1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết nguyễn kiên luận văn thạc sĩ ngữ văn

138 484 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 674,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết Nguyễn Kiên..... NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KIÊN..... Luận văn

Trang 1

BÙI THỊ THANH

NÔNG THÔN VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN – 2012

Trang 2

BÙI THỊ THANH

NÔNG THÔN VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KIÊN

CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VĂN HỌC

MÃ SỐ: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

7 Cấu trúc luận văn

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN KIÊN

1.1 Giới thuyết chung về tiểu thuyết

1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

1.1.2 Đặc trưng và ưu thế của tiểu thuyết

1.2 Vài nét về đề tài nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.2.1 Nông thôn trong tiểu thuyết trước 1945

1.2.2 Nông thôn trong tiểu thuyết từ 1945 đến 1975

1.2.3 Nông thôn trong tiểu thuyết từ 1975 đến nay

1.3 Vài nét về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Kiên

1.4 Đề tài nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết Nguyễn Kiên

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG NÔNG 1 1 1 3 4 4

4 4 6

6 6

7

11 11 20 27 34

38

Trang 4

2.1.1 Những thanh niên giàu nhiệt huyết

2.1.2 Những người cán bộ lãnh đạo ở nông thôn

2.1.3 Những người phụ nữ bất hạnh

2.2 Hình tượng cuộc sống

2.2.1 Xã hội nông thôn trong phong trào hợp tác hóa

2.2.2 Tâm lí tiểu nông của người nông dân

2.2.3 Cuộc sống bấp bênh, đói nghèo

2.3 Hình tượng thiên nhiên

2.3.1 Thiên nhiên làng quê đẹp nhưng gợi buồn

2.3.2 Thiên nhiên gắn bó hài hòa với tâm trạng, cảm xúc nhân vật

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KIÊN

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.1.1 Xây dựng nhân vật bằng cách lặp lại nhiều lần một chi tiết

3.1.2 Xây dựng nhân vật bằng việc chú trọng khắc họa nội tâm

3.1.3 Xây dựng nhân vật thông qua cách đặt tên

3.2 Nghệ thuật sử dựng ngôn ngữ

3.2.1 Sử dụng các thành ngữ dân gian

3.2.2 Sử dụng thủ pháp so sánh

3.2.3 Sử dụng phương ngữ Bắc bộ

3.3 Nghệ thuật thể hiện không gian, thời gian

3.2.1 Nghệ thuật thể hiện không gian

3.2.2 Nghệ thuật thể hiện thời gian

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

45 51 62 67 67 70 75 81 81 83

86 86 86 93 97 100 100 104 109 113 114 120 125 128

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nông thôn và người nông dân là một trong những mảng đề tài lớnvà có vị trí vững chắc trong nền văn học Việt Nam Đã có rất nhiều nhàvăn, nhà thơ lớn viết và thành công trên đề tài này, trước hết phải kể đếnNguyễn Khuyến, Nam Cao, Nguyễn Bính, Nguyễn Minh Châu, NguyễnHuy Thiệp, Nguyễn Kiên, Đào Vũ, Vũ Thị Thường, Nói riêng về lĩnh vựctiểu thuyết, văn học Việt Nam đã có số lượng lớn tác phẩm viết về đề tàinông thôn và người nông dân được đánh giá cao vì có những phát hiện, lígiải sâu sắc về hiện thực cuộc sống cũng như con người nơi đây

1.2 Nguyễn Kiên là nhà văn viết và có thành công nhất định về tiểuthuyết Những cuốn tiểu thuyết của ông đầy ắp hơi thở cuộc sống, là sáchhay trong thời của nó, có chỗ đứng trong lòng bạn đọc Là người "cày sâucuốc bẫm" trong mảng đề tài nông thôn và người nông dân, Nguyễn Kiênđã xác lập được vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam hiện đại Tìmhiểu tiểu thuyết Nguyễn Kiên viết về đề tài nông thôn và người nông dângiúp chúng ta có điều kiện nhìn lại để hiểu hơn về sự nghiệp văn học củaông, cũng như đánh giá lại những đóng góp của tác giả - một người tâmhuyết với đề tài này - cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.3 Luận văn “Đề tài nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết Nguyễn Kiên” sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu văn học cũng như

việc giảng dạy tiểu thuyết nói chung và mảng sáng tác về đề tài nông thôn,người nông dân nói riêng trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Kiên vào làng văn cách nay gần 60 năm, là tác giả của hơn

mười tập truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, trong đó tác phẩm Chim

Trang 7

khách kêu đã được giải thưởng Hội nhà văn năm 2001 Năm 2002, cũng với Chim khách kêu, nhà văn Nguyễn Kiên đã vinh dự nhận được giải thưởng

văn học Đông Nam Á Chừng đó thôi đủ để khẳng định tài năng và vị trícủa nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, cho đến naychưa có công trình lớn nào tập trung nghiên cứu về những sáng tác củaNguyễn Kiên Bàn về những sáng tác của ông còn ít và mới chỉ dừng lại ởnhững nhận xét, khái quát mang tính chung chung

Trong cuốn Văn học Việt Nam hiện đại (1945 – 1975), khi đánh giá về

những thành tựu của văn xuôi 1954 – 1964, tác giả Mã Giang Lân viết:

“Thành tựu nổi bật của văn xuôi viết về nông thôn thể hiện trong nhữngsáng tác về thời kì xây dựng hợp tác hóa nông nghiệp Những tác phẩm tiêu

biểu: Xung đột (Nguyễn Khải), Cái hom gió (Vũ Thị Thường), Cái lô cốt (Châu Diên), Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Hãy đi xa hơn nữa, Người trở về (Nguyễn Khải), Đồng tháng năm (Nguyễn Kiên), Con trâu bạc (Chu Văn) Không chỉ bám sát hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội,

phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai con đường đang diễn ra quyết liệt, đadạng ở nông thôn mà còn giải quyết được nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hộirộng lớn trong quá trình đưa nông thôn từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn,chuyển người nông dân từ vị trí làm chủ cá thể sang cương vị làm chủ tậpthể” [33; 26] Đánh giá này của tác giả Mã Giang Lân cho thấy: NguyễnKiên là một trong những nhà văn viết và thành công ở đề tài nông nôngthôn và người nông dân, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn

Cũng là những đánh giá về tài năng trên lĩnh vực truyện ngắn của

Nguyễn Kiên, trên trang http://vanvn.net, đăng tải nhận xét về nhà văn như

sau: “ Nguyễn Kiên như một bậc thầy truyện ngắn Nhiều truyện ngắn củaông đạt đến kinh điển do bố cục vững chãi, miêu tả tâm lí tự nhiên và tinhtế Đáng kể nhất trong văn Nguyễn Kiên là, do giữ các trong trách trên vănđàn, ông không thể không viết về chiến tranh, về hiện thực cuộc sống (công

Trang 8

trường, hợp tác xã) nhưng ông biết nhanh chóng lách qua cái nền thoáng vàtrong, đưa ngòi bút lách sâu vào số phận éo le của các nhân vật khiến bâygiờ đọc lại, những con người ấy vẫn đọng lại còn thời thế thì đã nhiềuchồng lấn nhạt nhòa” Ở lĩnh vực truyện ngắn, Nguyễn Kiên không phải làngười đầu tiên viết về đề tài nông thôn và người nông dân, trước ông đã cónhiều người viết và thành công Là người đi sau nhưng nhà văn đã biếtchọn cho mình một lối đi riêng, một cách khai thác riêng nên sáng tác củaông đã có chỗ đứng nhất định trong lòng độc giả một thời.

Nhà văn Vũ Tú Nam – một người bạn thân thiết của nhà văn NguyễnKiên đã nhận xét về ông như sau: “Anh như người thợ thủ công, làm việccặn kẽ, cẩn thận, tỉ mỉ, chu đáo Chúng ta thấy trong sáng tác của NguyễnKiên ngôn ngữ Bắc bộ tinh tế, sinh động” [47; 2]

Không chỉ ở truyện ngắn, viết về đề tài nông thôn và người nông dâncủa Nguyễn Kiên còn thành công ở thể loại tiểu thuyết Tuy nhiên, đángtiếc là cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về mảng đề tài nàytrong tiểu thuyết của ông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là vấn đề nông thôn và ngườinông dân trong tiểu thuyết Nguyễn Kiên

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Nguyễn Kiên chủ yếu sáng tác trên hai thể loại truyện ngắn và tiểuthuyết Trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về

tiểu thuyết, cụ thể là ba tác phẩm sau: Vùng quê yên tĩnh, Nhìn dưới mặt trời và Một cảnh đời Các tác phẩm này được in trong sách Vùng quê yên tĩnh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2008.

Trang 9

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những vấn đề về nông thôn và người nông dân đặt ra trongtiểu thuyết Nguyễn Kiên

- Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện vấn đề nông thôn và người nông dân trongtiểu thuyết Nguyễn Kiên

- Bước đầu xác định vai trò, vị trí của tiểu thuyết Nguyễn Kiên trong dòngchảy tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, trước hết là mảng tiểu thuyết viết vềnông thôn

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp khảo sát, thống kê

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn phân tích và làm rõ những khám phá riêng về con người,cuộc sống ở nông thôn và những nét đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện conngười, cuộc sống ở nơi đây trên thể loại tiểu thuyết của nhà văn NguyễnKiên

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinhviên, học viên ngành Ngữ văn và những ai quan tâm đến sáng tác củaNguyễn Kiên nói chung và tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn và ngườinông dân nói riêng

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn chia làm ba chương:

Chương 1: Nhìn chung về sự nghiệp sáng tác tiểu thuyết của NguyễnKiên

Chương 2: Hình tượng con người và cuộc sống nông thôn trong tiểuthuyết Nguyễn Kiên

Trang 10

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người và cuộc sống nông thôntrong tiểu thuyết Nguyễn Kiên

