gần gũi, thân quen đối với các em, vì thế mà sẽ tả một cách sinh động, tinh tế và thể hiện được tình cảm của mình đối với những cảnh vật đó.. Đồng thời người viết phải biết sử dụng từ ng
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục
Trang 2Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục
_
Phơng pháp hớng dẫn học sinh lớp 5
luyện tập văn tả cảnh
khóa luận tốt nghiệp ĐạI HọC
chuyên ngành: phơng pháp dạy học tiếng việt
Ngời hớng dẫn : TS Chu Thị Hà Thanh
Sinh viên thực hiện: Lê Anh Xuân
Mã số sinh viên : 0859012096Lớp : 49A1 - Tiểu học
Nghệ An - 2012
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Môn tiếng việt ở trường Tiểu học là một môn học hoàn thành năng
lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh và phát triển tư duy, tạo tiền đề và cơ sở cho việc học tập các môn học khác Môn Tiếng Việt ở Tiểu học được dạy và học thông qua 7 phân môn khác nhau (Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn)
Trong đó phân môn Tập làm văn là một môn học mang tính tổng hợp, giúp mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cách học sinh Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học là trang bị cho học sinh những tri thức về hệ thống Tiếng Việt, chuẩn Tiếng Việt và rèn luyện quá trình giao tiếp các
kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
1.2 Phân môn Tập làm văn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp
các kiến thức và kĩ năng Tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác đã hình thành Do vậy, phân môn Tập làm văn đã thực hiện được mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng được Tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập Văn miêu tả là một thể văn chiếm phần lớn nội dung của phân môn Tập làm văn bản và nó được sử dụng rất phổ biến trong cuộc sống
1.3 Trong chương trình Tiểu học hiện nay, văn miêu tả gồm có những
kiểu bài đó là: Tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả người, tả cảnh Trong những kiểu bài đó thì văn miêu tả cảnh là một kiểu bài rất quen thuộc với học sinh Đối tượng của văn tả cảnh là những cảnh vật xung quanh cuộc sống của các
em Đó là cảnh buổi sáng (trưa, chiều) ở quê em (công viên, đồng lúa ), cũng
có thể là cảnh mùa xuân, cảnh đêm trăng Chúng đều là những cảnh vật rất
Trang 4gần gũi, thân quen đối với các em, vì thế mà sẽ tả một cách sinh động, tinh tế
và thể hiện được tình cảm của mình đối với những cảnh vật đó
1.4 Để có một bài văn tả cảnh hay thì người viết phải có tài quan sát,
biết chọn lọc những chi tiết điển hình và nổi bật Đồng thời người viết phải biết sử dụng từ ngữ hợp lý, độc đáo, ví von so sánh để chuyển tải nội dung quan sát một cách chân thực và sinh động, đồng thời qua đó gửi gắm tình cảm, thể hiện cảm xúc của mình đối với cảnh vật được miêu tả
Tuy nhiên trong thực tế dạy và học văn miêu tả cảnh ở Tiểu học còn nhiều hạn chế Hầu hết giáo viên chưa áp dụng phù hợp các phương pháp giảng dạy Nhiều bài làm của học sinh chưa đạt yêu cầu về nội dung và hình thức Nguyên nhân chủ yếu là giáo viên chưa nắm vững lý thuyết về văn tả cảnh một cách toàn diện Học sinh chưa tiếp cận được phương pháp làm bài khoa học và có hệ thống
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc dạy học Tập làm văn nói chung,
văn tả cảnh nói riêng, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Phương pháp
hướng dẫn học sinh lớp 5 luyện tập văn tả cảnh”.
2 Lịch sử vấn đề
Bàn về văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả là một vấn đề
đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu nhưng chưa hề có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu về phương pháp hướng dẫn học sinh luyện tập về văn tả cảnh với tư cách là một công trình chuyên biệt, độc lập Chúng ta có thể đề cập đến các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu về văn miêu tả và văn tả cảnh:
- Văn miêu tả và kể chuyện - Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển -
NXBGD
Về cấu trúc, sách gồm 2 phần:
Trang 5Phần 1: Giới thiệu các bài viết của các nhà văn về suy nghĩ, kinh nghiệm của bản thân khi viết văn miêu tả và kể chuyện.
Phần 2: Là những đoạn văn tả và kể chọn lọc của nhiều cây bút khác nhau
Công trình này chỉ mới đề cập những nét chung nhất của một bài văn miêu tả, những vấn đề đưa ra vẫn còn là trừu tượng đối với giáo viên
và học sinh Vì thế giáo viên khó vận dụng vào quá trình dạy - học văn miêu tả ở lớp 4, 5
- Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông - Đỗ Ngọc Thống, Phạm
Chương 3 Giới thiệu văn miêu tả trong nhà trường phổ thông theo
yêu cầu của chương trình SGK mới Đặc biệt, tác giả còn giới thiệu hệ thống 95 bài tập và 20 đề văn miêu tả với yêu cầu kết hợp với các phương thức biểu đạt khác
Đây là cuốn sách giới thiệu về văn miêu tả tương đối đầy đủ song vẫn chưa phải là cuốn sách về phương pháp dạy học văn miêu tả cho học sinh tiểu học
2.2 Các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học văn miêu tả ở nhà trường Tiểu học
- Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (2 tập) - Lê Phương Nga,
NXB Đại học sư phạm - 2008
Nội dung của quyển sách gồm có 2 phần:
Trang 6Phần I: Bàn về những vấn đề chung của phương pháp dạy học Tiếng
Việt ở Tiểu học
Phần II: Đi sâu vào phương pháp dạy học các phân môn cụ thể: Học
vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn
Trong quyển sách này phần nội dung về phương pháp dạy học văn miêu tả ở Tiểu học chỉ được đề cập đến một phần rất nhỏ Quyển sách không tập trung đi sâu vào việc rèn luyện kỹ năng viết văn cho học sinh mà chủ yếu
là đưa ra quy trình lên lớp của từng loại bài Tập làm văn
- Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học- Nguyễn Trí,
NXB Giáo dục- 1999
Cuốn sách này gồm 2 phần:
Phần đầu: Tác giả đề cập đến khái niệm văn miêu tả và các kiểu bài
miêu tả ở tiểu học
Phần sau: Tác giả giới thiệu một số phương pháp dạy văn miêu tả
trong trường tiểu học
Quyển sách này đã đưa ra các phương pháp dạy văn miêu tả một cách tương đối khoa học, khái quát Tuy nhiên, phương pháp dạy học cho mỗi kiểu bài cụ thể chưa được nghiên cứu kĩ, đặc biệt là văn miêu tả cảnh
- Luyện viết văn miêu tả ở Tiểu học - Vũ Khắc Tuân, NXB Giáo
dục.(2 tập)
Trong tác phẩm này, tác giả chủ yếu thiết kế hệ thống bài tập luyện viết các loại bài của văn miêu tả và một số kinh nghiệm của các nhà văn trong việc làm văn miêu tả, một số giai thoại trong việc dùng câu chữ khi viết văn
Như vậy, qua việc tìm hiểu nội dung các cuốn sách trên chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu ứng dụng lý thuyết văn miêu tả cảnh vào hệ thống kĩ năng làm văn trong dạy học văn tả cảnh ở trường Tiểu học còn được ít người
Trang 7đề cập hoặc nghiên cứu chưa sâu Do đó đề tài “Phương pháp hướng dẫn
học sinh lớp 5 luyện tập văn tả cảnh” là một đề tài mới mẻ và rất cần thiết.
Với công trình nhỏ bé này, chúng tôi muốn đóng góp một phần công sức của mình vào việc rèn luyện và phát triển kỹ năng trong khi làm bài văn tả cảnh cho học sinh Qua đó giúp học sinh có thể viết nhiều bài văn hay, ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh và cảm xúc, nội dung cô đọng,
bố cục chặt chẽ
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 luyện tập về văn miêu tả cảnh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả ở trường Tiểu học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học Tập làm văn ở Tiểu học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 luyện tập văn tả cảnh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Đề xuất phương pháp hướng dẫn học sinh làm văn tả cảnh ở lớp 5
- Thử nghiệm sư phạm
6 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học Tập làm văn tả cảnh ở lớp 5 nếu giáo viên nắm vững lí thuyết về văn miêu tả- đặc biệt là vai trò của quan sát cũng như yêu cầu, đặc điểm và liên tưởng, tưởng tượng, tình cảm và cảm xúc, sử dụng ngôn từ trong văn tả cảnh Từ đó có sự ứng dụng một cách linh hoạt
và chủ động vào dạy văn tả cảnh, kết hợp với tổ chức hướng dẫn học sinh
Trang 8rèn luyện các kĩ năng đó trong việc làm văn tả cảnh thì sẽ nâng cao chất lượng bài viết của học sinh.
