Để thựchiện đợc điều đó, chúng tôi giả định rằng các từ láy đôi là một chỉnh thể đồngchất xét từ các phơng diện ngữ nghĩa và ngữ pháp, chúng tôi tạo nên một tập hợpphân lập Discrete tron
Trang 1Đại học Vinh Khoa ngữ văn
=====o0o=====
phân bố âm vị học trong từ láy tiếng việt
khoá luận tốt nghiệp đại học
ngành: Ngôn ngữ
khoá học: 2002 2006 –
Giáo viên hớng dẫn: TS Nguyễn Hoài Nguyên
Sinh viên thực hiện : Đặng Thị Hơng
Lớp: 43 B1 – Ngữ Văn
Lời cảm ơn
Em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo Tiến sỹ Nguyễn HoàiNguyên, ngời đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo Tổ ngôn ngữ, Trờng
Đại học Vinh, các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn Trờng Đại học Vinh đã dạy dỗ,trang bị kiến thức cho em trong suốt 4 năm học qua, giúp em có kiến thức để hoànthành khoá luận này
Trang 2Khoá luận của em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận đợcnhiều ý kiến, góp ý quý báu của các thầy cô và những ngời quan tâm đến vấn đềnày.
1- Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cúu
2- Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1- Đối tợng nghiên cứu 2.2- Nhiệm vụ nghiên cứu
3- Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1- Nguồn t liệu3.2- Phơng pháp nghiên cứu
4- Đóng góp của khoá luận
5- Bố cục của khoá luận
Chơng 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Trang 31- Khái niệm từ láy
1.1- Các quan niệm về từ láy1.2- Quan niệm về từ láy mà khoá luận lựa chọn1.3- Phân loại từ láy
1.3.1- Từ láy hoàn toàn1.3.2- Từ láy bộ phận
2- Việc lựa chọn từ láy cho thống kê
2.1- Mục đích2.2- Các nguyên tắc làm việc2.3- Phơng pháp thống kê t liệu2.4- Kết quả thống kê
3- Âm tiết tiếng Việt và vấn đề đơn vị âm vị học Việt
3.1- Các xu hớng nghiên cứu3.2- Giải pháp khoá luận lựa chọn3.3- Danh sách các âm vị học của tiếng Việt
3.3.1- Âm đầu3.3.2- Âm đệm3.3.3- Âm chính 3.3.4- Âm cuối 3.3.5- Thanh điệu
Chơng 2 Phân bố âm vị học trong từ láy đôi tiếng Việt
1- Phân bố thanh điệu trong từ láy đôi tiếng Việt
1.1- Dẫn nhập
1.1.1- Khái niệm thanh điệu1.1.2- Chức năng của thanh điệu1.1.3- Các tiêu chí phân biệt thanh điệu1.2- Phân bố thanh điệu trong từ láy đôi
1.2.1- Số liệu thống kê1.2.2- Nhận xét
2- Phân bố âm đầu trong từ láy đôi tiếng Việt
2.1- Dẫn nhập
2.1.1- Khái niệm âm đầu2.1.2- Các tiêu chí phân biệt âm đầu
Trang 42.2- Phân bố âm đầu trong từ láy đôi tiếng Việt
2.2.1- Số liệu thống kê2.2.2- Nhận xét
3- Phân bố âm đệm trong từ láy đôi tiếng Việt
3.1- Dẫn nhập
3.1.1- Các giải pháp âm ngữ học và âm đệm3.1.2- Vai trò của âm đệm trong từ láy đôi3.2- Phân bố âm đệm trong từ láy đôi
3.2.1- Số liệu thống kê3.2.2- Nhận xét
4- Phân bố âm chính trong từ láy đôi tiếng Việt
4.1- Dẫn nhập
4.1.1- Khái niệm âm chính4.1.2- Tiêu chí khu biệt các âm chính4.1.2.1- Tiêu chí khu biệt phẩm chất4.1.2.2- Tiêu chí khu biệt về lợng4.2- Phân bố âm chính trong từ láy đôi tiếng Việt
4.2.1- Số liệu thống kê4.2.2- Nhận xét
5- Phân bố âm cuối trong từ láy đôi tiếng Việt
5.1- Dẫn nhập
5.1.1- Khái niệm âm cuối5.1.2- Các tiêu chí khu biệt âm cuối5.2- Phân bố âm cuối trong từ láy đôi
5.2.1- Số liệu thống kê5.2.2- Nhận xét
6- Tiểu kết
Kết luận
Phụ lục
Mở đầu
1- Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1- Mối quan hệ giữa âm và nghĩa của từ láy đôi đã đợc nhiều nhà Việt
ngữ học quan tâm nghiên cứu Gần đây, có một xu hớng muốn chứng minh chính
Trang 5mối quan hệ này đã làm nên đặc thù của các từ láy Việt Dĩ nhiên, sự chứng minh
nh vậy là cần thiết nếu thực sự có một mối quan hệ nh thế tồn tại nhng cũng cầnphải tránh việc kết luận có thể đi tới một cực đoan rằng, các đặc điểm ngữ âmtrong khu vực láy đôi là có tính chất của một đơn vị hai mặt nh một tín hiệu ngônngữ bất kỳ nào Điều cực đoan nh vậy, có thể làm hạn chế các t liệu ngữ âm ở cáckhu vực láy và thậm chí sẽ đánh mất đi những mối quan hệ có quy luật giữa cácluật âm thanh tạo nên vỏ từ láy và các đặc điểm ngữ âm vốn có trong bản thân hệthống ngữ âm tiếng Việt
Nếu thừa nhận rằng, trong tiếng Việt cũng nh trong các ngôn ngữ cùng loạihình có tồn tại một cơ chế láy phổ biến thì rõ ràng việc đầu tiên là phải đi tìm sựthể hiện cơ chế ấy về mặt ngữ âm trong các từ láy Đó là cơ chế thể hiện quá trìnhtạo sản vỏ âm thanh từ một cách thuần nhất và bị chi phối bởi các luật âm vị học
đang hành chức trong tiếng Việt Công việc này cần tiến hành đầu tiên, bởi nhắc
đến láy, ngời bản ngữ trực cảm đến các đặc điểm hình thức đặc thù của nó Cơ chếláy sẽ đi kèm với việc cấu tạo các mô hình vỏ từ tơng ứng trong tiếng Việt
Bên cạnh đó, không thể có sự thống nhất ý kiến một cách giản đơn mà vấn
đề về từ láy lại là một vấn đề phức tạp và t liệu về hiện tợng này cho đến ngày naycha thể nói đợc rằng chúng ta đã thu thập đợc một cách đầy đủ Nh vậy, sự cốgắng để đi tìm một con số chính xác về số lợng các từ láy thực có trong tiếng Việt
là mục đích phải vơn tới nhng khó lòng có thể đạt tới Dẫu vậy, việc kiểm kê danhsách các âm tiết trong từ láy một cách chính xác vẫn là cần thiết và kết quả dẫu làtơng đối cũng sẽ là chỗ dựa, là gợi ý cho các nhà âm vị học Việt về những thànhphần âm vị học cùng với các nét khu biệt và các chế định âm vị học giữa chúng
1.2- Theo truyền thống Đông phơng học, các thành tố cấu tạo nên âm tiết
cũng có thể đợc coi là các đơn vị âm vị học Do đó, chúng tôi thiết nghĩ có thểphác hoạ hệ thống âm thanh tiếng Việt, tiến hành khảo sát sự phân bố âm vị họctrong vốn từ tiếng Việt Công việc này, ngoài việc đem lại lợi ích cho âm vị họctiếng Việt còn có lợi ích cho việc xác định loại hình học ngôn ngữ này và phầnnào làm sáng tỏ khái niệm hình tiết (Syllabeme) trong nghiên cứu Việt ngữ ở cấp
độ cao hơn Để đạt tới một âm vị học nh vậy, ngoài việc tiếp thu thủ pháp âm vịhọc truyền thống, còn cần tới những tri thức khác mà âm vị học đơng đại củanhững năm nửa sau thế kỷ XX đã đạt đợc Bên cạnh việc sử dụng các thủ pháp âm
vị học, các khái niệm còn phải chứng minh trong quá trình phân tích, xem lại dựavào các chứng cứ có đợc từ nguồn:
Trang 6a-Từ sự nhất quán của các phép phân tích trên hệ thủ pháp âm vị học đã lựachọn để làm việc.
