Trờng đại học vinhKhoa giáo dục chính trị Lê thị việt Phát huy nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa khóa luận tốt nghiệp đại học ng
Trang 1Trờng đại học vinhKhoa giáo dục chính trị
Lê thị việt
Phát huy nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
khóa luận tốt nghiệp đại học
ngành cử nhân s phạm giáo dục chính trị
Vinh - 2010
Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận: “Phát huy nguồn lực trí thức thành phố Hà
lực cố gắng của bản thân mình, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong Hội đồng Khoa học Khoa Giáo dục Chính trị, sự quan tâm,
động viên, khích lệ kịp thời của gia đình và bạn bè Đặc biệt, trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình, tôi luôn nhận đợc sự quan tâm hớng dẫn tận tình
của thầy giáo TS Đinh Thế Định - ngời trực tiếp hớng dẫn khóa luận cho tôi.
Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những ngời thân đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn.
Trang 2Đặc biệt, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ngời đã trực tiếp
hớng dẫn và giúp tôi hoàn thành khóa luận này TS Đinh Thế Định Chúc thầy
luôn mạnh khoẻ, công tác tốt và đạt đợc những thành công mới trong cuộc sống!
Chúc mọi ngời luôn vui vẻ, hạnh phúc!
Vinh, tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Lê Thị Việt
Trang 3
Mục lục
Trang
Mở ĐầU 1
NộI DUNG 5
Chơng 1: Nguồn lực trí thức và vai trò của nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá 5
1.1 Khỏi niệm nguồn lực con người và nguồn lực trớ thức 5
1.1.1 Nguồn lực con người 5
1.1.2 Nguồn lực trớ thức 9
1.2 Nguồn lực trớ thức thành phố Hà Tĩnh trong quỏ trỡnh đẩy mạnh cụng nghiệp húa, hiện đại húa 15
1.2.1 Một số nột cơ bản về thành phố Hà Tĩnh 15
1.2.2 Thực trạng nguồn lực trớ thức thành phố Hà Tĩnh 16
1.2.3 Vai trũ của nguồn lực trớ thức thành phố Hà Tĩnh 32
Chơng 2: Phơng hớng, giải pháp phát huy nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá 41
2.1 Phương hướng phỏt huy nguồn lực trớ thức thành phố Hà Tĩnh 41
2.2 Giải phỏp phỏt huy nguồn lực trớ thức thành phố Hà Tĩnh 47
2.2.1 Nõng cao nhận thức và hành động của cỏc chủ thể 47
2.2.2 Đổi mới cụng tỏc đào tạo, quản lý, sử dụng và thu hỳt nguồn lực trớ thức đỏp ứng yờu cầu 51
2.2.3 Xõy dựng mụi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ trớ thức hoạt động, phỏt huy tiềm năng của mỡnh 54
2.2.4 Tăng cường chớnh sỏch đói ngộ, trọng dụng và tụn vinh trớ thức, thu hỳt nhõn tài 57
KẾT LUẬN 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 4Danh mục Các từ viết tắt
Cnh, hđh : Công nghiệp hoá, hiện đại hoáHđnd : Hội đồng nhân dân
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Từ xa đến nay, tri thức là nền tảng của tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lựclợng nòng cốt, sáng tạo và truyền bá kinh nghiệm cho nhân loại, là nguồn lựcquan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đối với mỗi quốc gia cũng nh trênphạm vi quốc tế Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặcbiệt quan trọng tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia Chính vì vậy, việc chăm lo,bồi dỡng và phát huy nguồn lực trí thức đợc xem là vấn đề có ý nghĩa cấp báchhàng đầu trong quá trình phát triển của đất nớc
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các triều đại phong kiến cũng đã coi hiềntài là "nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì đất nớc hng thịnh, nguyênkhí yếu thì đất nớc lụn bại" Do đó, các triều đại phong kiến đã chú ý phát hiện,
đào tạo, bồi dỡng, sử dụng nhân tài bằng nhiều cách khác nhau Tiếp thu truyềnthống tốt đẹp đó, Đảng và Nhà nớc ta, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chútrọng đến việc phát huy vai trò của trí thức đối với sự phát triển đất nớc
Đất nớc ta hiện nay đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và đã đạt
đợc những thành tựu nổi bật Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng(7/1996) đã quyết định đa đất nớc bớc vào một thời kỳ phát triển mới: Thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc, xây dựng một xã hội dân giàu, nớc mạnh, xãhội công bằng dân chủ văn minh Đảng ta xác định: "Lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững", phát huy đến
mức cao nhất tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực sáng tạo của độingũ trí thức
Nguồn lực trí thức là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực của nớc ta.Phát triển nguồn lực trí thức là một trong những hớng u tiên và là sự đột phá trêncon đờng CNH, HĐH để nớc ta "rút ngắn thời gian vừa có những bớc tiến tuần
tự, vừa có bớc nhảy vọt" và "để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp hóa theo hớng hiện đại".
Thành phố Hà Tĩnh là một thành phố trẻ, là trung tâm kinh tế - chính trị,văn hóa xã hội của tỉnh Hà Tĩnh với nhiều tiềm năng về nguồn nhân lực để pháttriển kinh tế, trong đó có tiềm năng về nguồn lực trí trức Trong những năm qua,
Trang 6với tinh thần lao động cần cù, sáng tạo đội ngũ trí thức thành phố đã đóng gópmột phần to lớn vào quá trình xây dựng, phát triển quê hơng đất nớc trên con đ-ờng hội nhập.
Từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài "Phát huy nguồn lực trí thức
thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa"
làm đề tài nghiên cứu Với mong muốn khảo sát thực trạng nguồn lực trí thứcthành phố Hà Tĩnh để đa ra những giải pháp cụ thể nhằm phát huy vai trò củanguồn lực trí thức thành phố trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nguồn nhân lực nói chung và nguồn lực trí thức nói riêng đã đợc nghiêncứu ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trìnhnghiên cứu của các tác giả nớc ngoài nh: "Quản lý nguồn nhân lực" của Hersey;
Ken Blanc Hard (Tài liệu dịch); Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1995; "Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hng cho đất nớc" do
Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (chủ biên), (Tài liệu dịch); Nxb Chính trị Quốcgia Hà Nội, 1996
Những công trình này đã đa ra các phơng pháp cụ thể để quản lý con ngời,vai trò, vị trí của lao động trí thức
Trong nớc cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này nh: "Định ớng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa"
h-của GS Phạm Tất Dong chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001; "Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nớc" của Đỗ Mời, Nxb Chính trị Quốc
gia Hà Nội, 1995; "Những yêu cầu đối với trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Ngô Đình Xây, Tạp chí Cộng sản Số 27 (9/2002); "Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới" của Trờng Lu, Tạp chí Cộng sản Số 37 ngày 10 - 6 - 2008;
"Phát huy nguồn lực con ngời để công nghiệp hoá, hiện đại hóa Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam" của TS.Vũ Bá Thể, Nxb Lao động xã hội, 2005;
"Trí thức Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa", của PGS.TS
Đoàn Minh Duệ, Nxb Nghệ An, 2005
Trang 7Các tác giả đều thống nhất quan điểm về vai trò quan trọng của nguồn lựctrí thức trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc; đồng thời đã đa ranhiều giải pháp để đội ngũ trí thức Việt Nam có điều kiện cống hiến và trởngthành.
Trong phạm vi thành phố Hà Tĩnh có đề tài: "Hà Tĩnh với công tác xây dựng đội ngũ trí thức" của Lê Công Lơng - Chủ tịch Hội liên hiệp các hội KHKT
tỉnh Hà Tĩnh, Tạp chí Cộng sản số 16 (năm 2008); "Báo cáo của Ban chấp hành Hội KH&KT thành phố Hà Tĩnh tại Đại hội đại biểu nhiệm kỳ 2008 - 2013" của
Liên hiệp các hội KH&KT thành phố Hà Tĩnh; "Chơng trình hành động: Thực hiện Nghị quyết số 27 - NQ/TƯ về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc" của Thành ủy Hà Tĩnh (2008).
Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định vai trò quan trọng của độingũ trí thức, trong đó đã có nhiều đề tài khẳng định vị trí, vai trò của nguồn lực tríthức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình xây dựng đất nớc Những công trình đóthực sự là tài liệu tham khảo rất bổ ích cho luận văn này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở điều tra, khảo sát vai trò, thực trạng của nguồn lực trí thức thànhphố Hà Tĩnh nhằm đề xuất một số phơng hớng, giải pháp phát huy tiềm năng trítuệ của nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH, phục vụ cho chiến lợc phát triển đô thị của thành phố trong giai đoạn hiệnnay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Làm rõ nguồn lực trí thức và vai trò của nguồn lực trí thức trong
quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng, vai trò của việc phát huy nguồn lực
trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
Thứ ba: Đề xuất một số phơng hớng, giải pháp phát huy nguồn lực trí thức
thành phố Hà Tĩnh trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài đợc thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và hệ thống các quan điểm, đờng lối, chínhsách của Đảng và Nhà nớc ta cùng với với những chủ trơng, chính sách của Tỉnh
Trang 8ủy, Thành ủy, UBND thành phố Hà Tĩnh về trí thức và vai trò của trí thức trong sựnghiệp cách mạng.
Phơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phơng pháp kết hợp logíc với lịch sử,
phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp - diễn dịch, phơng pháp thống kê, điều tra xãhội học… để chứng minh cho các vấn đề nghiên cứu đặt ra
6 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củakhóa luận gồm 2 chơng, 4 tiết
Nội dung CHƯƠNG 1 Nguồn lực trí thức và vai trò của nguồn lực trí thức thành phố hà tĩnh trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1.1 Khái niệm nguồn lực con ngời và nguồn lực trí thức
1.1.1 Nguồn lực con ngời
1.1.1.1 Nguồn lực
Nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệthống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đờng lối chính sách, vốn và thị trờng… ởcả trong nớc và nớc ngoài có thể đợc khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triểnkinh tế của một lãnh thổ nhất định
Dới dạng tổng quát, nguồn lực là những yếu tố đã, đang và sẽ có khả năngtạo ra sức mạnh tổng hợp trong quá trình cải biến giới tự nhiên và xã hội Nh vậy,nguồn lực là những yếu tố đã đợc khai thác và phát huy sức mạnh nhng mặt khácbao gồm cả những yếu tố dới dạng tiềm năng, nó sẽ phát huy nếu biết khai thác
và sử dụng hợp lý
Nguồn lực không phải là bất biến Nó thay đổi theo không gian và thờigian Con ngời có thể làm thay đổi nguồn lực theo hớng có lợi cho mình.Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có thể phân chia nguồn lực thành hai loại:
Trang 9Nguồn lực trong nớc (còn gọi là nội lực) bao gồm các nguồn lực tự nhiên,
xã hội, nguồn nhân lực, hệ thống tài sản quốc gia, đờng lối chính sách đang đợckhai thác, sử dụng…
Nguồn lực trong nớc, đặc biệt là nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng,
có tính chất quyết định trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Nguồn lực nớc ngoài (còn gọi là ngoại lực) bao gồm khoa học - kỹ thuật và
công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất và kinhdoanh… từ nớc ngoài
Nguồn lực nớc ngoài có vai trò quan trọng, thậm chí đặc biệt quan trọng
đối với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể.Mặc dù có vai trò khác nhau, nhng giữa nguồn lực trong nớc và nguồn lực nớcngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau Đây là mối quan hệ hỗ trợ, hợp tác, bổsung cho nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi và tôn trọng độc lập chủquyền của nhau Xu thế chung là các quốc gia cố gắng kết hợp nguồn lực trong n-
ớc (nội lực) với nguồn lực nớc ngoài (ngoại lực) thành sức mạnh tổng hợp để pháttriển kinh tế nhanh và bền vững
Nguồn lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội củamỗi quốc gia
- Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cậnhay cùng phát triển giữa các vùng trong một nớc, giữa các quốc gia với nhau.Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới, vị trí địa lí là một nguồn lực gópphần định hớng có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế
- Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất Đó là nhữngnguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triểnkinh tế Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọngcho sự phát triển
- Nguồn lực kinh tế - xã hội, nhất là dân c và nguồn lao động, nguồn vốn,khoa học - kỹ thuật và công nghệ, chính sách toàn cầu hóa, khu vực hóa và hợptác, có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lợc phát triển phù hợp với điều kiện
cụ thể của đất nớc trong từng giai đoạn Trong đó con ngời đợc xem là nguồn lựcquan trọng nhất, quyết định sự sống còn của mỗi quốc gia
Hiểu biết và đánh giá đúng cũng nh biết huy động tối đa các nguồn lực sẽthúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia Các nớc đang phát triểnmuốn nhanh chóng thoát khỏi sự nghèo nàn, tụt hậu cần phải phát hiện và sử
Trang 10dụng hợp lí, có hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong nớc, đồng thời tranh thủ cácnguồn lực từ bên ngoài để đa đất nớc phát triển.
1.1.1.2 Nguồn lực con ngời
Trong tất cả các nguồn lực, nguồn lực con ngời (nguồn nhân lực) đợc xem
là quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực Trong giai đoạn hiện nay,nhiều quốc gia dân tộc xem việc phát huy nhân tố con ngời là chìa khóa cho sựphát triển Bởi vì nguồn lực con ngời mang tính vô hạn, nó không mất đi, cũngkhông cạn kiệt trong quá trình khai thác, trái lại nguồn lực con ngời càng tăng lêncùng với quá trình phát triển kinh tế, xã hội Trớc đây, ngời ta đánh giá cao nguồnlực tự nhiên nh sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí thuận lợi… thìngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta lại rấtquan tâm đến vai trò của nguồn lực con ngời Bởi nguồn lực con ngời đợc xem lànguồn lực của mọi nguồn lực Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đãkhẳng định: "Nguồn lực con ngời, yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững.Con ngời và nguồn lực con ngời là nhân tố quyết định sự phát triển đất nớc trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" [4; 112]
Khái niệm nguồn lực con ngời có phạm vi bao quát "Đó là tổng thể nhữngyếu tố thuộc về thể chất và tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thếxã hội… tạo thành năng lực của con ngời và của cộng đồng ngời Năng lực đó khi
đợc sử dụng, phát huy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội" [10; 388] Theo
đó, con ngời không chỉ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên và xã hội mà còn làchủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội; con ngời là yếu tố quan trọng nhấttrong lực lợng sản xuất, là yếu tố quyết định nhất đến sự phát triển xã hội Cấutrúc của nguồn lực con ngời bao gồm: thể lực, trí lực, đạo đức, thẩm mĩ và nhữngphẩm chất năng lực khác của con ngời nh tình cảm, lý tởng, niềm tin, ý chí củacon ngời
Theo quan điểm phát triển, trong các yếu tố cấu thành nguồn lực con ngời,trí tuệ đợc xem là nguồn lực quan trọng nhất, quý giá nhất Tiến sĩ Nguyễn ThanhTuấn cho rằng: "Nguồn nhân lực đó là tổng thể sức lao động dự trữ, những tiềmnăng, những lực lợng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con ngời trong việccải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội" [21; 70]
Nh vậy, nguồn nhân lực không chỉ có số lợng, chất lợng của ngời lao động
mà nó bao gồm cả tiềm năng dân c bổ sung vào lực lợng lao động Nguồn nhân
Trang 11lực gồm cả sự kết hợp thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ kỹ năng lao động,phong cách làm việc với khả năng sáng tạo của ngời lao động Nếu xét nguồnnhân lực dới dạng tiềm năng để cung cấp sức lao động cho một ngành, một địaphơng thì cha đầy đủ mà điều quan trọng là phải khai thác tiềm năng đó nh thếnào và bằng những biện pháp gì để biến tiềm năng đó thành hiện thực đem lạihiệu quả cho xã hội.