Trang 11

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT

CỦA NGUYỄN KIÊN

1.1 Giới thuyết chung về tiểu thuyết

1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

Tiểu thuyết là thể loại đứng ở vị trí then chốt trong đời sống văn học

toàn nhân loại Ngay từ thế kỉ XIX, nó đã được xem là “hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ” Là thể loại có cấu trúc tự sự lớn, tiểu thuyết có

khả năng riêng trong việc phản ánh hiện thực Trong lịch sử văn học nhânloại, tiểu thuyết đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất Ở châu Âu, mặc dùxuất hiện vào thời kì xã hội cổ đại tan rã và văn học cổ đại suy tàn nhưngmãi đến thế kỉ XIX mới đạt đỉnh cao Ở châu Á, tiểu thuyết xuất hiện sớmnhất là ở Trung Quốc (khoảng thế kỉ III - IV) Thời kì phát triển nhất củatiểu thuyết nước này là thời Minh - Thanh Nhưng hình thức hiện đại củatiểu thuyết Trung Quốc phải đợi đến những năm 20 của thế kỉ XX mới thựcsự xuất hiện Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện muộn Mãi tới đầu thế kỉ

XIX, với sự xuất hiện của Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái,

nước ta mới có tác phẩm có qui mô tiểu thuyết Phải sang đầu thế kỉ XX,nhất là với dòng văn học lãng mạn và hiện thực phê phán (1932 - 1945), ởViệt Nam mới có tiểu thuyết hiện đại

Xung quanh khái niệm tiểu thuyết có nhiều vấn đề phức tạp, không dễthống nhất Đi tìm một định nghĩa đầy đủ về tiểu thuyết có thể ứng cho mọitrường hợp trong thực tế văn học là điều khó có thể làm được Các nhà líluận vì thế, tùy theo góc nhìn và hoàn cảnh phát biểu, khi thì nhấn mạnhđặc điểm này, khi thì nhấn mạnh đặc điểm kia mà đưa ra quan điểm khácnhau về tiểu thuyết

Trang 12

Ở nước ngoài, Heghen gọi tiểu thuyết là “sử thi tư sản hiện đại” và nhấn mạnh tính chất “văn xuôi” của tiểu thuyết Nhà lí luận Dân chủ cách mạng Nga, Biêlinxky cho tiểu thuyết là “Sự tái hiện thực tại với sự thực trần trụi của nó”, là “xây dựng một bức tranh toàn vẹn, sinh động và thống nhất”.

Ở Việt Nam, khái niệm tiểu thuyết cũng được bàn đến nhiều PhạmQuỳnh, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Công Hoan đều cónhững bài viết bàn về tiểu thuyết Nhưng có lẽ người sớm nhất bàn về tiểu

thuyết là Phạm Quỳnh Trong bài “Bàn về tiểu thuyết” đăng trên Nam Phong (1921), Phạm Quỳnh viết: “Tiểu thuyết là một loại truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là những sự tích lạ đủ làm cho người đọc có hứng thú” [50; 12].

Cho đến nay, nhiều người tán đồng với định nghĩa về tiểu thuyết trong

sách Từ điển thuật ngữ văn học (của nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên): “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [20; 328].

Như vậy, các ý kiến xung quanh cách hiểu về tiểu thuyết đã góp phầngiúp chúng ta có cái nhìn khá đầy đủ về nó Trong phạm vi luận văn này,

chúng tôi sử dụng khái niệm trong sách Từ điển thuật ngữ văn học (của

nhóm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên) làm cơsở nghiên cứu khoa học

1.1.2 Đặc trưng và ưu thế của tiểu thuyết

1.1.2.1 Tiểu thuyết nhìn cuộc sống dưới góc độ đời tư

Nhìn cuộc sống dưới góc độ đời tư là một trong những đặc trưng quantrọng hàng đầu của tiểu thuyết Nếu sử thi thường quan tâm đến những vấn

Trang 13

đề của cộng đồng thì tiểu thuyết cơ bản quan tâm đến những vấn đề bìnhthường, những con người, cá nhân có hoàn cảnh và số phận riêng Vì quantâm đến cộng đồng nên sử thi thường nhìn nhận con người như những anhhùng, những cá nhân tiêu biểu của cộng đồng Ngược lại, tiểu thuyết phảnánh con người trong đời thường với muôn mặt của nó: có tốt có xấu, có cao

cả có thấp hèn Vì vậy mà Bakhtin cho rằng: “Nhân vật tiểu thuyết không nên là “anh hùng” trong cái nghĩa sử thi và bi kịch của từ đó, mà nên thống nhất trong bản thân các nét vừa chính diện vừa phản diện, vừa tầm thường, vừa cao cả, vừa buồn cười, vừa nghiêm túc”.

Tuy nhiên, tùy theo từng thời kì nhất định mà cái nhìn đời tư có thể kếthợp với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc Khi yếu tố đời tư càng pháttriển thì chất tiểu thuyết càng tăng và ngược lại, khi yếu tố lịch sử dân tộccàng phát triển thì chất sử thi càng đậm nét Ở nước ta, giai đoạn 1945 -

1975 do gắn liền với hai cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc nên tiểuthuyết mang đậm chất sử thi Nhưng ở giai đoạn 1932 - 1945, đặc biệt là từsau 1975, do cuộc sống đã chuyển sang một thời kì mới nên chất thế sựtrong tiểu thuyết lại nổi lên đậm đặc Nhà văn thiên về miêu tả các yếu tốđời tư, đời thường của nhân vật, đặt nhân vật trong nhiều mối quan hệ phứctạp của cuộc sống hàng ngày Đến đây, tiểu thuyết thực sự được trở về vớimảnh đất quen thuộc của nó

1.1.2.2 Chất văn xuôi

Chất văn xuôi là đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại, nó làmcho tiểu thuyết có sự khác biệt so với các thể loại khác Đặc điểm này đòihỏi nhà văn phải tái hiện cuộc sống không lãng mạn hóa, không thi vị hóamà phải miêu tả cuộc sống khách quan với đầy đủ tính chất phức tạp và đadạng, “toàn vẹn và sinh động” của nó Tính chất văn xuôi tạo nên mộttrường lực mạnh mẽ để tiểu thuyết hấp thụ vào mình mọi yếu tố ngổnngang, bề bộn của cuộc đời, bao hàm cái cao cả lẫn cái tầm thường, cái

Trang 14

nghiêm túc lẫn cái buồn cười, cái bi lẫn cái hài Nói cách khác đó là chấtvăn xuôi của cuộc đời Bằng cách ấy, tiểu thuyết đủ khả năng phơi bày đếntận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống.

1.1.2.3 Nhân vật tiểu thuyết thường là con người nếm trải

Con người nếm trải là khái niệm được đưa ra nhằm chỉ những nhân vậtphải chịu rất nhiều những trải nghiệm trong cuộc đời với bao nhiêu thăngtrầm, biến đổi, những đau khổ dằn vặt, suy nghĩ Bởi lẽ, nhân vật trong tiểuthuyết luôn chịu tác động của hoàn cảnh Trong sử thi nhân vật tương đốiđơn giản, phù hợp với quan niệm phổ biến về kiểu loại nhân vật đó M.Bakhtin nhận xét, con người trong tiểu thuyết khác với sử thi là thườngkhông đồng nhất với chính nó Một người có địa vị cao trong xã hội nhưnglại xử sự rất xấu và ngược lại Nghĩa là nhân cách con người tiểu thuyếtphức tạp hơn nhiều so với những lược đồ đơn giản về vị thế, giới tính, giaicấp,…của chính họ Vì vậy mặt tâm lí của nhân vật luôn là trung tâm nhấnmạnh của tiểu thuyết Điều này sử thi cổ đại và truyện trung đại chưa chú ýnhiều Có thể nói, không một loại hình nghệ thuật nào bỏ qua được khíacạnh tâm lí nhưng phương pháp phân tích tâm lí vẫn là đặc trưng của tiểuthuyết Có người nói, tiểu thuyết khai phá cuộc sống bên trong con người,là cuộc thăm dò cuộc sống con người là vì thế

1.1.2.4 Thành phần chính yếu của tiểu thuyết không phải chỉ là cốt truyện và tính cách nhân vật như ở truyện vừa và truyện ngắn trung cổ

Ở truyện vừa và truyện ngắn trung cổ trong các yếu tố cốt truyện, sựkiện, nhân vật, thì cốt truyện đóng vai trò quan trọng nhất, cốt truyện lấnát nhân vật Đến tiểu thuyết hiện đại vai trò của cốt truyện giảm bớt, thậm

chí nhiều tiểu thuyết cốt truyện không quan trọng (như Sống mòn của Nam

Cao), vai trò của nhân vật, của sự kiện tăng lên Do đặc điểm này mà ở tiểuthuyết xuất hiện càng nhiều yếu tố ngoài cốt truyện như: những suy tư củanhân vật về thế giới, sự miêu tả môi trường, đồ vật, sự phân tích cặn kẽ diễn

Trang 15

biến tình cảm, những bình luận của người trần thuật Người ta gọi đó lànhững thành phần xen, phần “thừa” của cốt truyện Trong tiểu thuyếtBanzac, chúng ta thấy được sự miêu tả trang phục, bàn ghế, giường tủ, cốcchén,…một cách tỉ mỉ Đọc tiểu thuyết V Hugo, chúng ta còn biết đượccống ngầm Paris cấu tạo như thế nào và nhà thờ Đức Bà được khắc họa đến

từng chi tiết ra sao… Trong Sống mòn của Nam Cao, có đủ các chi tiết có

vẻ thừa: cảnh ngôi trường, cảnh căn buồng nhà ông Học, cảnh nhà HảiNam , những suy nghĩ của Thứ về nghề nghiệp, về con người, về tươnglai, về Oanh, San, thằng Mô Chính những chi tiết này làm cho tác phẩmcó một không khí, linh hồn, một sinh mệnh sống thực sự… Những chi tiếtkiểu này trong các loại tự sự cỡ vừa và nhỏ ít có

1.1.2.5 Tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật

Theo Bakhtin, trong sử thi, giữa người trần thuật và nội dung trầnthuật luôn tồn tại một khoảng cách Khoảng cách này quy định sự tôn kính,lí tưởng hóa của tác giả với đối tượng miêu tả Tiểu thuyết xóa bỏ khoảngcách này để miêu tả hiện thực như cái đang xảy ra so với thời của ngườitrần thuật Là người cùng thời, nên cho phép người trần thuật tiếp xúc, nhìnnhận các nhân vật gần gũi như những người bình thường, có thể hiểu đượchọ bằng kinh nghiệm của mình Chính khoảng cách gần gũi này làm chotiểu thuyết trở thành một thể loại dân chủ, nó cho phép người trần thuật cóthể có thái độ thân mật, thậm chí suồng sã đối với nhân vật, do đó có thểnhìn nhân vật từ nhiều chiều, sử dụng nhiều giọng nói Tiểu thuyết hấp thumọi loại giọng điệu khác nhau của đời sống, cho nên có khả năng tạo nênnhững đối thoại giữa các giọng khác nhau mà ta gọi là đa thanh, đa giọng

