Đối tợng nghiên cứu Luận văn khảo sát nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ thông qua việc khảo sátnhịp điệu thơ mới bảy chữ của các tác giả tiêu biểu của thơ mới nh: NguyễnBính, Hàn Mặc Tử,
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRƯờNG ĐạI HọC VINH
o0o
NGUYễN THị ĐàO NHịP ĐIệU TRONG THƠ MớI BảY CHữ CHUYÊN NGàNH: Lý LUậN NGÔN NGữ Mã Số: 602201 LUậN VĂN THạC Sĩ NGữ VĂN Ngời hớng dẫn khoa học: TS NGUYễN HOàI NGUYÊN VINH 2008 MụC LụC Trang Mở ĐầU 1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc luận văn 9
Trang 2Chơng 1 NHữNG VấN Đề Lý THUYếT LIÊN QUAN ĐếN Đề TàI
1.1 Vài nét về thơ mới 10
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 13
1.2.1 Sự khác nhau giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi 13
1.2.2.Thơ thất ngôn và thơ mới bảy chữ 16
1.2.3 Nhịp điệu và vai trò của nhịp điệu trong thơ 19
1.2.4 Câu thơ, khổ thơ và bài thơ 24
1.3 Cơ sở ngôn ngữ học của nhịp thơ và cách tổ chức nhịp trong thơ mới bảy chữ 27
1.3.1 Cơ sở ngôn ngữ học của việc ngắt nhịp thơ 27
1.3.2 Cách tổ chức nhịp trong thơ mới bảy chữ 30
1.4 Tiểu kết 30
Chơng 2 NHịP ĐIệU TRONG THƠ MớI BảY CHữ 2.1 Nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ 32
2.1.1 T liệu khảo sát 32
2.1.2 Miêu tả các loại nhịp 34
2.1.2.1 Cách ngắt nhịp truyền thống 34
2.1.2.2 Cách ngắt nhịp không theo truyền thống 36
2.1.3 Nhận xét 43
2.2 Nhịp điệu trong khổ thơ mới bảy chữ 49
2.2.1 T liệu khảo sát 49
2.2.2 Miêu tả các loại nhịp 51
2.2.2.1 Khổ có một loại nhịp 51
2.2.2.2 Khổ có hai loại nhịp 53
2.2.2.3 Khổ có ba loại nhịp 58
2.2.2.4 Khổ có bốn loại nhịp 60
2.2.2.5 Khổ có năm loại nhịp trở lên 62
2.2.3 Nhận xét 64
2.3 Nhịp điệu trong bài thơ bảy chữ 67
2.3.1 T liệu khảo sát 67
Trang 32.3.2 Miªu t¶ c¸c lo¹i nhÞp 68
2.3.2.1 Bµi th¬ cã mét lo¹i nhÞp 68
2.3.2.2 Bµi th¬ cã hai lo¹i nhÞp 70
2.3.2.3 Bµi th¬ cã ba lo¹i nhÞp 71
2.3.2.4 Bµi th¬ cã bèn lo¹i nhÞp 73
2.3.2.5 Bµi th¬ cã n¨m lo¹i nhÞp 76
2.3.2.6 Bµi th¬ cã s¸u lo¹i nhÞp 79
2.3.2.7 Bµi th¬ cã b¶y lo¹i nhÞp 81
2.3.2.8 Bµi th¬ cã t¸m lo¹i nhÞp trë lªn 83
2.3.3 NhËn xÐt 85
2.4 TiÓu kÕt 89
Ch¬ng 3 QUAN HÖ GI÷A NHÞP §IÖU VíI VÇN TH¥ Vµ THANH §IÖU 3.1 Quan hÖ gi÷a nhÞp ®iÖu víi vÇn th¬ 91
3.1.1 VÇn th¬ 91
3.1.2 Quan hÖ gi÷a nhÞp ®iÖu víi vÇn th¬ trong th¬ míi b¶y ch÷ 94
3.1.3 NhËn xÐt 103
3.2 Quan hÖ gi÷a nhÞp ®iÖu víi thanh ®iÖu 104
3.2.1 Thanh ®iÖu 104
3.2.2 Quan hÖ gi÷a nhÞp ®iÖu víi thanh ®iÖu trong th¬ míi b¶y ch÷ 105
3.2.3 NhËn xÐt 108
3.3 Nh¹c ®iÖu trong th¬ míi b¶y ch÷ 109
3.3.1 Nh¹c ®iÖu trong th¬ 109
3.3.2 Nh¹c ®iÖu trong th¬ míi b¶y ch÷ 111
3.3.3 NhËn xÐt 113
3.4 TiÓu kÕt 113
KÕT LUËN 114
TµI LIÖU THAM KH¶O 117
Trang 4Lời cảm ơn !
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Hoài Nguyên đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và khoa Đào tạo sau đại học, cùng gia
đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Tôi xin gửi tới thầy giáo, cô giáo lời cảm ơn chân thành nhất.
Học viên: Nguyễn Thị Đào Lớp: Cao học 14 ngôn ngữ
Mở ĐầU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Khởi thuỷ, thơ đã gắn liền với nhạc nên mới gọi là thơ ca Thời Hy lạp
cổ đại, thơ đợc biểu diễn với cây đàn lia Ngời ả Rập hát thơ giữa sa mạc mênhmông với cây sáo Hute Còn Kinh thi của Trung Quốc hay những bài ca dao,hát nói của Việt Nam là những hình thức thơ - nhạc đầu tiên mà lời thơ đợc phổ
âm dới làn điệu dân ca Về sau, những niêm luật đợc ấn định cho thơ chẳng qua
là sự xác lập một cơ chế tự điều chỉnh cho ngôn ngữ thơ trong những khuôn
Trang 5hình âm nhạc nhất định Ngày nay, đã là thơ tự do với xu hớng đa ngôn ngữ thơgần với ngôn ngữ văn xuôi thì vẫn không thoát ra khỏi sự chế định của tínhnhạc để thơ đủ khả năng tồn tại trong cơ chế lu giữ - truyền đạt của mình.
1.2 Lâu nay, các nhà nghiên cứu thờng nhấn mạnh nhạc tính của thơ, nhng
nó là cái gì, cho đến nay vẫn cha đợc định hình đầy đủ ở mọi cấp độ cần thiết.Dới ánh sáng của ngôn ngữ học hiện đại, lý thuyết nhạc thơ bắt đầu đợc đặt ra
cụ thể qua các công trình, các bài viết của Võ Bình (1975, 1984, 1985), MaiNgọc Chừ (1984, 1991, 2006 ), Nguyễn Phan Cảnh (2007), Vũ Thị Sao Chi(2005), Nguyễn Thị Thanh Hà (2002), Nguyễn Hoài Nguyên (2007), Lý ToànThắng (1999), Nguyễn Phơng Thuỳ (2004) với các phơng diện của nhạc tínhtrong thơ nh vần thơ, bớc thơ, phối thanh (điệu), nhịp thơ Đi theo hớng nghiêncứu này thì nhịp điệu là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên nhạc tính chothơ, và đây chính là cơ sở để khu biệt thơ ca với văn xuôi Hơn nữa, nhịp điệukhông chỉ tạo nên nhạc tính cho thơ mà còn biểu hiện tình cảm, cảm xúc, bởi lẽ,nhịp thơ là nhịp cảm xúc, là biểu hiện của những cung bậc tình cảm khác nhau,những ngân vang trong tâm hồn nhà thơ tất cả đều đợc in dấu qua cách ngắtnhịp
1.3 Thơ mới ở đây là thơ mới bảy chữ, là đối lập với thơ cũ, khởi phát từphong trào 1932 – 1945 Ngôn ngữ thơ mới đã chuyển biến theo khuynh hớng
tự do hoá, hiện đại hoá Bấy giờ, từ trong những thể loại thơ cũ chúng ta bắt gặpnhững cách gieo vần, bố trí thanh điệu và cách ngắt nhịp mới Đối với thơ mớibảy chữ, Hoài Thanh có một nhận xét hết sức xác đáng: Thất ngôn và ngũ ngônrất thịnh ( ) thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do Đờng luật giản và mới ra,cho nên êm tai hơn (Thi nhân Việt Nam) ý kiến của Hoài Thanh là một gợi ýcho chúng tôi tìm hiểu về luật thơ mới, khảo sát những kế thừa và cách tân củacác nhà thơ mới, xét ở mặt hình thức biểu hiện của thơ, về ngôn ngữ thơ
2 Lịch sử vấn đề
Thơ mới bảy chữ là sự kế thừa và cách tân thơ thất ngôn Đờng luật Nh đãbiết, bất cứ thể thơ nào cũng có một cấu trúc nhịp điệu nhất định Nhng nếunhịp điệu trong thơ thất nhgôn truyền thống nhìn chung là tẻ nhạt thì thơ mớibảy chữ đã hoán cải cái nhịp điệu ấy để trở thành đa dạng, độc đáo, mới lạ Vấn
đề này đã đợc một số nhà Việt ngữ học đặt vấn đề nghiên cứu trong thời giangần đây Chẳng hạn, GS Đinh Văn Đức và các tác giả [12] khi nghiên cứu ngônngữ thơ mới bảy chữ tiếng Việt trong quá trình tự do hoá đã khảo sát nhịp điệuthơ mới bảy chữ qua các tập thơ Gửi hơng cho gió của Xuân Diệu, Từ ấy của Tố
Hữu, một số bài thơ bảy chữ của Nguyễn Bính Tác giả Nguyễn Phơng Thuỳ
Trang 6[45] cũng đã đặt vấn đề nghiên cứu vần, thanh điệu, nhịp điệu trong câu thơ mớibảy chữ Một số khoá luận đại học, các luận văn cao học chuyên ngành ngônngữ của các tác giả: Phạm Minh Thuý [46], Nguyễn Thị Huyền [22], Lê ThịNgân [36], Nguyễn Thị Hồng Nhung [37], Hoàng Thị Tuyết Anh [2] Dĩ nhiên,những nghiên cứu này mới chỉ phác vạch một số dấu hiệu đổi mới về nhịp điệutrong thơ mới bảy chữ còn bức tranh chung vẫn cha đợc đề cập đến Với đề tàinày, ở một mức độ nhất định, chúng tội cố gắng khảo sát cấu trúc nhịp điệu thơmới bảy chữ, góp phần chứng tỏ, ngôn ngữ thơ mới bảy chữ phát triển theokhuynh hớng tự do hoá, hiện đại hoá.
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn khảo sát nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ thông qua việc khảo sátnhịp điệu thơ mới bảy chữ của các tác giả tiêu biểu của thơ mới nh: NguyễnBính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu, cụ thể là khảo sát nhịpthơ và cách ngắt nhịp của câu thơ, khổ thơ, bài thơ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những công việc sau đây:
- Thống kê các bài thơ bảy chữ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan
Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu sau đó xác lập các khuôn nhịp và các cách ngắt nhịptrong câu thơ, khổ thơ, bài thơ bảy chữ Khảo sát tần số xuất hiện để xác địnhcác loại nhịp phổ biến
- Qua miêu tả và phân tích cách tổ chức nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ,chỉ ra sự kế thừa và cách tân về hình thức thơ theo khuynh hớng tự do hoá, hiện
đại hoá
- Xem xét nhịp điệu trong mối quan hệ với vần điệu và thanh điệu để thấy
đợc sự chi phối của các yếu tố trong việc tổ chức nhạc tính trong thơ mới bảychữ
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
4.1.1 Nguyễn Bính có 84 bài thơ của 11 tập thơ đợc giới thiệu trong Tuyển tậpNguyễn Bính, Nhà xuất bản văn học, Hà Nội, 1986, trong đó có 39 bài thơ bảychữ, chiếm gần 46,4 %
H
Thơ bảy chữ của Nguyễn Bính đợc rút ra từ các tập thơ sau đây:
Trang 7- Lỡ bớc sang ngang (1940), 10 bài: Ma xuân, Lòng mẹ, Không đề 3,Không đề 4, Cô lái đò, Cô hái mơ, Lá th về Bắc, Viếng hồn trinh nữ, Ghen,Lòng nào dám tởng.
