Hữu Châu [3, 158-159] đã quy các

ẩn dụ về 5 phạm trù nhất định Còn theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp [6, 86 87] thì ẩn dụ có 8 kiểu khác nhau Về phơng thức hoán dụ, trong “Từ vựng -Ngữ nghĩa tiếng việt”, tác giả Đỗ Hữu Châu đã đa ra tới mời lăm kiểu hoán

-dụ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng đã nêu lên mời kiểu hoán dụ

b Các nhà nghiên cứu nói trên đã đa ra các kiểu ẩn dụ và hoán dụ rấtphong phú, đa dạng Trong quá trình khảo sát, chúng tôi dựa trên những kếtquả đó để thống kê Tuy nhiên để có cái nhìn khái quát chung về phơng thứcchuyển nghĩa chúng tôi quy về sáu dạng (ẩn dụ, hoán dụ) cơ bản, thể hiệntính quy luật, phổ biến ở hiện tợng này

Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển dựa trên sự giống nhau về chức nănggiữa các sự vật hiện tợng

Ví dụ : Cắt: 1 Làm đứt sự vật (Cắt cỏ)

2 Chấm dứt mối quan hệ (Cắt tình)

Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển dựa trên sự giống nhau về kết quả sự vậthiện tợng

Ví dụ: Miệng: 1 Bộ phận cơ thể con ngời

Trang 28

2 Thay cho cả ngời: Nhà có năm miệng ăn

Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển dựa trên quan hệ giữa cái chứa(Cái Nghĩa 1) và Cái đợc chứa (Cái đợc bao- Nghĩa 2)

Ví dụ: Nhà: 1 Công trình để ở: Nhà xây san sát.

2 Chỉ gia đình: Cả nhà hôm nay rất vui.

3 Chỉ vợ chồng: Nhà tôi đi vắng!

4 Triều đại: Nhà lý, Nhà trần

Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển dựa trên quan hệ giữa nguyên liệu, công

cụ (Nghĩa 1) Với hoạt động dùng nguyên liệu, công cụ đó (Nghĩa 2)

Ví dụ: Thịt: 1 Một dạng thực phẩm khác rau, cá

2 Làm thịt: Thịt một con gà.

1.2.5 Các lớp từ tiếng Việt

I.2.5.1 Theo cấu tạo

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học:

a.Từ đơn: Từ có thân từ trùng với căn tố, nghĩa là từ mà trong thànhphần cấu tạo không thể tách ra các thành phần phụ tố , còn gọi là từ đơn âm ,

đơn tiết Từ trong tiếng việt chỉ do một hình vị (âm tiết , tiếng ) có ý nghĩa tạonên

Ví dụ: Học, làm , nhà, ruộng, đẹp [22, 350]

b Từ ghép: Từ có từ hai thân từ, tức là từ mà trong thành phần cấu tạogồm có không ít hơn hai hình vị không phải là phụ tố mà là những hình vịtham gia với t cách là những thân từ, còn gọi là từ ghép, từ phức.Từ trongtiếng việt đựơc tạo thành từ ghép do sự kết hợp của hai hoặc một số hình vị(âm tiết, tiếng) Tạo nên

Ví dụ: Nhân dân, đất đai , bù nhìn, náo nhiệt , to lớn , lăm le [22, 356]I.2.5.2 Theo nguồn gốc:

a Từ thuần Việt:

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: Từ thuần Việt là các

từ vốn có từ lâu đời làm thành vốn từ vựng cơ bản của tiếng Việt [22, 394]

Ví dụ: Cha, mẹ, ma, nắng, bếp, vờn, mặt trời, đẹp xấu

Còn tác giả Nguyễn Văn Tu trong “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại”

thì cho rằng: “Từ thuần Việt là những từ đợc dân tộc ta dùng từ thợng cổ tớinay Những từ thuần việt có quan hệ đối với vốn từ vựng cơ bản của nhiềungôn ngữ Đông Nam á nh tiếng thái, tiếng Môn- khơ- me ”(Nxb Giáo dục,

1968, tr.187)

Trang 29

Theo ý kiến của Phan Ngọc: “Bất kỳ từ nào đơn tiết cũng là từ thuầnViệt và bất kỳ từ láy âm nào cũng đợc xem là thuần Việt không kể nguồngốc” (Tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Hán, trong sách Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam á - Viện Đông Nam á, 1983)

