Giới thiệu văn miêu tả trong nhà trường phổ thong theo yêu cầu của chương trình SGK mới... Về phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học có một số công trình nghiên cứu như 1..
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa GIÁO D ỤC
CHUYấN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
Lớp: 49A – Giỏo dục Tiểu học
Giảng viờn hướng dẫn: TS Chu Thị Hà Thanh
VINH - 2012
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Với đề tài nghiên cứu “Phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện
tập văn miêu tả đồ vật”, chúng tôi đã đề cập đến vấn đề dạy văn miêu tả nói
chung và văn miêu tả đồ vật nói riêng ở nhà trường tiểu học Trong đó có nóiđến thực trạng dạy học văn miêu tả đồ vật, mặt khác chúng tôi cũng đã trựctiếp trao đổi, tham khảo và tiếp thu một số ý kiến của các giáo viên có kinhnghiệm trong nghề Từ đó có những biện pháp cụ thể giúp giáo viên và họcsinh khắc phục một phần nào đó những khó khăn trong quá trình dạy và họcvăn miêu tả đồ vật
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo TS Chu Hà Thanh, người đãluôn tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Đồng thờicũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong khoa GD – TrườngĐại học Vinh, tập thể giáo viên và học sinh trường tiểu học Lê Mao và trườngtiểu học Hà Huy Tập II đã tạo điều kiện giúp đỡ và có những ý kiến đóng gópchân thành, giúp tôi thực hiện được đề tài này một cách thuận lợi
Trong quá trình nghiên cứu đề tài không tránh khỏi những sai sót và hạnchế Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của tất cả các thầy cô giáo vàcác bạn sinh viên
Vinh, ngày 2 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Mai Thị Thúy
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SGK: Sách giáo khoa
NXB: Nhà xuất bản
TV: Tiếng Việt
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giả thuyết khoa học 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Bố cục đề tài 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Miêu tả trong văn học 7
1.1.2 Văn miêu tả trong nhà trường tiểu học 17
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học với quá trình dạy học văn miêu tả 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 23
1.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên 24
1.2.2 Thực trạng nhận thức của học sinh 27
1.2.3 Thực trạng bài viết của học sinh 30
1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng trên 32
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4 LUYỆN TẬP VĂN MIÊU TẢ ĐỒ VẬT 35
2.1 Phương pháp hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả 35
2.1.1 Quan sát 35
2.1.2 Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả 36
Trang 52.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh liên tưởng, tưởng tượng 44
2.2.1 Liên tưởng 44
2.2.2 Tưởng tượng 49
2.3 Phương pháp hướng dẫn học sinh lập dàn ý 53
2.3.1 Vai trò của việc lập dàn ý trong văn miêu tả đồ vật 53
2.3.2 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho bài văn miêu tả đồ vật 54
2.4 Phương pháp hướng dẫn học sinh lựa chọn và sử dụng từ ngữ 58
2.5 Hướng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp tu từ 61
2.5.1 So sánh 61
2.5.2 Nhân hóa 65
2.6 Phương pháp hướng dẫn học sinh liên kết đoạn thành bài trong văn miêu tả đồ vật 66
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 70
3.1 Mục đích thử nghiệm 70
3.2 Đối tượng thử nghiệm 70
3.3 Nội dung thử nghiệm 70
3.4 Tổ chức thử nghiệm 70
3.5 Kết quả thử nghiệm 71
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Môn Tiếng Việt là môn học công cụ trong nhà trường phổ thông.
Tức là môn Tiếng Việt trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp và phát triển
tư duy, tạo tiền đề và cơ sở cho việc học tập các môn khác Môn Tiếng Việtbao gồm 7 phân môn (Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu,Kể chuyện và Tập làm văn), các phân môn này có quan hệ chặt chẽ với nhau.Nó là môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học Trong đóTập làm văn là phân môn có tính tổng hợp cao, nó dựa trên kết quả nghiêncứu của nhiều khoa học khác như Tâm lý học, Tâm lý ngữ học, Ngôn ngữhọc, Lí luận văn học…
Phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập ngônbản đồng thời góp phần rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho họcsinh
1.2 Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm
cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật,cảnh vật
Khi làm một bài văn, học sinh phải vận dụng một cách tổng hợp các kiếnthức về cuộc sống, về ngôn ngữ và về văn hóa để trình bày vấn đề được đặt ratheo tình cảm, tư tưởng, cách nhìn, cách nghĩ của chính mình Do đó, qua bàitập làm văn ta có thể thấy được thái độ và tình cảm của học sinh đối với cácsự vật và hiện tượng Đồng thời ta cũng thấy được năng lực vận dụng ngônngữ của các em qua cách dùng từ, đặt câu Chính vì vậy mà hiệu quả của cácphân môn Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Tập đọc đều thể hiện đầy đủvà rõ ràng qua phân môn Tập làm văn
1.3 Trong chương trình Tiểu học, thể loại văn miêu tả gồm có miêu tả
đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả người, tả cảnh Trong đó văn miêu tả đồ vật là
Trang 7một trong những kiểu bài gần gũi và quen thuộc với học sinh Đối tượng củavăn miêu tả đồ vật ở lớp 4 là những vật học sinh thường thấy trong đời sốnghàng ngày, gần gũi với các em vì vậy cũng dễ trở thành thân thiết với các em.Đó có thể là cái trống, cái bút, quyển vở, cái cặp sách, cái bàn, cái đồng hồ…Chúng là những đồ vật vô tri, vô giác nhưng gần gũi và có ích đối với họcsinh Đồ vật lại thường gắn liền với cuộc sống con người nên khi miêu tả họcsinh sẽ thể hiện được tình cảm yêu mến, gắn bó của mình với chúng như vậyđồ vật sẽ hiện lên một cách sinh động và có hồn.
1.4 Đối với học sinh lớp 4, phân môn Tập làm văn là một môn khó đối
với các em Bởi lẽ đây là môn học đòi hỏi sự sáng tạo, các em phải độc lậpsuy nghĩ, đặc biệt là với thể loại văn miêu tả, cụ thể ở đây là văn miêu tả đồvật Để viết được bài văn miêu tả đồ vật, học sinh phải biết quan sát, thể hiệnbằng những từ ngữ, hình ảnh so sánh, độc đáo, đặc biệt là thể hiện được tìnhcảm của mình trong đó
Thực tế việc này còn gặp nhiều khó khăn Các em không biết phải làmgì, viết gì nếu không được hướng dẫn cặn kẽ, chu đáo dẫn đến các em thiếu tựtin, không làm tốt bài làm của mình Một số giáo viên còn vội trong việctruyền thụ kiến thức, xem nhẹ thực hành nên học sinh thiếu chủ động, khônghứng thú với giờ học Tập làm văn, giáo viên chưa nắm vững lí thuyết về vănmiêu tả đồ vật một cách toàn diện
Từ những lý do trên cũng như tầm quan trọng của việc dạy và học vănmiêu tả đồ vật của phân môn Tập làm văn nên tôi quyết định chọn đề tài:”Phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 rèn luyện văn miêu tả đồ vật”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về văn miêu tả và dạy – học văn miêu tả là vấn đề cũng được rất
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
2.1 Về văn miêu tả đã có một số công trình nghiên cứu đề cập như
1 Dạy Tập làm văn ở tiểu học – Nguyễn Trí
Trang 8Công trình này đã giới thiệu về văn miêu tả, đặc điểm của văn miêu tả,giới thiệu quy trình làm các kiểu bài làm văn miêu tả cũng như phương phápdạy các kiểu bài đó Mặc dù sách đã đề cập đến vấn đề văn miêu tả, những nétđặc sắc của sự vật, hiện tượng khi miêu tả, song cũng chỉ nói qua, chưa hìnhthành và chưa đề cập đến cụ thể từng kiểu văn miêu tả trong trường tiểu học,đặc biệt là văn miêu tả đồ vật.
2 Văn miêu tả và kể chuyện – Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng Về cấu trúc, sách gồm 2 phần:
Phần 1: Giới thiệu các bài viết của các nhà văn về suy nghĩ, kinh nghiệmcủa bản than khi viết văn miêu tả và kể chuyện
Phần 2: Là những đoạn văn tả và kể chọn lọc của nhiều cây bút khácnhau
Công trình này chỉ mới đề cập những nét chung nhất của một bài vănmiêu tả, những vấn đề đưa ra vẫn còn là trừu tượng đối với giáo viên và họcsinh Vì thế giáo viên khó vận dụng vào quá trình dạy – học văn miêu tả ở lớp
4, 5
3 Bài tập luyện viết văn miêu tả ở tiểu học – Vũ Khắc Tuân.
Trong tác phẩm này, tác giả đi sâu vào giới thiệu các bài tập thuộc cácloại bài của văn miêu tả và một số kinh nghiệm của các nhà văn trong việclàm văn miêu tả, một số giai thoại trong việc dùng câu chữ khi viết văn
4 Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông – Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu Cuốn sách gồm 3 chương và phần phụ lục:
Chương 1 Phân tích chỉ ra những đặc điểm và yêu cầu của văn miêu tả Chương 2 Giới thiệu một số ý kiến và một số trang văn miêu tả của các
nhà văn, chủ yếu là các nhà văn viết cho thiếu nhi, có nhiều tác phẩm đượcđưa và nhà trường
Chương 3 Giới thiệu văn miêu tả trong nhà trường phổ thong theo yêu
cầu của chương trình SGK mới Đặc biệt tác giả còn giới thiệu hệ thống 95
Trang 9bài tập và 20 đề văn miêu tả với yêu cầu kết hợp với các phương thức biểu đạtkhác.