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp thử nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp xử lý số liệu thu được
Trang 9NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm văn miêu tả
Theo Đào Duy Anh trong “Hán Việt tự điển” miêu tả là lấy “nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”.
Trong cuốn “Viết văn miêu tả và văn kể chuyện” nhà văn Phạm Hổ cho rằng: “Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết, người đọc như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, một con vật, một dòng sông, người đọc còn có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy thậm chí còn ngửi thấy mùi hôi, mùi sữa, mùi hương hoa hay mùi rêu, mùi
ẩm mốc, nhưng đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài, còn sự miêu tả bên trong nữa là miêu tả tâm trạng vui, buồn, yêu, ghét của con người, con vật
và cả cây cỏ”.
Như vậy, đến với văn miêu tả thì các sự vật, hiện tượng, con người hiện
ra một cách cụ thể và sinh động Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho người nghe người đọc hình dung một cách rõ nét,
cụ thể về người, vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống Qua văn miêu tả chúng ta có thể hình dung được quá trình vận động cũng như những thứ vô hình như âm thanh, mùi vị, màu sắc Một bài văn miêu tả hay không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng được miêu tả Bởi vì trong thực tế không ai tả mà để tả, mà thường tả
để gửi gắm suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá và thể hiện những yêu ghét cụ thể của mình Bàivăn miêu tả còn là kết tinh của những quan sát tinh tế, những rung động sâu sắc, những ấn tượng đặc biệt mà người viết đã góp nhặt qua
Trang 10khả năng quan sát nhạy bén, sự phong phú của trí tưởng tượng và một tâm hồn nhạy cảm.
Văn tả cảnh là một trong những thể loại của văn miêu tả, văn tả cảnh nêu ra những đặc điểm cụ thể, đặc trưng của những cảnh vật quen thuộc xung quanh cuộc sống của học sinh: một dòng sông, một cánh đồng, một góc phố, những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của đất nước Mỗi cảnh đều nằm trong một không gian và thời gian, đó là cái nền cho cảnh vật được miêu tả Văn miêu tả cảnh không những tập trung tả những nét tiêu biểu của cảnh làm cho nó khác với cảnh khác mà còn làm cho người đọc cảm nhận được cảm xúc, tình cảm của người viết cảnh vật
Ví dụ: Đoạn văn miêu tả quang cảnh làng mạc ngày mùa của Tô Hoài:
“Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn hoa màu vàng - những màu vàng rất khác nhau.
Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cứng và sáng ngày ra thì trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại Nắng nhạt ngả màu vàng hoe Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt
bồ đề treo lơ lửng Từng chiếc lá mít vàng ối Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại
mở năm cánh vàng tươi Buồng chuối đốm quả chín vàng Những tàu lá chuối vàng ối xõa xuống như những đuôi áo, vạt áo Nắng vườn chuối đương có gió lẫn với lá vàng như những vạt áo nắng, đuôi áo nắng, vẫy vẫy Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn Quanh đó, con
gà, con chó cũng vàng mượt Mái nhà phủ một màu rơm vàng mới, lác đác cây lụi có những chiếc lá đỏ Qua khe giậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chói Tất cả đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng Không còn cảm giác héo tàn hanh hao lúc sắp bước vào mùa đông Hơi thở của đất trời, mặt nước thơm thơm, nhè nhẹ Ngày không nắng, không mưa, hồ như không ai tưởng đến
Trang 11ngày đêm, mà người ta chỉ mải miết đi gặt, kéo đá, cắt rạ, chia thóc Hợp tác xã Ai cũng vậy, cứ buông bát đũa lại đi ngay, cứ trở dậy là ra đồng ngay”.
(Tiếng Việt 5, Tập 1)
1.2 Đặc điểm của văn miêu tả
1.2.1 Văn miêu tả là thể văn sáng tác
Văn miêu tả là một dạng văn bản nghệ thuật được dạy trong chương trình Tiểu học Văn miêu tả không phải là sự sao chép hay thu lượm thông tin một cách máy móc mà là kết quả của sự quan sát, nhận xét, tinh tế của mỗi người trước cùng một cảnh vật, một đối tượng
Văn miêu tả thể hiện “cái tôi” của mỗi người Trước một sự vật, hiện tượng giống nhau nhưng mỗi người có một cách quan sát, một cách đánh giá, cách thể hiện tình cảm khác nhau tùy thuộc vào vốn kiến thức, kinh nghiệm vốn có và tâm lý tính cách của mỗi người.Mỗi bài văn miêu tả là một sản phẩm riêng biệt không lặp lại ở người khác, là thể hiện cách nhìn, cách cảm của người viết đối với đối tượng được tả
Phillippe Hamon cho rằng: “Năng lực miêu tả là một năng lực đặc biệt phản ánh niềm mê sáng tạo của người nghệ sĩ Nó có những lối vẽ và những quan niệm riêng Bức vẽ đó phải tác động vào độc giả”.
Trần Đăng Khoa nhìn trăng với con mắt tinh tế, bằng tình yêu của tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên trong sáng:
Trăng hồng như quả chín Lửng lơ lên trước nhà
Cùng miêu tả về trăng, nhưng nhà thơ Êxênhin (Nhà thơ Nga thế kỷ
XX) lại có những gì rất thân thuộc, mộc mạc nhưng cũng hết sức thú vị: “Mặt trăng đã ló qua mái rạ / Giống như con chó nhỏ yêu thương”.
Với Hàn Mặc Tử, “trăng” lại gắn với hình ảnh mang tính nhục thể:
“Trăng nằm sóng soải trên cành liễu / Đợi gió đông về để lả lơi…”
Trang 12Trong “Mảnh trăng cuối rừng”, Nguyễn Minh Châu miêu ta “trăng” với nét vẽ tinh tế, trong sáng và hết sức lãng mạn: “Mảnh trăng khuyết đứng yên ở cuối trời, sáng trong như một mảnh bạc…”.
Cùng một vầng trăng nhưng mỗi người lại có một cách quan sát và cách tả khác nhau nhưng đều đúng và đều hay và đó cũng là sự sáng tạo riêng của mỗi tác giả
Hay với Vích-to Huy-go khi nhìn một bầu trời đầy sao thấy như một cánh đồng lúa chín Còn Mai-a cốp-xki thì lại nhìn thấy ngôi sao như giọt nước mắt của người da đen đang khóc Lênin khi biết Lênin vừa qua đời Với Ia-ga-ga-rin thì lại thấy vì sao như những hạt giống mới mà loài người gieo vào vũ trụ Như vậy, đều là miêu tả về những vì sao nhưng mỗi tác giả lại khoác lên những ngôi sao đó những chiếc áo riêng
Như vậy hiện thực cuộc sống là kho đề tài vô tận để người nghệ sĩ khám phá, phát hiện nhưng đối với mỗi cây bút, nó lại được chiếu rọi dưới một ánh sáng riêng Cùng miêu tả về hình ảnh trăng nhưng mỗi nhà văn lại
có những cách thức miêu tả khác nhau Điều đó đưa đến cho người đọc có những khám phá mới lạ, bất ngờ và thú vị về sự vật tồn tại xung quanh cuộc sống
1.2.2 Tính chân thật trong văn miêu tả
Bất kỳ một tác phẩm nào cũng đòi hỏi tính chân thật Bởi thế tác giả phải nhúng ngòi bút của mình vào nghiên mực của cuộc đời, phải lặn sâu vào đại dương cuộc sống, không phải để nhặt nhạnh những mảnh san hô tầm thường mà để tìm cho được những viên ngọc trai lấp lánh Với văn miêu tả cũng vậy, miêu tả cần phải có tính cụ thể, sinh động, tính sáng tạo, nhưng cũng rất cần tính chân thực Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo của người viết nhưng không có nghĩa là cho phép người viết “bịa” một cách tùy ý Miêu tả dù có sáng tạo đến bao nhiêu đi
Trang 13chăng nữa nhưng không được xa rời bản chất của đối tượng miêu tả Văn miêu tả của Tô Hoài là một ví dụ tiêu biểu, bằng con mắt quan sát tỉ mỉ, khả năng bao quát sự vật, hiện tượng, tác giả đã dựng nên một thế giới loài vật sống động và hết sức chân thực:
“Chuồn Chuồn chúa lúc nào cũng dữ dội, hùng hổ nhưng kỳ thực trong kỷ đôi mắt lại rất hiền Chuồn Chuồn Ngô nhanh thoăn thoát, Chuồn Chuồn ớt rực rỡ trong trong bộ quần áo đỏ chót giữ ngày hè chói lọi… Chuồn Chuồn Tư có đôi cánh kép vàng điểm đen…
(Dế Mèn phiêu lưu kí)
Dưới ngòi bút của Võ Quảng, ta được ngắm hình ảnh của ba chú gà trống một cách rõ nét, chân thật như đang hiện ra trước mắt người đọc Ba chú gà trống với mỗi chú một dáng vẻ, tính cách riêng:
“Chợt con gà trống ở phía nhà bếp nổi gáy Tôi biết đó là con gà của anh Bốn Linh Tiếng nó dõng dạc nhất xóm Nó nhón chân bước từng bước oai vệ, ức ưỡn ra đằng trước Bị chó Vện đuổi, nó bỏ chạy Đột ngột nó quay lại nện chó Vện một đá vào đầu rồi nhảy phốc lên cổng chuồng trâu đứng nhìn xuống tỏ vẻ phớt lờ Nó nổi gáy như thách thức:
- Tao không sợ ai hết!
