1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp hướng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả lớp 4, 5

114 387 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 549,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có đợc một bài văn miêu tả đạt chất lợng cao, yêu cầu đặt ra cho học sinh không chỉ là tả đúng, tả đầy đủ các thành phần, bộ phận của sự vật, hiện tợng mà các em còn phải biết tìm ra

Trang 1

động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt luận văn này.

Qua đây, cho phép tôi đợc đợc gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô giáo, các

em học sinh các trờng tiểu học: Xuân Thọ - Nh Thanh, Quảng Tân - Quảng

X-ơng, Điện Biên I và Trần Phú - Thành phố Thanh Hoá đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình làm đề tài

Dù đã rất cố gắng song do hạn chế về năng lực cũng nh thời gian vì vậy luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong thầy cô

và bạn đọc góp ý

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 12 năm 2009

Tác giả

Trang 2

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Khách thể nghiên cứu 5

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

7 Phơng pháp nghiên cứu 6

8 Cấu trúc đề tài 6

Nội dung 7

Chơng 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Văn miêu tả và đặc điểm văn miêu tả 7

1.1.2 Đặc tả trong văn miêu tả 14

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học đối với việc học văn miêu tả và sử dụng phơng pháp đặc tả khi miêu tả 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Chơng trình SGK văn miêu tả ở tiểu học 18

1.2.2 Thực trạng dạy học sử dung đặc tả trong văn miêu tả ở trờng tiểu học 26

1.3 Tiểu kết chơng 1 31

Chơng 2 Hớng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả 32

2.1 Phơng pháp hớng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả 32

2.1.1 Xác định rõ đối tợng miêu tả 32

2.1.2 Quan sát kĩ đối tợng miêu tả 38

2.1.3 Lựa chọn chi tiết 49

2.1.4 Bày tỏ cảm xúc và sử dụng từ ngữ gợi cảm, gợi tả 70

2.2 Một số biện pháp nâng cao chất lợng sử dụng đặc tả trong dạy học văn miêu tả ở tiểu học 73

2.2.1 Chú trọng các nhân tố giao tiếp ở khâu ra đề 73

2.2.2 Rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng xây dựng bài văn miêu tả 76

Trang 3

2.2.3 Đổi mới phơng pháp đánh giá bài làm văn miêu tả của học sinh 81

2.2.4 Bồi dỡng kiến thức văn học, kiến thức đời sống, tích luỹ vốn từ cho học sinh 82

2.3 Tiểu kết chơng 2 83

Chơng 3 Thử nghiệm s phạm 85

3.1 Giới thiệu khái quát về quá trình thử nghiệm 85

3.1.1 Mục đích thử nghiệm 85

3.1.2 Nguyên tắc thử nghiệm 85

3.1.3 Nội dung thử nghiệm 85

3.1.4 Phơng pháp thử nghiệm 85

3.1.5 Tổ chức thử nghiệm 85

3.1.6 Xử lí kết quả thử nghiệm 87

3.2 Kết quả thử nghiệm 88

3.2.1 Kết quả việc lĩnh hội kiến thức của học sinh qua bài thử nghiệm 88

3.2.2 Đánh giá mức độ hoạt động học tập của học sinh 90

3.2.3 Đánh giá mức độ hứng thú của học sinh trong giờ học 91

3.2.4 Đánh giá sự chú ý của học sinh trong giờ học 91

3.3 Đánh giá chung về kết quả thử nghiệm 92

3.4 Tiểu kết chơng 3 93

Kết luận 94

Tài liệu tham khảo 98

Phụ lục

Trang 4

mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Phân môn Tập làm văn đóng một vai trò quan trọng trong chơng trình Tiếng Việt ở tiểu học Đây là một phân môn có tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo Nó là kết quả của nhiều phân môn Tiếng Việt hợp lại,

do đó nó huy động vốn kiến thức nhiều mặt, sử dụng nhiều loại kĩ năng để hình thành một năng lực mới Có thể khẳng định rằng, kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh tiểu học đợc thể hiện phần lớn thông qua phân môn Tập làm văn

Phân môn Tập làm văn ở tiểu học đợc thể hiện qua nhiều kiểu bài nh: viết lời đối thoại, quan sát tranh trả lời câu hỏi, nghe kể chuyện trả lời câu hỏi, miêu tả, kể chuyện, tờng thuật, tranh luận, thuyết trình Trong đó văn miêu tả chiếm một vị trí lớn về thời lợng và đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển năng lực của học sinh Văn miêu tả giúp học sinh thể hiện

đợc sự hiểu biết của mình về cuộc sống xung quanh Văn miêu tả bồi dỡng cho học sinh óc quan sát tinh tế, nhanh nhạy cũng nh vốn sống và tâm hồn cho các em

Để có đợc một bài văn miêu tả đạt chất lợng cao, yêu cầu đặt ra cho học sinh không chỉ là tả đúng, tả đầy đủ các thành phần, bộ phận của sự vật, hiện tợng mà các em còn phải biết tìm ra nét đặc sắc tiêu biểu, những nét riêng của chúng để tả Thực tế cho thấy rằng, không có sự vật, hiện tợng nào giống nhau cả Mỗi sự vật, hiện tợng nhìn bề ngoài cho dù nó có giống nhau đi chăng nữa thì nó vẫn có những điểm riêng khác nhau nhất định nào đó và chính những cái riêng, cái khác nhau ấy tạo cho sự vật những nét đặc sắc riêng Chính vì lẽ

đó, để có một bài văn miêu tả hay mang những nét riêng, yêu cầu học sinh khi tả, ngoài việc tìm đợc những nét chung của sự vật, hiện tợng để tả thì phải tìm

ra đợc các nét riêng, nét tiêu biểu của sự vật, hiện tợng đó Học sinh phải biết

Trang 5

đặc tả một số nét của sự vật, hiện tợng để làm nổi rõ bản chất của chúng tạo ra cái riêng trong bài văn miêu tả của mình

Hiện nay, trong chơng trình Tập làm văn ở Tiểu học, văn miêu tả chiếm một vị trí lớn và đóng một vai trò quan trọng Song thực tế cho thấy rằng chất lợng học tập và giảng dạy văn miêu tả còn cha cao Giáo viên dạy cha tìm ra

đợc cách dạy học mang đặc trng tiêu biểu của phân môn Điều kiện để học sinh học văn miêu tả còn hạn chế Vì vậy, sản phẩm là các bài văn của các em còn mang tính máy móc, rập khuôn Các em thờng làm theo sách bài văn mẫu nên bài viết hoặc sáo rỗng hoặc không đúng thực tế Khi miêu tả một sự vật, hiện tợng nào đó các bài văn, thậm chí giọng văn của các em đều na ná giống nhau theo kiểu từ một khuôn mẫu cho trớc Các bài văn của học sinh còn mắc một sai lầm nữa là khi miêu tả sự vật, hiện tợng các em thờng liệt kê tất cả các thành phần, bộ phận của chúng theo kiểu dàn hàng ngang mà không chú ý lựa chọn những đặc điểm đặc sắc, những bộ phận có thể khắc họa hình ảnh sự vật, hiện tợng đó Vì vậy, bài văn của học sinh thờng nhàm chán và mờ nhạt, nó không khắc sâu đợc hình ảnh của đối tợng miêu tả Ngời đọc có thể đọc một bài văn miêu tả rất dài, rất đầy đủ, chi tiết nhng vẫn không hình dung ra đợc

sự vật, hiện tợng đó nh thế nào Ngời đọc không tìm ra cái thần, cái hồn trong bài văn miêu tả

Là một giáo viên vốn rất quan tâm đến vấn đề phơng pháp dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy Tập làm văn ở tiểu học nói riêng, trong đó có dạy văn miêu tả, với những kinh nghiệm tích góp đợc trong những năm trực tiếp giảng dạy và lòng say mê nghề nghiệp, chúng tôi muốn đóng góp một phần bé nhỏ của mình nhằm góp phần nâng cao chất lợng dạy văn miêu tả Vì vậy

chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Phơng pháp hớng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả lớp 4, 5” nhằm hạn chế bớt những tồn tại trong dạy văn

miêu tả ở tiểu học, nâng cao hơn nữa chất lợng dạy văn miêu tả nói riêng và dạy Tiếng Việt nói chung

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Phơng pháp dạy tập làm văn ở Tiểu học là vấn đề đợc rất nhiều nhà s phạm và nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm Chúng ta có thể tìm hiểu vấn đề này thông qua các tài liệu tiêu biểu nh:

Các tài liệu về phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học:

1 Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học tập 1,2 Lê Phơng Nga,

Nguyễn Trí (Nhà xuất bản trờng ĐHSP I Hà Nội 1995) ở cuốn sách này tác giả chia nội dung ra làm hai phần

Phần I: Bàn về những vấn đề chung của phơng pháp dạy học Tiếng

Việt ở Tiểu học

Phần II: Đi sâu vào các phơng pháp dạy các phân môn cụ thể.