Phần phụ lục: Gồm 50 đoạn văn, bài văn miêu tả được lấy từ các nguồn
khác nhau, sau đó bình giảng một số đoạn văn miêu tả của các nhà văn
Đây là cuốn sách giới thiệu về văn miêu tả tương đối đầy đủ song vẫn chưaphải là cuốn sách về phương pháp dạy học văn miêu tả cho học sinh tiểu học
2.2 Về phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học có một số công trình nghiên cứu như
1 Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học – Lê Phương Nga, Nguyễn Trí.
Phần đầu cuốn sách bàn về những vấn đề chung của dạy tiếng Việt ở tiểuhọc và sau đó đi sâu vào các phương pháp dạy học các phân môn cụ thể.Công trình này cũng bàn nhiều về phương pháp dạy Tập làm văn – văn miêutả, đề cập đến những tồn tại và đưa ra những kiến nghị trong dạy học vănmiêu tả Tuy nhiên những kiến nghị và giải pháp mà công trình đưa ra còn ởgóc độ khái quát, chưa vận dụng được vào thực tiễn dạy - học văn miêu tả ởnhà trường tiểu học hiện nay
2 Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả ở tiểu học – tác giả Nguyễn Trí.
Cuốn sách này gồm 2 phần:
Phần đầu: Tác giả đề cập đến khái niệm văn miêu tả và các kiểu bài
miêu tả ở tiểu học
Phần sau: Tác giả giới thiệu một số phương pháp dạy văn miêu tả trong
trường tiểu học
Đây là một cuốn sách rất hữu ích cho giáo viên ở tiểu học khi dạy vănmiêu tả Tuy nhiên cuốn sách mới chỉ đề cập chung đến các vấn đề liên quanđến các kiểu bài văn miêu tả và một số phương pháp dạy văn miêu tả áp dụngchung cho tất cả các thể loại miêu tả
Trang 10Như vậy, vấn đề hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện tập thực hành văn miêutả đồ vật trong Tập làm văn miêu tả ở tiểu học đang là một vấn đề chưa đượcchú trọng nghiên cứu chuyên sâu Do đó việc có một quy trình hướng dẫn họcsinh lớp 4 luyện tập về văn miêu tả đồ vật là rất cần thiết nhằm nâng cao chấtlượng dạy học văn miêu tả ở trường tiểu học.
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện tập văn miêutả đồ vật góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả ở trường tiểuhọc
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học văn miêu tả ở tiểu học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp hướng dẫn HS lớp 4 luyện tập văn miêu tả đồ vật
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý thuyết về văn miêu tả đồ vật ở lớp 4 trong dạy học
Tập làm văn ở tiểu học
5.2 Tìm hiểu thực trạng dạy – học của giáo viên và học sinh về văn miêu
tả đồ vật ở lớp 4
5.3 Đưa ra hệ thống phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện tập về
văn miêu tả ở tiểu học
5.4 Tổ chức thử nghiệm để kiểm tra tính cần thiết và tính khả thi của các
vấn đề đã đề xuất
6 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học văn miêu tả ở tiểu học, nếu đưa ra được cácphương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện tập văn miêu tả đồ vật một cáchkhoa học, phù hợp với đặc trưng phân môn và ứng dụng linh hoạt các phươngpháp đó trong các tiết học thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy và học
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phân tích, khái quát, thu thập các thông tin liên quan đến đề tài nghiêncứu: lý thuyết văn miêu tả, khảo sát và đánh giá nội dung dạy học văn miêu tảtheo chương trình SGK Tiếng Việt
7.2 Phương pháp quan sát – điều tra
Nghiên cứu thực tế dạy học văn miêu tả ở tiểu học, đặc biệt là văn miêutả đồ vật lớp 4 để phát hiện ra những vấn đề cần nghiên cứu, cần có giải phápkhắc phục
7.3 Phương pháp thử nghiệm
Kiểm tra tính cần thiết và hiệu quả của các đề xuất
8 Bố cục đề tài
Ngoài các phần: mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 luyện tập văn miêu
tả đồ vật
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Miêu tả trong văn học
1.1.1.1 Khái niệm văn miêu tả
Theo từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh thì miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra” Tức là trong văn
miêu tả, người ta không dùng ngôn ngữ thường ngày để miêu tả, không đưa ranhững lời nhận xét chung chung, những lời đánh giá cụ thể về sự vật hoặchiện tượng nào đó như: cái cặp này cũ, cái bàn này hỏng hoặc trời mưa toquá… Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữmột cách sinh động, cụ thể Qua đó giúp người đọc có thể cảm nhận một cáchsâu sắc hơn và rõ hơn về đối tượng mà tác giả miêu tả, có thể tưởng tượng rađược hình ảnh sống động của những sự vật và hiện tượng đó Tuy nhiên, hìnhảnh một cánh đồng, một dòng sông, cảnh hoàng hôn, cảnh biển hay hình ảnhmột con người, con vật do miêu tả vẽ lên không phải là một bức ảnh đượcchụp lại, không phải là sự sao chép lại một cách tỉ mỉ khô cứng Nó là sự kếttinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc bên trong tâm hồnnhạy cảm của người viết khi quan sát cuộc sống xung quanh mình
Chúng ta hãy thử cảm nhận hình ảnh một dòng sông qua đoạn văn miêu
tả: “Con sông như một dải lụa trắng mềm mại vắt qua cánh đồng xanh mướt lúa khoai rồi chảy qua làng tôi Dòng sông như lặng đi trước vẻ đẹp của xóm làng, nó trầm ngâm phản chiếu những hàng tre đổ bóng mát rượi xuống đôi bờ.Những buổi trưa hè nắng đổ xuống mặt sông lấp loá Dòng sông lúc đó như một tấm gương dài phẳng lặng soi bóng mây trời Trên mặt sông, một vài chiếc thuyền lá tre tí hon bồng bềnh trôi đi mãi theo dòng nước trong xanh Thỉnh thoảng lại có một chú bói cá lông xanh biếc hay một chú cò trắng như
Trang 13vôi đậu trên cành tre, mắt lim dim ngắm bóng mình dưới nước Có những trưa, lũ trẻ chúng tôi rủ nhau ra sông tắm Chúng tôi bơi lội, quẫy tòm tõm làm nước bắn tung toé khiến lũ chim cũng phải thảng thốt giật mình, vỗ cánh bay đi Sông như người mẹ hiền ôm ấp, vuốt ve những đứa trẻ chúng tôi Sông còn như người bạn tâm tình của tôi Mỗi buổi chiều khi hoàng hôn buông xuống mặt sông lại nhuốm màu hồng rực Đây đó, dưới lòng sông lại vọng lên tiếng gõ lanh canh của bác thuyền chài đánh cá làm rộn rã cả một khúc sông Buổi tối, khi ông trăng tròn vắt ngang qua ngọn tre, soi bóng xuống mặt sông lấp lánh Mặt sông lại lung linh như được dát vàng, dát bạc.Thật là đẹp!”
Nếu không phải là người yêu quê hương tha thiết, yêu cảnh vật nơi mìnhở và nếu như không có một tâm hồn nhạy cảm, sự quan sát tinh tế thì khôngthể viết lên những câu văn mềm mại như vậy khi miêu tả về con sông nơi tác
giả sinh sống Đoạn văn miêu tả con sông như “một dải lụa trắng mềm vắt qua cánh đồng xanh mướt lúa khoai ” hoặc có khi “như một tấm gương dài phẳng lặng soi bóng mây trời ” Con sông đã gắn bó với tuổi thơ của tác giả,
những kỉ niệm thời thơ ấu cũng được tác giả gửi gắm vào trong những câuvăn chứa đựng tình cảm sâu lắng và xúc động
Ở trong văn miêu tả đồ vật thông qua việc tả những điểm đặc sắc của đồvật cần gợi lên mối quan hệ của nó với đời sống tình cảm con người Đồ vậtđược vẽ ra gắn liền với cảm xúc của người miêu tả
Nói tóm lại “miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy” (theo SGK TV4, tập 1 – chương trình TV hiện hành).
1.1.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả
Văn miêu tả là thể sáng tác
Trong làm văn miêu tả, quan sát là điều kiện cần thiết Song chỉ quan sátthôi thì chưa đủ mà người viết phải biết quan sát kết hợp với tưởng tượng,
Trang 14liên tưởng Quan sát phải ghi chép lại để khi viết kết hợp với các biện phápnhân hóa, so sánh, ẩn dụ… tạo ra lời văn miêu tả sinh động Văn miêu tảkhông chấp nhận kiểu sao chép một cách máy móc, khô khan Mỗi bài văn làmột sản phẩm không lặp lại, nó mang dấu ấn chủ quan của mỗi học sinh trướcđối tượng miêu tả Có nghĩa là cùng một đối tượng miêu tả nhưng mỗi ngườicó một cách tả, diễn đạt suy nghĩ khác nhau thông qua lăng kính chủ quan củamình Từ đó mới tạo nên cái nét riêng trong phong cách viết văn của mỗingười Nếu nói về mồ hôi mà ai cũng đều tả “mồ hôi nhễ nhại”, khi diễn tảcảm xúc về chiếc cặp sách mà lúc nào cũng “em rất yêu quý chiếc cặp này”…thì thật là nhàm chán Nếu không biết sáng tạo, thiếu cảm xúc thì miêu tả mớidừng lại ở mức độ miêu tả khoa học.