Sau gà anh Bốn Linh, gà của ông Bảy Hóa gáy theo Con gà của ông Bảy Hóa hay bới bậy Nó có bộ mã khá đẹp, lông trắng, mỏ búp chuối, mào cờ, hai cánh như hai vỏ trai úp nhưng lại hay tán tỉnh láo toét Nó đến chỗ bờ tre mời bọn gà mái theo nó để nó đãi giun Bới được con giun nào, nó lấy mỏ kẹp
bỏ ra giữa đất kêu tục tục mời bọn gà mái đến xơi Bọn này vừa xô đến, nó đã nuốt chửng con giun vào bụng Sau gà ông Bảy Hóa, gà bà Kiến nổi gáy theo
Gà bà Kiến là gà trống tơ, lông đen, chân chì, có bộ giò cao, cổ ngắn Nó nhảy tót lên cây rơm thật cao, phóng tầm mắt nhìn quanh như muốn mọi người hãy chú ý, nó sẽ gáy một hồi thật to, thật dài Nó xòe cánh, nghểnh cổ, chuẩn bị
Trang 14chu đáo, nhưng rốt cuộc chỉ rặn được ba tiếng éc, e, e cụt ngủn Nó ngượng quá đỏ chín mặt, hấp tấp nhảy xuống đất Gà trong làng nổi gáy loạn xị
(Dẫn theo Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở TH
-Nguyễn Trí - Tr 23) Như vậy, các đối tượng được miêu tả hiện ra với những gì vốn tồn tại trong hiện thực nhưng không hề khô cứng mà lại hết sức sinh động và cụ thể Văn miêu tả cho phép chúng ta sử dụng các biện pháp nghệ thuật để miêu tả các đối tượng một cách sinh động hơn, ấn tượng hơn nhưng không vì thế mà chúng ta cường điệu hóa lên, gây sự sáo rỗng cho bài văn Không thể tả con
gà trống to bằng cái thùng phuy, bông hoa hồng có màu sắc rực rỡ như ánh mặt trời Bất kì bài văn nào dù hay đến mấy cũng phải để cho đối tượng được miêu tả hiện lên với những đặc điểm, bản chất của nó và tất nhiên những đặc điểm đó phải được chọn lọc một cách tinh tế và khéo léo Một nhà văn đã nói
về cái giả và cái thật như sau:
“Giả và thật cũng giống như 2 cái dây điện có mắc bóng điện đâu vào đấy Nhưng bấm một cái thì bóng điện này sáng còn bóng điện kia tối vì một bên có điện (thật) còn một bên thì không (giả)”.
Nhờ có tính chân thật mà mỗi khi đọc những bài văn miêu tả chúng ta được gặp lại những sự vật, đối tượng gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống Có
gì hay và dễ đi vào lòng người bằng cái thật Tính chân thật trong văn miêu tả làm nên thế đứng của mỗi bài văn trong lòng người đọc
1.2.3 Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Sinh động và tạo hình là một đặc trưng và tiêu chí để đánh giá một bài văn miêu tả hay Đặt trưng này thực ra là hệ quả của tính cụ thể, sinh động, chân thực và sáng tạo trong miêu tả Nó đòi hỏi người viết dù có miêu tả đối tượng nào ở góc độ nào cũng phải tạo được sự hấp dẫn, truyền cảm đối với người đọc Muốn vậy, khi miêu tả, các em phải thổi vào đó hơi thở của cảm
Trang 15xúc, biến đổi miêu tả trở nên có hồn, nếu không nó đơn thuần chỉ là những dòng chữ khô khan, lạnh lùng, không để lại ấn tượng gì cho độc giả.
M Gorki đã phân tích: “Dùng từ để “tô điểm” cho người và vật là một việc Tả họ một cách sinh động, cụ thể đến nỗi người ta muốn lấy tay sờ, như
người ta thường muốn sờ mó các nhân vật trong Chiến tranh và hòa bình của
Lép- Tôn- xtôi, đó là một việc khác”
Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phong cảnh, con người miêu tả trong đó hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng có thể cầm nắm được, nhìn ngắm
được Trong Những chiếc ấm đất của Nguyễn Tuân, đoạn miêu tả cảnh
người đầy tớ già gánh nước từ trên chùa về làng là một đoạn miêu tả giàu chất tạo hình Đoạn này kiệm lời, kiệm chi tiết nhưng sức gợi trong tâm tưởng người đọc lại lớn
“Trên con đường đất cát khô nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt và thẫm máu Những hình sao ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát”.
Nhà văn Nguyễn Tuân trong tùy bút “Người lái đò Sông Đà” với nét
vẽ tài hoa tinh tế của mình đã biến dòng sông Đà vô tri thành một sinh thể sống, có linh hồn, sống động Người đọc không thể nào quên hình ảnh dòng
Đà Giang đẹp mê hồn:
“Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban gạo tháng hai và cuồn cuộn mùi khói núi Mèo đốt nương xuân… Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh cánh hến của sông Gâm, sông Lô Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa,
lừ lừ cái màu đỏ giận giữ ở một người bất mãn bục bội gì mỗi độ thu về”
Trang 16Chỉ bằng mấy nét phác thảo dòng sông Đà đã hiện lên thật cụ thể, sinh động, bằng cách so sánh tài tình, sáng tạo, tác giả đã giới thiệu cho người đọc thấy vẻ đẹp của sông Đà giang giống như mái tóc dài mềm mại buông xuống của người thiếu nữ, nhà văn còn miêu tả được sự thay đổi về màu sắc của
sông theo mùa: mùa xuân thì sông “xanh ngọc bích”, mùa thu thì “lừ lừ chín
đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa” Thật là một bức tranh hài hòa về
đường nét và màu sắc, rất giàu cảm xúc, khơi gợi và mở rộng khả năng liên tưởng của người đọc
Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây ấn tượng Tước bỏ chúng đi, bài miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị, thậm
chí trơ ra bộ xương khô Đọc nó ta “tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt nhạt của một người không còn sinh khí”.
rong miêu tả để làm nổi bật đối tượng quan sát, người ta thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa:
Ví dụ: Sử dụng biện pháp so sánh:“Trăng tròn như cái đĩa” (Trần Đăng Khoa) hay Những bông gạo như những đốm lửa giữa trời.
Trong bài “Sầu riêng” của Mai Văn Tạo, hình ảnh so sánh được xuất
hiện rất nhiều:
“Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn Hoa đậu từng chùm, màu trắng ngà Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy
li ti giữa những cánh hoa Mỗi cuống hoa ra một trái Nhìn trái sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông giống những tổ kiến”
(Dẫn theo Tiếng Việt 4, Tập 2, Trang 34)
Và để làm tăng sự uyển chuyển, mềm mại khi diễn đạt người viết thường sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, nhân hóa để tả bên ngoài, có khi để
tả tâm trạng
Trang 17Ví dụ: Nhà văn Tô Hoài tả hình dáng bên ngoài của chào mào: “Mắt,
mỏ Chào Mào nhâng nháo, phởn phơ Đứng đâu cũng nhún nhảy làm điệu
Đã thế đỉnh đầu lại chênh vênh đội lệch cái mũ nhung đen nháy”
Đàn bò của Hồ Phương mang những nét tính nết của con người: “Con
Ba Bớp phàm ăn tục uống nhất… Con Hoa hùng hục ăn Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ…, cu Tũn dở hơi chốc chốc lại ăn tranh mảng cỏ của mẹ, chị Vàng lại dịu dàng nhường cho nó.”