Cuốn sách này dành một phần nhỏ cho vần đề dạy Tập làm văn ở tiểu học song vấn đề dạy văn miêu tả đợc đề cập hết sức sơ sài Tác giả cha chú ý

đến cách dạy cho học sinh làm bài văn miêu tả có chất lợng

2 Phơng pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học - Lê Phơng Nga, Nguyễn

Trí (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội - 1999) Đây là cuốn sách biên soạn công phu trên cơ sở của cuốn phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học tập1, 2

Phần đầu cuốn sách bàn về vấn đề chung của dạy Tiếng Việt ở tiểu học

và sau đó đi sâu vào phơng pháp dạy học các phân môn cụ thể Cuốn sách cũng bàn nhiều về vấn đề phơng pháp dạy văn miêu tả, nói về những tồn tại và

đa ra những kiến nghị trong dạy văn miêu tả Tác giả giới thiệu về nghệ thuật miêu tả đó là “nói ít gợi nhiều” miêu tả những nét đặc sắc Nhng đây cũng chỉ giới thiệu về nghệ thuật chung nhất mà cha đi sâu vào các kiểu bài cụ thể trong văn miêu tả nên giáo viên và học sinh khi dạy và học văn miêu tả rất khó vận dụng

Trang 7

3 Phơng pháp dạy học Tiếng Việt (giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu

học hệ cao đẳng và 12+ 2) Lê A, Thành Thị Yên Mỹ, Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến- Nhà xuất bản GD- 1998

Cuốn sách này nhằm phục vụ cho sinh viên Tiểu học ở phần phơng pháp Tập làm văn, các tác giả không phân biệt văn miêu tả và văn kể chuyện hay tờng thuật mà gộp chung thành Tập làm văn lớp 4, 5 Do vậy phơng pháp dạy Tập làm văn miêu tả không đợc bàn kĩ mà chỉ nêu phơng pháp dạy tiết tìm

ý, làm dàn bài, tiết làm miệng, tiết làm bài viết, tiết trả bài Cuốn sách chỉ đề cập đến vấn đề rất chung vì vậy phơng pháp đặc tả cha đợc nói rõ

Các tài liệu nói về văn miêu tả:

Nguyễn Quang Sáng (Nhà xuất bản Giáo dục- 1996) Cuốn sách này không phải là công trình nghiên cứu về phơng pháp dạy Tập làm văn mà thiên về việc giới thiệu cái hay, cái đẹp của văn miêu tả, bàn về mẹo viết văn miêu tả của một số nhà văn nổi tiếng Quyển sách cũng đề cập đến việc miêu tả đến hiệu quả cao thì phải chọnnhững chi tiết đặc sắc để tả Song cuốn sách chỉ nói qua rất sơ lợc cha đi sâu Cuốn sách dành phần lớn cho việc trích dẫn những đoạn văn miêu tả và kể chuyện điển hình của một số nhà văn

2 Văn miêu tả và phơng pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học - Nguyễn

Trí - (Nhà xuất bản Giáo dục - 1998)

Quyển sách này giới thiệu về văn miêu tả, đặc điểm của văn miêu tả, giới thiệu các kiểu bài văn miêu tả và phơng pháp dạy các kiểu bài đó Quyển sách cũng có đề cập đến vấn đề miêu tả những nét đặc sắc của sự vật hiện tợng khi miêu tả, song cũng chỉ là nói qua, sơ sài cha hình thành phơng pháp đặc tả

để áp dụng vào việc dạy cho học sinh

Nh vậy, vấn đề đặc tả trong văn miêu tả đang là một khoảng trống lớn cha đợc chú ý Việc tìm ra phơng pháp đặc tả thích hợp để đa vào văn miêu tả cho học sinh Tiểu học là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lợng học Tập làm

Trang 8

văn cho học sinh nói chung và văn miêu tả nói riêng Với công trình nghiên cứu nhỏ bé này, chúng tôi muốn đóng góp một phần ít ỏi vào việc cải tiến ph-

ơng pháp dạy Tập làm văn miêu tả ở Tiểu học bằng cách thức dạy cho học sinh biết đặc tả trong khi làm bài văn miêu tả nhằm nâng cao một phần nào đó chất lợng dạy học Tập làm văn

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện dề tài này chúng tôi nhằm tìm ra những biện pháp giúp giáo viên hớng dẫn học sinh sử dụng đặc tả trong văn miêu tả, góp phần nâng cao chất lợng dạy học văn miêu tả ở tiểu học

4 Khách thể và đối tợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học văn miêu tả ở Tiểu học

4.2 Đối tợng nghiên cứu

Phơng pháp hớng dẫn học sinh đặc tả trong làm văn miêu tả

5 Giả thuyết khoa học

Trong dạy văn miêu tả ở tiểu học, nếu giáo viên biết hớng dẫn học sinh

sử dụng phơng pháp đặc tả thì chất lợng dạy và học văn miêu tả sẽ đợc nâng cao

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

6.2 Khảo sát thực trạng việc dạy học văn miêu tả và việc sử dụng đặc tả

trong văn miêu tả ở một số trờng tiểu học trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

6.3 Đề xuất phơng pháp hớng dẫn học sinh đặc tả trong khi làm văn

miêu tả

6.4 Thử nghiệm s phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của việc sử dụng

phơng pháp đặc tả trong văn miêu tả ở tiểu học

Trang 9

7 Phơng pháp nghiên cứu

Những phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng trong đề tài là:

7.1 Phơng pháp nghiên cứu lí luận:

Để có cơ sở lí luận về đề tài này chúng tôi đã tiến hành đọc, phân tích một số tài liệu nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

7.2 Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn:

7.2.1 Phơng pháp An két: Sử dụng các mẫu phiếu điều tra để thu đợc những thông tin về thực trạng dạy học văn miêu tả ở Tiểu học

7.2.2 Điều tra quan sát: Dự giờ các tiết dạy Tập làm văn miêu tả để quan sát hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh

7.2.3 Phơng pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu một số bài văn miêu tả của học sinh

7.2.4 Phơng pháp thực nghiệm s phạm: Nhằm xác định hiệu quả và độ tin cậy của việc vận dụng phơng pháp đặc tả vào văn miêu tả

7.3 Phơng pháp thống kê toán học: Dùng để xử lí số liệu trong quá

trình nghiên cứu

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chơng 2. Hớng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả

Chơng 3. Thử nghiệm s phạm

Trang 10

Theo từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh thì miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tớng của sự vật ra” [18,97].

Trong văn miêu tả, ngời ta không đa ra những lời nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tợng về sự vật nh: cái cặp này cũ, cái bàn này hỏng, cô gái này đẹp Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, hiện tợng, con ngời bằng ngôn ngữ một cách sinh động cụ thể Văn miêu tả giúp ngời đọc nhìn rõ chúng, tởng nh mình đang xem tận mắt, bắt tận tay sự vật hiện tợng đó Tuy nhiên, văn miêu tả không phải là sự sao chụp lại một cách trọn vẹn hình ảnh một đồ vật,con vật, một dòng sông, một con ngời nh máy ảnh sao chụp lại

mà nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà ngời viết đã thu lợm khi quan sát cuộc sống

Trong văn miêu tả ngời ta chỉ cần chọn lọc một số chi tiết, một số hình

ảnh về đối tợng miêu tả mà vẫn tạo nên những bài văn miêu tả sống động hấp

Trang 11

dẫn Để làm đợc điều này thì ngời miêu tả phải có óc quan sát nhạy bén, trí ởng tợng phong phú và tâm hồn nhạy cảm.

t-Thông qua miêu tả bằng ngôn ngữ, ngời ta có thể hình dung ra quá trình vận động, tởng tợng ra âm thanh, tiếng động, hơng vị và kể cả những t tởng, tình cảm của con ngời, sự vật

Nói tóm lại “miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của ngời, của vật để giúp ngời nghe, ngời đọc hình dung đợc các đối tợng ấy” [15,140]

1.1.1.2 Những đặc điểm của văn miêu tả

a Văn miêu tả là thể văn sáng tác

Trong làm văn miêu tả, quan sát là điều kiện rất cần thiết Song chỉ quan sát thôi thì cha đủ mà ngời viết phải biết quan sát rồi sau đó kết hợp với biện pháp nhân hoá, so sánh, liên tởng và trí tởng tợng phong phú của mình để tạo nên một bài văn miêu tả Cùng một đối tợng miêu tả nhng ngời viết lại nhìn nó thông qua lăng kính chủ quan của mình Mỗi bài văn miêu tả là một sáng tác rất riêng của ngời viết Nếu không biết sáng tạo thì miêu tả mới chỉ dừng lại ở mức độ miêu tả khoa học

Chẳng hạn, cùng một đối tợng miêu tả là bầu trời đầy sao Vích-to gô thấy nó nh một cánh đồng lúa chín, ở đó ngời đi gặt bỏ quên lại cái liềm con (vành trăng non) Mai-a-cốp-xki lại nhìn thấy khác.”Những ngôi sao kia giống nh những giọt nớc mắt của những ngời da đen đang khóc Lê-nin khi biết Lê-nin qua đời” Còn với I U Ga-ga-rin lại thấy những vì sao kia giống những hạt giống mới mà loài ngời vừa gieo vào vũ trụ Cả ba hình ảnh: cánh

Huy-đồng lúa chín, những giọt nớc mắt của ngời da đen và những hạt giống mới rất khác nhau nhng đều đúng và hay, rất riêng, rất mới

Nh vậy, muốn miêu tả hay ngời viết phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo để tìm ra cái mới, cái riêng cho chính mình Tuy vậy, cái mới, cái riêng phải đợc gắn với cái chân thật không thể bịa một cách vô tội vạ, không có căn cứ đợc

Trang 12

b Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của ngời viết

Đối tợng của văn miêu tả rất đa dạng và phong phú Đó là cây cối, đồ vật, con ngời Nhng dù tả một con mèo, một con gà, một cây bàng, một cánh

đồng lúa chín, một con ngời bao giờ ngời viết cũng đánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mỹ, cũng gửi vào bài viết ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá bình luận của mình Do vậy, từng chi tiết của bài miêu tả bao giờ cũng mang ấn tợng cảm xúc chủ quan của ngời viết

Đặc điểm này làm cho miêu tả trong văn học khác hẳn miêu tả trong khoa học Nếu miêu tả trong khoa học đó là sự chính xác, khô khan đến lạnh lùng thì miêu tả trong văn học bao giờ cũng chứa đầy tình cảm trên trang viết

Do đó, chúng ta nhận ra ngay sự khác nhau giữa tả trong môn Tự nhiên - xã hội với tả trong môn Tập làm văn

Ví dụ: Cùng miêu tả con bớm nhng chúng ta hãy so sánh hai đoạn miêu tả sau:

“Thân bớm có ba phần: đầu, ngực, bụng Phần ngực có bốn cánh, sáu

chân Bớm bay đợc là nhờ hai đôi cánh là hai màng rộng bản Chúng có vảy cánh bao phủ nên không trong nh vảy cánh chuồn chuồn” (Trích từ sách khoa

học thờng thức)

Đoạn miêu tả trên gạt bỏ hẳn cảm xúc riêng của ngời viết Các chi tiết hiện ra thật chính xác và khách quan Hơn nữa, ở đây ngời ta chỉ nêu ra những chi tiết đặc điểm chung của loài bớm (cấu tạo thân, cánh ) không nhắc tới

đặc điểm riêng của từng con bớm

Đoạn thứ hai: “Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn bắt b ớm Chao ôi ! Những con bớm đủ hình dáng, đủ màu sắc Con xanh biếc pha đen nh nhung bay nhanh loang loáng Con vàng sẫm, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng ca, lợn lờ nh trôi trong nắng Con bớm quạ to bằng hai bàn tay ngời lớn, màu vàng xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn Bớm trắng bay theo đàn líu ríu

Trang 13

nh hoa nắng Loại bớm nhỏ đen kịt, là là theo chiều gió, hệt nh tàn than của những đám đốt nơng Còn lũ bớm vàng tơi xinh xinh của những vờn rau thì rụt

rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông.”