- Tâm hồn tôi (1940), 3 bài: Nhớ, Những bóng ngời trên sân ga, Xuân về
- Hơng, Cố nhân (1941), 2 bài: Nhớ ngời trong nắng, Tháng ba
- Một nghìn cửa sổ (1941), 5 bài: Truyện cổ tích, Đôi khuyên bạc, Thơxuân, Mùa xuân xanh, Xây lại cuộc đời
- Mây tần (1942), 2 bài: Tết của mẹ tôi, Cảm tác
- Mời hai bến nớc (1942), 4 bài: Xóm Ngự Viên, Hoa với rợu, Giời ma ởHuế, Xuân tha hơng
- Thơ lẻ (trớc 1945), 4 bài: Một trời quan tái, Trờng huyện, Bảy chữ, Saochẳng về đây
- Đêm sao sáng (1962), 4 bài: Lá th, Đêm sao sáng, Chiều thu, Xây nhàmáy
- Thơ lẻ (sau 1954), 5 bài: Xuân nhớ miền Nam, Trở về quê cũ, Tháng ba,Trách mình, Một chiến công
4.1.2 Hàn Mặc Tử có 94 bài thơ của bảy tập thơ đợc giới thiệu trong Thơ HànMặc Tử, Sở văn hoá thông tin Nghĩa Bình,1987, trong đó có 46 bài thơ bảy chữ,chiếm gần 48,8 %
Thơ bảy chữ của Hàn Mặc Tử đợc rút ra từ các tập thơ sau đây:
- Lệ thanh thi tập, 9 bài: Hoa cúc, Hồn cúc, Đàn nguyệt, Nhớ TrờngXuyên, Buồn thu, Chuyến đò ngang, Thức khuya, Chùa hoang, Bút thần khai
- Gái quê, 9 bài: Gái quê, Tiếng vang, Nắng tơi, Bẽn lẽn, Âm thầm, Mơ,Tình thu, Nói chuyện với gái quê, Nụ cời
- Đau thơng, 15 bài: Đà Lạt trăng mờ, Tối tân hôn, Huyền ảo, Mùa xuânchín, Mơ hoa, Thời gian, Đây thôn Vĩ Dạ, Ghen, Lu luyến, Trăng vàng trăngngọc, Những giọt lệ, Cuối thu, Thao thức, Sầu vạn cổ, Th gửi anh
- Một miệng trăng, 5 bài: Trút linh hồn, Ước ao, Cô liêu, Ngời ngọc, Côgái đồng trinh
- Xuân nh ý, 3 bài: Xuân đầu tiên, Một nửa trăng, Nhớ thơng,
- Thợng thanh khí, 4 bài: Mơ duyên, Xuân cới vợ, Buồn ở đây, Nói tiên tri
- Cầm châu duyên, 1 bài: Tiêu sầu
Trang 84.1.3 Toàn bộ sáng tác thơ của Chế Lan Viên từ 1937 - 1988 do tác giả Vũ ThịThờng (2002) su tầm và biên soạn gồm 15 tập thơ, 918 bài thơ, trong đó thơ bảychữ chiếm 88 bài khoảng 9,5 %.
Thể thơ mới bảy chữ của Chế Lan Viên là t liệu mà luận văn khảo sát đợcrút ra từ các tập thơ sau đây:
- Điêu tàn (1937), 4 bài: Đọc sách, Thu, Xuân, Mơ trăng
- Sau điêu tàn (1937 – 1947), 5 bài: Hoàng hôn, Chết giữa mùa xuân,Rừng xuân, Mai đã , Lại thấy thời gian
- ánh sáng và phù sa (1955 – 1960), 20 bài: Đêm ra trận, Th mùa nớc lũ,Cách chia, Cành hoa nhỏ, Nhớ Việt Bắc, Lơng mới, Xem ảnh, Mẹ, TặngAntokonsky, Chớ hái hoa trong bệnh viện, Xóm cũ, Tra, Tiếng chim, Ôi chịHằng Nga cô gái Nga, Ngô thuốc độc ngợi ca máy chém, Lại nhà
- Hoa ngày thờng – chim bão bão (1961 – 1967), 2 bài: Không ai có thểcứu chúng mày, Cây dẫn em về
- Đối thoại mới (1967 – 1973), 17 bài: Chơi chữ về trên ngõ Tạm Thơng,Hoàng thảo hoa vàng, Tranh ngựa, Im bớt màu hoa, Mây của em, Chim ấy raunày, Chim biếc Vĩnh Linh, Đọc “Bất khuất”, Nhánh đào yêu, Hồng trận địa,Tặng thơ, Liễu cũng chờ em, Trở về Quảng Bá, Xuân vĩnh viễn, Vừa thấy môihoa, Búp lộc vừng, Nội dung và hình thức
- Hái theo mùa (1973 – 1977), 4 bài: Vẫn cành mai ấy, Hoa gạo son, Thỏthẻ hoà bình, Tập qua hàng
- Hoa trên đá I (1977 – 1984), 14 bài: Bóng cọ, Hoa táo, Cành đàoNguyễn Huệ, Sen Huế, Trở lại An Nhơn, Tứ tuyệt, Chị Ba, Mồ mẹ, Mùa đậuquả, Nhảy sạp vùng than, Cô gái sênh tiền, Nghe hết câu chèo, Hải đăng, Vàm
- Di cảo thơ I, 8 bài: Chèo tiễn biệt, Đi trốn đi tìm, Nhớ tuổi thơ, Chị và
em, Cảnh điền viên, Cửa Việt, Về thăm xứ Huế, Đột ngột cây chiều
- Di cảo thơ II, 3 bài: Lên gác, Không có mùa xuân, Hoa trắng
- Di cảo thơ III, 2 bài: Vợt bể, Vờn quê
Trang 94.1.4 Xuân Diệu có tất cả 522 bài thơ của 15 tập thơ đã đợc giới thiệu trongXuân Diệu toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản văn học, H.2001, trong đó có 154 bàithơ bảy chữ, chiếm gần 29,6 %.
Thơ bảy chữ của Xuân Diệu đợc rút ra từ các tập thơ sau đây:
- Thơ thơ, 22 bài: Nụ cời xuân, Vì sao, Nguyên đán, Trăng, Huyền diệu,Gặp gỡ, Tình trai, Nhị hồ, Đây mùa thu tới, ý thu, Lạc quan, Bài thơ tuổi nhỏ,Vô biên, Có những bài thơ, Đơn sơ, Giờ tàn, Với bàn tay ấy, Giới thiệu, Bên ấybên này, Muộn màng, Giửi trời, Núi xa
- Gửi hơng cho gió, 25 bài: Nguyệt cầm, Buồn trăng, Gửi hơng cho gió,Bài thứ năm, Phơi trải, Buổi chiều, Tặng bạn bây giờ, Xuân rụng, H vô, Tình cờ,Tình qua, Thu, Ngẩn ngơ, Trò chuyện với thơ thơ, Lu học sinh, Nớc đổ lá khoai,Những kẻ đợi chờ, Nhớ mông lung, Hết ngày hết tháng, Giã từ thân thể, Đi dạo,
ý thoáng, Kẻ đi đày, Rạo rực, Dâng
- Hội nghị non sông, 1 bài: Phần thứ ba
- Dới sao vàng, 7 bài: Đêm đêm tiếng của lòng Trung Bắc, Hồn cáchmạng, Đàn chim dân tộc, Một cuộc biểu tình, Tổng bất đình công, Mê quầnchúng, ảnh cụ Hồ
- Ngôi sao, 1 bài: Chiếc gối
- Riêng chung, 9 bài: Trớc cổng nhà máy xay, Lý tởng, Rét, Thăm HòaBình, Hoa, Trồng cây, Sớm nay, Ngọc tặng, Em chờ anh
- Mũi Cà Mau, 7 bài: Mũi Cà Mau, Em ứng, Đờng vào Nam, Máy tự tử,Một tên Mỹ bị sập hầm chông, Ma phóng xạ Mỹ, Nỗi cô quạnh của thần tự do
- Cầm tay, 8 bài: Tình yêu san sẻ, Những suối trời, Mặt ngời thơng, Bá NhaTrơng Chi, Ngút ngàn, Hoa nở sớm, Thơ tình mùa xuân, Nguyện
- Một khối hồng, 13 bài: Mã Pí Lèng, Vờn Thuận Vi, Chòm Cô Tô với bảy
đảo xanh, trong rừng Quỳ Châu, Nhạc phát thanh về trong một xã, Ba trăm cửa
sổ, ống khói không nhả khói đen, Khẩu súng võ trang tự vệ, Ngời thợ rèn nghechuyện miền Nam, Bắn cho tin anh giải phóng quân, Tình ta, Khu Nam Ngạn– Hàm Rồng, Em nhỏ Hơng Khê
- Hai đợt sóng, 9 bài: Các cháu đi sơ tán, Chị Tạ Thị Kiều thăm vờn hoathống nhất, Cây miền Nam, Dâng Bác Hồ tập thơ “Sáng tháng 5”, Xoan NgọcLong, Nhớ xã Thanh Nga, Bữa tiệc đôi ta sáng nớc mây, Gửi lại cho em, Ngợcdòng sông Đuống
Trang 10- Tôi giầu đôi mắt, 9 bài: Giọng nói, Mặt em, Đứa con của tình yêu, ổi hồTây, Chiếc bánh trung thu, Thác, Bản anh hùng ca trên các sông, Nguyễn ThịNon liệt sĩ, Trên bãi sông Hồng.
- Hồn tôi đôi cánh, 19 bài: Trẻ em đối với Bác Hồ, Hơng bắp ở Tuyên Đức,Một ngã ba, Đêm trăng đờng Láng, Em về, Xuân bên hồ Tây, Quà, Nhớ mãi nh
in, Lá lúa xuân, Cà phê Đông Hiếu, Chè suối Giàng, Mùa ổi, Hơng chiến khu,Thăm cảnh chùa Hơng, Hoa ngọc trâm, Mùa thu vàng sáng, Một sớm mai xuân,Cồn cỏ, Y Nao
- Thanh ca, 24 bài: Tâm sự với Quy Nhơn, Nghe nhạc Nam, Cần Thơ xechạy tới Long Xuyên, Gió ở Cao Nguyên, Lên Đắc Tô, Trăng Tây Nguyên, Gặp
gỡ, Sáng xuân sang xuân, Đừng chờ em, Chiều đầu thu, Tuyết Xibêri, cảnh HạLong, Vãn cảnh Bài Sơn, Ba chục năm, Mỗi mỗi xanh, Thơ bát cú, Tặng hợp tácxã Mạnh Ch, Cói Tiền Hải, Cánh đồng Buôn Triết, Anh nằm bệnh viện, Nhữngvật vô tri, Chầm chậm đừng quên, Thơng cái tình cha, Một bé ra đời
4.1.5 Tố Hữu có 284 bài thơ thuộc bảy chặng đờng thơ đã đợc giới thiệu trongcuốn Thơ Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn hóa thoong tin, 2002 Trong đó thơ bảychữ của Tố Hữu có 64 bài, chiếm khoảng 22,6 %
Thơ bảy chữ của Tố Hữu đợc thể hiện ở bảy chặng đờng thơ nh sau:
- Từ ấy (1937 – 1946), 14 bài: Từ ấy, Vú em, Hỏi cụ ngáo, Dửng dng,Con chim của tôi, Nhớ đồng, Dậy lên thanh niên, Qua cổ tháp, Ngời lính đêm,Ngời về, Dới tra, Tơng thân, đi, Xuân nhân loại
- Việt Bắc (1946 – 1954), 1 bài: Tình khoai sắn
- Gió lộng (1955 – 1961), 4 bài: Quê mẹ, Hoa tím, Mục nam quan, Em
- Ta với ta (1993 – 2002), 13 bài: Huế lại huy hoàng, Tiếng còi xa, ThămBác chiều đông, Mùa xuân mới, Qua cầu công lý, Về chiến khu xa, Cuối thu, Ta
Trang 11vẫn là xuân, Vạn xuân, Nghĩa trang Trờng sơn, Đờng chín, Chào cụ NguyễnCông Trứ, Nhớ anh Lê Văn Lơng.