Khi tả một ngày mùa, người ta có thể hình dung: “Máy tuốt to lù lù đững giữa sân kho, kêu tành tạch Người ta nhét những ôm lúa vào miệng nó
Nó nhằn nhằn một thoáng rồi phì rơm ra” Tả dòng sông trong các thời điểm
khác nhau, Nguyễn Trọng Tạo viết:
“Dòng sông mới điệu làm sao Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha.
Trưa về trời rộng bao la
Áo xanh sông mặc như là mới may”.
Như vậy, với việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh làm cho bài văn miêu tả thêm sức sống, phập phồng hơi thở và làm cho người đọc thấy thú vị hơn với các đối tượng được miêu tả Nếu bài văn miêu tả thiếu
đi tính sinh động và tạo hình thì chẳng khác nào một bài khoa học nghiên cứu
Trang 18tượng được miêu tả cũng được người viết đánh giá chúng theo quan điểm thẩm mĩ, cũng gửi vào bài viết ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luận của mình Do vậy từng chi tiết của bài miêu tả đều mang ấn tượng cảm
xúc chủ quan Khi đọc hai câu thơ: Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc / Đầm đìa
lá liễu giọt sương reo chắc hẳn người đọc nhận ra chủ nhân của nó trên là nữ
thi sĩ Hồ Xuân Hương Bởi trong hai câu thơ nêu trên mang rõ dấu ấn cá tính của nhà thơ qua các chi tiết vừa giàu tính tạo hình vừa giàu sức sống tiềm
tàng: lắt lẻo, cơn gió thốc, đầm đìa, giọt sương reo.
Miêu tả trong phân môn Tập làm văn khác hẳn với miêu tả trong môn
Tự nhiên và xã hội Đọc hai đoạn văn cùng tả con bướm chúng ta nhận thấy
sự khác biệt Đoạn thứ nhất trích từ sách học sinh:
“Thân bướm có 3 phần: đầu, ngực, bụng Phần ngực có bốn cánh, sáu chân Bướm bay được nhờ hai đôi cánh là hai mảng rộng bản Chúng có vảy phấn bao phủ nên không trong như cánh chuồn chuồn”.
Đoạn này ta thấy các chi tiết hiện ra thật chính xác nhưng thật lạnh lùng, cảm xúc của người viết không thể hiện ở đây Và ở đây chỉ mới nêu
ra được đặc điểm chung của loài bướm còn bỏ qua đặc điểm riêng của từng con bướm
Đoạn thứ hai trích từ một tác phẩm văn học của Vũ Tú Nam được dùng
làm bài tập đọc có tựa đề Những cánh bướm bên sông (Tiếng việt 4).
“Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn bên sông bắt bướm Chao ôi, những con bướm đủ hình dáng, đủ màu sắc Con xanh biếc pha đen như nhung bay loang loáng Con vàng sẫm nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như trôi trong nắng Con bướm quạ to bằng bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn vẻ dữ tợn Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng Loại bướm nhỏ đên kịt, là là theo chiều gió, hệt như tàn than
Trang 19của những đám đốt nương Còn lũ bướm vàng tươi xinh xinh của những vườn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông”.
Ngay từ đầu đoạn miêu tả, tình cảm của tác giả với những cánh bướm
đã được thể hiện Đó là sự yêu thích, say mê bộc lộ qua hành động tha thẩn
bên bờ sông để bắt bướm, qua câu: Chao ôi, những con bướm đủ hình dáng,
đủ màu sắc Đặc điểm của từng con bướm hiện lên rõ nét hòa quyện với niềm
say mê, yêu thiên nhiên của tác giả Có yêu thiên nhiên đến thế tác giả mới có
thể tả màu sắc, hình dáng và có những liên tưởng độc đáo “Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng Loại bướm nhỏ đen kịt, là là theo chiều gió, hệt như tàn than của những đám đốt nương”.
Trong đoạn miêu tả vẻ đẹp của hoa mai, tác giả Lê Tấn viết:
“Đúng là hoa mai đẹp thật Hoa mai tỏa ra năm cánh, nhưng cánh hoa thì xếp có một tầng, không chồng lên nhau nhiều lớp như hoa đào Nụ mai không chúm chím phô hồng như nụ đào mà ngời xanh như màu ngọc bích Khi nở, cánh hoa xòe ra mịn màng như lụa, ánh lên một sắc vàng muốt, nuột nà và “thấp thoáng” một mùi hương Dưới ánh sáng mặt trời, những cánh hoa mai mịn màng ấy tưởng như trong suốt có thể nhìn xuyên qua được Khác hoa đào, hoa mai không mọc sát cành và đơm đặc Hoa mai treo trên cuống dài, trổ từng chùm thưa thớt Đứng trước một cành mai rung rinh trước gió, ta dễ liên tưởng đến hình ảnh một đàn bướm rập rờn”.
(Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở TH - Nguyễn Trí - Tr 87)
Ở đây, ta bắt gặp ngay cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp của hoa mai:
“Đúng là hoa mai đẹp thật” Chắc hẳn ai cũng đã một lần được ngắm nhìn
hoa mai nhưng có lẽ để quan sát kĩ hoa mai thì chưa Phải yêu hoa mai lắm tác giả mới ngắm kĩ hoa mai đến như vậy, nhận ra vẻ đẹp của hoa mai khác hẳn với những hoa khác Bông hoa mai hiện ra thật đẹp, thật rõ nét như một
bức ảnh chụp gần hoa mai tỏa ra năm cánh, nhưng cánh hoa thì xếp có một
Trang 20Chỉ có niềm say mê mới giúp tác giả có những so sánh ấn tượng, tinh tế: màu
hoa ngời xanh như màu ngọc bích, cánh hoa xòe ra mịn màng như lụa, ánh lên một sắc vàng muốt, nuột nà và “thấp thoáng” một mùi hương Tuy đã rất
quen thuộc, gần gũi với chúng ta nhưng có lẽ đến với những câu văn của Lê Tấn ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp của hoa, được cảm nhận hương hoa bằng “thị giác” Với tình yêu thiên nhiên tha thiết của mình, tác giả đã giúp người đọc
có cảm giác như đang nhìn ngắm, nâng niu bông hoa mai trên tay
1.2.5 Ngôn ngữ của văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Ngôn ngữ trong văn miêu tả là yếu tố quan trọng làm nên sức sống của bài văn Khác với những văn bản khoa học, ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ được trau chuốt, chọn lọc, giàu cảm xúc và hình ảnh, có thể gây ấn tượng mạnh, tác động sâu xa trong trí tưởng tượng và cảm nhận của người đọc Có như thế thì ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tả cảm xúc của người viết, vẽ được một cách sinh động, tạo hình đối tượng miêu tả Ngôn ngữ trong văn miêu tả là sự phong phú đa dạng của các động từ và tính từ đan xen nhau tạo thành những hạt pha lê lấp lánh trong văn miêu tả Ngôn ngữ miêu tả là những cung bậc trong bài văn Tạo nên màu sắc của cảm xúc và hình ảnh người ta còn phối hợp tính từ, động từ với nhiều biện pháp so sánh, nhân hóa và ẩn dụ Mặc dù nghệ thuật miêu tả không phải chỉ tạo hình ảnh nhưng ma thuật của hành văn, sự sống của bài văn miêu tả lại nằm trong hình ảnh Hình ảnh thật sự là một cách viết văn mạnh mẽ, một phương thức làm cho sự vật trở nên nhạy cảm hơn Nhiều biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa tạo nên hình ảnh ngôn ngữ
Ẩn dụ là một hình ảnh tạo nên sự so sánh ngầm: mùa xuân cuộc đời, cứng người vì sợ hãi.
So sánh: Trăng tròn như cái đĩa/ Lơ lửng mà không rơi (Trần Đăng
Khoa)
Trang 21Nhân hóa: Những nụ đào đang hé môi cười với nắng xuân.
Như vậy, để làm nên màu sắc cho ngôn từ, chúng ta thường sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật trong bài văn miêu tả Từ đó làm bật lên đối tượng được miêu tả, làm cho bài văn hấp dẫn hơn
Chúng ta cùng chiêm ngưỡng ánh sáng lấp lánh của ngôn từ giàu cảm
xúc và hình ảnh trong “Đường đi Sa Pa”:
“Xe chúng tôi leo chênh vênh trên dốc cao của con đường xuyên tỉnh Những đám mây trắng nhỏ sà xuống cửa kính ô tô tạo nên cảm giác bồng bềnh huyền ảo Chúng tôi đang đi bên những thác trắng xóa tựa mây trời, những rừng cây âm âm, những bông hoa chuối rực lên như ngọn lủa Tôi lim dim mắt ngắm mấy con ngựa đang ăn cỏ trong một vườn đào ven đường Con đen huyền, con trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng, chùm đuôi cong lướt thướt liễu rủ.
