Trong số các tài liệu mà chúng tôi đợc tiếp cận thì những công trình sau ít nhiều có liên quan khá gần gũi với đề tài: Trong cuốn “Lịch sử quan hệ ngoại giao quốc tế từ Chiến tranh thế g
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trang 2sức phức tạp và còn nhiều bí ẩn Trong cuộc chiến tranh ấy, trên mặt trận châu
Á - Thái Bình Dơng nổi lên mối quan hệ giữa hai nớc đế quốc đại diện cho haikhối (khối phát xít và khối đế quốc dân chủ), đó là Hoa Kỳ và Nhật Bản Quan
hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai là một mối quan hệphức tạp, thông qua mối quan hệ đó chúng ta sẽ thấy rõ tính phức tạp của tìnhhình thế giới lúc bấy Cả Hoa Kỳ và Nhật Bản đều muốn bành trớng thế lực,xâm chiếm thuộc địa song mỗi nớc lại khoác trên mình những tấm áo che đậykhác nhau Nhật Bản nguỵ trang bởi luận điệu rất nhân đạo là đang thực hiện
sứ mệnh cao cả của “Ngời anh cả da vàng” để giải phóng nhân dân châu á
tr-ớc thoát khỏi sự cai trị của thực dân Phơng Tây, còn Hoa kỳ thì luôn tỏ ratrung thành với cái gọi là “Chủ nghĩa biệt lập” hay “Ngoại giao cách ly”, ấyvậy mà chiến tranh tàn khốc lại nổ ra giữa hai nớc Hoa Kỳ - Nhật Bản trênchiến trờng châu á - Thái Bình Dơng Nghiên cứu mối quan hệ Hoa Kỳ - NhậtBản trong Chiến tranh thế giới thứ hai là muốn khái quát lại một chặng đờnglịch sử đầy mâu thuẫn để từ đó làm nổi bật đợc tính phong phú và phức tạpcủa vấn đề ngoại giao
1.2 Cuộc xung đột ở châu á - Thái Bình Dơng mà logic của lịch sử đãlôi kéo Hoa Kỳ vào tởng nh là chính nghĩa, nhng Hoa Kỳ đã không tự kiềmchế trong những hoạt động vì những lợi ích hẹp hòi của mình ở mỗi bớc đibộc lộ những mâu thuẫn ghê gớm giữa tính chất khách quan của cuộc chiếntranh và ý đồ chủ quan của các nhà lãnh đạo Không chỉ riêng Hoa Kỳ, cảNhật Bản cũng nh các nớc tham chiến nói chung, phía sau những hành độngluôn là những mu toan chính trị và tham vọng quyền lực Thông qua việc trìnhbày mối quan hệ của Nhật Bản và Hoa Kỳ, luận văn muốn vạch rõ thực chấtcủa mối quan hệ Nhật Bản và Hoa Kỳ - mối quan hệ đã đẩy hàng triệu ngờidân vô tội vào cảnh chết chóc
1.3 Một mối quan hệ đầy sóng gió và đau thơng trong lịch sử đã khéplại Sau khi cuộc chiến tranh Hoa Kỳ - Nhật Bản kết thúc, lịch sử quan hệ củahai nớc bớc sang giai đoạn mới, một giai đoạn mà với ngời Nhật Bản cũng
đáng để ghi nhận và khắc sâu chẳng kém gì trớc đó Mối quan hệ Hoa Kỳ Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã ảnh hởng sâu đậm đến mốiquan hệ hai nớc sau đó cũng nh tơng lai của mỗi nớc Sau chiến tranh, NhậtBản bớc vào thời kì tập trung phát triển kinh tế, trở thành một quốc gia dânchủ Những cái chết từ những cuộc ném bom của Hoa Kỳ trên đất Nhật Bản,
Trang 3-đặc biệt là từ hai quả bom nguyên tử ném xuống Hirôsima và Nagadaki vừa làlời cảnh tỉnh, là sự nhắc nhở và cũng là lời hứa: “Hãy yên nghỉ, sai lầm sẽkhông tái phạm”.
1.4 Hiện nay, tình hình thế giới vẫn còn hết sức phức tạp Trong môi ờng toàn cầu hoá, bên cạnh những nỗ lực chung vai góp sức xây dựng một thếgiới hoà bình thì vẫn còn rất nhiều thế lực vẫn đang âm mu phá hoại nền hoàbình và liên tiếp gây ra các vụ khủng bố, giết hại ngời dân vô tội Với việcchọn đề tài này, chúng tôi muốn nhắc lại những đau thơng do chiến tranh gây
tr-ra xuất phát từ lòng tham kinh tế và âm mu chính trị nh một lời cảnh tỉnh
1.5 Bản thân đã từng nghiên cứu về “Vai trò của các nớc trong việc
đánh bại phát xít Nhật” khi làm khoá luận tốt nghiệp đại học, trong đó có nói
đến vai trò của Hoa Kỳ trong việc đánh bại phát xít Nhật Tuy nhiên, do giớihạn của một khoá luận tốt nghiệp đại học nên tôi đã không có điều kiệnnghiên cứu sâu về mối quan hệ Hoa Kỳ – Nhật Bản trong Chiến tranh thế
giới thứ hai Nay tôi quyết định chọn đề tài “Quan hệ Hoa Kỳ – Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ với mong
muốn làm sáng tỏ những gì bản thân còn cha thoả mãn khi làm khoá luận tốtnghiệp đại học
Bởi những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Quan hệ Hoa Kỳ Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
-cao học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chiến tranh thế giới thứ hai và mối quan hệ chằng chéo giữa các nớctrong cuộc chiến tranh là vấn đề đợc quan tâm đặc biệt từ khi cuộc chiến tranhkết thúc cho đến nay Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nói về cuộc Chiếntranh thế giới và tất nhiên nội dung không thể thiếu trong các công trìnhnghiên cứu đó là mối quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến cuộc chiếntranh Trong số các tài liệu mà chúng tôi đợc tiếp cận thì những công trình sau
ít nhiều có liên quan khá gần gũi với đề tài:
Trong cuốn “Lịch sử quan hệ ngoại giao quốc tế từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến Chiến tranh Triều Tiên” của tác giả Phạm Giảng do Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia phát hành năm 2005, khi trình bày về quan hệ ngoại giao từChiến tranh thế giới thứ hai cho đến chiến tranh Triều Tiên tác giả đã điểmqua một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến cuộc chiến tranh Hoa Kỳ - Nhật Bản
Trang 4Cuốn “Cuộc Chiến tranh Thái Bình Dơng” của đồng tác giả Lê Vinh
Quốc và Huỳnh Văn Tòng do Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ ChíMinh phát hành cũng là cuốn sách đề cập khá chi tiết về mối quan hệ củaNhật Bản và Mỹ trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai Tuy nhiên, cuốn
“Cuộc Chiến tranh Thái Bình Dơng” lại là công trình thực sự đi sâu vào
nghiên cứu về lĩnh vực quân sự, ngoài cuộc Chiến tranh Thái Bình Dơng racông trình hầu nh ít quan tâm đến các vấn đề khác
Phó giáo s Nguyễn Huy Quý với hai công trình “Chiến tranh thế giới thứ hai” và cuốn “Lịch sử Chiến tranh thế giới thứ hai” do Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia phát hành 2005 cũng là cẩm nang cho những ngời muốntìm hiểu về cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai và những mối quan hệ dẫn đếncuộc chiến tranh đó, trong đó có mối quan hệ của Nhật Bản và Hoa Kỳ Tuynhiên cả hai cuốn sách trên cha nghiên cứu sâu các lĩnh vực nói đến và cũngkhông nói đến nhiều khía cạnh trong mối quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản mà chỉtập trung nói đến quan hệ chiến tranh
Năm 1985, Nhà xuất bản Sự thật cho dịch và xuất bản cuốn sách
“Những bí mật của Chiến tranh thế giới thứ hai”, đây là cuốn sách đề cập một
cách có hệ thống về nguyên nhân, diễn biến và kết quả cuộc Chiến tranh thếgiới thứ hai, cũng từ đó ngời đọc nhận thấy rất rõ về những mối quan hệ chằngchéo của các nớc trong cuộc chiến tranh này
Trong cuốn “Chiến thắng Viễn Đông” của nhà nghiên cứu Lêônit
V.Nốtsencô đợc Nhà xuất bản Thông tấn xã Nôvôxti Mátxcơva phát hành
1985 và cuốn “Tại sao Đồng Minh đã thắng Trục” của tác giả Nguyễn Kim đã
làm nổi bật đợc nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Phát xít Nhật trong cuộcChiến tranh thế giới thứ hai, tác giả cũng đã làm nổi bật đợc khía cạnh nào đó
về mối quan hệ Nhật Bản và Hoa Kỳ trong thời gian này, bởi nh chúng ta biếttrong việc đánh bại Phát xít Nhật thì công lao hàng đầu thuộc về Hoa Kỳ
Ngoài ra, còn có các công trình của các tác giả nớc ngoài cha đợc dịch
sang tiếng Việt nh: “The Uited States and Japan” (Hoa Kỳ và Nhật Bản) của tác giả Edwin O Reischauer hay cuốn “Внешняя политика Японии в 1941-
1945 гг” (Chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong thời kì 1941-1945) của nhà nghiên cứu Гольдберг Д.И Với tác phẩm “Внешняя политика Японии
в 1941-1945 гг” nhà nghiên cứu Гольдберг Д.И đã phân tích khá sâu về
Trang 5chính sách ngoại giao của Nhật Bản trong thời kì Chiến tranh Thái Bình Dơng,mặc dù không phải chỉ tập trung nói về chính sách của Nhật Bản đối với Hoa
Kỳ song với tác phẩm này chúng ta cũng thấy rõ đợc mối quan hệ Nhật Bảnvới Hoa Kỳ khá rõ ràng trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dơng
Bên cạnh đó, trên các tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, Nghiên cứu NhậtBản - Đông Bắc á, Nghiên cứu Quốc tế đã có nhiều bài viết của các nhànghiên cứu Việt Nam và nớc ngoài về ngoại giao của Nhật Bản cũng nh tìnhhình nớc Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai nh: Nguyễn Văn Tận (2000),
“Nhìn lại chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và hệ quả của nó”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản số 4(28); Nguyễn Quốc Hùng (2001), “Vài nét về nớc Nhật thế kỷ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản - Đông Bắc á số 1(31); Nguyễn Văn Tận (2001), “Sự hình thành tam giác quyền lực Đức - Mỹ - Nhật trong những năm cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX và hệ quả của nó”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản - Đông Bắc á
số 2 (32); Nguyễn Quốc Hùng (2003), “Nhật Bản và trật tự thế giới ở Đông á thế kỷ XX”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản - Đông Bắc á số 2(44); Nguyễn Văn Tận (2005), “Liên minh Thái - Nhật trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai - Những vấn đề lịch sử và luận giải”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản - Đông Bắc
Vì vậy, kế thừa kết quả của các nhà nghiên cứu trớc để hệ thống hoálại những nét chính của mối quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trong Chiến tranhthế giới thứ hai, trong công trình này chúng tôi hy vọng sẽ nêu lên đ ợc một
Trang 6cách có hệ thống và đầy đủ mối quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trong Chiếntranh thế giới thứ hai, đồng thời làm rõ thực chất của mối quan hệ Hoa Kỳ -Nhật Bản trong xu hớng chung của thời đại và những đặc điểm riêng biệtcủa mỗi quốc gia.
