Năm 1933 trong Phê bình và cảo luận - công trình mở đầu lịch sử phê bỡnh văn học Việt Nam hiện đại tại phần thứ nhất: phêbình nhân vật, cây bút phê bình trẻ Thiếu Sơn viết về Phạm Quỳnh
Trang 1NguyÔn thÞ thu hiÒn
quan niÖm v¨n ch¬ng cña ph¹m quúnh
Trang 2Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lich sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Phạm vi và đối tợng nghiên cứu 10
5 Phơng pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp mới của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chơng 1 Phạm Quỳnh đánh giá về văn chơng truyền thống dân tộc 11
1.1 Quan niệm về chức năng văn chơng 11
1.2 Đánh giá về thể loại 18
1.3 Đánh giá về ngôn ngữ văn chơng 34
Chơng 2 Quan niệm của Phạm Quỳnh về thơ 39
2.1 Cơ sở để Phạm Quỳnh đa ra quan niệm về thơ 39
2.2 Đặc trng về thơ hiện đại 49
Chơng 3 Quan niệm của Phạm Quỳnh về tiểu thuyết 62
3.1 Hình thức tiểu thuyết 62
3.2 Ngôn ngữ tiểu thuyết 78
3.3 Phân loại tiểu thuyết 82
KếT LUậN 88
TàI LIệU THAM KHảO 91
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Những năm gần đây trong không khí đổi mới của đất nước, sự đổi
mới về quan điểm nghiên cứu văn học, có nhiều vấn đề của lịch sử văn họcđược xem xét lại một cách khách quan hơn, khoa học hơn Hiện nay trong xuthế hội nhập và đổi mới Phạm Quỳnh được đánh giá là một học giả một nhàvăn hóa lớn của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX Ông được xem là người tiênphong trong thời kì xây dựng và phát triển nền báo chí văn học quốc ngữ nướcnhà Ông thực sự có công trên nhiều lĩnh vực: văn hóa, giáo dục, chính trị, lịch
sử, văn học Đặc biệt ông có công lớn trong việc đóng góp cho nền văn họcnước nhà trên con đường hiện đại hóa đầu thế kỷ XX Nghiên cứu quan điểmvăn chương của ông để hiểu thêm quan niệm văn chương của một trí thức ViệtNam khi tiếp xúc với quan niệm văn học phương Tây hồi đầu thế kỷ trước
1.2 Phạm Quỳnh (1892-1945) xuất thân trong một gia đình nhà nho có
nề nếp Ông là một người có thái độ chính trị phức tạp không cùng hướng với
sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và nhân dân lao động Việt Nam Bảnthân Phạm Quỳnh là một trí thức do Pháp đào tạo và sử dụng lại làm quan chotriều đình Huế, cho nên tư tưởng không thể không bị chi phối bởi các chủtrương chính trị của thực dân Pháp Phạm Quỳnh đã dịch thuật, giới thiệu,truyền bá tư tưởng lý luận, phương pháp sáng tác của văn học phương Tâyđặc biệt là của văn học Pháp với độc giả Việt Nam Nghiên cứu quan niệmvăn chương Phạm Quỳnh cũng có ý nghĩa hiểu thêm sự chi phối quan điểmchính trị đối với quan niệm văn chương
1.3 Phạm Quỳnh là một hiện tượng phức tạp, vì thế mà văn nghiệp của
ông đây ít được người ta nghiên cứu Ông là một trí thức lớn có vai trò quantrọng cho nền lý luận phê bình văn học hiện đại Phạm Quỳnh có sự đổi mới
về tư duy, về quan điểm thẩm mỹ và vận dụng những thao tác, phương phápmới của tri thức văn học phương Tây trên tinh thần truyền thống để nghiên
Trang 4cứu văn học Việt Nam trong bối cảnh lịch sử cụ thể Chỳng tụi đó chọn đề tàinày nhằm gúp phần khắc phục tỡnh trạng trờn.