Buổi chiều, xe dừng lại ở một thị trấn nhỏ Nắng phố huyện vàng hoe Những em bé Hmông, những em bé Tu Dí, Phù Lá cổ đeo móng hổ, quần áo sặc sỡ đang chơi đùa trước cửa hàng Hoàng hôn, áp phiên của phiên chợ thị trấn, người ngựa dập dìu chìm trong sương núi tím nhạt.
Hôm sau chúng tôi đi Sa Pa Phong cảnh ở đây thật đẹp Thoắt cái, lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu Thoắt cái, trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý.
Sa Pa quả là món quà tặng kì diệu mà thiên nhiên dành cho đất nước ta.
(Theo Nguyễn Phan Hách, Tiếng Việt 4- Tập 2)
Với nghệ thuật sử dụng ngôn từ tài tình, tác giả đã vẽ lên bức tranh phong cảnh Sa Pa, làm cho cảnh rực rỡ, lộng lẫy sắc màu, hài hòa, tự nhiên
Không chỉ vậy, nó còn tạo nên giá trị biểu cảm, gợi hình gợi nét và “gợi cho
Trang 22người đọc cảnh hiện ra như thật” (Hà Minh Đức) Vẻ đẹp của Sa Pa hiện ra
với vẻ đẹp mê hồn, lung linh và kì diệu Đặc biệt rất khó để có thể chụp hay
vẽ lại được bức tranh phong cảnh Sa Pa có cả 3 mùa trong năm, nhưng tác giả
đã cho người đọc thưởng thức được vẻ đẹp kỳ diệu đó của Sa Pa bằng ngôn từ
giàu cảm xúc và hình ảnh: Thoắt cái, lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu Thoắt cái, trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận Thoắt cái, gió xuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý.
Nếu không dùng ngôn từ giàu cảm xúc và hình ảnh để vẽ thì chắc hẳn bức tranh về Sa Pa chỉ là những nét phác thảo lạnh lùng và đơn điệu
1.3 Đặc điểm của văn tả cảnh
Ngoài những đặc điểm chung của văn miêu tả thì văn tả cảnh trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học còn có những đặc điểm sau:
1.3.1 Đối tượng của văn tả cảnh
Mỗi kiểu bài văn miêu tả lại có đối tượng miêu tả riêng Văn tả cảnh có đối tượng là những cảnh vật quen thuộc xung quanh các em: một cơn mưa, một ngày nắng đẹp, một đêm trăng đẹp, một dòng sông, một cánh đồng, một góc phố,…
Đã từ lâu, thiên nhiên đã được con người miêu tả làm nên những bức tranh phong cảnh hữu tình bằng ngôn từ Đây, cảnh đồng chiêm lung linh nắng vàng:
“Đồng chiêm phả nắng lên không Cánh cò dẫn nắng qua thung lúa vàng”
Còn đây, cảnh hiện ra dưới ngòi bút của Quang Dũng hiện ra thật sống động, như người đọc đang từng bước đi trên những sườn núi, con dốc của vùng cao Tây Tiến:
Trang 23“Dốc lên khúc khủy dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha luông mưa xa khơi”.
Hoặc cảnh một cơn mưa: “Mưa đến quá nhanh Gió thổi mỗi lúc một mạnh, cơn mưa ào ào kéo tới Mưa sầm sập Mưa trút nước ào ào Đất trời
mù mịt trong màn mưa trắng xóa Mưa trút xuống mái nhà, tuôn ào ào xuống cái máng nước, chảy tràn ra đầy sân, đầy ngõ Mưa rơi bùng bùng trên lá sen xanh Mưa gõ trống bong bong vô hồi kỳ trận trên lá chuối tơ Cây cối hả hê đón cơn mưa rào đầu hạ, được tắm mát và uống nước thỏa thích”.
1.3.2 Nội dung miêu tả
Mỗi cảnh đều nằm trong một khung không gian và thời gian, đó là cái nền cho cảnh vật được miêu tả với cảnh khác Mỗi cảnh bao gồm nhiều bộ phận Trong các bộ phận ấy có khi có những đồ vật (giường, tủ trong nhà, bút, sách vở ) có khi có con vật (con bướm đang chập chờn trong vườn hoa, con trâu kéo cày giữa đồng ), có khi có cây cối (cây lúa trên cánh đồng, cây phượng trên sân trường ) và có cả con người với những hoạt động của họ (cô công nhân đang làm việc trên công trường, bác nông dân đang cày cấy ) Bài
tả cảnh cần tả đan xen, lồng những bộ phận đó vào để bài văn thêm sinh động nhưng không xem chúng là chủ yếu Nổi bật trong bài phải là cảnh cần tả: Cảnh thiên nhiên hay cảnh nhân tạo
Cảnh thiên nhiên thường gồm trời, mây, nước, cây cối, địa hình của một khu vực, một cánh đồng, một cánh rừng, một quả đồi, một con đường Đây là cảnh cơn mưa rào:
“Mưa đến rồi, lẹt đẹt lẹt đẹt mưa giáo đầu Những giọt nước lăn xuống mái phên nứa: mưa thực rồi Mưa ù xuống khiến mọi người không tưởng được là mưa lại kéo đến chống thế Lúc nãy là mấy giọt lách tách,
Trang 24bây giờ bao nhiêu nước tuôn rào rào Nước xiên xuống, lao xuống, lao vào trong bụi cây Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy Con gà sống ướt lướt thướt ngật ngưỡng tìm chỗ trú Mưa xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nước tỏa trắng xóa Trong nhà bỗng tối sầm, một mùi nồng ngai ngái, cái mùi xa lạ, man mác của những trận mưa mới đầu mùa Mưa rào rào trên sân gạch Mưa đồm độp trên phên nứa, đập bùng bùng vào lòng lá chuối Tiếng giọt tranh đổ ồ ồ
Nước chảy đỏ ngòm bốn bề sân, cuồn cuộn dồn vào các rãnh cống
đổ xuống ao chuôm Mưa xối nước được một lúc lâu thì bỗng trong vòm trời tối thẫm vang lên một hồi ục ục ì ầm Tiếng sấm, tiếng sấm của mưa mới đầu mùa
Mưa đã ngớt Trời rạng dần Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào
đó bay ra hót râm ran Mưa tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh.
Theo Tô Hoài.
Cảnh nhân tạo thường là cảnh một ngôi nhà, ngôi trường, vườn rau Đây là cảnh một khu phố trong sớm mai:
“Mảng thành phố hiện ra trước mắt tôi đang biến màu trong bước chuyển huyền ảo của rạng đông Tầng tầng, lớp lớp bụi hồng ánh sáng đã tràn lan khắp không gian như thoa phấn trên những tòa nhà cao tầng của thành phố khiến chúng trở nên nguy nga, đậm nét Màn đêm đang lắng dần rồi chìm vào đất”.
(Nguyễn Mạnh Tuấn)
Như vậy, cảnh miêu tả rất đa dạng Mỗi cảnh lại có phần trọng tâm, có miêu tả được phần đó mới làm nổi lên cảnh cần tả: tra một ngọn núi thì tả phần núi kĩ hơn Không nên sa vào các cảnh phụ, thứ yếu Tả con đường từ
Trang 25nhà đến trường không thể sa đà, say sưa tả một cái cây cụ thể mà quên mất việc tả con đường, tả cảnh vật hai bên đường.
Có rất nhiều bộ phận, chi tiết trong một cảnh nhưng khi tả không nên theo lối liệt kê, tả cho đầy đủ các bộ phận mà cần chọn những chi tiết đặc sắc, nổi bật nhất về màu sắc, âm thanh, hương vị của người, vật, cây cối có trong cảnh Tả mùa thảo quả, Ma Văn Kháng chú ý làm nổi bật đặc trưng của thảo quả đó là mùi hương Không gian cảnh vật như được ướp trong hương thảo quả ngào ngạt:
Mùa thảo quả
“Thảo quả trên rừng Đản Khao đã vào mùa.
Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San Gió thơm Cây cỏ thơm Đất trời thơm Người đi từ rừng thảo quả
về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn.
Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục Chẳng có thứ quả nào hương thơm lại ngây ngất kì lạ đến như thế Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả gieo đất rừng, qua một năm, đã lớn cao tới bụng người Một năm sau nữa, từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới Sự sinh sôi sao mà mạnh mẽ vậy Thoáng cái, dưới bóng râm của rừng già, thảo quả lan tỏa nơi tầng rừng thấp, vươn ngọn, xòe lá, lấn chiếm không gian ”.