Nguyễn Thiện Giáp thì khẳng định: “Ngoài những từ có thể xác địnhchắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ ấn, âu, tấtcả các từ còn lại thờng đợc gọi là các từ thuần Việt Những từ thờng đợc gọi

là thuần Việt thờng trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, chúng biểuthị những sự vật, hiện tợng cơ bản nhất, chắc chắn phải tồn tại từ rất lâu”.(“Từ vựng học tiếng Việt - NXB ĐH và THCN, 1985, tr 269)

b Từ Hán Việt:

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: Từ tiếng Việt có

nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chiphối của các quy luật ngữ âm, từ ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còngọi là từ Việt gốc Hán (tr 369)

Ví dụ: Chính phủ, quốc gia, giang sơn, nhân dân, tổ quốc, xã tắc Còn Bùi Đức Tịnh thì phát biểu: “Có thể định nghĩa một cách giản dịrằng tiếng Hán - Việt là những tiếng Hán phát âm theo lối Việt Ban đầu đó lànhững chữ Hán mà khi học trong sách Trung Hoa, các nhà tri thức ta đọc trại

đi theo giọng việt” (Văn phạm Việt Nam - Sài Gòn Tr.10).

Nắm bắt đợc hệ thống lý thuyết sẽ giúp chúng ta trong quá trình điềutra, thống kê, phân loại đợc chính xác hơn Từ đó mà chúng ta có đợc cái nhìn

đầy đủ về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều trên các phơng

diện cũng nh đi sâu phân tích ngữ nghĩa của chúng để thấy đợc cái hay cái

đẹp trong những ngữ cảnh khác nhau

Mặt khác cũng phải nói rằng, chúng tôi dựa trên những cơ sở lý thuyết

đã trình bày và dựa vào sự phân tích nghĩa của tác giả Đào Duy Anh trongcuốn Từ điển Truyện Kiều để tiến hành khảo sát Kết quả khảo sát sẽ chứng

minh cho vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chơng đồngthời khẳng định tài năng xuất chúng của nhà văn Nguyễn Du

Trang 30

Chơng II:

diện mạo nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời

trong truyện kiều

2.1 Về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể

2.1.1 Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong vốn từ cơ bản

Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời thuộc trờng nghĩa biểu vật: tên gọi bộphận cơ thể ngời (là một trong những trờng từ vựng - ngữ nghĩa tiêu biểu) Bởi

lẽ chúng nằm trong vốn từ cơ bản có từ lâu đời và thuộc hạt nhân của hệ thống

từ vựng Trong mỗi ngôn ngữ, chúng có trớc tiên cả về phơng diện phát sinhcá thể lẫn phát sinh loài, đợc ngời bản ngữ nhận thức sớm hơn các từ loạikhác Mặt khác , các từ thuộc trờng từ vựng này ít biến đổi về hình thức, rấthàm súc về ngữ nghĩa, đồng thời có sự sử dụng và biến đổi nghĩa rất phongphú trong hoạt động lời nói Đây là trờng từ vựng mang tính tự nhiên, có giớihạn rõ ràng (nên tơng đối khép kín) và cũng là một trờng cha đợc nghiên cứusâu rộng

Trang 31

Trong tiếng Việt, nhóm từ này chiếm số lợng không nhỏ với 397 từ(theo Nguyễn Đức Tồn) Trong đó: 66,2% (263/ 397 từ) là các tên gọi thuầnViệt và 33,8% (134/ 397 từ) là các tên gọi vay mợn Các tên gọi bộ phận cơthể ngời không phải là từ thuần Việt chủ yếu đợc vay mợn từ tiếng Hán (từngữ Hán - Việt) chiếm tới 98% số từ vay mợn trong tiếng Việt (132/ 134 từ).