1.1.2.6 Tiểu thuyết là thể loại có khả năng tổng hợp nhiều nhất những đặc trưng nghệ thuật của các loại hình nghệ thuật khác

Trang 16

Tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng hợp Từ trong tiềmnăng thể loại, tiểu thuyết có khả năng tổng hợp những phong cách nghệthuật của các thể loại văn học khác như thơ, kịch, kí, và khả năng tổnghợp những thủ pháp nghệ thuật của các loại hình lân cận như điện ảnh, hộihọa, điêu khắc, âm nhạc, Vì vậy, nó tiếp thu những cái tốt đẹp của các thểloại đã có, sáng tạo thêm những cái mới Có thể bắt gặp trong tiểu thuyếtnhững rung động tinh tế, cảm xúc dâng trào của thơ ca, những xung đột xãhội gay gắt của hình thái kịch, những mảng hiện thực nóng hổi chất sốngtrực tiếp của kí, những sắc màu của hội họa, những điệp khúc, âm thanh của

âm nhạc, sự hỗ trợ, thay thế kí hiệu ngôn ngữ bằng những khuôn hình củađiện ảnh, những bức chân dung hài hòa, cân xứng của điêu khắc, Tiểuthuyết thế kỷ XIX và XX đã cung cấp nhiều mẫu mực về sự tổng hợp đó.Chẳng hạn, tiểu thuyết sử thi - tâm lí của L.Tonxtoi, tiểu thuyết - kịch củaMarcel Proust, tiểu thuyết thế sự - trữ tình của M Gorki, tiểu thuyết sử thi -trữ tình của Hemingue,… Những hiện tượng tổng hợp đó cho thấy thể loạitiểu thuyết là thể loại luôn vận động không đứng yên

1.2 Vài nét về đề tài nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.2.1 Nông thôn trong tiểu thuyết trước 1945

Xã hội Việt Nam trước 1945 có sự biến đổi to lớn, từ chế độ thuầnnhất phong kiến đã chuyển sang chế độ thực dân nửa phong kiến Nghĩa làcó sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, cơ cấu kinh tế và cơ cấu giai cấp, nhưngriêng ở nông thôn Việt Nam thì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quan hệsản xuất phong kiến gắn liền với sự tồn tại của giai cấp địa chủ và nông dânvề cơ bản vẫn là như trước Điều đáng nói là sự áp bức giai cấp ở đây (cụthể giữa địa chủ và nông dân), ngày một gay gắt hơn, căng thẳng hơn Bứctranh này chúng ta có thể nhận thấy rõ qua nhiều tác phẩm kí sự, truyệnngắn, đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhiều tác giả Riêng

Trang 17

tiểu thuyết viết về nông thôn phải đến những năm 20 của thế kỉ XX mới

xuất hiện Nhà văn Hoàng Minh Tường cho rằng: “Nếu chỉ bàn riêng về văn học Việt Nam từ khi có chữ quốc ngữ thì đoản thiên tiểu thuyết thành tựu đầu tiên có lẽ không ngoài “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn viết về cảnh khốn cùng ở nông thôn, ở những năm đầu thế kỉ XX” [60; 62].

Sau Phạm Duy Tốn ta có thể kể đến Hồ Biểu Chánh Ông là nhà văn cónhiều thành công ở đề tài nông thôn Hồ Biểu Chánh không chỉ viết về quêhương mình, không gian hiện thực trong tiểu thuyết của ông là cả vùng đấtNam bộ Viết về nông thôn Nam bộ, Hồ Biểu Chánh đã tập trung xây dựnghình ảnh người nông dân, thể hiện đậm nét quan điểm nghệ thuật của mộtnhà văn trong buổi giao thời của lịch sử văn học Việt Nam Là một nhà vănluôn quan tâm đến quần chúng lao động, Hồ Biểu Chánh không chỉ thể hiệnsự thông cảm, sẵn sàng chia sẻ trước những số phận bất hạnh mà còn trântrọng những đức tính tốt đẹp của họ Với những con người đáng yêu vàđáng trân trọng như thế, ông mong muốn họ sẽ được sống cuộc sống hạnhphúc Vì vậy, kết thúc tác phẩm bao giờ cũng có hậu Tất cả những ngườinông dân đại diện cho chính nghĩa đều được đền bù xứng đáng Có thểthấy, ước mơ ấy sẽ không thành hiện thực hoàn toàn nhưng một chút lãngmạn tích cực đó lại có tác dụng xoa dịu nỗi đau của bao người đang cònphải gánh lấy bao sự ngang trái của cuộc đời Nếu không có sự thông cảm,yêu thương đối với người nông dân nghèo khổ, chắc hẳn tác giả sẽ khôngcó được tình cảm trên Tuy nhiên, qua tiểu thuyết của mình, Hồ Biểu Chánhcòn thể hiện cái nhìn còn lệch lạc, có phần xem nhẹ vai trò của người nôngdân trong xã hội Từ đó, ông chưa xác định đúng mức vị trí của họ trongcuộc đấu tranh xóa bỏ bất công, chống áp bức Cuộc đấu tranh mặc dù còndiễn ra tự phát, nhưng cũng có sức lan rộng ở Nam bộ vào những năm đầuthế kỉ XX

Trang 18

Đó là hai tác giả mở đầu cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Phảiđến những năm 30 của thế kỉ XX, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại mới đạtđến đỉnh cao Vì vậy, khi tìm hiểu về tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyếtviết về nông thôn và người nông dân nói riêng, chúng ta có thể bắt đầu từ

1932 để nghiên cứu

Từ 1932 - 1945, các nhà văn đã có ý thức cao của một người cầm bút.Mỗi nhà văn đã dần xác lập được quan điểm nghệ thuật và khuynh hướngthẩm mĩ của riêng mình Sự khác nhau này dẫn đến sự phân hóa thànhnhiều xu hướng trong nội bộ nền văn học Văn học 1932-1945 phân ra làm

3 dòng chính: Văn học lãng mạn, Văn học hiện thực phê phán và Văn họccách mạng Riêng tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn chủ yếu được xuấthiện trong các sáng tác của văn học lãng mạn và văn học hiện thực phêphán

1.2.1.1 Nông thôn trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

Tiêu biểu cho dòng văn học lãng mạn là nhóm Tự lực văn đoàn Trướcthời kì Mặt trận dân chủ, các nhà văn Tự lực văn đoàn ít viết về nông thôn,nếu có thì họ cũng như các nhà văn lãng mạn khác, coi thường hoặc khinhkhi, giễu cợt người dân quê Đến thời kì Mặt trận dân chủ, thực tế xã hội vàtâm lí độc giả đã có ít nhiều thay đổi, Tự lực văn đoàn đã chuyển hướngtrang viết của mình về với nông thôn và người nông dân Trên tuần báo

Ngày nay - cơ quan ngôn luận của nhóm - họ thêm mục "Bùn lầy nước

đọng" chuyên viết về dân quê Khi viết về nông thôn và người nông dân,các nhà văn Tự lực văn đoàn đã nhìn thấy được cuộc sống tối tăm, cực khổcủa nông dân Họ thấy nông dân bị bóc lột, bị hà hiếp, đói rách, thất học bởi phải chịu hai tầng áp bức Họ mong muốn đem những người sống trong

“bùn lầy nước đọng” này đến với cuộc sống vui tươi, hạnh phúc Đặt tronghoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, tư tưởng đó của Tự lực văn đoàn làtiến bộ Thái độ chân thành cảm thông với cuộc sống cơ cực của người dân

Trang 19

quê, mong muốn cải thiện cuộc sống nông thôn là điều đáng được trântrọng nhưng Tự lực văn đoàn lại tin rằng những người địa chủ, trí thức sẽ lànhững người dẫn dắt, nâng đỡ người nông dân thoát khỏi đời sống cơ cực.Lấy chủ đề về nông thôn, về suy nghĩ của người thanh niên muốn gắn bó

với quê hương, phục vụ quê hương Tác phẩm Hai vẻ đẹp của Nhất Linh

vẫn là câu chuyện về cái tôi, cái tôi đi tìm hạnh phúc trong con đường phụcvụ người nông dân Nhân vật chính là Doãn, một chàng thanh niên vốn connhà nghèo, nhưng làm em nuôi bà Thượng nên được sang Pháp du học, thi

đỗ cử nhân Luật Doãn không thích làm quan, suốt ngày mải mê vẽ nhữngbức tranh về nông thôn, vì Doãn muốn gần gũi với nỗi khổ của dân quê.Tuy nhiên Doãn sống xa quê hương từ thuở bé, nên chàng không cảm nhậnđược cái sục sôi, hăng say lao động của cuộc sống đời thực Cần phải đượctiếp nhận cái sức nóng hổi của cuộc sống thực, cần được rèn luyện trongthực tế đấu tranh mới có thể đi tới một chí hướng sâu sắc được Sau nhữngsuy nghĩ lao lung, Doãn mới có một lời tự hứa, chưa rõ Doãn sẽ làm gì Tácphẩm chấm hết, để lại cho người đọc một nỗi băn khoăn là bởi cái hướngcòn mơ hồ quá, chính tác giả cũng chẳng rõ Doãn sẽ làm gì !