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Nhật Bảntrong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), từ đó rút ra những đánh giá,nhận xét về mối quan hệ phức tạp Hoa Kỳ - Nhật Bản trong thời kì này
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ hai nớc Hoa Kỳ - Nhật Bảntrong thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) trên lĩnh vực chínhtrị, xã hội, quân sự, đặc biệt là mối quan hệ ấy trong thời kì Chiến tranh TháiBình Dơng Tuy nhiên luận văn không đi sâu vào cuộc chiến tranh Nhật Bản– Hoa Kỳ trên mặt trận châu á - Thái Bình Dơng mà đề cập đến các mốiquan hệ giữa hai nớc trong chiến tranh để từ đó làm nổi bật đợc thực chất củamối quan hệ này là gì, ẩn sau mối quan hệ đó là những mu toan và tham vọng
nh thế nào
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứhai là sự tiếp nối của mối quan hệ giữa hai nớc trong quá trình dài trớc đó Vìthế, luận văn của chúng tôi trớc tiên nói về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và NhậtBản trớc Chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là giữa hai cuộc chiến tranh thếgiới
4 Nguồn t liệu sử dụng trong luận văn
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi dựa trên các nguồn t liệu sau:
- Nguồn t liệu gốc: Bao gồm các bài diễn văn, diễn thuyết, bài phát biểu,thông điệp của Chính phủ Hoa Kỳ và Tổng thống Hoa Kỳ
- Các loại sách chuyên khảo (tài liệu của các nhà nghiên cứu Việt Nam),tài liệu đợc dịch từ tiếng nớc ngoài (tiếng Anh, tiếng Nga) và các tài liệu vềNhật Bản, Hoa kỳ và về Chiến tranh thế giới thứ hai, một số luận án tiến sỹ,luận văn thạc sỹ ngành lịch sử
- Các loại báo, tạp chí nghiên cứu nh: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và
Đông Bắc á, Tạp chí Nghiên cứu châu á - Thái Bình Dơng, Tạp chí Nghiêncứu Nhật Bản
Trang 7- Các bài viết, số liệu từ các địa chỉ Websire:
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi dựa vào quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở
ph-ơng pháp luận cho việc nghiên cứu
Phơng pháp lịch sử và phơng pháp logic là hai phơng pháp chủ đạotrong quá trình thực hiện đề tài
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp nghiên cứu liên ngành
nh phơng pháp thống kê, phơng pháp tổng hợp, phơng pháp so sánh, đối chiếunhằm giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra Trên cơ sở đó, lựa chọn những
t liệu cần thiết quan trọng liên quan đến đề tài, từ đó rút ra những nhận xét,
đánh giá mang tính khoa học và thực tiễn
6 Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình tập trung nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ - Nhật
Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai, luận văn hy vọng sẽ phác hoạ lại nhữngmối quan hệ phức tạp, chằng chéo trong quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản một cách
có hệ thống và chi tiết
- Bên cạnh việc trình bày quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trong Chiến tranhthế giới thứ hai, luận văn còn đi sâu lý giải thực chất của mối quan hệ này làgì và tác động của nó đến quan hệ giữa hai nớc sau chiến tranh nh thế nào.Một nội dung quan trọng nữa mà luận văn nói đến đó là tác động của mốiquan hệ đó đối với thế giới nói chung, nhân dân châu á nói riêng và nhất là
đến bản thân Hoa Kỳ và Nhật Bản sau chiến tranh
Trang 8- Nội dung và t liệu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảophục vụ học tập, chuyên đề giảng dạy và những ai quan tâm nghiên cứu về vấn
đề này
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chơng:
Chơng 1: Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trớc Chiến tranh thế giới thứ hai
Chơng 2: Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trong những năm Chiến tranh thế giớithứ hai
Chơng 3: Một số nhận xét về quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trong Chiến tranhthế giới thứ hai
B NộI DUNG Chơng 1 Quan hệ Hoa Kỳ – Nhật Bản trớc Chiến tranh
thế giới thứ hai 1.1 Khái quát quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trớc Chiến tranh thế giới
thứ nhất
1.1.1 Hoa Kỳ mở cửa Nhật Bản
Cuộc cách mạng công nghiệp đã đa nền kinh tế các nước phương Tâyphát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng tạo ra sức ép về thị trường và nguồnnguyên liệu ngày càng cấp thiết Trong cơn lốc tìm kiếm thị trờng của các nớc
t bản, châu á trở thành miếng mồi béo bở khiến các nớc phơng Tây đều hớngcon mắt thèm thuồng đến châu lục này Là một nớc không giàu có về tàinguyên thiên nhiên, nhng Nhật Bản lại có vị trí chiến lợc quan trọng, điều
đó đã trở thành động cơ khiến Hoa Kỳ tìm mọi cách mở cửa đất n ớc này.Động cơ chính của Hoa Kỳ khi tiến hành mở cửa Nhật Bản không chỉ nhằm
mở mang thương mại với Nhật Bản, mà còn muốn biến quần đảo này thànhtrạm dừng chân cho các tàu buôn Hoa Kỳ trớc khi đến Trung Quốc và cácnớc khác trên lục địa châu á Thêm vào đó, nhu cầu cần phải có các cảngbiển để tránh thời tiết xấu cho các tàu săn cá voi, vốn đang mang lại nhiềulợi nhuận cho Hoa Kỳ, đã trở nên đặc biệt cần thiết sau khi không ít chuyến
Trang 9đi kết thúc thất bại trên các bờ biển đầy đá và s ơng mù ở các hòn đảo phíaBắc Thái Bình Dơng.Bêncạnh những lý do trên thì tham vọng mở cửa NhậtBản của Hoa Kỳ còn đợc thôi thúc bởi lí do kinh tế Vào thời gian này,thông tin về việc Nhật Bản có một trữ lợng than đá khổng lồ đã lan truyền
đến các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ khiến họ càng quyết tâm mở cửa Nhật Bản.Ngoại trởng Hoa Kỳ Daniel Webseter đã phát biểu rằng, trữ lợng trầm tíchthan đá này là “một món quà của thợng đế, do đấng tạo hoá ký thác xuốngdới lòng đất của quần đảo Nhật Bản, để phục vụ lợi ích của toàn nhân loại”[45, 23]
Nh vậy, xuất phát từ nhận thức về tiềm năng kinh tế và vị trí chiến lợccủa Nhật Bản, quyết tâm biến Nhật Bản thành một cứ điểm của Hoa Kỳ ở TháiBình Dơng đã dần trở thành một chủ trơng lớn của nước này
Căn cứ theo những tài liệu hiện có, con tàu đầu tiên của Hoa Kỳ hạ neo
ở bờ biển Nhật Bản v o năm 1791 là tàu Lady Washington do thuyền trào năm 1791 là tàu Lady Washington do thuyền tr ưởngKendrick chỉ huy Cho đến cuối những năm 1830, nhiều tàu Hoa Kỳ đã tiếnvào hải phận Nhật Bản
Tuy nhiên, ngời đợc giao sứ mệnh mở cửa Nhật Bản là Đô đốc MatthewCalbraith Perry (M.C.Perry: 1794-1858) Khác với hai chuyến đi bất thànhtrong việc khai thông quan hệ với Nhật Bản trớc đó của Đô đốc James Biddlevào năm 1848 và Đô đốc Glynn năm 1849, Perry đến Nhật Bản với sự chuẩn
bị kỹ lỡng cả về sức mạnh quân sự Vào ngày 15-7-1853, đô đốc M.C.Perry đã
đa bốn tàu chiến chạy bằng động cơ hơi nớc tiến vào vịnh Edo, neo đậu tại cửabiển của thành phố nhỏ ở Uraga M.C.Perry kiên quyết yêu cầu đại diện chínhquyền Edo ở đây phải cho gặp Tớng quân để trực tiếp trao quà và trình th củaTổng thống Hoa Kỳ
Trớc áp lực của Hoa Kỳ và căn cứ thực tế là Nhật Bản còn nhiều hạnchế về khả năng phòng thủ, tài chính cũng nh mối lo ngại sẽ phải chịu chung
số phận nh Trung Quốc, Mạc phủ Edo đã lựa chọn giải pháp tuy không phải làtrọn vẹn nhng mang tính hiện thực hơn để duy trì nền độc lập tơng đối củamình Đó là thay đổi căn bản chính sách đóng cửa truyền thống Kết quả,ngày 31-3-1854, M.C Perry, thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ và Đại học sĩHayashi Noboru, Ido Satohiro lãnh chúa Tsushima, Izawa Massayoshi - lãnhchúa vùng Mimasda, Udono thành viên Hội đồng Ngân khố Quốc gia Nhật
Trang 10thay mặt Chính phủ Nhật Bản ký “Hiệp ớc hòa bình và hữu nghị” (còn đợc gọi
là Hiệp ớc Kanagawa) gồm 12 điều với những nội dung chính là:
1 Thiết lập mối quan hệ hòa bình vững chắc, lâu dài và thực sự thânhữu giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản
2 Mở hai cảng Shimoda và Hakodate để tàu Hoa Kỳ có thể lấy củi, nớc,thực phẩm, than và các nhu yếu phẩm khác mà các tàu Hoa Kỳ cần trong khảnăng cung cấp của Nhật Bản
3 Trong tơng lai, nếu chính phủ Nhật Bản dành cho bất cứ quốc gia nàokhác những đặc quyền và lợi ích mà nớc Hoa Kỳ cha đợc hởng thì nớc Hoa
Kỳ và công dân Hoa Kỳ mặc nhiên có quyền hởng những đặc quyền và lợi íchtơng tự mà không phải thông qua đàm phán cũng nh sự trì hoãn nào
4 Hoa Kỳ có quyền cử một lãnh sự đóng tại Shimoda vào bất cứ thời
điểm nào trong vòng 18 tháng kể từ ngày ký hiệp định này nếu một trong haichính phủ Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản thấy rằng sự sắp xếp đó là cần thiết
Hiệp ớc này đợc Quốc hội Hoa Kỳ thông qua ngày 15-7-1854 và đợcTổng thống Filmore phê chuẩn ngày 7-8-1854
Nhìn chung, Hiệp ớc Kanagawa đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trongbức th của Tổng thống Filmore gửi chính quyền Nhật Bản trớc đó Nội dunghiệp ớc phản ánh rất rõ mục tiêu của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản, đó là mở cửacác hải cảng Số lợng điều khoản đề cập trực tiếp hoặc có liên quan đến nộidung này là 3 trong tổng số 12 điều và đợc đặt lên hàng đầu chỉ sau phầnnguyên tắc chung Bên cạnh đó, có một nội dung đáng chú ý khác là điềukhoản quy định Hoa Kỳ đợc quyền đối xử tối huệ quốc Trớc Hoa Kỳ, cha hề
có quốc gia nào đợc Nhật Bản nhợng bộ những u đãi nh thế Còn đối với Hoa
Kỳ, đây là lần thứ hai nớc này giành đợc những quyền trên trong quan hệ vớicác quốc gia châu á, sau hiệp ớc Vọng Hạ ký với Trung Quốc năm 1844
Từ thực tế trên, có thể khẳng định, Hoa Kỳ đã đóng vai trò then chốt trong việc mở cửa Nhật Bản Chính Hoa Kỳ đã mở ra một thế cuộc mới trong quan hệ quốc tế của Nhật Bản giai đoạn tiền Minh Trị Còn với Nhật Bản, việc
ký các bản hiệp ớc trên đã đa Nhật Bản đến cuộc khủng hoảng nhng Nhật Bản không còn sự lựa chọn nào khác bởi vì đất nớc này cha đủ mạnh để chống lại
phơng Tây
Sau 10 tháng kiên trì đàm phán và một lần đe dọa dùng vũ lực để gâysức ép, ngày 17-6-1857, T.Harris - Tổng lãnh sự đầu tiên của Hoa Kỳ tại Nhật,
Trang 11đã ký với Nhật Bản Hiệp ớc Shimoda Theo đó, Nhật Bản phải mở cửaNagasaki cho các tàu buôn Hoa Kỳ; Ngời Hoa Kỳ có quyền c trú lâu dài ởShimoda, Hakodate và có quyền chỉ định thêm một phó lãnh sự; Quy định tỷgiá trao đổi cố định giữa đồng tiền Hoa Kỳ và Nhật Bản, Nhật Bản nhận đợctối đa 6% hoa hồng trên trọng lợng chênh lệch bình quân hàm lợng vàng vàbạc giữa đồng tiền Hoa Kỳ và Nhật Bản thay vì 25% nh đề nghị ban đầu củaNhật Bản; Ngời Hoa Kỳ đợc hởng quyền lãnh sự tài phán; Lãnh sự Hoa Kỳ tạiNhật Bản có quyền tới bất cứ đâu trên lãnh thổ Nhật
Việc ký hiệp ớc Shimoda đã mở đờng cho Harris tới Edo và ký hiệp ớchữu nghị và thơng mại với Nhật tại đây Ngày 7-12-1857, T.Harris đợc đíchthân Tớng quân tiếp kiến ở pháo đài Edo Đây là một sự kiện quan trọng thểhiện sự nhợng bộ lớn từ phía chính quyền Edo Chính quyền Edo quyết định
điều đó bởi họ nhận đợc thông tin từ những ngời phiên dịch ở Nagasaki chobiết rằng hạm đội Anh đã tấn công và đột phá Hơng Cảng vì chính phủ TrungHoa không thực hiện đúng lời cam kết Viên cao ủy Hà Lan ở Nhật Bản cũngkhuyên chính quyền Edo không nên trì hoãn vịêc thực hiện những điều đã kýkết Các cuộc đàm phán Hoa Kỳ – Nhật Bản về hiệp ớc thơng mại chính thứcbắt đầu ngày 12-12-1857 và kéo dài hơn 7 tháng Ngày 29-7-1858, Tể tớng IliKaman No Kami của Nhật Bản ký với T.Harris “Hiệp ớc hữu nghị và thơngmại” (HU Yedo) trên chiến hạm Hoa Kỳ thả neo ở Vịnh Edo Hiệp ớc gồm 14
điều với các nội dung chính:
1 Tổng thống có quyền lập một văn phòng ngoại giao tại Yedo vàquyền cử các lãnh sự hay lập văn phòng lãnh sự đóng tại bất cứ một hay tất cảcác cảng biển đợc Nhật Bản mở cửa cho Hoa Kỳ thông thơng theo các điềukhoản của hiệp ớc này Nhân viên ngoại giao và Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Nhật
có quyền đi lại tự do trên đất Nhật Chính phủ Nhật có quyền lập một văn phòngngoại giao tại Washington và cử các lãnh sự hay lập văn phòng lãnh sự đóng tạibất cứ một hay tất cả các cảng biển của Hoa Kỳ Nhân viên ngoại giao và Tổnglãnh sự Nhật Bản tại Hoa Kỳ có quyền đi lại tự do trên đất Hoa Kỳ
2 Nếu đợc yêu cầu, tổng thống Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò hòa giải thiệnchí đối với các vấn đề khác biệt có khả năng nảy sinh giữa chính quyền NhậtBản với các cờng quốc châu Âu
3 Mở thêm các cảng và thành phố Kanagawa, Nagasaki (vào ngày 1859), Niigata (vào ngày 1-1-1860) và Hiogo (vào ngày 1-1-1860) cho ngời
Trang 124-7-Hoa Kỳ tự do buôn bán (trừ thuốc phiện), đi lại (trong phạm vi quy định), thuê
đất, mua nhà cửa, thuê nhân công Từ ngày 1-1-1862, ngời Hoa Kỳ đợc phép
đến sống ở Yedo và từ 1-1-1863 ở Osaka vì mục đích buôn bán
4 Hoa Kỳ đợc hởng quyền lãnh sự tài phán và quyền tối huệ quốc Hiệp ớc này đợc Quốc hội Hoa Kỳ thông qua ngày 15-6-1858, sau đó
đợc Tổng thống Buchanan phê chuẩn ngày 30-6-1858
Nh vậy, qua ba lần ký hiệp ớc, tàu của Hoa Kỳ đợc phép vào 6 cảngHakodate, Shimoda, Kanagawa, Nagasaki, Niigata và Hiogo Nếu so sánh vớicác nớc phơng Tây, chúng ta thấy ở khu vực biển Nhật Bản, tầm hoạt độngcủa các đội tàu Hoa Kỳ là rộng lớn nhất và Hoa Kỳ cũng là nớc mà Nhật Bảnphải nhân nhợng nhiều nhất về quyền đợc phép vào cảng Xét về mặt pháp lý,Hoa Kỳ là nớc giành đợc nhiều đặc quyền nhất
Với những đặc quyền này, Hoa Kỳ thực sự “kéo” Nhật Bản vào đấu ờng thơng mại quốc tế - nơi đang diễn ra những xung đột về lợi ích giữa các c-ờng quốc
tr-Mười lăm năm trôi qua kể từ khi Parry đến thăm lần đầu tiên năm
1853 đến cuộc phục hưng năm 1868, các hiệp ước ký với nước ngoài là mộtthứ thuốc độc ngấm chậm, phá hoại dần dần chính quyền Bakufu Chống lạinhững yêu cầu của nước ngoài rõ ràng là táo bạo, dại dột, song nỗi nhụcnhằn và những cú sốc về mặt văn hoá nảy sinh từ sự kiện Hoa Kỳ độtnhiên vi phạm chính sách khép kín của nớc Nhật, hơn nữa là tính chất mộtchiều của các hiệp ớc đã khiến nhân dân Nhật Bản chỉ trích mạnh mẽ chínhquyền Nhật Bản lúc bấy giờ Nh vậy, bị kẹt giữa hai gọng kìm, chính quyềnEdo rơi vào tình thế tiến thoái lỡng nan quá nguy hiểm, giữa hai sức épkhông có lối thoát Do vậy, vì sự phồn thịnh của đất n ớc cũng nh vì danh dựcủa Nhật Bản, vấn đề xét lại các hiệp định bất bình đẳng đã ký với n ớcngoài luôn luôn là một vấn đề lớn trong công tác ngoại giao thời đại MinhTrị Vì là một vấn đề lịch sử nên việc xét lại các hiệp định không phải chỉ lànhững cuộc đàm phán ngoại giao kéo dài Bất chấp những cám dỗ và sức
ép, chính quyền Minh Trị đã kiên quyết theo đuổi mục tiêu ban đầu là đàmphán để xét lại một cách đúng đắn hơn là chỉ đơn phơng một bên phản đốinhững hiệp định đã ký Điều này tỏ rõ thái độ nghiêm chỉnh của chínhquyền từ bỏ chính sách bế quan toả cảng và Nhật Bản cam kết mở cửa
Trang 13ngoại giao và đứng vào vị trí thích hợp trong hệ thống các c ờng quốc Hơnnữa, tuy việc hiện đại hóa sẽ tiến hành bằng bất kỳ cách nào theo quan
điểm của chính quyền mới, nhng cũng cần biết rằng việc xét lại các hiệp
định chỉ có thể thực hiện đợc nếu các thể chế luật pháp và chính trị củaNhật Bản cũng giống nh những thể chế hiện hành ở phơng Tây Cuối cùng,với sự nỗ lực vợt qua rào cản của d luận và vợt qua tầm nhìn hạn chế củathời đại, chính quyền của Minh Trị đã làm đợc những kỳ tích Thời đạiMinh Trị đã kết thúc với một thành công vang dội về ngoại giao Việc xétlại các hiệp ớc bất bình đẳng đã hoàn tất, biên giới quốc gia đ ợc phân địnhrạch ròi và ổn định
1.1.2 Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản thời Minh Trị.