Số tên gọi bộ phận cơ thể đợc vay mợn từ ngôn ngữ ấn - âu trong tiếng Việt

là không đáng kể (2/ 134 từ) Trong trờng từ vựng này, các tên gọi nguyênsinh của bộ phận cơ thể ngời chiếm số lợng tuyệt đối Điều này hoàn toàn dễhiểu, bởi vì những từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể bao giờ cũng nằm trong vốn từvựng cơ bản lâu đời của ngôn ngữ

Khi gọi tên sự vật nói chung, bộ phận cơ thể nói riêng, ngời bản ngữ tiếngViệt sử dụng loại từ khác nhau phụ thuộc vào góc độ nhìn “sự vật và đối t-ợng” Vì thế một bộ phận cơ thể có thể đợc gọi tên theo cách khác nhau tuỳthuộc vào sự nhấn mạnh đặc điểm hình thức nào của nó

Xét về phơng diện cấu tạo từ, trong trờng từ vựng - ngữ nghĩa tiếngViệt, bộ phận cơ thể đợc định danh theo lối tạo từ ghép là chủ yếu Từ đơn tiếtchiếm 27% (108/ 397 từ) tên gọi bộ phận cơ thể ngời, đợc cấu tạo trên cơ sở

sử dụng một tổ hợp âm tố biểu thị đặc trng nào đó chọn lựa từ trong số các đặctrng của bộ phận cơ thể ngời Thí dụ nh : gáy, tay, chân , sọ, … Trong trờng từvựng - ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt lối tạo từ ghépchiếm 37,8%(150/397) Ví dụ: tâm thất, lỡng quyền,

2.1.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của trờng tên gọi bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt.

Cấu trúc ngữ nghĩa của trờng tên gọi bộ phận cơ thể ngời trong tiếngViệt có 10 loại nghĩa vị Bao gồm:

(1) Tên gọi chỉ loại (“bộ phận chỉnh thể trực tiếp”)

Ví dụ: Đầu : phần trên cùng của thân thể con ngời hay

phần trớc nhất thân thể động vật.

(2) Vị trí (trên - dới, trong - ngoài, trớc - sau, phải - trái, )

Ví dụ : Lông mày: vệt lông hình cung ở trên hốc mắt

(3) Chức năng bộ phận cơ thể, chỉ ra chức năng thực, “chức nănggiả”, chức năng biểu trng cho ý nghĩ, tình cảm con ngời

Ví dụ: Bụng, dạ: biểu trng ý nghĩ, tình cảm của con

ngời (tốt bụng, sáng dạ).

Trang 32

(4) “Tính sở thuộc” (ngời hoặc động vật hay thuộc cả hai ) của bộphận cơ thể nào đó

Ví dụ: Mặt: phần phía trớc của đầu ngời hoặc phần phía

trớc của đầu động vật.

(5) Cấu trúc

Ví dụ: Thuỷ tinh thể: bộ phận của mắt dới dạng thấu kính

trong suốt lồi hai mặt, co giãn đợc.

(6) Kích thớc Có hai khả năng: Chỉ ra đại lợng tuyệt đối và chỉ ra

Ví dụ : Răng khôn: răng hàm thứ ba mọc sau 20 tuổi.

Trờng từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi bộ phận cơ thể ngời là “nhóm chứcnăng”, cấu trúc của trờng này đợc xây dựng theo kiểu “bộ phận - chỉnh thể” Hạt nhân cấu trúc ngữ nghĩa của trờng gồm : “ tên gọi chỉ loại”, cácnghĩa vị “vị trí”, “chức năng”, tính sở thuộc

Các tên gọi của trờng từ vựng - ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể ngời vềcơ bản đợc sử dụng trong các phong cách trung hoà, khẩu ngữ và một phầntrong phong cách khoa học (nh thuật ngữ)

Các tên gọi bộ phận cơ thể ngời trong tiếng Việt có sự chuyển nghĩakhá phong phú và đa dạng Có tất cả 14 kiểu chuyển nghĩa sau đây

(1) ẩn dụ theo hình thức bộ phận cơ thể

Ví dụ: Răng: 1/ Răng ngời

2/ Răng ca

Trang 33

(10) ẩn dụ theo cách thức hoạt động

Ví dụ: Thịt: 1/ Thịt (phần mềm dới da) (danh từ)

2/ Thịt (giết gia súc lấy thịt) (động từ)

(11) Hoán dụ theo quan hệ giữa cái chứa đựng và cái đợc chứa đựng

Ví dụ: Dạ con: 1/ Dạ con, tử cung

2/ Động vật cái

(12) Hoán dụ theo quan hệ phơng tiện hoạt độngvà hoạt động đợctiến hành bằng phơng tiện đó