Luận về chánh học cùng tà thuyết của Ngô Đức Kế đăng trên báo Hữu Thanh
số 21-1924 Tác giả đề cập đến phong trào suy tôn Truyện Kiều và cho rằng ngời tuyên dơng Truyện Kiều là kẻ giả dối, mù quáng, phản bội và hại dân,
trái với truyền thống đạo lý dân tộc Ngụ Đức Kế viết “Thế mà ngày nay đứcvăn sỹ giả dối ta biểu dơng Truyện Kiều làm sách “quốc văn giáo khoa” (sáchdạy), làm sách giảng nghĩa (sách thầy) Văn sỹ thờng nói rằng “Học Hán văn
là học mượn, học Pháp văn là học mượn, học quốc văn mới là học TruyệnKiều tức là sách nhà đó” [64, 138]
Tiếp đến là bài Chủ ý Truyện Kiều (1926) của Phan Bội Châu trả lời
phỏng vấn nhà báo Yên Sơn Tác giả viết “tôi đâu giám kết tội tác giả Songchỉ trách ông Quỳnh là ngời học rộng mà cũng còn mặc cái nạn hiểu nhầmchủ ý của tác giả nh ai Chẳng thế sao lại đi cổ động cho đám dân thiếu học
có nhiều ngời coi truyện đó? ý hẳn ông tởng ai coi Kiều cũng hiểu rành rọt
nh ông chăng? Coi mà không hiểu thì chỉ biết tác giả thuật chuyện một ngờicon gái vỡ gia cảnh lâm vào chốn thanh lâu ô uế chỉ ham đọc những đoạn
nh Kim Kiều tình tự, Thúc Kiều ân ái thỡ cứ việc bắt chớc Cái hại ở đó chớcòn ở đâu nữa” [64, 138]
Trang 5Gần gũi với quan điểm của Ngụ Đức Kế v Phà Ph an Bội Chõu l quanà Ph
điểm của Huỳnh Thỳc Khỏng trong bài Chỏnh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không? đăng trên báo Tiếng dõn Ông kết án Truyện Kiều và ngời tỏn dơng Truyện Kiều “Truyện Kiều chẳng qua là một thứ văn
chơng mua vui mà thôi, chứ không phải là một thứ sách học mà nói cho đúng
ra, Truyện Kiều là một thứ dâm th khụng ích mà có hại ở xã hội ta từ kẻ tándơng Truyện Kiều truyền bỏ học Kiều đến nay đã biết bao lớp thanh niờn say
mê súng sắc chỡm nổi biển tỡnh, đứt cả nề nếp gia đình, trật tự xã hội mà theomối ham mê của mình” [64, 141]
Tất nhiên ngay cả cùng thời Phạm Quỳnh nhiều nhà nghiờn cứu tỏ ra
khõm phục tài năng của ông Năm 1933 trong Phê bình và cảo luận - công
trình mở đầu lịch sử phê bỡnh văn học Việt Nam hiện đại tại phần thứ nhất: phêbình nhân vật, cây bút phê bình trẻ Thiếu Sơn viết về Phạm Quỳnh “Cái côngphu trứ tác của ông ích cho quốc dân không phải là nhỏ mà ảnh hởng đối vớidân chúng cũng thiệt là sâu” [48, 59]
Năm 1941, Dương Quảng H m trong công à Ph trỡnh Việt Nam văn học sử yếu đánh giá cao văn Phạm Quỳnh so với văn Nguyễn Văn Vĩnh “Ông Vĩnh
có công diễn dịch những tiểu thuyết và kịch bản của Âu Tây và phát biểunhững cái hay trong những tiếng Nam ra Ông Quỳnh thì có công dịch thuậtcác học thuyết, t tởng Thỏi Tõy và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt đợccác ý tởng mới Đối với nền văn hóa cũ nước ta thì ông Vĩnh hay khảo cứunhững phong tục tín ngỡng của dân chúng mà ông Quỳnh thờng nghiên cứu
đến chế độ, văn chương của tiền nhân Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị củamột nhà văn bình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một họcgiả” [19, 411]
Vũ Ngọc Phan trong công trình nghiên cứu Nhà văn hiện đại (1942)
dành hơn ba mươi trang sách viết về Phạm Quỳnh và hết lời ngợi ca nhữngcông trình khảo cứu, dịch thuyết, du kí và bình luận “Phạm Quỳnh là một nhàvăn có thể lập luận một cách vững vàng sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì, từ
Trang 6thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo cho đến chớnh trị, xã hội, không một vấn đềnào là không tham khảo tường tận trớc khi đem bàn trên mặt giấy” [45, 109].