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
- Để xác lập t liệu cho đề tài, chúng tôi dùng phơng pháp thống kê và phânloại Trớc hết chúng tôi tiến hành thống kê các bài thơ bảy chữ của các tác giả,sau đó phân loại và xác lập các loại nhịp và cách ngắt nhịp trong câu thơ, khổthơ và bài thơ đó
- Để xử lý t liệu nhằm giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra, chúng tôi dùngphơng pháp phân tích và miêu tả, chỉ ra những cách tân sáng tạo trong tổ chứcnhịp điệu thơ bảy chữ
- Trớc một đối tợng nh vậy, luận văn cần sử dụng phơng pháp so sánh đốichiếu, so sánh thơ mới bảy chữ với thơ thất ngôn truyền thống, để thấy đợcngôn ngữ thơ mới phát triển theo hớng tự do hóa, hiện đại hoá
- Những kết quả trong luận văn góp phần cung cấp t liệu cho việc nghiêncứu nhịp điệu trong thơ Đồng thời, còn có thể ứng dụng vào việc giảng dạy thơ
ở nhà trờng cũng nh việc cảm thụ thơ mới một cách sâu sắc và hiệu quả hơn
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kềt luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chơng:
- Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
- Chơng 2: Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ
- Chơng 3: Quan hệ giữa nhịp điệu với vần điệu và thanh điệu
Trang 12Chơng 1 NHữNG VấN Đề Lý THUYếT LIÊN QUAN ĐếN Đề TàI
1.1 Vài nét về thơ mới
1.1.1 Một trong những thành quả của thế giới hiện đại, của nền văn minh côngnghiệp, là cái tôi cá nhân mà sự ra đời của nó gắn liền với các đô thị công thơngnghiệp ở Việt Nam, vào những năm đầu thế kỷ, những đợt khai thác thuộc địacủa ngời Pháp đã dần dần tạo nên những đô thị kiểu mới, với lối cảm, lỗi nghĩ
và lối sống khác với tầng lớp tiểu nông và tầng lớp thị nông cổ truyền Sau đó,
do nhu cầu cần ngời làm trong bộ máy hành chính, các hãng, công ti , ngờiPháp đã mở một hệ thống tiểu học Pháp - Việt trên toàn cõi Việt Nam Bởi vậy,vào những năm 20, tầng lớp trí thức “ tây học bản địa” ra đời Khác với lớp conquan đợc đi đào tạo ở “mẫu quốc” để trở thành những “ông tây An Nam” và lớphọc sinh tiểu học Pháp - Việt khóa đầu đợc đào tạo vội vàng để ra làm việc,tầng lớp trí thức Tây học bản địa vừa đông về số lợng, vừa cao về chất lợng Họlớn lên trong không khí dân tộc, dân chủ của phong trào đòi ân xã Phan BộiChâu, đám tang Phan Chu Trinh ý thức dân tộc thức tỉnh Đồng thời, họ đủ
điều kiện để bỏ qua thứ “văn hóa thuộc địa” để tiếp thu tinh hoa văn hòa Pháp.Chính họ là chủ nhân của nền văn hóa mới, văn hóa đô thị, dựa trên tinh thầnkhoa học thực nghiệm Chữ quốc ngữ ra đời góp phần thúc đẩy các phơng thứctruyền bá văn hóa nh báo chí, nhà xuất bản Văn học lần đầu tiên đợc coi nhmột loại hình nghệ thuật nhôn từ Các thể loại văn chơng mới nh: kịch nói, tiểuthuyết, phóng sự, thơ mới ra đời
1.1.2 Việc chủ nghĩa t bản thâm nhập vào Việt Nam sau thế chiến thứ nhất,cùng với việc ngời Pháp đẩy mạnh phong trào khai thác thuộc địa đã vô tình
đẩy nhanh làn gió văn hóa phơng Tây vào Việt Nam Giới trí thức trẻ nhanhchóng tiếp thu văn hóa Pháp và nhận ra vần luật, niêm luật của Nho gia đã quá
gò bó trong việc thể hiện tiếng thơ của con ngời Năm 1917 trên báo NamPhong (số 5), Phạm Quỳnh nổi tiếng là ngời bảo thủ, cũng phải thừa nhận sự gò
bó của luật thơ cũ: Ngời ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim Ngời Tàu
định luật nghiêm cho ngời làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy Sau
đó, Phan Khôi cũng viết nhiều bài báo chỉ trích những trói buộc của thơ văn cũ
và đòi hỏi phải cởi trói cho sáng tác thơ ca Trong khoảng 1924 – 1925, cuốntiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách kể về mối tình Đạm Thủy - Tố Tâm đã gây
ra sóng gió trong giới học sinh và thanh niên thành thị, dù tình yêu ấy cha vợt ra
đợc rào cản của đại gia đình phong kiến Tiếp theo đó, năm 1928, Nguyễn Văn
Trang 13Vĩnh cũng đã phá vỡ vần điệu, niêm luật, một số câu, số chữ của thơ cũ khi dịchbài La cigale et la fourmi ( Con ve và con kiến) của La Fontaine sang tiếngViệt Năm 1929, Trịnh Đình R tiếp tục viết trên báo Phụ nữ tân văn (số 26): Cái nghề thơ Đờng luật khó đến nh thế, khó cho đến đỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi
có nhiều t tởng mới lạ muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tởng dù hay cũng đành bỏ bớt Cái phạm vi của thơ Đờng luật thật
là hẹp hòi, cái quy củ của thơ Đờng luật thật là tẩn mẩn Nếu ta còn a chuộng
mà theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ phát ra
đợc vậy Ngày 10 tháng 3 năm 1932, bài thơ Tình già của Phan Khôi ra mắt
bạn đọc trên báo Phụ nữ tân văn số 122 cùng với bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ đã có tiếng vang mạnh mẽ, đợc xem là bài
thơ mở đầu cho phong trào thơ mới Ngay sau đó, một cuộc tranh luận giữa lốithơ mới và lối thơ cũ diễn ra vô cùng gay gắt Mãi đến năm 1941, cuộc tranhluận mới chấm dứt do sự thắng thế của lối thơ mới, khép lại mấy trăm nămthống lĩnh của thơ Đờng Một thời kỳ vàng son mới của văn học Việt Nam đãdiễn ra với tên gọi quen thuộc là phong trào thơ mới
1.1.3 Thơ mới ra đời, mang đến bộ mặt mới cho văn học Việt Nam về cả nộidung và hình thức Thơ mới đã nói lên đợc một nhu cầu lớn về tự do và về phát huy bản ngã (Tố Hữu) Trớc kia trong văn học hầu nh chỉ có cái “ta” của cộng
đồng, bây giờ mới có cái “Tôi” cá nhân bớc đầu đợc giải phóng Xã hội phongkiến không chấp nhận những con ngời đề cao cái “Tôi”, đề cao bản ngã cá nhân
nh Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát Thơ mới lãng mạn ra đời mang theo một cái
“Tôi” cá nhân, một cái “Tôi” cá thể hóa trong cảm thụ thẩm mỹ Cái “Tôi”trong thơ mới, ở một chừng mực nào đó, đã nói lên một nhu cầu lớn về mặt giảiphóng tình cảm, phát huy bản ngã, tự do cá nhân Nó làm cho thế giới của conngời đợc mở rộng, ngày càng phong phú hơn Nhớ rừng của Thế Lữ là một khối căm hờn đối với cảnh đời nô lệ nhục nhằn, tù hãm, là lòng khao khát đợc tung hoành, vùng vẫy tự do giữa cảnh nớc non hũng vĩ Thơ Huy Thông, Xuân Diệu
đều thể hiện niềm khao khát đợc sống một cách mạnh mẽ của cái “Tôi” cánhân Cái “Tôi” tự do trong thơ Xuân Diệu nh con ngựa trẻ không cơng, Chân nổi gió cứ mặt trời thẳng đến, cái “Tôi” phóng khoáng đó đạp phăng cả hàng rào, chẳng chịu khung nào hết, chỉ muốn nâng hồn mình lên những đỉnh cao,
để hóng gió của ngàn phơng thổi tới Cái “Tôi” tự do trong thơ Huy Thông cũng
có những ớc mơ khác thờng Nó muốn hóa thành một con chim để cùng gió baylên bầu trời cao rộng, muốn uống vào trong buồng phổi, tất cả ánh sáng dới bầu trời lồng lộng, muốn có đôi cánh tay vô ngần to rộng, để ôm ghì cả vũ trụ vào lòng tôi Trong những khát vọng của cái “Tôi” cá nhân, thơ mới tập trung đấu
Trang 14tranh cho quyền tự do yêu đơng, cho lối cảm xúc riêng, cho cái nhìn cá thể hóa,cho sự đổi mới thi pháp và t duy thơ, cho sự sáng tạo những hình thức biểu hiệnphong phú, mang sắc thái độc đáo của phong cách cá nhân Lần đầu tiên, trong
có 13 năm trời xuất hiện nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo đến nh vậy Sựgiải phóng cái “Tôi” của chủ thể sáng tạo đã làm nở rộ một thời kỳ văn học vớinhững bông hoa giàu hơng sắc: Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam ch-
a bao giờ có một thời đại phong phú nh thời đại này Cha bao giờ ngời ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng nh Lu Trọng
L, hùng tráng nh Huy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp, ảo não nh Huy Cận, quê mùa nh Nguyễn Bính, kỳ dị nh Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn nh Xuân Diệu (Thi nhân Việt Nam) Cùng với đổi mới về nội dung là
đổi mới về hình thức nghệ thuật Thơ mới có nhiều khả năng diễn đạt hơn thơ
cũ là nhờ ở thể thơ linh hoạt (5 chữ, 7 chữ, 8 chữ hoặc nhiều hơn trong mộtcâu), cách hiệp vần phong phú (vần liên tiếp, vần ôm nhau, vần gián cách, vầnhỗn tạp ), nhạc điệu dồi dào, lối ngắt nhịp động, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hìnhtợng Phong trào thơ mới đã làm một cuộc cách mạng trong thi pháp và t duythơ, đã đa ra một cái nhìn cá thể hóa về thiên nhiên, tạo vật thông qua cái Tôichủ thể - trữ tình Không có hiện tợng đối lập giữa phơng Tây và phơng Đông,hiện đại và truyền thống, thơ mới là tổng hợp tài tình giữa Đông và Tây, dân tộc