Tương tự, Duy trong Con đường sáng, Bảo, Hạc trong Gia đình cũng giải quyết vấn đề một cách mơ hồ, không dứt khoát Con đường sáng của

Hoàng Ðạo viết năm 1938 Hoàng Ðạo quan niệm: thanh niên trụy lạc thìđau khổ Họ phải sống có lí tưởng Họ phải thoát con đường tối, con đườngtrụy lạc, đi tìm "Con đường sáng" Con đường sáng ấy là ở cuộc sống phụcvụ dân quê Nó gập ghềnh khúc khuỷu Phải kiên trì đi tới mới thành côngvà có hạnh phúc Duy là một thanh niên có học, con nhà giàu và đã lao vàocon đường trụy lạc Nhưng Duy sớm nhận ra được sự trống rỗng trong cuộcđời Có lúc Duy muốn quyên sinh Duy lo sợ những ngày sắp tới Duy mơước một cuộc đời giản dị, trong sạch Duy tha thiết sống và tình yêu củaThơ khiến cho Duy càng tha thiết với sự sống hơn Gần Thơ, gần cuộc sống

Trang 20

nơi thôn dã, dần dần Duy đã tìm thấy hạnh phúc ở nơi đây Quan tâm đếnđời sống của nông dân, Duy buồn rầu nhận thấy những nỗi khổ cực của họ.Duy đi tìm lí tưởng, lí tưởng đó là :"làm dịu nỗi đau khổ của nông dân, đưanhững người sống tấm thảm kịch kia đến một đời êm đẹp" Thế là Thơ vàDuy bắt tay vào công việc Nhưng công việc to lớn, khó khăn quá: "xungquanh thành kiến mạnh mẽ và kiên cố quá, sự ngu độn dày đặc quá Duy cócái cảm tưởng rằng mình chỉ là một con ruồi mắc trong một cái mạng nhện,vùng vẫy mãi không sao thoát ra được Chàng cảm thấy cái yếu đuối, cáihèn mọn của con người trước trái núi sừng sững ấy " Chính bởi cái xuhướng "bình dân" của tác phẩm không phải là xu hướng cách mạng, chonên: "sau một giây mộng tưởng ngắn ngủi Duy càng thấy vô vị chua caycủa thực tế; ở đây chỉ có chàng với cái yếu đuối cái hèn mòn ".

Gia đình của Khải Hưng viết 1936 Khải Hưng đã đối lập cuộc sống

được miêu tả như là sự thanh thản, đầy hạnh phúc của cặp vợ chồng Hạc,Bảo "làm ruộng", với cuộc sống nhỏ nhen, kình địch về địa vị xã hội củanhững anh chị em trong một đại gia đình phong kiến Hạc đang học "Ðốctờ", bỏ về ấp cùng với Bảo thực hiện những công cuộc cải cách ở ấp mìnhđể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần dân quê Họ tuy vẫn thu tônhưng sau khi đã nạp đủ thuế còn lại bao nhiêu đem dốc cả vào công việccải thiện đời sống cho tá điền như phát thuốc, đắp đường, xây trường học,sân vận động và dựng cả một khu nhà nghỉ mát Như tất cả những nhân vậtthơ mộng khác của Khái Hưng, Bảo và Hạc đã thành công một cách dễdàng Bảo và Hạc sống thỏa mãn, thanh thản trong công cuộc từ thiện ấy:

"Hạnh phúc của họ tức là hạnh phúc của ta còn gì sung sướng bằng trôngthấy ở trước mắt những người dân quê mặt mũi sạch sẽ, nô đùa trò truyệnthảnh thơi "

Trang 21

Như vậy, khi tin rằng những người địa chủ, trí thức sẽ là những ngườidẫn dắt, nâng đỡ người nông dân thoát khỏi đời sống cơ cực là một suynghĩ hoàn toàn mang tính chất cải lương, nửa vời, ảo tưởng, bế tắc trongviệc giải quyết các vấn đề xã hội Bởi vấn đề nông dân trong xã hội thuộcđịa nửa phong kiến những năm 1932 - 1945 gắn liền với vấn đề dân tộc.Dân tộc có độc lập thì dân cày mới có ruộng Đó là một quá trình đấu tranhlâu dài chứ không thể giải quyết nóng vội ngày một ngày hai như trong cáctiểu thuyết của Tự lực văn đoàn được Vì trên thực tế không thể dựa vàolòng từ tâm, nhân ái của một hoặc một vài cá nhân là có thể thay đổi đượcđời sống của người nông dân lúc bấy giờ

Không chỉ ảo tưởng, bế tắc trong con đường giải phóng người nôngdân ra khỏi “bùn đen” mà các nhà văn Tự lực văn đoàn còn có hạn chế nữa

đó là có lúc lại tỏ ra khinh bỉ miệt thị người nông dân Doãn trong Hai vẻ đẹp cho rằng: "xã hội dân quê bao giờ cũng nghèo xơ, nghèo xác như bây

giờ Hai mươi năm trước đây cũng vậy Hai mươi năm sau nữa cũng thếnày thôi Không có chút hy vọng gì về một sự đổi thay và kịch liệt như mộttrận gió mạnh nổi lên thổi sạch hết bụi cát, rơm rác" Đối với Dũng trong

Ðoạn tuyệt thì cho nông dân quen sống với cảnh khổ: "không hề khao khát

một cuộc đời sáng sủa hơn, mong ước một ngày mai tươi đẹp hơn ngàyhôm nay"

Như vậy, bên cạnh những mặt đã đạt được thì tiểu thuyết viết về nôngthôn của nhóm Tự lực văn đoàn còn có không ít những mặt hạn chế Dođứng trên lập trường của giai cấp tư sản nên khi đi vào khai thác đề tài này,các nhà văn đã có cái nhìn phiến diện, lệch lạc nghiêm trọng Trong hoàncảnh lúc bấy giờ, dưới sự ảnh hưởng của văn học vô sản thế giới và sự pháttriển mạnh mẽ của cách mạng trong nước đã dẫn tới sự ra đời của một tràolưu văn học tiến bộ hơn

Trang 22

1.2.1.2 Nông thôn trong tiểu thuyết hiện thực phê phán

Đóng góp lớn nhất của tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn là các sángtác của các nhà văn hiện thực phê phán Văn học hiện thực phê phán 1932-

1945 phát triển rất mạnh mẽ bởi nó có điều kiện từ trong đời sống chính trị

- xã hội Thấm thía cảnh người nông dân nghèo khổ, bị chà đạp lên nhânphẩm, các nhà văn hiện thực phê phán nhận thấy cái cách chống đối lại xãhội của văn học lãng mạn là không thích hợp mà cần có một thứ vănchương sắc lạnh hơn, hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy đấu tranh của quầnchúng lao động chống lại bọn bóc lột Mặc dù cũng thuộc ý thức hệ tư sảnnhưng các nhà văn thuộc dòng văn học hiện thực phê phán có nhiều điểmtiến bộ Họ đã thoát ra khỏi quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của vănhọc lãng mạn và đã đưa ra quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” Để làmđược nhiệm vụ phản ánh hiện thực phong phú của thời đại và tham gia vàocuộc đấu tranh chung, văn học hiện thực phê phán đã sử dụng một số thểloại có khả năng phản ánh cuộc sống sâu sắc và rộng lớn, trong đó tiểuthuyết là thể loại được ưu tiên và tiêu biểu nhất cho thời kì này Tiêu biểunhất vì nó chiếm số lượng lớn, đồng thời dung lượng phản ánh cuộc sốngcũng lớn hơn rất nhiều so với các thể loại khác 1930 - 1945 là thời kì xãhội Việt Nam phân hóa mạnh mẽ, có những mâu thuẫn gay gắt nhất và khuvực thực sự được quan tâm và để lại dấu ấn nhất trong văn học chính lànông thôn Nhiều nhà văn hiện thực đã thành công trên thể loại tiểu thuyết

khi viết về nông thôn và người nông dân Tiêu biểu là Ngô Tất Tố với Tắt đèn, Nguyễn Công Hoan với Bước đường cùng, Vũ Trọng Phụng với Vỡ đê và Giông tố Đi sâu vào đề tài nông thôn và người nông dân các nhà văn

đã bóc trần được bộ mặt của xã hội thực dân nửa phong kiến Họ đã thấyđược mâu thuẫn được đặt lên hàng đầu trong xã hội nông thôn lúc bấy giờlà mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ, thấy được cuộc sống ảm đạm, ngột

Trang 23

ngạt, đầy tủi nhục của người nông dân, họ không chỉ bị tước mất cơm áomà còn bị tước mất nhân phẩm Cuộc sống của người nông dân khôngnhững bị bủa vây bởi nhiều hủ tục nhiêu khê, hà khắc mà họ còn phải gánhchịu sự bóc lột, chèn ép của bọn nhà giàu tham lam vô độ, của bọn cườnghào sâu mọt hống hách, của bọn quan lại coi việc đục khoét là hành độngkhôn ngoan.

Trước Cách Mạng tháng Tám, thuế má là tai họa khủng khiếp nhất đốivới người nông dân Xoáy sâu vào thuế thân - một thứ thuế vô nhân đạo

trong chính sách thuế khóa dã man của chế độ thuộc địa, qua tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã phơi bày đến tận cùng bản chất bóc lột xấu xa, bẩn thỉu

của chế độ thực dân nửa phong kiến Việt Nam: bọn địa chủ độc ác, keo kiệt(vợ chồng Nghị Quế); bọn cường hào gian tham, thô lỗ; bọn quan lại dâm

ô, bỉ ổi (quan phủ Tư Ân); bọn lính tráng, tay sai đầu trâu mặt ngựa tàn ác.Tất cả hùa nhau lại cấu kết với thực dân, thi nhau hà hiếp, bóp đầu, bóp cổ,đẩy người nông dân khốn khổ đến bước đường cùng (chị Dậu)

Trong Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), tác giả đã vạch trần

bản chất xấu xa, đầy tội lỗi của bộ mặt cai trị nông thôn và dựng lên nhânvật Nghị Lại - một nhân vật điển hình khá toàn diện về giai cấp địa chủ thốinát, phản động với tính cách xảo quyệt, thủ đoạn đầy mưu mô Tác giả tậptrung vạch trần tham vọng cướp ruộng đất của bọn địa chủ, chủ yếu bằngthủ đoạn cho vay cắt cổ Chính đây là nguyên nhân đã đẩy gia đình anh Pha

vào cảnh nhà nát cửa tan, tới cảnh bước đường cùng.

Ở tác phẩm Vỡ đê, dưới ngòi bút của Vũ Trọng Phụng, nạn nhân của

chế độ thực dân nửa phong kiến không chỉ là một vài người lẻ tẻ mà cảhàng loạt người bị bần cùng hóa Họ phải bỏ làng đi kiếm ăn với nhữngmanh chiếu rách, những khăn nải sau lưng Người đọc không khỏi bị ámảnh trước cảnh “người gánh hai cái thúng, trong thúng có một vài đứa bé,

Trang 24

trong mỗi đứa bé có vài ngày đói khát” hay cảnh những đưa bé trần truồngchửi nhau vì một quả sung xanh, vài ngọn rau Đó là những cảnh xảy rahàng ngày ở nông thôn nhưng chưa bao giờ được phản ánh đầy đủ, trung

thành như trong Vỡ đê.