Vich-to Huy-go nhìn một bầu trời đầy sao thấy như một cánh đồng chín,Mai-a-cốp-xki thì lại thấy ngôi sao như giọt nước mắt của người da đen đangkhóc Lênin khi biết ông vừa mới qua đời Còn I-ga-ga-rin thì lại thấy vì saonhư những hạt giống mới mà loài người bay vào vũ trụ…Cả ba hình ảnh vềnhững vì sao đều được liên tưởng miêu tả rất khác nhau nhưng chúng đềuhay, đều là sự sáng tạo của mỗi tác giả để làm nên cái riêng của mình
Hoặc có học sinh nhìn trời mưa thấy như một vòi phun khổng lồ, còn có
em thì lại tưởng tượng ra một con rồng trên trời đang phun nước xuống
Do đó có thể khẳng định rằng, văn miêu tả là một thể văn sáng tác Mỗibài văn miêu tả là một sáng tác nghệ thuật
Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Có thể nói đây là một đặc điểm nổi bật của văn miêu tả Như đã nói ởtrên, miêu tả không phải là sự sao chép, chụp lại hình ảnh một đối tượng miêutả nào đó mà đó là sự quan sát nhạy bén và sự nhận xét tinh tế của tác giảthông qua việc sử dụng những từ ngữ sinh động và chắt lọc Một bài văn miêutả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, hiện tượng…đượcmiêu tả qua những từ ngữ, những câu văn như trong cuộc sống thực Và qua
Trang 15đó ta có thể cầm nắm được, nhìn ngắm hoặc “sờ mó”…Làm nên sự sinhđộng, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống gây ấn tượng Tước bỏchúng đi, bài miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị.
Trong đoạn văn miêu tả chiếc cần trục của Phong Thu:
“Bến cảng lúc nào cũng đông vui Tàu mẹ, tàu con đậu đầy mặt nước.
Xe anh, xe em tíu tít nhận hang về và chở hàng ra Tất cả đều bận rộn Nhưng hăng hái nhất và khỏe nhất là bác cần trục Người bác không cao to, tiếng bác không ầm ĩ, chỉ có cánh tay của bác thật là đặc biệt.
Cái cánh tay ấy vươn lên, sừng sững và chuyển động rất chậm Tàu nào
có hàng cần bốc lên là cần trục vươn tới Hòm nhỏ, hòm to, cần trục xách một tay cứ như không Cả những xe ô tô, những cỗ máy lớn, cần trục cũng chỉ khẽ cúi xuống, vươn tay ra móc lấy sợi dây chằng rồi từ từ nhấc lên.”
Đọc đoạn văn lên, chúng ta nhận ra ngay cảnh hoạt động sôi nổi của cảkhu bến cảng và “bác” cần trục Miêu tả cái cần trục, nhà văn đã chọn đúngthời điểm hoạt động của nó tại bến cảng Nhờ vậy mà ông đã ghi nhận đượckhông chỉ hình dáng chiếc cần trục mà còn cả sự đóng góp tích cực của nóvào hoạt động của bến cảng Đó là kinh nghiệm quan sát một đồ vật để miêutả được đúng và sinh động Tác giả đã nhân hóa chiếc cần trục, gọi cần trục là
“bác” như gọi một con người gần gũi, thân thiết Tác giả dùng các từ chỉ hoạtđộng của con người khi nói về các hoạt động của cần trục: cúi xuống, vươntay, nhấc lên… Biện pháp nhân hóa đã giúp cho hoạt động của cần trục trởlên sinh động, linh hoạt hơn, làm cho nó trở lên có hồn và gần gũi
Trong văn miêu tả, người ta không chỉ sử dụng biện pháp nhân hóa màcòn so sánh liên tưởng đối tượng được miêu tả Như trong bài “Quê nội” củanhà văn Võ Quảng, hình ảnh những con thuyền như hiển hiện trước mắtngười đọc nhờ tác giả đã sử dụng được biện pháp so sánh Những hình ảnh sosánh thật chân thực, đầy tính biểu cảm mà cũng thật sáng tạo: hai cái sừng
trước mũi thuyền được ví với đôi sừng của con trâu (Thuyền nào ở đằng mũi
Trang 16cũng có hai cái sừng giống đôi sừng trâu), xuồng con nằm ở bến bên thuyền
mẹ được ví như bầy lợn trong chuồng (Xuồng con đậu quanh thuyền lớn giống như bầy con nằm quanh bụng mẹ), chuyển động của xuồng con trước những làn gió được nhìn một cách ngộ nghĩnh như bầy lợn đòi bú (Khi có gió… đám xuồng con lại húc húc vào mạn thuyền mẹ như đòi bú).
Chính hình thức so sánh chọn lọc, đúng và sáng tạo đã làm cho đoạn vănnhư một đoạn phim nghệ thuật đưa người đọc đến bên bến sông đông vui củavạn chài Hòa Phước
Tuy nhiên khi miêu tả, chúng ta cần chú ý không nên đưa vào bài quánhiều chi tiết làm cho bài miêu tả trở nên rườm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu.Người viết cần phải biết gạt bỏ đi những chi tiết thừa không có sức gợi tả haygợi cảm để làm cho bài văn miêu tả gọn và giàu chất tạo hình Muốn làmđược điều đó người viết không chỉ biết quan sát mà cần phải quan sát có chọnlọc, thu lượm, tích lũy những kinh nghiệm sống trong cuộc sống hằng ngày.Có như vậy bài văn mới sinh động, tạo hình và hấp dẫn người đọc
Chẳng hạn như trong bài “Cái cối tân” (sách TV4 - tập 1- trang 134) nhà
văn Duy Khánh đã chọn lọc và miêu tả các chi tiết sau ở cái cối: cái vành, cáiáo cối (đều làm bằng tre nan); tai cối (hai cái, bằng tre già màu nâu, mỗi tai cómột lỗ tròn); dăm cối (hai hàm, bằng gỗ dẻ); cần cối (dài, bằng tre đực, vàngóng, đầu cần có cái chốt bằng tre, móc vào tai cối); tay cầm (gắn vào đầu cầncối, có thừng buộc vào xà nhà)
Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của
người viết.
Đối tượng của văn miêu tả rất đa dạng và phong phú, bất kỳ một sự vật,hiện tượng nào trong thực tế khách quan cũng có thể trở thành đối tượng củavăn miêu tả Đó có thể là đồ vật, cây cối, con người hay cảnh vật, vì thế màngười ta chia ra thành các thể loại miêu tả ở tiểu học: tả đồ vật, tả cây cối, tảcon vật, tả cảnh, tả người Nhưng không phải bất kỳ một hiện tượng miêu tả
Trang 17nào cũng trở thành văn miêu tả Văn miêu tả phải là những câu văn giàu cảmxúc, đó là những rung động trong tâm hồn người viết, sự quan sát tinh tế, sángtạo nhằm mục đích thông báo thẩm mĩ Người đọc qua văn bản miêu tả nhậnthức thực tế khách quan không phải bằng con đường lý trí mà chủ yếu bằngnhững cảm xúc, những rung động mạnh mẽ trong tâm hồn Cho dù có tả mộtchiếc cần trục, một con lợn đất, một con người, một cảnh vật nào đó hay thậmchí là cái liềm… bao giờ người viết cũng đánh giá chúng theo một quan điểmthẩm mĩ, cũng gửi vào bài viết ít nhiều những tình cảm hay ý kiến đánh giábình luận của mình Do vậy từng chi tiết của văn miêu tả bao giờ cũng mangấn tượng, cảm xúc chủ quan của người viết.
Ví dụ: Đoạn văn miêu tả chiếc bánh khúc của Ngô Văn Phú:
“Ngủ một giấc dậy, tôi đã thấy dì mang chõ bánh lên Vung vừa mở ra, hơi nóng bốc nghi ngút Những cái bánh màu rêu xanh lấp ló trong áo xôi nếp trắng được đặt vào những miếng lá chuối hơ qua lửa thật mềm, trông đẹp như những bông hoa Nhân bánh là một viên đậu xanh giã nhỏ vàng ươm, xen một thỏi mỡ xinh xắn, pha hạt tiêu Cắn một miếng bánh thì như thấy cả hương đồng, cỏ nội gói vào trong”.
Tả chiếc bánh khúc, tác giả không chỉ tả những gì trông thấy, nhìn thấy
(những cái bánh màu rêu xanh lấp ló trong áo xôi nếp trắng được đặt vào những miếng lá chuối) (trông đẹp như những bông hoa) mà còn giúp ta nhận
ra hương vị của nó qua sự nhớ lại những lần được ăn bánh Tác giả không chỉghi lại những gì quan sát trực tiếp mà còn bổ sung bằng những hiểu biết về
việc làm ra chiếc bánh (lá chuối hơ qua lửa thật mềm), (nhân bánh là một viên đậu xanh giã nhỏ vàng ươm, xen một thỏi mỡ xinh xắn, pha hạt tiêu) , bằng những cảm nhận của bản thân khi thưởng thức miếng bánh (Cắn một miếng bánh thì như thấy cả hương đồng, cỏ nội gói vào trong).
Trang 18Tác giả đã quan sát trực tiếp kết hợp với quan sát gián tiếp khi miêu tảchiếc bánh Và khi quan sát để miêu tả, tác giả đã sử dụng không chỉ một giácquan mắt (thị giác) mà còn bằng cả tâm hồn, tình cảm của mình.
Hay như trong “Tiếng mưa” của Nguyễn Thị Như Trang có đoạn tả về
mưa mùa xuân: “Mưa mùa xuân xôn xao, phơi phới Những hạt mưa bé nhỏ mềm mại, rơi mà như nhảy nhót Hạt nọ nối tiếp hạt kia đan xuống lá cây ổi cong mọc lả xuống mặt ao Mùa đông xãm xịt và khô héo đã qua Mặt đất bỗng kiệt sức bỗng thức dậy, âu yếm đón lấy những giọt mưa ấm áp trong ngày Đất trời lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây Mưa mùa xuân đã đem lại cho chúng cái sức sống ứ đầy, tràn lên các nhánh lá mầm non Và cây trả nghĩa cho mưa bằng cả mùi hoa thơm, trái ngọt.”