2.2 Từ cỏch mạng thỏng 8- 1945 đến 1975
Sau cỏch mạng thỏng 8- 1945 và cụ thể sau 1954 do hoàn cảnh đấtnước chia cắt, nờn văn nghiệp Phạm Quỳnh chủ yếu được giới nghiờn cứumiền Nam quan tõm Cỏc nhà nghiờn cứu xem Phạm Quỳnh là tỏc gia tiờubiểu cho nền văn chương quốc ngữ hồi đầu thế kỷ XX
Đỏng chỳ ý là quan điểm của Phạm Thế Ngũ trong cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tõn biờn đó đề cao đúng gúp của Phạm Quỳnh Tỏc giả
nghiờn cứu Phạm Quỳnh trờn nhiều khớa cạnh từ thõn thế đến trường hợp ra
đời của Nam Phong tạp chớ, từ nội dung tờ bỏo đến văn nghiệp, từ tư tưởng
đến tiến hoỏ, đến việc xõy dựng một nền học mới ễng đó dành 62 trang viết
về cỏc vấn đề trờn Khi nghiờn cứu về vấn đề nền học mới của Phạm Quỳnh,ụng viết “Phạm Quỳnh cố tạo ra một cỏi học khụng Tàu khụng Tõy nghĩa làmột cỏi học cú tớnh cỏch tự lực quốc gia Cỏi học ấy theo ụng phải lấy nhiềuvật liệu và cú phương phỏp ở Tõy phương nhưng khụng thể bỏ quờn cỏi gốc
cổ điển Á Đụng và Việt Nam Để xõy dựng nú Phạm Quỳnh đi dịch thuật tưtưởng Phỏp, một mặt trở về quỏ khứ tỡm kiếm những giỏ trị cũ nho gia, mộtmặt nữa tạo ra một ngụn ngữ mới để làm phương tiện diễn đạt” [42, 197]
Thanh Lóng trong cuốn Bảng lược đồ văn học Việt Nam phần nghiờn
cứu về Phạm Quỳnh đó đề cập đến “vụ ỏn Truyện Kiều” ễng cho rằng “vănnghệ sỹ của thế hệ này cũn luẩn quẫn chưa phõn biệt được hai lĩnh vực đạođức, luõn lý thuần tuý với văn chương nghệ thuật thuần tuý” [64, 16]
Sự đỏnh giỏ về Phạm Quỳnh cú khi thay đổi ngay ở một tỏc giả Gần
40 năm sau khi đó trở thành người từng trải trờn trường chớnh trị, Thiếu Sơn
đó thay đổi đỏnh giỏ về Phạm Quỳnh, phủ nhận nghiờm khắc đối với ụng
trong tiểu luận Bài học Phạm Quỳnh ễng cho rằng “Phạm Quỳnh là tay sai
đắc lực, ham danh lợi, ham địa vị và quyền thế”, về văn học “tất cả những
Trang 7bài khảo cứu và phờ bỡnh của ụng đều cú dụng ý làm cho người đọc quờnthõn phận của mỡnh là người dõn mất nước và sung sướng được làm nụ lệcủa thực dõn”, về văn học “Phạm Quỳnh dựng văn hoỏ để say đắm thanhniờn” [49, 93].