Thời đại Minh Trị (1868 - 1912) là một giai đoạn chuyển tiếp và thậntrọng, nhất là trong việc thi hành những chính sách với các nớc phơng Tây.Công cuộc phục hng của Minh Trị là một nhân tố hết sức quan trọng, nhất làchính sách đối ngoại Sau khi nắm chính quyền, chính phủ Minh Trị đã tiếnhành một cuộc cải cách xã hội khá toàn diện trên các mặt hành chính, kinh tế
- tài chính, văn hóa - giáo dục, quân sự Với những biện pháp cải cách đó, chế
độ phân quyền trớc đây đã bị xóa bỏ, Nhật Bản đã trở thành một quốc giatrung ơng tập quyền, bắt đầu đặt nền tảng cho sự hình thành thị trờng thốngnhất trong cả nớc và cũng tạo tiền đề cho chủ nghĩa t bản tại Nhật Bản pháttriển Trong nỗ lực vơn lên thành một quốc gia giàu mạnh, chính quyền MinhTrị mạnh dạn cải cách trên nhiều lĩnh vực: lực lợng quân sự đợc xây dựng theomô hình châu Âu, hoạt động sản xuất, lu thông hàng hóa và tiền tệ đợc thúc
đẩy, một hệ thống giáo dục quốc gia với nội dung và t tởng hiện đại đợc triểnkhai xây dựng
Trong quá trình cận đại hóa ở Nhật Bản, Hoa Kỳ đóng vai trò ít quantrọng hơn so với vai trò “nổi trội” trong việc thực hiện sứ mệnh mở cửa và mởrộng hơn nữa cánh cửa đã mở vào đất nớc mặt trời mọc trớc đây Vai trò nàychủ yếu thể hiện trên ba phơng diện:
Một là, vai trò cố vấn Vai trò này liên quan chặt chẽ chủ trơng “học
tập phuơng Tây” của Nhật Bản Nhật Bản tiến hành cải cách với phơng châm
là cần phải học hỏi tri thức thế giới để xây dựng đất nớc Để triển khai khẩuhiệu có tính chiến lợc: “Học tập phơng Tây, đuổi kịp phơng Tây, đi vợt phơngTây”, chính quyền Minh Trị đã thực thi một trong những chính sách lớn của
Trang 14mình, đó là “Văn minh khai hóa” Hệ quả là, một cao trào học tập các nớc
ph-ơng Tây đã diễn ra ở Nhật Cho đến cuối thời kỳ Minh Trị, Nhật Bản đã mờikhoảng 3000 cố vấn nớc ngoài tới Nhật để t vấn cho chính quyền Minh Trịtrong quá trình hoạch định chính sách và thực hiện các mục tiêu cận đại hoá.Nhật Bản căn cứ vào thế mạnh của từng quốc gia trong các lĩnh vực để mờichuyên gia tới cố vấn cho mình Cụ thể: cố vấn về hải quân đợc mời từ Anh,
về lục quân đợc mời từ Pháp, về luật đợc mời từ Đức, còn vai trò của các cốvấn Hoa Kỳ chủ yếu là trong các lĩnh vực đối ngoại, tài chính, giáo dục vànông nghiệp Đóng góp của các cố vấn Hoa Kỳ đã đợc chính phủ Nhật ghinhận Một trong những cố vấn Hoa Kỳ nổi tiếng nhất trong thời Minh Trị, t-ớng Charles Legrande, ngời tham gia vào việc hoạch định hầu hết các cácchính sách đối ngoại quan trọng nhất của Nhật Bản trong suốt những năm 70của thế kỷ XIX, đã đợc Thiên hoàng Minh Trị trao tặng Huân chơng Mặt trờimọc (Order of the Rising Sun) vào năm 1875
Hai là, vai trò thúc đẩy trao đổi buôn bán giữa hai nớc Ngay sau khi
Hiệp ớc Kanagawa đợc ký kết, các thơng nhân Hoa Kỳ đã cố gắng mở rộngquan hệ thơng mại với Nhật Bản Tuy nhiên, cho đến năm 1859, vì nhiều lý
do, nhà cầm quyền Nhật Bản hầu nh chỉ cho phép thơng nhân Hoa Kỳ muahàng hoá của Nhật Bản, đồng thời hạn chế việc bán hàng của họ vào NhậtBản Chính vì vậy, khối lợng và giá trị hàng hóa Nhật Bản nhập vào Hoa Kỳluôn lớn hơn khối lợng và giá trị hàng hóa Hoa Kỳ xuất sang Nhật Bản Saukhi Nhật Bản mở cửa thơng mại vào năm 1859, quan hệ thơng mại song phơnggiữa Hoa Kỳ với Nhật Bản mới có điều kiện phát triển Chỉ vài tuần sau khivăn phòng lãnh sự Hoa Kỳ tại Nhật Bản đợc thành lập (tháng 7-1859), Công tythơng mại Walsh Hall and Company của Hoa Kỳ đã mở cửa hàng đầu tiên tạiYokohama Từ đó, trung bình mỗi năm có khoảng 20 đến 40 tàu Hoa Kỳ cậpcảng này và Yokohama trở thành một trong những đầu mối buôn bán quantrọng của thơng nhân Hoa Kỳ Đến những năm 1861-1865, quan hệ buôn bángiữa hai nớc tạm thời chững lại do Hoa Kỳ vớng vào cuộc Nội chiến giữa haimiền Nam - Bắc Sau năm 1865, trong quan hệ kinh tế - thơng mại Hoa Kỳ -Nhật Bản diễn ra một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, góp phần đa hoạt độngthơng mại giữa hai nớc lên bớc tăng trởng mới, đó là Hội chợ triển lãm quốc
tế tổ chức tại Philadelphia năm 1876 với sự tham gia của Nhật Bản Hội chợnày đã thực sự quảng cáo cho các mặt hàng của Nhật Bản, đồng thời tạo cơ
Trang 15hội cho giới thơng nhân Hoa Kỳ tiếp cận và nắm lấy cơ hội ký hợp đồng muacác loại hàng hóa do Nhật sản xuất, đặc biệt là lụa Theo đó, số tơ lụa tiêu thụ
ở Hoa Kỳ tăng từ 88 cuộn năm 1876 lên 15.000 cuộn với trị giá 9,5 triệu USDvào năm 1885 Cùng với lụa, trà là mặt hàng tiếp theo thu hút sự chú ý của cácnhà buôn Hoa Kỳ Trớc khi Nhật Bản mở cửa ngoại thơng, trà Nhật Bản đếnHoa Kỳ phải qua Trung Quốc để tinh chế và đóng gói Đó là một trong nhữngnguyên nhân khiến trà Nhật Bản xuất khẩu sang Hoa Kỳ với số lợng khiêmtốn, chỉ khoảng 288.000 bảng Anh trong năm 1861-1862 Nhng sau đó, tràNhật Bản đã đánh bại trà Trung Quốc trên thị trờng Hoa Kỳ Hàng năm Hoa
Kỳ nhập khẩu khoảng 85 triệu bảng trà, trong đó có tới 40 triệu bảng là từNhật Bản [46, 94] Ngoài lụa và trà, Nhật Bản còn xuất sang Hoa Kỳ các mặthàng khác nh đồ sơn mài, gốm sứ, đồng, long não Năm 1889, giá trị longnão xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 340.000 USD, đồ sứ đạt 398.000 USD, đồng
đạt doanh thu trung bình 40.000 USD/năm, còn đồ sơn mài là 50.000USD/năm
Từ phía Hoa Kỳ, mặt hàng đợc Nhật Bản chú ý đặc biệt là dầu mỏ Dầu
mỏ đợc giới thiệu đầu tiên ở Yokohama năm 1868 Đến đầu những năm 1880,dầu trở nên rất cần thiết và phổ biến Nhập khẩu dầu mỏ tăng nhanh chóng từ4.000 thùng năm 1870 lên 980.000 năm 1880 Năm 1883, chính phủ Nhậtcấm nhập khẩu dầu mỏ dới độ cháy 115 độ Năm 1888, Hoa Kỳ xuất khẩu dầuBaku vào Nhật Bản và từ đó tiếp tục cung cấp dầu giá rẻ cho Nhật Trong6.143.000 USD giá trị xuất khẩu thì 3.783.000 USD thuộc về dầu mỏ [46, 96].Ngoài ra, Hoa Kỳ còn xuất sang Nhật nhiều mặt hàng khác nh đồng hồ, đồ da,giày da, bột mỳ, thuốc lá, bơ, sữa, sách vở Nhìn chung, trong tất cả các nớc
có quan hệ thơng mại với Nhật Bản, Hoa Kỳ là bạn hàng lớn nhất với giá trịbuôn bán hàng năm đạt 23 triệu yên Trong khi đó, Trung Quốc, bạn hàng lớnthứ hai của Nhật, chỉ đạt xấp xỉ một nửa con số này Tuy nhiên, cho đến cuốithế kỷ XIX, giá trị hàng hoá Hoa Kỳ xuất sang Nhật vẫn chiếm tỉ lệ thấp hơnnhiều so với giá trị hàng hoá Nhật xuất sang Hoa Kỳ Năm 1885, tỉ lệ này là10% (Hoa Kỳ) so với 42% (Nhật Bản) Năm 1889, độ chênh lệch này có giảm
đi đôi chút nhng vẫn ở mức 9% (Hoa Kỳ) và 37% (Nhật Bản) [46, 92]
Ba là, Hoa Kỳ và Nhật Bản lợi dụng lẫn nhau để thực hiện mục tiêu xâm lợc và bành trớng Sau khi cuộc Nội chiến 1861-1865 kết thúc, vấn đề mở rộng thị trờng châu á ngay lập tức đợc chính giới Hoa Kỳ đặt thành chơng
Trang 16trình nghị sự Năm 1867, chính phủ Hoa Kỳ nhanh chóng quyết định mua của
đế quốc Nga vùng Alaska Ngoài lý do mở rộng lãnh thổ, Hoa Kỳ còn muốnqua đó khống chế Trung Quốc và Nhật Bản từ phía Bắc Thái Bình Dơng Hoa
Kỳ phản đối yêu cầu đòi sửa đổi hiệp ớc của Nhật Bản nhng lại ủng hộ vàmuốn Nhật Bản đóng vai trò tiên phong trong công cuộc xâm lợc thuộc địa
Có hai lý do cơ bản giải thích điều đó: Thứ nhất, chính phủ Hoa Kỳ muốn
xâm chiếm thị trờng hai nớc Trung Quốc và Triều Tiên nhng sợ vấp phải haitrở lực lớn là sự chống đối của nhân dân hai nớc Trung Quốc, Triều Tiên và sựngăn cản của các thế lực t bản châu Âu vốn từ lâu đã coi hai nớc này là những
mục tiêu lớn của mình Thứ hai, chính phủ Hoa Kỳ lo ngại Nhật Bản có thể
liên kết với các nớc châu Âu chống lại Hoa Kỳ hoặc liên minh với TrungQuốc - đang ở tình trạng bị các nớc đế quốc xâu xé - nhằm chống lại tất cả cácnớc đế quốc có hành động xâm lợc ở Viễn Đông
Về phía Nhật Bản, trong bối cảnh Nhật đang tiến hành công cuộc canhtân đất nớc và việc thơng lợng với các nớc Âu - Hoa Kỳ nhằm xóa bỏ các điều
ớc bất bình đẳng cha đạt đợc kết quả nh mong muốn, chính giới Nhật cũngmuốn lợi dụng sự ủng hộ của Hoa Kỳ nhằm thực hiện mục tiêu xâm lợc vàbành trớng của mình Mối quan hệ lợi dụng lẫn nhau đó đợc phản ánh rõ quacuộc chiến tranh Nhật Bản - Đài Loan (1874), Nhật Bản - Lu Cầu (1878-1881)
và Nhật Bản - Trung Quốc (1894-1895) Trong cuộc chiến tranh xâm lợc Đài
Loan năm 1874, sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản thể hiện ở chỗ ngay
từ đầu chính phủ Hoa Kỳ đã không hạn chế ngời Hoa Kỳ phục vụ cho NhậtBản Một trong những dẫn chứng tiêu biểu cho điều này là chính phủ Hoa Kỳ
đã đồng ý để Tớng Charles Legrande từ chức đại diện lâm thời Hoa Kỳ ởTrung Quốc để tới Nhật Bản làm cố vấn cho Bộ Ngoại giao Nhật trong việchoạch định nhiều chính sách quan trọng của bộ này trong đó có chính sáchxâm lợc Đài Loan Khi hành động của Nhật bị chính phủ Anh và triều đìnhMãn Thanh phản đối gay gắt, về mặt hình thức Hoa Kỳ phản đối việc chínhphủ Nhật Bản thuê sỹ quan và tàu thuyền Hoa Kỳ, nhng thực chất, mãi đến b-
ớc quan trọng cuối cùng Hoa Kỳ mới cấm dùng tàu thuyền Hoa Kỳ làm phơngtiện vận chuyển cho Nhật Bản, còn việc ngăn cấm sỹ quan Hoa Kỳ phục vụcho Nhật thì lại càng do dự không quyết định Cho đến khi Trung Quốc phản
đối quyết liệt cuộc viễn chinh đó thì lãnh sự Hoa Kỳ ở Hạ Môn mới chínhthức ra lệnh cho họ rút lui, nhng lệnh này lại đa đi trớc khi đợc ủy quyền, do
Trang 17đó mà họ không hề chấp hành gì cả [21,tr.15] Sau khi hành động quân sự củaNhật thất bại, trong quá trình đàm phán Nhật Bản - Trung Quốc, đại diện lâmthời Hoa Kỳ ở Bắc Kinh S.W.William là phụ tá đắc lực cho phía Nhật Bản và
có ảnh hởng nhất định tới việc ký kết hiệp ớc Bắc Kinh tháng 10-1874
Đối với vấn đề Lu Cầu (Ryukyu) - một vơng quốc hợp tụ bởi năm nhóm
đảo chính nằm ở miền Nam Nhật Bản và phía đông của lục địa Trung Hoa, cảHoa Kỳ và Nhật Bản đều lợi dụng lẫn nhau để thực hiện kế hoạch bành trớngcủa mình Năm 1872, Hoa Kỳ và Nhật Bản ký một thỏa ớc bí mật với nộidung Hoa Kỳ đồng ý để Nhật Bản thôn tính Lu Cầu, đổi lại Nhật Bản phải tôntrọng thỏa thuận năm 1854 giữa Lu Cầu với Hoa Kỳ Với sự hậu thuẫn ngầmcủa Hoa Kỳ, Nhật Bản đã yêu cầu vua Lu Cầu ngừng cống nạp cho nhà Thanh(1878), sau đó tự ý đổi Lu Cầu thành một huyện của Nhật (1879) Khi quan hệNhật - Trung trở nên rất căng thẳng, cựu Tổng thống Grant đã đồng ý với đềnghị của triều đình nhà Thanh đứng ra đảm nhận vai trò “hòa giải” mâu thuẫnTrung Quốc - Nhật Bản Lý do cơ bản dẫn đến động thái này là Hoa Kỳ lo sợnếu mâu thuẫn trên không đợc dàn xếp, Nhật Bản sẽ nóng vội gây ra chiếntranh và tất yếu sẽ bị các nớc phơng Tây can thiệp Trong cuộc hội đàm bí mậtvới Nhật tháng 7-1879, Grant khuyên Nhật không nên hành động vội vã nếukhông “các liệt cờng châu Âu sẽ căn cứ vào lợi ích của họ để kết thúc chiếntranh” và khuyên Nhật nên dùng phơng pháp đàm phán trực tiếp để chiếm LuCầu [21, 26] Theo lời khuyên của Grant, Nhật Bản và Trung Quốc đã tiếnhành đàm phán tại Bắc Kinh nhng không đa lại kết quả Sau đó, lợi dụng cơhội nhà Thanh phải đối đầu với đế quốc Nga trong vấn đề biên giới, Nhật Bản
dần chiếm đóng Lu Cầu và sát nhập vào địa phận han Satsuma Trong cuộc Chiến tranh Nhật Bản - Trung Quốc (1894-1895), bề ngoài Hoa Kỳ tuyên bố
“trung lập”, nhng trên thực tế vẫn ủng hộ và giúp đỡ Nhật Bản bằng cách: tạo
điều kiện cho gián điệp Nhật Bản hoạt động, che giấu cho hành động tàn bạocủa Nhật Bản; phản đối đề nghị của Anh về việc dùng biện pháp “liên hợp canthiệp” giữa năm nớc Anh, Đức, Nga, Pháp và Hoa Kỳ để kết thúc chiến tranhTrung - Nhật Tuy nhiên, khi Nhật Bản buộc chính phủ Triều Tiên chấp nhận
ách bảo hộ của Nhật và thừa thắng tiến vào Mãn Châu, bán đảo Liêu Đông,Hoa Kỳ vội vã khuyên Nhật Bản “nghị hoà” với Trung Quốc và yêu cầu đợclàm “trung gian điều đình” cuộc chiến Hoa Kỳ cho rằng: Nếu cuộc chiếntranh cứ kéo dài và không có cách nào hạn chế quân Nhật tấn công thì khó
Trang 18tránh khỏi dẫn đến việc các cờng quốc châu Âu có quyền lợi sát sờn ở phơng
Đông đa ra đề nghị kết thúc chiến tranh bất lợi cho Nhật Bản Dựa trên nhữngtính toán lợi ích quốc gia, Nhật Bản đã đồng ý với đề nghị này của Hoa Kỳ.Trong cả hai đoàn đại biểu của Nhật Bản và Trung Quốc đến dự hội nghị kýkết hiệp định hoà bình đều có cố vấn Hoa Kỳ (cố vấn cho phái đoàn Nhật) vàW.Foster, cựu Ngoại trởng Hoa Kỳ (cố vấn cho phái đoàn Trung Quốc).Chính H Denison là một trong những ngời có vai trò quan trọng soạn ra từng
điều khoản cụ thể của “Điều ớc Simonoseki” (còn gọi là Điều ớc Mã Quan) kýngày 17-4-1895 giữa Nhật Bản và Trung Quốc
Sau khi ký với Trung Quốc hiệp ớc kết thúc chiến tranh với những điềukhoản có lợi cho Nhật, Thiên hoàng Mutsuhito đã gửi th cảm ơn Tổng thốngHoa Kỳ Nội dung bức th không chỉ cho thấy rõ mối quan hệ hợp tác giữaNhật Bản và Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh bành trớng của Nhật ở lục địa
châu á mà còn phản ánh một thực tế là trong kỷ nguyên Minh Trị, vai trò
“trung gian hoà giải thiện chí” của Hoa Kỳ đối với các vấn đề khác biệt có khả năng nảy sinh giữa chính quyền Nhật Bản đã mở rộng ra ngoài phạm vi với các nớc châu Âu và vơn tới cả các quốc gia nằm trong chính sách xâm lợc của Nhật Bản.