Đặc điểm này của văn miêu tả làm cho miêu tả trong văn học khác hẳnmiêu tả trong khoa học Nếu miêu tả trong khoa học là sự chính xác, khô khanđến lạnh lùng thì miêu tả trong văn học bao giờ cũng chứa đầy tình cảm củangười viết
Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Do đặc điểm của văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựngtình cảm và cảm xúc của người viết, bài văn bao giờ cũng mang tính sinhđộng và tạo hình nên yêu cầu đặt ra cho ngôn ngữ của bài văn miêu tả phảigiàu cảm xúc và hình ảnh Chỉ có thể như vậy, bài văn mới có khả năng diễntả cảm xúc của người viết và vẽ nên sự sinh động, tạo hình cho đối tượngmiêu tả Ngôn ngữ trong văn miêu tả là sự phong phú đa dạng của các từ ngữgợi tả, các từ ngữ hình ảnh, đặc biệt là các tính từ trong vốn từ vựng phongphú và đa dạng của tiếng Việt Như trong đoạn tả chiếc bánh khúc ở trên, có
các từ gợi thị giác (nghi ngút, lấp ló, vàng ươm, thỏi mỡ xinh xắn), đoạn tả chiếc cần trục (tíu tít, sừng sững); các từ gợi thính giác đoạn tả những con thuyền (cót két, rền rĩ).
Trang 19Chúng ta hãy cùng đọc đoạn văn miêu tả con lợn đất của Nghiêm Toản:
“Một hôm mẹ em đi chợ về, mua cho em một con lợn đất Con lợn dài độ gang tay, béo tròn trùng trục, toàn thân nhuộm đỏ, hai tai màu xanh lá mạ, cái đuôi vắt chéo ngang hông Hai mắt lợn lim dim, ti hí, đen lay láy Cái mõm nhô ra như lúc đang dũi ở trong chuồng Nhưng lợn của em luôn ngoan ngoãn nằm yên Bốn chân nó quặp lại dưới cái bụng phệ phẳng lì Phía bên phải gần cuối mông có một khe hở dài bằng hai đốt ngón tay.
Mẹ em bảo:“Mua lợn về cho con nuôi đấy” Rồi mẹ “mở hàng lấy may” Cho lợn ăn luôn hai nghìn Mẹ dặn có tiền bán trứng, bán rau thì nhớ bỏ vào cho lợn nó ăn Em vâng lời mẹ Mỗi khi có tiền bán trứng hoặc bán rau, em đều nhét vào bụng lợn.
Em nuôi lợn ở góc tủ Thỉnh thoảng em lại nhìn qua khe hở để xem bụng lơn đã no chưa Em hi vọng đến cuối năm, khi làm thịt lợn, em có đủ tiền mua những cuốn sách mà em ao ước”.
Đoạn văn kể về niềm vui của cô bé được chăm sóc con lợn tiết kiệm mẹcho Niềm vui thể hiện ở con mắt nhìn con lợn đất của cô bé: thấy ở con lợnđất cái gì cũng đẹp Tình cảm của cô bé đối với con lợn tiết kiệm thể hiện ở
hành động “nhìn qua khe hở để xem lượn đã no chưa” Hành động đó thể
hiện sự trông đợi đến suốt ruột của cô bé về “sự lớn lên” của lợn Nó ẩn chứa
một kì vọng, một sự gửi gắm mà cô bế đã nói ở cuối câu: “ đến cuối năm có
đủ tiền mua những cuốn sách mà em ao ước”.
Qua đoạn văn giúp người đọc nắm bắt được cảm xúc, suy nghĩ và niềmvui của cô bé Đoạn văn cho thấy vai trò của cảm xúc trong văn miêu tả Vănmiêu tả đòi hỏi người viết phải bộc lộ tình cảm của mình đối với từng chi tiếtchọn đưa vào trong bài văn
Ngôn ngữ miêu tả là giai điệu chủ đạo trong bài văn miêu tả, ngoài racòn kết hợp với việc sử dụng phép nhân hóa, so sánh, ẩn dụ gợi lên tronglòng người đọc những cảm xúc, tình cảm, ấn tượng, hình ảnh về sự vật được
Trang 20miêu tả Có thể thấy tất cả những chi tiết đó đã tạo thành những “chùm sángngôn ngữ lung linh” cho bài văn miêu tả.
Ví dụ: Đoạn văn miêu tả cái đèn:
Cái đèn nhà tôi làm bằng một thứ đồng đỏ ối như vàng, bóng lộn có thể soi gương Bình dầu hình trụ, nom bè bè ở giữa đánh đai tròn và chứa được đến gần nửa lít dầu Trên miệng ống bấc có chụp một cái mũ làm cho ngọn lửa tỏa ra như hoa sen cum cúp để tăng ánh sáng Thông phong thổi bằng pha lê trong vắt.
Tối đến, tôi rót dầu và thắp đèn Ngọn lửa bốc to, tôi vặn bấc thấp xuống cho vừa Ánh sáng tỏa ra khắp trong phòng Đèn để giữa làm chúng tôi quây quần lại: mẹ tôi khâu vá, cha tôi đọc sách, còn em tôi hăm hở đọc tiếp chuyện Tấm Cám (Theo Nghiêm Toản).
Đánh giá về đoạn văn trên theo sách Văn miêu tả tuyển chọn, NXB Giáo
dục, trang 110 đã có lời bình: “Cái đèn được tả kĩ đến mức có thể theo lời mà
vẽ thành tranh Thêm một vài động tác thắp đèn nữa, là ta đã có một hìnhdung đầy đủ về cây đèn dầu ngày xưa Các chi tiết được tả rành mạch và cóthứ tự, như một lời chỉ dẫn mộc mạc”
Cách sử dụng ngôn ngữ trong đoạn văn trên mang tính nghệ thuật cao
Ngôn ngữ trong bài ngoài tính chính xác (thông phong, bình dầu, ống bấc, ở giữa bánh đai ) còn có tính gợi tả (bóng lộn có thể soi gương, pha lê trong vắt) Ngoài ra tác giả còn dùng biện pháp so sánh nghệ thuật để làm tăng tính hình tượng: đồng đỏ ối như vàng, ngọn lửa tỏa ra như hoa sen cum cúp.
1.1.1.3 Đặc điểm văn miêu tả đồ vật
Tả đồ vật là dùng lời văn có hình ảnh gợi cho người đọc như thấy cụ thểtrước mắt đồ vật đó hình dạng thế nào, kích thước thế nào, màu sắc ra sao,gắn bó với người làm ra hoặc đang sử dụng nó như thế nào
Trang 21Văn miêu tả đồ vật cũng là một thể loại văn miêu tả mang đầy đủ các đặcđiểm như đã trình bày ở trên Nhưng khi miêu tả đồ vật cần chú ý rằng việcmiêu tả đồ vật không nhằm vào giới thiệu những tri thức thuần túy về sự vật:cấu tạo, công dụng, ích lợi của nó Đó là công việc của người bán hàng, củanhà kĩ thuật Văn miêu tả đồ vật thông qua việc tả những điểm đặc sắc của đồvật cần gợi lên mối quan hệ của nó với đời sống tình cảm con người Đồ vậtđược vẽ ra gắn liền với cảm xúc của người miêu tả Các đồ vật học sinh tiểuhọc tả thường là những đồ vật quen thuộc với các em: cái cặp sách, cái bànngồi học, cái đồng hồ, cái bút, cái trống trường
Mỗi đồ vật có nhiều bộ phận, từ đơn giản đến phức tạp Đơn giản như cáibàn, quyển lịch cũng không phải chỉ có một, hai bộ phận Đến các đồ vậtphức tạp có thể chuyển động được như cái xe lu, chiếc cần trục, chiếc ô tô thì các bộ phận của nó lại càng phong phú Văn miêu tả không nhằm miêu tảcho đủ các bộ phận đó như có người lầm tưởng Tả các đồ vật phải tránh lốiliệt kê cho hết các bộ phận, miêu tả đủ các bộ phận Bài miêu tả đồ vật chỉnhằm vào những chi tiết, bộ phận có thể khắc họa hình ảnh đồ vật ấy rõ néthoặc có liên quan đến cảm xúc của các em
Khi tả bộ phận cũng như tả bao quát đồ vật, người ta không chỉ chú ý đếnhình dáng, khối lượng, màu sắc mà còn chú ý đến các hoạt động hoặc việc sửdụng đồ vật đó của con người Tuy nhiên cũng chỉ chọn các ích lợi và côngdụng cần thiết gắn với ý định miêu tả Đặc biệt phải lưu ý xen kẽ các nhận xétđánh giá, cảm nghĩ thành thật của người viết, không chờ đến phần kết luậnmới nói Nhờ vậy các chi tiết miêu tả mới bớt được vẻ lạnh lùng khô khan.Đồ vật là vô tri, vô giác Vì vậy để tả cho sinh động, thường phải sử dụng
phép nhân hóa Có thể dùng các đại từ hay từ xưng hô: anh, chị, chú, bác, anh chàng, cô nàng khi đứng ở ngôi thứ ba để tả hoặc dùng các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (tớ, tôi ) Tuy vậy biện pháp nhân hóa nếu dùng không
Trang 22đúng chỗ có thể làm cho việc tả đồ vật mất tính chân thực Trong nhữngtrường hợp đó tốt nhất là dùng ngôn ngữ sát hợp, chính xác, gợi hình ảnh đểtả cho đúng đồ vật.