Ngay từ đầu đoạn miêu tả, tình cảm của tác giả đối với những cánh

b-ớm đã đợc xác định Đó là sự yêu thích, say mê bộc lộ qua hành động tha thẩn bên bờ sông để bắt bớm, nó thể hiện qua cách dùng từ của tác giả”Chao

ôi! Những con bớm đủ hình dáng, đủ màu sắc.” Từng chi tiết tả các loại bớm

đều gắn với niềm say mê đó, tác giả đã hoà quyện tâm hồn mình với thiên nhiên để cảm nhận đợc những nét độc đáo của từng loại bớm khác nhau

c Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình

Có thể nói đây là một đặc điểm rất nổi bật của văn miêu tả Song hiện nay đặc điểm quan trọng này thờng cha đợc làm rõ trong các tài liệu về văn miêu tả ở nhà trờng Bài văn miêu tả của học sinh thờng mờ nhạt và rất chung chung Đọc xong bài văn miêu tả của các em ngời đọc không hình dung ra đợc

sự vật, sự việc đợc tả nh thế nào, mặc dù học sinh đã đa ra tất cả các chi tiết về

Làm nên sự sinh động tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây ấn tợng tớc bỏ chúng đi bài văn miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị Đọc lại bài văn khi đó, chúng ta tởng nh bắt gặp nụ cời nhợt nhạt của một ngời không còn sinh khí

Khi miêu tả, chúng ta cần chú ý không nên đa vào bài quá nhiều chi tiết, làm cho bài văn trở nên rờm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu Cần phải biết gạt bỏ đi những chi tiết thừa, không có sức gợi tả hay gợi cảm để làm cho bài văn miêu tả gọn và giàu chất tạo hình Muốn làm đợc điều này ngời viết

Trang 14

không chỉ biết quan sát mà phải biết quan sát có chọn lọc, thu lợm, tích luỹ những kinh nghiệm sống trong cuộc sống hàng ngày.

Chúng ta hãy đọc đoạn văn miêu tả về những chú gà trong xóm của Võ Quảng:

“Chợt con gà trống ở phía nhà bếp nổi gáy Tiếng nó lanh lảnh Tôi

biết đó là con gà của anh Bốn Linh Con gà này có bộ mã tía, cổ bạnh, mào hạt dâu Tiếng nó dõng dạc nhất xóm Nó thờng làm tôi chú ý Nó nhón chân bớc từng bớc oai vệ, ức ỡn ra đằng trớc Nó có gan nhảy lên lng trâu Bỉnh,

nó vỗ cánh phành phạch rồi gáy nh thét vào tai trâu Bị chó Vện đuổi, nó bỏ chạy Đột ngột, nó quay lại nện cho chó Vện một đá vào đầu, rồi nhảy phốc lên cổng chuồng trâu, đứng nhìn xuống vẻ phớt lờ Nó nổi gáy nh thách thức:

gà mái tng hửng nhng chúng vốn dễ tính nên bỏ qua Nó còn ra nơng mổ bắp Bị bắt quả tang, tôi xuỵt chó cắn cho một trận Chó vặt mất tụm lông

đuôi Một con gà trống bị mất tụm lông đuôi trông cụt ngủn, đầu nh bị chúc

về đằng trớc trông buồn cời hết sức Sau gà ông Bảy Hoá, gà bà Kiến nổi gáy theo Nó phóng ra ba tiếng không đều nhau éc, e, e Gà bà Kiến là gà trống tơ, lông đen, chân chì, có bộ giò cao, cổ ngắn Tiếng nó gáy còn vớng

Trang 15

trong cổ, cha làm ai mê đợc Mấy lần tôi gặp nó nhảy tót lên cây rơm thật cao phóng tầm mắt nhìn quanh nh muốn mọi ngời hãy chú ý, nó sẽ gáy một hơi thật to, thật dài Nó xoè cánh, nghểnh cổ, chuẩn bị chu đáo, nh ng rốt cuộc chỉ rặn ra đợc ba tiếng éc, e, e cụt ngủn Nó ngợng quá đỏ chín mặt, hấp tấp nhảy xuống đất Gà ông Kiểm Sành, gà nhà chị Bảy Co cũng thi nhau gáy

Nhà văn Võ Quảng tả đến ba con gà trong một đọan văn Vậy mà đọc lên, mỗi con một khác: khác từ hình dáng đến tập tính và giọng gáy Chỉ một vài cử chỉ, dáng điệu chọn lọc, con gà nhà anh Bốn Linh hiển hiện trớc mắt chúng ta không giống con gà của ông Bảy Hoá, lại càng khác xa con gà nhà

của gà ta sau khi nện cho chó một cú đá đau điếng

Song có lẽ “anh chị” hơn phải kể đến gà của ông Bảy Hoá Nó chủ động mời bọn gà mái theo nó để đãi giun Bới đợc giun, nó bỏ ra giữa đất và lên tiếng tục tục mời Nhng khi bọn gà mái xô đến, nó đã nuốt chửng con giun

vào bụng Đã thế, nó còn làm ra điều không biết con giun kia biến đâu mất !

Còn gà bà Kiến thì đúng là một anh chàng mới lớn, to toe, tập tành làm ngời lớn Hắn muốn lên mặt với bọn gà nhóc Đối với họ nhà gà, tiếng gáy là dấu hiệu của sự trởng thành Hắn muốn phô phang tiếng gáy Và hắn đã làm

đủ điệu bộ trớc khi gáy: nhảy lên đống rơm cao, phóng mắt nhìn quanh, xoè cánh, nghểnh cổ Hành động thì đẹp lắm Chỉ tiếc là đến sự việc chính là tiếng gáy thì than ôi, cụt ngủn, chẳng giống ai

Trang 16

Không chỉ hành động mà vóc dáng mỗi con cũng mỗi khác Ngay đến tiếng gáy cũng mỗi con một giọng Nếu nh gà anh Bốn Linh gáy nh thét vào

tai trâu thì tiếng gáy của gà bà Kiến chỉ cụt ngủn ba tiếng éc, e, e.

Thật đúng nh một nhà văn Pháp có nói một câu nổi tiếng mà nhà văn Tô Hoài của chúng ta đã trích dẫn trong Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả của

ông Câu nói đó thật đúng với trờng hợp tả ba con gà này: Một trăm thân cây

bạch dơng giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửa giống nhau cả trăm Mới nhìn tởng thế, nhng nhìn kĩ thì thân cây bạch dơng nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác nhau Trong đời ta gặp bao nhiêu ngời, phải thấy ra mỗi ngời mỗi khác nhau, không một ai giống ai

d Ngôn ngữ của bài văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh

Do đặc điểm của văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm và cảm xúc của ngời viết, bài văn bao giờ cũng mang tính sinh động

và tạo hình nên yêu cầu đặt ra cho ngôn ngữ của bài văn miêu tả là phải giàu cảm xúc và hình ảnh Chỉ có nh vậy ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tả cảm xúc của ngời viết, vẽ nên sự sinh động tạo hình cho đối tợng miêu tả

Ngôn ngữ của bài văn miêu tả giàu tính từ, động từ và thờng hay sử dụng phép nhân hoá, so sánh, ẩn dụ Có thể thấy đủ loại tính từ màu sắc, tính chất, đánh giá, kết hợp với các động từ các biện pháp tu từ tạo thành “những chùm sáng ngôn ngữ lung linh ” trong văn miêu tả Những ngôn ngữ ấy gợi lên trong lòng ngời đọc những cảm xúc, tình cảm, ấn tợng, hình ảnh về sự vật đợc miêu tả

Để cho bài miêu tả hay đợc hấp dẫn hơn ngời viết còn đan xen những giai điệu phụ trợ nh tờng thuật, kể chuyện làm cho bài văn trở nên sinh

động, ngời đọc hứng thú hơn trong tiếp nhận văn bản

Trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học, các đoạn văn đợc đa vào chơng trình đều sử dụng ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh mà tiêu biểu đó

là đoạn trích “Đêm trăng đẹp” của nhà văn Thạch Lam

Trang 17

“Ngày cha tắt hẳn trăng đã lên rồi Mặt trăng tròn to và đỏ từ từ lên ở

phía chân trời, sau rặng tre đen của làng xa Mấy sợi mây còn vắt ngang qua mỗi lúc một mảnh dần rồi đứt hẳn Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu

đa lại, thoang thoảng mùi hơng thơm mát.

Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, trăng đã nhô lên khỏi rặng tre Trời bây giờ trong vắt, thăm thẳm và cao Mặt trăng đã nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không và du du nh sáo diều ánh trăng trong chảy khắp nhành cây, kẽ lá, tràn ngập con đờng trắng xoá.

Cành lá sắc và đen nh mực vắt qua mặt trăng nh một bức tranh tàu Bức tờng hoa giữa vờn trắng lên, lá lựu dày và nhỏ nhấp nhánh nh thuỷ tinh.”

Tác giả dùng từ ngữ rất giàu hình ảnh và gợi cảm để tả vẻ đẹp của đêm trăng: gió nhẹ hiu hiu, thoang thoảng, trong vắt, thăm thẳm, sáng vằng vặc,

trắng xoá đây là những tính từ chỉ mức độ, những từ ngữ đó diễn tả sự chính

xác cao khi tả về đêm trăng Tác giả còn sử dụng các biện pháp so sánh: trăng

nh sáo diều, cảnh vật nh bức tranh tàu, lá lựu dày nhỏ nhấp nhánh nh thuỷ tinh, làm cho ngời đọc nh đang đắm mình trong đêm trăng đó để tận hởng cái

mát mẻ, cái tinh khiết của đêm trăng ở đồng quê

Nh vậy, một bài văn miêu tả bao giờ cũng mang đầy đủ các đặc điểm trên Thiếu đi các đặc điểm đó thì không thể trở thành văn miêu tả đợc

1.1.2 Đặc tả trong văn miêu tả

1.1.2.1 Đặc tả là gì ?

Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển ngôn ngữ, xuất bản năm

1992, định nghĩa đặc tả nh sau: “Đặc tả là mô tả thật chi tiết một bộ phận đặc biệt tiêu biểu để làm nổi bật bản chất của toàn thể”

Trong cuốn “Về văn miêu tả và văn kể chuyện” - Nhà văn Bùi Hiển cho rằng: “Tiêu chuẩn của nghệ thuật đời nào cũng giống nhau - nói ít mà gợi đợc nhiều là tiêu chuẩn quan trọng nhất” [20,35]

Trang 18

Nh vậy, có nghĩa là từ việc mô tả thật chi tiết một hoặc một số bộ phận của sự vật hiện tợng mà ta thấy rõ đợc bản chất của sự vật hiện tợng đó Ngời viết, ngời nói không cần đem ra tất cả các chi tiết, các bộ phận của sự vật, hiện tợng ấy để giới thiệu nhng đối tợng nh vẫn hiện ra trớc mắt một cách sinh

động

1.1.2.2 Đặc tả trong văn miêu tả

Trong bài văn miêu tả chúng ta cũng không nên tả dài dòng Vấn đề là chúng ta phải biết quan sát và quan sát thật kĩ, nắm bắt cho đợc cái thần, cái hồn, cái nét riêng đặc biệt mà chỉ có ở con ngời ấy, con vật ấy, hoa trái ấy để

mà tả Sau đó, bằng ngôn ngữ vẽ nó hiện lên trớc mắt ngời đọc, để cho ngời

đọc cảm nhận đợc điều đó

Một bài văn miêu tả hay không phải nhiều chi tiết, nhiều sự việc Chi tiết, sự việc nào cũng đa vào mà phải đa vào những chi tiết có góc cạnh nhất, sinh động nhất Có nh vậy mới gây đợc cờng độ cảm xúc cho ngời đọc Muốn

có đợc những chi tiết góc cạnh nhất, sinh động nhất thì buộc ngời viết phải có

óc quan sát nhạy bén và độc đáo

Ang- toan An - ba - la, một nhà nghiên cứu Pháp viết: “Một bài miêu tả tốt nhất không phải miêu tả với nhiều sự việc nhất mà phải miêu tả dần đến cảm giác mãnh liệt nhất, không phải là vấn đề đa vào nhiều chi tiết mà là diễn

đạt các chi tiết đó có góc cạnh, sinh động Cờng độ cảm xúc gây đợc cho ngời

đọc nằm trong chất lợng và sự chọn lọc điều gì mình muốn nói ra Vì vậy ta phải chọn cái nét có tính chất tạo hình, tạo thành hình ảnh và khung cảnh Các chi tiết này thu đợc do quan sát nhạy bén và độc đáo Chúng làm lộ ra những gì chân thực nhng ít đợc chú ý, những gì làm ngời đọc nhìn rất rõ và rất có ấn tợng”

Mỗi một đồ vật, con ngời hay cây cối cũng vậy đều có một vẻ riêng so với các đối tợng khác Thậm chí trong cùng một loại nó cũng có những đặc

điểm khác biệt Quan sát phải làm rõ đợc cái riêng ấy Liệt kê các chi tiết mà

Trang 19

không làm rõ nét riêng của đối tợng thì không phải là quan sát trong văn miêu tả Bài văn miêu tả đòi hỏi ngời viết phải biết quan sát và nêu đợc nét tiêu biểu nhất của đối tợng Đọc bài Chiếc cần trục, chúng ta có biết đợc các bộ phận cấu thành của chiếc cần trục thế nào đâu Chúng ta cũng không nhận rõ dáng hình của nó Chỉ biết “ngời bác không cao to, tiếng bác không ầm ĩ, chỉ có

cánh tay của bác thật đặc biệt” Và đoạn văn cũng chỉ tập trung miêu tả cái

cánh tay đặc biệt ấy của cần trục Ngay cả khi miêu tả cánh tay cần trục, nhà văn cũng chỉ miêu tả sự hoạt động của cánh tay cần trục, mà không một câu miêu tả dáng hình

Cái cánh tay ấy vơn lên, sừng sững và chuyển động rất chậm, rất chậm Tàu nào có hàng cần bốc là cần trục vơn tới Hòm nhỏ, hòm to, cần trục xách một tay cứ nh không Cả những xe ô tô, những cỗ máy lớn, cần trục cũng chỉ khẽ cúi xuống, vơn tay ra móc lấy sợi dây chằng rồi từ từ nhấc lên.

Nh vậy, nhà văn đã chọn lọc ra chi tiết nổi bật nhất của chiếc cần trục

để miêu tả, bỏ qua vô vàn các chi tiết khác không tiêu biểu, đặc sắc của đối ợng

t-Có thể nói rằng:

- Chất lợng của bài văn miêu tả là “nói ít gợi nhiều”, chi tiết đa ra không cần nhiều nhng phải “dẫn” đến “cảm giác mãnh liệt nhất”, dẫn đến những hình ảnh sinh động “hiện lên trớc mắt ngời đọc” khiến họ “nhìn rất rõ

và rất có ấn tợng” Đơng nhiên, cảm xúc mạnh đó, hình ảnh sắc nét đó phải thể hiện đợc lí tởng thẩm mỹ cao đẹp của thời đại, phải hớng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, nâng cao tâm hồn và nhân cách con ngời

- Yếu tố tạo nên chất lợng của bài văn là các chi tiết “có góc cạnh, sinh

động” thể hiện đợc “cái thần, cái hồn, cái dáng vẻ đặc biệt của con ngời, con vật, hoa trái”

Các chi tiết này có đợc do chất lợng của sự quan sát và cách chọn lọc chúng Khi quan sát, phải nhạy bén và công phu Đó là sự phát hiện bằng các

Trang 20

giác quan (mắt, tai, mũi, da, lỡi ), bằng tâm hồn và cảm xúc của ngời viết, bằng tình yêu thiên nhiên, loài vật Ngời quan sát phải tìm ra những gì “chân thật nhng lại ít đợc chú ý”, những gì giúp ngời đọc “nhìn rất rõ và rất có ấn t-ợng” các chi tiết có tính chất tạo hình.

- Cuối cùng đó là sự diễn đạt, phô diễn các chi tiết đã có Có thể đó là sự diễn đạt các chi tiết góc cạnh và sinh động Có thể “dùng ngôn ngữ vẽ nó hiện lên trớc mắt ngời đọc, gợi cho ta cùng cảm nhận, cùng suy nghĩ với mình”

Tóm lại, khi làm văn miêu tả, ngời viết đứng trớc vô vàn chi tiết của sự vật, hiện tợng nhng phải biết chọn ra chi tiết thật đắt để tạo ra cho ngời đọc một cảm giác mạnh, thông qua đó thấy đợc bản chất của sự vật, hiện tợng Cần tránh lối miêu tả đơn điệu, nhàm chán, chi tiết nào cũng đa vào bài viết, làm cho bài viết rờm rà mà khi đọc vẫn không đọng lại ở ngời đọc một ấn tợng nào

1.1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học đối với việc học văn miêu tả và sử dụng phơng pháp đặc tả khi miêu tả

- Học sinh lớp 4, 5 đã bớc vào lứa tuổi thiếu niên Các em lớn nhanh, kích thớc và tổ chức cơ thể đã tiến gần đến ngời trởng thành Hành vi và đời sống nội tâm của các em đã có những thay đổi đột biến Vốn sống của các em

ở giai đoạn này đã tơng đối phong phú

ở giai đoạn này các em ý thức mình không còn là trẻ con Tuy hành vi

của các em vẫn còn là trẻ con nhng các em lại tỏ ra mình đã là ngời lớn Các

em không thích bị ngời lớn coi mình nh là trẻ con Giai đoạn này các em ờng bớng bỉnh, khó bảo nếu không đợc tôn trọng, không đợc c xử bình đẳng

th-ở tuổi này đợc gọi là tuổi chuyển tiếp, tuổi “bất trị”

Do sự cân bằng cơ thể của các em bị phá vỡ, sự cân bằng ngời lớn của các em còn cha vững chắc, các em dễ xúc động và xúc động cao L X V-gôtxki cho rằng: “Những giai đoạn khủng hoảng trong đời sống con ngời,

Trang 21

những thời kì chuyển tiếp và cấu tạo lại cơ thể luôn tràn đầy những phản ứng cảm xúc và đời sống tình cảm” (Tởng tợng và sáng tạo ở tuổi thiếu niên - Mát- cơ- va, 1967).

Tình trạng dâng cao cảm xúc khiến trẻ ở tuổi này có một sự thay đổi

đáng kể là: Các em thích quan sát, thích nhận xét đánh giá Thờng thì những nhận xét này mang tính trực quan cảm tính, các em đã thay đổi hoạt động sáng tạo yêu thích là vẽ ở giai đoạn trớc tuổi đến trờng và đầu tuổi tiểu học bằng hình thức sáng tạo ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết So với vẽ, và đặc biệt

là những nét vẽ cha hoàn thiện, thì “lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rất

nhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vận

động logíc, sự phức tạp của sự kiện ” Vì vậy, từ lớp 4, hoạt động sáng tạo yêu thích của trẻ em là viết văn nói chung và viết văn miêu tả nói riêng Bởi thông qua hoạt động này, các em có thể thể hiện hết trí tởng tợng và khả năng cảm nhận thế giới đồ vật, cây cối, cảnh vật cũng nh con ngời xung quanh Các em thích tìm hiểu và khám phá ra cái mới, cái riêng cho mình Khi quan sát, nếu các em thích thú với chi tiết, hình ảnh nào các em sẽ chú tâm và quan sát rất kĩ chi tiết, hình ảnh đó Các em đã tơng đối phát triển ngôn ngữ, vì vậy có thể miêu tả lại đối tợng theo cảm nhận riêng của mình Học sinh khi học văn miêu tả, nếu đợc giáo viên đa ra một phơng pháp dạy đúng, hấp dẫn thì các em sẽ rất hứng thú khi học Đợc viết những xúc động từ trong lòng, từ những điều chính mắt các em quan sát đợc, không ít học sinh đã viết đợc những đoạn văn khá hoàn chỉnh, có những đoạn đặc tả sinh động, hấp dẫn ngời đọc, ngời nghe

Đây là những cơ sở để chúng tôi có thể đa vào phơng pháp đặc tả khi dạy văn miêu tả cho các em