(Tiếng Việt 5- Tập 1- Tr 113)Như vậy, qua đoạn văn tả cảnh rừng thảo quả nhưng tác giả đã
dành phần lớn để nói về mùi hương đặc trưng của thảo quả: hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng, mùi hương này ướp cho cả khu rừng, đến mức gió thơm Cây cỏ thơm Đất trời thơm hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn.
Trang 26Người đọc như được sống trong rừng thảo quả đang chín, tưởng như
đang chìm ngập trong hương thơm Hương thơm ngào ngạt đến nỗi: Người đi
từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn.
Chỉ tập trung nói về hương thảo quả nhưng đoạn văn đã gây được ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc về mùa thảo quả, đó là điểm nhấn quan trọng cho toàn bộ bài văn
1.3.3 Ngôn ngữ trong văn miêu tả cảnh
Cũng như các loại thể văn miêu tả khác, văn tả cảnh cũng có những đặc điểm riêng của mình về ngôn ngữ miêu tả Ở bài tả cảnh, các tính từ chỉ màu sắc, hình khối, tính chất , các từ tượng thanh và tượng hình, các phép so sánh, nhân hóa, ẩn dụ , đều được huy động Chúng phối hợp với nhau, đan cài vào nhau dệt nên bức tranh phong cảnh bằng ngôn từ nhiều màu sắc, có góc cạnh Ngôn ngữ trong văn tả cảnh là thứ ngôn ngữ giàu sức gợi cảm và là ngôn ngữ đã được gọt giũa một cách công phu
Sau trận mưa rào
“Không gì đẹp bằng cây lá vừa tắm xong, đang được mặt trời lau ráo, lúc ấy trông nó vừa tươi mát, vừa ấm áp Khóm cây, luống cảnh trao đổi hương thơm và tia sáng Trong tán lá mấy cây sung, chích chòe huyên náo, chim sẻ tung hoành, gõ kiến leo dọc thân cây dẻ, bửa mỏ lách cách trên vỏ Hoa cẩm chướng có mùi thơm nồng nồng Ánh sáng mạ vàng những đóa hoa kim hương, làm cho nó sáng rực lên như những ngọn đèn Quanh các luống kim hương, vô số bướm chập chờn trông như những tia sáng lập lòe của các đóa đèn hoa ấy.
Ánh sáng chan hòa làm cho vạn vật đầy tin tưởng Nhựa ngọt, mùi thơm, khí ấm, cuộc sống trăn trở Nhờ có cát nên không có một vết bùn, nhờ
có mưa nên không có bụi trên lá Cây cỏ vừa tắm gội xong, trăm thứ nhung, gấm, bạc, vàng bày trên cành hoa không một tí bụi Thật là giàu sang mà
Trang 27cũng thật là trinh bạch Cảnh vườn là cảnh vắng lặng của thiên nhiên tràn ngập hạnh phúc Vắng lặng thần tiên, vắng lặng mà dung hòa với nghìn thứ
âm nhạc, có chim gù, có ong vo ve, có gió hồi hộp dưới lá”.
V Huy- gô
(Dẫn theo Tiếng Việt 5, tập 1)
Dưới ngòi bút của V Huy- gô bức tranh hiện ra với vẻ đẹp trinh nguyên Rừng cây như được trút bỏ những bụi bặm thường ngày Sau cơn mưa, cảnh rừng hiện lên đẹp đầy màu sắc và âm thanh Những tính từ được sử
dụng: tươi mát, ấm áp, thơm nồng, sáng rực, ngọt, thơm, trinh bạch làm bật
lên vẻ đẹp đầy màu sắc của khu rừng Đan xen giữa sắc màu lung linh đó là
âm thanh của sự sống, là âm thanh rộn rã, vui tươi: của chim chích chòe, chim
sẻ, gõ kiến Các biện pháp nghệ thuật nhân hóa: Không gì đẹp bằng cây lá vừa tắm xong, đang được mặt trời lau ráo và nghệ thuật so sánh: sáng rực lên như những ngọn đèn vô số bướm chập chờn trông như những tia sáng lập lòe của các đóa đèn hoa ấy Tất cả được sử dụng đan xen với nhau tạo nên
một bức tranh thiên nhiên căn tràn nhựa sống, đẹp lung linh sang trọng mà rất
trinh bạch.
Và chúng ta cùng ngắm bức tranh thiên nhiên sinh động vào buổi chiều tối dưới sức mạnh của ngôn từ giàu hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh:
Trang 28Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen, phủ dần lên mọi vật.
Trong nhập nhoạng, thỉnh thoảng lại bật lên một mảng sáng mờ của ánh ngày vương lại Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi Có đôi ánh đom đóm chấp chới, lúc lên cao, lúc xuống thấp, lúc lại rơi xuống mặt cỏ không còn rõ hình cây lá nữa mà mịn màng hòa lẫn như một mặt nước lặng êm.
Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra, và tung tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.
Theo Phạm Đức
Với ngôn từ giàu hình ảnh, khung cảnh của buổi chiều tối hiện ra theo từng bước đi của thời gian một cách nhẹ nhàng Người đọc cảm nhận được chuyển động của bóng tối, bóng tối lan dần, vây lấy tất cả Với nghệ thuật sử dụng ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật đã làm nên ma lực của ngôn từ, người đọc như đang tận mắt dõi theo bước đi của thời gian, đó là điều đặc biệt
mà các lĩnh vực như hội họa, nhiếp ảnh không bao giờ làm được
1.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh TH với quá trình dạy học văn miêu tả
Trang 29tình cảm tích cực với điều thiện, lẽ phải, tình cảm đối với ông bà, cha mẹ Đặc điểm này khơi gợi cho các em có những miêu tả bất ngờ, thú vị.
1.4.2 Đặc điểm tư duy
Tư duy của học sinh Tiểu học là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và trở về thực tiễn Quá trình này sẽ gặp khó khăn nếu như học sinh không được quan sát kĩ về đối tượng miêu tả Vì vậy, có thể các em quan sát qua tranh ảnh hoặc vật thật nhưng đòi hỏi đối tượng miêu tả luôn luôn phải gần gũi, quen thuộc với các em, từ đó mới giúp nội dung được miêu tả chân thực và sinh động học sinh thể hiện được cảm xúc của mình một cách chân thật và tự nhiên
1.4.3 Đặc điểm tình cảm, cảm xúc
Một đặc điểm nữa là tâm lý các em lứa tuổi Tiểu học rất nhạy cảm, đời sống tình cảm của các em rất phát triển cho nên các em thường biểu hiện cảm xúc trong khi tri giác trực tiếp các sự vật, hiện tượng Những triết lý khô khan, trừu tượng rất khó gây cho các em có cảm xúc tích cực
Qua đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học cho ta thấy lứa tuổi các em rất phù hợp với việc học văn miêu tả Những đặc điểm đó sẽ tạo điều kiện cho các em học tập tốt văn miêu tả Và ngược lại, học tốt văn miêu tả sẽ giúp các em hoàn thiện hệ thống kỹ năng làm văn, có điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, xã hội Từ đó góp phần hình thành thế giới quan và nhân sinh quan khoa học đúng đắn cho các em
Trang 30Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1, chúng tôi trình bày cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, gồm các khái niệm và đặc điểm của văn miêu tả, văn tả cảnh cũng như đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học ảnh hương đến việc dạy và học văn miêu tả Cơ sở lý luận là căn cứ khoa học vững chắc cho vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý luận có vai trò quan trọng trong việc đề ra các phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 5 luyện tập văn tả cảnh một cách phù hợp và hiệu quả
Trang 31Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh về văn miêu tả cảnh
2.1.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về văn tả cảnh
Qua việc dự giờ các tiết dạy và tiếp xúc với giáo viên, học sinh từ các
kỳ kiến tập, trong thời gian thực tập Chúng tôi đã nhận thấy những mặt tích cực và hạn chế của giáo viên trong quá trình dạy học văn miêu tả nói chung
và văn tả cảnh nói riêng Từ đó chúng tôi đưa ra kết luận về những tồn tại trong thực tiễn dạy học văn tả cảnh ở Tiểu học một phần xuất phát từ nhận thức chung của giáo viên về lý thuyết văn miêu tả
Chúng tôi đã điều tra, khảo sát 20 giáo viên ở trường Tiểu học Phương Điền - Xã Phương Điền Kết quả điều tra được tính bằng số phần trăm giáo viên trả lời đúng các câu hỏi