và hiện đại, từ đó mở ra “một thời đại trong thi ca” (Hoài Thanh), mở đầu cho
sự phát triển thi ca Việt Nam hiện đại
Thơ mới là chặng mở đầu quan trọng của thơ ca hiện đại Việt Nam Với sựthức tỉnh ý thức cá nhân, thơ mới cũng nh văn học lãng mạn nói chung, đánhdấu một bớc tiến đầy ý nghĩa của văn học Thơ mới đã góp phần làm phong phútâm hồn con ngời, mở ra những thế giới bí ẩn của cõi hữu thức và vô thức, vàcũng mở ra vô vàn cung bậc đầy hơng sắc của cảm xúc trữ tình, đem lại sinhkhí mới cho thơ ca Việt Nam
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Sự khác nhau giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâmtrạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất
là có nhạc điệu Bàn về thơ, từ trớc đến nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau.Nguyễn Tuân cho rằng: Theo tôi nghĩ, thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng là loại
cụ thể hữu hình Nhng nó khác với cái cụ thể của văn Cũng mọc lên từ cái
đống tài liệu thức tế, nhng từ một cái hữu hình mà nó thức dậy đợc những cái vô hình bao la, từ một cái điểm nhất định mà nó mở ra đợc một cái diện không
Trang 15gian, thời gian, trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp (Thời và thơ Tú
thuật cao quý, tinh vi thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn
và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy đợc diễn đạt bằng những hình tợng đẹp
đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhịp điệu khác thờng
Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu đó là
đặc trng cơ bản của thơ Khác với văn xuôi, thơ ca là thể loại chỉ dùng một lợnghữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống, bao gồmcác sự kiện của tự nhiên và xã hội cũng nh tất cả các cung bậc tình cảm thầmkín, riêng t của con ngời Để thực hiện thiên chức đó, thơ ca phải tính đếnnhững kiểu tổ chức đặc biệt Nó là hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàuhình ảnh và có nhịp điệu để biểu hiện nội dung một cách hàm súc trong khi đóvăn xuôi chỉ là hình thức ngôn ngữ đợc trau chuốt cho hay, cho đẹp
Theo Nguyễn Phan Cảnh (2001) trong văn xuôi, lặp là một điều tối kỵ vàphơng trình không đợc xây dựng thành thông báo Nhng chính cái điều mà vănxuôi rất kỵ ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính tơng đồng của các
đơn vị ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các đơn vị thông báo [4,52] Sử dụng
đặc trng tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ trong thơ là vì sự tơng đơng của các
đơn vị ngôn ngữ làm nên chiết đoạn tạo thành thông báo bao giờ cũng bao hàm
sự tơng đơng về nghĩa [4,60] Nghĩa là sức mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiếntrúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra đợc một sự láy lại song song trong t t-ởng Việc chức năng mỹ học chiếm u thế trong các thông báo thơ trong khikhông loại trừ chức năng giao tế nh thế, đã làm cho thông báo thành ra đanghĩa, có tính chất nớc đôi, thành ra nhập nhằng hiểu theo nghĩa tích cực của từnày Đấy là điều cốt tử của thơ, tức là ý tại ngôn ngoại
Tomasépki nhận xét: Ngôn ngữ trong thơ không dày đặc nh trong văn xuôi,
mà chia cắt ra thành các phần ngắn hay dài theo âm luật Các thành phần này
đ-ợc chia ra thành câu thơ và thờng thờng lại chia ra các dòng thơ nhỏ hơn Cùngchung một nội dung, khi Hồ Chủ tịch viết văn xuôi, Ngời viết: Bất kỳ đàn ông,
đàn bà, bất kỳ ngời già, ngời trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là ngời Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng, ai có gơm dùng gơm, không có gơm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc,
ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nớc” Khi làm thơ Bác viết:
“ Đàn ông nào
Đàn bà nào !
Kẻ có súng dùng súng
Trang 16Kẻ có dao dùng dao
Kẻ có cuốc dùng cuốc
Ngời có cào dùng cào
Thấy Tây cứ chém phứa Thấy Nhật cứ chặt nhào”
Đoạn văn xuôi và đoạn thơ trên viết cách nhau gần bốn năm, về nội dunggần trùng khớp nhau Đoạn văn xuôi dày đặc thành một khối từ ngữ Đoạn thơthì bị chia cắt thành các câu thơ, các dòng thơ ngắn gọn hơn
Tác giả Gôntrarốp lại cho rằng: Cấu trúc âm thanh của ngôn ngữ văn xuôichỉ có một bình diện, nghĩa là ngữ điệu và giọng điệu trùng khít với nhau; cònngữ điệu và giọng điệu trong thơ không trùng khít với nhau Trong thơ giọng
điệu và ngữ điệu (cụ thể là cách đọc) cho phép câu thơ đợc ngắt nhịp tự do hơnvăn xuôi Do vậy, bản thân giọng đọc và cách đọc cũng làm gia tăng lợng thôngtin cho câu thơ ngoài giá trị thông tin của văn bản Chẳng hạn, độ cao thấp,nhanh hay chậm, khi đọc đoạn văn xuôi trên là thống nhất ngữ điệu đã thể hiệntrong văn bản Còn ở câu thơ thì có thể đọc theo nhiều cách, theo nhiều cáchngắt nhịp, theo nhiều cách chia đoạn khác nhau Do đó có những chỗ nghỉ hơi,ngắt hơi và dài hơi tơng đối tự do hơn và sắc thái lúc biểu hiện tình cảm trongtừng khúc nhỏ cũng đa dạng hơn Ví dụ, ta có thể đọc:
Giọng đọc khúc này có thể chậm rãi, từ tốn hơn, tiết tấu điềm đạm hơn
“Thấy Tây / cứ chém phứa / Thấy Nhật / cứ chặt nhào//”
Giọng đọc khúc này nhanh, kiên quyết, có tính chất mệnh lệnh, giục giã
Toàn bộ cả đoạn này có ngữ điệu chung Bản thân giọng đọc, cách đọc lạibiến hóa, đa thêm sắc thái riêng của ngời đọc, tạo thêm lợng thông tin cho đoạnthơ
Trang 17Thơ và văn xuôi còn khác nhau ở đặc trng riêng Mặc dù ngôn ngữ vănxuôi và ngôn ngữ thơ đều thuộc loại ngôn ngữ của phong cách nghệ thuật nhngngôn ngữ thơ mang đặc trng riêng là có tính nhạc.Tính nhạc đợc tạo bởi nhiềuyếu tố nh: kết cấu ngữ pháp, từ vựng nhng chủ yếu nó đợc tạo bởi ba yếu tố cơbản, đó là: vần điệu, thanh điệu, và nhịp điệu Cũng khai thác ngôn ngữ tự nhiênnhng chỉ cỏ thơ mới có nhạc Bởi vì trong ngôn ngữ thơ, các tham số thanh họccủa ngôn ngữ mới đợc tổ chức một cách chặt chẽ Các tham số thanh học baogồm: các thuộc tính âm thanh (độ cao, độ mạnh, độ dài) và các đơn vị âm thanh(nguyên âm, phụ âm) Các thuộc tính âm thanh đợc lu giữ, truyền đạt trong khi
tổ chức các quá trình thơ ca, làm nên tiết tấu cho thơ Các đơn vị âm thanh thì
đợc lu giữ truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình thể loại làm nên vần thơ.Tác giả Nguyễn Phan Cảnh khẳng định: Chính hiệu quả của tiết tấu và vần này
mà đã chỉ cho phép xuất hiện các hợp thành thi pháp chơng trình hóa mang cơ chế tự điều chỉnh trong mình, thơ ca đã đi vào quỹ đạo của những hệ bền vững
[4,132] Đồng thời, cũng dới hiệu quả này mà chất liệu ngôn ngữ ở đây có nétriêng rất tiêu biểu là đặc trng nhạc tính, tơng tự nh tiết tấu và hòa thanh trong
âm nhạc Nhiều bài thơ, do có tính nhạc dã trở thành phần lời cho nhiều cakhúc
Ngoài ra, giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi còn có một sự khác biệtnữa, đó là ngôn ngữ văn xuôi cần sự chính xác - tờng minh, còn ngôn ngữ thơlại cần phải có sự đa nghĩa, có sự tiềm ẩn, hàm súc, sâu xa
1.2.2 Thơ thất ngôn và thơ mới bảy chữ
1.2.2.1 Thơ thất ngôn
Thơ thất ngôn hay còn gọi là thơ thất ngôn Đờng luật là thể thơ đợc ra đời
từ đời Đờng ở Trung Quốc (618 – 907), phải theo niêm, luật chặt chẽ Thơ thấtngôn Đờng luật thờng tồn tại ở hai dạng chính, đó là thất ngôn tứ tuyệt và thấtngôn bát cú Trong đó, thơ thất ngôn tứ tuyệt là mỗi bài có bốn câu, mỗi câu cóbảy chữ, còn thơ thất ngôn bát cú mỗi bài có tám câu, mỗi câu có bảy chữ Thơthất ngôn bát cú đợc coi là dạng cơ bản vì từ nó, có thể suy ra các dạng khác
Về bố cục, một bài bát cú gồm bốn phần: đề, thực, luận, kết Trong “đề”, câuthứ nhất là phá đề, câu thứ hai là thừa đề Phá đề mở ý của đầu bài ra, thừa đề
để tiếp ý của phá đề chuyển vào thân bài “Thực’’ giải thích rõ ý của đầu bài
“Luận” phát triển rộng ý của đầu bài “Kết” kết thúc ý toàn bài
Thơ Đờng luật khi đi vào Việt Nam không quá phức tạp, nó chỉ tuân thủmột số nguyên tắc nhất định Cụ thể là cách gieo vần, ngắt nhịp Cách gieo vầntrong thơ thất ngôn Đờng luật sẽ là:
Trang 18- Thờng gieo vần bằng.