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Chơng trình, sách giáo khoa văn miêu tả ở tiểu học

Chơng trình văn miêu tả lớp 4, 5 gồm các loại bài:

Trang 22

- Thời gian từ tuần 14 đến tuần 34

- Nội dung và số tiết học:

+ Miêu tả đồ vật: Từ tuần 14 đến tuần 20

+ Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật: 1 tiết

+ Luyện tập quan sát: 1 tiết

+ Luyện tập xây dựng dàn ý: 1 tiết

+ Luyện tập xây dựng đoạn: 4 tiết

+ Bài viết: 1 tiết làm bài và 1 tiết trả bài

Lớp 5

- Thời gian: tuần 24 và tuần 25

- Nội dung: Ôn tập (2 tiết), bài viết (2 tiết: 1 tiết làm bài và 1 tiết trả bài)

Trang 23

- Tả cái đồng hồ báo thức

- Tả một đồ vật mà em yêu thích

- Tả một đồ vật hoặc một món quà có ý nghĩa sâu sắc đối với em

- Tả một đồ vật trong Viện Bảo tàng hoặc Nhà truyền thống mà em có dịp quan sát

c Yêu cầu cần đạt

- Rèn luyện đợc các kĩ năng cơ bản trong việc quan sát và miêu tả các

đồ vật gần gũi với cuộc sống của các em Từ đó phát triển nhận thức và tình cảm đối với cuộc sống

- Biết quan sát và bớc đầu rút ra đợc những nét đặc điểm các đồ vật quen thuộc; bớc đầu biết lựa chọn để tô đậm những nét đặc điểm tiêu biểu và bộc lộ tình cảm Bớc đầu biết bố cục bài văn

1.2.1.2 Chơng trình văn miêu tả cây cối ở lớp 4,5

a Thời gian và nội dung

Lớp 4

- Thời gian từ tuần 21 đến tuần 27

- Nội dung:

+ Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối (1 tiết)

+ Luyện tập quan sát cây cối (1 tiết)

+ Luyện tập miêu tả bộ phận của cây (2 tiết)

+ Đoạn văn trong bài miêu tả cây cối (4 tiết)

+ Luyện tập miêu tả cây cối (1 tiết)

+ Kiểm tra - Trả bài (2 tiết)

Trang 24

b Các đề luyện tập

- Tả cây bóng mát

- Tả một cây ăn quả

- Tả một cây hoa

- Tả một luống rau hoặc một vờn rau

- Miêu tả một loài hoa em thích

- Miêu tả một dàn cây leo

- Miêu tả một cây non mới trồng

- Miêu tả một cây cổ thụ

+ Cấu tạo bài văn miêu tả con vật (1 tiết)

+ Luyện tập, quan sát (1 tiết)

+ Luyện viết đoạn văn (4 tiết)

+ Viết bài kiểm tra và trả bài (2 tiết)

Trang 25

- Tả một con vật nuôi trong nhà

- Tả một con vật nuôi ở vờn thú

Tả con vật với hai hoàn cảnh: Tả bầy đàn và tả riêng từng con; Tả con vật với 2 nội dung: tả hình dáng và tả hoạt động của con vật Tả con vật với các ngôn ngữ sinh động, có hình ảnh và cảm xúc, sử dụng đợc các biện pháp nhân hoá, so sánh trong miêu tả

Những bài văn miêu tả con vật giúp các em sống có tình cảm gắn bó hơn với những con vật xung quanh, từ đó thêm yêu cuộc sống

1.2.1.4 Chơng trình văn miêu tả cảnh

a Thời gian và nội dung

Tả cảnh chỉ có trong chơng trình Tập làm văn lớp 5 nhng với thời gian không nhiều Ngoài bài dạy trong một tiết hình thành nhận thức về cấu tạo bài văn tả cảnh còn lại 13 tiết luyện tập tả cảnh với các nội dung sau:

Trang 26

- Quan sát và phơng tiện quan sát (tuần 1)

- Quan sát và lựa chọn chi tiết (tuần 3)

- Quan sát và lập dàn ý, tạo văn bản (tuần 4)

- Quan sát và liên tởng, so sánh (tuần 6)

- Dựng đoạn miêu tả (tuần 7)

- Lập dàn ý miêu tả (tuần 8)

- Dựng đoạn mở bài, kết bài (tuần 8)

b Các đề luyện tập

Đề tài là những cảnh vật quen thuộc, gần gũi với thế giới trẻ thơ Những

đề bài đợc gợi ý trong sách Tiếng Việt 5 là:

- Tả một buổi sáng (hoặc tra, chiều) trong một vờn cây (hay trong công viên, trên đờng phố, trên cánh đồng, nơng, rẫy )

+ Biết tìm ý cho đoạn văn và viết đợc đoạn văn miêu tả, biết dùng một

số biện pháp liên kết trong đoạn

+ Biết lập dàn ý cho bài văn miêu tả cảnh

+ Viết đợc một bài văn miêu tả cảnh có độ dài 200 chữ

1.2.1.5 Chơng trình văn miêu tả ngời

a Thời gian và nội dung

Văn miêu tả ngời đợc dạy ở lớp 5 với số lợng thời gian không nhiều Ngoài bài dạy trong tiết hình thành nhận thức về cấu tạo bài văn tả ngời còn lại 11 tiết luyện tập tả ngời với các nội dung sau:

- Quan sát và chọn lọc chi tiết (tuần 12)

Trang 27

- Tả ngoại hình (tuần 13)

- Tả hoạt động (tuần 15)

- Thực hành viết bài (tuần 18- tuần 20)

- Dựng đoạn mở bài, kết bài (tuần 19)

b Các đề luyện tập

Đề tài là tả những ngời thân quen, gần gũi với thế giới trẻ thơ Những đề bài gợi ý trong sách Tiếng Việt 5 là:

- Tả một em bé đang tuổi tập đi, tập nói

- Tả một ngời thân (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị )

+ Biết tìm ý cho đoạn văn và viết đợc đoạn văn miêu tả, biết dùng một

số biện pháp liên kết trong đoạn

+ Biết lập dàn ý cho bài văn miêu tả ngời

+ Viết đợc một bài văn miêu tả ngời có độ dài 200 chữ

* Qua khảo sát, phân tích nội dung chơng trình SGK Tiếng Việt chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

- Xét về mặt thời lợng chơng trình Tiếng Việt hiện hành đã dành 72 tiết cho nội dung dạy học văn miêu tả ở lớp 4, 5 Trong đó có 5 tiết dành cho ôn tập và kiểm tra định kì So với chơng trình CCGD, chơng trình mới đã nhấn mạnh tới yếu tố thực hành, coi trọng việc rèn luyện các kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh

Trang 28

- Dạy văn miêu tả lớp 4,5 theo chơng trình tiểu học hiện hành theo 2 kiểu bài: Hình thành kiến thức mới và Luyện tập thực hành Nếu nh trớc đây, chơng trình CCGD không dạy về lí thuyết văn miêu tả thì chơng trình hiện hành đã cung cấp cho các em một số kiến thức sơ đẳng về văn miêu tả nh: khái niệm về văn miêu tả; cấu tạo bài văn miêu tả Các kiến thức này đợc dạy thông qua kiểu bài Hình thành kiến thức mới sau đó nó đợc củng cố thông qua tiết Luyện tập thực hành để giúp học sinh khắc sâu tri thức.

ở bài hình thành kiến thức mới, có cấu tạo ba phần (nhận xét, ghi nhớ, luyện tập) Riêng phần nhận xét và luyện tập đợc xây dựng dới dạng bài tập Phần ghi nhớ chỉ bao gồm vấn đề lý thuyết khái quát đợc rút ra từ phần nhận xét và sẽ đợc củng cố thêm ở phần luyện tập

Các bài tập ở phần nhận xét có mục đích chính là giúp học sinh phân tích ngữ liệu để rút ra các khái niệm hoặc quy tắc cần ghi nhớ Mỗi bài tập ở phần này sẽ tơng đơng với một bộ phận tri thức lý thuyết ở phần ghi nhớ

Đối với kiểu bài luyện tập thực hành thờng bao gồm một tổ hợp bài tập Các bài tập của kiểu bài Luyện tập thực hành và các bài tập của mục Luyện tập của kiểu bài hình thành kiến thức mới đều có mục đích và hình thức giống nhau Chúng bao gồm hai loại: Bài tập nhận diện và bài tập vận dụng

Bài tập nhận diện có mục đích giúp học sinh củng cố các kiến thức lý

thuyết đã đợc hình thành trong bài và các kiến thức học sinh đã đợc học ở những tiết trớc

Bài tập vận dụng có mục đích giúp học sinh ứng dụng lý thuyết về các

kiểu bài của văn miêu tả, ứng dụng để nói và viết các phần trong một bài văn miêu tả theo nhiều cách khác nhau trớc một đề bài, một gợi ý, một tình huống

cụ thể

Nh vậy, chơng trình SGK hiện hành đã dạy lý thuyết về văn miêu tả qua kiểu bài Hình thành kiến thức mới và thông qua kiểu bài Luyện tập thực hành lại tiếp tục củng cố và khắc sâu tri thức lí thuyết

Trang 29

1 2.2 Thực trạng sử dụng đặc tả trong văn miêu tả ở trờng tiểu học

1.2.2.1 Thực trạng dạy văn miêu tả và hớng dẫn học sinh đặc tả của giáo viên

Việc dạy Tập làm văn ở tiểu học nói chung và dạy văn miêu tả nói riêng bên cạnh nhiều điểm tốt thì đang còn một số hạn chế nhất định Thực tế cho thấy rằng, giáo viên rất ngại dạy giờ Tập làm văn Nguyên nhân của hiện tợng này là do vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh và một bộ phận giáo viên còn hạn chế Sự hiểu biết về đối tợng miêu tả rất hời hợt làm cho việc miêu tả gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó giáo viên lại rất ít tổ chức cho học sinh quan sát (thậm chí có thể nói là không tổ chức cho học sinh quan sát) Vì vậy, vốn hiểu biết của cả cô và trò về đối tợng miêu tả là càng trở nên hạn hẹp

Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát giáo viên về nhận thức cũng

nh thực trạng dạy học văn miêu tả và thu đợc kết quả nh sau:

Bảng 1: Nhận thức của giáo viên về văn miêu tả và hớng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả

Khảo sát tổng số 150 giáo viên

1 Nắm đợc khái niệm văn miêu tả 76 50,6%

2 Nắm đợc đặc điểm văn miêu tả 67 44,6%

3 Nắm đợc đặc điểm của các dạng bài miêu tả 58 36,7%

4 Xác định đợc tầm quan trọng của dạy văn miêu tả 90 60%

5 Biết cách hớng dẫn học sinh quan sát khi miêu tả 45 30%

Trang 30

Kết quả điều tra vào năm học 2008 - 2009 ở Thanh Hoá chúng tôi thấy rằng: 40 % GV dạy lớp 4,5 cha thấy đợc tầm quan trọng của việc dạy văn miêu tả cho HS Chính vì vậy, cũng chỉ có 44,6% giáo viên nắm đợc đặc điểm của văn miêu tả Số còn lại chỉ trả lời chung chung hoặc nêu không chính xác các

đặc điểm của văn miêu tả ở giáo viên, sự thiếu hụt các kiến thức về văn miêu tả rất lớn Đa số giáo viên khi đợc phỏng vấn đều cho rằng Tập làm văn là rất khó dạy Chính vì vậy, khi đi dự giờ, chúng tôi chỉ thấy có 30,6% giáo viên biết cách hớng dẫn học sinh quan sát Số giáo viên còn lại tỏ ra rất lúng túng khi h-ớng dẫn các em quan sát (không biết chọn trình tự, không biết chọn chi tiết, không biết đặt câu hỏi giúp học sinh thu nhận đặc điểm của đối tợng ) Thậm chí, có giáo viên còn không tổ chức cho học sinh quan sát Do không tổ chức cho học sinh quan sát tốt đối tợng miêu tả nên giáo viên không thể hớng dẫn học sinh đặc tả khi làm văn Qua khảo sát, chỉ có 25,3 % giáo viên biết hớng dẫn học sinh đặc tả khi miêu tả các dạng bài cụ thể

Chính vì lẽ đó, mà trong tiết quan sát và tìm ý, rất nhiều giáo viên thờng

ép học sinh cả lớp lựa chọn một đối tợng miêu tả theo ý của mình Nh vậy, để giáo viên dễ dạy và khống chế đợc quá trình làm bài của học sinh Chẳng hạn: Trong tiết quan sát cây cối có bài tập:

Đề bài: Quan sát cây mà em thích trong khu vực trờng em (hoặc nơi em

ở) và ghi lại những gì em đã quan sát đợc

Giáo viên hớng dẫn chung cho học sinh cả lớp là quan sát cây bàng ở sân trờng Nh vậy học sinh cả lớp đều có một bài văn tơng đối giống nhau, chỉ khác nhau ở một số cách dùng từ Thật ra, ở đây, giáo viên đã cha nắm bắt đợc tinh thần đổi mới của sách giáo khoa, nhiều giáo viên cha đáp ứng đợc yêu cầu của chơng trình mới Việc làm này đã làm mất đi tính sáng tạo của học sinh và thờng đa đến cách làm văn sáo Bên cạnh đó, còn có một nguyên nhân nữa khiến dạy học Tập làm văn cha có kết quả cao đó là giáo viên cha cho học sinh có cơ hội tắm mình vào thiên nhiên để thu nhận đợc các kiến thức từ thực

tế Giáo viên thờng tổ chức giờ học Tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói

Trang 31

riêng trong bốn bức tờng kín của lớp học Điều này trớc tiên đã không gây đợc hứng thú cho học sinh trong khi học mà nó còn làm mất khả năng sáng tạo và

óc tởng tợng của các em bị hạn chế rất nhiều

Ngoài những thực trạng cụ thể nói trên, giáo viên còn một số tồn tại sau đây:

- Giáo viên chỉ có một con đờng duy nhất để hình thành các hiểu biết về

lí thuyết văn miêu tả cũng nh các kĩ năng làm bài cho học sinh bằng cách phân tích bài văn mẫu

- Để đối phó với việc học sinh làm bài kém, đảm bảo cho học sinh có thể viết đợc bài khi thi định kì, nhiều giáo viên đã cho học sinh chép một bài văn mẫu sau đó đọc thuộc lòng và chép lại Điều này khiến cả thầy và trò bị lệ thuộc vào sách mẫu

1.2.2.2 Thực trạng sử dụng đặc tả trong văn miêu tả của học sinh

Hiện nay, việc học Tập làm văn của học sinh nói chung và việc sử dụng đặc tả trong văn miêu tả của học sinh nói riêng đang còn tồn tại ở một

số điểm sau:

- Học sinh vay mợn tình ý của ngời khác mà nhiều nhất là lấy từ một bài văn mẫu hoặc nhìn bài, mợn bài của học sinh khá trong lớp Học sinh đọc thuộc bài văn mẫu, một đoạn văn mẫu hoặc một câu văn mẫu, khi làm bài, các

em cố nhớ bài văn mẫu để chép ra và biến thành bài của mình mà không cần biết đến đầu bài quy định nh thế nào Nh vậy, các em không cần quan tâm đến

đối tợng miêu tả, chẳng cần quan sát thì làm sao các em có cảm xúc về đối ợng miêu tả để mà viết Do đó bài văn của một lớp ba bốn mơi em cứ na ná

t-nh t-nhau từ hìt-nh thức lẫn giọng văn

Một biểu hiện nữa của của dạy học văn miêu tả hiện nay là học sinh miêu tả rất hời hợt, chung chung Bài văn của các em không có một sắc thái riêng biệt nào của đối tợng miêu tả Các em mới chỉ nhìn thấy đợc đặc điểm chung của đối tợng miêu tả mà cha tìm ra đợc hay nói đúng hơn là không chịu tìm ra những đặc điểm riêng có ấn tợng của đối tợng miêu tả Đọc bài văn

Trang 32

miêu tả của các em, chúng ta có cảm tởng nh các em đang miêu tả trong môn Sinh học hay môn Tự nhiên xã hội Mà nh chúng ta đã biết miêu tả trong Tập làm văn, bên cạnh miêu tả những đặc điểm chung thì việc tìm ra đợc đặc điểm riêng, đặc điểm bản chất quy định đối tợng đó lại là điều không thể thiếu đợc

Có tìm ra đợc đặc điểm riêng của đối tợng để miêu tả thì bài miêu tả của các

em mới mang nét đặc sắc riêng và không mờ nhạt, nhàm chán

Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát để tìm hiểu mức độ nhận thức của học sinh về văn miêu tả cũng nh việc sử dụng đặc tả khi học văn miêu tả

và thu đợc kết quả nh sau:

Bảng 2: ý kiến của học sinh về văn miêu tả và sử dụng đặc tả vào văn miêu tả

3 Biết cách quan sát khi làm văn miêu tả 20 13,2% 30 20% 80 53,3% 20 13,5%

4 Biết chọn lựa chi tiết đặc sắc nhất để quan sát 10 6,6% 40 26,6% 80 53,3% 20 13,5% 5

để đa vào bài 9 6% 34 22,6% 70 46,6% 37 24,8%

7 Thể hiện đợc tình cảm chân thật của mình trong

bài văn 20 13,2% 40 26,6% 75 50% 15 10,2%

8 Biết viết đoạn văn đặc tả khi tả con vật 9 6% 34 22,6% 69 46% 38 25,4%

Trang 33

Qua kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy rằng chỉ có 10 % học sinh nắm đợc một cấch chính xác khái niệm văn miêu tả, trong đó có tới 16,7 % học sinh không hiểu gì về khái niệm văn miêu tả Còn đối với khái niệm đặc tả, chỉ có

6,6 % học sinh nắm đợc rõ ràng Chính vì vậy, cũng chỉ có 6,6 % đối ợng học sinh này biết lựa chọn chi tiết đặc sắc nhất để quan sát Có tới 66,8 % học sinh không biết quan sát hoặc quan sát rất kém Chúng tôi đã tiến hành cho các em viết đoạn văn đặc tả con vật và chỉ có 6 % học sinh đặc tả tốt, 22,6

t-% ở mức độ khá và số còn lại thì không đặc tả đợc

Chính vì các em miêu tả đang còn hời hợt, chung chung, không tìm ra

đợc sắc thái riêng của đối tợng miêu tả nên bài làm của các em gắn cho đối ợng miêu tả nào cùng loại cũng đợc, học sinh chỉ việc thay đổi một vài chi tiết

t-là xong Nguyên nhân chủ yếu của hiện tợng này t-là do các em không đợc quan sát, không biết cách quan sát, nên không đa ra đợc những nhận xét cụ thể Vì vậy, khi khảo sát, kết quả thu đợc chỉ có 13,2 % học sinh thể hiện đợc tình cảm chân thực của mình trong bài viết Số còn lại, không thể hiện đợc tình cảm của mình trong bài viết

- Bên cạnh việc vay mợn tình ý của ngời khác, viết văn một cách chung chung học sinh còn có một biểu hịên nữa, đó là các em viết văn một cách sáo rỗng, sai sự thực Khi tả các em cố gắng tìm những từ ngữ trau chuốt, bóng bẩy Tả ngời cũng nh tả cảnh, các em tìm tất cả những hình ảnh đẹp nhất để gán ghép vào cảnh vật đó, con ngời đó Chẳng hạn, khi tả một chị bán hàng thì tất cả những hình ảnh nh khuôn mặt trái xoan, má lúm đồng tiền, đôi mắt bồ câu, nớc da trắng hồng đợc gán cho chị Tả nh vậy là sai sự thực là sáo rỗng, bởi vì thực tế không có một con ngời nào đẹp hoàn hảo nh vậy Rồi cũng do học sinh không đợc quan sát mà miêu tả con mèo to bằng cái phích, con lợn dài ba mét, cây chuối hai ngời ôm không xuể Đọc những bài văn nh thế chúng ta không khỏi buồn cời

Trang 34

Tất cả những tồn tại đó trong dạy Tập làm văn đã trực tiếp làm cho chất lợng dạy học Tập làm văn đang ở mức độ thấp và sâu xa hơn nữa nó còn ảnh hởng đến t tởng, tình cảm và sự phát triển nhân cách của học sinh Dạy Tập làm văn mới chỉ tác động đến mặt nhận thức tri thức mà cha tác động đến mặt

t tởng, tình cảm của các em Các em cha thể hiện tình cảm thật của mình đối với cuộc sống Bên cạnh đó, nó còn tạo cho các em thói quen ỷ lại, lời suy nghĩ, không chịu tìm tòi, sáng tạo