Ví dụ: Với đoạn văn miêu tả con lợn tiết kiệm của nhà văn Nghiêm Toảnở trên ta thấy: Những chi tiết miêu tả từng bộ phận con lợn có màu sắc tươi
vui (thân nhuộm đỏ, tai xanh lá mạ, mắt đen lay láy), có đường nét dễ thương (béo tròn trùng trục, đuôi vắt chéo ngang hông, hai mắt lim dim, cái mõm như đang dũi, bụng phệ phẳng lì, ngoan ngoãn nằm yên ) Giọng văn của tác
giả đã hòa nhịp với lời kể thong thả, hồn nhiên của cô bé trong bài văn Nógiúp người đọc có thể nắm bắt được cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ và niềm vuicủa cô bé
1.1.2 Văn miêu tả trong nhà trường tiểu học
Hiện nay văn miêu tả được đưa vào chương trình phổ thông ngay từ cáclớp đầu bậc Tiểu học Từ lớp 2, khi tập quan sát để trả lời câu hỏi, các em đãbắt đầu làm quen với văn miêu tả Như vậy có thể thấy học sinh được làmquen với thể loại văn này từ rất sớm Học văn miêu tả, học sinh có thêm điềukiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộcsống, con người với thiên nhiên, với xã hội, để khêu gợi ra những tình cảm,cảm xúc, ý nghĩ cao thượng, đẹp đẽ Một nhà giáo dục Xô Viết cho rằng: việchọc sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả cảnh vật nhìn thấy,nghe thấy là con đường có hiệu quả nhất để giáo dục và phát triển ngôn ngữở trẻ
Ở bậc tiểu học, căn cứ vào đối tượng miêu tả, người ta chia thể loại vănmiêu tả thành năm kiểu bài: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật (lớp 4); tả cảnh, tảngười (lớp 5)
* Nội dung chương trình văn miêu tả lớp 4, 5:
Trang 23Kiểu bài văn miêu tả Số tiết dạy
Chương trình văn miêu tả lớp 4
Khái niệm văn miêu tả
*Miêu tả đồ vật
Cấu tạo của bài văn miêu tả đồ vật
Luyện tập miêu tả đồ vật
Quan sát miêu tả đồ vật
Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật
Luyện tập xây dựng đoạn văn
Kiểm tra viết
Trả bài
*Miêu tả cây cối
Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối
Luyện tập quan sát cây cối
Luyện tập miêu tả bộ phận của cây cối
Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối
Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây
cối
Luyện tập miêu tả cây cối
Kiểm tra viết
Trả bài
*Miêu tả con vật
Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật
Luyện tập quan sát con vật
Luyện tập miêu tả các bộ phận của con
vật
1
6
12111
4
211
11
11213
111
8
111
1
10
1211311
11
11213
111
8
111
Trang 24Luyện tập xây dựng đoạn văn
Kiểm tra viết
Trả bài
Chương trình văn miêu tả lớp 5
*Tả cảnh
Cấu tạo của bài văn tả cảnh
Luyện tập tả cảnh
Kiểm tra viết
Trả bài
*Tả người
Cấu tạo của bài văn tả người
Luyện tập (quan sát và chọn lọc chi tiết)
Luyện tập tả ngoại hình
Luyện tập tả hoạt động
Kiểm tra viết
Trả bài
Luyện tập xây dựng đoạn văn
Ôn tập về miêu tả (tả đồ vật, tả cây cối, tả
con vật, tả cảnh, tả người)
15
11022
8
112211
311
4
11210
311
1511022
12
112222210
* Qua khảo sát, phân tích nội dung chương trình SGK Tiếng Việt chúng tôi rút ra các nhận xét sau:
Xét về mặt thời lượng chương trình tiếng Việt hiện hành đã dành 72 tiết(72 bài) cho nội dung dạy học văn miêu tả ở lớp 4, 5 Trong khi đó chươngtrình cải cách giáo dục chỉ dành 63 tiết cho nội dung này Trong đó có 5 tiếtdành cho ôn tập và kiểm tra học kì Điều này chứng tỏ rằng chương trìnhtiếng Việt hiện hành đã nhấn mạnh tới yếu tố thực hành, coi trọng việc rènluyện các kĩ năng
Trang 25Chương trình chú trọng luyện tập và thực hành nhằm rèn luyện các kĩnăng bộ phận, đồng thời bước đầu hình thành những tri thức sơ giản về vănbản (kết cấu 3 phần: mở đầu, kết thúc, phần chính của văn bản; đặc điểm,phương pháp làm bài theo thể loại
Qua thống kê ở trên, chúng ta thấy rằng, vấn đề dạy văn miêu tả ở lớp 4,
5 chương trình tiếng Việt hiện hành được triển khai trên hai kiểu bài: Hình thành kiến thức mới và Luyện tập thực hành.
Ở kiểu bài Hình thành kiến thức mới, có cấu tạo ba phần (Nhận xét, Ghi nhớ, Luyện tập), riêng phần Nhận xét và Luyện tập được xây dựng dưới dạng
bài tập Phần Ghi nhớ chỉ bao gồm những vấn đề lý thuyết khái quát được rút
ra từ phần Nhận xét và sẽ được củng cố thêm ở phần Luyện tập
Các bài tập ở phần Nhận xét có mục đích chính là giúp học sinh phântích ngữ liệu để rút ra các khái niệm hoặc quy tắc cần ghi nhớ Mỗi bài tập ởphần này sẽ tương đương với một bộ phận tri thức lí thuyết ở phần Ghi nhớ.Đối với kiểu bài Luyện tập thực hành thường bao gồm một tổ hợp bàitập Các bài tập của kiểu bài Luyện tập thực hành và các bài tập ở mục Luyệntập của kiểu bài Hình thành kiến thức mới đều có mục đích và hình thứcgiống nhau Chúng bao gồm hai loại: bài tập nhận diện và bài tập vận dụng.Bài tập nhận diện có mục đích giúp học sinh củng cố các kiến thức lýthuyết đã được hình thành trong bài (với các bài tập ở phần Luyện tập)và các liến thức lý thuyết học sinh đã học ở những tiết trước (với các kiểu bàitập ở bài Luyện tập thực hành)
Bài tập vận dụng có mục đích giúp học sinh ứng dụng lý thuyết về cáckiểu bài của văn miêu tả, ứng dụng cách trình bày nói và viết các phần trongmột bài văn miêu tả theo nhiều cách khác nhau trước một đề bài, một gợi ý,một tình huống cụ thể
Tóm lại, qua thống kê và phân tích chương trình SGK Tiếng Việt ta thấynét khác biệt cơ bản là chương trình cũ không dạy về lý thuyết văn miêu tả
Trang 26còn chương trình mới dạy lý thuyết văn miêu tả như: Khái niệm về văn miêutả; Cấu tạo của bài văn miêu tả: đồ vật, cây cối, con vật, tả cảnh, tả người Tấtcả hệ thống lý thuyết này đều được dạy thông qua kiểu bài Hình thành kiếnthức mới và thông qua kiểu bài Luyện tập thực hành lại tiếp tục củng cố vàkhắc sâu tri thức lí thuyết.
Điểm mới của chương trình là các bài tập làm văn đều gắn với các chủđiểm Do vậy quá trình thực hiện các kĩ năng trên là dịp để học sinh mở rộngvốn từ, nói lên tâm tư, tình cảm của mình, mở rộng vốn hiểu biết về cuộcsống, tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện, phát triển
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học với quá trình dạy học văn miêu tả
Các em đã có sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn, các em thích quan sát mọivật xung quanh Khả năng tư duy cụ thể nhiều hơn khả năng khái quát hoá, vềtình cảm các em rất nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước Các em dễxúc động và bắt đầu biết mơ ước, có trí tưởng tượng phong phú Thích nghilại các vấn đề mà mình đã quan sát được Song vốn ngôn ngữ chưa phongphú Sắp xếp ý chưa có hệ thống và diễn đạt còn thiếu mạch lạc
Học sinh lớp 4, 5 đã bước vào lứa tuổi thiếu niên Các em lớn nhanh,kích thước và tổ chức cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành Hành vi vàđời sống nội tâm của các em đã có những thay đổi đột biến Nét đặc thù củanhân cách học sinh lứa tuổi này là ý thức mình không còn là trẻ con Vì vậytuy hành vi vẫn là trẻ con nhưng các em lại tỏ ra mình đã là người lớn Các
em dễ cáu bẳn nếu bị người lớn âu yếm như trẻ con và bướng bỉnh, khó bảonếu không được tôn trọng, không được cư xử bình đẳng Tuổi này vì vậyđược gọi là tuổi chuyển tiếp, tuổi “bất trị”
Do sự cân bằng cơ thể của trẻ em bị phá vỡ, sự cân bằng cơ thể ngườilớn còn chưa vững chắc, các em dễ xúc động và xúc động cao Tình trạngdâng cao cảm xúc khiến trẻ em tuổi này có một sự thay đổi đáng kể là: các emthích quan sát, thích nhận xét đánh giá Thường thì những nhận xét này mangtính trực quan cảm tính, các em đã thay hoạt động sáng tạo yêu thích là vẽ ở
Trang 27trước giai đoạn trước tuổi đến trường và đầu tiểu học bằng hình thức sáng tạongôn ngữ viết So với vẽ và đặc biệt là những bức vẽ trẻ em còn chưa hoànthiện, thì “lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rất nhiều lần những quan hệphức tạp, những tính chất bên trong, những vận động, sự phức tạp của sựkiện” Vì vậy từ lớp 4, hoạt động sáng tạo yêu thích của trẻ em là viết văn nóichung và viết văn miêu tả nói riêng Bởi thông qua hoạt động này các em cóthể thể hiện hết trí tưởng tượng và khả năng cảm nhận thế giới đồ vật, cây cối,cảnh vật và con người xung quanh.