- Suốt bài thơ thờng chỉ hiệp theo một vần, hay còn gọi đây chính là lối
độc vận Nếu gieo vần sai, không hiệp vần với nhau thì gọi là lạc vận Còn nhgieo vần gợng ép, không hiệp lắm thì gọi là cỡng áp
- Vần chỉ đặt ở cuối câu, không gieo ở giữa câu Trong thơ thất ngôn bát cúthì có 5 vần ở cuối các câu: 1, 2, 4 , 6 và 8 Còn trong thơ thất ngôn tứ tuyệt thì
có 3 vần ở cuối các câu: 1, 2 và 4
- Thơ thất ngôn thờng ngắt nhịp theo loại nhịp cố định là 4/3
- Thơ thất ngôn Đờng luật, thanh điệu liên quan đến hai vấn đề: niêm vàluật Luật bằng trắc là cách sắp xếp các tiếng bằng, tiếng trắc trong các câu củamột bài thơ Đa số các câu có sự hài hòa, cân xứng về thanh điệu Sự phân bốthanh bằng và thanh trắc tơng đối đều đặn Có 4 khuôn mẫu thanh điệu nhất
định: bBtTtBb, tTbBtTb, bBtTbBt, tTbBbTt Tuy nhiên, phải đảm bảo cả hai yêucầu “Nhất tam ngũ bất luận” và “Nhị tứ lục phân minh” cho nên cũng có thể có
sự sắp xếp theo: BTB và TBT, Niêm là sự phù hợp về âm luật của hai câu thơtrong bài thơ Hai câu thơ niêm với nhau khi chữ thứ hai của câu thơ theo mộtluật, hoặc là cùng bằng, hoặc là cùng trắc Ví dụ: Thể thất ngôn bát cú: câu 1niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu
7 Còn ở thể thất ngôn tứ tuyệt: câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3
Ví dụ: Công thức bốn câu đầu của một bài thơ luật bằng:
Thơ mới là dòng thơ xuất hiện từ những năm 1932 – 1945 với những biến
đổi có tính chất nhảy vọt trong thơ ca dân tộc Thơ mới còn là khái niệm đểphân biệt với thơ cũ
Thơ mới là lối thơ không hạn định về số câu, chữ, không theo niêm luật,chỉ cần vần và điệu Điệu là một phần cốt yếu của thơ, là một trong những yếu
Trang 19tố tạo nên sự khác biệt giữa thơ và văn xuôi Điệu là cung bậc của âm nhạc, làcách sắp đặt và phân phối các tiếng trong câu thơ cho âm thanh, tiết tấu dễnghe, hợp với tình ý Điệu thơ do hai yếu tố tạo thành là âm thanh và tiết tấu tức
là cách sắp đặt các tiếng bằng trắc theo âm luật / Lý Toàn Thắng / 2001 / vàcách ngắt nhịp thơ thành những đoạn dài, ngắn mà nên
Thơ mới còn đợc dùng để chỉ thơ hiện đại, bởi về mặt hình thức và thể loạithơ hiện đại nói chung không có tính cách luật mà là thơ tự do, thậm chí có cảthơ văn xuôi Tuy vậy, thơ hiện đại vẫn có sự kế thừa một cách sáng tạo nhữngtinh hoa trong hình thức và thể loại của thơ ca cổ truyền Trong quá trình pháttriển, một số hình thức ổn định đợc nhiều ngời a thích nh thơ bảy chữ, tám chữ,năm chữ
Thơ mới bảy chữ đã dựa trên nền thể loại thơ thất ngôn cổ điển để sáng tạo
và cách tân về ngôn ngữ, vần điệu, thanh điệu và nhịp điệu Tuy thế, thơ mớibảy chữ vẫn dựa vào hai khuôn thanh cơ bản của thất ngôn truyền thống là BTB
và TBT Có điều, khác với thơ thất ngôn truyền thống, thơ mới bảy chữ đợc chiathành khổ Khổ thơ mới bảy chữ thờng gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ Mỗi khổthơ mới bảy chữ giống nh là một bài thất ngôn tứ tuyệt, có luật bằng - trắc, thểthơ, kiểu vần, loại nhịp Mỗi khổ thơ thờng đợc làm theo một thể thanh điệunhất định, tính theo chữ thứ hai của dòng thơ thứ nhất Nếu chữ đó là thanhbằng ta sẽ có thể bằng, dẫn theo tiếng thứ 2 của câu 2 là thanh trắc, tiếng thứ 2của câu 3 cũng là thanh trắc và tiếng thứ 2 của câu 4 là thanh bằng Nếu chữ đó
là thanh trắc thì ta có thể trắc, dẫn theo tiếng thứ 2 của câu 2 là thanh bằng,tiếng thứ 2 của câu 3 là thanh bằng, còn tiếng thứ 2 của câu 4 là thanh trắc.1.2.3 Nhịp điệu và vai trò của nhịp điệu trong thơ
1.2.3.1 Nhịp điệu
Nhịp điệu là yếu tố quan trọng để phân biệt thơ ca với văn xuôi Vậy nhịp
điệu là gì, thì cho đến nay, giới nghiên cứu cha có một quan điểm hay một địnhnghĩa thống nhất và phổ quát về nhịp nói chung và nhịp trong thơ nói riêng
a Đồng nhất nhịp điệu và nhạc điệu
Đó là quan niệm của Gô-gôn Theo Gô-gôn: “Nhịp điệu, bản thân sựchuyển động của thơ, sự tổng hợp giữa ngữ điệu, cách láy, chỗ ngừng và cách
đảo đó là một ma thuật có tác dụng làm say mê và lôi cuốn mạnh mẽ đối vớibạn đọc Âm thanh mạnh mẽ, đa dạng của thơ cũng nh âm nhạc có tổ chức làmchấn động, khêu gợi tâm tình, không có cái đó thì thơ cho dù là thơ có mang t t-ởng sâu sắc bao nhiêu cũng không dẫn tới ấn tợng cần thiết Nhịp điệu, âm nhạc
Trang 20có sức ảnh hởng hết sức to lớn đối với từng ngời và đối với xã hội” ( Dẫn theo
E Vinokurop, trong “Thơ và t duy”, Tài liệu của viện ngôn ngữ học, 1966)
Dĩ nhiên, nhịp điệu và nhạc điệu là không đồng nhất Nhịp điệu chỉ là mộttrong số các nhân tố tạo nên nhạc điệu Nhịp điệu là phơng tiện, còn nhạc điệu
là hiệu quả của việc sử dụng các phơng tiện trong đó có nhịp điệu
b Đồng nhất nhịp điệu với nhịp
Trong “Nghệ thuật thơ ca”, Aristote cho rằng: “nếu sự vận động mà chúng
ta cảm thấy bằng tình cảm của chúng ta rơi vào một trật tự nhất định nào đấy,vào những phần nhỏ hơn thì cái gọi đó là nhịp điệu” (Aristote, Nghệ thuật thơ
ca, Nxb Lao động, H.2007,Tr 85)
Cách hiểu của Aristote coi nhịp điệu là sự vận động theo một trật tự Đitheo hớng này, các tác giả nh Hồ Văn Hải, Phan Huy Dũng cho rằng yếu tốquan trọng tạo nên nhịp điệu là những chỗ ngừng, chỗ ngắt trong sự phân bốmau / tha, là độ dài / ngắn khác nhau, đa dạng của các quãng nghỉ hơi trong câuthơ, khổ thơ, đoạn thơ.( Hồ Văn Hải, Đặc trng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại,Luận án tiến sĩ ngữ văn, H.2004 / Phan Huy Dũng, Nhận diện nhịp điệu trongthơ trữ tình, Ngôn ngữ, 2001, số 3)
c Quan niệm nhịp điệu gồm hai nhân tố nhịp và điệu
Theo Hà Minh Đức: “ Nhịp điệu trong một bài thơ, một câu thơ khôngphải chỉ bộc lộ ở cách ngắt thành những đoạn tiết tấu mà do nhiều nhân tố tạothành Thanh điệu của từ, thanh điệu của đoạn tiết tấu, vần thơ đều tham giavào việc tổ chức nhịp điệu” (Thơ và những vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại,Nxb Giáo dục, H.1998) Tiếp theo quan niệm này, Vũ Thị Sao Chi phát triển bổsung: “Nhịp điệu đợc cấu thành từ hai nhân tố nhịp và điệu Nhịp là nhữngkhoảng đều đặn đợc nối tiếp và lặp lại nhiều lần theo một chu kỳ nhất định củamột hiện tợng ngôn ngữ nào đó trong tác phẩm thơ văn Điệu là đờng nét, tínhchất của nhịp (dài hay ngắn, nhanh hay chậm, lên hay xuống, mạnh hay yếu,nhấn hay lớt, bằng phẳng hay không bằng phẳng ) Điệu làm nên dáng vẻ, sắcthái riêng của nhịp điệu” (Vũ Thị Sao Chi, Nhịp điệu và các loại hình nhịp điệutrong thơ văn, Ngôn ngữ, 2007)
Trang 21- Cho rằng nhịp điệu là đặc trng riêng ở thơ Chu H (1957) đã lấy nhịp điệu
để phân biệt thơ với văn xuôi Các tác giả Jakobsơn (2001), Hồ Văn Hải (2004),Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức (2001), Bùi Công Hùng (2000) cũng chorằng nhịp điệu là đặc thù của ngôn ngữ thơ
e Quan niệm của luận văn
Chúng tôi cho rằng, nhịp điệu là đặc trng cơ bản của thơ, là một trongnhững nhân tố quan trọng để phân biệt thơ với văn xuôi Theo đó nhịp điệu, còngọi là nhịp là sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theothời gian đợc đánh dấu bằng những chỗ ngừng nghỉ (chỗ ngắt) trong câu thơ(dòng thơ), khổ thơ, đoạn thơ
1.2.3.2 Nhịp điệu trong thơ
Nhịp điệu là xơng sống của thơ Thơ có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về
số chữ, bỏ mọi quy luật bằng trắc, nhng không thể vứt bỏ nhịp điệu Nhịp điệuthơ đợc hiểu là sự lặp lại có tính chất chu kỳ về phân đoạn trong tổ chức âmthanh của thơ Nhịp điệu thơ xuất hiện trên cơ sở nhịp của lao động, nhịp cơ thểcon ngời Nhịp là sự nối tiếp của các tiếng xếp thành từng khung đều đặn củagiọng nói theo thời gian Lúc đầu khiêu vũ, thơ ca, âm nhạc có chung nguồngốc là sự vận động nhịp nhàng của con ngời lao động gồm cơ thể và lời nói.Trong bài hát, lời thơ làm thành nội dung của âm nhạc, âm nhạc là hình thứccủa thơ, rồi thơ tách dần xa, thơ thể hiện một câu chuyện có xung động nội tâmriêng nó và độc lập với hình thức nhịp điệu, tính âm hởng, tính tởng tợng cố hữucủa lời nói thơ ca Nhịp trong thơ còn phụ thuộc vào nhịp thở, bởi nhịp thơ cóliên quan đến tình cảm, cảm xúc Tâm lý học đã xác định rằng: Khi vui vẻ tathở 17 nhịp / phút, khi buồn nản 9 nhịp / phút, khi sợ hãi 64 nhịp / phút, khi tứcdận 10 nhịp / phút Nh vậy, nhịp thơ chịu sự chi phối của tình cảm, cảm xúc.Thơ là lĩnh vức thể hiện tình cảm rất mạnh Các trạng thái rung động cảm xúc,xúc động đều ảnh hởng đến nhịp của câu thơ, bài thơ Điều này đợc tác giảTômasepski khẳng định: “ Nhịp các bài thơ đợc xây dựng trên bản chất củachính vật liệu ngôn ngữ dù cơ cấu bài thơ có riêng biệt và đặc thù đi chăng nữathì cơ cấu ấy cũng thuộc về một ngôn ngữ và không đợc lặp lại ngoài giới hạncủa các hình thức dân tộc trong lời nói Nhịp điệu trong thơ có tính chất mỹ học
do con ngời sáng tạo ra để biểu hiện t tởng, tình cảm Những trạng thái, cungbậc tình cảm có sự biểu hiện tơng ứng với cách ngắt nhịp trong câu thơ Nh vậy,nhịp điệu không thuần túy là những ngân vang bên bên ngoài đi kềm ý thơ màgiọng điệu, sắc thái và cờng độ của cảm xúc thơ hòa quyện, tồn tại ngay trongchính dòng âm nhạc của thi ca, tạo thành năng lợng cơ bản cho câu thơ Nhịp