1.2 Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới.
1.2.1 Những mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản từ Hội nghị Vecxai đến
Hội nghị washington.
Đầu tháng 8 năm 1914, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ Ngayngày 23 cùng tháng, chính phủ Nhật Bản tuyên chiến với Đức và đứng về pheHiệp ớc cùng với các nớc Anh, Pháp, Nga Giới cầm quyền Nhật Bản hoan hỉ:
“Hoạ hoạn lớn ở châu Âu lúc này là dịp trời cho để phát triển quốc vận của NhậtBản trong kỷ nguyên mới Taisho” Và quả thật nh vậy, lợi dụng các cờng quốccòn bận bịu việc ở trời Âu, Nhật Bản dùng đủ mọi thủ đoạn để bành trớng ở châu
á - Thái Bình Dơng Trong cuộc chiến tranh thế giới lần đầu ấy, Nhật Bản đã
đ-ợc nhiều nhng lại không hề mất mát gì Nhật Bản đã trở thành một cờng quốc thếgiới đợc các nớc thừa nhận Với t cách một nớc thắng trận, Nhật Bản tham dự cáchội nghị quốc tế lớn ở Paris (1919-1920) và hội nghị ở Washington (1921-1922)
để bàn bạc và tổ chức lại thế giới sau chiến tranh
Hai tháng sau khi chiến tranh kết thúc, ngày 18-1-1919 các nớc thắngtrận đã họp Hội nghị hoà bình tại Vecxai (ngoại ô thủ đô Paris - Pháp) Tham
Trang 19dự hội nghị có đại biểu của 27 nớc thắng trận, năm cờng quốc nắm quyềnquyết định hội nghị là Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Italia và Nhật Bản, nhng thực sựnắm quyền quyết định là Tổng thống Hoa Kỳ Uynxơn, Thủ tớng AnhLôigiooc và Thủ tớng Pháp Clêmăngxô Hội nghị Vecxai kéo dài gần hai năm
và diễn ra hết sức gay go quyết liệt vì các cờng quốc thắng trận đều có những
mu đồ, tham vọng riêng trong việc phân chia quyền lợi và thiết lập trật tự thếgiới mới sau chiến tranh “Tại Hoà hội Pari (Hội nghị Vecxai), các nớc lớn đãtriển khai một cuộc tranh giành lợi ích điên cuồng, họ chia chác đến mức vô
Mỹ, vơn ra bên ngoài bằng sức mạnh kinh tế và ảnh hởng chính trị không phảibằng con đờng bành trớng lãnh thổ nh các cờng quốc khác Tại hội nghị, NhậtBản cũng đa ra những tham vọng của họ, mục đích của Nhật Bản là chiếm lấyvùng đất tô giới của Đức ở Sơn Đông và những hòn đảo quan trọng thuộc Đức
ở Thái Bình Dơng nhằm mở rộng ảnh hởng ở khu vực châu á - Thái Bình
D-ơng Vì chính sách mở cửa của mình, Hoa Kỳ không muốn thế lực Nhật Bảnquá mạnh ở Viễn Đông nên đã từ chối yêu cầu của Makinô - trởng đoàn đạibiểu Nhật Bản Bất bình trớc thái độ của Hoa Kỳ, Nhật Bản đe doạ nếu yêucầu của mình không đợc thoả mãn sẽ từ chối ký hoà ớc Trớc sự cơng quyếtcủa Nhật Bản, sự nhu nhợc của Thứ trởng Ngoại giao Trung Quốc, lại thêmAnh - Nhật Bản đã có thoả thuận bí mật nên cuối cùng Nhật Bản đã đợc giaotoàn bộ lợi ích của Đức ở Sơn Đông
Hội nghị Paris là nơi mà các cờng quốc chủ chốt xâu xé để chia nhauthị trờng, tranh cớp thuộc địa, xây dựng phạm vi thế lực cho riêng mình Hệthống Vecxai vừa đợc thiết lập thì giữa các nớc chiến bại với các nớc chiến
Trang 20thắng, giữa các nớc chiến thắng với nhau đã đầy mâu thuẫn và đã chôn sẵnmầm mống tai hoạ cho các cuộc xung đột sắp tới Một trong những tai hoạtiềm ẩn sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức to lớn, đó chính là những mâu thuẫngiữa Hoa Kỳ và Nhật Bản, mâu thuẫn ấy đợc đẩy lên mức cao hơn tại Hội nghịWashington.
Khi tham gia vào hội nghị phân chia thành quả chiến thắng, Nhật Bản
đã kỳ vọng rất nhiều về những lợi nhuận mà mình sẽ thu đợc Nhng khôngphải tất cả đều “mát mái xuôi chèo” mà nh mặt trái của tấm huân chơng, đó làviệc các nớc phơng Tây vẫn tiếp rục chính sách kiềm chế, cha thực sự coiNhật Bản nh một thành viên ngang hàng với họ trong “cuộc chơi’’ thế giới.Ngay trong thắng lợi của cuộc chiến tranh Giáp Ngọ (1895), trớc sức ép của
ba nớc Nga - Pháp - Đức, Nhật Bản đã phải từ bỏ bán đảo Liêu Đông cho Nga.Sau đó, trong cuộc chiến tranh 1904-1905, tuy thắng Nga nhng Nhật Bản đã bịtổn thất nặng nề về nhân lực và tài lực đồng thời cũng không lấy đợc tiền bồithờng chiến tranh Tổng thống Hoa Kỳ T.Roosevelt đứng ra làm trung gianhoà giải lại không muốn nớc Nga bị mất mặt và quá suy yếu Niềm hân hoanchiến thắng của nhân dân Nhật Bản nhanh chóng qua đi nhờng chỗ cho nỗithất vọng vì không có tiền bồi thờng chiến tranh và đất đai chiếm đợc lại quá
ít ỏi Tại hội nghị Paris và Washington sau này, Nhật Bản lại phải chấp nhậnnhiều nhợng bộ thua thiệt Các nớc phơng Tây trong đó Hoa Kỳ đứng đầu đãbác bỏ thẳng thừng đề nghị của Nhật Bản là ghi vào hiến chơng Hội Quốc liênmột điều khoản công nhận quyền bình đẳng giữa các chủng tộc Nhật Bảnphải nhận một tỷ lệ hải quân kém Hoa Kỳ, Anh ở Thái Bình Dơng (trong khihai nớc này còn có hạm đội hải quân ở các đại dơng khác) Lại nữa, năm
1920, Toà án tối cao nớc Hoa Kỳ đã quyết định không cho phép ngời NhậtBản nhập quốc tịch Hoa Kỳ… Tất cả những thua thiệt và sự chèn ép caynghiệt trên đã nh một nỗi niềm cay đắng ám ảnh ngời Nhật theo suốt cả chiềudài thế kỷ Tuy nhiên, điều đó cha là gì so với những tuyệt vọng mà Nhật Bảngặp phải tại hội nghị Washington do Hoa Kỳ chủ trì
Tại hội nghị Vécxai, Chơng trình 14 điểm mà Hoa Kỳ đa ra không gặthái đợc những thành quả nh họ mong muốn Tham vọng lãnh đạo thế giớikhông thực hiện đợc, Hoa Kỳ thậm chí đã không tham gia vào Hội Quốc liêntrong khi mình là ngời sáng lập ra tổ chức này Nh vậy, hội nghị Vecxai chỉthoả mãn đợc tham vọng của Anh và Pháp, và những điều ớc khắt khe của hệ
Trang 21thống Vecxai không những làm tăng thêm tâm lý phục thù của các nớc bạitrận mà còn gây ra những mâu thuẫn giữa các nớc thắng trận Trong số các n-
ớc không cam tâm chấp nhận kết quả của Hội nghị Vecxai, Hoa Kỳ là nớchậm hực nhất
Gần hai năm sau Hội nghị Vecxai, Hoa Kỳ đa ra sáng kiến triệu tập Hộinghị Washington để giải quyết những vấn đề trong quan hệ quốc tế ở Viễn
Đông - Thái Bình Dơng, nhằm ngăn chặn phong trào độc lập dân tộc đang lêncao và củng cố nền thống trị thực dân ở khu vực này Nhng thực chất âm mu
và mục đích mà Hoa Kỳ muốn đạt đợc trong hội nghị này là gì thì phải chờ
đến khi hội nghị diễn ra và kết thúc mới có thể biết đợc
Thái Bình Dơng và vùng ven bờ đông của đại dơng này (Đông á và
Đông Nam á) từ lâu là mục tiêu của các nớc đế quốc bởi vị trí chiến lợc và tàinguyên thiên nhiên phong phú Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, lợi dụngtình hình các nớc đế quốc khác đang bận chiến tranh ở châu Âu, Nhật Bản đã
ra sức bành trớng thế lực kinh tế và chính trị ở châu á Sau chiến tranh, NhậtBản đã có một kế hoạch xâm lợc rộng lớn nhằm làm bá chủ khu vực này.Cũng sau chiến tranh, với tiềm lực kinh tế và chính trị mạnh mẽ của mình,Hoa Kỳ cũng tiến hành thực hiện ý đồ làm chủ khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng Sau khi làm chủ đợc bờ Đông, Hoa Kỳ muốn làm chủ luôn bờ Tây đểbiến Thái Bình Dơng thành “ao nhà” của mình Nh vậy, Hoa Kỳ và Nhật Bảncùng chung tham vọng, điều đó tất yếu dẫn đến sự đụng độ giữa hai bên Mộttrong những cuộc đụng độ gay gắt giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản chính là tại Hộinghị Washington Tại hội nghị này, Hoa Kỳ đã ra sức thực hiện ý đồ bành tr-ớng ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng, điều đó đồng nghĩa với việc quyềnlợi của Nhật Bản ở khu vực này bị hạn chế
Ngày 12-11-1921, Hội nghị Washington đợc khai mạc với sự tham giacủa 9 nớc, trong đó quyền lãnh đạo thuộc về 4 nớc: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, NhậtBản, nhng quyền quyết định thuộc về Hoa Kỳ Nếu nh nói rằng hội nghị nàychĩa mũi nhọn vào quyền lợi của Nhật Bản thì hơi quá, song trên thực tế là cáchiệp ớc đợc ký kết tại hội nghị đã chặn đứng mọi tham vọng của Nhật Bản Rõràng tham vọng của Nhật Bản là bành trớng ở khu vực châu á - Thái Bình D-
ơng, vậy mà hội nghị này đợc triệu tập lại nhằm mục đích giải quyết các vấn
đề ở châu á - Thái Bình Dơng Hiệp ớc 4 nớc (Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản)với tên gọi là “Hiệp ớc không xâm lợc ở Thái Bình Duơng” đợc các bên ký kết
Trang 22và cam đoan “tôn trọng chủ quyền của nhau về các đảo ở Thái Bình Dơng” màthực ra là cùng nhau bảo vệ các thuộc địa rộng lớn ở khu vực này Cũng nhândịp này, Hoa Kỳ đã gây áp lực với Anh để liên minh Anh - Nhật Bản (đợc kýkết từ năm 1902 nhằm chống lại Hoa Kỳ) không có hiệu lực nữa Với hiệp ớcnày Hoa Kỳ không chỉ thủ tiêu đợc liên minh Anh – Nhật Bản mà còn trởthành nớc đóng vai trò chủ đạo trong bốn cờng quốc ở khu vực Thái Bình D-
ơng, còn với Nhật Bản thì đó là một sự cản trở to lớn trong việc thực hiện thamvọng của mình Hiệp ớc 9 nớc kí ngày 6-2-1922 công nhận nguyên tắc “hoànchỉnh về lãnh thổ và tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc”, đồng thời nêunguyên tắc “mở cửa” và “khả năng đồng đều” cho các nớc đang hoạt động th-
ơng mại và công nghiệp trên quốc gia này Nh vậy, với hiệp ớc 9 nớc này, Hoa
Kỳ đã hợp pháp hoá sự bành trớng của mình vào Trung Quốc Hiệp ớc 5 nớc
đ-ợc kí kết cùng ngày 6-2-1922, đđ-ợc gọi là “hiệp ớc hạn chế vũ trang và hải quân”nhằm quy định trọng tải tàu chiến của các nớc ở khu vực Thái Bình Dơng theo