Văn miêu tả phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học đó là: ưaquan sát, thích nhận xét, nhận xét về cảm tính, góp phần nuôi dưỡng mối quanhệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh Trong đó quantrọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáo dục tình cảm thẩm mỹ, lòng yêucái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ Nếu được học văn miêu tả theomột chương trình đúng, một phương pháp tốt thì trẻ em tuổi này rất hứng thúkhi học văn miêu tả Được viết những xúc động từ trong lòng, từ những điềuchính mắt các em quan sát được, không ít học sinh đã viết được những bàivăn khá hoàn chỉnh với những hình ảnh so sánh thật phong phú và sinh động.Trí tưởng tượng của trẻ rất phong phú, các em có thể liên tưởng đến rất nhiềuhình ảnh so sánh ngộ ngĩnh Và điều đó là một yếu tố rất quan trọng tạo nênsự thành công trong bài văn miêu tả
Đặc điểm tư duy của các em chủ yếu còn là trực quan sinh động, tư duytrừu tượng chưa phát triển Chính vì thế các em sẽ gặp khó khăn trong việcmiêu tả đối tượng mà các em không được nhìn thấy tận mắt Do vậy, đốitượng miêu tả phải gần gũi, quen thuộc với học sinh tiểu học như cái bút, cáicặp sách, cây bàng trước sân trường, cây hoa trong vườn hoặc con mèo, conchó Các em có thể quan sát trực tiếp khi miêu tả hoặc quan sát qua tranhảnh Một điều quan trọng nữa khi làm văn miêu tả, các em cần có sự hướngdẫn cụ thể của giáo viên khi bắt đầu làm quen với từng kiểu bài khác nhau.Giúp các em có thể xác định chính xác đối tượng miêu tả, các chi tiết chínhcần tả để tránh lan man Ngôn ngữ của các em cũng chưa hoàn thiện, việc sử
Trang 28dụng từ ngữ còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy trong quá trình học, giáo viêncần chú trọng đến việc rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh, giúp các em tích lũyđược vốn từ phong phú qua từng bài học.
Qua phân tích ở trên, ta có thể thấy thể loại văn miêu tả rất phù hợp vớitâm sinh lý của trẻ Và dựa vào đó chúng ta sẽ có cơ sở để tiếp tục nghiêncứu, đưa ra những phương pháp dạy học, phù hợp với mục tiêu của mônTiếng Việt, đặc biệt là phù hợp với sự phát triển tâm lý lứa tuổi học sinh tiểuhọc
1.2 Cơ sở thực tiễn
Việc dạy – học làm văn ở nhà trường phổ thông nói chung, việc dạy họcvăn miêu tả ở lớp 4, 5 nói riêng, bên cạnh nhiều điểm tốt, mang lại một số kếtquả nhất định, còn khá nhiều nhược điểm và khuyết điểm Khuyết điểm lớnnhất, dễ thấy nhất là bệnh công thức, khuôn sáo, máy móc thiếu tính chânthực trong cả cách dạy và học văn miêu tả
Vay mượn ý tình của người khác, thường là của một bài văn mẫu Nóicách khác, học sinh sẵn sàng học thuộc một bài văn mẫu, một câu văn mẫu,khi làm bài các em sao chép ra và biến thành bài làm của mình, khồng kể đầubài quy định như thế nào Với cách làm ấy, các em không cần biết đến đốitượng miêu tả, không quan sát và không có cảm xúc gì về chúng Chấm bàikhông tinh, thầy cô giáo dễ khen nhầm văn của người khác mà cứ tưởng làvăn của học trò mình Đây là điều không chỉ xảy ra với văn miêu tả mà hầuhết các thể loại văn khác cũng tương tự như thế
Miêu tả hời hợt, chung chung không có một sắc thái riêng biệt nào củađối tượng được tả Vì thế bài làm ấy gắn cho đối tượng miêu tả nào cùng loạicũng được, thay đổi họ tên của người làm bài đi dùng cho học sinh nào cũngthế Một bài miêu tả như vậy đọc lên ta cảm thấy nhợt nhạt, mờ mờ Nguyênnhân chủ yếu là vì các em không được quan sát, không biết cách hồi tưởng lạikinh nghiệm sống của mình nên không có những nhận xét cụ thể và tinh tế
Trang 291.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên
Qua việc thăm dò các ý kiến của các giáo viên trong quá trình xuốngtrường tiểu học thực tập, đồng thời tiến hành khảo sát 40 giáo viên ở khối lớp
4, 5 giảng dạy tại trường Tiểu học Lê Mao và trường Tiểu học Hà Huy Tập II,thành phố Vinh tỉnh Nghệ An, chúng tôi đã nhận thấy được những mặt tíchcực và hạn chế của giáo viên trong quá trình dạy học văn miêu tả nói chungvà dạy văn miêu tả đồ vật nói riêng
Bảng nhận thức và thực trạng dạy học văn miêu tả của GV
1 Nắm được khái niệm văn miêu tả 25 62,5%
2 Nắm được đặc điểm của văn miêu tả 13 32,5%
3 Xác định được tầm quan trọng của việc dạy
4 Xác định được khó khăn của giáo viên khi
dạy văn miêu tả đồ vật 27 67,5%
5 Xác định được khó khăn và sai lầm học sinh
hay mắc phải khi làm văn miêu tả đồ vật 19 47,5%
6 Biết cách đưa ra những biện pháp khắc phục
lỗi cho học sinh 9 22,5%
7 Nắm được yêu cầu quan trọng nhất khi làm
bài văn miêu tả đồ vật 19 47,5%
8 Sử dụng các phương tiện dạy học trong quá
trình dạy học văn miêu tả 10 25%
9 Áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp
trong dạy học văn miêu tả 14 35%Kết quả điều tra cho thấy có 37,5% số giáo viên dạy các lớp 4, 5 chưathấy được tầm quan trọng của việc dạy văn miêu tả cho học sinh, nhất là đốivới văn miêu tả đồ vật Điều này chứng tỏ đa số giáo viên cũng đã nhận thứcđược tầm quan trọng của việc dạy văn miêu tả cho học sinh (chiếm 62,5%).Và chỉ có 32,5% số giáo viên nắm được đặc điểm của văn miêu tả,47,5% giáo viên nắm được yêu cầu quan trọng nhất khi làm bài văn miêu tả
Trang 30đồ vật Do đó có thể thấy ở giáo viên sự thiếu hụt về lý thuyết văn miêu tả cònchiếm một số lượng lớn Vì vậy có đến 67,5% giáo viên cảm thấy rất khókhăn khi dạy về văn miêu tả Đa số giáo viên đều cho rằng Tập làm văn làphân môn khó dạy, đặc biệt là thể loại văn miêu tả, không biết diễn đạt thếnào, lựa chọn hình thức dạy học ra sao để học sinh dễ hiểu.
Điều đáng chú ý là có rất ít giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học(tranh ảnh, vật thật ) trong khi dạy văn miêu tả, chỉ có khoảng 25% Đâycũng chính là một yếu tố làm cho việc dạy và học văn miêu tả, đặc biệt là tảđồ vật gặp nhiều khó khăn và ít có hiệu quả
Cũng đã có đến 47,5% số giáo viên xác định được những khó khăn và sailầm mà học sinh hay mắc phải trong quá trình làm một bài văn tả đồ vật.Nhưng lại chỉ có 22,5% số giáo viên biết cách đưa ra những biện pháp khắcphục lỗi đó cho học sinh Điều này càng cho thấy việc dạy văn miêu tả củagiáo viên ở trường còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục
Ngoài kiểm tra những hiểu biết chung của giáo viên về văn miêu tả vàvăn miêu tả đồ vật, trong quá trình điều tra chúng tôi cũng tiến hành khảo sátvề thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong các tiết dạy văn miêu tảcủa giáo viên Và chỉ có đến 35% số giáo viên đã có sử dụng một số phươngpháp khi dạy về văn miêu tả Hầu hết các giáo viên đều thực hiện theo mộtquy trình chung cho các tiết dạy văn miêu tả ở các thể loại Giáo viên hìnhthành các hiểu biết về lý thuyết về văn miêu tả nói và văn miêu tả đồ vật nóiriêng qua việc phân tích mẫu Khi ra một đề văn miêu tả, giáo viên cũng chỉgiới thiệu các bước làm như trong SGK Tiếng Việt, không sử dụng đến cácphương pháp dạy học khác Điều này sẽ làm cho học sinh viết văn một cáchrập khuôn và khi đọc lên sẽ thấy cứng nhắc, khô khan
Có thể thấy rằng, những hiểu biết về mặt lí luận của giáo viên đối vớivăn miêu tả nói chung và văn miêu tả đồ vật nói riêng còn gặp nhiều hạn chế
Trang 31Việc áp dụng các phương pháp phù hợp trong từng tiết dạy còn rất ít và hầunhư là không có sự quan tâm, tìm tòi của giáo viên.