Có thể nói đời sống nông thôn và số phận của người nông dân trongvăn học hiện thực phê phán đã được nhìn nhận một cách khác, tiến bộ hơn

so với cách nhìn của văn học lãng mạn, nó đi sâu vào bản chất của đời sốnghiện thực Các nhà văn hiện thực phê phán đã phản ánh được mâu thuẫnđang diễn ra gay gắt trong xã hội, lật tẩy bộ mặt thống trị, chỉ cho ngườinông dân thấy rõ kẻ thù của mình và gieo vào lòng người một tinh thầnphản kháng mạnh mẽ, đồng thời phát huy được vẻ đẹp của người nông dân,yêu thương họ như những người cùng cảnh ngộ Đó là điều mà các nhà vănlãng mạn chưa làm được

Bên cạnh những đóng góp to lớn trên thì ở mảng đề tài nông thôn vàngười nông dân, dòng văn học hiện thực phê phán còn có những hạn chế.Các nhà văn mới chỉ dừng lại ở sự đồng cảm trước cảnh ngộ của ngườinông dân; phê phán, tố cáo các thế lực đã đẩy họ vào con đường cùng chứchưa tìm ra cách đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân, chưatìm được con đường đấu tranh đúng đắn để rồi nhân vật của học rơi vào bếtắc, hoặc tìm đến cái chết, hoặc cam chịu cuộc sống nô lệ Nông thôn trongcon mắt các nhà văn hiện thực lúc bấy giờ chỉ là bức tranh xám xịt, đen tối.Người nông dân chỉ là nạn nhân đau khổ, bất lực chứ chưa phải là lựclượng có khả năng giải phóng mình, nếu có thì cũng rất mờ nhạt Vấn đềnông thôn đến đây hầu như bế tắc và bi quan Sự bế tắc và bi quan đó củadòng văn học này một phần do các tác giả chưa ý thức sâu sắc vấn đề giaicấp và đấu tranh giai cấp trong xã hội

Như vậy, văn học trước Cách mạng tháng Tám nói chung và tiểuthuyết trước cách mạng nói riêng xét ở mặt nào đó còn phiến diện Điều này

Trang 25

có thể do văn học chưa có ánh sáng của Đảng dẫn đường Mặc dù Đảngcộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, nhưng trong khoảng thời gian này,Đảng chủ yếu hoạt động bí mật Cho đến cách mạng tháng Tám thành công,Đảng ra hoạt động công khai thì văn học mới có những hướng đi rõ ràng.

1.2.2 Nông thôn trong tiểu thuyết từ 1945 đến 1975

1.2.2.1 Thời kỳ 1945 - 1954

Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc ViệtNam Với thắng lợi này, nước ta từ một nước thuộc địa đã trở thành mộtnước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hoà, đưa nhân dân ta từ thân phận

nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà Và một điềumà chúng ta dễ nhận thấy là bộ mặt của nông thôn Việt Nam đã có nhữngthay đổi to lớn Thành công của cuộc Cách mạng đã đem đến cho ngườinông dân cuộc sống mới, sinh mệnh mới Giờ đây ruộng đất đã được traotận tay với quyền làm chủ và họ bắt đầu quá trình xây dựng và kiến thiếtcuộc sống mới Nhưng trong quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn cònnhững vấn đề xã hội, những mặt tiêu cực cản trở bước phát triển Trong sựnghiệp chung của cách mạng, văn học đã có những đóng góp to lớn Thờiđại mới yêu cầu văn học phải đổi mới Để kịp thời phản ánh những vấn đềmới mà cuộc sống đặt ra, những thế hệ nhà văn Việt Nam đã kịp thời “nhậnđường”, tự nguyện sống hòa mình với công nông binh và sáng tác theo địnhhướng văn nghệ của Đảng

Lịch sử giai đoạn này đã đặt người nông dân vào trong hoàn cảnhmới là vừa thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa phải tiếp tụctham gia vào cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giải phóng đấtnước Chính vì vậy, trong những năm này, văn xuôi viết về nông thôn hầunhư không tách riêng ra thành một mảng rõ rệt với văn xuôi nói chung Đềtài nông thôn cũng nằm trong đề tài kháng chiến, hoà quyện trong một cái

tên chung là văn xuôi kháng chiến Tiêu biểu là các tác phẩm Thư nhà của

Trang 26

Hồ Phương, Làng của Kim Lân, Đánh trận giặc lúa của Bùi Hiển, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Trong những tác phẩm này, tiểu thuyết Con trâu

của Nguyễn Văn Bổng là tác phẩm tiêu biểu cho nông thôn trong khángchiến Cái mới của tác phẩm là một vấn đề cụ thể, vấn đề con trâu để mở ramột loạt những vấn đề khác có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với việcthể hiện đời sống người nông dân mà còn có ý nghĩa đối với việc thể hiệnhình ảnh về cuộc kháng chiến toàn dân, trong đó nông dân là đội quân chủlực Trong tiểu thuyết này, con trâu đã trở thành một “chiến trường” giữa tavà địch Giặc Pháp chủ trương phá hoại sản xuất, phá hoại mùa màng để takhông có khả năng trường kì kháng chiến Chúng ra lệnh cho lính đi càn làcứ giết một con trâu bằng giết ba nông dân Chúng biết rất rõ con trâu là tàisản, là một phần cuộc đời của người nông dân trong những năm khángchiến gian khổ Vấn đề “con trâu” được đặt ra không chỉ vì “Con trâu là đầu

cơ nghiệp”, vì đời sống cơm áo của một gia đình riêng lẻ mà là vì sự sốngcòn của cả dân tộc, cả đất nước Bảo vệ trâu không đơn giản là vấn đề contrâu mà lớn hơn, khái quát hơn là bảo vệ sản xuất, nuôi dưỡng sức dân,chiến đấu lâu dài, cũng là khâu thử thách quyết tâm bám địch giữ làng củangười nông dân vùng địch hậu trong cuộc kháng chiến trường kì đầy giankhổ Thông qua việc bảo vệ trâu và những người du kích bám làng đánhgiặc, tác giả đã phản ánh cả một quá trình phát triển và trưởng thành củacuộc kháng chiến, của người nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng có đủ cơsở tinh thần và vật chất để làm thất bại âm mưu của địch và đưa cuộc khángchiến đến thắng lợi Cũng trong tác phẩm này, Nguyễn Văn Bổng tỏ ra làngười rất am hiểu tâm lí người nông dân, đặc biệt nhất là ở những đoạnmiêu tả tình cảm của người nông dân đối với con trâu Bằng tài năng củamình, nhà văn Nguyễn Văn Bổng đã đưa đến cho người đọc một tác phẩmcó ý nghĩa sâu sắc và mang không khí riêng

Trang 27

Thành công của tiểu thuyết viết về nông thôn và người nông dân giaiđoạn này là đã xây dựng được những biến cố trong tác phẩm gắn liền vớinhững sự kiện trọng đại của lịch sử Tuy nhiên, do hoạt động trong điềukiện hết sức khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nên tiểuthuyết trong những năm 1945 - 1954 chưa có nhiều điều kiện để phát triển.Hạn chế của tiểu thuyết giai đoạn này là các nhà văn chưa chú ý nhiều đếntính cách của nhân vật Nhân vật chưa được rõ nét, chưa thực sinh động, cátính còn mờ nhạt Yêu cầu của hiện thực mới đặt ra đối với đội ngũ nhà vănlúc này là phải đổi mới quan niệm sáng tác, đổi mới cách nhìn, cách nghĩ vềngười nông dân trong giai đoạn lịch sử mà lực lượng công - nông - binhđang tiên phong nắm lá cờ cách mạng Việt Nam.

1.2.2.2 Thời kỳ 1954 - 1975

Từ sau năm 1954, văn học phát triển trong những hoàn cảnh mới Đâylà thời kì đầy những sự kiện lớn, những biến cố phức tạp, dồn dập tác độngtới đời sống văn học Cũng như các giai đoạn trước, văn học giai đoạn nàynói chung và tiểu thuyết nói riêng dành nhiều trang viết về đề tài nông thônvà người nông dân

Nông thôn Việt Nam giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội 1954

-1964 nối lên hai sự kiện quan trọng: Cải cách ruộng đất và phong trào xâydựng hợp tác xã Mảng đề tài này đã có những thành tựu khá sớm và gópphần quan trọng vào việc khẳng định sự phát triển đúng hướng của vănxuôi trong những bước chuyển mình của cách mạng

Cải cách ruộng đất là sự kiện trọng đại mở đầu thời kì xây dựng cuộcsống mới, con người mới ở nông thôn Đó cũng là mảng hiện thực lớn đầutiên mà nhà văn hướng tới Vì vậy, những sáng tác về sự kiện cải cáchruộng đất đã lần lượt xuất hiện trong những năm 1955 - 1958 Riêng ở thể

loại tiểu thuyết, trước hết phải kể đến Bếp đỏ lửa của Nguyễn Văn Bổng, Những ngày bão táp của Hữu Mai, Đất chuyển của Nguyễn Khắc Trứ,