Trang 34

Ví dụ: Nách: 1/ Nách (cù vào nách)

2/ Nách con đi chơi

(13) Hoán dụ theo quan hệ giữa phơng tiện và sản phẩm đợc tạo rabằng phơng tiện đó

Ví dụ: Tay: 1/ Tay

2/ Nét chữ tự dạng, chữ kí (của ai)

(14) Hoán dụ theo quan hệ giữa công cụ đo lờng và chiều dài (kíchthớc) dụng cụ đó

Ví dụ: Khuỷ tay: 1/ Khuỷ tay

2/ Đơn vị đo chiều dài cỡ gần bằng 0,5m Trong tiếng Việt, nhóm từ này thờng hay đợc dùng theo cách chuyểnnghĩa ẩn dụ các tên gọi hơn cách hoán dụ Thậm chí, trong lối nói hàng ngàycủa ngời Việt, phép hoán dụ đợc dùng rất tự nhiên do việc lợc bỏ yếu tố cónghĩa của từ tổ (rút gọn là một trong những phơng thức cấu tạo từ phổ biếnrộng rãi trong tiếng Việt) Chẳng hạn: lông mi - mi, bắp thịt - bắp, … Điều đó

chứng tỏ ngời Việt thiên về lối t duy hình tợng, cảm giác, hành động - trựcquan Đây cũng là nhóm từ có giá trị biểu trng rất lớn về mặt t tởng tình cảmcủa con ngời

Mặt khác, khi biểu đạt t tởng, ngời Việt cố định sự chú ý của mình ởchi tiết, bộ phận nào đó Trên cơ sở sự thay thế chỉnh thể bằng bộ phận, đãxuất hiện những từ vựng mới (trong đó có cả các thành ngữ) Các đơn vị từvựng đợc ra đời trên cơ sở sự thay thế đó biểu thị cách đánh giá con ngời vềcác phơng diện tính cách, phẩm chất tinh thần, năng lực, trạng thái tâm lý, vẻngoài của nó

Ví dụ: Cách đánh giá con ngời về mặt tính cách, phẩm chất tinh thần:

nhát gan, to gan, cứng đầu, cứng cổ, phổi bò, mặt ngời dạ thú, …

Cách đánh giá trạng thái tâm lý con ngời: ngứa tay, ngon mắt, xanh mắt, xám mặt, sớng bụng, …

Chỉ t thế và vẻ ngoài của con ngời: chân yếu tay mềm, tóc bạc

Trang 35

Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những kiệt tác văn chơng

của nền văn học Việt Nam nói riêng và văn học thế giới nói chung Trong tácphẩm, tác giả đã sử dụng một số lợng nhất định những từ chỉ bộ phận cơ thểngời Số lợng các từ này tuy không nhiều, nhng cách sử dụng cũng nh mật độ,tần số xuất hiện của nhóm từ này tạo nên những ấn tợng mạnh mẽ và có giá trịlớn trong việc làm giàu đẹp hơn cho tiếng Việt

Trên cơ sở lý thuyết chung đã đợc xác định nh trên, chúng tôi đã tiếnhành khảo sát nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều, tiến hành

thống kê phân loại dựa theo những tiêu chí khác nhau nh: số lợng, cấu tạo,nguồn gốc, tần số xuất hiện (trong tác phẩm Truyện Kiều và ngay cả trong một

câu Kiều), tỷ lệ phần trăm, so sánh đối chiếu với nhóm từ này trong tiếng Việthiện nay Từ đó, chúng tôi đa ra những nhận xét, những kiến giải chung cótính chất định lợng cũng nh cho thấy tính chất, ý nghĩa của chúng

ở đây chúng tôi thống kê tất cả những từ chỉ bộ phận cơ thể ngời cómặt trong Truyện Kiều bao gồm những từ đơn (từ đơn tiết), từ kép độc lập (từ

đa tiết), cả từ thuần Việt và từ Hán - Việt Chúng tôi không tính những từ tổ,những tổ hợp từ mà ranh giới giữa cụm từ và từ cha đợc phân định rõ ràng,cũng nh không thống kê những thành ngữ hay những mệnh đề liên quan.(Chẳng hạn nh: chôn chân, lánh gót, kề tai, tóc tơ, lòng quê, tấm lòng son, một lòng,…)