Bảng điều tra thực tế dạy học văn tả cảnh lớp 5
TT Nội dung điều tra đúng / phù hợp Số GV trả lời Phần trăm
3 Nắm được những lỗi sai khi HS làm văn tả cảnh 12 60%
5 Nắm được phương tiện dạy học chính trong tiết
7 Biết được cách thức chấm bài Tập làm văn 5 25%
8 Nắm được yêu cầu cần đạt của tiết dạy quan sát và
9 Đưa ra những ý kiến để hoàn thiện kỹ năng làm
Trang 32Như vậy, qua kết quả đã điều tra trên bảng, ta thấy:
- Giáo viên nắm được những lỗi sai của học sinh khi làm văn tả cảnh có
số phần trăm cao nhất chứng tỏ hầu hết giáo viên đã bám sát từng bài làm của học sinh
Tuy nhiên, số giáo viên nắm được lý thuyết về văn miêu tả, văn tả cảnh cũng như phương pháp và phương tiện dạy học lại không quá mức trung bình Điều này cho thấy hầu hết các giáo viên chưa được trang bị đầy đủ về kiến thức lý thuyết của văn miêu tả nói chung và văn tả cảnh nói riêng Đặc biệt số giáo viên đưa ra những ý kiến đề xuất là 0%, qua đây cho thấy một thực trạng đáng lo ngại là giáo viên chưa có sự đầu tư, tìm tòi sáng tạo cho những tiết dạy của mình, chưa đúc rút được kinh nghiệm cho những giờ dạy sau Cho nên mặc dù đã cố gắng nắm được chất lượng bài làm của học sinh nhưng giáo viên không có hướng điều chỉnh phù hợp, chưa đưa ra được những biện pháp
để nâng cao chất lượng dạy học
2.1.2 Thực trạng nhận thức của học sinh về văn miêu tả cảnh
Trong các đợt kiến tập và thực tập, tôi đã được dự giờ và giảng dạy một
số tiết Tập làm văn miêu tả, qua đó tôi thấy được những tích cực cũng như hạn chế của học sinh trong quá trình học văn miêu tả nói chung và văn tả cảnh nói riêng Từ thực tế đó, có thể đưa ra kết luận về nguyên nhân hạn chế của học sinh một phần xuất phát từ nhận thức chung của học sinh về lý thuyết văn miêu tả
Chúng tôi đã điều tra, khảo sát 40 học sinh đang học khối lớp 5 trường Tiểu học Phương Điền - Xã Phương Điền - Hương Khê - Hà Tĩnh thông qua
40 phiếu trắc nghiệm Kết quả điều tra được tính theo số phần trăm học sinh trả lời đúng hoặc phù hợp
Trang 33Bảng điều tra thực tế dạy học văn tả cảnh lớp 5
đúng/ phù hợp
Phần trăm
3 Nắm được việc cần làm để tìm ý cho bài văn
9 Lập dàn ý cho bài văn tả cảnh cánh đồng vào
Qua kết quả trên bảng điều tra cho thấy:
Tỉ lệ học sinh nắm được kiến thức về văn miêu tả và văn tả cảnh chưa cao, không xấp xỉ mức trung bình Đặc biệt số học sinh biết cách tìm ý và lập được dàn ý cho đề văn tả cảnh là quá thấp Qua đây cho thấy một thực trạng
về chất lượng học của các em Học sinh chưa nắm chắc về kiến thức lý thuyết văn tả cảnh nên khi vận dụng vào thực hành bài viết đang còn nhiều thiếu sót, học sinh xem nhẹ vai trò của tìm ý trong làm văn tả cảnh Học sinh có hứng thú học tập các môn khác hơn môn Tập làm văn
Trang 342.2 Thực trạng dạy học văn tả cảnh
Mục đích của việc dạy văn tả cảnh trong chương trình Tiểu học là giúp học sinh có kỹ năng làm bài văn tả cảnh, qua đó góp phần hoàn thiện hơn kỹ năng làm văn của mình
Qua việc tìm hiểu quá trình dạy và học văn tả cảnh trong chương trình Tiểu học, chúng tôi có những nhận xét như sau:
* Về ưu điểm: Hầu hết giáo viên đã dạy đúng và đủ về nội dung phần văn tả cảnh trong chương trình Tập làm văn ở Tiểu học Thông qua việc dạy học của giáo viên, học sinh đã biết nhận dạng được yêu cầu của đề bài, bước đầu biết cách lập dàn ý cho một bài văn tả cảnh Đồng thời học sinh cũng đã biết các cách mở bài (mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp), kết bài (mở rộng hoặc không mở rộng) của một bài văn Nhiều giáo viên đã biết sử dụng một số phương pháp dạy học mới giúp học sinh tích cực chủ động hơn trong học tập
* Về tồn tại:
- Giáo viên thiếu tính sáng tạo trong dạy học, hầu như chỉ mới khai thác kiến thức nội dung của các bài tập trong sách giáo khoa và giúp học sinh hoàn thành bài tập một cách đầy đủ, đúng yêu cầu Giáo viên chưa đưa ra các bài tập khác để giúp học sinh có điều kiện cọ xát với các bài tập đa dạng hơn, điều này hạn chế hiệu quả của quá trình rèn luyện kĩ năng làm văn tả cảnh
- Giáo viên chưa xây dựng được quy trình chung để tổ chức cho học sinh rèn luyện kĩ năng làm văn nói chung mà hầu hết mới chỉ giúp học sinh hoàn thành yêu cầu của từng bài tập cụ thể Vì vậy học sinh thường gặp khó khăn khi viết một bài văn tả cảnh theo đúng cấu trúc, quy trình
- Đánh giá, nhận xét các bài làm của học sinh góp phần làm cho quá trình dạy học được khép kín hơn, hiệu quả hơn Giúp cho giáo viên nắm được kết quả học tập của học sinh, từ đó có sựu điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp Mặt khác nó có vai trò quan trọng trong việc tăng động cơ học
Trang 35tập, thúc đẩy sự hứng thú làm bài của các em, tăng chất lượng bài làm Nhưng hầu như giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của đánh giá, nhận xét bài văn tả cảnh của học sinh Đa số giáo viên chưa uốn nắn, sửa chữa lỗi cho học sinh một cách cụ thể và kịp thời nên học sinh khó khắc phục những thiếu sót trong bài làm của mình Việc đánh giá học sinh đang còn tùy thuộc vào cảm nhận của mỗi giáo viên, đánh giá còn mang tính chủ quan, áp đặt Giáo viên chưa biết đánh giá để động viên, khuyến khích học sinh tìm ra cách viết đúng
và hay
2.3 Thực trạng bài viết của học sinh
Mặc dù đã được cung cấp các kiến thức và rèn luyện các kĩ năng để viết một bài văn hoàn chỉnh Nhưng thực tế thì trong bài văn của học sinh còn mắc rất nhiều lỗi, chủ yếu là các lỗi sau:
- Học sinh hầu hết đã biết làm một bài văn có đầy đủ 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài Tuy nhiên kĩ năng liên kết đoạn văn yếu nên bố cục bài văn chưa rõ ràng và thiếu khoa học Đa số bài làm của học sinh còn mang tính liệt
kê, chắp ghép các phần đã được học, được rèn luyện lại với nhau một cách máy móc, khô khan thiếu cảm xúc
- Bài làm của học sinh còn mắc nhiều lỗi: lỗi dùng từ đặt câu, lỗi chính
tả, sắp xếp ý thiếu mạch lạc, lộn xộn, lặp và thiếu ý Nhiều cách mở bài và kết bài chưa tự nhiên
- Bài làm của học sinh còn thiếu tính chân thực và sinh động Vì vốn kiến thức thực tế của các em còn quá ít, đặc biệt là đối với học sinh thành phố, khi làm văn các em chủ yếu dựa vào những kiến thức qua sách báo, tranh ảnh
Ít được tiếp xúcvới những gì tồn tại thật trong cuộc sống nên còn nghèo nàn
và đơn điệu, thậm chí là sai về nội dung bài văn Mặt khác đa số các em chưa biết kết hợp miêu tả, cảm xúc và sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong khi làm bài nên bài văn thiếu tự nhiên, thiếu cảm xúc
Trang 36- Trong văn miêu tả, bên cạnh những yêu cầu chung về nội dung, hình thức thì yếu tố góp phần lớn làm nên sức sống, hơi thở của bài văn đó là từ ngữ được sử dụng Thế nhưng ở học sinh Tiểu học thì vốn từ của các em còn quá nghèo nàn và hiểu nghĩa từ một cách mơ hồ Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bài làm Học sinh chưa hiểu hết đặc tính, bản chất, chức năng của từ nên việc sử dụng từ ngữ của các em còn rất nhiều bất cập Các em chưa chủ động, tự tin trong việc dùng từ nên diễn đạt không trôi chảy, thiếu sự gợi cảm, sinh động thậm chí sai lệch về nội dung, phản ánh không đúng bản chất của đối tượng.