1.3 Tiểu kết chơng 1

Văn miêu tả đóng một vai trò quan trọng đối với việc rèn luyện và thể hiện các năng lực của học sinh nh: đọc, nghe, nói, viết, quan sát, lựa chọn, t-ởng tợng Bên cạnh đó, văn miêu tả còn giúp học sinh hình thành nhân cách, bày tỏ tình cảm của mình đối với cuộc sống xung quanh Vì vậy, trong chơng trình Tiếng Việt ở tiểu học, văn miêu tả chiếm một vị trí xứng đáng

Để dạy Tập làm văn miêu tả có chất lợng cao, đòi hỏi ngời giáo viên phải có những tri thức nhất định về văn miêu tả, nắm chắc đợc những đặc trng của thể loại văn này Nhng có tri thức không thôi thì cha đủ, giáo viên cần phải có phơng pháp dạy văn miêu tả và phơng pháp phải đợc vận dụng linh hoạt vào từng kiểu bài, từng tiết học thì mới có hiệu quả

Hiện nay, việc dạy và học văn miêu tả đang còn nhiều hạn chế Giáo viên đang tỏ ra rất lúng túng khi dạy, học sinh thì không có hứng thú khi học Tập làm văn, nhiều em cha có những kĩ năng cơ bản để làm đợc một bài văn miêu tả và ở các em thiếu hẳn đi tính sáng tạo Bên cạnh đó các em còn có thói quen lời suy nghĩ và ỷ lại vào sách tập làm văn mẫu Vì vậy, việc việc tìm

ra phơng pháp hớng dẫn học sinh đặc tả trong khi miêu tả là một điều cần thiết, giúp nâng cao chất lợng dạy Tập làm văn ở tiểu học

Trang 35

Chơng 2

hớng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả

2.1 Phơng pháp hớng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả

Để có đợc một bài văn miêu tả hay, mang nét đặc sắc, nét riêng biệt của ngời viết thì trong quá trình dạy, giáo viên phải hình thành cho học sinh một

số kĩ năng cơ bản và cần thiết Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số kĩ năng cơ bản để giúp học sinh sử dụng đặc tả khi miêu tả

2.1.1 Xác định rõ đối tợng miêu tả

2.1.1.1 Tầm quan trọng của việc xác định đối tợng miêu tả

Việc xác định rõ đối tợng miêu tả giúp cho học sinh tả đúng yêu cầu của đề bài, từ đó chọn lựa những chi tiết đặc sắc để miêu tả Đứng trớc một đề bài, học sinh phải biết đợc trọng tâm của đề bài này là tả cái gì?

Trớc mỗi đề bài, giáo viên cần giúp học sinh xác định rõ trọng tâm, đối tợng miêu tả Chẳng hạn xác định đối tợng miêu tả của 4 đề bài sau:

Đề 1: Tả một cây bóng mát.

Đề 2: Tả một cây ăn quả.

Đề 3: Tả một cây hoa.

Đề 4: Tả một luống rau hoặc một vờn rau.

Đối tợng miêu tả của đề 1 là tả bóng mát của cây Học sinh cần tập trung tả màu lá, tán lá sao cho nổi bật nét riêng của một cây bóng mát Đối t-ợng miêu tả của đề 2 là tả quả, cần tập trung tả quả Nhng vẫn phải tả hoa, tả lá khi có quả Đối tợng của đề 3 lại là tả cây với dáng hình của hoa, màu sắc của hoa, hơng của hoa Đối tợng của đề 4 là tả luống rau, cần làm rõ vẻ đẹp của lá, sắc màu cùng hơng vị, cách thởng thức loại rau đó

Trang 36

Nh vậy, học sinh cần suy nghĩ kĩ nội dung của đề bài để xác định đúng

đối tợng, trọng tâm của đề, từ đó tìm chi tiết miêu tả Miêu tả không đúng trọng tâm thì bài văn sẽ lan man, không đạt yêu cầu HS không chỉ cần xác

định tên đối tợng mà quan trọng hơn là khía cạnh cần làm rõ ở đối tợng miêu tả Cùng là tả chiếc cặp nhng nếu là chiếc cặp của em thì không giống chiếc cặp của bạn em Chiếc cặp của em sẽ có nhiều gắn bó với em (chứ không nh chiếc cặp của bạn em mà em chỉ nhìn thấy) cho nên về tình cảm tất sẽ có nhiều kỉ niệm, về chi tiết sẽ có nhiều sâu sắc Tả chiếc cặp mới sẽ không giống tả chiếc cặp cũ Chiếc cặp mới tất sẽ gây nên cho học sinh nhiều háo hức, tìm kiếm để khám phá cho hết những vẻ đẹp của nó Vì vậy, cảm xúc, lời văn sẽ không giống nh tả chiếc cặp cũ

Chẳng hạn, cùng miêu tả cơn ma, nhng ba đoạn văn sau lại miêu tả ba

đối tợng khác nhau

Đoạn văn 1 Ma mùa xuân

Ma mùa xuân xôn xao, phơi phới Những hạt ma bé nhỏ, mềm mại, rơi

mà nh nhảy nhót Hạt nọ tiếp hạt kia đan xuống lá cây ổi cong lả mọc xuống mặt ao Mùa đông xám xịt và khô héo đã qua Mặt đất đã kiệt sức bỗng thức dậy, âu yếm đón lấy những hạt ma ấm áp trong lành Đất trời lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây cỏ Ma mùa xuân đã mang lại cho chúng cái sức sống ứ đầy, tràn lên các nhành lá, mầm non Và, cây trả nghĩa cho ma bằng cả mùa hoa thơm, trái ngọt.

Đoạn văn 2 Ma rào

Một buổi có những đám mây lạ bay về Những đám mây lớn, nặng và

đặc xịt lổm ngổm đầy trời Mây tản ra từng nắm nhỏ rồi san đều trên một nền

đen xám xịt Gió nam thổi giật mãi Gió bỗng đổi mát lạnh, nhuốm hơi nớc

Từ phía nam bỗng nổi lên một hồi khua động dạt dào Ma đã xuống bên kia sông: gió càng thêm mạnh, mặc sức điên đảo trên cành cây.

Trang 37

Ma đến rồi, lẹt đẹt lẹt đẹt ma giáo đầu Những giọt nớc lăn xuống mái phên nứa: ma thực rồi Ma ù xuống khiến cho mọi ngời không tởng tợng

là ma lại kéo nhanh đến thế Lúc nãy là mấy giọt lách tách, bây giờ bao nhiêu nớc tuôn rào rào Nớc xiên xuống, lao xuống, lao vào trong bụi cây Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy Con gà sống ớt lớt thớt ngật ngỡng tìm chỗ trú

Ma xuống sầm sập, giọt ngã, giọt bay, bụi nớc tóa trắng xóa Trong nhà bỗng tối sầm, một mùi nồng nồng, ngai ngái, cái mùi xa lạ, man mác của những trận ma mới đầu mùa Ma rào rào trên sân gạch Ma đồm độp trên phên nứa,

đập bùng bùng vào lòng lá chuối Tiếng giọt tranh đổ ồ ồ

Nớc chảy đỏ ngòm bồn bề sân, cuồn cuộn dồn vào các rãnh cống đổ xuống ao chuôm Ma xối nớc đợc một lúc lâu thì bỗng trong vòm trời tối sẫm vang lên một hồi ục ục ì ầm Tiếng sấm, tiếng sấm của ma mới đầu mùa

Ma đã ngớt Trời rạng dần Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót râm ran Ma tạnh, phía đông một mảng trời trong vắt Mặt trời ló

ra chói lọi trên nững vòm lá bởi lấp lánh [15,31].

Đoạn văn 3 Ma cuối mùa

Nửa đêm, bé chợt thức giấc vì tiếng động ầm ầm Ma xối xả Cây cối trong vờn ngả nghiêng, nghiêng ngả trong ánh chớp chập chờn, nhoáng nhoàng sáng lòa và tiếng sấm ì ầm lúc xa, lúc gần Giá nh mọi khi thì bé đã chạy lại bên cửa sổ nhìn ma rồi đấy Bé rất thích trời ma Ma làm cho khu v-

ờn nhà bé tơi tốt và đẹp hơn lên gấp nhiều lần những lúc bình thờng Nhìn xuống dòng nớc ma tuôn từ trên cao xuống lấp lánh nh bạc, lòng bé không khỏi xao động Thú vị nhất là những lúc đợc tắm mình trong ma Bé lăn lê bò toài trong đám cỏ ngập nớc, để mặc cho ma xối tới tấp khắp thân mình trong tiếng cời ròn tan của bé.

Ma mỗi lúc một to Gió thổi tung những tấm rèm và lay giật các cánh cửa sổ làm cho chúng mở ra và đóng vào rầm rầm.

Trang 38

Hơi nớc mát lạnh phả vào ngập gian phòng Ma gió nh cố ý mời gọi bé chạy ra chơi với chúng Muốn ra lắm nhng lại ngại Mấy lần định nhổm dậy, sau lại thôi Bé kéo chăn trùm kín cổ, mơ mơ, màng màng rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết Sáng hôm sau trở dậy, bé vui sớng nhặt lên chiếc lá bồ đề vàng rực rơi ngay cạnh chân giờng bé nằm Bé chạy đến bên cửa sổ ngớc nhìn lên đỉnh ngọn cây bồ đề Đúng là chiếc lá vàng duy nhất ấy rồi Mấy hôm nay, bé đã nhìn thấy nó, muốn ngắt xuống quá mà không có cách gì ngắt đợc Giữa trăm ngàn chiếc lá xanh bình thờng, tự nhiên có một chiếc lá vàng rực

đến nao lòng.