b- Từ các cấp độ khác nhau trong hệ thống ngôn ngữ
c- Từ sự phát triển lịch sử của hệ thống âm thanh tiếng Việt
Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi mạnh dạn bớc đầu khảo sát sự
Phân bố âm vị học trong từ láy tiếng Việt
2- Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu
Trong phạm vi một khoá luận tốt nghiệp Đại học, do thời gian và kiến thứccòn nhiều hạn chế, chúng tôi không dám bàn tới một vấn đề quá rộng, chẳng hạn:Phân bố âm vị học trong vốn từ tiếng Việt Để áp dụng những kiến thức đã học vàtrong điều kiện tài liệu cho phép chúng tôi khảo sát sự phân bố âm vị học trong
Từ láy tiếng Việt
Thực hiện đề tài này, chúng tôi có thuận lợi là t liệu về từ láy đã đợc biênsoạn và tổng kết một cách khá kỹ lỡng, đã đợc công bố rộng rãi, không phải đilàm các công việc chọn từng từ trong các ngữ cảnh ở đây, chúng tôi sử dụng cácmục từ trong cuốn “Từ điển từ láy” (Hoàng Văn Hành chủ biên - 1995) và hàngloạt các tài liệu liên quan khác tiến hành xác lập những dữ liệu với độ chính xáccao để thực hiện đề tài của mình
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho khoá luận phải giải quyết những vấn đề sau:
- Dựa vào những kiến thức về từ vựng và ngữ pháp tiến hành thống kê, xử
lý, phân loại và xác lập một danh sách về từ láy để làm việc
- Từ cấu trúc của âm tiết tiếng Việt, bớc đầu xác lập một toàn cảnh về sựphân bố âm vị học trong từ láy tiếng Việt
3- Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn t liệu
Khoá luận của chúng tôi hớng đến việc tìm hiểu cơ chế ngữ âm trong từ láy
đôi tiếng Việt thông qua khảo sát sự phân bố âm vị học trong từ láy đôi Để thựchiện đợc điều đó, chúng tôi giả định rằng các từ láy đôi là một chỉnh thể đồngchất xét từ các phơng diện ngữ nghĩa và ngữ pháp, chúng tôi tạo nên một tập hợpphân lập (Discrete) trong vốn từ tiếng Việt để đối lập với khu vực các từ không
Trang 7láy Điều đó, cho phép chúng tôi xây dựng nguyên tắc và phơng pháp thống kê từláy tiếng Việt Từ các nguyên tắc và phơng pháp làm việc, chúng tôi tiến hành lựachọn trong cuốn “Từ điển từ láy tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên)
“ Từ điển tiếng Việt ”do Hoàng Phê chủ biên (2000) “ Đại từ diển tiếng Việt ” doNguyễn Nh ý chủ biên (2000) Sau khi xem xét và kiểm tra lại các tiêu chuẩn giả
định trên, chúng tôi chọn 5231 từ láy làm đơn vị phân tích cho khoá luận
3.2 Phơng pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết những nhiệm vụ mà khoá luận đề ra, chúng tôi chủ yếu sửdụng các phơng pháp làm việc sau đây:
- Sử dụng phơng pháp thống kê ngôn ngữ học để xác lập một danh sách từláy tiếng Việt làm cơ sở ngữ liệu cho khoá luận
- Sử dụng phơng pháp phân tích và miêu tả để tiến hành thiết lập các hàm
t-ơng quan giữa cấu trúc và chức năng, sự phân bố âm vị học trong từ láy tiếngViệt
Ngoài các phơng pháp chính trên, chúng tôi đôi khi còn tận dụng ngữ cảmcủa ngời bản ngữ, những kiến thức về phơng ngữ học, văn hoá dân gian để thựchiện đề tài
4 Đóng góp của khoá luận
- Khoá luận cha thể và không thể giải quyết đợc tất cả vấn đề cấu trúc âm vịhọc tiếng Việt, nhng mọi cố gắng của khoá luận là nhằm miêu tả sự phân bố âm vịhọc và các thuộc tính âm vị học đợc thể hiện một cách tự nhiên với mục đích thamgia cấu tạo từ láy tiếng Việt Những đặc điểm âm vị học này góp phần tạo nênnhững cơ sở quan trọng, gợi ý cho việc giải thích các tơng quan âm vị học cótrong hệ thống âm vị tiếng Việt của cả mặt lịch đại cũng nh mặt đồng đại
- Các kết quả khi tìm hiểu cấu trúc của từ láy tiếng Việt từ góc độ âm vị họcgóp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy các bình diện của từ láy tiếng Việtnói riêng, từ tiếng Việt nói chung Các kết luận bớc đầu của khoá luận góp thêmphần hiểu biết về một lĩnh vực ngôn ngữ học mới trung gian nằm giữa âm vị học
và hình thái học - lĩnh vực hình âm vị học
5 Bố cục khoá luận
Ngoài phần phụ lục bảng từ láy tiếng Việt gồm 12 trang, danh mục tài liệutham khảo gồm 1 trang, toàn văn khoá luận gồm trang Trừ mở đầu 4 trang,kết luận 2 trang Nội dung khoá luận triển khai trên 2 chơng :
Trang 8Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Phân bố âm vị trong từ láy tiếng Việt
Trang 9Chơng 1- Những vấn đề lí thuyết liên quan đến
đề tài
1- Khái niệm từ láy
1.1- Các quan niệm về từ láy
Trong từ vựng của một ngôn ngữ, từ là đơn vị cơ bản Chính vì thế, trongcác đơn vị ngôn ngữ "Từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhiệm nhiều chức năngnhất Chức năng cơ bản của từ là chức năng định danh, chức năng phân biệtnghĩa” (Nguyễn Thiện Giáp – Từ vựng học tiếng Việt NXB ĐH & THCN 1985Tr9) Hay tác giả Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ pháp tiếng Việt NXBGD 2002 Tr18) chorằng: “Từ là một đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết có nghĩa nhỏnhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và đợc vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” Trongthời gian qua, nhiều nhà Việt Ngữ học đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này và tuỳvào tính chất của từng chuyên ngành: ngữ âm (mặt âm thanh của từ), từ vựng (mặt
ý nghĩa của từ), ngữ pháp (mặt kết hợp của từ) và phong cách (nghệ thuật sử dụngtừ) mà vốn từ đợc bàn luận theo những chiều hớng và mức độ khác nhau Nhữngthành quả đạt đợc trong quá trình nghiên cứu đã trở thành kiến thức giáo khoakhông chỉ dùng cho sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ nói riêng, ngành Ngữ vănnói chung mà còn phổ biến đến tận các chơng trình phổ thông cơ sở
Phân loại từ về mặt cấu tạo, dựa vào số lợng hình vị có thể chia từ tiếngViệt thành từ đơn và từ phức “Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Đa số
từ đơn tiếng Việt là từ đơn đơn âm Từ phức là những từ gồm hai hình vị trở lên.Dựa vào phơng thức cấu tạo từ có thể chia ra thành từ láy và từ ghép” (Đỗ ThịKim Liên - Ngữ pháp tiếng Việt_NXBGD 2002 Tr31 – 32) ở đây, khoá luậncủa chúng tôi quan tâm và xem xét khu vực từ láy trong tiếng Việt
Láy là một hiện tợng lí thú và phức tạp, đồng thời nó cũng là một phơngthức cấu tạo từ quan trọng Vì thế, trong các thập kỷ gần đây, các nhà Đông phơnghọc, trong đó có các nhà Việt ngữ học rất quan tâm nghiên cứu và cho ra mắt bạn
đọc nhiều công trình nghiên cứu có giá trị dới hình thức chuyên khảo, các nghiêncứu, các luận án khoa học về đề tài từ láy
Số lợng từ láy có thể có trong sự hình dung lí thuyết cũng nh đợc sử dụnglàm thành từ thực tế là con số xác định và có thể tính toán đợc Tuy nhiên, con sốcác từ láy lí thuyết và các từ láy thực dùng, theo thống kê của các nhà âm vị họctiếng Việt từ trớc đến nay là có sự xê dịch tuỳ theo quan điểm và thủ pháp thống
Trang 10kê của từng tác giả Mỗi tác giả khi nghiên cứu về âm vị học đều sẽ có con sốriêng của mình về các loại từ láy Sự khác nhau về số lợng các loại từ láy cũng nh
sự khác nhau về chi tiết (phân bố âm vị học trong từ láy) có lẽ cần phải đợc khắcphục để tìm hiểu xem trong thực chất lời ăn, tiếng nói hàng ngày ngời Việt đã dựatrên một số lợng từ láy thực là bao nhiêu Nhng sự đòi hỏi một số lợng tuyệt đối
nh vậy là không tởng vì ngôn ngữ là một “sinh thể”, một đối tợng sống Bởi mỗingày trong giao tiếp đã có bao nhiêu từ có nguy cơ bị mất đi, mất hẳn, bao nhiêu
từ đang nhú lên để một ngày nào đó trở thành thành viên trong vốn từ của Việtngữ Hậu quả tất yếu của việc mất đi hay nảy sinh các từ tạo nên một hệ thống mở
đối với khu vực từ láy nói riêng, hệ thống từ vựng tiếng Việt nói chung
Từ láy có một giá trị đặc biệt trong tiếng Việt, góp phần làm nên bản sắccủa tiếng Việt - một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập âm tiết tính
Xung quanh khái niệm “từ láy” cũng có nhiều tên gọi khác nhau: từ phản
điệp (Đỗ Hữu Châu - 1962), từ lắp láy (Hồ Lê - 1976), từ lấp láy (Nguyễn NguyênTrứ - 1970), từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn - 1975, Nguyễn Văn Tu-1976), từ láy(Hoàng Tuệ - 1978; Đào Thản – 1970; Hoàng Văn Hành 1979- 1985; NguyễnThiện Giáp – 1985; Đỗ Hữu Châu 1981 – 1986; Diệp Quan Ban 1989) từ ngữkép phản phúc (Lê Văn Lý 1972) ; (Dẫn theo Hà Quang Năng ; Dạy và học từláy ở Trờng phổ thông NXBGD 2003 Tr5) Sự tồn tại của nhiều tên gọi khác nhaucủa cùng một khái niệm cho thấy quan niệm của các nhà nghiên cứu không hoàntoàn giống nhau Có thể thấy có hai cách nhìn khác nhau đối với hiện tợng láy