Trang 28

Mặc dù không giống nhau ở cách khai thác vấn đề nhưng các tác phẩm đềugặp nhau ở việc lí giải sự kiện cải cách ruộng đất như là trận tuyến chiếnđấu đầu tiên cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, nhằm “xóa bỏ chế độchiếm hữu ruộng đất phong kiến của giai cấp địa chủ, thực hiện quyền sởhữu ruộng đất của nông dân” Các nhà văn đã vạch trần bản chất bóc lột,hành vi tội ác của giai cấp địa chủ trước và trong cải cách ruộng đất; đồngthời cũng tập trung thể hiện sự kiện này là một cuộc cách mạng vĩ đại ởnông thôn, giải phóng hàng chục triệu nông dân đưa họ lên địa vị làm chủ,thực hiện cái ước mơ “người cày có ruộng” Bên cạnh việc khẳng địnhthắng lợi của cuộc cách mạng này, các tác giả đều nhận thấy cuộc đấu tranhtuy thắng lợi nhưng mới chỉ là bước đầu Vì vậy bằng ngòi bút linh hoạt củangười viết kí, các nhà văn đã lướt qua nhiều sự việc, dựng lại không khínhững ngày bão táp của cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn Nhiều nhânvật được đặt trong những cảnh ngộ éo le; phải trải qua nhiều thử thách dữdội, căng thẳng vẫn tin ở chính sách của Đảng, kiên trì đấu tranh cho sựthắng lợi của cách mạng Bên cạnh những thành công còn có không ítnhững hạn chế Các tác phẩm viết về cải cách ruộng đất vì muốn phản ánhkịp thời sự kiện này nên chưa có sự gia công về mặt nghệ thuật Nhiều tácphẩm chưa vượt khỏi giới hạn của một kí sự, ghi chép, nặng về tường thuật,kể chuyện, cốt truyện thường na ná giống nhau Nhân vật còn đơn giản,chung chung, mờ nhạt, chưa có gương mặt riêng, sống động Nhân vậtthường được miêu tả từ bên ngoài, phía hành động chứ chưa phải là sự soisáng về tâm lí và đời sống nội tâm

Thành tựu nổi bật của tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì xây dựng

hợp tác hóa nông nghiệp phải kể đến các tác phẩm: Xung đột của Nguyễn Khải, Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm của Đào Vũ, Con trâu bạc của Chu

Văn, Không chỉ bám sát hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội, phản ánhcuộc đấu tranh giữa hai con đường đang diễn ra quyết liệt, đa dạng ở nông

Trang 29

thôn mà còn giải quyết được nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn trongquá trình đưa nông thôn từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, chuyển ngườinông dân từ vị trí làm chủ cá thể sang cương vị làm chủ tập thể Đó cũng làcuộc đấu tranh để hình thành và khẳng định cái mới.

Tiểu thuyết Xung đột (tập 1) của Nguyến Khải ra đời năm 1959 được

xem như là sự mở đầu cho một loạt sáng tác viết về nông thôn thời kì xâydựng hòa bình Thông qua diễn biến một đợt sửa sai ở xứ Hố và nhữngxung đột xã hội, gia đình, cá nhân Nguyễn Khải đã kịp thời phản ánhcuộc đấu tranh giữa hai con đường ở một vùng nông thôn công giáo thời kìđầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Ở tập hai của bộ tiểu thuyết này (ra đời năm1961) tác giả tiếp tục triển khai chủ đề này trong một hoàn cảnh mới Đấylà lúc xứ Hồ bước vào thời kì vận động phong trào hợp tác mùa thu là thờikì người dân công giáo “sửa sai” những lỗi lầm cũ để vươn lên làm chủcuộc đời mới Thông qua tác phẩm, Nguyễn Khải đã đặt ra và giải quyếtđược những vấn đề thiết thực, có ý nghĩa toàn xã hội: để người nông dânthực sự được tự do cần phải giải phóng họ ra khỏi quan hệ sản xuất cũ, đưahọ vào con đường làm ăn tập thể Và với người dân công giáo chỉ thực sựlàm chủ đời mình khi họ được giải phóng cả phần xác lẫn phần hồn, việcđời và sự đạo, đưa họ vào quĩ đạo của chủ nghĩa xã hội để lòng kính chúakhông đối lập với tình yêu chủ nghĩa xã hội

Đối với nhà văn, viết về nông thôn không phải chỉ là việc trình bàyđầy đủ diễn biến từng bước của phong trào Điều căn bản là người viết phảinắm bắt được những vấn đề bản chất của hiện thực, đi sâu vào phân tíchnhững mâu thuẫn trong cuộc sống làm cho người đọc thấy rõ cuộc cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở nông thôn đã đem lại biết bao đổi thay cơ bảntrong cuộc sống xã hội, trong tâm tư, tình cảm và ước mơ của con người

Nhà văn Đào Vũ qua Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm đã làm được điều đó.

Trong hai cuốn tiểu thuyết này, nhà văn đã để cho người nông dân suy nghĩ

Trang 30

về chủ nghĩa xã hội, về nông thôn mới ngay trên luống cày, mảnh vườn, cáisân, con trâu của mình - những vật sở hữu gắn bó suốt đời với họ, chi phốibao tâm tư, nguyện vọng của họ Đối với họ, chủ nghĩa xã hội chỉ thắng lợikhi nó thực sự trở thành con đường đi tự giác trong nhận thức, tình cảm vàhành động của mọi người Để cho cuộc sống mới chiến thắng không cónghĩa là buộc mọi người phải chấp nhận một hướng đi đã định trước Chủnghĩa xã hội chỉ thực sự có đủ sức mạnh cuốn hút người nông dân khi nóđem lại một cuộc sống hơn hẳn, mới hẳn và mỗi con người khi soi vào đóthấy gương mặt của mình tươi vui hơn Qua tác phẩm của mình, nhà vănĐào Vũ đã đặt ra và giải quyết những vấn đề có ý nghĩa phổ quát: sự đổithay trọng quan hệ sản xuất đã làm lay chuyển dữ dội, tận gốc rễ những tưtưởng bảo thủ, những ước mơ tính toán của người nông dân cá thể còn nặngduyên nợ với lối sống cũ đã tỏ ra lỗi thời và cản trở bước tiến của xã hội.Trong hoàn cảnh mới, con người phải đấu tranh và tự điều chỉnh lại mìnhcho phù hợp với sự vận động phát triển của xã hội.

Các tiểu thuyết viết về phong trào hợp tác hóa nông nghiệp thành côngtrên nhiều phương diện Đó là những tác phẩm giàu tính hiện thực và tínhchiến đấu, mang chiều sâu của trí tuệ khi giải quyết những vấn đề thời sự,phức tạp của đời sống Tuy nhiên, các tác phẩm còn có những hạn chế ởphương diện nghệ thuật Đó là còn mang nặng dấu vết của sự ghi chép,cách xây dựng nhân vật còn có những nét giả tạo, gượng ép chưa phù hợpvới lôgic nội tại của nhân vật, các tuyến nhân vật được tác giả phân chiatheo sự sắp đặt sẵn nên khá ổn định về tính cách, nhân vật nằm trong trạngthái tĩnh và đơn điệu về cá tính, tuyến nhân vật đơn tuyến

Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1964 - 1975), nhiệm vụ cứunước được đặt lên hàng đầu cho nên lí tưởng thẩm mĩ bao trùm lên văn họcgiai đoạn này là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Phát triển trong hoàncảnh lịch sử xã hội đó, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng chủ yếu

Trang 31

mang âm hưởng sử thi Tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn giai đoạn nàygặt hái được nhiều thành công cả về số lượng và chất lượng tác phẩm Tiêu

biểu phải kể đến: Bão biển, Đất mặn của Chu Văn; Đất làng, Buổi sáng của Nguyễn Thị Ngọc Tú; Cửa sông của Nguyễn Minh Châu; Chủ tịch huyện của Nguyễn Khải; Vùng quê yên tĩnh của Nguyễn Kiên, Những tác phẩm

này đều lấy bối cảnh nông thôn đang có phong trào cải tiến quản lí hợp tácxã và xây dựng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Chủ đề con người mới là chủđề chính của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này Đó là con ngườichủ nghĩa xã hội, con người sống và chiến đấu vì cộng đồng, dân tộc Trêncác trang viết của mình, các nhà văn chủ yếu tập trung đi vào miêu tả, khắchọa, ca ngợi ý chí của những con người mới trong sự nghiệp xây dựng nông

thôn đi theo con đường làm ăn tập thể (Tiệp, Ái, Vượng trong “Bão biển”; Khái trong Đất làng; Thức, Vượng, Đảm trong Vùng quê yên tĩnh), những con người mới trong chiến đấu vì lí tưởng dân tộc (anh Núp trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, chị Sứ trong Hòn đất của Anh Đức, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi) Bên cạnh những người

nông dân lí tưởng thì tiểu thuyết giai đoạn này cũng phê phán những conngười mang tư tưởng tư hữu, hám thành tích hoặc những kẻ phản độngchống lại chủ nghĩa xã hội ở nông thôn (một số cán bộ hợp tác xã Trung

Dũng trong Đất làng, Lũng trong Vùng quê yên tĩnh, Chánh Trương Hạp, Thầy già San, Cha Lương Duy Hoan trong Bão biển) Cùng với những

thành công, tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn giai đoạn này không tránhkhỏi những hạn chế Các nhà văn do quá lí tưởng hóa cuộc sống cho nên ởmột góc độ nhất định khi nhìn lại sẽ thấy sự khiên cưỡng Do chỉ tập trungkhai thác những biến động lớn của cả dân tộc nên dường như đời sống riêng

tư của các nhân vật còn mờ nhạt, nếu có thì cũng hòa vào cái ta chung củacộng đồng, những hiện thực chi tiết, những góc khuất của đời thường cũngít được quan tâm

Trang 32

Mặc dù còn có một số hạn chế song điều đáng ghi nhận của tiểu thuyếtviết về đề tài nông thôn giai đoạn này là các nhà văn đã khẳng định nôngthôn không chỉ là miền đất của những truyền thống văn hóa tốt đẹp mà cònlà hậu phương vững chắc, giữ vai trò quyết định nhất đến thắng lợi của cáchmạng Việt Nam.