2.2.1 Thống kê và phân loại từ chỉ bộ phận cơ thể trong Truyện Kiều

2.2.1.1 Số lợng từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều

Căn cứ vào bản Truyện Kiều (do Đào Duy Anh khảo đính) và trong sự

đối chiếu với “Từ điển Truyện Kiều” của cùng tác giả, chúng tôi đã thu thập

đ-ợc số lợng từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều là 36 từ Để có cái

nhìn đầy đủ hơn, chúng tôi đã đối chiếu, so sánh với số lợng từ chỉ bộ phận cơthể ngời trong tiếng Việt (xem bảng 1)

* Bảng 1: Từ chỉ bộ phận cơ thể ngời - xét về số lợng.

Từ chỉ bộ phận cơ thể ngời Số lợng Tỷ lệ %

Số từ không sử dụng trong Truyện Kiều 361 91%

Trang 36

Qua việc khảo sát văn bản Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy số lợng từ

chỉ bộ phận cơ thể ngời đợc sử dụng trong tác phẩm chiếm một tỷ lệ thấptrong tổng số từ chỉ bộ phận cơ thể ngời của tiếng Việt: 36/397 từ (chiếm 9%) Mặt khác, theo tác giả Đào Thản trong “Một vài đặc điểm của ngôn ngữ Truyện Kiều”thì tổng số từ mà Nguyễn Du đã dùng trong Truyện Kiều là

3.412 từ Nh vậy, số từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong Truyện Kiều cũng chiếm

một tỷ lệ rất ít trong tổng số từ mà Nguyễn Du đã dùng trong Truyện Kiều:

36/3.412 từ (chỉ chiếm 1,05%)

Nhng điểm đáng chú ý là hầu hết các từ chỉ bộ phận cơ thể ngời

mà Nguyễn Du sử dụng đều là những tên gọi nguyên sinh ( những từ ngữ cónghĩa gốc trực tiếp là những tên gọi bộ phận cơ thể ngời) Ví dụ: đầu, tay, mặt,chân, lông mày, xơng, vai, gan, da, …Và đặc biệt hơn là ở tần số xuất hiệncũng nh khả năng biểu đạt của nhóm từ này trong Truyện Kiều.

2.2.1.2 Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời xét về cấu tạo và nguồn gốc:

Về cấu tạo và nguồn gốc của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong

Truyện Kiều, qua khảo sát, chúng tôi đã thống kê đợc nh sau

* Bảng 2: Từ chỉ bộ phận cơ thể ngời - xét về cấu tạo và nguồn gốc.

Từ Số lợng Hán - Việt Tỷ lệ % Số lợng Thuần Việt Tỷ lệ % Số lợng Tổng số Tỷ lệ %

Trong Truyện Kiều, theo thống kê của tác giả Đảo Thản [18, 171], tổng

số từ Hán - Việt mà Nguyễn Du sử dụng là 1.310 từ, chiếm tới 35% tổng số từ

đợc dùng trong Truyện Kiều (1.310/3.412 từ) Còn ở đây, từ bảng thống kê ta

thấy:

Từ đơn chiếm tỷ lệ lớn hơn từ ghép (với 32/36 từ, chiếm 89%)trong khi đó từ ghép chỉ có 4/36 từ (chiếm 11%) Nếu so sánh với nhóm từ nàytrong tiếng Việt thì xét về phơng diện cấu tạo từ, trong trờng từ vựng - ngữnghĩa tiếng Việt “chỉ bộ phận cơ thể” đợc định danh theo lối tạo từ ghép lại làchủ yếu: Từ đơn tiết chiếm 27% (108/397), từ ghép chiếm 37,8% (150/397)

Từ thuần Việt đợc sử dụng nhiều hơn từ Hán - Việt: từ thuần Việt

có 32/36 từ (chiếm 89%) còn từ Hán - Việt có 4/36 từ (chiếm 11%)

Nh vậy, từ đơn có số lợng lớn hơn so với từ ghép, đặc biệt là từ đơn thuần Việt gần nh chiếm số lợng tuyệt đối Điều này ít nhiều chứng tỏ cho

