Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinhtế thị trường định hướng XHCN, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, để tạođộng lực vững chắc cho quá trình nà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-TRẦN VĂN TÁM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
(QUA KHẢO SÁT Ở XÃ BÌNH THẠNH, HUYỆN CAO LÃNH,
TỈNH ĐỒNG THÁP)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-TRẦN VĂN TÁM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
(QUA KHẢO SÁT Ở XÃ BÌNH THẠNH, HUYỆN CAO LÃNH,
Trang 3ĐH Vinh, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Khoa học và Sau Đại học trường ĐHĐồng Tháp đã luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong họctập, nghiên cứu và thực hiện luận văn;
Xin trân trọng bày tỏ biết ơn sâu sắc Tiến sĩ Đinh Trung Thành, người thầy
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bài luận văn này
Xin cảm ơn Ban thường vụ huyện ủy huyện Cao Lãnh, Đảng ủy, Ủy BanNhân Dân xã Bình Thạnh, Huyện Cao Lãnh đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất
để tôi tham gia và hoàn thành khóa học
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Công nghiệp hóa : CNH
Hội đồng nhân dân : HĐND
Mặt trận Tổ quốc : MTTQ
Quy chế dân chủ cơ sở : QCDCCS
Trung học phổ thông : THPT
Ủy ban nhân dân : UBND
Xã hội chủ nghĩa : XHCN
Trang 5Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
12
1.1 Dân chủ, Quy chế dân chủ ở cơ sở, nông thôn mới và mô
hình nông thôn mới
12
1.2 Các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất
lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
30
1.3 Nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở là
yêu cầu cấp thiết trong xây dựng nông thôn mới
43
Chương 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở XÃ BÌNH THẠNH,
HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI
2.4 Hiệu quả của thực hiện Quy chế dân chủ trong xây dựng
nông thôn mới ở xã Bình Thạnh huyện Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp
77
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢTHỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ BÌNH THẠNH, HUYỆN
CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
94
Trang 63.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân
chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bình Thạnh, huyện
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
94
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân
chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở xã Bình Thạnh, huyện
Trang 7Trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, để tạođộng lực vững chắc cho quá trình này, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X)thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân vànông thôn; quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng chính phủ
về Ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới (NTM) nhằm phát huy tối đanăng lực tiềm tàng của đất nước trong nhân dân về nhân lực, vật lực và tài lực.Nhưng để Nghị quyết này đi vào cuộc sống và thực hiện thắng lợi thì cần phải dựavào sức mạnh vật chất từ quần chúng nhân dân, phải phát huy năng lực làm chủ đấtnước của nhân dân hay nói khác hơn chính là thực hiện tốt Chỉ thị số 30-CT/TWngày 18-12-1998 của Bộ Chính trị (khoá VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở (QCDCCS) Chỉ thị này có thể thực hiện tốt khi mỗi đảng viên, từ đảng viên là cán
bộ lãnh đạo đến đảng viên ở cơ sở đều phải tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của dân,chăm lo đời sống hằng ngày của dân, gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, phục vụ giúp đỡdân khi gặp khó khăn,… có như vậy QCDCCS mới được thực hiện triệt để
Trong những năm qua, nhất là trong hơn hai năm thực hiện xây dựng NTM,
ở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, quy chế dân chủ cơ sở (QCDCCS) đã đượcphát huy ra tạo động lực, kích thích tinh thần tự do sáng tạo của người dân làm
Trang 8giàu cho bản thân gia đình và quê hương, đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền.Thực tiễn cho thấy, việc mở rộng dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Cao Lãnh,Đồng Tháp đã đạt được những kết quả rất tích cực, thực sự góp phần tạo động lựcthúc đẩy và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản
lý nhà nước, tham gia giám sát các hoạt động của Nhà nước Việc phát huy dânchủ ở nông thôn góp phần khắc phục một phần tệ quan liêu, tham nhũng, mất dânchủ, xa rời quần chúng nhân dân của một bộ phận cán bộ, công chức ở cơ sở; đónggóp tích cực vào việc cải cách hành chính; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữaĐảng với nhân dân; đóng góp tích cực vào thành tựu chung của cả nước Ngườidân ở cơ sở rất thực tế, họ biết, họ bàn, họ làm, họ kiểm tra, nhưng họ còn phảibiết thêm là họ có được hưởng lợi gì trong việc mà ta vừa bảo họ phải nghe, phảilàm-làm chủ ấy Nói với bà con chung tay, chung sức cùng làm và thành quả đemlại là cho chính bà con mình hưởng, khi thông điều này thì bà con làm tất cả những gì
mà họ thấy đem lại cái lợi cho họ, họ mới thấy sự làm chủ thực sự của họ-họ là chủ
Khi thực hiện QCDC, phải công khai minh bạch, nhưng cái gì công khai, cái
gì không được công khai, cái gì cần minh bạch, cái gì thì không, người dân vẫnchưa biết hết Đã không biết hết thì làm sao bàn, đã không cùng tham gia bàn bạcthì khó có thể đi đến nhất trí và như vậy thì chắc chắn không muốn làm Nói điềunày để chúng ta tự ngẫm lại vì sao nhiều chủ trương, biện pháp đưa xuống cơ sởngười dân chưa thật sự coi đó là việc của chính mình, mình cần tự giác tham gia.Đơn cử, một chủ trương rất lớn, tác động tới tất cả mọi mặt đời sống của bà con nôngdân đã được phát động thực hiện chủ trương xây dựng NTM
Nhiều diễn đàn và trên nhiều văn bản của các cấp ủy, chính quyền chúng ta
đã quán triệt Còn người dân ở cơ sở thì sao? Liệu họ đã thật sự coi chủ trương xâydựng NTM là của chính người dân-người nông dân làm hay chưa? Và việc “xây”
ấy họ sẽ được lợi gì? Trong thực tế có điều lạ là, cấp trên nói sao thì cấp dưới
“trung thành” về nói với dân y như thế Trình độ của một bộ phận bà con ở cơ sở
Trang 9còn hạn chế, nhận thức không đồng đều, do vậy cán bộ cơ sở phải “lựa lời mà nóicho…” bà con hiểu Ngoài ra cũng còn có nhiều nơi rơi vào tệ “tam sao thất bản”;khi lên huyện, lên tỉnh họp hành, tiếp thu, nghiên cứu không đến nơi đến chốn,không hiểu hết vấn đề về địa phương cần chỉ đạo, lãnh đạo, tổ chức thực hiện là gìnên khi nói với dân thì qua loa đại khái, thậm chí nhiều chủ trương đến với dântheo kiểu “đầu voi đuôi chuột”, đôi khi tạo sự nhầm lẫn sinh ra thắc mắc, gây mấtlòng tin của người dân đối với những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng
và Nhà nước
Tiếp tục với việc triển khai thực hiện ngày càng sâu hơn, mạnh mẽ hơnQCDCCS, một trong những ván đề hết sức quan trọng là phải nghiêm túc đánh giálại những kết quả đã làm được và những tồn tại, yếu kém, những nguyên nhân gốc
rễ, sâu xa của vấn đề (nhất là công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng độingũ cán bộ ở cơ sở) để khắc phục sửa chữa và làm tốt hơn trong tương lai, nhất làtrong việc triển khai xây dựng NTM-lấy đó một lần nữa làm thước đo cho sự đúngđắn của những nội dung mà QCDC ở cơ sở quy định Trong việc thực hiện QCDC
ở cơ sở, nhất thiết người dân phải là người chủ