1.2.3 Nông thôn trong tiểu thuyết từ 1975 đến nay

1.2.3.1 Từ 1975 đến 1985

Chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975 đã đưa nước ta đi đến thống nhấthoàn toàn, khép lại một trang sử hào hùng, oanh liệt của dân tộc Giờ đây cảnước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội với muôn vàn khó khăn chồng chất.Dẫu cho cuộc chiến đã lùi xa, tiếng súng đã chấm dứt nhưng những hậu quảnặng nề của các cuộc chiến tranh đã làm cho cuộc sống thời kỳ sau chiếntranh vốn đã khó khăn lại càng thêm khó khăn gấp bội Có thể thấy, đó làthời kỳ mà nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng Cơ chếquản lý bao cấp tỏ ra bất lực Do vậy, cùng với sự thay đổi mọi mặt trongđời sống xã hội đã kéo theo sự thay đổi trong nhận thức và tâm lý ở mỗingười Nếu như trước kia mọi người cùng đồng lòng chung sức cho chiếnthắng của dân tộc thì ngày nay con người phải đối mặt với bao lo toan cánhân, cho cuộc sống thường ngày Với muôn vàn khó khăn xuất hiện, bỗnglàm lay động mọi suy nghĩ và niềm tin của cá nhân mỗi người Thời kì nàyvăn học tiếp tục hướng về đề tài chiến tranh nhưng thiên về lí giải chiếnthắng và đánh giá sự mất mát, xuất hiện nhu cầu đi tìm nguyên nhân củanhững khó khăn trong đời sống xã hội

Mặc dù hoàn cảnh xã hội thời kì này có biến động lớn nhưng văn họcnói chung và tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn và người nông dân chưa cósự chuyển hướng rõ rệt, nó vẫn tiếp tục phát triển theo quĩ đạo của văn họcchống Mỹ Riêng trong tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn, hiện thực mớivẫn được nhìn nhận qua con mắt sử thi nhưng đó là hiện thực tương đối đầy

Trang 33

đủ và nhiều góc độ Chỉ từ 1980 trở đi thì những dấu hiệu đổi mới văn học

mới xuất hiện, tiêu biểu với các tiểu thuyết Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên), Bí thư cấp huyện (Đào Vũ) Đây là hai tác giả có quá trình viết về

nông thôn từ rất sớm Những vấn đề được lựa chọn đưa vào hai tác phẩmnày, thời điểm đó thực sự là những vấn đề xã hội bức thiết: đó là hiện tượng

ô dù, tham ô được nhắc tới để mọi người cùng nhận thức và tìm cách loại

bỏ (Nhìn dưới mặt trời), đó còn là nỗi khổ cực của người nông dân do cách thức làm ăn ở hợp tác cũ khi chưa có khoán được đề cập khá quyết liệt (Bí thư cấp huyện ).

Với cuốn tiểu thuyết Cù lao tràm xuất hiện năm 1985 của Nguyễn

Mạnh Tuấn có thể nhận thấy, văn xuôi viết về nông thôn đã chuyển lên mộtbình diện mới Trong tác phẩm này, tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề phẩmchất và năng lực của người cán bộ nông thôn và vấn đề xác định một đườnglối, chính sách thích hợp trong cải tạo, xây dựng nông thôn Nam Bộ Với

Cù lao tràm, Nguyễn Mạnh Tuấn đã “bước đầu chạm đúng vào thời điểm nóng nhất của hiện thực, của mọi mối quan tâm” Nó “đã thở được hơi thở nóng hổi của nông thôn Nam bộ” [27; 8] Bức tranh nông thôn được xây

dựng trong tác phẩm điển hình cho nông thôn Nam bộ bi đát, tối tăm Đó làmột hiện thực xã hội hỗn loạn, vô chính phủ, đời sống chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội đang bị đảo lộn bởi những tiêu cực, sai lầm Ngòi bút của tácgiả đã mạnh dạn đi sâu vào khám phá, đả kích những mặt tiêu cực của đờisống con người Tác giả đã chỉ ra những hạn chế của đội ngũ cán bộ lãnh

đạo và của người nông dân Cù lao Chàm thực sự đã để lại trong lòng người

đọc nhiều suy nghĩ về những vấn đề của cuộc sống hôm nay

Với những tác phẩm trên, chúng ta thấy tiểu thuyết giai đoạn này đãphân phần nào đi sâu vào những vấn đề “gai góc” của hiện thực nông thônlúc bấy giờ Tuy nhiên để thấy rõ sự chuyển biến của văn học nói chung và

Trang 34

tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng, chúng ta cần tìm hiểu giai đoạn sau1986.

1.2.3.2 Từ 1986 đến nay

Mười năm sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất nhưng cuộc sốngcủa nhân dân ta vẫn còn vô vàn khó khăn Công cuộc cải tạo và xây dựngxã hội chủ nghĩa bắt đầu bộc lộ những khiếm khuyết cả trong nhận thức vàtrong thực tiến Có thể thấy, đó là thời kỳ mà nền kinh tế nước ta lâm vàokhủng hoảng trầm trọng Cơ chế quản lý bao cấp tỏ ra bất lực Trong hoàncảnh lịch sử ấy, để giải quyết khó khăn trước mắt, nhằm xây dựng và pháttriển đất nước thì đổi mới là một lựa chọn khẩn thiết, dứt khoát và tất yếu,là cái đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, cũng là nỗi khát khao cháybỏng của toàn dân tộc nhằm thoát khỏi những khó khăn, thử thách của mộtđất nước mà cuộc chiến tranh kéo dài vừa mới qua đi

Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm1986), đời sống xã hội Việt Nam có những chuyển động tích cực Đó là sựđổi mới mang tính tất yếu của đời sống xã hội Việt Nam, là tiền đề đổi mớitrong đời sống văn học nghệ thuật nói chung và là sự đổi mới trong đề tàiviết về nông thôn nói riêng

Sau thời kỳ đổi mới, sự chuyển biến rõ nét nhất của văn xuôi nóichung và tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng thực sự đã nghiêng về các

vấn đề thể tài thế sự - những vấn đề của cuộc sống hằng ngày Khác với

tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn chống Mĩ là có tính sử thi: xây dựngchủ nghĩa xã hội, hợp tác hoá, hậu phương lớn và tiền tuyến lớn Yêu cầucủa hiện thực mới đòi hỏi người nghệ sĩ phải thay đổi cách nhìn nhận, cáchtiếp cận đời sống Trước đây, ở thời kỳ chiến tranh, mọi sự vật đều đượcnhận thức trên cơ sở sự phân biệt tốt - xấu, trắng - đen, đúng - sai Việcxem xét đánh giá con người chỉ cần thông qua những chuẩn mực có tínhtoàn dân Giờ đây, chiến tranh đã qua đi, con người trở về với cuộc sống

Trang 35

thường nhật với biết bao vấn đề mới nảy sinh Lúc này không thể áp dụngnhững chuẩn mực cũ được nữa khi đánh giá con người Bản chất của con

người luôn có sự song hành giữa phần “con” và phần “người”, giữa cái

thiện với cái ác Có một thời, ta chỉ dám nói đến phần thiện, phần người,viết theo kiểu noi gương người tốt - việc tốt thì giờ đây con người được tiếpcận khám phá ở nhiều chiều, nhiều hướng, được nhìn nhận một cách kháchquan như bản chất vốn có của nó Ngay cả những nhân vật tích cực cũngkhông còn được nhìn nhận theo hướng lý tưởng như trước Trong cuộcsống, họ cũng như bao con người bình thường khác, cũng có những sai lầm,cần phải nhìn nhận lại

Điều nói trên cho thấy, phát hiện và phản ánh con người không phảilà điều dễ dàng Đó là một quá trình đòi hỏi sự nhanh nhạy, sắc sảo vàchiêm nghiệm của nhà văn bởi bản thân con người là một khối chứa đầymâu thuẫn, phức tạp, hoà trộn cả mặt tốt và mặt xấu Nét đổi mới của cáctiểu thuyết viết về nông thôn thời kỳ này là đã dám đi vào phản ánh nhữngmặt chưa hoàn thiện trong con người Tuy nhiên, đó không phải là cái nhìn

bi quan, tiêu cực mà đó chính là cách giúp cho người đọc có được cái nhìnchân xác đầy đủ hơn về con người và cuộc sống trong thời đại dân chủ

Một sự đổi mới đáng ghi nhận nữa của văn xuôi viết về nông thôn

sau 1986 là các nhà văn đã có sự quan tâm mạnh mẽ đến số phận con người (như trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Bến không chồng của

Dương Hướng) và hạnh phúc cá nhân (như trong Thời xa vắng của Lê

Lựu) Chính sự thay đổi này đã góp phần tạo nên sức hút hấp dẫn tronglòng bạn đọc bởi tính chất hợp lý, mới mẻ, đáp ứng những đòi hỏi tất yếuvà có tính thời cuộc

Ở thời kỳ trước, hầu như không có sự tồn tại của cá nhân bởi nó đã bịhoà tan trong cộng đồng Ngay cả những mối quan hệ trong gia đình hầunhư đều có bàn tay tập thể chi phối, nhiều khi cũng có sự thiếu dân chủ,

Trang 36

thiếu công bằng nhưng không ai dám một mình chống chọi lại số đông,nhất là với chính quyền, đoàn thể Mọi tiêu chí đánh giá, nhận xét conngười cũng dựa trên quan điểm lập trường giai cấp Bởi vậy, văn chươnghầu như chỉ phản ánh bề nổi, ít đi sâu chú trọng vào những tâm tư, tình cảmcủa con ngưòi Nhưng bước vào giai đoạn này, cái nhìn của nhà văn đãkhác Nhà văn đứng trên phương diện của con người để nhìn nhận, đánh giácảm thông với con người Chính vì vậy, đã xuất hiện rất nhiều nhân vật vớisố phận bất hạnh, đầy bi kịch Từ quan niệm con người cộng đồng đãchuyển sang con người thế sự, con người số phận.