tỉ lệ Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Pháp, Italia nh sau: 5 - 5 - 3 - 1,75 - 1,75 Nh vậy,hiệp ớc này hoàn toàn có lợi cho Hoa Kỳ, trong khi nớc Anh phải chịu nhợng
bộ từ bỏ nguyên tắc “sức mạnh quân sự gấp đôi” đã có từ năm 1914, đồng thờiphải huỷ bỏ liên minh Anh - Nhật Bản Từ đây, hải quân Hoa Kỳ ngang hàngvới Anh và vợt qua Nhật Bản Hoa Kỳ còn thực hiện việc xâm nhập vào thị tr-ờng Viễn Đông và Trung Quốc thông qua chính sách “mở cửa”
Nh vậy, dới sự bành trớng của Hoa Kỳ trong các hội nghị, nớc bị thiệtthòi nhất trong số các nớc thắng trận không ai khác chính là Nhật Bản Sứcmạnh hải quân, niềm tự hào của nớc Nhật đã bị hạn chế một cách tối đa, hơnthế nữa, tham vọng của Nhật không có gì hơn là thị trờng Viễn Đông và TrungQuốc nhng cả hai đều bị Hoa Kỳ tìm mọi cách để kiềm chế nhằm thực hiệntham vọng của mình Nh vậy, là một nớc thắng trận trong Chiến tranh thế giớilần thứ nhất, tại hội nghị Vecxai, Nhật Bản thuộc hàng ngũ những nớc “khôngcó”, đến hội nghị Washington, Nhật Bản chẳng những “không có” mà lại bịmất rất nhiều quyền lợi: quyền lợi ở Trung Quốc và sức mạnh trên mặt biển bịHoa Kỳ phủ đầu
Nhật Bản rời khỏi bàn hội nghị với lòng căm thù và nỗi uất hận sâu sắc
đối với Hoa Kỳ, tinh thần “võ sĩ đạo” bị tổn thơng một cách ghê gớm, NhậtBản nung nấu một quyết tâm trả thù kẻ đã chặn đứng con đờng đi tìm “mộtchỗ đứng dới ánh nắng mặt trời” cho đất nớc mình
Trang 231.2.2 Chính sách dung dỡng của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản
Cuối những năm 20, Nhật Bản lâm chứng bệnh nguy hiểm: bệnh ảohuyền đại đế Tôkiô bèn gây hấn để bảo đảm mảnh đất cho mình đợc hong dới
ánh nắng mặt trời Các công ty lũng đoạn Nhật Bản cần tới những chợ giaohàng mới, cần phải có những địa điểm mới để có thể chèn ép các đối thủ cạnhtranh khác Năm 1931, Nhật bản đã nuốt chửng vùng Đông Bắc Trung Quốcrồi thành lập trên vùng đất này nớc bù nhìn Mãn Châu Quốc Năm năm sau,tức là vào năm 1937, bọn quân phiệt Nhật Bản gây vụ L Cầu Kiều ở gần BắcKinh, mở đầu giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh chống nhân dân TrungQuốc Tình hình ở Viễn Đông trở nên căng thẳng
Song Hoa Kỳ cũng nh Anh và Pháp không thi hành mảy may biện phápnào để kìm chân quân xâm lợc, thậm chí ngời Hoa Kỳ còn tin rằng: ngời Nhậtkhông dại gì lại mạo hiểm gây chiến tranh chống Anh, Hoa Kỳ mà chắc chắn
sẽ đánh Liên Xô Thậm chí trong thời gian này, Nhật Bản còn nhập khẩu từHoa Kỳ một số lợng dầu mỏ lớn, máy móc và thiết bị Năm 1938, một trongnhững trùm t bản Hoa Kỳ là Moogăng đã cho Nhật Bản vay 75 triệu USD, cácngân hàng của Hoa Kỳ cho vay thêm 50 triệu USD Từ tháng 7 đến tháng 9-
1937, Hoa Kỳ liên tục từ chối lời đề nghị của Anh và Pháp về việc tham giacác hành động chung, chẳng hạn cử các đặc phái viên để đàm phán về các vấn
đề đang diễn ra, triệu tập hội nghị 9 cờng quốc, tham gia cuộc diễu hành hảiquân ngoài khơi bờ biển Trung Hoa và thậm chí phong tỏa Nhật Bản Hoa Kỳchỉ đồng ý cùng Anh, Đức, Pháp và ý có hoạt động ngoại giao chung để ngănchặn chiến sự ở khu vực Thợng Hải Trong bài phát biểu tại Chicago ngày 5-10-1937, Tổng thống Roosevelt tuyên bố rằng: nạn vô chính phủ đang lantràn và khi nạn sử dụng bạo lực bắt đầu lan rộng, cộng đồng thế giới cầntham gia vào quá trình cách ly bệnh nhân để bảo vệ cộng đồng chống lại sựlan tràn bệnh dịch và kêu gọi Hội Quốc liên chấm dứt chiến tranh NhngRoosevelt không đa ra kế hoạch cụ thể nào để thực hiện mục tiêu đó Khiphóng viên đặt câu hỏi ông ám chỉ điều gì trong lời tuyên bố trên, Rooseveltphủ nhận rằng từ "cách ly" là ám chỉ việc dùng sức mạnh Tại Hội nghị họp tạiBrussels từ ngày 3 đến ngày 24-11-1937, trởng phái đoàn ngoại giao Hoa KỳNorman Davis đã đề nghị với phái đoàn ngoại giao của Anh và Pháp một sốbiện pháp nh không cho Nhật Bản vay, tẩy chay hàng xuất khẩu của Nhật,không công nhận hiện trạng do Nhật thiết lập, vũ trang cho Trung Quốc, cùng
Trang 24tham gia hoạt động hải quân ở Thái Bình Dơng và nói bóng gió về khả năngtổng thống Hoa Kỳ sẽ yêu cầu Quốc hội sửa đổi các đạo luật trung lập Nh ngkhi Anh và Pháp yêu cầu Hoa Kỳ cam kết sẵn sàng sử dụng vũ lực khi cầnthiết để duy trì hòa bình ở Trung Quốc, Davis lỡng lự và tuyên bố rằng khôngthể có sự cam kết nh vậy trong một nớc dân chủ Khi báo chí đăng tải những
đề nghị trên của Davis, Bộ trởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hunt và Thứ trởngWelles không công nhận và tuyên bố Davis vợt quá những lời chỉ thị Kết quả
là Hội nghị Brussels không đi đến quyết nghị cụ thể nào Thái độ đó của Hoa
Kỳ cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến Pháp buộc phải chấpnhận yêu cầu của Nhật về việc cắt đứt đờng tiếp viện cho Tởng Giới Thạchqua Đông Dơng, Bồ Đào Nha đồng ý cắt đờng tiếp viện cho Trung Quốc quaMacao, Italia tham gia Hiệp ớc chống Quốc tế Cộng sản Điều đó khiến choHoa Kỳ càng mất uy tín trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, đặc biệt là
đối với Pháp - nớc đang mong có một sự đảm bảo đối với Đông Dơng
Hoàn toàn trái ngợc với "vụ tàu Maine" năm 1898, sau khi pháo hạmPanay của Hoa Kỳ, pháo hạm Laybird của Anh bị ném bom và ba chiếc tàuchở dầu của Hoa Kỳ bị không quân Nhật Bản đánh chìm (từ ngày 12-12-1937), chính phủ Hoa Kỳ không hề có phản ứng gay gắt Trái lại, Tổng thốngRoosevelt chỉ xem xét "một cách vu vơ" lời đề nghị tham gia cuộc diễu hànhhải quân Anh- Hoa Kỳ, áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế, phong tỏaNhật Bản cùng các tài khoản của Nhật và cuối cùng chấp nhận lời xin lỗi cùngkhoản bồi thờng của Nhật cho vụ việc nêu trên
Tuy nhiên, việc Nhật Bản mở rộng chiến tranh ở Trung Quốc, những tội
ác của Nhật Bản cũng nh thái độ của Chính phủ Hoa Kỳ đã làm nhân dân Hoa
Kỳ phản đối, điều đó đã tác động đến chính sách về Trung Quốc của các nhàlãnh đạo Hoa Kỳ vào cuối những năm 30 Ngày 1-7 1939, Bộ Ngoại giao Hoa
Kỳ đã thông báo cho các nhà sản xuất và xuất khẩu máy bay rằng, Chính phủHoa Kỳ phản đối mạnh mẽ việc bán máy bay và các thiết bị hàng không tớinhững đất nớc có lực lợng sử dụng máy bay tấn công vào dân thờng Lệnhnghiêm cấm mang tính đạo đức này đã đợc mở rộng đến các ngành cốt yếuliên quan đến sản xuất máy bay Lệnh cấm này đã dẫn đến tình trạng giảm sútviệc xuất khẩu máy bay sang Nhật Bản Tuy nhiên, trong khi cấm xuất khẩumáy bay sang Nhật Bản thì Nhật Bản vẫn mua của Hoa Kỳ một khối lợng lớnsúng ống, đạn dợc và các thiết bị chiến tranh khác với số tiền lớn hơn nhiều số
Trang 25tiền mua máy bay và thiết bị máy bay Nh vậy, trên thực tế lệnh cấm vận nàychỉ mang tính tợng trng, lừa bịp d luận bởi cái vỏ bọc đạo đức giả của nó.
Nhật Bản lợi dụng sự nhân nhợng của Anh - Pháp - Hoa Kỳ để đẩymạnh chiến tranh xâm lợc, nhng không phải để chống Liên Xô mà để đánhxuống phía nam, tiến về miền Bắc Đông Dơng vào năm 1940 Cũng trong năm
1940, hiệp ớc về liên minh quân sự giữa ba nớc Đức - ý - Nhật Bản đợc kí kết.Trong “Hiệp ớc tay ba” này, Nhật Bản đòi quyền thành lập “Khu vực thịnh v-ợng chung Đại đông á” dới sự bảo trợ của mình
1.2.3 Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản ở châu á - Thái Bình Dơng
Hơn ai hết, Nhật Bản là nớc đầu tiên có tham vọng phá vỡ hệ thốngVecxai - Washington, một hệ thống mà ở đó Nhật Bản bị o ép và hạn chếtham vọng của mình Ngay từ năm 1927, Thủ tớng nội các Tanaca đã phúctrình lên Nhật hoàng bản “tấu thỉnh” vạch rõ kế hoạch chinh phục cả thế giới
mà trớc hết là châu á Bản “tấu thỉnh” viết: “…nếu Nhật Bản không tiến hànhchính sách máu lửa thì không thể vợt qua đợc những khó khăn mà mình đanggặp ở Đông á… Nếu chúng ta muốn thống trị ở Trung Quốc thì chúng ta phải
đánh bại đợc Hoa Kỳ, và muốn đánh bại đợc Hoa Kỳ thì phải dùng đến nhữngthủ đoạn đã áp dụng trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật Muốn chinh phụctoàn thế giới trớc hết chúng ta phải chinh phục Trung Quốc; nếu chúng tachinh phục đợc Trung Quốc thì các nớc khác ở châu á phải sợ chúng ta, vàkhông còn dám xúc phạm đến quyền lực của chúng ta nữa… và chúng ta sẽnắm tất cả các tài nguyên của Trung Quốc, chúng ta có thể tiến hành chinhphục ấn Độ, quần đảo Inđônêxia, Tiểu á, Trung á và cả châu Âu nữa, nhngbớc đầu là dành lấy quyền khống chế Mãn Châu và Mông Cổ Trên con đờngphát triển đất nớc, chúng ta thế nào cũng có một trận sống mái với nớc NgaXô Viết trên thảo nguyên Mông Cổ để nắm lấy những tài nguyên ở miền bắcMãn Châu… Nh thế là để tự vệ, đồng thời cũng là để cảnh cáo Trung Quốc.Chúng ta thề rằng phải có ngày khai chiến với Hoa Kỳ” [10, 123] Nh vậy là
đã rõ, không phải đến thời điểm Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng mới đợccoi là tuyên chiến với Hoa Kỳ mà ngay từ 1927, Nhật Bản đã công khai tuyênchiến với Hoa Kỳ, và nó đợc thực hiện bởi những bành trớng ở châu á - TháiBình Dơng, trong đó tiêu biểu là Trung Quốc Nói một cách ngắn gọn, chiến l-
ợc của Nhật Bản đợc chia làm bốn bớc:
Trang 26Bớc 1: Đánh chiếm Mãn Châu
Bớc 2: Độc chiếm Trung Quốc
Bớc 3: Làm chủ châu á
Bớc 4: Bá chủ toàn cầu
Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản ở Trung Quốc.