Cách nhìn thứ nhất coi “láy là ghép” Trong Việt ngữ học Lê Văn Lý xem
từ láy là một trong hai kiểu từ ghép trong tiếng Việt (1948) Còn L.Thompsonxếp từ láy vào từ nhánh ( 1965 ) Các tác giả Trơng Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê
đã gộp từ láy và từ ghép vào một khái niệm chung bao quát hơn là từ kép (1963)
Và tác giả Nguyễn Văn Tu (1976 – Tr68) đó là "những từ ghép láy âm đợc tạothanh bằng việc ghép 2 từ tố hoặc 2 âm tiết có quan hệ ngữ âm hay trên cơ sở láy
âm, trên cơ sở láy lại bản thân các âm tiết chính hay từ tố chính" Thấy rõ đặc
điểm của từ láy sự hài hoà về ngữ âm và có giá trị biểu cảm, gợi tả, nhng xét đặcdiểm các đơn vị cấu tạo từ láy so với từ ghép và thành ngữ, Nguyễn Thiện Giápthừa nhận "có thể coi từ láylà một hiện tợng ghép đặc biệt : một đơn vị đợc ghépvới chính nó để tạo ra một đơn vị mới"(Nguyễn Thiện Giáp, 1985, 92) Một số tácgiả khác xem "phơng thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các
Trang 11từ láy "(Mai Ngọc Chừ , 1990 ,174), hoặc là "một loại từ ghép thực bộ phận gồm
2 từ tố - một số từ vốn là nguyên vị thực - có quan hệ lắp láy với nhau Có thểgọi nó là từ ghép thực bộ phận lắp láy, hoặc gọn hơn từ ghép lắp láy" Tác giảNguyễn Tài Cẩn, trong “Ngữ pháp tiếng Việt” ( NXB ĐH&THCN 1975 Tr109)
“Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của ngời Việt hiện nay, cácthành tố trực tiếp đợc kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm Quan hệngữ âm đợc thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tơng ứng vớinhau về hai mặt yếu tố siêu âm đoạn tính ( thanh điệu ) và mặt yếu tố âm đoạntính ( phụ âm đầu, âm thanh chính giữa vần và âm cuối vần )” Có lẽ, đây là quanniệm rộng nhất về từ láy
Cách nhìn thứ hai, coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trng hoá
Nh vậy, cách nhìn này thể hiện ở nhận định trong từ láy có sự chi phối của luậthài âm, hài thanh Theo Hoàng Tuệ , từ láy nên đợc xét về măt cơ trình cấu tạocủa nó nữa chứ không chỉ về mặt cấu trúc mà thôi "Nên hiểu rằng láy đó là ph-
ơng thức cấu tạo những từ mà trong đó có một sự tơng quan âm - nghĩa nhất định,tơng quan ấy có tính chất tự nhiên, trực tiếp, trong trờng hợp những từ nh gâu
gâu , gu gu Nhng tơng quan ấy tinh tế hơn nhiều đợc cách điệu hoá trong những
từ nh lác đác, bâng khuâng, long lanh Sự cách điệu hoá ấy chính là sự biểu trnghoá ngữ âm Cho nên láy là sự hoà phối ngữ âm có tác dụng biểu trng hoá ".(Hoàng Tuệ -1978)
Quan điểm coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trng hoá đợc sự ủng
hộ , tán đồng của nhiều nhà nghiên cứu khi khảo sát từ láy trong tiếng Việt Hàngloạt công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và sâu sắc với những kết luận và kết quả thu
đợc có giá trị , có tác dụng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa âm và nghĩa tạo nên giátrị biểu trng hoá của từ láy (x Hoàng Tuệ , 1978; Hoàng Văn Hành, 985 , 1991;Phi Tuyết Hinh, 1983 ,1991 ) Khi thừa nhận láy là sự hoà phối
ngữ âm có giá trị biểu trng hoá , thì chính là đã cho "láy là một cơ chế "(HoàngVăn Hành 1991) Quá trình cấu tạo từ láy là một cơ trình phức tạp , cơ trình nàyquán xuyến cả mặt ngữ âm và nghĩa Cơ trình cấu tạo từ láy chịu sự chi phối của
xu hớng hoà phối ngữ âm và giá trị biểu trng hoá (Hoàng Văn Hành, 1991 ) Thấy
rõ mối quan hệ nh thế nhiều tác giả xác định rõ thêm : quan hệ ngữ âm trong từláy không nên giải thích một cách chung chung mà nên hiểu " có quan hệ ngữ
âm" trong từ láy là sự lặp lại một hình thức ngữ âm nào đó (phụ âm đầu , hoặcvần, hoặc toàn bộ âm tiết ) giữa các thành tố của từ láy ( Phi Tuyết Hinh, 1983 ),
Trang 12là khi có một sự hoà phối ngữ âm giữa những yếu tố tơng ứng của các âm tiết(Nguyễn Văn Tu, 1976)
Do có hai cách nhìn khác nhau đối với hiện tợng láy trong tiếng Việt tấtyếu dẫn đến những khác nhau trong định nghĩa về từ láy Nếu coi láy là ghép thì:
"từ láy âm là loại từ ghép , trong đó theo con mắt của ngời Việt hiện nay cácthành tố trực tiếp đợc kết hợp lại vói nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm ".Có tácgiả gọi là " từ ghép láy âm " " đợc tạo thành bằng việc ghép hai từ tố hoặc hai
âm tiết có quan hệ ngữ âm trên cơ sở láy âm , trên cơ sở láy lại bản thân các âmtiết chính hoặc các thành tố chính"( Nguyễn Văn Tu , 1976 ) Ngợc lại, nếu coiláy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trng hoá thì những tác giả ủng hộ quan
điểm này đều thừa nhậntừ láy đợc cấu tạo ra từ một phơng pháp cấu tạo từ đặcbiệt Sản phẩm của phơng pháp tạo từ này là sản sinh ra các từ láy , một bộ phận
từ quan trọng trong vốn từ tiếng Việt " Từ láy là những từ đa tiết mà giữa các âmtiết có quan hệ ngữ âm " ( Hoàng Tuệ, 1978 ) Trong định nghĩa này các tác giảxác định rõ "có quan hệ ngữ âm "là "hoặc có sự láy lại toàn bộ âm tiết , ví dụ: gâu
gâu , cu cu hoặc có sự láy lại bộ phận âm tiết, bao gồm láy lại phụ âm đầu và
láy phần vần” ( Hoàng Tuệ , 1978 ) Đỗ Hữu Châu cho rằng " Từ láy là những từ
đợc cấu tạo theo phơng thức láy, đó là phơng thức lặp lại toàn bộ hay bộ phậnhình thức âm tiết ( với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanhtức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo 2 nhóm: Nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc,thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng ) của một hình vịhay đơn vị có nghĩa ( Từ vựng ngữ pháp tiếng Việt – NXBGD 1981 Tr38 ).Nguyễn Thiện Giáp lại coi " Từ láy là những cụm từ cố định đợc hình thành do sựlặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã
Trang 13Xung quang định nghĩa về từ láy, có thể dẫn ra rất nhiều định nghĩa khác.Tiếp sau, chúng tôi xin trình bày quan niệm của các nhà Việt ngữ học mà khoáluận lựa chọn để giải quyết vấn đề.
1.2 Quan niệm về từ láy khoá luận lựa chọn
Trong khoá luận này, chúng tôi dựa trên khung lí thuyết về từ láy và các
đơn vị cấu tạo từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành và Hà Quang Năng
Trong cuốn " Từ láy - những vấn đề còn bỏ ngỏ " (NXB KHXH 1998) vớivấn đề từ láy trong tiếng Việt tác giả Hà Quang Năng đã thừa nhận: “ trong tiếngViệt cũng nh trong các ngôn ngữ cùng loại hình có một cơ chế láy với t cách làmột phơng thức tạo từ thì rõ ràng cơ chế này đợc thể hiện trớc hết ở mặt ngữ âmcủa các từ láy “ Nh vậy, đó là cơ chế thể hiện quá trình tạo vỏ âm thanh từ mộtcách thuần nhất và bị chi phối bởi chính các luật âm vị học đang hành chức trongngôn ngữ này Trong cảm thức và sự hiểu biết ngời bản ngữ, từ láy đợc xác định tr-
ớc hết là nhờ đặc điểm về hình thức ngữ âm Cái đợc quan tâm trong từ láy là cácthành tố tạo nên nó Không nên và cũng không thể tìm mọi cách để xác định chobằng đợc thành tố gốc và thành tố láy trong tất cả mọi từ láy tiếng Việt Đơn vị đợc
sử dụng trong cơ chế láy để sản sinh ra các từ láy theo những nguyên tắc nhất định,
đơn vị đó chính là tiếng ( âm tiết ) Từ láy là từ đa âm tiết ( thờng gồm 2 âm tiết )
đợc tạo ra bằng phơng thức hoà phối ngữ âm giữa các âm tiết để tạo ra một tổngthể ngữ nghĩa có giá trị biểu trng và sắc thái hoá
Nh vậy, tiếng là đơn vị cơ bản, hoạt động trong cơ chế láy để tạo ra từ láy.Bên cạnh đó, tác giả còn nhấn mạnh: “ Đối với láy, cái quyết định diện mạo củachúng chính là hình thức ngữ âm đặc thù do sự hoà phối âm thanh của các tiếng"
Từ thực tế của từ láy tiếng Việt, tác giả nhìn nhận theo 3 hớng:
1 Phân chia thành 2 loại từ láy: từ láy xác định đợc thành tố gốc và
từ láy không xác định đợc thành tố gốc Từ láy xác định đợc thành tố gốc là từ mànghĩa của nó đợc xác định nhờ cấu trúc của bản thân nó, trên cơ sở nghĩa từ vựngcủa thành tố gốc kiểu: đẹp đẽ, vuông vắn, khoẻ khoắn Từ láy không xác định đ-
ợc thành tố gốc là từ mà các thành tố tạo nên nó hoàn toàn không có nghĩa haynghĩa của nó không thể giải thích đợc nhờ cấu trúc của bản thân nó, kiểu: đủng