Nếu xét nguồn nhân lực dới dạng "tiềm năng" hay "sức lao động dự trữ" thì
nó nghiêng về xem xét ở trạng thái tĩnh Vì vậy, cần phải xem xét thêm nguồnnhân lực dới khía cạnh "phát huy tính năng động, sáng tạo" của mỗi ngời, tức là ởtrạng thái vận động Tính năng động, sáng tạo "thể hiện sức mạnh và sự tác độngcủa con ngời trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội" Vấn đề đặt ra với hoạt
động thực tiễn là làm sao phải sử dụng hiệu quả, phân bố lao động hợp lý điều
đó đòi hỏi phải có một hệ thống các biện pháp tác động của chủ thể sử dụng lao
động nhằm phát huy tối đa tính tích cực, hăng say lao động cùng với sự sáng tạokhông ngừng của ngời lao động nhằm đạt đợc hiệu quả tối u
Con ngời là một tiềm năng vô tận, đặc biệt là trí tuệ, vì vậy, nếu đợc tự dophát triển, tự do trong t duy sáng tạo và cống hiến, đợc trả đúng giá trị thực củasức lao động thì tiềm năng đó sẽ có giá trị hiện thực rất lớn, kết quả lao động đợcnhân lên gấp bội và trở thành nguồn vốn quan trọng nhất cho sự phát triển xã hội.Kinh nghiệm các nớc trên thế giới nhất là các nớc phát triển họ luôn tìm mọi ph-
ơng pháp, cách thức để khai thác tối đa tiềm năng trí tuệ biến nó thành kết quả lao
động cho xã hội, là nền tảng cho đất nớc đó phát triển
1.1.2 Nguồn lực trí thức
Quan niệm về trí thức
Trí thức là một thuật ngữ đợc sử dụng khá rộng rãi trên thế giới Thuật ngữ
"trí thức" có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Intelligentia nghĩa là thông minh, có trítuệ, hiểu biết Khái niệm này trở nên thông dụng từ những năm nửa sau thế kỷXIX, ngời ta thờng dùng nó để chỉ những ngời có học vấn cao, chuyên lao độngphức tạp ở các nớc trên thế giới, thuật ngữ trí thức đợc dùng phổ biến với haihàm nghĩa: tri thức (kiến thức) và đội ngũ trí thức Tri thức hay kiến thức gồm trithức kinh nghiệm và tri thức khoa học; còn đội ngũ trí thức thờng đợc dùng để chỉtầng lớp những ngời có tri thức, học vấn cao Tuy nhiên, xuất phát từ lập trờng,
Trang 12quan điểm, cách nhìn và phơng pháp tiếp cận khác nhau, ngời ta đã đa ra nhiều
định nghĩa về trí thức
Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê đợc trên 60 định nghĩa khác nhau
về "trí thức" Trong phạm vi của khóa luận, chỉ đề cập đến một số định nghĩa cótính tiêu biểu:
Từ điển Bách khoa Liên Xô, xuất bản năm 1985 do A M Prokhonov chủbiên định nghĩa: "Trí thức là tầng lớp những ngời làm nghề lao động trí óc, thờng
có học vấn cao tơng ứng, phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hóa" [22;87]
Từ điển Triết học, NXB Tiến bộ Matxcơva (1986) viết: "Trí thức là tập
đoàn xã hội gồm những ngời làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm kỹ
s, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật s, nghệ sỹ, thầy giáo và ngời làm công tác khoahọc, một bộ phận lớn viên chức" [23; 598]
Bàn về vấn đề này, trong học thuyết của mình, các nhà sáng lập ra Chủnghĩa xã hội khoa học đã căn cứ vào đặc điểm nổi bật nhất của trí thức là lao
động bằng trí óc và trình độ xác định của học vấn biểu hiện thành năng lực tìmtòi, sáng tạo, phát minh để lý giải trí thức nh một tầng lớp xã hội Theo đó trí thức
là một tầng lớp xã hội đặc biệt đợc phân biệt với các tầng lớp xã hội khác về nănglực trí tuệ, trình độ học vấn và do vậy, họ là những ngời lao động trí óc sáng tạotrên mọi lĩnh vực
Trí thức không có hệ tởng riêng, chủ yếu vì không có phơng thức sản xuấtriêng và địa vị kinh tế - xã hội độc lập Trí thức từ thời chiếm hữu nô lệ cách đâyhàng ngàn năm cho đến nay vai trò và t tởng của họ đều phụ vào giai cấp thống trịxã hội Nhng trên thực tế lịch sử, dù không có hệ t tởng riêng, trí thức ở chế độ xãhội nào cũng giúp giai cấp thống trị khái quát về lý luận để hình thành hệ t tởngcủa giai cấp thống trị xã hội Trí thức không bao giờ tồn tại với t cách một giaicấp, "phi giai cấp", hoặc "siêu giai cấp", đứng trên các giai cấp Tính giai cấp củatrí thức thể hiện ở chỗ họ đem vốn kiến thức của mình phục vụ cho giai cấp thốngtrị nào trong xã hội
V.I.Lênin cho rằng: "Tầng lớp trí thức theo nghĩa Đức là Literatliteratentum,bao gồm không chỉ các nhà văn hóa học mà tất cả những ngời có văn hóa, những ng-
ời làm nghề tự do nói chung, những ngời đại biểu trí óc để phân biệt với đại biểu lao
động chân tay" [17; 309]
Trang 13Kế thừa và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về đội ngũ trí thức,Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học khẳng định: Trí thức là một tầng lớp xã hội
đặc biệt, là một bộ phận tiêu biểu trong lực lợng lao động trí óc Họ là lực lợnglao động trí óc phức tạp và sáng tạo, chủ yếu về mặt lý thuyết và tinh thần cho xãhội, quy định năng suất, chất lợng, hiệu quả của tốc độ của sản xuất và tinh thầncho xã hội, xã hội ngày càng hiện đại đặc biệt là xây dựng xã hội chủ nghĩa vàcộng sản chủ nghĩa, vai trò của trí thức ngày càng trở nên quan trọng Và trênthực tế, trí thức ngày càng gắn bó với nền sản xuất hiện đại với giai cấp côngnhân
Nghị quyết số 27 - NQ/TƯ "Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc" ngày 6 tháng 8 năm 2008, do Hội
nghị Ban chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ 7 Khoá X thông qua Đảng ta xác
định: "Trí thức là ngời lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyênmôn nhất định, có năng lực t duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức,tạo ra những sản phẩm tinh thần vật chất có giá trị đối với xã hội" [7; 81- 82]
Có thể nói, trí thức đợc xác định là những ngời có trình độ cao, sản phẩmlao động của họ chứa đựng hàm lợng chất xám cao, mang nhiều yếu tố sáng tạo
và mang đậm dấu ấn cá nhân, ngời trí thức thực thụ phải có đạo đức, lơng trimang tính nghề nghiệp Nhng trong thực tế đời sống hàng ngày, chúng ta cũngkhông nên tuyệt đối hoá vấn đề vì có rất nhiều nhà văn, nghệ sĩ, nhiều nhà khoahọc dù cha tốt nghiệp đại học nhng những sản phẩm của họ lại chứa đựng hàmlợng trí tuệ rất lớn, có ảnh hởng sâu rộng trong nhân dân, hay những thầy, cô giáongày ngày gắn bó với vùng sâu, vùng xa truyền dạy kiến thức cho ngời dân xét
ở một góc độ nào đó họ chính là những trí thức thực thụ
Nh vậy, trí thức đợc xác định phải là ngời có trình độ học vấn cao về mộtlĩnh vực chuyên môn Trình độ học vấn cao là cơ sở để mỗi trí thức tiếp tụcnghiên cứu làm giàu thêm lợng tri thức của mình, đa ra những sáng kiến sáng tạophục vụ hoạt động ứng dụng vào thực tiễn Đảng ta nhấn mạnh t duy độc lậptrong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và truyền bá làm giàu tri thức Đó cũng làmột yêu cầu mang tính đặc thù trong hoạt động lao động của trí thức
Nguồn lực trí thức:
Nguồn lực trí thức là một bộ phận của nguồn nhân lực đã qua đào tạo Đó
là tổng thể sức lực dự trữ, những tiềm năng và hoạt động thực tiễn của những ngời
có học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực t duy độc lập, sáng
Trang 14tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, có đạo đức trong sáng đang nghiên cứu, sángtạo, phổ biến những kiến thức khoa học và ứng dụng những tri thức đó vào hoạt
động thực tiễn để cải tạo tự nhiên và xã hội
Nguồn lực trí thức có một vị trí quan trọng trong sự phát triển xã hội, nó
đ-ợc coi là "sự tinh tuý nhất" của nguồn nhân lực xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử.Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo sứcmạnh của mỗi quốc gia trong chiến lợc phát triển Nh vậy, những ngời lao động
có trình độ cao, chuyên sâu một lĩnh vực chuyên môn nào đó, nh những ngời tốtnghiệp đại học, cao đẳng hoặc tơng đơng trở lên, những nghệ sĩ, bác sỹ, nhànghiên cứu, những giáo viên dù họ cha tốt nghiệp đại học nhng những hoạt
động lao động trí óc của họ, có ảnh hởng to lớn đến sự phát triển xã hội và nhữngngời đang học đại học cũng thuộc nguồn nhân lực trí thức
Hiện nay, những ngời có trình độ đại học trở lên là lực lợng đông đảo nhấtcủa nguồn lực trí thức ở nớc ta nói chung và Hà Tĩnh nói riêng Họ có vai tròquyết định đối với sự phát triển của nguồn nhân lực này Đặc biệt, trong giai đoạnhiện nay: giai đoạn mà nhân loại đang bớc vào cuộc cách mạng khoa học - côngnghệ, vào nền kinh tế tri thức thì những ngời có trình độ từ đại học trở lên luôn đ-