Từ thực tế thực hiện QCDCCS cho thấy, để việc thực hành dân chủ ngàycàng mở rộng hơn nữa trong đời sống xã hội, các cấp ủy đảng, chính quyền tiếp tụcchỉ đạo mở rộng dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện thuận lợi để cho các tầng lớp nhândân tham gia rộng rãi vào việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý quy hoạch,đồng thời xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, công chức lợi dụng chức quyền
để tham nhũng, tiêu cực gây sách nhiễu, phiền hà nhân dân Xây dựng chươngtrình kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất về thực hiện QCDCCS, chọn những vấn
đề bức xúc của nhân dân để kiểm tra, đặc biệt là cấp cơ sở xã Thực hiện tốt tất cảcác khâu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân quyết định mà QCDC đã
đề ra Nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở nông thôn cần đi thẳng vào những vấn
đề cụ thể như phương hướng phát triển kinh tế - xã hội địa phương, giải quyết việc
Trang 10làm, xoá đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện phươngchâm Nhà nước và nhân dân cùng làm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xử lý, đánh giá,
sử dụng, đề bạt, cất nhắc cán bộ cần công khai, minh bạch, công bằng và dân chủ,đổi mới phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân theo hướng thiết thực,hiệu quả vì lợi ích thiết thân của đoàn viên, hội viên và của cộng đồng
Trong giai đoạn tới, nâng cao hiệu quả thực hiện QCDC ở cơ sở trong xây
dựng NTM trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp là một nhu cầu cấp thiết,
nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá Từ những vấn đề lý luận
và thực tiễn cấp bách đó, chúng tôi chọn vấn đề: “Nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” (Qua khảo sát ở xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh,
tỉnh Đồng Tháp) làm đề tài luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, chuyên ngành Lýluận và phương pháp giảng dạy bộ môn Giáo dục Chính trị
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề dân chủ, QCDC ở cơ sở và ý thức, trách nhiệm thực hiện QCDCCScũng như nguyên nhân, hậu quả của việc vi phạm QCDC ở cơ sở và các giải phápcần khắc phục là một trong những chủ đề thu hút sự chú ý và quan tâm của các nhàlãnh đạo, quản lý, của giới lý luận, các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước từnhiều năm nay Đã có nhiều văn bản, Chỉ thị về vấn đề dân chủ, QCDC ở cơ sở và
ý thức, trách nhiệm thực hiện QCDCCS được triển khai
Ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị ra “Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực
hiện QCDC ở cơ sở”, chỉ thị đã khẳng định: “Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắnglợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới” Thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW và cácquy định, hướng dẫn của Trung ương, trong những năm qua, các địa phương trong
cả nước đã tích cực đưa QCDC ở cơ sở vào cuộc sống, góp phần tạo nên nhữngbước chuyển biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực
Trang 11Ngày 4-3-2010, thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Trương
Tấn Sang đã ký ban hành Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực
hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện
QCDCCS
Do tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn của thực hiện quy chế cơ sở, đã
có nhiều công trình nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí của Trung ương và địaphương, đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, quán triệt, học tập và thực hiện Nghị quyếtĐại hội XI của Đảng, tháng 5/2011, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất
bản cuốn sách "Về quá trình dân chủ hóa XHCN ở Việt Nam hiện nay" Sách do
PGS, TS Lê Minh Quân, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốcgia Hồ Chí Minh biên soạn Ngoài lời mở đầu và kết luận, cuốn sách gồm 9chương Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm và khái niệm lý thuyết và mô hình dânchủ hóa, những yếu tố tác động và quá trình dân chủ hóa trên thế giới, cuốn sáchphân tích nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình dân chủ hóa XHCN ởnước ta hiện nay Tác giả đã phân tích làm rõ dân chủ luôn là ước vọng của conngười trong mọi thời đại Nó cần như cơm ăn, áo mặc, nước uống hằng ngày Dânchủ là thước đo chất lượng cuộc sống văn minh xã hội và năng lực quản lý của mộtnhà nước Dân chủ không phải tự nhiên mà có Nhận thức về vấn đề dân chủ đãkhó khăn và phức tạp, nhưng nhận thức về dân chủ hóa hay quá trình hiện thực hóanhững mơ ước, những giá trị dân chủ trong đời sống còn khó khăn và phức tạphơn Những vấn đề về mục tiêu, động lực, nội dung, hình thức và phương pháp;nguyên nhân, kinh nghiệm, nguyên tắc, phương châm và bước đi của dân chủ hóaluôn là những vấn đề khó khăn và mới mẻ đòi hỏi phải giải quyết
Tác giả Hồ Sĩ Vịnh với bài viết: “Dân chủ - một giá trị văn hoá”, Tạp chí
Tuyên giáo, Thứ Sáu 25/11/2011 khẳng định, ở nước ta không có chuyện nhânquyền, dân chủ cao hơn chủ quyền quốc gia như một số kẻ xấu thường rao giảng
Trang 12Truyền thống cộng đồng nhà, làng, nước là một cấu trúc bền vững có quan hệ hữu
cơ với nhau Nước mất thì nhà tan, dân khổ; nước thịnh thì nhà yên, dân cường.Truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông cho chúng ta bài học về quyềndân chủ, quyền con người Nước trở thành vong quốc nô thì dân bị trị, nghèo đói,thất học, tên nước bị biến mất trên bản đồ thế giới, nói gì đến quyền sống của conngười!
GS, TS Phạm Ngọc Quang có bài viết: “Dân chủ XHCN là mục tiêu và
động lực của công cuộc đổi mới đất nước”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 4
năm 2010 Bài viết nêu rõ, dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) là bản chất của chế
độ ta; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, thể hiện mốiquan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Quan điểm đó là sự kế thừa, bổsung, phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ ChíMinh về dân chủ XHCN và là kết quả phù hợp với lôgíc phát triển tư duy lý luậncủa Đảng ta về dân chủ trong quá trình đổi mới đất nước
Đồng chí Hồ Quang Lợi - UVTV, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà
Nội có bài viết: “Dân chủ và pháp quyền XHCN”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số ra
ngày 19 tháng năm 2011 Tác giả đã lập luận một cách khoa học rằng, dân chủ làbản chất của chế độ XHCN ở nước ta Điều gì đã giúp cho Nhà nước ta vượt quatất cả những thử thách cam go, tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” trongcác cuộc chiến tranh cứu nước trước đây cũng như ở thời điểm “chuyển dời dâubể” sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam phải tự đứngvững và tìm lấy con đường đi tới chủ nghĩa xã hội (CNXH) của mình? Một trongnhững nhân tố quan trọng nhất là sự gắn bó máu thịt của toàn dân ta với Nhà nướccủa mình Đó là Nhà nước do chính dân ta gây dựng nên và Nhà nước đó lại phục
vụ chính dân ta
GS TS Hoàng Chí Bảo có bài viết: “Dân chủ XHCN – Bản chất của chế độ,
mục tiêu và động lực phát triển đất nước” đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 29
Trang 13tháng 2 năm 2010 Bài viết khẳng định, qua thực tiễn đổi mới, tư duy lý luận củaĐảng cũng đã vươn tới những quan điểm mới, mở ra một khả năng và triển vọngtốt đẹp để xây dựng xã hội ta thành một xã hội dân chủ, trong đó nhân dân là ngườichủ chân chính của Nhà nước và xã hội, là chủ thể quyền lực Vấn đề đặt ra là cầnphải thực hành dân chủ rộng rãi và nghiêm túc, trước hết là dân chủ trong Đảng.