Ngoài những thực trạng cụ thể mà chúng tôi khảo sát ở trên, giáo viêncòn tồn tại một số nhược điểm chung sau:
- Các giáo viên đều thấy rất “ngại dạy” phân môn Tập làm văn, nhất làvăn miêu tả Do đây cũng là một phân môn khó, hơn nữa không phải giáoviên nào cũng được đào tạo chuyên sâu về văn nên khi dạy rất khó để giúphọc sinh cảm nhận được những cái hay, cái đẹp trong văn thơ Đồng thời cũngchưa có những phương pháp dạy học đa dạng, phù hợp để giúp các em cóđược những kĩ năng làm văn miêu tả
- Giáo viên chỉ có một con đường duy nhất hình thành các hiểu biết về lýthuyết thể văn, các kĩ năng làm bài… thông qua việc phân tích mẫu
- Ra đề bài văn miêu tả không cần biết đến đề đó có thích hợp với họcsinh của mình hay không Giáo viên quá lệ thuộc vào sách giáo khoa và sáchgiáo viên, chưa có sự chủ động, linh hoạt trong mỗi lần ra đề, chưa chú ý đếnđặc điểm của từng vùng miền Ví dụ, ở thành phố cho học sinh tả con lợn ởnhà em, con trâu của đội em, cho học sinh tả “chiếc cối đậu”, cây cà chua…(SGK Tiếng Việt 4) Đây là những đồ vật, con vật, cây cối vốn xa lạ với các
em học sinh thành phố Còn ở nông thôn lại ra đề cho các em tả một sân gahay bến tàu, tất cả những điều này có thể các em chưa nhìn thấy, chưa đượcquan sát chúng Điều này có nghĩa từ khâu ra đề cho tới câu văn mẫu nhấtnhất đều theo SGK không sai một chữ nào dù đối tượng được miêu tả khôngphù hợp với từng học sinh, dù dàn ý mẫu không thích hợp với hoàn cảnh miêutả cụ thể của lớp mình dạy, dù câu văn không phù hợp với quan sát thực củacác em
- Giáo viên chưa coi trọng tiết trả bài kiểm tra của học sinh, chưa đi sâuvào việc sửa lỗi cho các em, giúp các em nhận ra lỗi của mình để khắc phục
Trang 32cho bài làm sau Đồng thời chưa tạo điều kiện để học sinh phát huy đượcnhững ưu, nhược điểm của mình.
- Qua thực tế chúng tôi thấy: Tất cả các giờ học Tập làm văn không chỉriêng thể loại văn miêu tả mà các giờ làm văn khác đều được tiến hành trongbốn bức tường chật hẹp Đa số chỉ là giáo viên ghi đề bài trên bảng, sau đócho học sinh đọc gợi ý trong SGK và tiếp theo là học sinh tự làm bài
- Trong quá trình dạy học văn miêu tả, giáo viên chưa khai thác hết cácbiện pháp dạy học, chưa vận dụng các biện pháp tu từ so sánh, việc lựa chọncác từ ngữ, các hình ảnh phù hợp vào quá trình luyện tập, thực hành cho họcsinh Có chăng giáo viên chỉ nhắc qua đến chứ chưa hướng dẫn học sinh cáchthức làm như thế nào Vì vậy bài làm của học sinh chưa thực sự hay và chưacó nhiều hình ảnh sinh động
1.2.2 Thực trạng nhận thức của học sinh
Trong quá trình thực tập dưới trường tiểu học, chúng tôi đã tiến hànhkhảo sát tổng số 40 học sinh ở các khối lớp 4, 5 đang học tại trường Tiểu học
Lê Mao và Hà Huy Tập II về những hiểu biết ở thể loại văn miêu tả, thựctrạng học văn miêu tả của học sinh Đồng thời qua việc thăm dò ý kiến củacác em trong khi làm công tác chủ nhiệm lớp, chúng tôi cũng đã nhận thấyđược những mặt tích cực và hạn chế của các em trong việc học văn miêu tảnói chung và văn miêu tả đồ vật nói riêng
Trong khi điều tra, thăm dò về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy trong quátrình học Tập làm văn các em gặp rất nhiều khó khăn, học sinh không nắmđược kĩ năng làm một bài văn miêu tả Học sinh thường rất “ngại viết”, dovậy khi yêu cầu các em làm một bài văn miêu tả thì hầu như là viết cho cóbài, có những em viết một bài văn miêu tả đồ vật mà chỉ được có 7, 8 dòng.Học sinh thường không hứng thú với việc học văn, nhất là văn miêu tả.Khi được hỏi trong các phân môn của môn Tiếng Việt em thích học môn nàonhất, có đến 90% các em đều trả lời là Tập đọc Và 98% học sinh cho rằngmôn khó học nhất là Tập làm văn Đối với các em làm một bài văn miêu tả
Trang 33thực sự là một công việc hết sức khó khăn vì các em không biết diễn đạt thếnào, không biết liên tưởng, tưởng tượng ra sao để nói và viết về đối tượng tảcho phù hợp Hơn nữa các em lại không được sự hướng dẫn cụ thể của giáoviên nên các em không định hướng được cho bài viết của mình Có một số emcòn thắc mắc tả cái bút chì thôi thì phải tả như thế nào? Tả những chi tiết nào?Hầu hết học sinh đều nắm được dàn ý của một bài văn miêu tả đồ vậtgồm mấy phần và các cách mở bài cho một bài văn miêu tả đồ vật nhưng khiyêu cầu lập dàn ý cho bài văn miêu tả chiếc bút của em thì chỉ có 35% họcsinh làm được Số còn lại chỉ làm được ở mức trung bình Điều này cho thấycác em cũng mới chỉ nắm bắt được lý thuyết về văn miêu tả ở mức trung bìnhđồng thời cũng chưa biết cách áp dụng những lý thuyết đó trong khi viết văn.Chúng tôi đã khảo sát những công việc thường làm của học sinh trongkhi viết một bài văn miêu tả đồ vật và thu được kết quả sau:
Bảng khảo sát công việc thường làm của HS khi làm
một bài văn miêu tả đồ vật
1 Đọc kĩ đề và lập dàn ý 19 47,5%
2 Chép sẵn bài văn mẫu vào vở nháp 17 42,5%
3 Phát triển các ý thành câu và liên kết chúng
4 Đọc lại toàn bài để sửa chữa 8 20%Chúng ta nhận thấy, trong quá trình làm một bài văn miêu tả đồ vật tỉ lệhọc sinh đọc kĩ đề và lập dàn bài là 47,5%, hơn một nửa trong số các emkhông có thói quen này Số học sinh phát triển các ý thành câu và liên kếtchúng lại với nhau chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ là 25% Đây chính là lý do tại saobài viết của các em thường rời rạc, không có sự mạch lạc Việc học sinh đọc
Trang 34lại toàn bài để sửa chữa cũng chiếm tỉ lệ ít là 20%, trong khi đó vẵn có tới42,5% học sinh sử dụng bài văn mẫu để làm bài Điều này chứng tỏ học sinhkhông có thói quen sáng tạo trong khi làm bài Học ngại nói, ngại viết, lườisuy nghĩ, tìm tòi trong khi làm các bài văn miêu tả, do vậy cách nhanh nhất làmở bài văn mẫu ra nhìn và viết theo.
Trong quá trình viết một bài văn các em thường mắc những lỗi như:dùng từ sai nghĩa, không phù hợp với đối tượng miêu tả, ngắt câu khôngchính xác, đặt những câu văn không đủ thành phần, thiếu nghĩa, không cónhững hình ảnh sinh động Học sinh chưa có khả năng viết một đoạn vănhoàn chỉnh, có câu chủ đề mà chỉ là cách liên kết máy móc các câu trong đoạnvăn, nghĩ đến đâu viết đến đấy Bố cục của một bài văn không rõ ràng viếtcòn sơ sài, ngắn gọn Đây là một điều đáng lưu ý về thực trạng dạy học Tậplàm văn nói chung và dạy văn miêu tả nói riêng trong nhà trường chúng tahiện nay mà nguyên nhân chính là do các em không được rèn luyện các kĩnăng làm bài một bài văn hoàn chỉnh
Khi tìm hiểu về những khó khăn cơ bản của học sinh trong quá trình họcTập làm văn nói chung và học văn miêu tả nói riêng, chúng tôi đã có kết quảthống kê như sau:
Bảng: Khó khăn cơ bản của HS khi học văn miêu tả
Kết quả
1 Đề bài quá khó 10 25%
2 Không có bài tập làm văn mẫu để viết theo 12 30%
Trang 353 Thầy (cô giáo) giảng bài khó hiểu 15 37,5%
4 Không biết phải viết gì và viết như thế nào 25 62,5%
5 Không biết cách liên kết các câu, đoạn văn 23 57,5%
6 Không có hứng thú học văn 13 32,5%Kết quả ở bảng trên cho thấy khó khăn cơ bản nhất trong quá trình các
em học văn miêu tả là các em không biết phải viết gì và viết như thế nào(chiếm tỉ lệ 62,5%) và không biết cách liên kết các câu văn, đoạn văn (chiếmtỉ lệ 57,5%) Điều này cho thấy còn nhiều hạn chế trong cách dạy của giáoviên và cách học của học sinh 37,5% học sinh cho rằng do giáo viên giảngbài khó hiểu, do phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của giáo viên làchưa phù hợp Số học sinh không có hứng thú học bài là 32,5%, đáng lo ngạihơn là có 30% số học sinh cho rằng khó khăn là do không có bài văn mẫu đểviết theo Chứng tỏ các em thiếu sự chủ động, linh hoạt trong quá trình họctập Chính vì những khó khăn đó mà bài làm của học sinh còn thiếu tính chânthực và sinh động Các em chưa biết kết hợp miêu tả với việc thể hiện cảmxúc của mình trong bài văn, chưa biết áp dụng các biện pháp nghệ thuật trongkhi làm bài Các em viết câu văn đọc lên thấy rất cụt, không đủ ý
1.2.3 Thực trạng bài viết của học sinh
Tả đồ vật là kiểu bài miêu tả đầu tiên học sinh tiểu học được học do vậymà kĩ năng viết một bài văn hoàn chỉnh của các em còn nhiều hạn chế Vì thếkhi viết một bài văn tả đồ vật, học sinh còn mắc phải nhiều lỗi
Qua việc khảo sát một số bài miêu tả đồ vật của học sinh trong đợt thựctập vừa rồi chúng tôi nhận thấy một trong những lỗi thường gặp, dễ thấy củahọc sinh là lỗi dùng từ và sắp xếp các ý Việc miêu tả đồ vật của các emkhông theo một trình tự nhất định mà thường hay lôn xộn giữa các ý Chẳnghạn đang miêu tả bên trong chiếc cặp, có em lại quay sang tả thêm về quaisách hoặc tả xong phần bên ngoài và bên trong chiếc cặp có em còn chốt lạimột ý: “chiếc cặp hình chữ nhật nhìn rất đẹp”
Trang 36Một thực trạng có thể thấy nữa ở bài viết của học sinh đó là bài làm quángắn Một bài văn tả chiếc cặp hay chiếc bút mà có em chỉ viết được 6, 7dòng Đọc những bài văn đó lên cảm thấy rất cụt và khô khan Các em viếtvăn theo kiểu liệt kê các chi tiết, các bộ phận của đồ vật, chẳng hạn như bàiviết tả chiếc đồng hồ báo thức của một học sinh:
Nhân dịp đầu năm học mới, mẹ mua cho em chiếc đồng hồ để báo thức Hình dáng của chiếc đồng hồ tròn, vỏ bên ngoài làm bằng nhựa màu hồng tươi Mặt đồng hồ có 12 chữ số màu trắng, viền đen, có bốn cây kim: kim giờ, kim phút, kim giây và kim báo thức Chân đế bằng làm bằng sắt mạ bóng loáng Chiếc đồng hồ rất có ích trong đời sống hàng ngày Nó báo giờ, báo thức giúp em đi học đúng giờ
Đã qua bao thời gian nhưng chiếc đồng hồ vẫn đẹp Em rất yêu quý chiếc đồng hồ này và sẽ giữ gìn nó cẩn thận.