Trang 22điệu chính là nhịp tâm hồn nh Maiacôpxki khẳng định: “Nhịp điệu là sức mạnhcơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ, không giải thích đợc nó đâu, chỉ có thể nói
về nhịp điệu nh nói về từ lực hay điện – đó là những dạng của năng lợng” Vậy nhịp trong thơ là nhịp trên cơ sở lao động dựa vào hơi thở, gắn liền vớicảm xúc, dựa vào chất liệu ngôn ngữ Nhiều khi một câu thơ có thể đợc hiểutheo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào cách ngắt nhịp Những trạng thái,cung bậc tình cảm có sự biểu hiện tơng ớng với cách ngắt nhịp trong câu thơ
Ca dao và thơ lục bát ngắt nhịp chẵn (nhịp 2) là phổ biến Thơ Đờng luật mà ở
đây chỉ nói thất ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn bát cú thờng bố trí theo nhịp 4/3,
đôi khi là 3/4 Thơ tự do ngắt nhịp không cố định, có thể nhịp 2, nhịp 4, nhịp5 có thể xen kẽ hoặc hỗn hợp Còn thơ mới bảy chữ không chỉ kế thừa cáchngắt nhịp truyền thống của thơ ca cổ điển mà còn có nhiều cách tân, sáng tạocác cách ngắt nhịp, tạo nên một sự đột phá về nhịp trong thơ, tăng thêm tínhnhạc cho thơ
1.2.3.3 Vai trò của nhịp điệu trong thơ
Đánh giá về nhịp điệu trong thơ có nhiều ý kiến khác nhau Chẳng hạn:Theo Đinh Văn Đức “ Nhịp thơ là một trong những yếu tố quan trọng tạo nêntiết tấu, giai điệu, âm hởng trong câu thơ, có giá trị góp phần khu biệt thi ca vớivăn xuôi” [12,915] Nguyễn Trung Thu khẳng định: “Xa nay dù làm thơ theokiểu nào đi nữa ngời ta cũng không thể bỏ qua nhịp điệu ở nớc ngoài cũng nh ởnớc ta, những ngời ủng hộ nhiều nhất cho thơ không vần cũng khẳng định vaitrò không thể thiếu đợc của nhịp điệu đối với thơ Thơ có thể thiếu vần, nhngthiếu nhịp điệu thì thơ không còn là thơ nữa” (Nhạc điệu thơ Tố Hữu, Nghiêncứu bình luận thơ Tố Hữu, Nxb, VHTT,2006,Tr 228) Maiacôpxki cho rằng:
“Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ, không giải thích
đ-ợc nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu nh nói về lực hay từ điện – đó là nhữngdạng năng lợng”.- Dẫn theo Bùi Công Hùng, 1998 Thơ là một cấu trúc đặc biệt
đợc đặc trng bởi sự phụ thuộc của toàn thể các yếu tố vào nguyên tắc nhịp điệu.Hay nói cách khác, trong thơ, nhịp điệu là nhân tố cấu trúc Do đó, nhịp điệu làxơng sống của thơ Giữa thơ và nhịp điệu có quan hệ qua lại Nếu nh thơ đã có
đợc một tứ thơ thức hay thì chỉ cần có nhịp điệu là đủ, vần luật không cần cholắm Tự thân cái tứ thơ hết sức nên thơ trên cơ sở nhịp điệu có thể hoán cải tấtcả để đem đến cho bài thơ cái vể hoàn chỉnh nên thơ Nhng nếu tứ thơ thuộcloại trung bình khá mà vứt bỏ vần luật thì chắc chắn là hỏng Trong trờng hợp tứthơ không siêu việt cho lắm thì nhịp điệu lại hết sức cần thiết vì nó sẽ đem lạitính đa dạng và thúc đẩy sự suy nghĩ, tạo nên một kiểu lựa chọn có giá trị biểu
Trang 23cảm cho câu thơ, bài thơ Nh vậy, nhịp điệu trong thơ giữ một vai trò hết sứcquan trọng Nó luôn luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu
đạt cho thơ
Mặt khác, cùng với vần điệu và thanh điệu, nhịp điệu góp phần tạo nêngiai điệu, tính nhạc cho thơ Với mỗi cách ngắt nhịp khác nhau ta sẽ có các tiếttấu, cung bậc khác nhau Với thơ cũ, nhịp điệu câu thơ xuất hiện trên cơ sở lặplại và luân phiên các đôn vị âm luật theo sự cấu tạo của ngôn ngữ Do vậy, thơ
cũ thờng ngắt nhịp 4/3 Cách ngắt nhịp này một phần do tâm lý sáng tác theokhuôn mẫu, một phần để tuân thủ các quy tắc vận luật của thơ Đờng Còn cácnhà thơ hiện đại nh Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, TốHữu không chỉ kế thừa cách ngắt nhịp truyền thống của thơ cổ điển mà còn cónhiều sáng tạo, cách tân các cách ngắt nhịp nhằm thực hiện dụng ý nghệ thuật
và tăng thêm tính nhạc cho thơ
1.2.4 Câu thơ, khổ thơ và bài thơ
1.2.4.1 Câu thơ
Lê Lu Oanh định nghĩa: “Câu thơ là dòng thơ, là một đơn vị nhịp điệu, đơn
vị ý nghĩa, đơn vị liên kết trong bài thơ Trong quan hệ với cái tôi trữ tình, câuthơ nh một hình thức ngôn ngữ cụ thể, trực tiếp của những quan niệm nghệthuật của cái tôi trữ tình” [41,152] Câu thơ còn là đơn vị của lời văn, lời nóinghệ thuật Câu thơ bộc lộ một cảm quan về từ ngữ, cách tổ chức điểm nhìn, thểhiện một giọng điệu
Trong câu thơ có những thành phần bị tỉnh lợc, để trống, gợi nên nhiềucách hiểu khác nhau
Ví dụ:
Hôm qua ra đứng bờ aoTrông cá cá lặn, trông sao sao mờ Buồn trông con nhện chăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ
Trang 24Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
để tạo nên một sự hợp lý nhất định có thể chấp nhận đợc
Ví dụ:
Chiếc cốc đời đang tràn đầy máu lệ
Mà lẵng trần gian nặng trĩu trái đau thơng (Sóng Hồng)
Tinh sơng, núi và mây, cỗng đàn bò đi Chiều hôm, núi và mây, cỗng đàn bò lại
(Vơng Trung)
1.2.4.2 Khổ thơ
Khổ thơ là sự kết hợp các câu thành từng nhóm, thống nhất với nhau về:vần, nhịp, cú pháp, ngữ điệu Mỗi khổ đợc kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài.Giữa các khổ thơ đợc đánh dấu bằng khoảng cách lớn hơn khoảng cách giữa haidòng thơ” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ vănhọc, Nxb Giáo dục, 1992)
Trang 25Yếu tố quan trọng nhất của khổ thơ là sự thống nhất về vần Mỗi khổ thơthờng chỉ có một vần Nếu thay đổi vần thì bài thơ sẽ chuyển sang khổ khác.
Ví dụ:
Thơ thẩn đờng chiều một khách thơ
Say nhìn xa rặng núi xanh lơ
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ
Hỡi cô con gái hái mơ già
Cô chửa về ? Đờng thì xa
Mà ánh chiều hôm dần một tắt Hay cô ở lại về cùng ta
(Nguyễn Bính)
Câu thơ có thể đợc vắt từ dòng này sang dòng khác hoặc có thể có sự bỏlửng để tiếp nối giữa các câu sau Song giữa các khổ thơ không có hiện tợng đó.Ngữ điệu có thể thay đổi trong toàn bộ khổ thơ, nhng phải thể hiện đợc dấu hiệukết thúc mà đa số kết thúc với sự “hạ giọng”
Các khổ thơ có số lợng câu khác nhau Khổ ít nhất là một câu, và không cógiới hạn tối đa về số câu trong một khổ
Nhịp điệu trong khổ thơ có sự thống nhất
Bài thơ bảy chữ vẫn đợc tổ chức theo bốn phần: đề, thực, luận, kết Sự sángtạo của các nhà thơ là ở sự phân bố dung lợng câu thơ, khổ thơ cho mỗi phần đótrong mỗi bài thơ là khác nhau Phần thực và phần luận sự phát triển về mặtdung lợng khổ thơ tăng lên cao, tỉ lệ thuận so với lợng khổ thơ trong bài Phầnthực có thể gồm 3 khổ thơ (ở bài gồm 6 khổ thơ), 4 khổ thơ (ở bài gồm 7 khổ,
13 khổ), 5 khổ thơ (ở bài 8 khổ hoặc 9 khổ), Cũng có trờng hợp một bài gồm
Trang 26nhiều khổ thơ nhng phần luận chiếm tỉ lệ rất thấp: 1 khổ trong bài thơ có 5 khổ,
1 khổ trong bài thơ có 6 khổ, 1 khổ trong bài thơ có 7 khổ, 1 khổ trong bài thơ
có 8 khổ
Nếu nh trong thơ thất ngôn truyền thống, chức năng của mỗi phần đề, thực,luận, kết là rạch ròi thì trong thơ mới bảy chữ nhiều khi có sự bứt phá khỏinhững hình thức vốn đợc coi là quy tắc của thể thất ngôn bát cú cổ điển ở một
số khổ thơ đợc định vị là khổ kết, nghĩa là thâu tóm ý nghĩa cả bài nhng nhà thơvẫn tiếp tục bàn luận cho rộng nghĩa đầu bài khiến cho độc giả có cảm giác nh
ý tứ của khổ luận cứ thế mà tràn xuống khổ kết Bài thơ vì vậy kết lại rất tựnhiên bằng việc nối tiếp mạch cảm xúc chứ không bị gò ép trong một khuônmẫu cho sẵn
1.3 Cơ sở ngôn ngữ học của nhịp thơ và cách tổ chức nhịp trong thơ mới bảychữ
1.3.1 Cơ sở ngôn ngữ học của việc ngắt nhịp thơ
Trớc đây, đã có nhiều nghiên cứu về nhịp thơ Nhng đôi khi, việc ngắtnhịp thơ đợc thực hiện dựa trên cơ sở cảm nhận cảm tính hoặc theo một thóiquen có tính quy tắc (Chẳng hạn: ngắt nhịp thơ 4/3 là do cả bài thơ đợc tác giảlàm theo thể thất ngôn bát cú có nhịp 4/3) Tuy nhiên, để ngắt nhịp thơ mộtcách chính xác và khoa học thì cần phải dựa vào một cơ sở có tính khoa học.Dựa trên cơ sở ngôn ngữ học thì có các cách ngắt nhịp sau:
- Ngắt nhịp dựa vào các dấu hiệu nhận dạng ngay trên bề mặt hình thứccủa câu thơ với các dấu câu: dấu chấm (.); dấu phẩy (,); dấu hai chấm (:); dấuchấm cảm (!); dấu gạch ngang (-)
Đêm sắp tàn rồi./ Sơng trĩu cây
(Chế Lan Viên, Nhánh đào yêu)
Bỡ ngỡ rồi la:/ “Cha !/ Cha ơi !”
(Tố Hữu, Ngời về)
Vết thơng lòng -/ ở Mũi Cà Mau
Trang 27(Xuân Diệu, Mũi Cà Mau)
- Ngắt nhịp dựa vào ngữ nghĩa của một cú đoạn hoặc của một ngữ đoạntrong câu thơ Ngữ đoạn là sự kết hợp giữa từ với từ hoặc tổ hợp từ tạo thành cácngữ danh từ, động từ, tính từ; còn cú đoạn là kết cấu chủ - vị hoặc đề - thuyết.Một nhịp tơng đơng với một cú đoạn hay ngữ đoạn
Ví dụ:
Mây vắng,/ trời trong,/ đêm thủy tinh
(Xuân Diệu, Nguyệt cầm)
Một đời tang tóc/ nh đời chị
(Chế Lan Viên, Chị ba)
Trăng ngà lặng i / nh bông tuyết
(Xuân Diệu, Buồn trăng)
- Ngắt nhịp theo vế đứng trớc hoặc đứng sau từ có vai trò liên kết
Ví dụ:
Chọn một dòng / hay để nớc trôi
(Tố Hữu, Dậy lên thanh niên)
Ngõ rất cụt/ mà lòng muôn dặm
(Chế Lan Viên, Chơi chữ về trên ngõ Tạm Thơng)
Đờng đi bằng ngựa/ hay bằng thuyền
(Nguyễn Bính, Nhớ)
- Với câu thơ có phần đảo ngữ chính là điểm nhấn nghệ thuật đợc đánh dấubằng một nhịp, đợc sắp xếp vào nhịp đầu tiên Các yếu tố còn lại trong câu thơ
Trang 28sẽ đợc ngắt theo những cách khác nhau tùy thuộc vào dụng ý nghệ thuật của tácgiả.