- Tập làm văn là một môn học khó đối với học sinh Tiểu học vì nó đòi hỏi sự tổng hợp kiến thức của nhiều phân môn khác nhau và là môn học đòi hỏi các em sử dụng nhiều loại kĩ năng để thực hành Mặt khác đa số các em không thích học môn Tiếng Việt, phụ huynh và học sinh coi trọng môn Toán, xem nhẹ môn Tiếng Việt
Lấy ví dụ qua một bài văn trong số rất nhiều bài văn khác của học sinh, chúng ta sẽ thấy được điều đó
Đề bài: Tả cảnh cánh đồng lúa chín quê em.
Đến tháng năm là tháng mà lúa chín, lúc đó đứng xa nhìn lại, cả cánh đồng vàng rực như mặt trời.
Nhìn cánh đồng mênh mông lúa vàng Những bông lúa rất nhiều hạt, lúa vàng như lá mùa thu Những ngọn gió nhẹ thổi vào cánh đồng rì rào Cả cánh đồng lúc đó rung rinh theo nhịp gió Những chú chim chiền chiện hót và bay lên Nhìn cánh đồng lúc đó rất thơ mộng…
Em rất yêu cánh đồng lúa chín Nó sẽ đưa lại cho người dân quê em sự
no ấm.
Trong thời gian 40 phút, học sinh làm một bài văn chỉ có 7 dòng như vậy là quá ngắn, chưa nói đến yêu cầu bài văn đúng và hay Bài văn trên đây
Trang 37nhất là ở phần thân bài, học sinh chủ yếu là liệt kê, lắp ghép những gì mà các
em quan sát được Bài làm sử dụng biện pháp tu từ rất hạn chế, nghèo nàn Có
chăng là so sánh: Cả cánh đồng vàng rực như mặt trời, lúa vàng như lá mùa thu, nhưng so sánh như vậy đã phù hợp và đã hay chưa? Bài làm còn lặp từ ngữ quá nhiều, chỉ có 7 câu văn mà từ cánh đồng được sử dụng đến 6 lần, sử dụng từ ngữ chưa chính xác: Cả cánh đồng lúc đó rung rinh theo nhịp gió, cách dùng từ rung rinh chưa hợp lý.
Trên đây chỉ mới là một bài văn trong vô số bài văn như vậy của học sinh Qua đó cho ta thấy vốn sống, vốn kiến thức thực tế của các em quá nghèo nàn, ngôn từ thiếu phong phú, chưa biết khai thác tác dụng của các biện pháp tu từ Bài làm của học sinh thiếu cảm xúc, phải chăng việc làm bài Tập làm văn của học sinh không xuất phát từ sự ham mê mà chỉ là sự đối phó Cũng có thể học sinh không được quan sát trước khi miêu tả, nếu được quan sát thì cũng không phát hiện ra điểm nổi bật của đối tượng được tả
2.4 Nguyên nhân của thực trạng
Qua tìm hiểu về thực trạng cũng như nguyên nhân của thực trạng, chúng tôi rút ra một số vấn đề sau:
- Nguyên nhân từ giáo viên:
+ Giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về dạy văn miêu tả và văn tả cảnh, chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực dạy học văn miêu tả nói chung và dạy học văn tả cảnh nói riêng
+ Giáo viên chưa xác định đúng mục tiêu của từng nội dung bài tập Vì vậy thường gặp khó khăn, lúng túng trong việc lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù hợp
+ Hầu hết giáo viên chưa nắm vững kiến thức lý thuyết về văn miêu tả, chưa có sự đầu tư, tìm tòi để hoàn thiện hệ thống phương pháp dạy văn miêu
tả và văn tả cảnh
Trang 38+ Chưa có sự chủ động và sáng tạo trong từng tiết dạy, chuẩn bị đồ dùng dạy học chưa đầy đủ.
+ Giáo viên thường có tâm lý ngại dạy Tập làm văn nên thường không
có niềm say mê trong từng tiết dạy
- Nguyên nhân từ học sinh
+ Văn miêu tả là thể loại văn cần rất nhiều thông tin thực tế, thế nhưng vốn kiến thức thực tế của học sinh còn hạn chế Nên khi làm bài các em chủ yếu dựa vào sách báo, tranh ảnh
+ Vốn từ của các em còn nghèo nàn và hiểu nghĩa của từ còn mơ hồ, thiếu chính xác
+ Qua điều tra cho thấy hầu hết các em đều có tâm lý ngại học Tập làm văn, nên các em chưa có sự say mê, hứng thú khi làm bài Điều này làm cho bài văn của các em thiếu tính sinh động và khô khan về cảm xúc Vì ngại làm văn nên có nhiều em sử dụng các bài văn mẫu một cách máy móc, lấy bài mẫu làm bài viết của mình để đối phó với giáo viên
2.5 Khảo sát chương trình SGK về văn tả cảnh
Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học có phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn Trong đó phân môn Tập làm văn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiếng Việt Tập làm văn là phân môn mang tính thực hành, ứng dụng tổng hợp, sáng tạo Phân môn Tập làm văn kế thừa toàn bộ kiến thức, kỹ năng Tiếng Việt do các phân môn Tiếng Việt cung cấp và rèn luyện Đồng thời rèn luyện các kiến thức, kĩ năng cho các phân môn khác Bài Tập làm văn là nơi kiểm nghiệm cao nhất kiến thức Tiếng Việt của học sinh
Trong phân môn Tập làm văn thì văn miêu tả là thể loại văn chiếm phần lớn về thời lượng (lớp 4: 30/ 62 tiết, lớp 5: 36/62 tiết) Văn miêu tả trong chương trình Tiểu học được xem là thể loại văn nghệ thuật chính thức được
Trang 39dạy đầy đủ và bài bản bao gồm cả lý thuyết và luyện tập thực hành Văn miêu
tả có các kiểu bài: tả đồ vật, tả con vật, tả cây cối, tả cảnh, tả người
Trong các kiểu bài văn miêu tả nêu trên thì văn tả cảnh giữ vai trò rất quan trọng Đối tượng của văn tả cảnh là những cảnh quen thuộc, gần gũi như cảnh ngày mùa quê em, cảnh một cơn mưa, cảnh ngôi trường của em Quá trình làm văn tả cảnh góp phần vào việc rèn luyện các kỹ năng viết văn miêu
tả, phát triển tư duy, ngôn ngữ cho học sinh
2.5.1 Chương trình văn tả cảnh lớp 5
Kiểu bài văn miêu tả cảnh Tuần Số tiết dạy
Trang 402.5.2 Thống kê cụ thể các tiết học
Trong nội dung chương trình Tập làm văn ở Tiểu học, có hai kiểu bài
đó là hình thành kiến thức và luyện tập thực hành
2.5.2.1 Kiểu bài hình thành kiến thức mới
Kiểu bài hình thành kiến thức mới có mục đích cung cấp kiến thức lý thuyết cho học sinh Tiết dạy hình thành kiến thức mới có cấu tạo 3 phần: nhận xét, ghi nhớ, luyện tập
Ở chương trình văn tả cảnh lớp 5, kiểu bài hình thành kiến thức
mới được dạy ở bài đầu tiên của chương trình, đó bài “Cấu tạo của bài văn tả cảnh”
Với bài “Cấu tạo của bài văn tả cảnh” có cấu tạo 3 phần cụ thể
như sau:
- Phần nhận xét: cho một bài văn và có 2 bài tập có nội dung liên quan đến đoạn văn Từ việc học sinh đã thực hiện được 2 bài tập đó thì rút ra nhận xét về cấu tạo của bài văn tả cảnh
- Phần ghi nhớ: nội dung của phần ghi nhớ được in trong ô màu xanh
Đó là phần ghi cấu tạo 3 phần của bài văn tả cảnh
- Phần luyện tập: phần luyện tập nhằm củng cố và khắc sâu kiến thức bài học cho học sinh Phần này có nội dung là một bài tập, bài tập có hai phần: yêu cầu của bài tập và một bài văn cho sẵn để học sinh thực hiện yêu cầu
Qua bài “Cấu tạo của bài văn tả cảnh” đã hình thành kiến thức cơ
bản cho học sinh, đó là các em nắm được cấu tạo chung của một bài văn
tả cảnh Từ đó các em biết vận dụng kiến thức vào việc làm các bài văn
tả cảnh của mình