ợc coi là ngời đi tiên phong thúc đẩy sự phát triển chất lợng nguồn nhân lực Việcphát huy nguồn nhân lực trí thức là sử dụng một hệ thống cơ chế, chính sáchnhằm động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần để lực l-ợng này lao động sáng tạo đạt kết quả cao nhất Thực chất của việc phát huy là h-ớng vào mỗi cá nhân con ngời, đề cao tính độc lập sáng tạo của cá nhân, hoặc bốtrí họ vào đúng một vị trí công tác hợp lý, phù hợp với khả năng để mỗi ngời cócơ hội thể hiện và phát triển tài năng, cống hiến cho xã hội Có thể nói, đây là quátrình tìm ra các động lực phù hợp với từng cá nhân, thúc đẩy họ hoạt động để gópphần cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội
* Đặc điểm của nguồn lực trí thức ở nớc ta:
- Trí thức Việt Nam xuất thân từ nghiều giai cấp tầng lớp khác nhau, nhất là
từ công nhân và nông dân, gắn bó mật thiết với nhân dân lao động Nguồn lực tríthức là lực lợng nòng cốt trong khối liên minh công - nông - trí thức dới sự lãnh
đạo của Đảng Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trí thức là lực lợng đãcùng với nhân dân lao động cả nớc đấu tranh giành độc lập dân tộc; còn trongcách mạng XHCN, trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc, họ là lực lợng đi
Trang 15tiên phong trong việc nắm bắt những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, đatri thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống
- Nguồn lực trí thức là lực lợng lao động có trình độ học vấn cao, trình độchuyên môn sâu, có năng lực t duy độc lập trong hoạt động nghiên cứu ứng dụng
Để tham gia vào quá trình lao động, sáng tạo khoa học, lực lợng trí thứcphải đi sâu nghiên cứu chuyên ngành mà mình đợc đào tạo Trên cơ sở đó giúp họ
có năng lực t duy độc lập trong hoạt động nghiên cứu, tạo ra những sản phẩm cótính ứng dụng cao
- Nguồn lực trí thức của nớc ta đa số đợc trởng thành trong xã hội mới, cótinh thần yêu nớc, có đạo đức cách mạng trong sáng, có lơng tâm, trách nhiệm đốivới dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại
- Nguồn lực trí thức là lực lợng lao động trí óc phức tạp Đây là dấu hiệu cơbản nhất để phân biệt trí thức với các lực lợng lao động khác Lao động trí óc củatrí thức là sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra cái mới, cái tiến bộ, đòi hỏi phải cónăng lực t duy ở mức độ cao, sự hao phí năng lợng thần kinh trung ơng là chủyếu Mặt khác, lao động trí óc của trí thức là lao động sáng tạo, thể hiện ở sự sángtạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần hay tìm ra phơng pháp mới, cáchthức giải quyết mới
Nh vậy, nguồn lực trí thức là một bộ phận của nguồn lực con ngời cùng vớicác nguồn nhân lực khác Nguồn lực trí thức đã trở thành nguồn lực cơ bản nhất,quan trọng nhất để phát triển kinh tế, xã hội đất nớc Đặc biệt là đối với nớc ta khi
đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc thì nguồn nhân lực có trí tuệ nguồn lực trí thức là một thế mạnh không có gì có thể thay thế
-* Vai trò của nguồn lực trí thức:
Nguồn lực trí thức có vai trò to lớn trong việc hoạch định đờng lối, chủ
tr-ơng, chính sách phát triển của đất nớc Trí thức bằng những luận cứ khoa học củamình góp phần làm sáng tỏ con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội của nớc ta là đúng
đắn, phù hợp với quy luật phát triển của nhân loại
Trong thời đại ngày nay, thời đại của nền kinh tế tri thức thì vai trò của tríthức trong việc hoạch định những chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc càng có ýnghĩa quan trọng Đặc biệt, khi mà toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm xây dựng
đất nớc theo con đờng chủ nghĩa xã hội với mục tiêu trớc mắt là thực hiện thắnglợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc thì vai trò của nguồn lực trí thức ngày càng trởnên quan trọng, trở thành động lực thúc đẩy quá trình CNH, HĐH Điều đó thểhiện ở việc trí thức có thể sáng tạo ra những thành tựu khoa học công nghệ hiện
Trang 16đại, ứng dụng vào quá trình sản xuất, quản lý kinh tế - xã hội Đây là nguồn lựctạo cơ sở xây dựng các chiến lợc, sách lợc cho quá trình CNH, HĐH, đa ra cácgiải pháp để đẩy mạnh CNH, HĐH, bồi dỡng, đào tạo nguồn nhân lực Trong bốicảnh cuộc cánh mạng khoa học công nghệ phát triển nh vũ bão, tác động ngàycàng sâu sắc vào đời sống con ngời, thì việc "trí thức hóa công nhân", "trí thứchóa nông dân" thành nguồn lực trí thức - chủ thể của quá trình CNH, HĐH đất n-
ớc đợc xem là một vấn đề cấp bách hiện nay
Nguồn lực trí thức tích cực tham gia công tác lãnh đạo, quản lí, từ công tácquản lý trực tiếp đến lãnh đạo, quản lý cấp vĩ mô góp phần nâng cao chất lợng,hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực của Đảng, trình độquản lí của Nhà nớc
Sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc đòi hỏi những ngời lãnh đạo phải có trí tuệcao, phải thực sự là tấm gơng sáng cho những ngời lao động noi theo Họ khôngchỉ là những nhà hoạt động thực tiễn mà còn là những nhà lí luận, những trí thứctrực tiếp tham gia vào công tác quản lí, chỉ đạo thực tiễn góp phần thúc đẩy nhanhchóng quá trình CNH, HĐH đất nớc
Nguồn nhân lực trí thức trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, bồi dỡng nhân tài
để trở thành nguồn nhân lực có trí tuệ trong giai đoạn mới
CNH, HĐH là đòn bẩy thúc đẩy nguồn nhân lực Điều này đợc thể hiện ởchỗ, một mặt CNH, HĐH sẽ tạo ra cơ hội thuận lợi cho ngời lao động tiếp cận vớinhững dịch vụ xã hội ngày càng hoàn thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thầncủa ngời dân nhng mặt khác quá trình CNH, HĐH cũng đặt ra những yêu cầumới buộc ngời lao động phải không ngừng học tập, bồi dỡng, nâng cao trình độchuyên môn, năng lực sáng tạo và khả năng thích nghi với điều kiện mới
Nguồn lực trí thức là lực lợng lao động có vai trò trực tiếp, vừa có vai trògián tiếp trong sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các thành phần kinh tế, tạo
ra các sản phẩm mới có hàm lợng chất xám cao phục vụ cuộc sống thực tiễn, gópphần to lớn thúc đẩy xã hội phát triển
1.2 Thực trạng nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 17Đông thành phố giáp huyện Thạch Hà Phía Nam giáp huyện Cẩm Xuyên Thànhphố Hà Tĩnh cách Thủ đô Hà Nội 350 km, cách thành phố Vinh - Nghệ An 50km.
Về hành chính, nội thị có các phờng: Nam Hà, Bắc Hà, Trần Phú, TânGiang, Hà Huy Tập, Đại Nài, Nguyễn Du, Văn Yên, Thạch Linh và Thạch Quý.Ngoại thị có các xã: Thạch Trung, Thạch Hạ, Thạch Môn, Thạch Đồng, Thạch H-
ng và Thạch Bình
Từ cổ xa, thành phố Hà Tĩnh nằm trong bộ Việt Thờng Sang thời kỳ Bắcthuộc, thành phố Hà Tĩnh nằm trong Châu Phúc Lộc Sang thế kỷ X, các quốc giagiành độc lập tự chủ thì vùng đất Hà Tĩnh thuộc xứ Thị trấn Nghệ An
Đến năm 1831, vua Minh Mệnh nhà Nguyễn đã chia Thị trấn Nghệ Anthành hai tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh Khi đó, xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà, Phủ
Hà Hoa đợc chọn là nơi đặt trụ sở của tỉnh lị tỉnh Hà Tĩnh
Giai đoạn từ 1976 - 1991, thành phố Hà Tĩnh là một đơn vị trực thuộc tỉnhNghệ - Tĩnh Năm 1991, thành phố Hà Tĩnh là tỉnh lị Hà Tĩnh Đến năm 2007,thành phố Hà Tĩnh là đô thị loại III Ngày 28 tháng 5 năm 2007, Thủ tớng Chínhphủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định số 89/2007/ NĐ - CP về việc thành lậpthành phố Hà Tĩnh
Trải qua hơn 20 năm thực hiện đờng lối đổi mới, thành phố Hà Tĩnh đã đạt
đợc nhiều thành tựu đáng kể trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xãhội, an ninh - quốc phòng Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố HàTĩnh lần thứ XVIII (2005 - 2010) và 3 năm thực hiện Nghị quyết số 18/NQ –TƯ của Ban thờng vụ Tỉnh ủy về phơng hớng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hà Tĩnh đến năm 2010 và những năm tiếp theo, thực hiện Nghị quyết số 09/NQ –
TƯ về phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2002 đến 2005 của Ban chấp hànhTỉnh ủy, đến nay tốc độ phát triển kinh tế xã hội hằng năm của thành phố Hà Tĩnh
đạt 13-15%/năm Năm 2004 đạt 12,68%/năm, năm 2006 đạt 15,65/năm, năm
2007 là 16%/năm
Hiện nay thành phố Hà Tĩnh đã và đang ra sức thực hiện chơng trình pháttriển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố HàTĩnh lần thứ XVIII, với các mục tiêu cụ thể: "Tổng giá trị sản xuất các ngành đếnnăm 2010 đạt 3.483 tỷ đồng, tốc độ tăng trởng bình quân đầu ngời 20 triệu đồng,thu ngân sách bình quân hàng năm trên 18%/năm Cơ cấu kinh tế công nghiệp -xây dựng đạt 53 - 54%; thơng mại dịch vụ 38 - 39%; nông nghiệp - thủy sản đạt
Trang 18trên 8% Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa 85%, khối phố văn hóa đạt 68%, xã, phờngvăn hóa đạt 50 - 55% Hộ nghèo còn dới 5%" [11, 11].