Trong tiểu thuyết Bến không chồng, nhân vật Hạnh hiện lên phẩm

chất của một con người với sự nhiệt tình và lòng vị tha Đây là nhân vậtsống hết mình với tình yêu, nhưng hạnh phúc thật trớ trêu Hạnh phải chấpnhận rời bỏ ngôi nhà và tình yêu của mình để trở về nhà mẹ đẻ, sống vật vờnhư một cái bóng Sự lựa chọn ấy đã nói lên số phận của Hạnh và đồng thờitố cáo những định kiến nặng nề và tình trạng mâu thuẫn giữa các dòng họdiễn ra nhiều nơi trong nông thôn Cũng trong tác phẩm này, nhân vậtNguyễn Vạn lại được đề cập ở một khía cạnh khác Là một thương binhgiải ngũ về làng, Vạn sống nhiệt tình với công việc chung, nhân cách trongsáng, đúng mực Nhưng cũng chính điều này mà tự anh đã tạo ra nhữnghàng rào định kiến, ràng buộc chính mình Vạn đã không dám dũng cảmđến với Nhân, bỏ qua tình cảm đẹp, rồi đến khi sau phút giây không tự chủlầm lỡ với Hạnh, Vạn đã phải chọn cho mình cái chết đầy đau đớn và xót

xa Bi kịch của Vạn là bi kịch của sự nhận thức ấu trĩ, sai lầm bởi nhữngviệc do Hạnh gây ra đã đưa lại cho anh nỗi lo sợ với những dự cảm tội lỗitừ quan niệm sai trái Vạn đã tự tạo đau khổ cho chính mình Từ đấy, có thểnhận thấy để hiểu về nội tâm của con người là điều không phải đơn giản

Vấn đề hạnh phúc cá nhân được thể hiện khá tập trung và nổi bật trong tiểu thuyết Thời xa vắng (Lê Lựu) Giang Minh Sài là minh chứng

Trang 37

cho kiểu nhân vật có cuộc sống mà hạnh phúc không khi nào trọn vẹn Cảcuộc đời Sài phải sống theo sự sắp đặt, ý muốn của người khác Thói quenchịu đựng của người nông dân đã tạo cho Sài sự chấp nhận Sài không dámsống cuộc sống của riêng mình Ở cơ quan thì Sài phải nghe theo sự sắp xếpcủa đoàn thể, của lãnh đạo; về nhà thì phải nghe cha mẹ, họ hàng Sài yêunhưng không giữ nổi tình yêu cho mình Cũng có lúc Sài muốn vùng lên,giải thoát cho bản thân nhưng mỗi lần như thế, những ràng buộc lại càngthít chặt hơn và với thói quen thụ động, chấp nhận cố hữu trong Sài lạighìm anh xuống Để rồi, đến khi mất tất cả, Sài mới thốt lên muộn màng,

chua xót “Giá như ngày ấy em cứ sống với tình cảm của chính mình, mình có thế nào thì cứ sống như thế, không sợ ai, không chiều theo ý ai, sống hộ cho ý định người khác, cốt để cho đẹp mặt mọi người chứ không phải cho hạnh phúc của mình”[38; 424].

Đặc biệt, khi nói đến văn học viết về đề tài nông thôn và người nông

dân từ 1986 đến nay, không thể không nhắc đến các tiểu thuyết: Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Thủy Hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Chuyện làng Cuội (Lê Lựu)

Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường là cuốn tiểu

thuyết tâm lí xã hội ra đời năm 1990 Nó được coi là một trong những tácphẩm xuất sắc nhất của ông nói riêng và của văn học hiện đại nói chungviết về nông thôn Việt Nam Tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề nổi cộm ởnông thôn sau đổi mới Không gian của câu chuyện là địa bàn nông thônven sông Công (Thái Nguyên) trong thời gian năm 1988, khi ViệtNam đang bắt đầu thời kỳ đổi mới Nội dung chính của tiểu thuyết là sự đấuđá cá nhân của hai dòng họ, họ Vũ và họ Trịnh ở làng Giếng Chùa, mà đạidiện là Vũ Đình Phúc (trưởng họ Vũ) và anh em Trịnh Bá Hàm (trưởng họTrịnh), Trịnh Bá Thủ (em của Hàm, bí thư Đảng ủy xã) Đây là hai dòng họlớn nhất và có máu mặt nhất trong làng - nhiều người giàu có, nhiều người

Trang 38

có quyền chức là đi thoát li Câu chuyện cứ xoay quanh những ân oán haihọ, và những đấu đá trong làng quê, được nâng cao lên quan điểm thành rasự đấu đá trong chi bộ Đảng của xã mà ở đó Thủ làm bí thư xã, Phúc là chủnhiệm hợp tác xã Câu chuyện cũng gắn liền với một mối tình oan trái làcon gái của ông Hàm, Đào yêu Tùng, cháu gọi ông Phúc bằng cậu (mẹTùng là chị gái ông Phúc, người họ Vũ) Ngoài ra, tiểu thuyết còn mô tả

những chuyện rắc rối "quanh lũy tre làng" thông qua những quan hệ phức

tạp, và những nhân vật rất thú vị khác như cặp tình nhân ông Quản Ngư bà Đồ Ngật, hay chuyện Tám lé cố ngóc đầu lên khỏi cuộc sống bí bách,hay những hành vi bất nhân của ông Phúc với chính bố mẹ, anh em củamình trong Cải cách ruộng đất Câu chuyện cũng bị che phủ bởi những

-"bóng ma", từ huyền thoại ma ám của nhân vật Quỳnh - Quềnh cho đến sự

hiện diện của một thầy mo - cô Thống Bệu Nhưng thực chất của nhữngbóng ma đó được lý giải vừa đơn giản mà lại rất triết lý của chính người trừ

ma - cô Thống Bệu

Ở tác phẩm Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, những sắc màu khác nhau

của bức tranh làng quê Việt Nam được nhà văn phản ánh khá sắc nét Lầntheo cuộc đời của mỗi nhân vật, “sắc màu nông thôn” cứ hiển hiện mộtcách tự nhiên, ăm ắp sức sống Hơn thế nữa, những tập tục, lề thói, phongvị, tập quán của làng quê Việt Nam được miêu tả một cách chân thực vớimột chất giọng đằm thắm, yêu thương hồn hậu

Nhà văn Hoàng Minh Tường cũng là người chung tình với đề tài nông

thôn Thủy hỏa đạo tặc là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng viết về đề tài nông thôn

được đông đảo bạn đọc mến mộ Đây là tác phẩm viết về nông thôn đồngbằng Bắc bộ đầu những năm 80 của thế kỉ trước Đó là giai đoạn khốn khónhất của bà con nông dân, phải khoán chui lén lút, cuộc sống vô cùng quẩn

bách Thủy hỏa đạo tặc là tiểu thuyết “rất nóng”, bám rất sát hiện thực đời

Trang 39

sống nông thôn, có tính phản biện mạnh mẽ Tiểu thuyết được đánh giá làxuất sắc, được nhận giải thưởng của Hội nhà văn năm 1997.

Như vậy, với việc quan tâm đến đời sống riêng tư, hạnh phúc cá nhâncác tác phẩm văn xuôi viết về nông thôn sau đổi mới đã mở ra nhữnghướng khám phá mới mẻ trong sự tiếp cận và phản ánh con người Đứng từgóc độ con người để đánh giá con người, nhìn nhận con người ở phươngdiện cá nhân, thế sự, văn xuôi viết về nông thôn giai đoạn này đã bước rakhỏi lối mòn cũ kỹ một thời, đạt được chiều sâu và đáp ứng được nhữngnhu cầu của cuộc sống hiện tại Góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển củavăn học dân tộc sau này

Từ việc tìm hiểu trên, chúng ta đã thấy được sự vận động của tiểuthuyết viết về đề tài nông thôn và người nông dân qua các thời kì Mặc dùcòn có những hạn chế nhưng phải khẳng định rằng tiểu thuyết viết về đề tàinày đã có đóng góp lớn cho nền văn học nước nhà Nó không những đãphản ánh được bức tranh hiện thực nhiều màu sắc của xã hội nông thônViệt Nam ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau mà còn góp phần thúc đẩy sựphát triển của cả nền văn học Điều đó khẳng định vị trí quan trọng của tiểuthuyết viết về nông thôn trong dòng chảy văn học Việt Nam

1.3 Vài nét về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Kiên

Sinh ngày 2 tháng 4 năm 1935 tại làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông, HàTây (nay thuộc thủ đô Hà Nội), Nguyễn Kiên chỉ là bút danh, còn tên chamẹ đặt cho ông là Nguyễn Quang Hưởng

Năm 1947, tình cờ có Đội Tuyên truyền xung phong của Tổng bộ ViệtMinh qua làng, cậu bé Hưởng nằng nặc xin mẹ đi theo Trong hành trangkiến thức của Quang Hưởng ngày ấy chỉ có một ít chữ Nho do người bố,vốn là ông đồ dạy cho và một ít chữ Quốc ngữ mấy năm học tiểu học Lênđến chiến khu Việt Bắc, Quang Hưởng được biên chế vào Đội Thiếu nhi

Trang 40

Tuyên truyền xung phong Đội còn có mười bạn cùng lứa do hai anh VũHướng và Trần Hoạt phụ trách Anh Vũ Hướng (sau này là giảng viênTrường Âm nhạc Hà Nội) dạy múa hát, còn anh Trần Hoạt (sau này là đạodiễn sân khấu nổi tiếng) dạy diễn kịch Hầu hết các tiết mục ca múa và kịchnói đều do hai anh phụ trách đội tự biên, mười em Đội Thiếu nhi Tuyêntruyền xung phong tự diễn để động viên chiến sĩ đồng bào hăng hái khángchiến kiến quốc Quang Hưởng thường được chọn vào các vai kịch Nhữnglớp diễn khá, vào đến cánh gà, đạo diễn Trần Hoạt ôm chầm lấy khen rốirít, những lớp diễn dở, thường bị anh cốc lủng đầu Nhưng cho dù diễn kháhay diễn dở thì đêm kịch nào của Đội Tuyên truyền xung phong cũng chậtních đồng bào và chiến sĩ đến xem.

Nhờ những vai kịch mà Quang Hưởng được cấp trên đánh giá là cónăng khiếu nghệ thuật và được gửi đến học tại Trường Văn nghệ nhân dânViệt Bắc Trường do nhà văn Nguyên Hồng làm Giám đốc, nhà thơ Bàn TàiĐoàn làm Trưởng tràng Khóa học ba tháng dẫu ngắn ngủi nhưng được khánhiều nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Đình Thi, Đoàn Phú Tứ, Phan Khôi đến giảng hoặc nói chuyện

Những bài học văn chương đầu tiên nơi chiến khu Việt Bắc gian khổchẳng những giúp Quang Hưởng vỡ vạc được nhiều điều mà còn nhen lêntrong anh ngọn lửa đam mê sáng tác văn học từ đây Quang Hưởng bắt đầuhọc viết và cặm cụi viết

Năm 1956 cuốn sách mang nhan đề Những ngày đi lưu động dày 100

trang của tác giả Nguyễn Kiên, một cái tên mới toanh trong làng văn được

ra mắt bạn đọc nhỏ tuổi cả nước Nội dung cuốn sách và tác giả trẻ NguyễnKiên (bút danh của Nguyễn Quang Hưởng) đã được nhà văn Nguyễn HuyTưởng rất chú ý

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w