Sau Hội nghị Washington, Hoa Kỳ giành và củng cố thêm vị trí ở Trung
Quốc bằng cách giúp Tởng Giới Thạch tiến hành đảo chính và công nhậnchính phủ của Tởng Giới Thạch là chính phủ của toàn thể nớc Trung Hoa(1928) Sau đó, Hoa Kỳ và một số nớc khác ký các hiệp ớc công nhận quyền
tự trị hải quan của Trung Quốc Đổi lại, Hoa Kỳ và phần đông các nớc đợc ởng quy chế tối huệ quốc Do bị cô lập, Nhật Bản phải ký các hiệp định bồi th-ờng thiệt hại về những sự cố ở bán đảo Sơn Đông, rút khỏi Hán Khẩu và bán
h-đảo Sơn Đông, công nhận quyền tự trị hải quan của Trung Quốc (ngày 1930)
6-5-Sau những thua thiệt và lép vế trên, Bản “tấu thỉnh” của Tanaca đợcchấp nhận và thực hiện một cách trình tự, chính vì vậy mà việc đánh chiếmMãn Châu và xâm lợc toàn Trung Quốc đợc tiến hành nhanh chóng ngay saukhi Nhật Hoàng phê chuẩn Sau hai lần thất bại trong việc xâm lợc vùng Sơn
Đông (Trung Quốc), Ngày 18-9-1931 Nhật Bản tạo ra “Sự kiện đờng sắt NamMãn Châu” để lấy cớ cho quân đội tràn vào các tỉnh vùng Đông Bắc TrungQuốc, đầu năm 1932 đã biến Mãn Châu thành một quốc gia bù nhìn với têngọi là “Mãn Châu Quốc” Việc Nhật Bản xâm lợc Đông Bắc Trung Quốc là sựkiểm tra tính hiệu quả của nhiều hiệp ớc: hệ thống hiệp ớc Thái Bình Dơng,Hiệp ớc Briand-Kellogg, các quy định về giới hạn sức mạnh quân sự, mức độhợp tác của các thành viên Hội Quốc liên, và dĩ nhiên là động chạm đếnquyền lợi của các nớc t bản phơng Tây, nhất là Hoa Kỳ Điều đó khiến Hoa
Kỳ không thể tiếp tục duy trì cùng lúc hai mục tiêu trái ngợc trong chính sách
đối với vùng Viễn Đông là hòa bình với nớc Nhật, duy trì "sự toàn vẹn lãnhthổ" Trung Quốc và thực thi chính sách mở cửa ở đây nh đã cố duy trì trongsuốt gần nửa thế kỷ qua Đã đến lúc Hoa Kỳ buộc phải lựa chọn một trong haimục tiêu
Tuy vẫn tuyên bố giữ thái độ trung lập, nhng lần đầu tiên trong 11 nămtồn tại của Hội Quốc liên, ngày 16-11-1931 Hoa Kỳ có đại diện tham gia cuộc
Trang 27họp chính thức của tổ chức này nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của các nớc thànhviên để chống lại Nhật Bản Cùng tháng đó, đại sứ Hoa Kỳ Charles G.Dawes
đợc phái đến Anh Nhng những gì Hoa Kỳ đạt đợc chỉ là việc Anh, Pháp, ý,
Đức và Tây Ban Nha lên tiếng nhắc Nhật Bản về cam kết của họ trong Hiệp ớcBriand-Kellogg (17-11-1931) Không có bất cứ thảo luận nào về trừng phạtNhật Bản đợc đề cập trong các cuộc họp của Hội Quốc liên tháng 11-1931 tạiParis Thất bại trong việc tìm kiếm sự ủng hộ từ Hội quốc liên và tác động của
sự kiện Nhật dựng lên chính phủ bù nhìn "Mãn Châu quốc" nhằm hợp pháphóa sự chiếm đóng ở khu vực này, quan điểm của Hoa Kỳ đã thay đổi Tháng1-1932, Ngoại trởng Hoa Kỳ Stimson gửi công hàm cho Nhật Bản và TrungQuốc Nội dung chính là: Hoa Kỳ sẽ không công nhận bất cứ hiện trạng haythoả thuận nào xâm hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ và các công dân Hoa Kỳ ởTrung Quốc theo các hiệp ớc đã ký, trong đó bao gồm những điều khoản liênquan đến độc lập, chủ quyền hoặc sự toàn vẹn về lãnh thổ và hành chính của
nớc Trung Hoa Dân Quốc - thờng đợc biết đến với tên gọi chính sách không công nhận (Nonrecognition policy) Đồng thời, kêu gọi các nớc phơng Tây,
đặc biệt là những nớc có quyền lợi trực tiếp ở Trung Quốc, hợp tác với Hoa
Kỳ để thực thi chính sách này Tuy nhiên, sau khi Nhật Bản từ chối Kế hoạch
5 điểm của Hoa Kỳ và đa Phổ Nghi - vị vua cuối cùng của triều đại MãnThanh - lên làm ngời đứng đầu chính phủ bù nhìn “Mãn Châu quốc”, Hoa Kỳcũng nh Anh và Pháp vẫn cha có những hành động quyết liệt thực sự Hành
động trên của Hoa Kỳ thể hiện tính dung dỡng đối với Nhật Bản và là hành
động không dứt khoát, điều đó ảnh hởng không nhỏ đến danh dự quốc gianày
Nh vậy, mục tiêu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời gian này
nh nhận xét của Ngoại trởng Hoa Kỳ Henry Stimson là: "Bảo vệ mối quan hệtrong tơng lai với Trung Quốc bằng cách thực hiện nghĩa vụ của Hoa Kỳ theocác hiệp ớc đã ký; Tránh gây tổn hại tới nền tảng pháp lý của hoạt động gìngiữ hoà bình quốc tế đợc xác lập bởi các hiệp ớc đa phơng sau chiến tranh,trong đó Hoa Kỳ có tham gia hai hiệp ớc" [49, 233] Nhng thực chất mànhững lời lẽ mà Henry đã nói trên là nhằm duy trì quyền lợi của Hoa Kỳ ởTrung Quốc và Viễn Đông theo những hiệp ớc có lợi cho Hoa Kỳ đồng thờitránh gây chiến tranh với Nhật Bản trong điều kiện cha thuận lợi với tính toán
Trang 28Nhật sẽ tiêu diệt phong trào cách mạng ở Trung Quốc và tiến hành chiến tranhxâm lợc Liên Xô.
Với Nhật Bản, bớc đầu tiên trong kế hoạch đại quy mô của mình đãhoàn thành Vùng Đông Bắc Trung Quốc, nơi tập trung 77% tổng số vốn củaNhật ở Trung Quốc bị Nhật Bản biến thành một nhà nớc bù nhìn với một ôngvua bù nhìn là vua Phổ Nghi, Nhật Bản đã có một bàn đạp chắc chắn chonhững cuộc phiêu lu quân sự mới của mình Việc Nhật Bản xâm lợc Đông BắcTrung Quốc đã động chạm đến quyền lợi của các nớc t bản phơng Tây, nhất làHoa Kỳ Tuy nhiên cũng nh Anh, Pháp, Hoa Kỳ đã nhân nhợng, dung túngcho hành động xâm lợc của Nhật Bản Thậm chí trong thời kì này, Hoa Kỳcòn cung cấp cho Nhật Bản những vật t và phơng tiện quan trọng để tăng cờngsức mạnh của quân đội Nhật Bản: sắt, thép, xăng dầu dùng cho không quân,
động cơ máy bay và các linh kiện cần thiết dùng trong kỹ thuật hàng không,v.v… Trung Quốc phản ứng, đa vấn đề Nhật Bản thôn tính Mãn Châu ra HộiQuốc liên, yêu cầu lên án hành động Nhật Bản xâm lợc và giải thể quốc gia bùnhìn Mãn Châu Ngày 24-2-1933, Hội Quốc Liên đã thông qua Báo cáo côngnhận chủ quyền của Trung Quốc ở Mãn Châu, không công nhận “mãn ChâuQuốc” do bộ tham mu Nhật dựng lên nhng mặt khác lại đề nghị duy trì
“những quyền lợi đặc biệt của Nhật” ở Trung Quốc Nh vậy Hội Quốc liên đãkhông công khai tuyên bố hành động của Nhật Bản là xâm lợc và không quyết
định một hình phạt nào đối với Nhật Trớc sức mạnh quân sự, Hội quốc liên đã
sử dụng những biện pháp hết sức nhẹ nhàng và điều đó không mang lại kếtquả nào
Trớc thái độ nhân nhợng của Anh, Pháp và Hoa Kỳ, Nhật Bản tiếp tục tiếnhành xâm lợc Trung Quốc theo kế hoạch đã định sẵn, chiếm đóng hai tỉnh Nhiệt
Hà và Bắc Hà Để có thể tự do hành động, ngày 24 - 3 - 1933, Nhật Bản tuyên bốrút khỏi Hội Quốc Liên Hành động của Nhật Bản đã phá tan nguyên trạng Đông
á do Hiệp ớc Washington năm 1922 quy định, đánh dấu sự tan vỡ bớc đầu của
hệ thống Vécxai - Washington Không dừng lại ở đó, năm 1937 Nhật Bản bắt
đầu mở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc
Quan hệ Hoa kỳ Nhật Bản ở các nớc khác trong khu vực châu á Thái Bình Dơng
Tham vọng của Nhật Bản không chỉ dừng ở chỗ xâm lợc các vùng đấtcha bị thực dân phơng Tây xâm chiếm mà lớn hơn, đó là tham vọng thâu tóm
Trang 29toàn bộ thuộc địa của Anh, Pháp, Hoa Kỳ và Hà Lan ở khu vực châu á - TháiBình Dơng, từ đó thiết lập một “trật tự mới” dới ánh hào quang của đất nớc
“Mặt trời mọc” Sau khi tiến hành bớc một và bớc hai trên con đờng bảo đảm
“cho sự tồn vong của dân tộc”, đó là đánh chiếm Mãn Châu và độc chiếmTrung Quốc, Nhật Bản bớc sang giai đoạn ba của tham vọng, đó là tiến tới làmchủ châu á Để đảm bảo cho kế hoạch thực thi có hiệu quả, Nhật Bản khẳng
định: “…Lấy tài nguyên giàu có ở Đông Dơng mà chinh phục ấn Độ, các đảoNam Đông Dơng cũng nh Trung Tiểu á, Tế á và châu úc” [34, 54] Vì thếsau Trung Quốc, Đông Dơng trở thành mục tiêu cực kì quan trọng, vì đây làmột mắt xích đầu tiên trong dây chuyền của cuộc lấn chiếm xuống phơngNam Vị trí thuận lợi của Đông Dơng sẽ tạo thế cho Nhật xây dựng căn cứ hậuphơng và là bàn đạp không chỉ chống lại phong trào kháng Nhật ở TrungQuốc, mà còn tiến quân cớp lại các thuộc địa của Anh, Hoa Kỳ trong khu vực
và đe doạ châu úc, nhằm khống chế hoạt động của Hoa Kỳ ở vùng này Đồngthời, nếu Nhật cần dầu lửa của Inđônêxia, sản vật của Thái Lan thì Đông D-
ơng sẽ là kho gạo để phục vụ nhu cầu hậu cần quân sự tại chỗ cho quân độiNhật Bản Nếu Nhật Bản chiếm đóng đông Dơng thuộc Pháp thì có nghĩa cảkhu vực Đông Nam á - niềm khát vọng của đất nớc “anh cả da vàng” sẽ nằmtrong tầm tay, và từ đấy kiểm soát khu vực biển Đông sẽ không khó khăn, đó
là mục tiêu trớc mắt, về lâu dài, Nhật Bản không muốn chia sẻ quyền lợi vớibất cứ một nớc thực dân phơng Tây nào ở khu vực này
Những tham vọng của Nhật Bản đặt ra và sẽ đợc tiến hành với nhữngquyết tâm cao nhất, và một điều không thể không tránh khỏi đó là sự đụng đầuvới Hoa Kỳ Chính vì thế mà một trong những mục tiêu khi tiến hành thôntính cả vùng châu á rộng lớn mà Nhật Bản đa ra đó là khống chế hoạt độngcủa Hoa Kỳ ở khu vực này Liệu Nhật Bản có còn suôn sẻ nhờ thái độ dung d-ỡng của Hoa Kỳ, Anh, Pháp nh khi tấn công Trung Quốc nữa hay không khitiến hành tham vọng làm chủ châu á
* Tiểu kết
Nhìn chung, trong thời kỳ trớc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hoa
Kỳ dần vơn lên trở thành một trung tâm công nghiệp, tài chính của thế giới
và có tham vọng mở rộng quyền lợi ở Viễn Đông - Thái Bình D ơng Đâycũng là thời kỳ Nhật Bản mở rộng thế lực và tiến hành chiến tranh ở Đông
á Chính sách của Hoa Kỳ đối với Viễn Đông nói chung, với Nhật Bản nói
Trang 30riêng đợc định hình chủ yếu dựa trên sự lo ngại về chủ nghĩa bành tr ớngNhật Bản và tham vọng duy trì chính sách mở cửa ở Trung Quốc và một sốnơi khác của Hoa Kỳ Những xung đột lợi ích trong việc mở rộng quyền lợiquốc gia và ý đồ chiến lợc trong việc giành u thế ở khu vực giữa Hoa Kỳvới Nhật Bản quy định tính chất chủ yếu trong quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản
là cạnh tranh với biểu hiện cụ thể là kiềm chế tham vọng của Nhật Bản, bắtNhật Bản phải chấp nhận những nhợng bộ thua thiệt Tuy nhiên, do tác
động của môi trờng bên ngoài và điều kiện bên trong, trong khi cùng nỗ lựcthực hiện tham vọng bành trớng, cả Hoa Kỳ và Nhật Bản đều cố gắngkhông đẩy sự cạnh tranh này đến chỗ đối đầu và căng thẳng với đỉnh cao là
sự bùng nổ chiến tranh giữa hai nớc Khi bối cảnh thế giới, khu vực và bảnthân hai chủ thể có nhiều thay đổi, quan hệ cạnh tranh nhng đợc kiềm chế
để không dẫn tới chiến tranh giữa hai nớc đã chấm dứt Quan hệ Hoa Kỳ Nhật Bản bớc vào một thời kỳ mới đánh dấu bằng tình trạng xung đột, lên
-đến đỉnh cao bằng “cuộc chiến tranh nóng” tại cảng Trân Châu và kết thúcbằng sự thất bại hoàn toàn của Nhật Bản
Trang 31Chơng 2 Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trong những năm
Chiến tranh thế giới thứ hai 2.1 Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản trớc Chiến tranh châu á - Thái Bình Dơng
2.1.1 Những mối quan hệ quốc tế ảnh hởng đến quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản
Vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX, quan hệ quốc tế trở nên vôcùng phức tạp và căng thẳng Sự chuyển hóa mâu thuẫn giữa các cờng quốc tbản chủ nghĩa đã dẫn tới sự hình thành hai khối đế quốc đối địch nhau: một là,khối Trục Phát xít của các nớc Đức, ý, Nhật Bản; hai là, khối đế quốc dân chủAnh - Pháp - Hoa Kỳ Mặc dù hai khối đế quốc này mâu thuẫn gay gắt vớinhau về vấn đề thị trờng và quyền lợi nhng đều thống nhất trong mục đíchchống Liên Xô Việc chính phủ Anh khớc từ hợp tác với nhóm âm mu lật đổHitler và chế độ Quốc xã, sau đó cùng với Pháp nhợng bộ Đức, ý trong Hiệp -
ớc Muyních ký ngày 30-9-1938 là đỉnh cao của chính sách thỏa hiệp, nhânnhợng mà các cờng quốc t bản phơng Tây thi hành trong nhiều năm nhằm nétránh một cuộc chiến tranh với nớc Đức Phát xít và chĩa mũi nhọn chiến tranh
về phía Liên Xô “Chính sách Muyních” đã dẫn đến những hậu quả rất nặng