Sự phát triển lành mạnh dân chủ trong Đảng chẳng những làm tăng sức mạnh củaĐảng, mà còn nêu gương, thúc đẩy dân chủ trong xã hội
Tác giả Nguyễn Thanh Minh với bài viết: “Tìm hiểu việc thực hiện
QCDCCS tại TP Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Pháp luật số 6/2002, trường
Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đánh giá, không ít người dân tại TP.HCM mới chỉbiết khẩu hiệu mang nội dung dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”;còn nội hàm của từng khái niệm thì họ chưa hiểu tường tận Vì vậy, phải tiếp tụctuyên truyền, phổ biến nội dung QCDCCS, làm cho nhân dân ý thức được việcthực hiện Quy chế là vì mình, vì một xã hội tốt đẹp; hạn chế tới mức tối đa việchiểu và vận dụng sai tinh thần Quy chế, huy động quá khả năng đóng góp về vậtchất và tinh thần của nhân dân
Tác giả Nguyễn Văn Quang, Khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học
Sư phạm Huế có bài viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị”,
Tạp chí Xây dựng Đảng số ra ngày 01 tháng 3 năm 2011, tác giả bài viết nhấnmạnh, trong suốt quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn chỉ đạo cách mạng ViệtNam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập và hiện thực hóa hệ thống quan điểm vềdân chủ trong tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực Tư tưởng củaNgười về dân chủ trong chính trị đã trở thành một bộ phận văn hóa của dân tộcViệt Nam
Đồng chí Huỳnh Đảm, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt
Nam trên Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 9/7/2008 với bài viết: “Nhìn lại 10 năm
thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn” đã làm rõ thực trạng 10 năm thực hiện
Trang 14QCDC ở xã, phường, thị trấn, quyền làm chủ của nhân dân ở các địa phương trong
cả nước được phát huy mạnh mẽ
Đồng chí Lê Vĩnh Tân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đồng
Tháp có bài viết trên Tạp chí Cộng sản điện tử với tiêu đề: “Những giải pháp chủ
yếu thúc đẩy phát triển mô hình NTM trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp”, đã khẳng
định rằng: Xây dựng NTM là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước với mục tiêucốt lõi làm đổi mới diện mạo nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần củangười dân ở nông thôn Tác giả Nguyễn Bích Thủy (TTXVN/Vietnam+) với bài
viết Bước tiến trong thực hiện QCDC ở cơ sở, bài viết đã đề cập tới giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng thực hiện QCDC ở cơ sở trong năm 2011;trong đó, nhấn mạnh cần có những đánh giá về tình hình dân chủ ở cơ sở; có chếtài xử lý người đứng đầu cơ quan, đơn vị xem nhẹ việc thực hiện QCDC ở cơ sở
Tác giả Nguyễn Doãn Khánh trên Tạp chi Xây dựng Đảng, số ra ngày 11
tháng 4 năm 2011 với bài viết: “Phát huy dân chủ để xây dựng đội ngũ cán bộ của
dân, do dân, vì dân trên cơ sở thực tiễn ở Phú Thọ” đã nêu rõ: Nhận thức sâu sắc
vấn đề phát huy dân chủ, trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ quan tâmđẩy mạnh việc thực hiện QCDC ở cơ sở gắn với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, coiđây là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của công tác xây dựng đảng, là giải pháphàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đấtnước, là việc làm thiết thực, cụ thể hoá phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm,dân giám sát”
Ngày 16/9/2010 Bộ NN&PTNT phối hợp với Quỹ Quốc tế phát triển nông
nghiệp tổ chức hội thảo về “Xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 và tầm nhìn
đến năm 2030” Tại hội thảo, các chuyên gia trong và ngoài nước về lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn đều có cùng quan điểm, nông thôn Việt Nam do có những đặcthù riêng vì vậy xây dựng NTM phát triển bền vững và mang đậm bản sắc văn hóa
là cần thiết và phải tập trung chủ yếu vào 5 nội dung cơ bản: Đào tạo, nâng cao
Trang 15chất lượng nguồn nhân lực nông thôn; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nôngthôn; Hỗ trợ phát triển sản xuất và xây dựng các hình thức sản xuất có hiệu quảtrong nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh ở nông thôn vàBảo vệ, phát triển nâng cao chất lượng môi trường nông thôn Chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng NTM đoạn 2010 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” nêu rõvai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở trong phổ biến chủ trương chính sách của Đảng vàNhà nước, ý thức trách nhiệm thực hiện QCDC ở cơ sở là là nhân tố quan trọng đểthực hiện thắng lợi chương trình này.
Dưới góc độ một luân văn Thạc sỹ, đề tài “Nâng cao ý thức, trách nhiệm
thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo cho cán bộ cơ sở huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay”, trường Đại học Vinh, 2010, tác giả Phan
Thanh Hải cũng đề cập vấn đề thực hiện QCDC ở cơ sở trong quá trình triển khaichương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo
Như vậy trên phương diện lý luận và thực tiễn, công trình khoa học của cáctác giả nêu trên đã phân tích khá thấu đáo vấn đề dân chủ, vai trò của thực hiện dânchủ trong đời sống xã hội Những công trình khoa học đó đã cung cấp cơ sởphương pháp luận hết sức quan trọng trong việc tiếp cận vấn đề dân chủ, dân chủ
và QCDCCS Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách toàn
diện vấn đề “Nâng cao hiệu quả thực hiện QCDC ở cơ sở trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” (Qua khảo sát ở xã Bình Thạnh,
huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) Công trình nghiên cứu của tác giả không trùnglắp với các công trình khoa học đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, luận văn đề xuất một số giải pháp nângcao hiệu quả thực hiện QCDC ở cơ sở trong quá trình xây dựng NTM ở huyện CaoLãnh, tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay
Trang 163.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ những vấn đề lý luận về dân chủ, QCDCCS và các quan điểm, chủtrương của Đảng, Nhà nước ta về thực hiện QCDC ở cơ sở trong quá trình xây dựngNTM hiện nay
- Làm rõ tình hình thực hiện QCDCCS trong xây dựng NTM trên địa bàn xãBình Thạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong những năm qua
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt QCDCCS ở xã BìnhThạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong xây dựng NTM thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về vấn đềdân chủ và thực hiên QCDC ở cơ sở trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của đề tài Luận văn, trong quá trình thựchiên luận văn tác giả sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận như: phân tích tổng hợp, hệ thống hoá;Nhóm phương pháp nghiên cứu thực nghiệm như: phương pháp quan sát, phân tíchkinh nghiệm, điều tra phỏng vấn
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện QCDCCS trong những năm gầnđây để làm cơ sở trong xây dựng NTM ở xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnhĐồng Tháp trong giai đoạn 2010-2015
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài với những giải pháp đề xuất sẽ là cơ sở lý luận
và thực tiễn trong việc thực hiện QCDCCS thời kỳ triển khai chủ trương xây dựng
Trang 17NTM của huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp nói riêng, đồng bằng sông Cửu Long và cảnước nói chung.
7 Giả thuyết khoa học
Thực hiện được các giải pháp như đề xuất của Luận văn sẽ nâng cao hiệuquả thực hiện QCDCCS trên địa bàn huyện Cao Lãnh trong xây dựng NTM
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, nộidung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nâng cao hiệu quả thực hiện QCDC ở cơ
sở trong xây dựng NTM
Chương 2: Thực trạng quá trình triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa
bàn xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong xây dựng NTM
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Quy
QCDC ở cơ sở trên địa bàn xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháptrong xây dựng NTM
Trang 18B NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Dân chủ, Quy chế dân chủ ở cơ sở, nông thôn mới và mô hình nông thôn mới
1.1.1 Khái niệm dân chủ và dân chủ ở cơ sở
1.1.1.1 Khái niệm dân chủ
Dân chủ là một vấn đề vô cùng quan trọng và bức thiết từ xưa đến nay, đó lànội dung vừa mang tính chính trị, vừa mang tính nhân văn của con người Thuật
ngữ này xuất hiện đầu tiên tại Hy Lạp với cụm từ dimokratia là “quyền lực của nhân dân” được ghép từ chữ demos là “nhân dân” và kratos là “quyền lực” Vào
thế kỉ thứ IV trước công nguyên, tại Thành bang Aten (Hy Lạp) đã xuất hiện thểchế chính trị tiến bộ, mang dáng dấp nền dân chủ sơ khai: Mọi công dân (nam) từ
18 tuổi đều được tham gia vào cơ quan quản lý nhà nước theo hình thức rút thăm
Từ đó đến nay, khái niệm “dân chủ” ngày càng trở thành một ý tưởng chủ đạo choniềm mơ ước của con người, vì đó là cơ sở để con người được thể hiện "nhânquyền" và "dân quyền", hướng tới một xã hội "như trong mơ"- xã hội không cóngười bóc lột người Trải qua các thời kì lịch sử, do bối cảnh cụ thể mà khái niệm