Ví dụ:
Xào xạc/ chỉ có/ lá vàng rơi
(Chế Lan Viên, Mơ trăng)
Bát ngát/ sông dài / Ta vắng em
(Chế Lan Viên, Cửa Việt)
Hồi hộp/ nàng ra/ vịn cửa lầu
(Tố Hữu, Vú em)
Lung linh/ bóng sáng/ bỗng rùng mình
(Xuân Diệu, Nguyệt cầm)
- Đặc biệt ở thơ Chế Lan Viên có một hiện tợng vắt dòng cả bài thơ, tức là
về mặt lô gíc cú pháp là bài văn xuôi – thơ Mặt văn xuôi thể hện ở nội dungcòn chất thơ đợc bộc lộ ở hình thức (nối vần và nối nhịp)
Ví dụ:
Chỉ một ngày nữa thôi./ Em sẽ
trở về./ Nắng sáng/ cũng mong./ Cây
cũng nhớ./ Ngõ/ cũng chờ./ Và bớm
cũng thêm màu/ trên cánh/ đang bay
(Chế Lan Viên, Tập qua hàng)
1.3.2 Cách tổ chức nhịp trong thơ mới bảy chữ
Thơ mới bảy chữ vẫn ngắt nhịp của thơ thất ngôn truyền thống Khôngnhững thế, tỉ lệ câu thơ ngắt nhịp 4/3 vẫn chiếm số lợng lớn nhất 5042/7312câu Đóng góp của thơ mới là tìm ra những cách ngắt nhịp mới theo những tiêuchí hợp lý và cảm xúc đa dạng, cụ thể có 45 cách ngắt nhịp khác nhau Điều đócho thấy tài năng sáng tạo và cách tân của các nhà thơ mới Để cho câu thơ thấtngôn truyền thống trở thành câu thơ bảy chữ hiện đại, các nhà thơ mới khôngtuân theo các nhịp đều đặn cố hữu của thể thơ mà trong nhiều trờng hợp đã tháotung thơ thất ngôn cổ truyền bằng các nhịp khác nhau làm cho câu thơ mới bảychữ giàu sức biểu hiện
1.4 Tiểu kết
Trang 29Thơ mới có đóng góp rất to lớn cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại Thơ mới
đã tạo ra đợc một cái “Tôi” cá nhân trong cảm thụ thẩm mỹ Đặc biệt, thơ mới
đã làm một cuộc cách mạng trong thi pháp và t duy thơ, đã đa ra một cái nhìncá thể hóa về thiên nhiên, tạo vật thông qua cái Tôi - chủ thể trữ tình, trong đó
có thơ bảy chữ, trên cái nền thể thơ truyền thống tiến hành một sự đổi mới tiếngthơ, hình thức thơ mà nổi bật là nhịp điệu thơ Để tìm hiểu cụ thể hơn, chơnghai chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát các cách ngắt nhịp trong thơ mới bảy chữ,xác lập các loại nhịp, tần số xuất hiện trong câu thơ, khổ thơ, bài thơ, chỉ ranhững sáng tạo và cách tân của các nhà thơ mới trong lĩnh vực này
Trang 30Chơng 2 NHịP ĐIệU TRONG THƠ MớI BảY CHữ
2.1 Nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ
2.1.1.2 Để xác định nhịp điệu trong 7312 câu thơ bảy chữ chúng tôi dựa vào cơ
sở ngôn ngữ học của việc ngắt nhịp thơ nh đã trình bày ở chơng 1 Sau đây làcách tổ chức nhịp điệu câu thơ mới bảy chữ tiếng Việt:
TT
Số lợng câu thơ
củacác tácgiả
Loại nhịp
Nguyễ
n Bính
Hàn Mặc Tử
Chế Lan Viên
Xuân Diệu Tố Hữu
∑
Số lợng Tỉ lệ
%
Trang 33tạo ra đợc sự nhịp nhàng, cân đối Cũng bởi chính u thế của nó mà các nhà thơmới kế thừa nhịp 4/3 truyền thống có ý thức Khảo sát 7312 câu thơ mới bảychữ trong 392 bài thơ của 5 tác giả thì có 5042 câu thơ ngắt nhịp 4/3, chiếm gần68,95 %.
Chẳng hạn:
Từ buổi về đây/ sầu lại sầu
Anh đi thơ thẩn/ nh ngây dại
(Hàn Mặc Tử, Âm thầm, c 3 , k 2 , tr 62 )
Tôi có chờ đâu,/ có đợi đâu
(Chế Lan Viên, Xuân, c 1 , k 1 , tr 74 )
Dặng liễu đìu hiu/ đứng chịu tang
(Xuân Diệu, Đây mùa thu tới, c 1 , k 1 ,
Ngời tình nhân/ đỏ chói môi hôn
(Chế Lan Viên, Hoa ạo son, c 2 , k 1 , tr 602 )
Lá liễu dài/ nh một nét mi
(Xuân Diệu, Nhị hồ, c 4 , k 4 , tr 58 )
Nó chết rồi/ con chim của tôi
(Tố Hữu, Con chim của tôi, c 1 , k 1 , tr 74 )
2.1.2.2 Cách ngắt nhịp không theo truyền thống
a Các nhịp hoán vị
Đó là các nhịp 2/5 và 5/2, nhịp 1/6 và 6/1 Trong các nhịp này nhịp 2/5 lànhiều nhất, có trong 49 câu thơ, chiếm khoảng 8,87 % Nhịp 5/2 là sự hoán đổinhịp 2/5 có số lợng ít hơn Nhịp 6/1 là sự hoán đổi nhịp 1/6, hai loại nhịp nàyxuất hiện ít
Chẳng hạn:
- Câu thơ nhịp 2/5:
Trang 34Mẹ bảo:/ “Thôn Đoài hát tối nay”
(Nguyễn Bính, Ma xuân, c 1 , k 2 , tr 25 )
Hổn hển/ nh lời của nớc mây
(Hàn Mặc Tử, Mùa xuân chín, c 2 , k 3 , tr 78 )
Phải em -/ ngời tố nữ si mê
(Chế Lan Viên, Cô gái sênh tiền, c 4 , k 3 , tr 55 )
Trời ơi,/ ta muốn uống hồn em
(Xuân Diệu, Vô bên, c 4 , k 4 , tr 71 )
Dậy lên,/ tất cả những thanh niên
(Tố Hữu, Ngời lính đêm, c 3 , k 1 , t 127 )
- Câu thơ nhịp 5/2:
Viết đỏ ngời hai chữ:/ đấu tranh
(Nguyễn Bính, Xuân nhớ miền Nam, c 1 , k 3 , tr 137 )
Buồn buồn ta muốn về,/ trăng hỏi:
(Hàn Mặc Tử, Tình thu, c 3 , k 3 , tr 65 )
Dù trăm trận bom rền/ vẫn ở
(Chế Lan Viên, Nhớ ở rừng, c 7 , k 1 , tr 243 )
Ngời sẽ về tay ai,/ biết đâu:
(Xuân Diệu, Giã từ thân thể , c 2 , k 1 , tr 156 )
Khi âu yếm cùng anh,/ em hỏi
(Tố Hữu, Miền Nam, c 1 , k 2 , tr 353 )
- Câu thơ có nhịp 1/6:
Ôi !/ Biết bao nhiêu kẻ đợi chờ
(Xuân Diệu, Những kẻ đợi chờ, c 4 , k 1 , tr 142) Sống,/ có những niềm vui đơn giản
(Tố Hữu, Chân trời mới, c 1 , k 1 , tr 652 )
- Câu thơ có nhịp 6/1:
Đã thấy nắng trong rừng cha,/ anh?
(Xuân Diệu, Trong rừng Quỳ Châu, c 1 , k 1 , tr 534 )
Cu Ba đạp sóng trùng dơng / tiến
(Tố Hữu, Từ Cu Ba, c 3 , k 9 , tr 364 )
b Các loại có ba nhịp/ câu
- Từ nhịp 4/3 truyền thống tách thành các nhịp 2/2/3, nhịp 4/2/1, nhịp4/1/2, nhịp 3/1/3, nhịp 1/3/3 Trong năm loại nhịp này nhịp 2/2/3 có số lợngnhiều nhất, chiếm 340 câu; nhịp 4/2/1 là ít nhất, có 21 câu
Trang 35(Hàn Mặc Tử, Ghen, c 1 , k 3 , tr 88 )
Em đến./ Mùa xuân./ Hoa viện đẹp
Thuế ngời -/ hỏi thật -/ mấy quan kim?
(Xuân Diệu, Một cuộc biểu tình, c 9 , k 7 , tr 246 )
Hết cùm/ hết xích/ hết roi canh
(Tố Hữu, Ngời về, c 2 , k 1 , tr 133 )
+ Nhịp 4/2/1: Đỏ hồng hoa giấy/ vàng mai/ cúc
(Chế Lan Viên, Vờn quê, c 3 , k 1 , tr 654 )
Anh đi xa cách/ - em ơi !/ Gửi
(Xuân Diệu, Gửi lại cho em, c 3 , k 4 , tr 609 )
Lặng lẽ thuyền trôi/ giữa sắc,/ không
Tiếng hót đầu tiên,/ ơ,/ lạ lắm
(Chế Lan Viên, Chim biếc Vĩnh Linh, C 3 , tr 483 )
Đàn ghê nh nớc,/ lạnh,/ trời ơi
(Xuân Diệu, Nguyệt cầm, c 2 , k 3 , tr 108 )
Bỡ ngỡ rồi la:/ “cha,/ cha ơi”
(Tố Hữu, Ngời về, c 4 , k 3 , tr 133 )
+ Nhịp 3/1/3: Những bàn tay/ vẫy/ những bàn tay
(Nguyễn Bính, Những bóng ngời trên sân ga, c 2 , k 8 , tr 49 )
Thu đến đây !/ Chừ,/ mới nói răng?
(Chế Lan Viên, Thu, c 1 , k 3 , tr 64 )
Em tả đất,/ trời,/ đồng lúa chín
(Xuân Diệu, Em nhỏ Hơng Khê, c 3 , k 8 , tr 621 )
Mẹ bấm con/ im:/ chúng nó lùng
(Tố Hữu, Quê mẹ, c 4 , k 3 , tr 252 )
+ Nhịp 1/3/3: Ôi !/ Chị một em/ em một chị
(Nguyễn Bính, Xuân tha hơng, c 2 , k 1 , tr 88 )
ồ !/ bằng trân châu/ hay quỳnh dao ?
(Hàn Mặc Tử, Tiêu sầu, c 14 , tr 152 )
Nhớ/ chao ôi nhớ !/ Trời xanh thế
(Chế Lan Viên, Nhớ tuổi thơ, c 3 , tr 294 )
Nhớ,/ nhớ làm chi !/ Xin ngủ yên !
(Xuân Diệu, Giã từ thân thể, c 1 , k 4 , tr 156 )
Giả/ là nh thật./ Khó chi mô
(Tố Hữu, Thật giả, c 4 , tr 587 )
Trang 36- Từ nhịp 3/4 truyền thống tách thành nhịp 3/2/2, nhịp 3/3/1, nhịp 1/2/4,nhịp 2/1/4.