đỉnh, lẽo đẽo, vằng vặc, bâng khuâng, nhí nhảnh, thao láo
2 Về nguyên lý cấu tạo từ láy thì trong thành phần cấu tạo của nó,chỉ có thể có tối đa một thành tố có ý nghĩa và có khả năng hoạt động nh một đơn
Trang 14vị từ vựng độc lập ( đối với loại từ láy xác định đợc thành tố gốc ) Nh vậy, vấn đề
từ láy gốc Hán trong tiếng Việt kiểu: đáo để, quy cũ, hùng hổ có nên đặt vấn đềhay không khi về xuất xứ cả hai yếu tố đều có nghĩa nhng hầu nh không có khănăng hoạt động độc lập ? Bởi, điều này trái với nguyên lí cấu tạo từ láy
3 Khảo sát từ láy trên quan điểm tâm và biên Thuộc tâm là những
từ láy thoả mãn tiêu chuẩn về hình thức và nội dung ý nghĩa ( thứ ý nghĩa " biểutrng ", "ấn tợng "chứ không phải phép cộng ý nghĩa của từng thành tố ) Đó lànhững từ láy xác định đợc thành tố gốc: nhanh nhẹn, nhỏ nhắn, muộn màng, giỏi
giang, đẹp đẽ và không xác định đợc thành tố gốc: luộm thuộm, bùi ngùi, xấp xỉ, kẽo kẹt
Thuộc phạm vi biên là những từ có hình thức giống từ láy nhng nội dung, ýnghĩa không có đặc trng biểu trng do sự hoà phối ngữ âm tạo ra Đó là những từthuộc loại: ba ba, chôm chôm, cào cào, bìm bịp, đu đủ
Thuộc gần biên cả những trờng hợp nh: nhún nhảy, tội tình, vùng vẩy,
vung vẩy, ngẩn ngơ, gậy gộc
Coi láy là một cơ chế , với t cách là một phơng thức cấu tạo từ là một quátrình diễn ra nh sự hoạt động của một hệ những quy tắc chi phối việc tạo ranhững từ đa tiết mà các tiếng của chúng nằm trong thế vừa điệp vừa đối ,tác giảHoàng Văn Hành cho rằng: " từ láy là những từ đợc tạo bằng phép trợt để nhân
đôi từ tố gốc dới sự chi phối của quy tắc đối và điệp thể hiện ở quá trình biến đổi ngữ âm hoặc kết hợp khuôn vần trong từ tố láy " (Hoàng Văn Hành , 1979 ) hoặc
"Từ láy nói chung là những từ đợc cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theonhững quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối,hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trng hoá " (Hoàng Văn Hành1991)
1.2.2- Phân loại từ láy
Xét về mặt ngữ âm, từ láy đôi là một kiến trúc đồng chất gồm 2 âm tiết, gọitắt theo thứ tự là AT1 và AT2 có liên hệ với nhau bằng sự nhắc lại ( láy lại ) mộtvài đặc trng ngữ âm học nào đó các bộ phận nào đó ở các bộ phận tạo thành âmtiết Những đặc trng ngữ âm đợc nhắc lại này tạo nên mối liên hệ ràng buộc giữa 2
âm tiết và làm cho chúng thống nhất vào một chỉnh thể lớn hơn về mặt cấu trúc –chức năng, tức là từ láy đôi
Từ láy đợc cấu tạo theo phơng thức hoà phối ngữ âm Vì thế, khi xem xét từláy, mặt ngữ âm cần phải đợc coi là dấu hiệu cơ bản Với t cách là phơng tiện tạo
Trang 15nên tính biểu trng, hình tợng, sự hoà phối ngữ âm trong từ láy phải có quy luật rõràng Quy luật của sự hoà ngữ âm này không những thể hiện ở những chỗ giốngnhau mà còn thể hiện ở những chỗ khác nhau đều đặn giữa các thành tố trong từláy Từ láy hiện nay thờng đợc phân loại trên 2 cơ sở sau đây:
+ Số lợng âm tiết trong từ láy
+ Sự đồng nhất hay khác biệt trong thành phần cấu tạo của các thành
tố trong từ láy do cách phối hợp ngữ âm tạo nên
Hai cơ sở này thờng liên quan với nhau Căn cứ theo số lợng tiếng trong từláy thì trong tiếng Việt có các kiểu từ láy 2 tiếng, từ láy 3 tiếng, từ láy 4 tiếng màtrong truyền thống nghiên cứu, từ láy thờng gọi là: Từ láy đôi, từ láy ba, từ láy t.Với cách phân loại này từ láy đôi chiếm vị trí hàng đầu không chỉ vì nó chiếm sốlợng lớn nhất trong tổng số các từ láy tiếng Việt , mà chính là vì ở từ láy đôi , tấtcả các đặc trng cơ bản thể hiện bản chất của hiện tợng láy cả ở bình diện thể hiệnbằng âm thanh lẫn bình diện ngữ nghĩa đều đợc bộc lộ đầy đủ
Khi căn cứ vào sự đồng nhất hay khác biệt trong các thành phần tạo nên cácthành tố do sự phối hợp ngữ âm mà có, các từ láy đôi đợc phân loại thành: từ láyhoàn toàn và từ láy bộ phận ( từ láy âm và từ láy vần )
1.2.2.1- Từ láy hoàn toàn
Do quan niệm khác nhau, một số nhà nghiên cứu xem từ láy hoàn toàncũng có điều khác nhau Tác giả công trình Ngữ pháp tiếng Việt (1983 - Tr56 )xem " Từ láy hoàn toàn là từ láy trong đó có sự lặp lại hoàn toàn của tiếng nh: oe
oe, róc róc, đùng đùng, chôm chôm Các từ láy kiểu: bìm bịp, đu đủ, chiền chiện
không đợc coi là từ láy hoàn toàn mà tác giả xếp vào láy bộ phận" Hay, ĐáiXuân Ninh trong công trình "Hoạt động của từ tiếng Việt " ( 1978 – Tr178 ) coi
từ láy hoàn toàn là "láy lại tất cả " những thành tố của một đơn vị đơn tiết hay đatiết nh: lâng lâng, ba ba, cào cào và phản đối việc xếp các từ :bong bóng, đo
đỏ, châu chấu là những từ láy hoàn toàn mà xếp chúng vào những từ láy bộ
phận
Từ láy hoàn toàn nên hiểu là từ mà khi cấu tạo thì toàn khối của đơn vị gốc
đợc triệt để nhân đôi theo những quy tắc nhất định Tức " đó là những từ láy có sự
đồng nhất tơng ứng hoàn toàn giữa các thành phần cấu tạo của 2 thành tố nh:
đùng đùng, ào ào, lăm lăm, chang chang, phau phau " ( Từ tiếng Việt, hình
thái, cấu trúc, từ ghép, từ láy, chuyển loại NXB KHXH – 1998 – Tr76 )
Trang 16Nhng láy không phải là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn mà là sự lặp lại âmthanh có biến đổi theo những quy luật chặt chẽ Điều này, không chỉ xảy ra đốivới láy hoàn toàn mà cả láy bộ phận: thanh điệu ở 2 tiếng đợc phân bố theo quyluật cùng âm vực ,cụ thể là :
Âm vực cao không dấu , hỏi , sắc
kh kh , kìn kìn ,vèo vèo , xăm xăm
Từ láy hoàn toàn giữa 2 tiếng có sự khác nhau về thanh điệu
b) Xảy ra hiện tợng biến thanh theo những quy luật chặt chẽ do hiện ợng phát âm lớt nhẹ ở âm tiết (tiếng) đầu Ví dụ : đo đỏ , mơn mởn hây hẩy , hơ
t-hớ , chầm chậm Sự khác biệt về thanh điệu ở đây đợc phân biệt theo hai dấu
hiệu
- Đối lập bằng - trắc: thanh bằng gồm có thanh không dấu và thanh huyền,thanh trắc gồm có thanh hỏi, thanh ngã, thanh sắc và thanh nặng
- Đối lập âm vực cao - thấp theo quy luật cùng âm vực
Sự phối hợp thanh điệu nh trên đã hình thành quy tắc hài thanh: đối lập cácthanh điệu trắc - bằng cùng âm vực, tức là trong từ láy hoàn toàn nếu cả hai tiếng
đều là thanh trắc thì một tiếng bao giờ thanh điệu trắc cũng chuyển sang thanhbằng cùng âm vực Ví dụ:
mởn mởn mơn mởn tím tím tim tím
chậm chậm chầm chậm
vạnh vạnh vành vạnh nhẻm nhẻm nhem nhẻm
Biến thanh nh vậy đã tạo nên sự dễ đọc , dễ nghe tức tăng cờng sự hoà phốingữ âm có tác dụng biểu trng hoá Vì vậy, có thể trong một số trờng hợp , có hiện
Trang 17tợng song song tồn tại hai dạng : từ láy hoàn toàn có biến thanh và từ láy hoàntoàn không biến thanh: đỏ đỏ / đo đỏ ; chậm chậm / chầm chậm; đáu đáu / đau
đáu; hớ hớ /hơ hớ
Bên cạnh những từ láy hoàn toàn mà thanh điệu biến đổi phù hợp với quytắc hài thanh vừa nêu trên, còn có một số từ láy có thể xếp vào kiểu từ láy hoàntoàn có biến thanh nhng sự biến thanh không theo quy tắc đã nêu Đó là các từ:
sát sạt , rát rạt , khít khịt , sít sịt , cuống cuồng ở các từ láy này , cả dấu hiệu
đối thanh bằng - trắc cùng âm vực lẫn sự đối lập cùng âm vực đều bị phá vỡ
( thanh sắc đi cùng với thanh nặng , hoặc đối lập bằng - trắc vẫn còn nhng lạikhông thuộc cùng âm vực ) Bên cạnh từ láy đôi này là sự tồn tại song song củacác từ láy ba tơng ứng Ví dụ :
sát sạt sát sàn sạt rát rạt rát ràn rạt khít khịt khít khìn khịt sít sịt sít sìn sịt cuống cuồng cuống cuồng cuồng
Trong hai tiếng thì một tiếng còn có nghĩa và có khả năng hoạt động độclập và luôn đứng ở vị trí thứ nhất , vị trí đợc nhấn mạnh (có trọng âm ) Vì lẽ đó ,ngời ta có thể nghĩ rằng các từ láy đôi nêu trên là dạng rút gọn của các từ láy batơng ứng
c) Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự khác nhau về phụ âm cuối Cũng
do hiện tợng phát âm lớt nhẹ ở tiếng (âm tiết )đầu tiên nên có thể xảy ra hiện ợng biến vần theo quy luật chặt chẽ Sự biến vần này thể hiện ở sự khác nhau giữacác phụ âm cuối của hai tiếng trong từ láy hoàn toàn theo quy tắc: các phụ âm tắc
t-và vô thanh p , t , k( thể hiện bằng chữ c t-và ch ) sẽ chuyển thành các phụ âm vangmũi cùng cặp m , n, ng (thể hiện bằng chữ ng và nh ) Ví dụ:
p - m : chiếp chiếp - chiêm chiếp
Trang 18Phụ âm cuối biến đổi ở từ láy hoàn toàn, cũng nh sự biến đổi thanh điệu chỉnhăm tăng cờng khả năng hoà phối ngữ âm tạo nghĩa, tạo nên sự dễ đọc , dễnghe, vì vậy về nguyên tắc là không có tính chất bắt buộc Do vậy, trong nhiều tr-ờng hợp có hai biến thể cùng song song tồn tại tức là vẫn tồn tại từ láy hoàn toàn