“dân chủ” có những hình thức và tên gọi khác nhau như: Dân chủ chủ nô; Dân chủquân sự; Dân chủ lập hiến; Dân chủ tư sản; Dân chủ nhân dân; Dân chủ XHCN
Dù có các trạng thái khác nhau, song khái niệm "dân chủ" được dùng để chỉ tínhchất chế độ xã hội mà trong đó người dân được thể hiện quyền làm chủ của mình
Trang 19Trong học các thuyết chính trị, dân chủ dùng để mô tả cho một số ít hìnhthức nhà nước và cũng là một loại triết học chính trị Mặc dù chưa có một địnhnghĩa thống nhất về dân chủ, nhưng có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩadân chủ nào cũng đưa vào:
Thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp
cận đến quyền lực một cách bình đẳng;
Thứ hai là tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do
được công nhận rộng rãi
Với C.Mác và Ph.Ăngghen thì cách mạng XHCN lấy việc giải phóng conngười khỏi mọi sự tha hoá, bất công, giành trở lại cho con người cái bản chất vốn
có của nó - lao động và hoà bình - làm mục tiêu cơ bản của mình Muốn vậy, tronggiai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng đó, giai cấp vô sản phải trở thành giai cấpthống trị, phải "giành lấy dân chủ" Chỉ bằng việc thiết lập Nhà nước XHCN, sửdụng Nhà nước ấy như là một công cụ đắc lực để phát triển toàn diện xã hội mới,trong đó, phát triển triệt để nền dân chủ XHCN là trọng tâm, giai cấp vô sản mớihoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình: nhân dân trở thành người chủ đíchthực của xã hội, là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực Tư tưởng nàynói lên bản chất dân chủ của xã hội mới mà giai cấp công nhân và nhân dân laođộng đang hướng tới
Phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về dân chủ, V.I.Lênin
đã khẳng định sự cần thiết phải kết hợp giữa cuộc đấu tranh cho dân chủ với thắnglợi của CNXH Đấu tranh cho dân chủ, theo ông, cũng không thể dừng lại ở dânchủ tư sản Sau khi thiết lập chính quyền, việc phát triển triệt để nền dân chủXHCN là tiền đề để thực hiện thắng lợi hoàn toàn và triệt để mục tiêu của CNXH.Bởi vậy, khi làm rõ nội dung quan điểm về sự thống nhất hữu cơ giữa dân chủ vàCNXH, V.I.Lênin chỉ ra rằng, mối quan hệ đó phải được hiểu trên hai phương
Trang 20Một là, giai cấp vô sản không thể hoàn thành cuộc cách mạng XHCN, nếu
họ không được chuẩn bị để tiến tới cuộc cách mạng đó thông qua cuộc đấu tranhcho chế độ dân chủ
Hai là, CNXH sẽ không duy trì được thắng lợi, nếu không thực hiện đầy đủ
chế độ dân chủ
Như vậy, dân chủ không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực của quá trìnhxây dựng CNXH, Bởi lẽ, nhờ có dân chủ, mọi tiềm năng sáng tạo của con người sẽđược phát huy, sức mạnh vật chất và tinh thần được giải phóng nhằm phục vụ chonhu cầu phát triển cá nhân lành mạnh cũng như thúc đẩy xã hội phát triển
Trong khi mở rộng dân chủ tới mức tối đa đối với mọi tầng lớp nhân dân,dân chủ XHCN kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại nhữngchuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chân chính của nhân dân Dovậy, trong nền dân chủ XHCN, dân chủ và chuyên chính không thể tách rời nhau.Theo V.I.Lênin, chuyên chính nhất thiết có nghĩa là thủ tiêu dân chủ đối với giaicấp bị chuyên chính
Kế thừa và phát triển những tư tưởng nêu trên của chủ nghĩa Mác-Lênin,trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dân chủ không tách rời quan niệm “Dân làgốc”, “Dân là chủ”, “Dân làm chủ”, "Nước ta là nước dân chủ" Ngay từ khi tiếpthu chủ nghĩa Mác-Lênin, rồi truyền bá vào Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã khẳngđịnh: các cuộc cách mạng xã hội theo khuynh hướng tư sản như của Anh, Mỹ,Pháp đều chưa triệt để, vì nhân dân lao động chưa thực sự được giải phóng; áp bứcbất công vẫn tồn tại, quyền lợi vẫn tập trung vào tay giai cấp tư sản Chính vì thế,Người đã lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng màgiai cấp vô sản Nga đã tiến hành Hiện nay, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta
Trang 21đang lãnh đạo nhân dân hướng tới xây dựng chế độ xã hội XHCN, với mục tiêu
"Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Nền dân chủ XHCN màchúng ta đang hướng tới là nền dân chủ toàn diện, triệt để theo đúng nghĩa màLênin nhận định: đó là nền dân chủ gấp triệu lần so với dân chủ tư sản Dưới ánhsáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với những trảinghiệm lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta ngày càngnhận thức sâu sắc hơn về “dân chủ” Theo cách hiểu hiện nay về dân chủ XHCNthì quyền làm chủ của nhân dân phải tuân theo một số nguyên tắc như:
- Người dân được xác định quyền con người, quyền công dân (tự do, bìnhđẳng), có bổn phận và quyền lợi được luật pháp qui định, bảo vệ
- Hệ thống chính trị của đất nước được thiết lập, duy trì vì lợi ích tốithượng: chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; đảm bảo hòa bình, hạnhphúc cho nhân dân
.- Tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thuộcquyền sở hữu của nhân dân; được bảo vệ và khai thác để phát triển đất nước, phục
vụ đời sống của nhân dân
Nhân dân làm chủ thông qua những hoạt động chính trị kinh tế văn hóa
-xã hội được pháp luật cho phép, phù hợp với tính chất chế độ chính trị - -xã hội màquốc gia hướng tới, phù hợp với thuần phong mĩ tục của dân tộc, địa phương
Các nguyên tắc nêu trên được vận dụng để xây dựng luật pháp, tổ chức bộmáy nhà nước, thúc đẩy quá trình cách mạng về tư tưởng, cải cách về thể chế chínhtrị và nền hành chính, làm cho các hoạt động xã hội ngày càng mang tính dân chủ -gọi là “dân chủ hóa” Để thực hiện quyền làm chủ, nhân dân không những phải cóquyền, mà điều quan trọng là nhân dân cần phải có năng lực làm chủ Theo Người,
để làm chủ phải có 3 điều kiện: Trình độ hiểu biết về dân chủ; phương pháp thựchành dân chủ và bản lĩnh thực hành dân chủ
Trang 22Những yêu cầu dân chủ của nhân dân được thể chế hoá thành các chuẩn mựcmang tính nhà nước và pháp quyền, thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhànước cũng như các thiết chế chính trị khác, tạo thành chế độ dân chủ.
Vấn đề dân chủ và phát huy dân chủ được Đảng ta nhận thức và thực hiện ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn
Trước đổi mới, Đảng ta đã dày công nghiên cứu lý luận và đến Đại hội IVxác lập quan điểm về chế độ làm chủ tập thể XHCN Song sự biến đổi của thựctiễn đã và đặt ra nhiều vấn đề mới cần bổ sung, phát triển Văn kiện Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta xác định: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế
độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”
Đảng ta đã tiếp thu, phát triển những giá trị tư tưởng về dân chủ của nhânloại, đặc biệt là quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân chủ và dân chủ XHCN Dân chủ XHCN là một hình thứcchính trị - nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhândân là chủ thể của quyền lực Quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hóa thànhquy định, nguyên tắc tổ chức, vận hành của nhà nước và thể chế chính trị tạo nênchế độ dân chủ
Qua hơn 25 năm đổi mới, Đảng ta đã có những phát triển mới, quan trọngtrong nhận thức về dân chủ Quan niệm về dân chủ được mở rộng Dân chủ đượcxem xét nhiều khía cạnh: Dân chủ là chế độ chính trị; dân chủ là giá trị; dân chủ làphương thức và nguyên tắc tổ chức xã hội; dân chủ chung đối với xã hội và dânchủ với mỗi cá nhân; dân chủ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội Dân chủ phản ánh một bước chuyển từ thể chế chính trị dựa trên áp lực, tuânthủ mệnh lệnh sang thể chế hợp tác, đồng thuận đầy trách nhiệm Với việc đưa
“dân chủ” - một mục tiêu của XHCN, Đảng ta đã quán triệt sâu sắc và hoàn thiệnhơn hệ mục tiêu XHCN: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”theo tư tưởng Hồ Chí Minh Đặc biệt dân chủ không chỉ là mục tiêu, mà còn là động
Trang 23lực phát triển nhanh và bền vững của đất nước, vì nó phát huy tính tích cực, chủ động,
tự giác, giải phóng năng lực sáng tạo của con người
Dân chủ XHCN phải tiếp thu và phát triển các giá trị nhân loại về dân chủ,trong đó có dân chủ tư sản Đây là một vấn đề rất quan trọng, vì con đường pháttriển của nước ta là quá độ lên XHCN, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cũng tức bỏqua chế độ dân chủ tư sản Song, cần phải khẳng định sự khác nhau về bản chấtgiữa dân chủ XHCN và dân chủ tư sản, đó là sự khác nhau căn bản giữa dân chủcho đa số nhân dân lao động và dân chủ cho thiểu số bóc lột
Dân chủ là một quá trình phát triển lâu dài , là kết quả của giáo dục ý thứcdân chủ và nâng cao năng lực thực hành dân chủ, phụ thuộc quá trình phát triểncủa cả kinh tế, xã hội, con người và cả sự phát triển văn hóa dân chủ Đây là mộtquá trình không nóng vội, không được thoát ly thực tiễn chính trị nước ta Phải dânchủ trong tất cả các cấp độ: Từ cơ quan lãnh đạo cao nhất đến cấp cơ sở Đặc biệtquan trọng là dân chủ ở cơ sở, bởi vì nơi có hệ thống chính trị cơ sở được coi làĐảng và Nhà nước “ở trong lòng dân” Phải tìm tòi tổng kết thực tiễn để tìm ra vàngày càng hoàn thiện các hình thức thực hiện dân chủ, cả dân chủ đại diện và dânchủ trực tiếp Kiên quyết chống các biểu hiện lệch lạc như dân chủ hình thức, dânchủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối, làm tổn hại lợi ích công dân và Nhànước Kiên quyết bác bỏ các luận điệu giả trá về dân chủ, nhân quyền