nề đối với bản thân hai nớc Anh và Pháp Một mặt đem đến cho Hitler mộtchiến thắng quan trọng không cần đổ máu ở châu Âu, làm cho nớc Đức Phátxít đi xa hơn nữa trong chính sách mở rộng chiến tranh Mặt khác làm cho vị thếquân sự, uy tín quốc tế của Anh và Pháp giảm sút, nhất là đối với những quốc gialiên minh với hai nớc này ở châu Âu Chính điều đó củng cố quyết tâm bành tr-ớng của Nhật Bản ở các thuộc địa, khu vực ảnh hởng của các nớc t bản phơngTây ở Viễn Đông - Thái Bình Dơng Việc Nhật Bản muốn lôi kéo sự ủng hộ của
Đức để xâm lợc Liên Xô bị phá vỡ do Liên Xô ký với Đức hiệp ớc không xâm
l-ợc nhau tháng 8-1939 là nhân tố tiếp theo góp phần xác định hớng bành trớngcủa Nhật Bản xuống khu vực Đông á
Cuộc chiến tranh thế giới bùng nổ vào tháng 9 năm 1939 và đánh dấubằng những thắng lợi dồn dập của Đức ở châu Âu đã buộc các nớc đế quốc ởchâu Âu phải tập trung vào các vấn đề của châu lục và do đó ít có điều kiệnchú tâm vào địa bàn Viễn Đông - Thái Bình Dơng Thắng lợi nhanh chóng củaquân Đức trên chiến trờng đã đặt các nớc châu âu trớc những tình thế ngàycàng nghiêm trọng Tháng 5-1940, Hà Lan, nớc thống trị Indonesia, đầu hàng
Đức ở “chính quốc”, Chính phủ Hà Lan bỏ chạy sang London Nớc Pháp, vốn
đã bị suy yếu do những cuộc tranh giành nội bộ, mất một phần uy tín và ảnh
Trang 32hởng ở châu Âu nhanh chóng đầu hàng Đức sau 6 tuần chiến đấu (từ tháng 5
đến tháng 6-1940) và ký hiệp định đình chiến với Đức Chính phủ bù nhìnPháp do Pêtanh làm Quốc trởng đợc thành lập và đóng tại thị trấn Vichy ởphía nam nớc Pháp Sự kiện này cũng đánh dấu bớc ngoặt trong quan hệ Pháp
- Anh Quan hệ Pháp - Anh đã chuyển sang giai đoạn quan hệ ngoại giao bịgián đoạn thậm chí xung đột giữa chính phủ Churchill và chính phủ Pêtanh
Từ đây, mặc dù quan hệ Anh - Hoa Kỳ đợc củng cố nhng với chính sách
"không tham chiến" của Hoa Kỳ, nớc Anh gần nh đơn độc chống lại khốiTrục Từ tháng 7 đến tháng 9-1940, nớc Anh - có thuộc địa ở bán đảo Mã Lai
và Miến Điện - gần nh đơn độc chống lại chiến dịch "Tia điện không trung" của
Đức vì sự tồn vong của chính mình, nhng sau đó quân Anh ở châu Phi bị liênquân Đức - ý đẩy lùi về biên giới Ai Cập vào cuối năm 1940
Trong khi đó, Liên Xô, trớc việc phải cùng lúc đối phó với Phát xít Đức
ở phía Tây và quân phiệt Nhật ở phía Đông, đã tăng cờng lực lợng quốc phòng
và thực hiện hàng loạt biện pháp để tăng cờng phòng thủ an ninh quốc gia
Điều đó dẫn đến việc ký kết Hiệp ớc không xâm lợc Xô - Trung ngày
21-8-1937 và hai thỏa thuận hoãn chiến với Nhật Bản vào tháng 8-1938, tháng
9-1940, làm tăng khả năng phòng thủ của Liên Xô ở biên giới phía Đông Cònkết quả của chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với một số quốc gia ở Đông
Âu một mặt tạo điều kiện tăng cờng khả năng phòng thủ quốc gia ở biên giớiphía Tây, mở rộng thêm lãnh thổ và tiềm lực kinh tế của đất nớc, mặt kháclàm cho quan hệ giữa Liên Xô với Anh, Pháp và Hoa Kỳ cực kỳ căng thẳng.Ngày 14-12- 1939, Hội Quốc Liên thông qua Nghị quyết khai trừ Liên Xô rakhỏi tổ chức này
Nh vậy, từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đến giữa năm 1940,những diễn biến của cuộc chiến tranh đã tạo cơ hội thuận lợi cho Nhật Bản vàNhật Bản đã lợi dụng những cơ hội đó để biến tham vọng xây dựng "Một trật
tự mới ở Đông á” thành hiện thực, ngợc lại, lợi ích của Hoa Kỳ ở Viễn Đông Thái Bình Dơng bị đe doạ hơn bao giờ hết bởi Nhật Bản "Cơ hội vàng” này đã
-đợc Nhật nắm lấy Tháng 6-1940, chính phủ Nhật Bản công bố chính sách xâydựng "Khu vực thịnh vợng chung Đại Đông á”, bộc lộ công khai tham vọngbành trớng Tháng 9-1940, chính quyền Nhật Bản gửi tối hậu th cho Pháp yêucầu phải để Nhật Bản đóng quân và xây dựng các căn cứ quân sự ở Bắc Kỳ(Việt Nam) Trớc sự đe doạ của Nhật Bản, Chính phủ Pháp buộc phải chấp
Trang 33nhận yêu sách này Quân Nhật tiến vào chiếm đóng Bắc Kỳ, coi đó nh mộtcầu nối để chuẩn bị xâm lợc Đông Nam á Ngày 27-9-1940, Nhật Bản củng
cố liên minh với Đức và ý bằng Hiệp ớc tay ba Đức - ý - Nhật Hiệp ớc thừanhận sự thống trị của Đức, ý ở châu Âu và của Nhật Bản ở khu vực Viễn
Đông "Trái với hiệp ớc chống Komintern, hiệp ớc ba bên này không chốngLiên Xô, mà chống lại Hoa Kỳ, ngời trọng tài của tình hình ở Thái Bình Dơngcũng nh ở châu Âu" [4, 285] Tình hình đó buộc Hoa Kỳ phải tích cực chuẩn
bị phòng thủ và thi hành những biện pháp kiên quyết hơn chống Nhật Bản
Bối cảnh quốc tế đó dần tạo nên những "cơ hội vàng” để Nhật Bản gấprút hoàn thành tham vọng bá chủ của mình Trên thực tế, Nhật Bản đã triệt đểtận dụng những cơ hội đó và chính những điều đó đã ảnh chi phối không nhỏ
đến mối quan hệ Hoa Kỳ và Nhật Bản
Trong khi đang rất hy vọng về việc Nhật Bản sẽ nhanh chóng mở mộtcuộc tấn công Liên Xô, thì thật bất ngờ, Hoa Kỳ đã phải chấp nhận một sựthật là vào ngày 16-9-1939, Nhật Bản ký kết đình chiến với Liên Xô NhậtBản sở dĩ ký hiệp ớc đình chiến với Liên Xô vì sau những lần tấn công vàolãnh thổ Liên Xô và Mông Cổ, Nhật Bản đã bớc đầu nhìn thấy đợc sức mạnhcủa quân đội Xô Viết Bên cạnh việc thấy mình cha đủ sức mạnh để tiến hànhchiến tranh với Liên Xô thì việc Nhật Bản kí kết hiệp ớc đình chiến với LiênXô còn có lý do khác Hoà hoãn với Liên Xô sẽ giúp Nhật Bản rảnh tay thựchiện tham vọng của mình ở Trung Quốc Ngoài ra, Nhật Bản còn tìm cách đốiphó, ngăn chặn và có tham vọng bành trớng xuống Đông Nam á, tranh giànhcác thuộc địa của các nớc đế quốc phơng Tây, trong khi các nớc này đang phảitập trung sức lực để chống Phát xít Đức tại nhiều nơi ở châu Âu
Việc Nhật Bản kí hiệp ớc đình chiến với Liên Xô vẫn không làm Hoa
Kỳ thôi hy vọng về một ngày không xa Nhật Bản lại sẽ tấn công tiêu diệt LiênXô đồng thời tự làm suy yếu mình Sau khi Phát xít Đức gây chiến tranh ởchâu Âu, Nhật Bản cũng cha dám một mình tấn công Liên Xô, vẫn tiếp tụcchính sách hoà hoãn với Liên Xô để chờ thời cơ bằng cách tiếp tục kí một hiệp
ớc trung lập Liên Xô - Nhật Bản vào ngày 13-4-1941, với thời hạn năm năm.Sau khi Phát xít Đức tấn công Liên Xô, Nhật Bản vẫn còn chờ đợi một thắnglợi quyết định của Phát xít Đức trên chiến trờng Liên Xô thì Nhật Bản sẽ tiếnvào lãnh thổ miền Đông Liên Xô một cách dễ dàng Hoa Kỳ đang ngày càng
đi đến gần mục đích “mợn gió bẻ măng” của mình sau những hy sinh mất mát
Trang 34trớc sự ngạo mạn và tham lam của Nhật Bản Nhng thật bất ngờ, đại thắng củaHồng Quân Liên Xô ở Matxcơva cuối năm 1941 đã làm cho bọn quân phiệtNhật Bản nhụt chí Chúng đành tạm gác kế hoạch tấn công Liên Xô để tiếnhành cuộc chiến tranh Thái Bình Dơng, đánh bại lực lợng Hoa Kỳ và Anh ở
đây Trong khi vẫn tiến hành các cuộc đàm phán bí mật giữa Nhật Bản và Hoa
Kỳ nhằm làm tê liệt sự cảnh giác của chính phủ Hoa Kỳ, Nhật Bản đã quyết
định lên kế hoạch cho một cuộc chiến tranh chống Washington
2.1.2 Chính sách dung dỡng và nhân nhợng của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản
Trong cuộc hội đàm với Đại sứ của Nhật Bản ngày 26/8/1939, Bộ trởngHull của Hoa Kỳ đã bộc bạch nguyện vọng của bản thân, của chính phủ vàtoàn thể nhân dân Hoa Kỳ rằng: Chúng tôi mong muốn có một mối quan hệthân ái với mọi quốc gia khác trên thế giới; chính sách của chúng tôi là mộtchính sách của “sống để sống”; chúng tôi không tìm kiếm bất cứ một vị trí đặcbiệt nào Thế giới đang đợc cho một bài học thực tế về sự vô ích của các chínhsách mà từ đó các quốc gia đặt kế hoạch để nắm lấy sự thuận lợi của các quốcgia khác bằng cách sử dụng quân sự mà không đếm xỉa đến pháp luật và cácnguyên tắc đạo đức Tóm lại, bộ trởng nói rằng tơng lai của mối quan hệ Hoa
Kỳ - Nhật Bản là phụ thuộc phần lớn về phía Nhật Bản; rằng giải pháp bềnvững là thân thiết và đối xử đẹp với tất cả các quốc gia Và trên thực tế, Hoa
Kỳ bởi nhiều lý do khác nhau đã cố gắng giữ gìn mọi hành động của mìnhgiống nh tinh thần của Bộ trởng Hull
Cho đến thời điểm Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ thì Hoa Kỳvẫn đang kiên định một nguyên tắc ngoại giao đó là: Không tham chiến Việckhối Trục đã hình thành và có sức mạnh rất lớn là điều rất rõ ràng, việc gâychiến tranh xâm lợc của phe Phát xít không phải đến thời điểm năm 1939 mớibắt đầu mà nó đã diễn ra rất lâu từ trớc đó Trớc tình hình thế giới nh vậy, Hoa
kỳ hiểu rằng nếu mình tham chiến sẽ nảy sinh ra vấn đề phòmg thủ cùng mộtlúc hai bờ biển là Đại Tây Dơng và Thái Bình Dơng mà điều kiện lúc đókhông đủ để Hoa Kỳ tiếp nhận và giải quyết nó một cách có lợi cho mình.Chính vì thế, trong các mối quan hệ của Hoa Kỳ với Nhật Bản, những chínhsách mà chính phủ Hoa Kỳ đa ra luôn luôn kiên định mục tiêu không thamchiến nhằm bảo vệ quyền lợi của ngời dân và đất nớc họ, đồng thời để duy trìcác nguyên tắc hoà bình và trật tự quốc tế mà Nhật Bản đã vi phạm qua việctấn công Trung Quốc Cùng lúc đó, trong việc giữ tình cảm của quần chúng,
Trang 35chính phủ Hoa Kỳ đã cố gắng ngăn ngừa xu thế đa đất nớc mình vào tìnhtrạng thù địch với Nhật Bản Chính vì vậy, trong khi giải quyết các vấn đề cóliên quan đến Nhật Bản, bên cạnh duy trì những nguyên tắc ngoại giao thì ítnhiều Hoa Kỳ cũng đã rất mềm dẻo bỏ đi một số nguyên tắc để không làmmất đi những cơ hội, dù rất nhỏ để thơng lợng một cách hoà bình về những bất
đồng gặp phải giữa hai nớc Trong suốt thời kì này, chính phủ Hoa Kỳ đãngầm xem xét theo nhiều cách và sử dụng các biện pháp khác nhau cốt để làmcho Nhật Bản từ bỏ những chính sách và chơng trình xâm chiếm, thống trịbằng vũ lực hoặc đe doạ bằng lực lợng vũ trang Bên cạnh các phơng phápkhác, chính phủ Hoa Kỳ thờng xuyên cân nhắc biện pháp gây áp lực kinh tế
để tác động lên nhiều phơng diện nh là một phơng tiện để kiểm tra thái độ củaNhật Bản
Tuy nhiên, việc Hoa Kỳ tránh né chiến tranh với Nhật Bản còn cónguyên nhân khác, đó là Hoa Kỳ vẫn còn cố tình theo đuổi hy vọng về cuộctấn công của Nhật Bản về phía Liên Xô và lực lợng kháng chiến của Đảngcộng sản Trung Quốc Còn một nguyên nhân không kém phần quan trọng đóchính là lợi ích kinh tế của việc duy trì quan hệ "không xung đột" với NhậtBản Cán cân thơng mại Hoa Kỳ - Nhật Bản chiếm tỉ lệ 48% giá trị xuất khẩu
và 21% giá trị nhập khẩu so với toàn châu á, giá trị đầu t và thơng mại vớiNhật Bản cũng gấp trên ba lần so với Trung Quốc Chính vì thế, khi Nhật Bảnngang nhiên vợt qua mũi Hoa Kỳ và các nớc Đồng minh để chiếm trọn ĐôngDơng thì Hoa Kỳ vẫn cha thực sự áp dụng các biện pháp can thiệp mạnh mẽ.Ngày 15-1-1941, Ngoại trởng Hoa Kỳ nói rằng Hoa Kỳ không thể đồng ý vớingời Nhật vì họ muốn trở thành chủ nhân của một khu vực chiếm gần nửa dân
số thế giới Và nh vậy họ sẽ khống chế Thái Bình Dơng và con đờng mậu dịchtrong khu vực đó Nhật Bản không hề ngần ngại trả lời một cách thách thứcrằng: “Nớc Hoa Kỳ đã có u thế ở Tây bán cầu và biến Tây bán cầu thànhthuộc địa của mình, thì Hoa Kỳ có quyền gì để phê phán Nhật Bản xây dựngkhu vực thịnh vợng chung Đại Đông á” [21, 93] Trớc thái độ của Nhật Bản,Hoa Kỳ vẫn tỏ ra nhân nhợng để dụ Nhật Bản vào cái bẫy chiến tranh với LiênXô mà mình đã giăng sẵn dù vẫn ngầm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh có thểxảy ra với chính mình Tuy nhiên, mọi chuyện còn ở phía trớc và Hoa Kỳ liệu
có thực hiện đợc mục đích của mình khi hy vọng vào một kẻ bớng bỉnh, thamlam và tiềm lực nh Nhật Bản
Trang 36Nh vậy, cho đến trớc khi Chiến tranh Thái Bình Dơng bùng nổ, Hoa Kỳtiếp tục trò chơi “mợn gió bẻ măng” theo cái kiểu làm muôn thủa với thamvọng “cò ngao tranh chấp, ng ông thủ lợi”: ở phơng Tây thì dung dỡng Đức, ởphơng Đông lại dung dỡng phát xít Nhật Bản hòng đẩy Liên Xô vào thế bị bópnghẹt bởi hai gọng kìm phát xít Đông - Tây Đỉnh cao của sự dung dỡng, thoảhiệp Phát xít Nhật Bản của Anh - Pháp - Hoa Kỳ đó là “Hiệp định Arita -Crâygi” đợc ký kết vào ngày 23/7/1939 giữa ngoại trởng Nhật Bản Arita và