mà phụ âm cuối p, t, k không biến đổi thành m , n , ng Ví dụ : khác khác /
khang khác ; dặc dặc / dằng dặc ; ngắt ngắt / ngăn ngắt; phật phật / phần phật
Theo chúng tôi, bên cạnh những từ có sự lặp lại hoàn toàn của cả AT1 và AT2
nh : cào cào, chàng chàng thì những từ : châu chấu, đo đỏ vẫn đợc xếp vào
từ láy hoàn toàn Đó chỉ là sự biến đổi thanh ( bơm bớm, đo đỏ ) hay biến vần (
“ Từ láy bộ phận là từ láy trong đó có sự phối hợp ngữ âm của từng bộ phận
âm tiết theo những quy tắc nhất định “ ( Từ tiếng Việt, hình thái, cấu trúc, từ láychuyển loại - Tr81 ) Trong Tiếng Việt, kiểu láy bộ phận là kiểu chính, xét cả về
số lợng từ, cả về tính đa dạng , phong phú của quy tắc kết hợp âm thanh
Căn cứ vào sự phối hợp các bộ phận khác nhau của âm tiết, ta có thể chia từláy bộ phận thành 2 kiểu nhỏ: từ láy âm và từ láy vần
* Từ láy âm: là những từ láy trong đó âm đầu đợc láy lại Ví dụ: tung tăng,
ngô nghê, bỏm bẻm, tí tách, róc rách, xum xuê ( Từ tiếng Việt, hình thái, cấu
trúc , từ láy chuyển loại – Tr81 ) Vần của hai âm tiết trong từ láy âm khác biệtnhau Xét các vần trong số gần 2905 từ láy âm chúng tôi thấy có một số lợng lớncác từ có âm chính tơng ứngvới nhau theo quy luật Quy luật đó là luôn có sự
Trang 19luân phiên giữa các nguyên âm khác dòng , cùng độ mở , các nguyên âm trầmluân phiên với cấc nguyên âm bổng ở cùng bậc lợng Ví dụ :
ô - ê : gồ ghề , sồ sề , vỗ vễ , ngô nghê , ngốc nghếch , bồng bềnh ,mông mênh, trống trếnh
o - e : cò kè , ho he , ngo ngoe , hom hem , long lanh , phong phanh ,mom mem , thom them , nho nhe , thỏ thẻ , tò te , vo ve
u - ă : gục gặc , hục hặc , nhúc nhắc , vục vặc , vùng vằng , chủngchẳng , thủng thẳng , trục trặc , tung tăng
i - a : hi ha , hỉ hả , chí chát , rỉ rả , xí xoá
Một số khuôn vần trong từ láy âm có khả năng sản sinh cao , tạo thành loạt
từ có những đặc trng ngữ nghĩa riêng Ví dụ một số khuôn vần sau :
- Khuôn vần - ấp : bấp bênh, bập bềnh, gập ghềnh, bập bõm, dập dềnh , lấplánh, hấp háy, tới tấp
- Khuôn vần - ăn : đều đặn, nhỏ nhắn ngay ngắn , xinh xắn, chắc chắn,vuông vắn, tròn trặn, chín chắn, khoẻ khắn
- Khuôn vần ang: dở dang, giỏi giang, rộn ràng, phủ phàng, bẽ bàng, muộnmàng, mùa màng, lỡ làng
Trong từ láy âm ngoài một số từ có quy tắc biến vần thì vẫn còn có rấtnhiều từ hiện nay vẫn cha xác định đợc quy tắc biến đổi các thành phần khác nhautrong phần vần giữa hai âm tiết Giống với từ láy hoàn toàn, từ láy âm cũng gồmcả những từ mà hai tiếng đều là không tự nó có nghĩa ( đủng đỉnh , lung linh,
xuề xoà , ti toe , thớt tha ) lẫn những từ trong đó một tiếng tự nó có nghĩa và có
khả năng hoạt động nh một từ ( có thể đứng ở vị trí thứ nhất hoặc thứ hai ) kiểu
nh :nồng nàn , lớn lao , lấm láp , chậm chạp , thêm thắt
Nói chung, trật tự các tiếng không thay đổi đợc vì sự thay đổi này có thểlam mất đi sự hoà phối ngữ âm giữa các tiếng Tuy nhiên ở một số từ láy có khithay đổi đợc trật tự các tiếng : thiết tha / tha thiết ; vẩn vơ /vơ vẩn ; lả lơi / lơi lả;
thớt tha / tha thớt ; lửng lơ / lơ lửng ;đớn đau / đau đớn mà các nhà ngôn ngữ
học hiện nay vẫn cha tìm ra đợc cơ sở của hiện tợng này
Bên cạnh đó, một số trờng hợp trong 2 âm tiết chỉ có vần mà có phụ âm đầu
là âm tắc thanh hầu , không đợc thể hiện trên chữ viết cũng đợc xếp vào kiểu từláy âm Những từ này thoạt nhìn có vẻ không phải là từ láy nh: êm ả, êm ái, oi ả,
óng ả
Trang 20Theo quan niệm trên , chúng tôi khảo sát đợc 2905 từ láy âm đầu , đợcphân bố theo thứ tự chữ cái a, b, c, nh sau :
" Từ láy vần là từ láy trong đó phần vần trùng lặp ở 2 âm tiết Còn phụ
âm đầu khác biệt nhau Ví dụ: lác đác, la tha, bâng khuâng, căn dặn ”
( Từ tiếng Việt, hình thái, cấu trúc , từ láy chuyển loại – Tr85 ) Tức cả 2yếu tố trong từ láy phải giống nhau hoàn toàn về phần vần và thanh điệu phảiphù hợp quy luật " cùng âm vực"
Sự khác biệt về phụ âm đầu rất đa dạng T liệu thống kê các từ láy kiểunày cho thấy đã hình thành những cặp phụ âm đầu phối hợp với nhau theoquy luật: trong mỗi cặp hai âm đầu phải khác nhau về phơng thức và
bộ vị cấu âm Đáng chú ý là có đến một nữa số đơn vị láy kiểu này có phụ
âm đầu l ở âm tiết thứ nhất (641/1307) Đây là một phụ âm bên đối lập vớitất cả các phụ âm còn lại , nên có thể phối hợp gần hết với tất cả phụ âm đầukhác trong việc cấu tạo từ láy vần
Chúng tôi thống kê đợc 1329 từ láy vần theo thứ tự bảng chữ cái nh sau:
Trang 212.1 Mục đích
Láy là một trong những phơng thức cấu tạo từ quan trọng của tiếngViệt, đồng thời là một bộ phận quan trọng trong vốn từ của tiếng Việt Chínhvì vị trí, tính chất quan trọng của bộ phận này nên việc có thêm một khảo sátnữa trong danh mục các công trình đã nêu ở trên cũng là một lẽ thờng tình.Xét về mặt cấu tạo, từ láy là từ đợc tạo bằng phép trợt để nhân đôi từ tố gốcdới sự chi phối của quy tắc đối và điệp thể hiện ở quá trình biến đổi ngữ
âm hoặc kết hợp khuôn vần trong từ tố láy Nh vậy, từ láy là do các âm tiếthoạt động trong cơ chế láy để tạo ra từ láy
Đa số từ láy trong tiếng Việt đều là những từ quen thuộc với ngời Việt
có từ lâu nh các từ: hồng hào, da dẻ, cần cù và những tiếng gốc Hán nh:
ảm đạm, ân nhân, bệ vệ, biểu diễn, cơ sở đang đợc Việt hoá cao độ.
Vì những lẽ trên, việc lựa chọn từ láy còn cho biết thêm đôi điều vềnguồn gốc cũng nh lịch sử của tiếng Việt
Trong từ láy thì chủ yếu là những từ thuần Việt Hầu hết, từ thuần Việt
là những từ thông dụng, gọi tên những sự vật, hiện tợng, hoạt động gần gũitrong đời sống hàng ngày
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập đợc các nhà Ngôn ngữ học công nhận
có sự trùng hợp giữa âm tiết và hình vị nên đã khiến cho âm tiết tiếng Việt có
sự khác biệt so với các ngôn ngữ Châu Âu ở đây, âm tiết và là tiếng là mộtloại hình vị đặc biệt: hình tiết Vì lẽ đó, âm tiết đợc coi là đơn vị ngữ âm họccơ bản của tiếng Việt và việc lựa chọn âm tiết trong quá trình khảo sát nàycũng là điều hiển nhiên Mặt khác, nếu âm tiết có chức năng ngữ âm học thì
âm vị có chức năng khu biệt Đối với ngời bản ngữ, họ dễ dàng nhận ra các
âm tiết hơn là các từ Từ đó, có thể nói rằng khi chọn từ láy để khảo sát sẽthấy đợc những đặc trng cơ bản của cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Nếu xuất phát từ âm vị rồi dùng phơng pháp tổng hợp để xây dựngthành các đơn vị thì tổng là đơn vị hình thành đầu tiên trong quá trình làmviệc Trớc nó, chúng ta cha thể tổng hợp nên một đơn vị nào khác Ngợclại, nếu đi từ câu nói rồi dùng phơng pháp phân tích để tách ra các kiểu dơn
vị thì tổng là đơn vị cuối cùng có thể tìm ra đợc Chính đặc điểm này, cùngvới sự tồn tại của từ láy mà chúng tôi đã chọn từ láy làm đơn vị cơ bản vàduy nhất trong việc khảo cứu này Tuy nhiên, chúng tôi không có ý định
Trang 22khảo sát lại một lần nữa những vần đề về tỉ lệ cũng nh những khu vực choánlấp của vốn từ này trong cấu trúc của từ vựng - Ngữ pháp tiếng Việt mà chỉcoi đây là những luận đề khá tin cậy về cơ sở từ vựng ngữ pháp đặng rút ra đ-
ợc một điều gì đó bổ ích và thú vị xét trên bình diện thuần ngữ âm học cũng
nh tìm cách giải thích chúng dựa trên những thành tựu gần đây nhất củangôn ngữ học thế kỷ XX
2.2- Các nguyên tắc làm việc
2.2.1- So với từ trong các ngôn ngữ ấn - Âu, thì từ và hình vị trongtiếng Việt đều có chung vỏ ngữ âm là âm tiết Đặc biệt là mỗi từ là một âmtiết nên từ đó mà suy ra từ tiếng Việt trùng với hình vị ở đây, chúng tôichọn cơ sở dữ liệu là những đơn vị đa tiết Đó là những chỉnh thể có nghĩa,dùng để tạo câu, nó có hình thức của 2 âm tiết Có thể khẳng định rằng, phầnlớn các tiếng trong tiếng Việt đều có tính chất cố định và cái gọi là những từ
đa tiết ở đây theo chúng tôi phải gồm những từ có cấu trúc hoàn chỉnh, giữacác âm tiết có quan hệ ngữ âm Về mặt ngữ âm, chúng đều đợc cấu tạo theo
đúng nguyên tắc ngữ âm của tiếng Việt Về mặt chính tả, chúng đợc viết liềnthành một khối theo đúng quy tắc chính tả hiện hành Chúng đều biểu thị sựvật, hiện tợng, hành động và quan hệ trong thực tại Có những đơn vị, vừa cóchức năng định danh, vừa có chức năng dẫn xuất, vừa có chức năng biểuniệm nh: ảo não, bàng hoàng, bạn bè, bóng bánh những đơn vị ấy là thựctừ