Từ những quan điểm và tư tưởng của các nhà kinh điển, có thể khẳng định
rằng: Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội mang bản
chất của giai cấp thống trị, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực Để có dân chủ nhân dân phải là chủ thể của quyền lực, nếu ngược lại sẽ là chuyên chế (tác giả nhấn mạnh)
1.1.1.2 Khái niệm về dân chủ ở cơ sở
Trang 24Dân chủ cơ sở cũng chính là dân chủ, là quyền lực, quyền làm chủ thuộc vềnhân dân trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Tuy nhiên, khái niệm dân chủ cơ
sở có phạm vi hẹp hơn nhưng lại cụ thể hơn khái niệm dân chủ, đó là quyền làmchủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở nơi cư trú: xã, phường, thị trấn,… và cơ quan,đơn vị công tác của từng người dân, đó chính là việc người dân được quyền tham giađóng góp ý kiến của mình vào các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phươngmình như: vấn đề gieo sạ lúa các mùa vụ, việc chuyển đổi giống cây trồng hay công tácquy hoạch, giải phóng mặt bằng,… trong triển khai xây dựng NTM
1.1.1.3 Khái niệm nông thôn mới
Nông thôn là khu vực mà người nông dân sinh sống, đó là nơi mà dân cư tậptrung thành từng khối thường được gọi là xã, làng, xóm, Mọi người đều cùng làmnhững việc thuộc lĩnh vực nông nghiệp: trồng lúa, trồng rau, chăn nuôi gia súc giacầm, Cuộc sống của họ thanh bình không ồn ã, tấp nập, không có nhiều nhà máy,công trường xí nghiệp, nhà cao tầng,… Nông thôn nước ta là khu vực rộng lớn có
sự đa dạng về thành phần tộc người, về văn hóa và là nơi bảo tồn, lưu giữ cácphong tục, tập quán của cộng đồng Ở nông thôn có sự tập trung dân số đông nhất
ở nước ta hiện nay mà chủ yếu là nông dân, trong thời chiến tranh họ chính là giaicấp cách mạng, đồng hành cùng với giai cấp công nhân trong suốt chiều dài lịch sửcách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng hiện nay lại đang gặp nhiều khókhăn trong đời sống và ít được hưởng lợi do thành quả của cách mạng mang lại.Mặt khác, trình độ học vấn của nông dân nước ta hiện nay còn thấp, nặng về kinhnghiệm, nên cần kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuật, đưa tiến
bộ khoa học vào nông nghiệp, nông thôn
Nắm bắt được yêu cầu của thực tiễn, trải qua quá trình nghiên cứu, tổng kếtkinh nghiệm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số26-NQ/TW, ngày 5-8-2008 “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; Thực hiệnNghị quyết số 26-NQ/TW Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP,
Trang 25ngày 28-10-2008, xác định “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM”,đồng thời Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4-6-2010phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 nhằmkhai thác tiềm lực trong nông thôn, đưa nông thôn nước ta hiện nay trở thành NTM.
NTM là bộ mặt nông thôn có sự thay đổi toàn diện trên tất cả các mặt củađời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, y tế, giáo dục; đời sống vậtchất, tinh thần của dân cư nông thôn không ngừng nâng cao,… nhưng vẫn giữđược nét đẹp của truyền thống Việt Nam Chủ trương xây dựng NTM là để đảmbảo sự phát triển hài hòa giữa các vùng đồng thời tạo sự chuyển biến nhanh hơn ởcác vùng còn nhiều khó khăn; một trong những vấn đề cần đặc biệt quan tâm trongquá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là thực sựtôn trọng, phát huy tối đa vai trò, vị thế chủ thể của người nông dân về chính trị,kinh tế và văn hóa, do đó người nông dân cần được đào tạo có trình độ sản xuấtcao, đáp ứng yêu cầu sự phát triển của xã hội và ngang bằng với các nước tiên tiếntrong khu vực, có như vậy họ mới đủ bản lĩnh chính trị đóng vai trò làm chủ NTM
Theo thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn quy định: “vùng/khu vực NTM Việt Nam XHCN là phầnlãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lýbởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã" Như vậy, NTM trước hết phải là nôngthôn, chứ không phải là thị tứ, thị trấn NTM vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn
có của nông thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làmnông nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: làng
xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướngkinh tế hàng hoá; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngàycàng được nâng cao; giá trị văn hoá truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hộinông thôn có an ninh tốt, quản lý dân chủ,… thể hiện rõ bản chất ưu việt, tốt đẹpcủa chế độ xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn
Trang 26Xây dựng NTM là làm cho nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiệnđại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp vớiphát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổnđịnh, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh tháiđược bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăngcường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - tríthức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệpCNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.1.1.4 Mô hình nông thôn mới
Mô hình NTM chính là nội dung cơ bản của Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày5-8-2008 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về nông nghiệp, nông dân,nông thôn” và Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, của Chính phủ ngày 28-10-2008,xác định “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM” Trên thực tế thì chưa
có một đơn vị nào ở nông thôn trong cả nước ta là NTM nên không có một khuônmẫu nào cho mô hình NTM cả, dựa trên quan điểm chỉ đạo của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng và Chính phủ mà lãnh đạo đơn vị cơ sở đã cụ thể hóa thành môhình NTM phù hợp với đặc điểm của từng vùng ở địa phương mình
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 16/4/2009 Thủ tướng Chính phủban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM, nó được chia thành 5 nhóm cụthể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế – xã hội; về kinh tế và tổ chứcsản xuất; về văn hóa – xã hội – môi trường và về hệ thống chính trị Đó là căn cứ
để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM và chỉđạo thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đồngthời là cơ sở để kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM
Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từngvùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyênhải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù
Trang 27hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể của mỗi vùng Tuy nhiên, dù ápdụng cho vùng nào thì bộ tiêu chí ấy cũng không nằm ngoài những nội dung cụ thểsau đây: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; giao thông; thủy lợi; điện; trường học;
cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư; thu nhập bình quânđầu người/năm; tỷ lệ hộ nghèo; cơ cấu lao động; hình thức tổ chức sản xuất; giáodục; y tế; văn hóa; môi trường; hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và anninh; trật tự xã hội Trên cơ sở bộ tiêu chí trên đây, bước đầu có thể nêu một sốnhân tố chính của mô hình NTM như sau:
+ Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường
và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phảihiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán; thúc đẩy nôngnghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thịtrường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo,chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị; hình thức sởhữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh
đa ngành; hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp vớicác phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn; Sản xuấthàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương.Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản,chế biến nông sản sau thu hoạch
+ Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ
làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp
lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã; phát huy tối đaQCDCCS, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi íchcộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng NTM
+ Về văn hoá xã hội và con người: Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân
cư, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng Xây dựng hình
Trang 28mẫu người nông dân sản xuất hàng hoá khá giả, giàu có; kết tinh các tư cách: côngdân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình.
+ Về môi trường: Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái.
Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chấtthải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
Các nội dung trên nằm trong cấu trúc mô hình NTM chúng có mối liên hệchặt chẽ với nhau trong đó Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quátrình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp
lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần; Nhân dân tựnguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần
đó, các chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng thànhcông mô hình NTM
Như vậy bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM là mô hình tổng quát vềNTM, sự cụ thể hóa của bộ tiêu chí ấy chính là các đề án xây dựng NTM cho từngđịa phương, giúp cho địa phương từng bước trở thành NTM
Xây dựng NTM là một chủ trương có ý nghĩa to lớn cả về chính trị, kinh tế,
xã hội; thực hiện thắng lợi chủ trương này sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho phát triểnnông nghiệp, kinh tế nông thôn và nền kinh tế của đất nước
Ban Bí thư đã thành lập Ban Chỉ đạo và thông qua Ðề án về chương trìnhxây dựng thí điểm mô hình NTM với mục tiêu là: Xây dựng mô hình thực tế vềNTM thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH như Nghị quyết Trung ương đã đề ra; Trên cơ
sở tổng kết chương trình thí điểm, xác định rõ nội dung, phương pháp, cách làm,
cơ chế, chính sách xây dựng NTM để nhân rộng sau này
Ðề án nêu 5 quan điểm trong thực hiện Chương trình xây dựng thí điểm môhình NTM là: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và thực hiệnChương trình, các nội dung cụ thể của Chương trình trên địa bàn phải được nhândân địa phương dân chủ bàn bạc, quyết định; Dựa vào nội lực của cộng đồng làchính với sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền các cấp; Phối hợp, kế thừa, phát huy
Trang 29kết quả của các chương trình, dự án đã và đang thực hiện trên địa bàn, những cơ sở
hạ tầng đã được xây dựng; Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị,
cả hệ thống chính trị phải chung tay xây dựng NTM và trong triển khai xây dựngthí điểm mô hình NTM được phép thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù docác cơ quan có thẩm quyền ban hành
1.1.2 Đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng và nội dung Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.1.2.1 Đặc điểm Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Có thể thấy rằng dân chủ ở cơ sở và đặc biệt là dân chủ ở cấp xã là vấn đềtrăn trở lớn của Đảng và Nhà nước ta Chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm đã có đến
ba văn bản ban hành và sửa đổi về dân chủ ở cấp xã (Nghị định số 29/1998/NĐ-CP
về việc ban hành Quy chế dân chủ ở xã; Nghị định 79/2007/NĐ-CP thay thế choNghị định 29; ngày 20/4/2007, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thay thế choNghị định 79); trong khi các bản QCDC khác vẫn giữ nguyên hoặc chưa kịp banhành Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã bên cạnh các đặc điểm chungcủa thực hiện pháp luật nói chung còn có những điểm đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, thực hiện QCDCCS là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục
gắn liền với các hoạt động trên địa bàn ấp, tổ Đâu là nơi người dân có thể cảmnhận thực tế dân chủ ở xã; ngay tại xã, huyện, tỉnh hay phải tận ở trung ương? Conngười không chỉ có khát vọng dân chủ mà còn cần cảm nhận thực tế về dân chủ,còn cần đến thực hành dân chủ và thực hành pháp luật” Nói rằng dân chủ ở xã -tên gọi là thế nhưng kỳ thực mảnh đất hiện sinh cho dân chủ không hẳn tập trungtại trụ sở của chính quyền xã, là thuần tuý xã mà nó phải đi xuống ấp, tổ dân phòngliên kết - là những đơn vị hành chính tự nhiên Hơn nữa, dân chủ không chỉ là thựchiện những quy định trong các quy chế dân chủ, mà thể hiện thường xuyên, liêntục bằng tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội của chính người dân tại đây Chính vì
Trang 30thế, dân chủ ở cấp xã không thể khác hơn là trở về, được thực hiện bởi chính dânchủ xóm, ấp Chính quyền xã chỉ còn tồn tại với vai trò là đại diện cho nhà nướcgiám sát, kiểm tra việc thực hiện dân chủ, việc của cấp xã mang tính chất địnhhướng cho xóm, ấp phát triển
Thứ hai, việc thực hiện QCDC ở cơ sở được triển khai trên địa bàn rộng lớn
nhất so với các loại hình dân chủ khác ở cơ sở Điều này lý giải bởi hệ thống chínhquyền xã là hệ thống quyền lực có địa bàn rộng lớn nhất Chính quyền cấp cơ sởđược hình thành trên một cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ bền vững, dướicấp này không hình thành một cấp chính quyền nào khác Do đó “dân chủ ở cơ sở”phải được hiểu là dân chủ ở cấp thấp nhất, là nơi người dân thể hiện trực tiếp nhấtquyền làm chủ của mình Đó là ấp - là đơn vị hành chính tự nhiên được hình thànhbằng một cộng đồng dân cư chặt chẽ Và suy cho cùng, tất cả các tổ chức quyềnlực nhà nước cấp trên, muốn phát huy tác dụng cuối cùng đều phải thông qua vaitrò của hệ thống chính quyền xã; dân gắn với nhà nước, trước hết và trực tiếpthông qua quan hệ với chính quyền cơ sở; tạo lập lòng tin của dân với Đảng, vớiNhà nước trước hết cũng thực hiện thông qua quan hệ giữa nhân dân với chínhquyền xã Vì vậy thực hiện dân chủ ở cơ sở được triển khai trên phạm vi rộng lớnnhất, tác động đến nhiều chủ thể nhất so với việc thực hiện dân chủ ở cơ quan haydoanh nghiệp…
Thứ ba, thực hiện QCDC ở cơ sở được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác
nhau, trong đó, nhân dân là một chủ thể đặc biệt quan trọng Không ít người dânhiện nay khi được hỏi về QCDC, dân chủ ở cấp xã thì trả lời với một thái độ rấtbàng quan rằng đó là việc của chính quyền, đoàn thể Nhiều người dân quanh nămsống với đồng ruộng, một quyết định từ UBND xã ban hành chứ chưa nói đếnnhững cấp cao hơn là huyện, tỉnh, rồi trung ương, họ luôn tự nhìn nhận mình với vịtrí là “đối tượng phải thi hành” Khác với nhiều quan hệ pháp luật trong đó chủ thểthực hiện chủ yếu là nhà nước thì pháp luật về dân chủ ở xã được thực hiện bởi
Trang 31nhiều chủ thể Đó chính là hệ thống chính trị ở cơ sở, và quan trọng hơn là nhữngngười dân sống tại địa bàn cơ sở Chính họ sẽ quyết định hiệu lực, hiệu quả củaviệc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã Xét cho cùng, sự nghiệp đổi mới củađất nước nói chung và công cuộc CNH, HĐH nói riêng tùy thuộc lớn vào cơ sở,vào chính quyền xã, mà sức mạnh của chính quyền là ở nơi dân, là việc quy tụđược lòng dân, là phát huy tình đoàn kết, truyền thống, tinh thần làm chủ của nhândân, là hướng tới dân, vì lợi ích của dân Thứ tư, thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp
xã là thực hiện các quy phạm cụ thể quy định trong các văn bản do Nhà nước banhành, cụ thể ở đây là các quy định trong QCDC ở xã (hiện nay là Pháp lệnh thựchiện dân chủ tại xã, phường, thị trấn) Điều này là hoàn toàn cần thiết để tránh cáctrường hợp lợi dụng dân chủ, dân chủ quá trớn, vô chính phủ Dân chủ phải đượchiểu là sự tự do trong khuôn khổ pháp lý Do vậy, không thể cho rằng "dân chủ" và
"hoàn toàn tự do" là một Dân chủ phải gắn liền với chuyên chính Chuyên chínhkhông phải là mục đích của dân chủ mà là phương tiện bảo vệ nền dân chủ, bảo vệnhững lợi ích của nhân dân, chống lại những kẻ đi ngược lại lợi ích của nhân dân,
đi ngược lại chế độ dân chủ của nhân dân Quyền làm chủ của một cá nhân khôngđược đi ngược lại quyền làm chủ của các cá nhân khác và của cộng đồng Xã hộidân chủ là một xã hội có trật tự kỷ cương Dân chủ đối lập với sự độc đoán, chuyênquyền, đồng thời cũng đối lập với sự hỗn loạn, vô chính phủ Để tránh tình trạngmất dân chủ hoặc lợi dụng dân chủ, đòi hỏi phải có các quy định mang tính quyềnlực nhà nước cũng như các cơ chế để đảm bảo thực hiện được trên thực tế
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy chế dân chủ dân chủ ở
cơ sở
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội và trình độ dân trí Điều kiện tựnhiên có ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật nói chung, quyQCDCCS cũng như dân chủ ở cấp xã nói riêng Với đặc trưng của địa hình, thờitiết khí hậu, sông ngòi, đất đai thổ nhưỡng… sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố dân cư,
Trang 32hình thành nên các địa bàn nơi dân cư sinh sống (vùng núi, vùng cao, vùng đồngbằng, thành thị hay vùng sâu, vùng xa ) Những yếu tố này sẽ hình thành nên chấtlượng và những đặc điểm của dân cư (trình độ văn hoá, mặt bằng dân trí, ý thứcpháp luật, thói quen và lối sống theo pháp luật của cộng đồng dân cư) có ảnhhưởng trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật Trong điều kiện khoa học công nghệphát triển một cách mạnh mẽ như hiện nay thì thông tin là yếu tố hết sức quantrọng trong công tác chỉ đạo, điều hành Thực hiện QCDC ở cơ sở gắn liền với yếu