đại sứ Anh Crâygi Với hiệp định này Anh đã giao Trung Quốc cho Nhật Bản
để đổi lấy cuộc chiến tranh chống Liên Xô của Nhật Bản - Một “Muyních
ph-ơng Đông”, một cái bẫy mà Hoa Kỳ và các nớc Đồng Minh đã giăng ra ở cảphơng Đông lẫn phơng Tây hòng đẩy Liên Xô rơi vào cuộc chiến tranh xâm l-
ợc từ hai phía rất nguy hiểm Các nớc Đồng Minh mà cầm đầu là Hoa Kỳ đãlợi dụng Nhật Bản nh một con bài trong âm mu tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản ởTrung Quốc và Liên Xô
Đầu tháng 4/1940, khi tình hình chiến sự tại Pháp trở nên nguy kịch,Thủ tớng nớc Pháp Paul Reynond đã đánh điện cầu cứu Tổng thống Roosevelt
để yêu cầu Hoa Kỳ tham chiến và can thiệp với Mutsôlini để ngăn chặn ýtuyên chiến với Pháp Thủ tớng Pháp trong cơn cùng quẫn và hoảng hốt đãcông khai nói với Roosevelt bằng những lời lẽ cầu cứu và đe doạ rằng: “Tôiphải nói với ngài rằng Nếu ngài không bảo đảm với nớc Pháp trong nhữnggiờ tới rằng Hoa Kỳ sẽ tham chiến ngay lập tức thì bộ mặt của thế giới sẽ thay
đổi Rồi ngài sẽ thấy một nớc Pháp chìm nghỉm nh một kẻ đang chết đuối vàbiến mất sau khi đã mỏi mắt nhìn về xứ sở của tự do mà từ đó nó tìm kiếm sựbảo vệ” [30, 65] Tổng thống Roosevelt trả lời Thủ tớng Pháp rằng, Hoa Kỳkhông thể tuyên chiến trong một tơng lai gần đợc vì cha kịp chuẩn bị về mặtquân sự cũng nh d luận, mà chỉ hứa gia tăng vũ khí cho Anh và Pháp
Vấn đề Đông Dơng thể hiện rất rõ toan tính của Hoa Kỳ đối với việcdung dỡng và lợi dụng Nhật Bản Ngày 10-6-1940, khi quân Đức tấn côngParis thì liên quân Anh – Pháp tan rã và chỉ một tuần sau thì quân đội Phápbuông súng đầu hàng Lợi dụng sự thất bại của Pháp ở chính quốc, Nhật Bản
ra sức buộc Pháp đi từ nhân nhợng này đến nhân nhợng khác Dới áp lực củaNhật Bản, nhà cầm quyền Pháp tại chính quốc cầu cứu đến Hoa Kỳ, nhờ Hoa
Kỳ gây áp lực ngoại giao với Nhật Bản và cung cấp vũ khí cho ngời Pháp tại
Đông Dơng Nhng Hoa Kỳ đã không đáp ứng yêu cầu của Pháp mà ngợc lại
Trang 37còn khuyên Pháp cố giảm bớt những yêu sách của Nhật Bản và Hoa Kỳ khôngphiền trách Pháp về những nhợng bộ có thể làm phơng hại đến Hoa Kỳ lúcbấy giờ Đặc biệt là khi Nhật Bản kéo quân vào miền Bắc Đông Dơng với mục
đích rõ ràng là ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng con đờng Hải Phòng - Vân Nam đểtiếp viện cho Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Quốc, đồng thời lấy đó làmbàn đạp bành trớng ra khu vực Đông Nam á (9-1940), nhng Hoa Kỳ vẫn chathực sự lên tiếng Mãi đến khi Nhật Bản chiếm đóng miền Nam Đông Dơng(7-1941) thì Hoa Kỳ mới tỏ ra cứng rắn, nhng bất chấp những cố gắng lớnnhất của chính quyền Roosevelt, không một trừng phạt kinh tế và ngoại giaonào có vẻ có tác dụng trong năm 1940 và cả năm 1941, nh vậy Hoa Kỳ chaphải là chấp nhận chiến tranh Tổng thống Roosevelt đã phát biểu rằng: trongtrờng hợp Nhật Bản tấn công Thái Lan hay các lãnh thổ thuộc phạm vi ảnh h-ởng của Anh hoặc Hà Lan thì Hoa Kỳ vẫn cha cầm vũ khí Hoa Kỳ sẽ chỉtuyên chiến nếu Nhật xâm lợc Philippin [21, 49] Hoàn toàn có cơ sở để tinrằng nếu Nhật Bản tấn công Liên Xô thì Hoa Kỳ sẽ không đánh sau lng NhậtBản nh giới lãnh đạo hải quân nớc này đã từng lo sợ
Nh vậy, trong số những địch thủ gây nguy hại cho mình, Hoa Kỳ coiLiên Xô là kẻ thù số một cho dù Nhật Bản đang gây sóng gió đe doạ trực tiếp
đến quyền lợi của mình Chính vì vậy mà trong suốt thời gian dài trớc khicuộc chiến tranh Hoa Kỳ - Nhật Bản bùng nổ từ phía Nhật Bản thì Hoa Kỳ đãluôn giữ vững lập trờng tránh né, nhợng bộ và “không tấn công trớc”
Mặc dù có đa ra và thực thi những biện pháp cấm vận về kinh tế, chuẩn
bị về cả quân sự song trên thực tế, Tổng thống Roosevelt vẫn "cha tiến hành
b-ớc đi logic tiếp theo" mặc dù các hoạt động ngoại giao song phơng đã thất bại
và thậm chí tháng 5-1941, khi tàu buôn Robin Moor của Hoa Kỳ bị phe Trục
đánh chìm Với Tổng thống Roosevelt, việc thông báo phong tỏa các tài sảncủa Nhật Bản ở Hoa Kỳ, ngừng xuất khẩu các sản phẩm dầu sang Nhật Bản làmột giải pháp thỏa hiệp giữa những ngời theo đờng lối cứng rắn chủ trơng cấmvận toàn diện nh Bộ trởng Tài chính Morgenthau và Trợ lý Ngoại trởngAcheson với những ngời theo đờng lối ôn hòa hơn cho rằng Hoa Kỳ khôngnên có bất cứ hành động khiêu khích nào có thể dẫn đến một cuộc chiến tranhtrong khi đất nớc cha chuẩn bị đầy đủ về mặt quân sự nh Bộ trởng Hải quânHoa Kỳ
Trang 38Mặc dù các tin tình báo liên tiếp gửi về Washington với cùng một nộidung là Nhật Bản sẽ nhanh chóng tiến hành cuộc chiến tranh chống Hoa Kỳ,nhng các thông điệp đó đều bị bác bỏ bởi cách lý giải hết sức hợp lý rằng:
“Căn cứ vào cách bố trí và sử dụng lục quân lẫn hải quân của Nhật Bản hiệntại, có thể thấy rằng sẽ không có bất cứ một hành động nào của Nhật đánh vàoTrân Châu Cảng trong tơng lai gần nhất, và nói chung không có kế hoạch đótrong tơng lai” [21, 48]
Trong khi khẳng định Nhật Bản không thể tấn công Trân Châu Cảng,giới lãnh đạo Hoa Kỳ cũng tin rằng có thể tránh đợc cuộc chiến tranh với NhậtBản Niềm tin ấy dựa trên hy vọng là Nhật Bản sẽ tấn công Liên Xô, kẻ thùchung của thế giới t bản Đồng thời niềm tin ấy cũng dựa trên cơ sở về tơngquan lực lợng Hoa Kỳ - Nhật Bản lúc bấy giờ là một so với mời mà u thếthuộc về Hoa Kỳ Nếu xét riêng về quân sự, u thế ấy có phần giảm xuống nh-
ng cũng vẫn là 5/1 về máy bay, 2/1 về tàu chiến Vì vậy Hoa Kỳ cho rằngNhật Bản sẽ không dám tấn công mình chừng nào mà chính Hoa Kỳ khôngchủ động tấn công Nhật Bản trớc
Nh vậy, bất chấp những yêu cầu của các nớc Đồng minh và nhữngthông tin cảnh báo thiết thực về một cuộc chiến tranh cận kề, Hoa Kỳ vẫn
đang cố gắng kiên định mục tiêu và con đờng đi riêng của mình Nhật Bản thìmỗi lúc càng lấn tới Cho đến thời điểm 1941, cả hai chính phủ Nhật Bản vàHoa Kỳ đang nhảy nhót theo những điệu nhạc khác nhau
Tuy nhiên, Hoa Kỳ với đội ngũ những nhà lãnh đạo sắc sảo không mùquáng mà hoàn toàn tin rằng Nhật Bản là cái van an toàn tuyệt đối, họ vẫn đềphòng bởi những suy nghĩ hết sức thực tế rằng: “Không phải lúc nào ngờiNhật cũng tránh đợc sai lầm, và theo những biện pháp phát triển về quy mô
mở rộng các hành động chiến tranh của họ, thì sớm muộn gì họ cũng phạm sailầm, và chúng ta sẽ phải tham chiến” [21, 49]
2.1.3 Kìm chế sự bành trớng của Nhật Bản
Cho dù Hoa Kỳ đã thi hành chính sách dung dỡng Nhật Bản bởi nhiềunguyên do rất quan trọng thì một thực tế không thể chối cãi và đó cũng là điềukhiến Nhà Trắng mất ăn mất ngủ chính là việc quyền lợi của Hoa Kỳ ở châu
á - Thái Bình Dơng đang bị đe doạ nghiêm trọng và đang ngày càng trở thànhhiểm hoạ bị mất trắng khi mà Nhật Bản tỏ ra hung hãn và quyết tâm cao độthực hiện tham vọng bá chủ của mình Mặc dầu cán cân trao đổi về kinh tế với
Trang 39Nhật Bản của Hoa Kỳ không thấp, vấn đề dụ cho Nhật Bản tiêu diệt Liên Xôcũng rất quan trọng nhng thực tế là điều đó ngày càng trở nên ít chắc chắn,hay chẳng lẽ vì “chủ nghĩa biệt lập” mà Hoa Kỳ đành đứng im nhìn Nhật Bảnnuốt trọn châu á - Thái Bình Dơng Điều đó hoàn toàn không phù hợp mộtchút nào với một Hoa Kỳ đầy rẫy những tham vọng và luôn muốn làm bá chủthế giới Chính vì vậy thật dễ hiểu khi mà bên cạnh thi hành chính sách dungdỡng và nhân nhợng Nhật Bản thì Hoa Kỳ cũng khá kiên quyết thực hiệnchính sách chống Nhật Bản.
2.1.3.1 Giúp đỡ nhân dân châu á chống Nhật Bản và thi hành chính sách cấm vận Nhật Bản
Giúp đỡ nhân dân châu á chống Nhật Bản.
Năm 1931, ngời ta hình dung chiến tranh khởi sự từ Mãn Châu, nh một
ngọn lửa nhỏ trong lò, có một giới hạn nhất định, nhng dần dần, ngọn lửa ấylan dần ra cả Viễn Đông Rồi đến 1935, ngọn lửa chiến tranh lại nhóm lên ởEthiôpia, Tây Ban Nha, áo, Anbani và Tiệp Khắc Và năm 1939, trong vòng
10 tháng, ngọn lửa ấy cháy lên dữ dội, thiêu cháy Ba Lan, Đan Mạch, Nauy,Lúcxămbua, Bỉ và sau đó là nớc Pháp
Đến khi Pháp kí hiệp định đình chiến với Đức thì Anh trở nên trơ trọi đểtheo đuổi một cuộc chiến tranh xem chừng nh đã tuyệt vọng Tình thế nguyngập, nớc Anh cũng đành bó tay?
Trong tình trạng bi quan ấy, trong khi cả thế giới lo sợ thì Hợp chủngquốc Hoa Kỳ lên tiếng
Ngày 17/12/1940, tại Nhà Trắng, trong một cuộc họp báo giới hàngtuần, Tổng thống Roosevelt, khác với thờng lệ, đã nói với báo giới bằng mộtgiọng rất nghiêm trọng: “ Tôi lấy một tỷ dụ, nếu nhà hàng xóm của tôi bị cháy
mà tôi lại có vòi chữa lửa cách đó không xa, thì tôi có nên cho ngời hàng xómcủa tôi mợn hay không?” [31, 5] Sau những đấu tranh t tởng, tranh cãi quyếtliệt, d luận xôn xao, cuối cùng thì ngày 11-3-1941, dự án đạo luật “cho vaybằng khế ớc” đã đợc thông qua Cái máy vĩ đại “cho vay bằng khế ớc” bắt đầuchuyển bánh Cách 3 gờ sau khi đạo luật đợc chuẩn y, Tổng trởng hải quânHoa Kỳ nhận đợc lệnh chuyển giao cho Anh quốc 28 phóng ng lôi và 3000thuỷ lôi Hôm sau, Tổng thống xin một ngân phiếu là 7 tỷ USD Nếu chơngtrình “Đại Đông á” của Nhật Bản không thực hiện đợc, nếu Tởng Giới Thạch
đã có thể cầm cự đợc trớc sức mạnh tấn công mãnh liệt của quân đội Phù Tang
Trang 40và dần dần đuổi đợc quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi Trung Hoa, thì thành quả
ấy không thể không nhắc đến Hoa Kỳ, tuy sự hỗ trợ ấy không phải đợc thựchiện với mục đích tốt đẹp
Bên cạnh việc viện trợ cho chính quyền Tởng Giới Thạch ở Trung Quốcchống Nhật Bản thì những hành động của Hoa Kỳ ở Miến Điện cũng đợc coi
là kỳ tích Với một số vốn nhỏ hẹp trích ra từ dự án “cho vay bằng khế ớc”,ngời ta đã nối liền Lashiô và Trùng Khánh, dài 2000 km mà trong đó 1100km
là đờng dốc hiểm nghèo, đi qua những miền rừng núi không có dân c vàkhông có qua một chỗ để lấy xăng dầu, sự chuyên chở hết sức chậm chạp và ít
ỏi
Đối với Hoa Kỳ, Trung Quốc là vấn đề mất ăn mất ngủ nhất Trớcnhững hành động vi phạm một cách trắng trợn "Hiệp ớc 9 cờng quốc" ký tạiWashington năm 1922 và trái với Hiệp ớc Briand - Kellogg năm 1928 khi tấncông một cách toàn diện lên Trung Quốc, thậm chí không kích ồ ạt lên cácmục tiêu dân sự và việc ngời dân Hoa Kỳ căm phẫn những tội ác mà Nhật Bảngây ra đối với nhân dân Trung Quốc, cũng nh khả năng có thể ngăn chặn cuộcxâm lợc này bằng một hành động chung của các quốc gia hữu quan, đến năm
1939, Hoa Kỳ chỉ lên án về mặt đạo đức hành động xâm lợc của Nhật Bản và
tiếp tục giữ lập trờng trung lập Liên tiếp các tờ báo nh Washington Post và New York Times đã đa ra quan điểm là cần phải phân biệt giữa kẻ xâm lợc và
nạn nhân bị xâm lợc, đồng thời chấm dứt thực hiện chính sách trung lập mùquáng Trớc sức ép của công luận, Hoa Kỳ bắt đầu có những hành động mạnh
mẽ hơn chống lại kế hoạch bành trớng của Nhật Bản Ngày 13-12-1938,Roosevelt đồng ý cho Trung Quốc vay 25 triệu USD qua Ngân hàng Xuất -Nhập khẩu Washington để mua dầu Tiếp đó, đến tháng 1-1939, Tổng thốngRoosevelt chính thức tờng trình dự án ngân sách trớc Quốc hội và yêu cầu bổsung cho ngân sách quốc phòng 1,319 tỉ USD, nâng tổng ngân sách lên 10,319
tỉ USD
Ngay sau khi Nhật Bản thành lập chính phủ bù nhìn mới ở Nam Kinh
do Uông Tinh Vệ cầm đầu, Hoa Kỳ lên án chính quyền Uông Tinh Vệ đồngthời cho Chính quyền Tởng Giới Thạch vay thêm 20 triệu USD để mua thiếc.Tháng 12-1940, Quốc hội Hoa Kỳ đồng ý cho Trung Quốc vay thêm 100 triệuUSD với lý do giúp nớc này ổn định tình hình tiền tệ, nâng tổng số tiền chovay trong năm 1940 là 120 triệu USD Tháng 4-1941, Tổng thống Hoa Kỳ phê