Bên cạnh đó, còn có những đơn vị chỉ dẫn xuất hình thái cảm xúc nào
đó trong thực tại nh: oai oái, ôi ối, ơi ới đợc gọi là tình thái từ
Từ thực trạng từ láy tiếng Việt, chúng ta không thể chấp nhận khi xemxét cơ cấu các từ láy bằng cách chỉ ra trong từ láy đâu là phần gốc, đâu làphần láy Để xác định đợc phần gốc thực chất đều mang tính gợng ép, cốkhuôn về cách quan niệm của nhà nghiên cứu mà không chú ý, dù vô tìnhhay cố ý đến thực tế tình trạng từ láy trong tiếng Việt Thực tế, từ láy tiếngViệt, sự tồn tại các từ láy mà cả 2 âm tiết đều vô nghĩa rất nhiều Do đó, đâycha phải là cách xử lí phản ánh đúng thực trạng từ láy trong tiếng Việt
Nếu thừa nhận rằng, trong tiếng Việt cũng nh trong các ngôn ngữ cùngloại hình có tồn tại một cơ chế láy với t cách là một phơng thức tạo từ, thì rõ
Trang 23ràng cơ chế này đợc thể hiện trớc hết về mặt ngữ âm trong các từ láy "Đó làcơ chế thể hiện quá trình tạo vỏ âm thanh từ một cách thuần nhất và bị chiphối bởi chính các luật âm vị học đang hành chức trong ngôn ngữ này "( Hoàng Cao Cơng – Tr29 )
Nói đến láy, ngời bản ngữ cảm nhận trớc hết đến đặc điểm về hìnhthức ngữ âm của nó
Cái đợc quan tâm trong từ láy chính là các thành tố tạo nên nó Khôngnên đặt vấn đề xác định thành tố gốc và thành tố láy trong từ láy Điều quantrọng hơn là đơn vị nào đợc dùng trong cơ chế láy để sản sinh các từ láy theonhững nguyên tắc nhất định Đơn vị đó chính là tiếng ( âm tiết ) Từ láy là từ
đa tiết đợc tạo ra bằng phơng thức hoà phối ngữ âm giữa các âm tiết với hiệuứng tạo ra nghĩa biểu trng Các âm tiết trong từ láy có thể tơng đơng haykhông tơng đơng với hình vị, nếu hiểu hình vị theo quan niệm thông thờng
Điều đó không quan trọng, điều quan trọng là trong ý thức và cảm nhận củangời Việt, tiếng là một chiết đoạn ngữ âm hoàn chỉnh, lại là loại đơn vị cócấu trúc tối giản, đi vào truyền thống ngữ văn của ngời Việt, vừa là một đơn
vị cấu trúc, vừa là một đơn vị chức năng Đối với từ láy, việc các thành tố tạonên nó tự thân có nghĩa hay vô nghĩa không quan trọng, cái quan trọng làhình thức ngữ âm đặc thù do sự hoà phối âm thanh giữa các tiếng, cái quyết
định diện mạo của từ láy
Nh thế, chúng tôi khảo sát đợc 5231 từ láy trong bảng thống kê làmcơ sở dữ liệu cho khoá luận
2.2.2- Về nguồn gốc các từ láy không chỉ thuộc lớp từ thuần Việt màcòn thuộc lớp từ vay mợn gốc Hán Lớp từ thuần Việt và Hán Việt có sự tơngxứng ngữ âm vì đây là 2 ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập đã cóquá trình tiếp xúc, ảnh hởng qua lại lâu dài
Những từ láy gốc Hán Việt có gần 60 từ: ảm đạm, an ủi, ảo não, bàng
hoàng, bàng quan, bôn ba, châm chớc, hồn hậu, ung dung, lỗi lạc, khí khái Đây là lớp từ Hán Việt nhng chúng đợc nói ( đọc ) theo cách nói
( đọc ) của ngời Việt, chịu sự chi phối của cấu trúc ngữ âm tiếng Việt Nhvậy, những từ này đã đợc Việt hoá Những trờng hợp không đợc Việt hoá nhtrên chúng tôi không thu thập vào bảng từ láy của mình
2.3 Phơng pháp thống kê t liệu
Trang 24Chúng tôi xác định cách thức tiến hành, lựa chọn từ láy cho khoá luận
nh sau:
Dựa vào từ điển “ Từ láy tiếng Việt “ do Hoàng Văn Hành chủ biên ( 1995 ) có đối chiếu với các từ điển khác và các tài liệu tham khảo chính,chúng tôi tiến hành lựa chọn và tìm ra một danh sách từ láy để làm việc
Trớc khi bớc vào thống kê, chúng tôi buộc phải tiến hành kiểm tra lạitoàn bộ các danh sách đã đợc các nhà từ vựng học và ngữ pháp học thừa nhận
để đi đến một danh sách của mình cốt là không để sai lệch nhiều lắm so vớinguyên tắc nhng vẫn giữ đợc nguyên tắc làm việc của mình đã đề ra Chínhvì thế, cách tiến hành của chúng tôi dựa trên phơng pháp thống kê ngôn ngữhọc, gạn lọc và lựa chọn các mục từ phù hợp với yêu cầu của khoá luận Vìvậy, trong bản danh sách, trình tự, các từ láy không có bất kỳ đơn vị ngữ âmnào trùng nhau mà mỗi đơn vị lựa chọn đều có sự phân biệt Có đợc điều này,chúng tôi phải dựa vào kiến thc về ngữ pháp học và phơng ngữ học để xác
định rõ hơn về từ loại, về phạm vi sử dụng cũng nh nguồn gốc địa phơng củanhững từ láy đó
Nh vậy, để có danh sách từ láy làm ngữ liệu cho đề tài khoá luận,chúng tôi đã sử dụng hàng loạt từ điển tiếng Việt và những công trình về từvựng học tiếng Việt cũng nh ngữ pháp học tiếng Việt đợc xuất bản từ trớc
đến nay Sự xác lập một danh sách nh vậy, cho phép ta có đợc một cái nhìntoàn cảnh về từ láy tiếng Việt Chúng tôi gọi đó là danh sách cơ sở và ngữliệu thô Để có đợc danh sách từ láy, chúng tôi đã sử dụng các nguyên tắcgạn lọc nh đã trình bày ở trên để có đợc kết quả nh mong muốn
2.4- Kết quả thống kê
Tuân thủ các nguyên tắc đề ra, tiến hành lựa chọn và xác lập từ láytrong cuốn “ Từ điển từ láy tiếng Việt ” ( 1995 – Hoàng Văn Hành ), chúngtôi đã chọn ra đợc 5231 mục từ thoả mãn định nghĩa và cách phân loại củachúng tôi về từ láy Các mục từ này đợc thống kê theo cách phân loại: chữcái a, b, c Danh mục các từ láy đôi có thanh điệu không theo quy luật cùng
âm vực và đợc giới thiệu ở phần phụ lục cuối khoá luận
3- Âm tiết tiếng Việt và vấn đề đơn vị âm vị học Việt
3.1- Các xu hớng nghiên cứu
Trang 25Từ trớc đến nay, đã có không ít những công trình nghiên cứu về ngữ
âm tiếng Việt Trong đó, thể hiện nhiều xu hớng khác nhau trong khi mô tả
đặc tính âm thanh đa lại Về mặt phơng pháp luận, đó là một giải pháp âm vịhọc độc đáo có chứng cứ từ trực cảm tâm lí của ngời bản ngữ và khó lòngbác bỏ Bởi vì, trong thực tế ngữ âm học ngời ta có thể chia âm tiết thànhnhững yếu tố nhỏ hơn nữa, thậm chí các yếu có dáng thể vật chất tơng tự vớicác âm vị có trong các ngôn ngữ Châu Âu nhng các thao tác âm vị học đã đ-
ợc sử dụng ấy đối với tiếng Việt chỉ là mốt, suy đoán lôgíc ít mang lại giá trịchức năng nh âm vị học cổ điển đã quan niệm
- Theo cách hình dung truyền thống của ngữ âm học Châu Âu, cáihiển nhiên đối với họ là các âm vị nguyên âm và phụ âm, tơng ứng với cácchữ cái a, b, c ghi trên mặt giấy Chịu ảnh hởng của phơng pháp phân tích âm
vị học truyền thống Châu Âu, các tác giả Lê Văn Lý ( 1948 ), M.B Emeneau( 1951 ) đã hình dung hệ thống ngữ âm tiếng Việt cũng bao gồm các âm vịnguyên âm, phụ âm Từ đó, họ đi đến xác lập hệ thống nguyên âm và hệthống phụ âm tiếng Việt Theo đó, âm tiết tiếng Việt đợc miêu tả nh một tổhợp của các nguyên âm và phụ âm ( thanh điệu không đợc tính đến) Cho
đến những năm sau, tác giả Hoàng Tuệ (1962 ) cũng ủng hộ cách miêu tảtheo xu hớng này
- Tiếp thu truyền thống âm vị học Trung Hoa trong sự hình dung vềngữ âm của một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập âm tiết tính nh tiếng Việt,tác giả Nguyễn Quang Hồng dựa trên những cứ liệu về từ láy, nói lái để đa
Trang 26đến kết luận chia tách âm tiết Việt thành 2 thành phần là âm đầu và vần cái.Khi bàn về hình tiết (Syllabeme) tiếng Việt và sự phân xuất âm vị học của
nó, tác giả nêu ra 3 điểm có tính chất kết luận nh sau:
1- Nếu nh gọi âm vị là đơn vị ngữ âm tự mình có thể mangnghĩa trong ngôn ngữ thì âm vị nh thế trong tiếng Việt chỉ có thể là âm tiếtnguyên vẹn
2- Nếu nói âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, làm thành tố cấutạo nên tín hiệu ngôn ngữ thì âm vị nh thế trong tiếng Việt là âm đầu và vầncái
3- Nếu nh coi âm vị chẳng qua là một chùm các đặc trng ngữ
âm để khu biệt các tín hiệu ngôn ngữ thì những âm vị tơng ứng nh thế trongtiếng Việt không phải chỉ là thanh điệu, âm điệu mà cả một số những chùm
đặc trng khác, đồng thời hoặc không đồng thời thể hiện trên từng phần củaSyllabeme là phần âm đầu và vần cái
- Tiếp thu quan điểm của các nhà Đông phơng học Xô Viết nhE.Polivanov, A.ADsagunov, M.V Gordina, phần đông các nhà ngữ học tiếngViệt đã xác lập hệ thống 4 thành tố cấu trúc âm tiết gồm âm đầu, âm đệm,
âm chính, âm cuối Quan điểm 4 thành tố, ảnh hởng rất lớn đối với các nhàngữ học Việt Nam và đã thể hiện khá tập trung ở các giáo trình nguyên âmtiếng Việt giảng dạy ở bậc Đại học nh Cù Đình Tú và các tác giả ( 1972 ),Nguyễn Hữu Quỳnh ( 1994 ), Hữu Đạt và các tác giả ( 1998 )