Thành phố Hà Tĩnh đợc thành lập đánh dấu bớc ngoặt quan trọng trong quátrình phát triển đô thị Hà Tĩnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội củathành phố Hà Tĩnh nói riêng và tỉnh nhà nói chung
1.2.2 Thực trạng nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế, chính trị văn hoá của tỉnh, có hơn
190 đơn vị kinh doanh đầu mối trên địa bàn, có trên 4.500 cán bộ có trình độ cao
đẳng trở lên Trong đó thành phố quản lý hơn 40 đơn vị, 40 trờng học có đội ngũgiáo viên có trình độ đại học, cao đẳng trở lên
Trong những năm qua, cùng với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhậpkinh tế quốc tế, đội ngũ trí thức thành phố đã tăng nhanh về số lợng, nâng lên vềchất lợng, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninhquốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế trên địa bàn
Bộ phận trí thức tham gia công tác lãnh đạo, quản lý của thành phố đã pháthuy tốt vai trò và khả năng, góp phần nâng cao chất lợng, hiệu quả hoạt động của
hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trình độ quản lý củaNhà nớc Đội ngũ trí thức trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là lực lợng nòng cốtxây dựng lực lợng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bớc hiện đại
Nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh vớikinh tề thị trờng và hội nhập kinh tế quốc tế, có những đóng góp thiết thực vào sựnghiệp phát triển của thành phố
Hiện nay, số trí thức đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân kể cảlao động có tay nghề (trên địa bàn thành phố): 34.146 Trong đó khu vực sản xuấtvật chất: 30.050 (bao gồm: Nông - lâm - ng nghiệp: 14.312; Công nghiệp: 2.924;Thơng nghiệp, dịch vụ: 7.420; Xây dựng, Giao thông vận tải: 4.918; các ngànhkhác: 521); khu vực không sản xuất vật chất: 4.114 (bao gồm: Giáo dục: 1.520;Văn hoá, nghệ thuật: 119; Quản lý nhà nớc: 801; Y tế - Thể dục - Thể thao: 936;
Đảng, đoàn thể: 609; các ngành khác: 129) [19]
- Số trí thức đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân kể cả lao động
có tay nghề (thuộc thành phố quản lý): 29.748, trong đó khu vực sản xuất vậtchất: 27.730 (bao gồm: Nông - lâm - ng nghiệp: 13.945 chiếm 50.3%; Côngnghiệp: 2.284 chiếm 8.2%; Thơng nghiệp, dịch vụ: 7.215 chiếm 26%; Xây dựng,Giao thông vận tải: 4.259 chiếm 15,5%), khu vực không sản xuất vật chất: 2.045,
Trang 19trong đó: Giáo dục: 1.108; Văn hoá, nghệ thuật: 15; Quản lý nhà nớc: 369; Y tế Thể dục - Thể thao: 168; Đảng, đoàn thể: 267; các ngành khác: 118) [19].
Số trí thức hoạt động trong hệ thống chính trị từ cơ sở đến thành phố: 493,
trong đó: đội ngũ trí thức trong hệ thống chính trị cấp thành phố là 204 bằng41,4%/ tổng số, bằng 0,255% dân số thành phố, cơ quan đảng: 37, cơ quan chínhquyền: 138, cán bộ đoàn thể: 29 Số trí thức đang đảm nhận vai trò lãnh đạo (tr-ởng, phó phòng ban và tơng đơng trở lên): 76, chiếm 38,2%
+ Số trí thức hoạt động trong hệ thống chính trị phờng, xã là 292, trong đócán bộ chuyên trách: 179, cán bộ chủ chốt: 87, công chức chuyên môn: 113 Cán
bộ bán chuyên trách: 169 [19]
+ Số trí thức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong các doanhnghiệp nhà nớc là 136; cán bộ khoa học và chuyên gia: 21; lĩnh vực văn hoá nghệthuật: 15; lĩnh vực giảng dạy: 1.108; lĩnh vực y tế, thể dục thể thao: 168 [19]
Nh vậy, có thể thấy rằng lực lợng trí thức thành phố chiếm số đông trongdân c thành phố Họ ngày càng khẳng định đợc vai trò của mình trong tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội và đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triểnchung của quê hơng
- Về trình độ chuyên môn: Số trí thức hoạt động trong hệ thống chính trị
cấp thành phố có trình độ đại học: 153, chiếm 75%; trong đó khối đảng 27, chiếm73%, khối chính quyền: 108, chiếm 78,3%, khối đoàn thể: 18 chiếm 62,1% Số tríthức đang đảm nhận vai trò lãnh đạo: 64, đạt 84,2% Số trí thức có trình độ sau
đại học: 05, đạt 2,9% Số trí thức hoạt động ở phờng, xã: có trình độ đại học, cao
đẳng: 38 ,chiếm 13,1%, trung cấp: 112 chiếm 38,8% Số trí thức tham gia quản lýtrong các doanh nghiệp nhà nớc: 136, trong đó Ban giám đốc: 26; cán bộ có trình
độ đại học trở lên là 112, chiếm 82,4% [19]
- Về trình độ lý luận chính trị: số trí thức hoạt động trong hệ thống chính
trị cấp thành phố có trình độ lý luận cao cấp, cử nhân: 31 chiếm 15,2% Cán bộcông chức phờng, xã có trình độ lý luận cao cấp, cử nhân: 02 chiếm 0,7%; trungcấp: 129 chiếm 44,6%; sơ cấp: 65 chiếm 22,5% [19]
- Về độ tuổi:
+ Số trí thức hoạt động trong hệ thống chính trị cấp thành phố có độ tuổi
d-ới 30: 66 chiếm 32,4% (khối đảng 09, đạt 24,3%; khối chính quyền: 48, đạt34,8%; khối đoàn thể 09, đạt 31%), trong đó số trí thức trẻ đang đảm nhận vai tròlãnh đạo: 03 chiếm 3,9%; ở phờng, xã: 61 chiếm 21,1%
Trang 20+ Độ tuổi từ 31 - 40: 48, chiếm 23,5% (khối đảng: 09 đạt 24,3%, khốichính quyền: 35, đạt 25,4%; khối đoàn thể: 04, đạt 13,8%), trong đó số trí thứctrong độ tuổi đảm nhận vai trò lãnh đạo: 11, chiếm 14,5%; ở phờng, xã: 50, chiếm17,3%.
+ Độ tuổi từ 41 - 50: 48 chiếm 23,5% (khối đảng; 11, đạt 29,7%; khốichính quyền: 30 chiếm 21,7%; khối đoàn thể: 07 chiếm 24,1%), trong đó số tríthức trong độ tuổi đảm nhận vai trò lãnh đạo: 29 chiếm 14,2%; ở phờng, xã: 112chiếm 38,8%
+ Độ tuổi từ 51 - 55: 28 chiếm 13,7% (khối đảng: 06, chiếm 16,2%; khốichính quyền: 17 chiếm 12,3%; khối đoàn thể: 05 chiếm 17,2%), trong đó số tríthức trong độ tuổi đảm nhận vai trò lãnh đạo: 17 chiếm 22,4%; ở phờng xã 49,chiếm 5,9%
+ Độ tuổi trên 55: 14, chiếm 6,9% (khối đảng; 02, đạt 5,4%; khối chínhquyền: 08, chiếm 5,8%; khối đoàn thể: 04, chiếm 13,8%), trong đó số trí thứctrong độ tuổi đảm nhận vai trò lãnh đạo: 14 chiếm 18,42%; ở phờng, xã: 17,chiếm 5,9% [19]
Nh vậy, số lợng và chất lợng, trình độ nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnhngày càng đợc nâng cao đáp ứng đợc yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH; đội ngũtrí thức thành phố ngày càng đợc trẻ hóa phát huy đợc tính năng động, sáng tạotrong công việc
Việc sử dụng và đào tạo nguồn lực trí thức thành phố trong thời gian quacũng đã đạt đợc những thành tựu quan trọng:
Đội ngũ cán bộ là lực lợng lớn trong nguồn lực trí thức thành phố Họ là
những ngời có trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức trực tiếp đa chủ trơng,chính sách, đờng lối của Đảng và Nhà nớc phổ biến sâu rộng trong nhân dân.Hiện nay, thành phố Hà Tĩnh có tổng số cán bộ trong hệ thống chính trị từ cơ sở
đến thành phố là 493 đồng chí = 0,616% dân số thành phố Trong đó, cán bộ nữ là
151 đồng chí = 30,6%
Trong những năm qua, công tác quy hoạch cán bộ, xây dựng đội ngũ cán
bộ đã đợc Ban thờng vụ Thành ủy quan tâm, triển khai nghiêm túc, từng địa
ph-ơng, đơn vị định kỳ tiến hành rà soát, đánh giá, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch
Đến 8/2006 có 15/15 phờng, xã hoàn thiện quy hoạch cán bộ (trừ phờng Nguyễn
Du mới thành lập) Đối với quy hoạch cán bộ thành phố cho đến nay đã đợc BanThờng vụ Tỉnh ủy phê duyệt theo phân cấp Quá trình xây dựng quy hoạch cán bộ
từ thành phố đến cơ sở cơ bản đảm bảo yêu cầu, chất lợng Đến nay, đã quy hoạch
Trang 21đợc 71 chức danh từ trởng phòng, phó phòng, ban, ngành và tơng đơng trở lên với
284 cán bộ dự nguồn Quy hoạch ban Thờng vụ Thành ủy là 38 đồng chí, bằng3,5 lần so với số lợng đơng nhiệm Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố là 79 bằng2,29 lần so với số đơng nhiệm [18]
Công tác luân chuyển cán bộ bớc đầu đạt kết quả tốt Chỉ tính từ năm 2002
đến nay đã luân chuyển đợc 19 cán bộ Trong đó luân chuyển từ xã, phờng lênthành phố là 02 đồng chí, từ thành phố xuống xã, phờng là 04 đồng chí, giữa cáccơ quan đảng, nhà nớc, đoàn thể là 09 đồng chí; giữa các xã, phờng: 04 đồng chí.Trong quá trình thực hiện luân chuyển cán bộ, thành phố đã làm tốt công tác t t-ởng, tạo đợc sự đồng thuận trong các đơn vị, địa phơng nơi có cán bộ luân chuyển