Bài văn trên mặc dù có đầy đủ 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài nhưngvẫn chưa phải là một bài viết hoàn chỉnh Bài văn giống như đang liệt kê racác bộ phận chính của một chiếc đồng hồ báo thức Đọc bài văn miêu tả lêncảm thấy rất khô khan, cứng nhắc, thiếu sự sinh động
Từ đó cũng cho thấy rằng học sinh chưa biết kết hợp miêu tả với việc thểhiện cảm xúc, sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong bài văn của mình Họcsinh rất ít có sự đầu tư và sáng tạo cho một bài viết tả đồ vật, các em viết văntheo kiểu chống đối, chỉ là để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình Và thếnào là một bài văn tả đồ vật hay và đạt yêu cầu? Làm thế nào để được nhưvậy? Đó phải là câu hỏi mà đòi hỏi tất cả các em cần phải suy nghĩ và cố gắngtìm ra câu trả lời
1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng trên
1.2.4.1 Về phía giáo viên
Tìm hiểu được những khó khăn, hạn chế trong việc dạy học Tập làm văncủa giáo viên, chúng tôi rút ra được một số nguyên nhân sau:
Trang 37- Giáo viên chưa ý thức được vai trò và tầm quan trọng của việc dạy vàhọc văn miêu tả trong nhà trường Tiểu học Chưa xác định được mục tiêu củadạy học Tiếng Việt nói chung và mục tiêu dạy văn miêu tả nói riêng Vì thếchưa phát triển các kĩ năng trong từng bài học và trong khi làm bài văn miêu tả.
- Trình độ về lý luận dạy học tiền Việt theo quan điểm hiện đại chưađược trang bị một cách đầy đủ và hệ thông đối với từng giáo viên, Do đó vềmặt nhận thức cũng như việc phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học còncó phần hạn chế
- Mặc dù quy trình hướng dẫn cho mối tiết tập làm văn đều rất rõ rang vàkhá cụ thể nhưng dường như giáo viên đều bỏ qua các bước, không có sự địnhhướng cho học sinh một cách chi tiết trong từng bước, từng phần Vì vậy hiệuquả của việc dạy học văn miêu tả chưa đem lại kết quả như mong đợi
- Hình thức dạy học và đồ dùng trực quan còn nghèo nàn nên học sinhkhông có những hiểu biết, những hình dung cụ thể và rõ nét về đối tượngmiêu tả Giáo viên chưa có sự tìm tòi và áp dụng những phương pháp dạy vănmiêu tả cho phù hợp với đối tượng học sinh
- Giáo viên chưa xây dựng được một quy trình chung để tổ
chức cho học sinh rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả mà chỉ hướng dẫnhọc sinh hoàn thành các yêu cầu bài tập trong SGK Việc dạy văn miêu tả chỉdựa trên kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên
1.2.4.2 Về phía học sinh
Tìm hiểu nguyên nhân thực trạng nhận thức của học sinh về văn miêu tảnói chung và văn miêu tả đồ vật nói riêng, chúng tôi có một số ý kiến sau:
- Vốn từ của học sinh tiểu học còn nghèo nàn và hiểu nghĩa từ một cách
mơ hồ Các em chưa hiểu được bản chất và chức năng của từ cho nên việc sửdụng từ còn hạn chế, có khi còn dùng từ sai Điều đó dẫn đến việc các em
Trang 38diễn đạt câu văn còn chưa được trôi chảy, sắp xếp các từ, các câu văn còn lộnxộn.
- Vốn kinh nghiệm sống và vốn hiểu biết thực tế của các em còn quá ít,nhất là với học sinh thành phố được bố mẹ bao bọc, hay chiều chuộng Dovậy mà bài viết của các em còn thiếu sự chân thực và sinh động
- Học sinh không có sự sáng tạo, chịu khó tìm tòi, học hỏi, làm giàu vốntừ và vốn hiểu biết của mình Các em lười suy nghĩ, khi làm các bài văn miêutả đồ vật thường chỉ theo một khuôn mẫu chung hoặc là sao chép của bạnkhác, của văn mẫu Nếu giáo viên hướng dẫn, nêu ví dụ miêu tả như thế nàothì một số em viết đúng như vậy vào bài làm của mình
Trên đây là một số nguyên nhân chủ yếu về phía giáo viên và học sinhdẫn đến thực trạng dạy và học văn miêu tả ở tiểu học còn nhiều vấn đề hạnchế Tuy nhiên cũng phải kể đến một nguyên nhân khách quan là do phânmôn Tập làm văn là một phân môn khó đối với giáo viên và học sinh Đồngthời chưa có sự quan tâm sâu sắc của nhà trường đối với việc nâng cao chấtlượng dạy – học phân môn Tập làm văn, đặc biệt là đối với việc học văn miêutả của học sinh Tập làm văn là phân môn đòi hỏi sự tổng hợp kiến thức củanhiều môn học khác nhau và sử dụng nhiều kĩ năng Để viết được một bài vănhay không phải là dễ và để có được kĩ năng viết văn tốt cũng là điều khó cầnphải được rèn luyện lâu dài và thường xuyên Do vậy đối với học sinh tiểuhọc mới bắt đầu làm quen với thể loại văn miêu tả thì việc này cũng gặp rấtnhiều khó khăn, đặc biệt là nó đòi hỏi phải có một vốn từ vựng nhất định vàlối viết văn mạch lạc, trong khi đó học sinh tiểu học lại có vốn từ vựng rất ítvà chưa có kĩ năng viết văn tốt Nếu như giáo viên có được phương pháp dạyhọc văn miêu tả phù hợp, một quy trình hướng dẫn chung và áp dụng vào quátrình dạy học này một cách linh hoạt thì chắc chắn sẽ giải quyết được rấtnhiều khó khăn trong dạy văn miêu tả nói riêng và phân môn Tập làm văn nóichung
Trang 39Tiểu kết chương 1
1 Văn miêu tả đồ vật là thể văn thuộc phong cách nghệ thuật được dạytrong nhà trường từ bậc tiểu học Đây là thể loại văn không phải là dễ học đốivới học sinh đòi hỏi phải có một hệ thống kĩ năng dùng từ và liên kết câu văn,đoạn văn Đồng thời phải có một hệ thống phương pháp dạy học phù hợp vớithể loại văn miêu tả này Việc nắm bắt những đặc điểm của văn miêu tả nóichung và văn miêu tả đồ vật nói riêng là rất cần thiết giúp bài làm văn đạt chấtlượng cao
2 Thực trạng nhận thức về mục đích, nội dung, phương pháp và tầm quantrọng của việc dạy văn miêu tả nói chung, văn miêu tả đồ vật nói riêng cho họcsinh lớp 4còn nhiều tồn tại và bất cập Những hạn chế trong việc dạy học củagiáo viên, những nhược điểm còn bắt gặp ở học sinh là những vấn đề cần phảiđược dần dần khắc phục
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4
LUYỆN TẬP VĂN MIÊU TẢ ĐỒ VẬT
2.1 Phương pháp hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả
Nhưng quan sát trong văn học khác hẳn với quan sát trong khoa học Nhàkhoa học khi quan sát một con vật, theo dõi thời tiết, nghiên cứu cơ thểngười… điều họ chú ý không phải là đặc điểm riêng của từng cá thể (con chólông màu gì, có dị tật gì không? Con mèo mắt màu gì, lông của nó ra sao?Người này cao hay thấp, béo hay lùn? ) mà là đặc điểm chung của giống, loàimà cá thể đó đại diện Tài liệu họ thu được là các nhận xét mang tính kháiquát và không chứa đựng cảm xúc hay trạng thái tình cảm Người viết vănmiêu tả lại quan sát theo một cách khác Họ chú ý tới các đặc điểm riêng củatừng cá thể đồng thời nhận xét các đặc điểm này thông qua tình cảm và cảmxúc của mình (quan sát con mèo họ chú ý xem lông nó có đặc điểm gì kháccác con mèo xung quanh, khuôn mặt người này có gì khác với khuôn mặtkhác…) Tài liệu họ thu được là những nhận xét mang tính chủ quan và gắnliền với cảm xúc
Quan sát khoa học đòi hỏi sự chính xác, tỉ mỉ nên đòi hỏi người quan sátkhông thể chỉ nhìn bằng mắt mà còn phải cân đo, đong đếm bằng các công cụ
đo lường để có được các con số cụ thể Quan sát trong văn học cũng đòi hỏisự chính xác nhưng là sự chính xác của tính chân thực, chứ không phải sự