Xu hớng này, đã phá vỡ cách hình dung âm tiết theo Châu Âu và phản
ánh khá rõ nét bộ mặt của âm tiết tiếng Việt Trong sự miêu tả về cấu trúc
âm tiết tiếng Việt, xu hớng này đã phân chia âm tiết tiếng Việt thành 2 bậctheo sơ đồ sau:
Trang 273.2 Giải pháp khoá luận lựa chọn
Để khảo sát phân bố âm vị học trong khu vực từ láy tiếng Việt, khoáluận buộc phải lựa chọn một giải pháp phân tích âm vị học trong tiếng Việt
để làm việc Từ các xu hớng nghiên cứu trên, có thể khái quát lại: trong tiếngViệt hoặc là chấp nhận mỗi âm tiết là một đơn vị âm vị học ( âm tiết vừa là
đơn vị ngữ âm học vừa là đơn vị âm vị học ) hoặc là xác nhập một cấu trúckiểu âm tiết nh là đơn vị xuất phát nằm giữa ngữ âm học và âm vị học, từ âmtiết phân xuất thành các kiểu hệ âm vị: âm đầu, âm chính, âm cuối Chúngtôi chọn giải pháp thứ hai: lấy âm tiết làm đơn vị cơ sở để phân tích âm vịhọc Giải pháp này tỏ rõ sự chiết trung trong phơng pháp luận ( chức năngcủa âm tiết trong hệ thống âm vị học tiếng Việt không đợc giải quyết triệt
để ) song lại có nhiều lợi ích thực tiễn nh đánh vần, cách đặt các con chữ ghi
âm và các hoạt động ngôn từ khác ( Nói lái, chơi chữ, hiệp vần trong thơ )
Hơn nữa, chúng tôi quan niệm rằng cũng nh ở địa hạt cú pháp, ngời ta
có thể vừa chấp nhận đơn vị cú pháp ở giới hạn trên là câu và ở giới hạn d ờilàcác thành phần câu(ở địa hạt hình thái học, giới hạn trên là từ, giới hạn dới
là từ tố )
Vậy, trong âm vị học tiếng Việt, chúng ta có một tình trạng tơng tự với
sự phân bậc hai loại đơn vị ở giới hạn dới là các thành tố cấu tạo âm tiết và ởgiới hạn trên là chính các âm tiết
Nh một số nhà ngữ học đã chứng minh, có thể quan niệm hình tiết làmột dạng đơn vị của âm vị học Tuy nhiên, khác với định nghĩa của âm vịhọc cổ điển, đơn vị này mang tính 2 mặt ở phần đông, các bối cảnh xuất hiện
Trang 28trong các cấp độ cao hơn Một số lợng âm tiết thực khác tuy không có giá trị
2 mặt nhng đợc sử dụng ở cấp độ cao hơn với t cách là thành tố cấu tạo từ Sựkhông mang ý nghĩa của chúng mặc dù làm bất lợi cho giải pháp về cấu tạo
từ theo hớng lấy đơn vị là hình tiết nhng lại hoàn toàn có lợi cho minh chứng
về tính phù hợp của các yếu tố này đối với khung định nghĩa âm vị họctruyền thống – những đơn vị âm thanh một mặt, tiền tín hiệu
Còn đối với giới hạn dới, chúng ta sẽ có đợc những đơn vị âm vị họckiểu âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu Các đơn vị này khácvới đơn vị ở giới hạn trên, chúng là đơn vị một mặt ( mặt âm thanh ) nhngmột số trong đó có thể gợi ra các giá trị biểu trng mà thi pháp học Việt từngnhắc tới
Tóm lại, theo giải pháp này, từ âm tiết tiếng Việt, chúng tôi xáclập các đơn vị âm vị học dới âm tiết: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối vàthanh điệu xuất phát từ chúng mà soi chiếu vào từ láy tiếng Việt
Ngoài ra, khi khảo sát phân bố âm vị học trong từ láy tiếng Việtchúng tôi còn sử dụng các thao tác miêu tả của âm vị học hiện đại đợc trìnhbày trong chuyên đề “ Âm vị học mở rộng ” của tác giả Hoàng Cao Cơng
3.3.1- Âm đầu
Đảm nhận chức năng mở đầu các âm tiết Việt là các phụ âm nên gọi
là âm đầu, âm vần học Trung Hoa gọi là thanh mẫu Tiếng Việt có 23 âm
đầu, kết quả này dựa theo quan niệm thiết lập một chuẩn ngôn ngữ bao gồmtrọn bộ các âm đầu có trong phơng ngữ Bắc Bộ ( tiêu biểu là tiếng Hà Nội )
và có bổ sung những yếu tố tích cực của các phơng ngữ khác ( Chẳng hạn 3
âm quặt lỡi của phơng ngữ Trung|ţ|, |ş|, |z| Trong 23 âm đầu, âm vị |p| cótần số xuất hiện thấp Theo giáo s Phan Ngọc, âm |p| có trong tiếng Việt từthế kỷ X trở về trớc ( Bằng chứng là trong tiếng Mờng có |p| ) Song, đến thế
kỷ XII, âm vị |p| bị biến mất Nhng do áp lực của những đơn vị phiên âmcần đến |p| nên âm |p| tái xuất hiện Xác định âm |p| là âm đầ trongdanh sách là muốn bổ sung cho hoàn thiện một hệ thống âm vị chuẩn củatiếng Việt Đó là một âm vị tuy có tần số xuất hiện thấp nhất so với các âm vịkhác nhng do áp lực của hệ thống buộc nó phải nhập hệ
Trang 29Các thuộc tính để phân chia phụ âm theo truyền thống dựa vào phơngthức cấu âm và bộ vị cấu âm.
- ở phơng thức cấu âm: Các âm đầu đều có chung thuộc tính
[+ PÂT ] nên có thể nói phơng thức cấu âm của các phụ âm là sự thể hịênmức độ khác nhau của sự tiếp xúc giữa các cơ quan cấu âm Khi các cơ quancấu âm tiếp xúc chặt, chúng ta có phạm trù [ + tắc ], khi mức độ tiếp xúclỏng chúng ta có phạm trù [ - tắc ] Đó là phơng thức đặc trng nhất của phụ
âm Tuy nhiên, cũng cần lu ý thêm phơng thức [ ± cận kề ] Về bản chất,các âm có thuộc tính [ ± cận kề ] mang bản chất phụ âm (tơng tự xát ) nhnglại không có cấu tạo vật cản ( tơng tự một nguyên âm )
Nh vậy, nó nằm trung gian giữa nguyên âm và phụ âm lâu naygọi là bán nguyên âm ( | W|, | J | )
- ở bộ vị cấu âm ( bộ phận và vị trí ), sự phân loại nét ở nguyên
âm gợi ý cho ta khoang miệng cũng có thể chia thành 3 vị trí khác nhau phùhợp với sự dịch chuyển của lỡi, đó là trớc, giữa, sau Những phụ âm trớc sẽ t-
ơng ứng với các phụ âm [ răng và lợi ] ; các phụ âm giữa tơng ứng với cácphụ âm [ + ngạc cứng ]; các phụ âm sau tơng ứng với [ - ngạc cứng ] Trongphụ âm, cần thiết phải có bộ vị môi Vậy, chúng ta có 4 bộ vị quan trọng [±môi ], [± lợi ], [ ± ngạc cứng ], [± mũi ] Đối với các phụ âm nh |t’|, |h|, |l|không phải ngôn ngữ nào cũng có nên ta phải gán cho chúng những thuộctính riêng
Trang 30trúc siêu đoạn và nội dung âm vị học của nó là [± môi ] Chúng tôi chọn giảipháp 4 thành tố nhng phần đông vai trò ngữ âm học tiếng Việt nên âm đệm
sẽ đợc xem là yếu tố đoạn tính nằm sau âm đầu và trớc âm chính
3.2.3- Âm chính
Trong âm tiết tiếng Việt, nguyên âm là yếu tố âm tiết tính nên đợc gọi
là âm chính ( V ) Nguyên âm mang âm sắc chủ yếu của âm tiết Các âm tiếtViệt khu biệt nhau chủ yếu bởi thành phần này Hệ thống nguyên âm tiếngViệt bao gồm 3 nguyên âm đôi: |ie|, |w |, |uo| và 11 nguyên âm đơn trong đó
có 9 nguyên âm dài: |i|, |e|, | |, |w|, | |, |a|, |u|, | | , | | và 2 nguyên âm ngắn | |
và |ă|
3.2.4- Âm cuối
Trong khoá luận này, chúng tôi xác lập danh sách 11 âm cuối Đảmnhận âm cuối tiếng Việt có 8 phụ âm: |p|, |t|, |c|, |k|, |m|, |n|, | |, | η |, 2 bánnguyên âm |w| và |J| và âm cuối zêro Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết
Âm tiết tiếng Việt có nhiều cách kết thúc khác nhau tạo nên các kiểu âm tiếtkhác nhau đó là do thành phần này quy định
3.2.5- Thanh điệu ( T )
Xét về mặt chức năng, thanh điệu là đơn vị âm vị học có chức năngkhu biệt, nhận diện và phân giới hình thái học Các thanh điệu trong tiếngViệt gồm có 6 thanh: Thanh ngang ( 1 ), thanh huyền ( 2 ), thanh ngã ( 3 ),thanh hỏi ( 4 ), thanh sắc ( 5 ), thanh nặng ( 6 )
4- Tiểu kết
Từ quan niệm về từ láy cũng nh nguyên tắc chọn từ láy, đã đa đến kếtquả, chúng ta có một danh sách từ láy tiếng Việt để làm việc Những điều màchúng tôi đã trình bày ở Chơng 1 mới chỉ là cơ sở của vấn đề để có thể bàntới việc phân bố âm vị học và các nét âm vị học của từ láy tiếng Việt Chơngtiếp theo, chúng tôi tập trung khảo sát phân bố âm vị học trong từ láy tiếngViệt
Trang 32ơng 2 :
Phân bố âm vị trong từ láy đôi tiếng việt
1- Phân bố thanh điệu trong từ láy đôi tiếng Việt
1.1- Dẫn nhập
Theo truyền thống, âm vị bao giờ cũng diễn ra theo một trật tự trớc sautrên tuyến thời gian Đó chính là truyền thống của cái biểu đạt (ngôn ngữ)
mà F.duSaussuređã đề ra thành nguyên lý
Trong thực tế, các ngôn ngữ trên thế giới có những hiện tợng nh trọng
âm, thanh điệu, ngữ điệu Thanh điệu là yếu tố ngữ âm phủ lên đồng thời vớicác âm vị đoạn tính khác mà lại có chức năng khu biệt giống nh các âm vịbình thờng khác Các thanh điệu của tiếng Việt chẳng hạn có chức năng khubiệt từ không khác gì phụ âm, nguyên âm nhng khó lòng định vị đợc chúngtrong âm tiết Thanh điệu trải ra toàn âm tiết và diễn ra đồng thời với các âm
vị đoạn tính khác Ngời ta buộc lòng phải thừa nhận giá trị khu biệt củathanh điệu, coi đó là loại âm vị đặc biệt, âm vị siêu đoạn tính
1.1.1- Khái niệm thanh điệu
- Thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính, là sự nâng cao hay hạ thấpgiọng nói trong một âm tiết “Nó đợc biểu hiện trong toàn âm tiết hay đúnghơn là toàn bộ phân tính của âm tiết” (bao gồm cả âm đầu, âm điệu, âmchính và âm cuối) (Theo Đoàn Thiện Thuật - Ngữ âm tiếng Việt NXB
1.1.2- Chức năng của thanh điệu
Thanh điệu có chức năng nh 1 âm vị, nó tham gia vào việc cấu tạo các
âm tiết, cấu tạo từ, phân biệt ý nghĩa của các từ Nó là một yếu tố tạo nên nét
đặc trng của tiếng Việt - một ngôn ngữ có thanh điệu khác với các ngôn ngữkhông có thanh điệu
Trang 33Nhờ có thanh điệu mà câu văn, câu thơ, lời nói tiếng Việt có tính nhạc
điệu, truyền cảm
Căn cứ vào độ cao và âm điệu của thanh trong tiếng Việt mà chúng taxây dựng các quy tắc về các luật thơ khác nhau Ví dụ: chúng ta phân biệtvần bằng, vần trắc và cách lập vần trong các thể thơ lục bát, song thất lụcbát, thể thơ tứ tuyệt, thất ngôn tứ tuyệt Sáng tạo những sự kết hợp âm điệucủa các thanh để tạo nên những ngữ điệu đặc biệt diễn tả nội dung,t tởng,tình cảm muôn màu, muôn vẻ của đời sống và làm cho Tiếng Việt giàu và
- Căn cứ vào tài liệu ngữ âm học thực nghiệm, dựa vào sự phân tích các
đờng ghi của máy chụp tự động các tác giả N.ĐAnđrêep và M.VGorđina đãxây dựng đợc biểu đồ các thanh điệu tiếng Việt
Nhìn chung, căn cứ vào độ cao, 6 thanh điệu của tiếng Việt chia ra làm
2 nhóm :
+ Nhóm thành điệu cao gồm các thanh : 1,3,5 không, ngã, sắc
+ Nhóm thành điệu thấp gồm các thanh : 2,4,6 huyền, hỏi, nặng
Không ai nói đến thanh điệu lại không nói đến âm vực, sự khu biệt củathanh này với thanh khác trớc hết là sự khác nhau về âm vực Một trongnhững tiêu chí thoả đáng âm vị học của thanh điệu là âm vực
b- Âm điệu (đờng nét)
Âm điệu là sự biến thiên cao độ theo thời gian và đặc trng này dễdàng nhận thấy trong thanh điệu, đờng nét của sự biến thiên này có thể bằng
Trang 34phẳng hoặc không bằng phẳng Thế đối lập này còn đợc gọi là biến
điệu/không biến điệu
Căn cứ vào đờng nét âm điệu thì hầu hết các tác giả đều cho rằng thanhkhông dấu và thanh huyền là những thanh có đờng nét âm điệu bằng phẳng,hai thanh ngã và hỏi có đờng nét không đều, diễn biến phức tạp, hai thanhsắc và nặng có đờng nét không đều hớng diễn biến ngợc chiều nhau
Về đờng nét âm điệu thì còn nói đến đặc trng gãy và không gãy Thanhngã đợc xem là thanh gãy cao, thanh nặng đợc xem là thanh gãy thấp
Về đặc trng biến điệu lại có sự phân biệt giữa hớng đi lên và đi xuống.Thanh sắc là thanh đi lên, thanh nặng là thanh đi xuống
Khi đánh giá, phân loại thanh điệu, không ai không nhắc tới âm điệu ờng nét bằng phẳng, đi lên hay đi xuống thì mọi ngời đều thừa nhận Cácthanh không dấu, huyền, sắc, ngã đợc đánh giá khá nhất trí, tuy còn có sựtranh cãi ở một vài thanh điệu nhng rõ ràng có một điều không thể chối cãi
Đ-đợc là các thanh điệu khu biệt nhau không phải chỉ về cao độ mà còn về sựbiến thiên của nó tơng ứng với thời gian Âm điệu hiển nhiên đợc kể nh 1tiêu chí khu biệt âm vị học
Trên cơ sở quan niệm truyền thống chỉ có 3 sự đối lập: 1, cao - thấp; 2,gãy - không gãy; 3, đi lên - đi xuống là có giá trị âmvị học Thế đối lập đầuthuộc về âm vực, thế đối lập sau thuộc về âm điệu Với 3 thế đối lập này 6thanh điệu của tiếng Việt đủ khu biệt lẫn nhau
1.2- Phân bố thanh điệu trong từ láy đôi
1.2.1- Số liệu thống kê
Trang 35
Bảng phân bố thanh điệu ở AT1, AT2 trong từ láy đôi:
Nhìn vào bảng trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy sự tách biệt giữanhững thanh có tần số xuất hiện cao và những thanh có tần số xuất hiện thấpvẫn là đặc trng cơ bản của hệ thanh điệu tiếng Việt phân bố trong từ láy
Qua bảng đối ứng thanh điệu ta thấy có 2601 lần xuất hiện những từ láy
đôi đợc lặp lại thanh điệu ở cả AT1 và AT2 chiếm tỷ lệ 49,7% trong tổng số
từ láy Nh vậy, âm tiết tiếng Việt u tiên cho việc lặp lại thanh điệu ở cả hai
âm tiết hơn là các thanh điệu ở AT1 và AT2 khác nhau Trong khi chỉ có 6kết hợp 1-1, 2-2, 3-3 ,4-4, 5-5, 6-6 chiếm gần 1 nữa tổng số từláy , còn lại những 40 kết hợp chiếm 50,3% Trog số 6 thanh điệu tiếng Việtthì cả 6 thanh đều có hiện tợng lặp lại thanh điệu nhng mức độ xuất hiệnkhác nhau Tần số xuất hiện nhiều nhất ở thanh 5 với 684 lần chiếm 26,3%tổng số từ láy lặp lại thanh điệu Tiếp sau với một khoảng cách khá gần là
Trang 36thanh 2 với số tần số xuất hiện 625 lần chiếm 24% Đứng vị trí thứ 3 làthanh 1 với 419 lần xuất hiện chiếm 21,5%, tiếp theo là thanh 6 với 419lần xuất hiện chiếm 16,1%; đứng vị trí cuối là thanh 4 và 3 Trong đó,thanh 4 với 213 lần xuất hiện chiếm 8%, thanh 3 với 82 lần xuất hiệnchiếm 3,2% Nh vậy, sự lặp lại thanh điệu trong từ láy tiếng Việt thì thanh
5 có sự u tiên phân bố rộng nhất và thanh điệu có sự hạn chế trong phân
bố là thanh 3 Nếu ta so sánh sự xuất hiện các thanh ở hai âm tiết thì thấyrằng ở AT1 thanh 5, thanh 6, thanh 2 đợc xuất hiện nhiều nhất Thanh
5 với tần số xuất hiện 1359 lần chiếm 26%, thanh 6 với 1045 lần chiếm20%, tiếp theo là thanh 2 với 934 lần chiếm 17,8% Nh vậy, đây là nhữngthanh đợc yêu thích từ láy tiếng Việt Sự vợt trội của thanh 5 trong tơngquan với các thanh khác, có thể giải thích đây là thanh điệu phân bố rộng và
nó u thích với mọi loại âm tiết (mở, nửa mở, nửa khép và khép) Thanh 6
cũng nh thanh 5 có thể xuất hiện ở mọi loại âm tiết Hai thanh có tần sốxuất hiện thấp là thanh 4 và thanh 3 Hai thanh này trong từ đơn tiếngViệt cũng có tần số xuất hiện rất thấp Theo khoá luận tốt nghiệp Phan ThịThúy Hằng khảo sát trên 5434 từ đơn có 587 lần xuất hiện thanh 4 chiếm10,8%, thanh 3 tần số xuất hiện 336 lần chiếm 6,1% Thì ở từ láy nhữngthanh này có tỷ lệ thấp cũng là lẽ bình thờng ở AT1, thanh 4 xuất hiện
709 lần chiếm 13,6%, AT2 xuất hiện 381 lần chiếm 7,3% Thanh 3 ở AT1xuất hiện 338 lần chiếm gần 6,5%, AT2 tần số 226 lần chiếm 4,3% Nh ta đãbiết trong hệ thống thanh điệu tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh
có âm điệu không bằng phẳng (gãy) Vì thế, diễn biến cao độ của nó rấtphức tạp, đặc biệt là thanh ngã (có sự đổi hớng, lên xuống đột ngột) Do đó,
2 thanh này không đợc u thích (vì khó phát âm) nên đợc phân bố trong từláy tiếng Việt cũng nh trong vốn từ nói chung ở vị trí rất khiêm tốn
Trang 37ở AT2 vợt lên khỏi tần số xuất hiện của thanh 5 là thanh 1 với tần
số 1530 lần chiếm 29,2% Điều đó, cho thấy thanh 1là thanh thuộc loạikhông đánh dấu trong hệ thanh Việt, là thanh u thích dễ phát âm nên nó dễdàng xuất hiện trong từ láy tiếng Việt với tần số lớn Thanh 1trong từ đơntiếng Việt cũng xuất hiện với tần số lớp 1081 lần trên 5434 từ đơn chiếm19,8%.Nh vậy, sự phân bố thanh điệu của 1 trong từng láy phù hợp với từ
đơn và sự phát triển của vốn từ Đứng vị trí 2 là thanh 2 với tần số xuấthiện 1372 lần chiếm 22 % Nh vậy có thể hiểu rằng thanh 2 cũng là thanhphát âm khá dễ dàng Tiếp sau thanh 2 là vị trí của thanh 5 với 1054 lầnxuất hiện chiếm 20% So với tần số xuất hiện của thanh sắc trong từ đơn thìthanh sắc trong từ láy có tần số xuất hiện ít hơn nhng không đáng kể, chứng
tỏ thanh sắc vốn là thanh đợc yêu thích trong hệ thống thanh điệu tiếng Việt
Sự đối lập về phân bố thanh điệu là kiểu biểu hiện của một nguyên tắc
âm vị học sâu hơn mà chúng tôi sẽ trình bày dới đây :
Xét về nội bộ của những kết hợp thanh có trong từ láy đôi ở bảng trên cóthể thấy ngoài việc bản thân mỗi thanh có sự lặp với chính nó thì vẫn có xuhớng thích kết hợp với các thanh khác Chẳng hạn thanh 1 thích kết hợpvới thanh 5 và thanh 4 hơn các thanh còn lại Thanh 2 thích kết hợpthanh 6 và thanh 3 hơn các thanh còn lại Luật này đã có nhiều nhà Việtngữ học nhắc tới và đợc gọi là luật hài thanh trong từ láy
Tuy nhiên, luật này vẫn có hai nhợc điểm: thứ nhất là không bao quát
đ-ợc các kết hợp thanh có thực trong từ láy Thứ hai nó phải dùng đến lý dolịch đại để giải thích cho sự hợp nhất trong thanh 4 vào nhóm các thanh
1 và 5 và hợp nhất thanh 3 vào nhóm các thanh 2 và 6 Bởi vì thực
tế hiện nay trong khi thanh 1 và 5 là những thanh cao thì thanh 4 lại làthanh thấp, còn thanh 2 và 6 là những thanh thấp trong khi đó, thanh
3 là thanh cao Nh vậy, không thể gọi sự hài thanh là nét cao độ nh phần
đông các nhà Việt ngữ học quan niệm Để khắc phục nhợc điểm này trong