đến, tạo sự cân đối về lực lợng cán bộ giữa các đơn vị, khắc phục tình trạng cục
bộ khép kín
Công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ đợc các cấp quan tâm Các cấp ủy đã tạo
điều kiện thuận lợi để cử cán bộ đi đào tạo, bồi dỡng, u tiên số cán bộ đơng chức
và cán bộ dự nguồn Trong 10 năm qua, tổng số cán bộ thuộc diện Ban Thờng vụTỉnh ủy, Thành ủy đợc đào tạo là: 174 đồng chí Trong đó, đào tạo về chuyên mônlà: 72 đồng chí, gồm sau đại học: 3 đồng chí, đại học: 52 đồng chí, trung cấp: 18
đồng chí Đào tạo về lý luận chính trị là: 102 đồng chí, gồm: đại học chính trịchuyên ngành: 05 đồng chí, cao cấp: 20 đồng chí, trung cấp: 77 đồng chí Số cán
bộ đợc cử đi bồi dỡng là: 371 đồng chí, trong đó Quản lý nhà nớc: 142 đồng chí,Quốc phòng an ninh: 124 đồng chí, nghiệp vụ: 105 đồng chí Đến nay, Ban Chấphành Đảng bộ thành phố đạt trình độ từ đại học trở lên là 92% tăng 13%: ban th-ờng vụ Thành ủy là 100% tăng 19% so với nhiệm kỳ 2000 – 2005 [18]
Công tác đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, giới thiệu cán bộ ứng cử vào cáccơ quan của đảng và chính quyền từ thành phố đến cơ sở đợc thực hiện đảm bảoquy trình Trong những năm gần đây đã luôn chú ý đến bằng cấp, trẻ hóa đội ngũ
Từ năm 2005 đến nay, Ban Thờng vụ thành ủy đã đề bạt, bổ nhiệm 23 đồng chí,
bổ nhiệm lại 15 đồng chí; điều động 19 đồng chí, giới thiệu ửng cử và bầu cử giữchức vụ chủ chốt Đảng, đoàn thể 66 đồng chí Công tác tuyển dụng cán bộ côngchức có nhiều đổi mới, bám sát nhu cầu thực tế, dựa trên tiêu chuẩn Từ năm 2006
đến nay, thành phố và cơ sở đã tuyển dụng 131 cán bộ ( cấp thành phố: 55, cấpphờng, xã: 76) [18]
Thờng vụ Thành ủy luôn chú trọng đến chính sách cán bộ, đề ra một số chủtrơng, chế độ, chính sách nh: hỗ trợ kinh phí cho cán bộ đi học, phụ cấp cho cán
bộ xóm, phố, bồi dỡng hè cho cán bộ đơng chức, gặp mặt và tặng quà cho cán bộ
Trang 22trớc khi nghỉ hu, cán bộ cốt cán vùng giáo, cán bộ xóm, phố và đảng viên có tuổi
đảng cao Thực hiện tốt quy định thông báo nghỉ hu, nâng ngạch, nâng lơng; thựchiện chính sách cho cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa, tổ chức tặngquà, thăm hỏi, tang lễ… đối với cán bộ thuộc Ban Thờng vụ Thành ủy, tỉnh quản
lý nghỉ hu trên địa bàn
Để nâng cao vai trò tham mu, các cấp ủy luôn quan tâm đến việc kiện toàn
đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức; quy định rõ hơn về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và cán bộ làm công tác tổ chức Mối quan
hệ, trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan tổ chức với cơ quan, ban, ngành liên quantrong thực hiện công tác cán bộ ngày càng tốt hơn Phơng tiện làm việc về cơ bản
đáp ứng yêu cầu
Quá trình 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ơng 3 (khóa VIII) về chiến
l-ợc cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc, công tác cán bộ của thànhphố Hà Tĩnh đã đạt đợc những kết quả đáng ghi nhận Đội ngũ cán bộ từ cơ sở
đến thành phố đợc nâng lên về mọi mặt, có nhiều đóng góp cho sự phát triển củathành phố Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành ngày càng đợc nâng lên, từng b-
ớc đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ Số cán bộ đợc đào tạo ở phờng, xã và đào tạonâng cao ở thành phố, số cán bộ ứng dụng khoa học công nghệ vào các khâu quản
lý và thực hiện vụ nhiệm chuyên môn ngày càng tăng Đa số cán bộ giữ đợc phẩmchất, đạo đức, có lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân, với phong trào của địaphơng Quá trình thực hiện Nghị quyết, đội ngũ cán bộ các cấp các ngành, cáclĩnh vực đều thể hiện rõ vai trò trách nhiệm của mình
Cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nớc, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân từ
cơ sở đến thành phố phần đông có bản lĩnh chính trị vững vàng; đợc rèn luyện,thử thách qua thực tiễn cách mạng, có kinh nghiệm lãnh đạo, vận động, tập hợpquần chúng nhân dân; năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành từng bớc đáp ứngnhiệm vụ CNH, HĐH
Cán bộ lãnh đạo trong lực lợng vũ trang: kiên định vững vàng, và trung
thành với cách mạng; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, hợp đồng tác chiến cao,sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, giữ gìn an ninhchính trị và an toàn xã hội trên địa bàn Hầu hết cán bộ đều đợc đào tạo cơ bản
Cán bộ khoa học chuyên gia trong các lĩnh vực: nhìn chung tâm huyết, tân
tụy, ứng dụng tốt các tiến bộ khoa học công nghệ trong chỉ đạo sản xuất, kinhdoanh, năng lực, chất lợng công tác từng bớc đáp ứng yêu cầu
Trang 23Cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp nhà nớc: Phần
đông có trình độ về quản lý sản xuất kinh doanh, năng động, từng bớc thích ứngvới cơ chế thị trờng, hoạt động tuân thủ theo đờng lối, chủ trơng, chính sách, phápluật của Đảng và Nhà nớc, Luật doanh nghiệp
Việc phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ thành phố trong những năm qua
đã đạt đợc những thành tựu đáng kể Tuy nhiên trong thời gian qua, công tác đàotạo, quy hoạch, bồi dỡng cán bộ, ở một số cấp uỷ còn có biểu hiện nặng về cảmtính, thiếu đợc bàn bạc công khai, dân chủ Một bộ phận cán bộ, đảng viên chanhận thức đầy đủ về yêu cầu, nội dung, quan điểm, mục tiêu, tiêu chuẩn cán bộtrong thời kỳ mới Vẫn có một bộ phận không ít cán bộ còn hoài nghi về nhữngthành tựu của đờng lối đổi mới, cha thực tâm huyết với công việc Cá biệt cónhững cán bộ khi đợc phân công nhiệm vụ làm công tác đảng, đoàn thể cha sẵnsàng nhận nhiệm vụ Một số cấp uỷ đảng, lãnh đạo đơn vị cha chủ động xây dựngquy hoạch cán bộ, cha tích cực chuẩn bị nguồn cán bộ thay thế, quy hoạch cònkhép kín, cha quan tâm quy hoạch nguồn cán bộ từ xa Chất lợng quy hoạch cán
bộ cha cao, cha gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch cán bộ với đào tạo, luân chuyển
và gắn với chiến lợc phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Cơ cấu cán bộ giữacác cấp, các ngành cha hợp lý, tình trạng thiếu cán bộ có kiến thức quản lý đô thị,thơng mại, dịch vụ diễn ra nhiều năm nhng thiếu giải pháp khắc phục Một số tổchức đơn vị có biểu hiện hụt hẫng nguồn cán bộ kế cận, nhất là ở cơ sở Khả năng
dự báo, trình độ chuyên môn, khả năng xử lý tình huống của một bộ phận cán bộcha đáp ứng yêu cầu Công tác đào tạo còn thiếu cân đối giữa các lĩnh vực, chabám sát nhu cầu thực tế Phần lớn chỉ chú trọng công tác đào tạo trình độ lý luậnchính trị mà cha quan tâm đến đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật Nặng đàotạo tại chức để chuẩn hoá cán bộ, ít đào tạo chính quy và bồi dỡng các kiến thức
xử lý tình huống cụ thể ở cơ sở Cha quan tâm đúng mức đào tạo dạy nghề, ngoạingữ, tin học, đào tạo đội ngũ cán bộ trong các doanh nghiệp Do không chú trọngcông tác bồi dỡng, quy hoạch cán bộ nên một số đơn vị khi có biến động, thiếunguồn bổ sung, phải đề bạt những cán bộ cha đợc chuẩn hoá về trình độ Bêncạnh đó, một số cán bộ cha thờng xuyên tu dỡng phẩm chất đạo đức, ý thức phêbình, tự phê bình, tinh thần trách nhiệm cha cao, thái độ phục vụ nhân dân cònhạn chế, làm việc cầm chừng, ngại học tập, nhất là các môn tin học, ngoại ngữ
Giáo dục và đào tạo đợc Đảng và Nhà nớc ta xác định là quốc sách hàng
đầu, là con đờng quan trọng nhất để đào tạo con ngời phát triển toàn diện cả về
đức, trí, thể, mĩ Nhận thức đợc vấn đề này, trong những năm qua, giáo dục thành
Trang 24phố luôn là đơn vị lá cờ đầu toàn tỉnh về chất lợng mũi nhọn, đại trà và kết quảtuyển sinh vào trung học phổ thông Quy mô trờng lớp đợc giữ vững và có bớcphát triển mới Toàn thành phố có 18 trờng mầm non, trong đó có 2 trờng t thục;
17 trờng tiểu học, 10 trờng THCS; 4 trờng THPT Hiện tại có 15/17 trờng tiểu học
đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 7 trờng đạt chuẩn mức độ hai; 7/18 trờng mầmnon, 6/10 trờng THCS đạt chuẩn Số trờng đạt chuẩn quốc gia chiếm tỉ lệ 66.2%tổng số các trờng mầm non, tiểu học, THCS trong thành phố, đạt 84.8% chỉ tiêu