tố thông tin Thông tin nhanh hay chậm, chất lượng hay không đảm bảo chất lượngbên cạnh việc phụ thuộc vào công nghệ hiện đại thì một phần nó còn phù thuộcvào các yếu tố của điều kiện tự nhiên Sự phát triển của phương tiện thông tin giúpcho dân chúng nhanh chóng có thông tin để có thể tham gia bàn luận, đánh giá vàlựa chọn những quyết định chính trị đúng đắn; ảnh hưởng đến chất lượng và hiệuquả của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Trong một quốc giarộng lớn về lãnh thổ, với dân số đông thì sự yếu kém và lạc hậu về hạ tầng thôngtin sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của dân chủ Bên cạnh đó, kinh tế là yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện dân chủ ở xã Dân chủ và kinh tế là haivấn đề có mối quan hệ mật thiết với nhau Kinh tế tạo điều kiện để xây dựng dânchủ, nhưng dân chủ cũng tạo điều kiện cho phát triển kinh tế Kinh tế càng pháttriển, năng suất lao động cao, cơ sở hạ tầng của xã hội ngày càng phát triển hoànthiện sẽ bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền công dân và quyền con người Sự pháttriển kinh tế bảo đảm cho triển vọng của nền dân chủ, sự phát triển kinh tế sẽ tạo rađược một tầng lớp trung lưu và sẽ tạo điều kiện cho dân chúng có học thức cao hơntrước và đó là môi trường mới thuận lợi cho dân chủ hoá Cũng cần thấy rằng dânchủ đã tạo điều kiện phân phối công bằng hơn phúc lợi xã hội, nhờ vậy kích thích
sự phát triển kinh tế Dân chủ và việc thực hiện dân chủ ở cấp xã không chỉ phụthuộc vào điều kiện kinh tế mà còn phụ thuộc vào điều kiện văn hoá, xã hội Rõràng, trong một xã hội đáp ứng được các yêu cầu về giáo dục đào tạo, văn hoá,thông tin, thể dục, thể thao, y tế, chăm sóc sức khoẻ, công tác dân số, lao động,
Trang 33việc làm, xoá đói giảm nghèo… sẽ phản ánh phần nào về một xã hội giàu có Một
xã hội giàu có sẽ có tác động thuận lợi đến quá trình dân chủ hoá xã hội vì có khảnăng, trong phần lớn các trường hợp, xoa dịu được sự bất bình đẳng xã hội Thực
tế chứng minh rằng, sự phân cực do bất bình đẳng xã hội sẽ làm nảy sinh nhữngmâu thuẫn hoặc xung đột chính trị, mà nhiều khi không thể sử dụng thiết chế vàphương pháp dân chủ để giải quyết các xung đột đó Do vậy, sự phân cực giầunghèo trong xã hội là rào cản to lớn cho quá trình thực hiện dân chủ, mặc dù dânchủ cũng không dễ có trong một xã hội với chế độ phân phối của cải xã hội theohình thức cào bằng, bình quân chủ nghĩa Bên cạnh đó, trình độ học vấn, trình độhiểu biết các vấn đề chính trị - xã hội của nhân dân là nhân tố cơ bản để thực hiệndân chủ Bởi vì dân chủ là biểu hiện của trình độ văn hoá chính trị, có quan hệ mậtthiết với trình độ dân trí, văn hoá nói chung Trình độ dân trí của một bộ phận dân
cư nông thôn còn thấp, chưa phân biệt được rõ đúng, sai, quyền lợi, trách nhiệm,dẫn đến những hành vi sai lệch Do trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức củanhân dân còn thấp nên việc tiếp thu chủ trương về thực hiện dân chủ ở xã còn cónhững hạn chế thể hiện ở hai khuynh hướng: bàng quan hoặc lạm dụng dân chủ.Thực tiễn đã chứng minh, chỉ khi nào người dân tự giác nhận thức được quyền hạn
và nghĩa vụ của mình, tự giác tham gia vào công việc nhà nước, công việc xã hội,hoạt động với tư cách là công dân có tri thức văn hoá mới thực sự có điều kiệnthực hiện pháp luật nói chung, pháp luật về dân chủ và dân chủ ở cấp xã nói riêng.Trong xã hội, những bộ phận công dân có trình độ dân trí thấp thường đứng ngoàichính trị và dễ trở thành đối tượng cho các mánh khoé, thủ đoạn của những lựclượng chính trị cơ hội (những điểm nóng diễn ra trên địa bàn Tây Nguyên là ví dụ).Điều này đã được Hồ Chí Minh xác định rõ: “Trình độ văn hoá của nhân dân tanâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dânchủ Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xâydựng nước ta thành một nước hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàumạnh” - Trình độ, năng lực của hệ thống chính trị ở cấp xã Dân chủ và thực hiện
Trang 34dân chủ ở xã không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội,trình độ dân trí mà còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực của hệ thống chính trị cấp
xã Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 tại điều 3 quyđịnh chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã thuộc vềchính quyền cấp xã Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là người trực tiếp giác ngộ,tuyên truyền đầy đủ, sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung pháp luật về dân chủ ởcấp xã cho nhân dân Nhận thức đúng sẽ mở đường cho hành động đúng Thực tếnhững năm qua cho thấy, một khi có chủ trương hợp lòng dân, có đội ngũ cán bộmẫn cán, thực sự là “công bộc của dân” thì dân tin tưởng và hăng hái tham gia mọiphong trào Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Khó thì hỏi nhân dân, nghe nhân dân,dựa vào nhân dân, làm theo sáng kiến của nhân dân Đó không chỉ là quan điểmcủa nhà chính trị, đó còn là niềm tin sâu sắc, chân thành Những nhà lãnh đạochính trị có tài, có đức thường suy nghĩ và đưa ra những quyết sách phù hợp vớilợi ích và nhu cầu của nhân dân Thông qua phong trào cách mạng của quần chúng,vai trò của đội ngũ cán bộ cũng được thể hiện rõ theo hai chiều hướng: hoặc được
đề cao phát huy, hoặc bị tẩy chay, tiêu cực Để xảy ra những hiện tượng tiêu cựctại cơ sở, nhiều cán bộ tâm huyết phải thẳng thắn thừa nhận rằng: do họ chưa thực
sự bám sát địa bàn (quần chúng) Tuy nhiên, thực hiện dân chủ không phải chỉmong đợi vào "lòng tốt" của người cầm quyền, mà quan trọng hơn là xây dựngnhững định chế dân chủ buộc những người nắm giữ quyền lực dù muốn hay khôngmuốn cũng phải tuân theo Những người cầm quyền được lựa chọn có thể là nhữngngười có tài và đức, suy nghĩ và hành động của họ vì lợi ích của nhân dân, nhưngnếu không có thiết chế để nhân dân kiểm soát thì họ có thể dần trở thành người lạmdụng quyền lực, sử dụng quyền lực đó để mưu cầu lợi ích cho riêng mình
1.1.2.3 Nội dung Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 30-CT/TW “Về xây dựng và thựchiện QCDC ở cơ sở”; ngày 11-5-1998, Chính phủ ban hành Nghị định 29-NĐ/CP
và ngày 19-8-1998 ban hành Nghị định 71-NĐ/CP về thực hiện QCDC ở tất cả các
Trang 35cơ sở Theo tinh thần Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) thì khâuquan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở,thực hiện dân chủ ở xã, phường là thực thực hiện nội dung về dân chủ một cáchtrực tiếp và rộng rãi đến với từng người dân nhằm phát huy cao độ quyền làm chủcủa người dân trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và quản lý xã hội, giữ gìn anninh trật tự công cộng ở địa phương Chung quy lại QCDCCS có những nội dung
cơ bản sau:
Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, cácchủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đếnđời sống và lợi ích hàng ngày của nhân dân tại cơ sở; có chế độ và hình thức báocáo công khai trước nhân dân công việc của chính quyền, cơ quan, đơn vị về sảnxuất và phân phối, về việc sử dụng công quỹ, tài sản công, về thu, chi tài chính, cáckhoản đóng góp của dân, quyết toán các công trình xây dựng cơ bản, chế độ thu và
sử dụng học phí, viện phí;
Thực hiện quy chế và các hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sởđược bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ côngtác chuyên môn, công tác cán bộ của chính quyền, cơ quan, đơn vị; kết quả ýkiến đóng góp phải được xem xét, cân nhắc khi chính quyền hoặc thủ trưởng raquyết định;
Có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với nhữngloại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn (như chủtrương huy động sức dân để xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi,các khoản đóng góp và lập các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật ); chính quyền,thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện theo ý kiến của đa số nhân dân, có sựgiám sát, kiểm tra của nhân dân;
Hoàn thiện cơ chế để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở trựctiếp và thông qua Mặt trận, các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát
Trang 36hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị; kết quả thanh tra, kiểm tra,giám sát của nhân dân phải được tiếp thu nghiêm túc;
Mở rộng các hình thức tổ chức tự quản để nhân dân, công nhân, cán bộ, côngchức tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ pháp luật những công việc mangtính xã hội hoá, có sự hỗ trợ của chính quyền, cơ quan, đơn vị (như việc xây dựnghương ước, quy ước làng văn hoá, xây dựng tổ hoà giải, tổ an ninh, phong trào vệsinh - môi trường, đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ người nghèo, v.v.);
Xác định rõ trách nhiệm và tổ chức tốt việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo vàtrả lời thắc mắc của nhân dân, công nhân, công chức ở cơ sở, chính quyền, cơ quan, đơn
vị mình, nghiêm cấm mọi hành vi trù dập người khiếu nại, tố cáo;
Xác định trách nhiệm của tổ chức chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị
cơ sở định kỳ (ba tháng, sáu tháng, một năm), báo cáo công việc trước dân, phải tựphê bình và tổ chức để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở góp ý kiến,đánh giá, phê bình; nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp đó;
Thực hiện tốt những nội dung trên cũng chính là phát huy quyền làm chủ củanhân dân ở cơ sở, đó là bước đột phá trong chiến lược phát huy dân chủ và khaithác sức mạnh của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.2 Các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.2.1 Các tiêu chí đánh giá chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã
NTM giai đoạn 2010 - 2020 bao gồm các đặc trưng sau: (1) Kinh tế pháttriển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; (2) Nôngthôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trườngsinh thái được bảo vệ; (3) Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữgìn và phát huy; (4) An ninh tốt, quản lý dân chủ và (5) Chất lượng hệ thống chính
Trang 37trị được nâng cao.