Trang 37

-chúng ta thấy từ thuộc vốn từ cơ bản thuần Việt chủ yếu là từ đơn tiết Bêncạnh đó, chúng tôi cũng nhận thấy: từ thuần Việt đợc Nguyễn Du sử dụng với

số lợng cao gấp nhiều lần so với từ Hán - Việt Dù rằng tiếng Hán khi đi vàongôn ngữ Việt đã đợc Việt hoá song từ Hán - Việt vẫn chỉ đợc sử dụng mộtcách hạn chế và ngay từ đầu các yếu tố ngoại sinh đã không thắng đợc các yếu

tố nội sinh (yếu tố gốc, yếu tố chủ đạo) Việc Nguyễn Du sử dụng một số lợnglớn từ thuần Việt chỉ bộ phận cơ thể ngời một cách nhuần nhuyễn và đầy sángtạo trong tác phẩm cho thấy: ngôn ngữ Truyện Kiều đã thể hiện rất rõ tính dân

tộc Điều đó cũng thể hiện tài năng, t tởng và tâm hồn nhà thơ

2.2.2 Tần số xuất hiện của từ chỉ bộ phận cơ thể trong Truyện Kiều:

* Bảng 3: Từ chỉ bộ phận cơ thể ngời - xét về số lần xuất hiện và số

Trong đó: Có 31 từ có số lần xuất hiện tơng ứng với số câu mà nó cómặt (tổng: 222 lần trong 222 câu) nh các từ: Bụng, Can trờng, Cốt nhục, Cốt

Trang 38

cách, Chân, Da, Dạ, Đầu, Gan, Gót, Gối, Hàm, Lông mày, Lng, Má, Mày, Máu, Mắt, Miệng, Môi, Nách, Ngón, Răng, Râu, Ruột, Tai, Tâm, Tóc, Thịt, Vai, Xơng

Ví dụ: Đầu: 31 lần/ 31 câu

* Bảng 4: Từ chỉ bộ phận cơ thể ngời - xét về số lần xuất hiện trong một

a Cùng một từ xuất hiện trong câu, có các dạng:

Một từ xuất hiện một lần trong câu (tỷ lệ 1:1): có tới 229 lần/ 229 câu

Ví dụ: Sau chân theo một vài thằng con con (câu 138).

Mấy lòng hạ cố đến nhau (câu 197)

Gieo mình, vật vã, khóc than (câu1677)

Có làm chi nữa cái mình bỏ đi! (câu 3146)

Một từ xuất hiện hai lần trong câu (tỷ lệ 2:1): có 68 lần/ 34 câu

Trang 39

Ví dụ: Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai (câu 1184)

Mặt nhìn mặt, càng thêm tơi (câu 393)

Biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi! (câu 220) Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân (câu 1190)

Thân sao bớm chán, ong chờng bấy thân? (câu 1238)

Một từ xuất hiện ba lần trong một câu (tỷ lệ 3:1): có 3 lần/ 1 câu

Ví dụ: Giật mình, mình lại thơng mình xót xa.(câu 1234)

Một từ xuất hiện bốn lần trong một câu (tỷ lệ 4:1): có 4 lần/ 1 câu

Ví dụ: Một mình mình biết một mình mình hay (câu 2674)

b Các từ khác nhau trong một câu:

Hai từ khác nhau trong một câu: xuất hiện trong 77 câu

Ví dụ: Vai năm tấc rộng thân mời thớc cao (câu 2168)

Đống x ơng vô định đã cao bằng đầu (câu 2494)

Rỉ tai, nàng mới giã lòng thấp cao (câu 876)

Thân nghìn vàng để ô danh má hồng! (câu 854)

Ba từ khác nhau trong một câu: xuất hiện trong 6 câu

Ví dụ: Ghi lòng để dạ cất mình ra đi (câu 2790)

Râu hùm hàm én mày ngày (câu 2167)

Máu ghen, ai cũng chau mày nghiến răng (câu 2010)

Bốn giây nhỏ máu năm đầu ngón tay! (câu 2570) Đầu mày cuối mặt càng nồng tấm yêu.(câu 498)

Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay (câu 2070)

Bốn từ khác nhau trong một câu: xuất hiện trong 1 câu

Ví dụ: Uốn l ng thịt đổ dập đầu máu sa (câu 1140)