đề ra Phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, công tác phổ cập giáo dục bậc trung học cónhiều chuyển biến tốt 13/16 phờng, xã cơ bản đạt phổ cập bậc trung học, 16/16phờng, xã có trung tâm học tập cộng đồng
Năm học 2008 - 2009 trên địa bàn thành phố có 1244 giáo viên, trong đó
có 684 ngời có trình độ đại học trở lên với 26 thạc sỹ, còn lại là cao đẳng và trungcấp Công tác bồi dỡng đội ngũ giáo viên tiếp tục đợc chú trọng, trình độ nhậnthức chính trị, trình độ chuyên môn ngày càng đợc nâng cao Tỷ lệ đảng viêntrong các nhà trờng bình quân 58.6%; số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm
tỷ lệ 97.8%, trong đó trên chuẩn 78.3%; tỷ lệ giáo viên trên lớp đối với tiểu học là1,45 giáo viên/lớp, THCS là 2,04 giáo viên/lớp
Nhìn chung đội ngũ giáo viên thành phố có trình độ chuyên môn khá, cótinh thần trách nhiệm cao Phần lớn đội ngũ giáo viên đợc sử dụng đúng chuyênngành đào tạo, tận tâm với nghề nghiệp và đang phát huy vai trò của mình trongviệc giáo dục đào tạo con ngời mới XHCN Tuy nhiên, vẫn còn nhiều giáo viêncòn hạn chế về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy Tình trạng thừagiáo viên vẫn phổ biến Bên cạnh đó, tình trạng dạy thêm, học thêm vẫn còn tồntại nhiều Điều này phản ánh đời sống của đội ngũ giáo viên vẫn còn khó khăn, l-
ơng giáo viên mặc dù đã có sự nâng lên đáng kể nhng cha thực sự giải quyết đầy
đủ nhu cầu vật chất cho họ Để khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm, ngànhgiáo dục đào tạo thành phố đã thực hiện nhiều biện pháp, trong đó biện phápmang tính quyết định là nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ và giáoviên cả về chuyên môn và lý luận chính trị Hàng năm cử cán bộ, giáo viên họcthạc sỹ, tiến sỹ, mở các lớp bồi dỡng chuyên môn theo quy định của bộ, cử cán bộ
đi học tập lý luận chính trị Đặc biệt là tích cực thực hiện trẻ hoá đội ngũ cán bộgiáo viên, có chính sách hỗ trợ thoả đáng đối với giáo viên có nhiều đóng góp chonghề, để phát huy hơn nữa vai trò giáo viên trong sự nghiệp CNH, HĐH
Y tế là ngành có vai trò trực tiếp trong việc chăm sóc sức khoẻ của ngờidân Theo số liệu thống kê năm 2008, trên địa bàn thành phố có 4 cơ sở chữa
Trang 25bệnh tuyến tỉnh: Bệnh viện Đa khoa với 500 giờng bệnh, Bệnh viện Y học dân tộcvới 150 giờng bệnh, Bệnh viện lao phổi với 100 giờng bệnh, Bệnh viện điều dỡngvới 100 giờng bệnh; tuyến thành phố có hai trung tâm khám chữa bệnh với 200giờng bệnh; tuyến xã có 16 phòng khám với 80 giờng bệnh Bên cạnh đó còn có
14 phòng khám t nhân với 39 giờng bệnh và 53 cơ sở y tế t nhân khác dó chính làmôi trờng rộng lớn để đội ngũ trí thức trong lĩnh vực y tế phát huy năng lực củamình Hiện nay, số cán bộ y tế trên địa bàn thành phố là 1.025 ngời, trong đóngành y là 936 ngời, ngành dợc 89 ngời, cán bộ hành chính 303 ngời Trongngành y có 4 tiến sỹ, 24 thạc sỹ; 84 chuyên khoa cấp I, II; 118 bác sỹ, 248 y sỹ,còn lại là y tá, nữ hộ sinh và kĩ thuật viên Trong ngành dợc có 2 chuyên khoa cấp
I, II; 8 dợc sỹ đại học, còn lại là dợc sỹ trung cấp, dợc tá và lơng y Y tế là ngành
có lực lợng cán bộ đông đảo và đợc đào tạo khá cơ bản Số cán bộ y tế thuộcthành phố quản lý là 165 (ngành y là 144, ngành dợc 10, cán bộ hành chính là11), trong đó có 21 bác sỹ, 54 y sỹ, 1 dợc sỹ đại học, còn lại là y tá, dợc tá, nữ hộsinh
Từ lâu, ngành đã có chơng trình đào tạo chuyên khoa, chuyên sâu và đàotạo sau đại học trên các lĩnh vực nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho cácthầy thuốc Nhiều bác sỹ giỏi có kinh nghiệm đã giải quyết đợc nhiều ca bệnhhiểm nghèo Đây là ngành mà hầu hết lực lợng lao động luôn đợc làm đúng vớichuyên môn đã đợc đào tạo Gần đây, số cán bộ chuyên ngành y và dợc đã đợcphân bổ đồng đều trên khắp địa bàn thành phố Vì đây là trung tâm của tỉnh nênnhiều cán bộ y tế có điều kiện học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyênmôn, bắt kịp với những tiến bộ KHKT mới
Đa phần các cán bộ trong lĩnh vực y tế đều yêu nghề, say mê nghề nghiệp,hết lòng chăm sóc ngời bệnh Nhng bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số trí thứccha thực sự hài lòng với công việc và cha phát huy hết năng lực sáng tạo củamình Điều này đòi hỏi các cơ quan chuyên trách phải có những chính sách phùhợp để kích thích tinh thần lao động hăng say của lực lợng trí thức này
Hiện nay, ngành văn hoá thông tin thành phố có 31 cán bộ, nhân viên (17nam và 14 nữ), bằng 7,03% toàn tỉnh, trong đó có 12 ngời có trình độ đại học trởlên Về trình độ lý luận chính trị, có 1 ngời có trình độ lý luận cao cấp, 7 ngờitrung cấp còn lại là sơ cấp Lực lợng trí thức thành phố cũng có nhiều điều kiện
để phát huy năng lực, vai trò của mình Thời gian qua, lãnh đạo thành phố đã cónhiều chính sách phù hợp để nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ tronglĩnh vực văn hoá thông tin thành phố nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và giao lu
Trang 26văn hoá hiện nay Tuy nhiên, nguồn lực trí thức trong lĩnh vực văn hoá trên địabàn thành phố còn ít, trình độ còn thấp, số ngời có trình độ đại học trở lên chỉ có38,7%, số ngời có trình độ lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ, tin học còn thấp
Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm của tỉnh, là đô thị có kinh tế phát triểnmạnh mẽ và năng động Những năm gần đây, thành phố Hà Tĩnh đang trong quátrình đô thị hoá, nhiều nhà máy xí nghiệp đợc xây dựng và phát triển Chính vì thế
mà số lợng trí thức, các nhà khoa học tham gia vào quản lý và lãnh đạo các xínghiệp quốc doanh tăng rõ rệt Hiện nay, trên địa bàn thành phố có có 1300doanh nghiệp, trong đó có 5 doanh nghiệp nhà nớc, 13 doanh nghiệp ngoài quốcdoanh, 1260 hộ sản xuất cá thể Tiêu biểu là một số doanh nghiệp lớn nh: Công ty
Cổ phần Dợc và Thiết bị Y tế, Công ty Bia Sài Gòn - Hà Tĩnh, Công ty Tráchnhiệm hữu hạn Trờng An, Công ty Cổ phần Doanh nghiệp trẻ Tổng số lao độngtrong khối doanh nghiệp thành phố là 7000 lao động, trong đó có 200 ngời cótrình độ đại học trở lên, 300 ngời có trình độ cao đẳng, còn lại là trung cấp vàcông nhân lao động Đa số trí thức trong khối doanh nghiệp đều có điều kiện đểphát huy tính năng động, nhạy bén, và phát huy tinh thần sáng tạo trong nền kinh
tế thị trờng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nớc
Trong thời gian qua, nhằm phát huy hơn nữa vai trò nguồn lực trí thứcthành phố trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, Liên hiệp các Hội KHKT thànhphố Hà Tĩnh đã tổ chức thành công Hội thi Sáng tạo kỹ thuật thành phố lần thứ nhất (2008 - 2009) Với mục đích khơi dậy và đẩy mạnh phong trào cải tiến kĩ
thuật và hỗ trợ các tài năng sáng tạo trong lao động, đẩy mạnh việc ứng dụng cácgiải pháp hữu ích, kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất và đời sống, góp phần thực hiệnnhiệm vụ kinh tế kỹ thuật của thành phố Hội thi đã lôi cuốn nhiều giai tầng trongxã hội tham gia, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn,các thành phần kinh tế trong thành phố, trong đó có lực lợng đáng kể là cán bộKHKT trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp Sự góp mặt của họ đã phản ánh đ-
ợc sức lao động sáng tạo trong nghiên cứu khoa học Hội thi sáng tạo KHKTthành phố đã thực sự trở thành sân chơi cho những ngời có tinh thần sáng tạo, làhình thức tập hợp, vận động quần chúng (đặc biệt là trí thức) phát huy sức lao
động sáng tạo và giải quyết đợc một số vấn đề bức xúc về kinh tế, kĩ thuật củathành phố Trong điều kiện phát triển khoa học công nghệ phục vụ mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội, đội ngũ cán bộ KHKT trong thành phố đã tập trung trí tuệ,sức lực, nghiên cứu sáng tạo ra những công nghệ, kỹ thuật mới tiến bộ hơn và ápdụng vào đời sống sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội to lớn, nh các giải
Trang 27pháp nâng cao chất lợng dạy và học, giải pháp y - dợc mang lại sức khỏe chonhân dân, giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp Hội thi đã thực sựtôn vinh những sáng kiến nhỏ nhng mang lại hiệu quả lớn.