Chẳng hạn:
+ Nhịp 3/2/2: Cái cơn mơ/ những lộc,/ những chồi
(Chế Lan Viên, Cây giữa chu kỳ, c 2 , k 3 , tr 474 )
Đờng vào Nam/ - số một/ - không chia
(Xuân Diệu, Đờng vào Nam, c 1 , k 18 , tr 448 )
Máu đã quyện,/ em ơi,/ trong đó
(Tố Hữu, Em ơi Ba Lan , c 3 , k 5 , tr 307 )
+ Nhịp 3/3/1: Bom Huê Kỳ/ không phân già/ trẻ
(Xuân Diệu, Chòm Cô Tô với bảy đảo xanh, c 6 , k 1 , tr 517 )
Bầy chó giữ/ những con ngời/ - thú
(Tố Hữu, Miền Nam, c 3 , k 11 , tr 355 )
+ Nhịp 1/2/4: Không,/ không trách,/ chúa mê nhan sắc
(Hàn Mặc Tử, Nói tiên tri, c 1 , k 4 , tr 144 )
Ôi,/ nỗi nhớ/ nh quăng mồi lửa
(Chế Lan Viên, Nhớ ở rừng, c 1 , k 2 , tr 243 )
Tất,/ tất cả/ góp mình diệt giặc
Vô tình/ bỗng/ nổi tiếng cời ran
(Chế Lan Viên, Xuân, c 2 , k 4 , tr 74 )
Xuân đậm;/ hồng/ nh một nụ cời
(Xuân Diệu, Hoa, c 4 , k 3 , tr 374 )
Hàng nội/ ngoại/ ngập tràn chợ mới
(Tố Hữu, Duyên thầm, c 1 , k 4 , tr 655 )
- Tách nhịp 2/5 thành nhịp 2/3/2, nhịp 2/4/1, nhịp 1/1/5
Chẳng hạn:
+ Nhịp 2/3/2: Suốt đời/ tôi nhớ mãi/ hôm nay
(Nguyễn Bính, Viếng hồn trinh nữ, c 4 , k 5 , tr 40 )
Trang 37(Xuân Diệu, Sớm nay, k 2 , tr 381 )
Lâu rồi,/ khao khát lắm,/ xuân ơi
(Tố Hữu, Xuân nhân loại, c 1 , k 5 , tr 172 )
+ Nhịp 2/4/1: Đất nớc/ qua bao trận mất/ còn
(Nguyễn Bính, Trở về quê cũ, c 1 , k 9 , tr 143 )
Qua sông,/ đờng vẫn bạt ngàn/ - đi
(Xuân Diệu, Đờng vào Nam, c 4 , k 8 , tr 448 )
Đảo điên,/ thiên hạ đổi màu,/ tên
+ Nhịp 1/4/2: Xa,/ ta hái nhành lan/ mặt đất
(Chế Lan Viên, Ôi chi Hằng Nga cô gái Nga, c 3 , k 6 , tr 229 )
Ôi/ những lá sơng ôm/ lóng lánh
(Xuân Diệu, Tình yêu san sẻ, c 3 , k 1 , tr 512 )
Ôi/ nói làm sao đợc/ hở anh
(Tố Hữu, Lá th Bến Tre, c 1 , k 13 , tr 394 )
+ Nhịp 5/1/1: Anh sốt ruột muốn kêu:/ Em,/ quá !
(Hàn Mặc Tử, Cuối xuân cới vợ, c 4 , k 3 , tr 141 )
Gớm !/ cứ lòe nhau chi thế,/ cụ
(Xuân Diệu, Một cuộc biểu tình, c 10 , k 7 , tr 246 )
c Các loại nhịp biến thiên có bốn nhịp/ câu
- Nhịp 2/2/1/2, chẳng hạn:
Chao ôi !/ mong nhớ !/ Ôi/ mong nhớ
(Chế Lan Viên, Xuân, c 3 , k 1 , tr 74 )
“Em buồn,/ em nhớ,/ chao !/ em nhớ !
(Xuân Diệu, Đơn sơ, c 3 , k 1 , tr 76 )
Làm ăn,/ hai chữ,/ quen/ mà lạ
(Tố Hữu, Đêm cuối năm, c 3 , k 1 , tr 548 )
- Nhịp 3/2/1/1, chẳng hạn:
Lạnh lùng bay/ giữa gió,/ sơng,/ ma
(Xuân Diệu, Muộn màng, c 1 , k 5 , tr 90 )
Trang 38Há để ai/ bênh vực/ lợi/ quyền
(Tố Hữu, Dậy lên thanh niên, c 1 , k 4 ,
tr 95 )
- Nhịp 3/1/1/2, chẳng hạn:
Em đem kim,/ chỉ,/ vải,/ bông ra
(Xuân Diệu, Chiếc gối, c 1 , k 12 , tr 325 )
Trái bởi kia/ vàng/ ngọt/ với ai
(Tố Hữu, Bác ơi, c 1 , k 4 , tr 429 )
- Nhịp 1/2/2/2, chẳng hạn:
Giống/ đi đứng,/ nghĩ suy,/ ăn nói,
(Xuân Diệu, Đứa con của tình yêu, c 2 , k 3 , tr 733 )
Quảng,/ Phong ơi / Hơng Thủy,/ Hơng Trà
(Tố Hữu, Quê mẹ, c 2 , k 9 , tr 254 )
- Nhịp 2/2/2/1, chẳng hạn:
trở về./ Nắng sáng/ cũng mông./ Cây
(Chế Lan Viên, Tập qa hàng, c 2 , tr 609 )
Thong thả,/ chiều vàng/ thong thả/ lại
(Xuân Diệu, Giờ tàn, c 1 , k 4 , tr 77 )
Tìm ai,/ con hỏi,/ mẹ rằng:/ im !
Chừ đây,/ buồn/ giận/ biết sao ngăn
(Chế Lan Viên, Thu, c 2 , k 3 , tr 64 )
Muốn sống,/ chơi,/ đùa,/ để mẹ vui
(Xuân Diệu, Ma phóng xạ Mỹ, c 4 , k 5 , tr 461 )
Chợ trời/ thật/ giả/ đâu chân lý
(Tố Hữu, Tâm sự, c 3 , k 3 , tr 411 )
- Nhịp 1/1/2/3, chẳng hạn:
ít/, nhiều:/ với mẹ/ vẫn là con
(Xuân Diệu, Hội nghị non sông, c 4 , k 23 , tr 211 )
Mai/ đào/ cùng nở,/ nhớ ngời thân
(Tố Hữu, Ta vẫn là xuân, c 4 , k 1 , tr 696 )
- Nhịp 4/1/1/1, chẳng hạn:
Con ta bập bẹ:/ “ba,/ ba,/ má !”
(Nguyễn Bính, Xuân nhớ miền Nam, c 9 , k 2 , tr 137 )
Vác bút lên đàng,/ bớc:/ “một !/ hai !”
(Xuân Diệu, Hồn cách mạng, c 8 , k 14 , tr 125 )
Ta đi trong gió/ thơm/ khoai/ sắn
Trang 39(Tố Hữu, Tình khoai sắn, c 3 , k 5 , tr 180 )
- Nhịp 2/1/2/2, chẳng hạn:
Cũng nhớ./ Ngõ/ cũng chờ./ Và bớm
(Chế Lan Viên, Tập qua hàng, c 3 , tr 609 )
Nhìn gần/ giống,/ trông xa/ cũng giống
(Xuân Diệu, Đứa con của tình yêu, c 3 , k 2 , tr 733 )
Đêm đêm/ tiếng của lòng/ Trung/ Bắc
Bơ vơ/ đi giữa đời/ khôn/ dại
(Tố Hữu, Gửi theo anh Xuân Diệu, c 3 , tr 561 )
Hoa mai nh/ tuyết,/ nhẹ nh/ hơi
(Xuân Diệu, Thăm cảch chùa Hơng, c 2 , k 8 , tr 862 )
Giang,/ mây,/ hèo/ cùng quế/ lừng danh
- Nhịp 1/1/2/1/2, chẳng hạn:
Cam,/ quýt/ thêm na,/ ổi/ rộn ràng
(Xuân Diệu, Vờn Thuận Vi, c 1 , k 3 , tr 512 )
Trang 40- Nhịp 1/1/2/2/1, chẳng hạn:
Thắm,/ vàng/ tô điểm/ lối non,/ sông
(Xuân Diệu, Hội nghị non sông, c 1 , k 1 , tr 207 )
- Nhịp 1/1/1/1/3, chẳng hạn:
Thâm/ - khuê/ - ý/ -thức/ chong đèn lạnh
(Chế Lan Viên, Lại thấy thời gian, c 2 , k 2 , tr 120 )
- Nhịp 2/1/1/1/2, chẳng hạn:
Ba màu/ đậm/ nhạt/ biếc/ xa xôi
(Xuân Diệu, Cảnh Hạ Long, c 4 , k 4 , tr 965 )
e.Nhịp phá cách, có sáu nhịp/ câu
- Nhịp 1/1/1/2/1/1, chẳng hạn:
Trăng,/ Trăng,/ Trăng !/ Là Trăng,/ Trăng,/ Trăng!
- Nhịp 2/1/1/1/1/1, chẳng hạn:
Anh khêu/ đĩa/ - bấc/ - trầm/ - tâm/ lại
(Chế Lan Viên, Lại thấy thời gian, c 3 , k 4 , tr 120 )
2.1.3 Nhận xét
Từ việc xác định các loại nhịp, tiến hành tính đếm số lợng và tỉ lệ các loạinhịp trong câu thơ mới bảy chữ, chúng tôi bớc đầu có những nhận xét nh sau:2.1.3.1 Nh đã biết, nhịp điệu là xơng sống của thơ Bất kỳ một khổ thơ nàocũng có một cấu trúc nhịp điệu nhất định, bởi không thể có tình trạng tùy hứng
về nhịp điệu Nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ trớc hết là nhịp 4/3 củakhuôn sáo thi điệu thất ngôn truyền thống Qua thống kê và miêu tả chúng tôithấy thơ mới bảy chữ có đến 5042 câu trên tổng số 7312 câu thơ ngắt nhịp 4/3,chiếm 68,95 % Tính trung bình cứ 1,5 câu thơ thì có 1 câu có nhịp 4/3 Đó làmột tỷ lệ hết sức cao nếu nh ta khảo sát từng nhà thơ cụ thể Chẳng hạn,Nguyễn Bính có 994 câu thơ trong tổng số 1171 câu thơ ngắt nhịp 4/3, chiếm84,8 % Nếu khảo sát trong từng khổ thơ, từng bài thơ thì có nhiều khổ thơ,nhiều bài thơ chỉ sử dụng nhịp 4/3 Chẳng hạn, Hàn Mặc Tử có đến 14 bài trêntổng số 46 sài thơ dùng duy nhất một nhịp nh Hồn cúc, Đàn nguyệt, Chuyến đòngang, Thức khuya, Chùa hoang, Đà Lạy trăng mờ Thêm nữa, nếu xếp 3/4cũng là nhịp truyền thống của thất ngôn ( có trong thể song thất lục bát và hátnói) thì loại nhịp này đợc các nhà thơ sử dụng khá phổ biến Nhịp 3/4 có trong
711 câu thơ, chiếm gần 9,72 % Sở dĩ các nhà thơ mới kế thừa nhịp thơ truyềnthống một phần là do tâm lý sáng tác theo khuôn mẫu, tuân thủ nguyên tắc củathơ Đờng luật, nhng theo chúng tôi đây là một sự kế thừa có dụng ý, có tínhkhuynh hớng rõ ràng Các nhà thơ mới nhận thấy nhịp điệu truyền thống củathất ngôn nói chung là khá tẻ nhạt Nếu không hoán cải cái nhịp điệu ấy khiến