Sau trận ma to đêm hôm ấy, suốt mấy tuần lễ tiếp sau, trời trong veo không một gợn mây Mong mỏi mắt mà cơn ma cũng không quay trở lại Thì ra, cơn ma đêm ấy chính là cơn ma cuối cùng để chuyển sang mùa khô

[18,35]

Nh vậy, chúng ta thấy rằng, cùng là miêu tả cơn ma, nhng do xác định

đối tợng miêu tả khác nhau nên việc chọn lọc chi tiết để miêu tả cũng hoàn toàn khác nhau Nếu nh ma mùa xuân tập trung miêu tả để khắc họa vẻ đẹp của cơn ma xuân thì Ma rào lại vẽ cho ngời đọc thấy rõ diễn biến cùng đờng nét, phong vị của một cơn ma rào và Ma cuối mùa lại chủ yếu miêu tả tâm trạng của chú bé với cơn ma cuối mùa

Xác định đối tợng miêu tả có vai trò định hớng, dẫn dắt học sinh lựa chọn chi tiết, hình ảnh để tả đúng đối tợng của mình, tránh tình trạng tả một cách lan man, dài dòng mà vẫn không hiện rõ đợc đối tợng miêu tả

2.1.1.2 Hớng dẫn học sinh xác định đối tợng miêu tả đối với từng kiểu bài

cụ thể

a Đối với kiểu bài tả đồ vật

Đối với kiểu bài tả đồ vật, chơng trình yêu cầu các em tả các đồ vật rất gần gũi, quen thuộc nh: tả đồ chơi mà em thích; tả cái cặp sách; thớc kẻ; bút

Trang 39

chì; tả món quà có ý nghĩa sâu sắc đối với em Chẳng hạn, với đề bài: Tả đồ chơi mà em thích, các em cần xác định rõ đồ chơi nào các em thích nhất

trong các đồ chơi của em đó là đồ chơi gì ? Vậy thì các em sẽ phải trả lời câu hỏi vì sao đồ chơi ấy em lại thích ? Nh vậy cùng là tả đồ chơi, nhng có em lại tả búp bê, có em lại tả xe ô tô điện, có em lại tả bộ xếp hình, em khác lại chọn tả chiếc chong chóng Đối tợng miêu tả của các em sẽ rất phong phú

và không có sự trùng lặp Có thể nhiều em sẽ chọn đồ chơi mà các em yêu thích đó là búp bê Nhng búp bê của các em sẽ không thể giống nhau đợc nên khi miêu tả các em sẽ miêu tả đúng con búp bê của mình, con búp bê

đích thị mà mình có

b Đối với kiểu bài tả cây cối, loài vật

Xác định đợc đối tợng miêu tả cây cối là rất quan trọng Nếu không xác

định rõ đợc đối tợng miêu tả trong thể văn này thì các em rất dễ viết theo kiểu

na ná nh nhau vì cùng một loài cây, một con vật chắc chắn nó có các đặc điểm giống nhau Chẳng hạn, cây chuối nào cũng có thân cây nhẵn, trơn bóng, lá to

nh cái máng xanh, buồng chuối chi chít quả, các nải chuối xếp chồng lên nhau Vì vậy giáo viên phải giúp các em xác định rõ đợc loài cây hoặc con vật mà mình miêu tả cụ thể đó là con vật gì ? cây cối gì ? ở đâu ? do ai nuôi hoặc ai trồng ?

Chẳng hạn, với đề bài: Hãy tả một con vật mà em yêu thích

Giáo viên cần giúp các em tìm ra, trong số các con vật mà em từng nuôi, từng thấy thì em thích con vật nào Có thể trong gia đình em nuôi tới hai,

ba con chó nhng con chó nào em thích nhất thì các em sẽ chọn nó để tả

Đối với miêu tả cây cối cũng vậy, các em phải xác định đúng trọng tâm,

đúng đối tợng miêu tả Tả một cây non vừa trồng thì trọng tâm tả là gì ? Đó là

sự phát triển về lá, về cành đang còn non nớt Nó khắc hẳn với tả một cây cổ thụ cho bóng mát Tả một cây cổ thụ cho bóng mát lại phải đi sâu vào tán lá, thân cây khắc rõ đợc hình ảnh của cây lâu năm

Trang 40

c Đối với kiểu bài miêu tả cảnh

Mỗi cảnh vật bao giờ cũng có nét khái quát chung Có thể là cảnh nhộn nhịp, cảnh vui tơi hoặc yên tĩnh Nhng bên cạnh cái khái quát chung ấy, khi tả, chúng ta phải tìm cho đợc cảnh trọng tâm để miêu tả Nếu bài văn tả cảnh

mà không xác định đợc trọng tâm thì học sinh sẽ rơi ngay vào tả lan man, chi tiết nào cũng tả, cũng nhắc tới và nó sẽ dẫn đến tình trạng kể lể

Khi yêu cầu học sinh xác định đối tợng miêu tả trong tả cảnh, giáo viên cần giúp học sinh trả lời các câu hỏi:

- Đề bài yêu cầu chúng ta miêu tả cảnh gì ?

- Cảnh đó diễn ra ở đâu ? Nh thế nào ?

- Trọng tâm nhất của cảnh này là gì ?

Nh vậy, đứng trớc đề bài, các em phải xác định đợc mình sẽ tả cảnh gì Chẳng hạn, với đề bài: Tả cảnh một buổi sáng (hoặc tra, chiều) trong một vờn

cây (hay trong công viên, trên đờng phố, nơng rẫy ).

- Đề bài yêu cầu chúng ta miêu tả cảnh gì ?

(Miêu tả cảnh buổi sáng, buổi tra hoặc buổi chiều.)

- Cảnh đó diễn ra ở đâu ?

(Trong vờn cây hoặc trên đờng phố.)

- Em sẽ đi sau vào tả cảnh gì trong đó ?

Nh vậy, có em sẽ chọn cảnh mà mình miêu tả đó là buổi sáng trong vờn cây vì nhà em có vờn cây và em đã quan sát Có em lại tả cảnh buổi tra trên đ-ờng phố vì nhà em ở mặt phố, em quan sát rất dễ dàng Các em khác lại chọn cảnh đờng phố vào buổi sáng vì em có thói quen quan sát đờng phố khi đi học Khi đó, các em đã xác định rõ đợc đối tợng miêu tả của mình

d Đối với kiểu bài miêu tả ngời

Việc xác định đối tợng miêu tả ngời đối với học sinh không khó lắm Bởi vì, trong chơng trình hầu nh các đề bài đều đã giúp các em xác định rõ đ-

ợc đối tợng miêu tả Giáo viên cần giúp các em biết cách xác định chính xác

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bồi dỡng năng lực làm văn hay lớp 5 - Trần Thị Niềm, Lê Thị Nguyên - NXB Đồng Tháp, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dỡng năng lực làm văn hay lớp 5
Nhà XB: NXB Đồng Tháp
2. Dạy văn cho học sinh Tiểu học - Hoàng Hòa Bình - NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho học sinh Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Dạy Tập làm văn ở trờng Tiểu học - Nguyễn Trí - - NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy Tập làm văn ở trờng Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Giảng dạy môn Tiếng Việt cấp I phổ thông - Vụ Giáo dục phổ thông - Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy môn Tiếng Việt cấp I phổ thông
5. Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở Tiểu học theo hớng giao tiếp - Nguyến Quang Ninh - NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở Tiểu học theo hớng giao tiếp
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Một trăm bài văn mẫu lớp 5 - Võ Hồng Anh, Thùy Dung - NXB Đồng Nai, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm bài văn mẫu lớp 5
Nhà XB: NXB Đồng Nai
7. Phơng pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học tập 1, 2 - PGS - TS Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí - NXB Trờng Đại học S phạm I Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học tập 1, 2
Nhà XB: NXB Trờng Đại học S phạm I Hà Nội
8. Phơng pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học-Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Phơng pháp dạy tiếng mẹ đẻ (tài liệu dịch) - NXB Giáo dục 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp dạy tiếng mẹ đẻ
Nhà XB: NXB Giáo dục 1998
11. Rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt - Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh - NXB Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
12. Tập làm bài văn 4 - Trần Mạnh Hởng, Lu Đức Khôi, NXB Giáo dục - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập làm bài văn 4
Nhà XB: NXB Giáo dục - 1998
13. Tập làm bài văn 5 - Trần Mạnh Hởng, Lu Đức Khôi, NXB Giáo dục - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập làm bài văn 5 -
Nhà XB: NXB Giáo dục - 1998
14. Tiếng Việt lớp 4, 5 (nhiều tác giả) chơng trình 165 tuần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 4, 5
15. Tiếng Việt lớp 4,5 (nhiều tác giả) chơng trình sau năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 4,5
16. Tập làm văn 5 - Trần Đức Niềm, Lê Thị Nguyên - NXB tổng hợp Đồng Tháp - 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập làm văn 5 -
Nhà XB: NXB tổng hợp Đồng Tháp - 1997
17. Tuyển chọn những bài văn hay lớp 5 - Vũ Tiến Quỳnh - Nhà xuất bản tổng hợp, Đồng Nai - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn những bài văn hay lớp 5
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp
18. Từ điển Tiếng Việt - Đào Duy Anh- Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
19. Văn miêu tả và văn kể chuyện - Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng - NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và văn kể chuyện
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Về văn miêu tả và văn kể chuyện - Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển- NXB Giáo dục - Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn miêu tả và văn kể chuyện
Nhà XB: NXB Giáo dục - Hà Nội
21. Văn miêu tả và phơng pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học - Nguyễn Trí, NXB Giáo dục 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và phơng pháp dạy văn miêu tả ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhận thức của giáo viên về văn miêu tả và hớng dẫn học  sinh đặc tả trong văn miêu tả - Phương pháp hướng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả lớp 4, 5
Bảng 1 Nhận thức của giáo viên về văn miêu tả và hớng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả (Trang 29)
Bảng 2: ý kiến của học sinh về văn miêu tả và sử dụng đặc tả vào  văn miêu tả - Phương pháp hướng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả lớp 4, 5
Bảng 2 ý kiến của học sinh về văn miêu tả và sử dụng đặc tả vào văn miêu tả (Trang 32)
Bảng 4: Kết quả việc lĩnh hội kiến thức của học sinh qua các bài  thử nghiệm - Phương pháp hướng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả lớp 4, 5
Bảng 4 Kết quả việc lĩnh hội kiến thức của học sinh qua các bài thử nghiệm (Trang 91)
Bảng 5: Bảng phân phối kết quả bài thử nghiệm - Phương pháp hướng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả lớp 4, 5
Bảng 5 Bảng phân phối kết quả bài thử nghiệm (Trang 92)
Bảng 6: Mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với các bài học - Phương pháp hướng dẫn học sinh đặc tả trong văn miêu tả lớp 4, 5
Bảng 6 Mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với các bài học (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w