Việc phát huy nguồn lực trí thức trẻ cũng đợc lãnh đạo thành phố hết sứcquan tâm Hiện nay, tại địa bàn thành phố Hà Tĩnh có một trờng Đại học Hà Tĩnh
và nhiều trờng cao đẳng: Cao đẳng y tế Hà Tĩnh, Cao Đẳng Văn hóa Nghệ thuật,Cao đẳng nghề Việt Đức Đây chính là những nơi tập trung nguồn lực trí thức trẻ,nguồn lực trí thức kế cận cho thành phố Trờng Đại học Hà Tĩnh là một trờngcông lập, đa cấp, đa ngành đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các yêu cầu của
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nóiriêng Trờng đã và đang đào tạo 40 mã ngành khác nhau có trình độ từ trung cấp,cao đẳng, đến đại học và sau đại học Theo báo cáo của Phòng tổ chức cán bộ tr-ờng, hiện nay trờng Đại học Hà Tĩnh có 210 cán bộ, giảng viên, trong đó có : 1giáo s, 2 phó giáo s, 6 tiến sỹ, 5 thạc sỹ, 148 đại học - cao đẳng
Theo Phòng công tác học sinh - sinh viên năm 2006 – 2007, số lợng sinhviên của trờng là 4.696, trong đó hệ chính quy là 2.950, hệ không chính quy là1.746 sinh viên Đây là nguồn lực trí thức tơng lai có trình độ văn hóa và điềukiện thuận lợi để nắm bắt những thông tin, những luồng văn hóa tiên tiến
Đại học Hà Tĩnh phấn đấu xây dựng một trờng đào tạo đa cấp, đa ngành,
có chất lợng với nhiều ngành đào tạo nh: Kinh tế, Kỹ thuật, Công nghệ, Thơngmại - Du lịch, S phạm với quy mô tuyển sinh hệ chính quy năm 2008 là 2.500sinh viên, năm 2010 - 2015 khoảng 6.000 - 10.000 học sinh, sinh viên Đồng thời,nâng cao trình độ và chất lợng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, đáp ứng yêucầu đào tạo nguồn nhân lực có trí tuệ cho tỉnh Hà Tĩnh Bên cạnh đó, tăng cờnghợp tác quốc tế về đào tạo sinh viên, bồi dỡng giảng viên, xây dựng các chuyênngành cần thiết cho nhu cầu của tỉnh, vùng và toàn quốc; phấn đấu đa trờng Đạihọc Hà Tĩnh trở thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, trung tâm vănhóa của tỉnh, một trờng Đại học có uy tín trong nớc và khu vực trong 10 - 15 nămtới
Thời gian qua, các cấp ủy đảng thành phố Hà Tĩnh đã ban hành nhiều chỉthị, văn bản, Nghị quyết để phát huy hơn nữa vai trò của nguồn lực trí thức thànhphố trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH Nhằm cụ thể hóa và triển khai thựchiện Nghị quyết số 27/NQ-TƯ về "Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" và Chơng trình hành động của Tỉnh ủy, Ban
Trang 28Thờng vụ Thành ủy đã thống nhất xây dựng chơng trình hành động số LHH Trong đó đề ra mục tiêu chung là: Tiếp tục xây dựng đội ngũ trí thức lớnmạnh cả về số lợng và chất lợng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu về phát triểnkinh tế xã hội của thành phố, phải là đơn vị lá cờ đầu của tỉnh Từng bớc xâydựng đội ngũ trí thức có chuyên môn giỏi trên các lĩnh vực và nhân lực chất lợngcao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công cuộc CNH, HĐH, đủ trình
25/CTr-độ để thực hiện các chơng trình, dự án triển khai trên địa bàn, góp phần thực hiệncác mục tiêu kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng đề ra Điều đó một lần nữa khẳng
định việc coi trọng việc phát huy nguồn lực trí thức là lực lợng chủ yếu trongchiến lợc phát triển kinh tế - xã hội thành phố trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH
Nhìn chung, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố trong những năm qua đãthể hiện coi trọng vị trí, phát huy vai trò của nguồn lực trí thức thành phố, bớc đầutạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức và các hội trí thức hoạt động, phát triển,khẳng định năng lực của mình trong sự nghiệp đổi mới đất nớc Đội ngũ trí thứcthành phố Hà Tĩnh đã có nhiều cống hiến, đóng góp quan trọng trong việc tham
mu tổng kết thực tiễn, phát triển và hoàn thiện lý luận, xây dựng phơng hớng,hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh củathành phố Đội ngũ trí thức với đặc trng lao động trí tuệ sáng tạo của mình đãphát huy mạnh mẽ vai trò động lực của khoa học công nghệ đi đầu trong lĩnh vựcnghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất -kinh doanh, là lực lợng xung kích trong phong trào tiến quân vào khoa học, kỹthuật phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất góp phần quantrọng vào công cuộc đổi mới và tiến trình CNH, HĐH
Tuy nhiên, trớc yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc và hộinhập quốc tế, nguồn lực trí thức thành phố Hà Tĩnh còn bộc lộ nhiều hạn chế vàyếu kém cần đợc khắc phục:
Số lợng và chất lợng trí thức thành phố cha đáp ứng yêu cầu của sự pháttriển đất nớc Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý cùng với mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố thì số lợng trí thức thành phố còn rấtthiếu để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH Các quốc gia đã tiến hành thành côngquá trình CNH, HĐH đã chứng minh rằng: nguồn lực con ngời mới là yếu tốquyết định thành công quá trình CNH, HĐH Hơn nữa, khi mà thế giới đang bớcvào nền kinh tế tri thức, khi mà cuộc cách mạng khoa học - công nghệ diễn ra nh
vũ bão thì lực lợng lao động không chỉ đơn thuần là lao động thủ công, cơ bắp mà
Trang 29lao động phải có tri thức, có trí tuệ mới có thể đáp ứng đợc yêu cầu của công việctrong sự nghiệp đổi mới.
Sự bất hợp lý trong cơ cấu nguồn lực trí thức còn thể hiện ở sự bất cậptrong cơ cấu đào tạo ngành nghề ở thành phố hiện nay Đó là tình trạng lực lợngtrí thức có trình độ khoa học xã hội nhân văn lớn hơn trí thức có trình độ KHKT(bao gồm cả khoa học tự nhiên) Hiện nay, nhiều sinh viên ra trờng thuộc cácngành khoa học xã hội rơi vào tình trạng thất nghiệp, không xin đợc việc làm do
đào tạo quá nhiều Bên cạnh đó, số công nhân kỹ thuật lại còn ít, cha đáp ứng đủnhu cầu, do đó tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" ở địa bàn thành phố là một vấn đềbức xúc hiện nay Điều này đòi hỏi thành phố Hà Tĩnh phải nhanh chóng điềuchỉnh chiến lợc đào tạo, thu hút nguồn nhân lực phù hợp với xu thế phát triểnchung
Cơ cấu độ tuổi trí thức còn có những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độtuổi, giới tính , chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng, đội ngũ kế cậnhẫng hụt, còn mất cân đối trong ngành nghề đào tạo, cha có cá nhân, đơn vịnghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu cha thực sự nổi bật Nhìn chung,hoạt động nghiên cứu khoa học còn manh mún, nhỏ lẻ, cha xuất phát và gắn bómật thiết với thực tiễn sản xuất kinh doanh và đời sống
Sự mất cân đối giữa nam - nữ trí thức cũng gây khó khăn trong công tác sửdụng nguồn nhân lực, phát huy tối đa sức mạnh của cá nhân trong việc góp phầnthúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hiện nay, nam giới chiếm 59,4%,nữ chiếm 30,6%; thành phố có tổng số cán bộ nữ là 151 đồng chí, bằng 0,497%dân số thành phố Điều này cho thấy tỷ lệ trí thức nữ thành phố còn thấp gây ra sựmất cân đối trong sử dụng, một phần tạo nên sự mất bình đẳng về giới trong xãhội, hạn chế vai trò của phụ nữ
Trí thức ở cơ quan quản lý nhà nớc cha có điều kiện nghiên cứu, năng lựcsáng tạo còn thấp, khả năng thực hành và ứng dụng, khả năng giao tiếp bằngngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin trớc yêu cầu giao lu và hợp tác quốc tếnhìn chung còn yếu
Một bộ phận trí thức trẻ, kể cả những ngời có trình độ học vấn cao cònthiếu tự tin, e ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liênquan đến chính trị Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức tráchnhiệm, có biểu hiện chạy theo bằng cấp Một số trí thức không thờng xuyên họchỏi, tìm tòi, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, thiếu ý chí và hoài bão, vẫn còn yếu
về trình độ tin học, ngoại ngữ Bên cạnh đó có những trí thức cha thực sự năng