Ngoài ra còn có những trờng hợp hai từ khác nhau cùng xuất hiện bốnlần trong một câu hoặc ba lần trong một câu Chẳng hạn nh các trờng hợp:

- “Lòng”, “Mặt” trong câu:

Mặt mơ tởng mặt lòng ngao ngán lòng (câu 252)

- “Lòng”, “Mình” trong câu:

Dột lòng mình cũng nao nao lòng ngời? (câu 492)

Đặc biệt hơn nữa còn có trờng hợp trong một câu xuất hiện hai từ chỉ

bộ phận cơ thể ngời nhng khác nhau về nguồn gốc:

Ví dụ: Tiểu th nhìn mặt dờng đà cam tâm (câu 1866)

2.2.3 Nhận xét chung

Trang 40

Nhìn vào tất cả các bảng thống kê trên đây (những kết quả mang tínhchất định lợng), chúng ta đã phần nào bớc đầu nhận thấy diện mạo chung,tổng quát và cơ bản nhất về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngời đợc Nguyễn Du

sử dụng trong Truyện Kiều

Tuy chỉ với một số lợng ít ỏi (36 từ) nhng tần số xuất hiện của chúnglại rất cao (36 từ/ 706 lần dùng, trong 670 câu) và xuất hiện theo nhiều kiểukhác nhau: có thể cùng một từ xuất hiện hai (ba, bốn lần); lại có những trờnghợp hai (ba, bốn từ khác nhau) cùng xuất hiện trong một câu, thậm chí có tr-ờng hợp hai từ thuộc hai nguồn gốc khác nhau (thuần Việt và Hán - Việt)cùng xuất hiện trong một câu Kiều

Tất cả điều đó cho thấy khả năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du

đạt đến trình độ đỉnh cao Từ chỉ bộ phận cơ thể ngời trong các câu Kiềukhông chỉ nhiều về số lợng mà tần số xuất hiện của chúng cũng rất cao.Nguyễn Du đã sử dụng từ chỉ bộ phận cơ thể ngời với một số lợng và một tần

số xuất hiện lớn nh vậy là do nội dung, mục đích của tác phẩm và do cả dụng

ý nghệ thuật của tác giả chi phối Bởi ví, chúng ta biết rằng, nhóm từ chỉ bộphận cơ thể ngời là một nhóm từ có giá trị biểu trng rất lớn Một trong nhữnghiện tợng biểu trng khá lý thú ở ngời Việt là lấy một số bộ phận cơ thể (thờng

là cơ quan nội tạng) để biểu trng cho thế giới tâm lý - tình cảm của con ngời.Bên cạnh đó, chúng ta cũng biết rằng hình thức luôn chứa đựng nội dung vànội dung chỉ đợc biểu hiện ra qua hình thức Chính vì vậy, Nguyễn Du đã sửdụng lớp từ này để khắc hoạ nên nhân vật của mình Tài năng của nhà văn thật

sự đợc khẳng định khi đã xây dựng đợc những nhân vật điển hình, những “conngời sống”

Có thể nói, trong Truyện Kiều hầu nh ở phần nào tác giả cũng sử dụng

từ chỉ bộ phận cơ thể ngời, nhất là khi tả ngời Từ việc miêu tả hình thức đếnnội tâm con ngời, nhà văn đều không bỏ qua lớp từ này Nhà thơ đã miêu tảhình thức nhân vật và qua bề ngoài, dáng vóc đó để xây dựng tính cách củamỗi nhân vật Chúng ta đã từng biết đến một Mã Giám Sinh “buôn thịt bánngời” “Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”, hay một Thuý Vân tròn đầy,

thuần nhất với gơng mặt “Hoa cời ngọc thốt đoan trang, Mây thua nớc tóc tuyết nhờng màu da”, hay một Từ Hải “Râu hùm hàm én mày ngài, Vai năm tấc rộng thân mời thớc cao” oai hùng, khảng khái vẫy vùng bốn phơng, …

Sâu sắc hơn nữa là khi nhà thơ sử dụng lớp từ chỉ bộ phận cơ thể ngời

để miêu tả tâm lý nhân vật Đó là một trong những đóng góp lớn lao của

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w