Việc xây dựng NTM nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của quêhương, đất nước trong giai đoạn mới Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mớidưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiềuthành tựu to lớn
Đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp,
Xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, tăng trưởng nhanh và bền vững; gópphần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý theo hướng gắn pháttriển sản xuất nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ - du lịch, được thể hiện trênmột số nội dung, cụ thể là:
- Phát triển nông nghiệp theo quy hoạch một cách toàn diện, đa dạng theohướng tập trung, sản xuất hàng hóa, chất lượng cao; ưu tiên đầu tư phát huy hai thếmạnh kinh tế thủy sản và kinh tế vườn
- Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ vàosản xuất; ưu tiên phát triển công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản sau thu hoạch
và cơ giới hóa trong sản xuất; tổ chức lại sản xuất, xây dựng các vùng sản xuất tậptrung theo quy hoạch, sản phẩm hàng hóa đạt chất lượng cao, tham gia xuất khẩu
- Ưu tiên phát triển công nghiệp các ngành chế biến gắn với lợi thế về nguồnnguyên liệu của địa phương; củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt độngcác làng nghề tiểu thủ công nghiệp
- Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, nâng cao chất lượngcác loại hình dịch vụ, du lịch, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nângcao đời sống của cư dân nông thôn
- Xây dựng và nhân rộng mô hình liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp;khuyến khích liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp để tổ chức sản xuất theohợp đồng; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức về sự liên kết, hợp tác để
Trang 38sản xuất nông - thủy sản hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường.
- Tập trung củng cố, nâng chất các tổ hợp tác, hợp tác xã, câu lạc bộ nôngdân hiện có; vận động nông dân tham gia thành lập mới các loại hình kinh tế hợptác phù hợp
Đầu tư nâng cấp, hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng nông thôn
Đầu tư nâng cấp, hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng nông thôn, đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế xã hội được quan tâm thực hiện, thông qua các hình thức:
- Thu hút mạnh các nguồn vốn trong xã hội để đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng; tích cực huy động nguồn lực trong dân và các nguồn vốn khác từ các thànhphần kinh tế, các doanh nghiệp, kết hợp với sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ cácchương trình mục tiêu quốc gia và ngân sách địa phương
- Tập trung xây dựng hoàn chỉnh các công trình trọng điểm về kết cấu hạtầng kinh tế kỹ thuật - xã hội ở nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi,nước sạch, điện, trường học, viễn thông, internet, các thiết chế văn hóa, chợ nôngthôn, các công trình y tế, giáo dục.v.v
- Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ; ưu tiên đầu tư xây dựng kếtcấu hạ tầng ở các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung, làng nghề tiểuthủ công nghiệp, các cụm, tuyến dân cư…
Lĩnh vực văn hóa - xã hội và môi trường
Đẩy mạnh phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và an sinh xã hội; tăng cườngbảo vệ môi trường sinh thái, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu Cụ thể trêntừng lĩnh vực là:
- Về giáo dục: Nâng cao chất lượng giáo dục; thực hiện phổ cập trung học,
phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi; khuyến khích phát triển các nhómtrẻ gia đình ở nông thôn; tạo điều kiện mở các trường tư thục; ưu tiên đầu tư xâydựng trường đạt chuẩn quốc gia; đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng cho nhu cầu giảng
Trang 39dạy và học tập ở nông thôn.
- Về y tế: Tiếp tục đầu tư hoàn thiện mạng lưới y tế tuyến cơ sở đạt chuẩn
quốc gia; chú trọng đào tạo chuyên môn nghiệp vụ và giáo dục, rèn luyện y đứccho đội ngũ cán bộ ngành y, nâng cao chất lượng các dịch vụ khám, điều trị bệnh ởtuyến cơ sở, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; quan tâm đầu
tư phát triển y tế dự phòng, đảm bảo đủ khả năng dự báo, giám sát, phát hiện vàkhống chế dịch bệnh
- Về văn hóa: Nâng cao chất lượng Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa” gắn với xây dựng NTM; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xâydựng tình làng nghĩa xóm, ý thức trách nhiệm với cộng đồng
- Về an sinh xã hội: Thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội; chăm
lo tốt đời sống vật chất, tinh thần cho các đối tượng chính sách, người có công; xâydựng nhà ở cho hộ nghèo; phấn đấu kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảmbình quân 2%/năm; từng bước rút ngắn khoảng cách về phát triển kinh tế - xã hộigiữa khu vực nông thôn và thành thị Tổ chức thực hiện tốt chương trình đào tạonghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ Mời gọi các nhà đầu tư thành lập mới các cơ sở đào tạo nghề, khuyến khíchtruyền nghề, gắn với việc nâng cao chất lượng hoạt động của các trung tâm giáodục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng
- Về môi trường: Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội
về bảo vệ môi trường; thực hiện tốt chương trình nước sạch và vệ sinh môi trườngnông thôn; tổ chức tốt việc thu gom, xử lý chất thải từ sản xuất, chăn nuôi và sinhhoạt của nhân dân Quản lý và bảo vệ bền vững tài nguyên đất, tài nguyên nước, tàinguyên rừng Thực hiện tốt các giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả với tác độngcủa biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Về công tác quốc phòng và an ninh nông thôn
Trang 40Tăng cường lãnh đạo công tác quốc phòng; đảm bảo an ninh nông thôn Cụ
thể là:
- Tập trung lãnh đạo triển khai xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trongtình hình mới, lấy xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần làm trọng tâm; tổ chức cáclớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng (đạt 98% trở lên);làm tốt công tác gọi công dân nhập ngũ và quản lý thống nhất nguồn động viên quốcphòng; tăng cường công tác bảo vệ an ninh khu vực trong bờ và ngoài biển khơi
- Nắm chắc tình hình quần chúng, các âm mưu, thủ đoạn của địch và phần tửxấu để chủ động làm thất bại và kiên quyết không để bị động, bất ngở xảy ra; vậnđộng toàn xã hội đóng góp cho quĩ quốc phòng - an ninh; sẵn sàng chiến đấu, kịpthời cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả khi có thiên tai xảy ra
- Thực hiện tốt chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, nâng caohiệu quả công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực an ninh, trật tự, nhất là tập trungcác giải pháp để kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm hình sự, tai nạn giaothông, tai nạn và tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh nông thôn
Vai trò các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị
- xã hội trong công cuộc xây dựng NTM
Cấp ủy Đảng, chính quyền nâng cao năng lực lãnh đạo và hiệu quả quản lý;Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, nhất là phát huy vai trò nồng cốt củaHội Nông dân Cụ thể là:
- Tập trung xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh; làm tốtcông tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận, nhận thứcchính trị cho cán bộ cơ sở Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt độngcủa tổ chức cơ sở Đảng, nhất là chi bộ ấp, khu phố, để nơi đây thực sự là hạt nhânlãnh đạo toàn diện ở địa bàn nông thôn
- Chăm lo củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước vững mạnh, tập