Gần gũi với quan điểm của Thiếu Sơn là ý kiến của Đặng Thai Mai
trong cuốn Văn thơ cỏch mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, cú thỏi độ gay gắt
với Phạm Quỳnh Tỏc giả gọi Phạm Quỳnh là loại “tiờn sinh kớnh trắng, tờnViệt gian đội lốt học giả” Đặng Thai Mai viết “Y viết đủ mọi thứ: chớnh trị,văn hoỏ, văn học, sử học, triết học, kinh tế học…Viết văn chương cổ, kim,Đụng, Tõy…Những điều người ta chưa thấy là cỏi mà Phạm Quỳnh giớithiệu trờn Nam Phong, khụng cú một mặt nào cú thể núi là cú hệ thống cũngchưa hề cú phần nào mà phờ phỏn mà nghĩ đến việc ỏp dụng cho thực tế ViệtNam” [39, 126]
2.3 Từ sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay
Sau ngày đất nước thống nhất đến trớc những năm đổi mới ngời tanghiờn cứu về Phạm Quỳnh cũn ít Dựa vấn đề chớnh trị cú những nhà nghiờn
cứu xem Phạm Quỳnh là bồi bỳt, phản động Trong cuốn Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900- 1930, hai tỏc giả Trần Đỡnh Hượu, Lờ Chớ Dũng coi
Phạm Quỳnh là ngời thực hành đắc lực chính sách văn hóa xảo quyệt và thâm
độc cho thực dân Pháp “Phạm Quỳnh đã cổ động cho văn hóa, điều hũa tâncựu, thổ nạp Á - Âu, hô hào xây dựng nền quốc văn mơn trớn lôi kéo cả cựuhọc lẫn tân học đề cao Pháp, lái thanh niên, trí thức vào hoạt động văn hóa,văn học, đánh v o lòng tham danh vọng của họ” [27, 325] à Ph
Từ năm 2000 về sau, có sự thay đổi đỏng kể trong đỏnh giỏ về con ngời và văn nghiệp Phạm Quỳnh Tên ông đợc chính thức nêu thành mục từ trong Từ
điển nhân vật lịch sử Việt Nam Mã Giang Lân trong giáo trình Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam (2000) đã đánh giá cao đóng góp của Phạm Quỳnh về lý
luận phê bình “những bài viết về thơ, tiểu thuyết của Phạm Quỳnh đăng trên
tạp chí Nam Phong những năm 1917-1921 những bài tranh luận xung quanl
Truyện Kiều những năm 1919, 1930 đều có giá trị lý lừận thể iiện sự vận
Trang 8ắộng của nền văn học`đồng thời cũng thể hiện trình độ t duy lý luận ở mộtmức độ nhất định” [33, 68].
Trần Mạnh Tiến trong cuốn Lí luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế
kỷ XX (2001) đã đề cập đến Phạm Quỳnh ở lĩnh vực phê bình mới Tác giả viết
“ngay từ năm 1917 trên Nam Phong tạp chí đã có mục văn bình luận và tạp
trở dành cho những ý kiến phê bình văn học Trớc nhất phải kể đến những ýkiến phê bình về các tác phẩm văn học Pháp của học giả Phạm Quỳnh nhất lànhững ý kiến bình luận về tiểu thuyết” [64, 122]
Năm 2004 tên của Phạm Quỳnh đợc đưa vào trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới) mục từ do Huệ Chi viết Tỏc giả đã đánh giá tổng quát sự nghiệp
trớc tác của Phạm Quỳnh ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn xuôiquốc ngữ nớc nh “Trên tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh cố gắng làm côngà Phviệc dịch thuật, truyền bá cho công chúng những tinh hoa t tởng dân chủ t sảnphơng Tây đồng thời cũng giới thiệu cả những di sản tinh thần của cha ông”[23, 1365]
Trong cuốn Thi pháp Truyện Kiều, phần lịch sử nghiờn cứu Truyện
Kiều, Trần Đỡnh Sử đỏnh giỏ “Phạm Quỳnh là người đầu tiờn dựng phộp phờbỡnh khảo cứu của văn học Thỏi Tõy để nghiờn cứu Truyện Kiều” [53, 13]
Nguyễn Đỡnh Chỳ trong bài Thượng Chi bàn về tiểu thuyết trờn Nam Phong tạp chớ, đã quan tõm đến vấn đề nguồn gốc, kết cấu, cỏch viết tiểu thuyết mà Phạm Quỳnh bàn trong Thượng Chi văn tập Theo tác giả “từ
những đúng gúp của Thượng Chi cú người đó muốn coi ụng, tuy khụng phải
là một tiểu thuyết gia nhưng là một người đạo diễn buổi đầu trong việc hỡnhthành nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” [10, 20]
Nhà phờ bỡnh Vương Trớ Nhàn đó chỳ ý đến học giả Phạm Quỳnh - nhà
văn húa đầu thế kỉ XX Trong bài Vai trũ của trớ thức trong quỏ trỡnh tiếp nhận văn húa phương Tõy ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, ụng đề cao vai trũ của
Phạm Quỳnh trong việc tiếp thu văn húa phương Tõy vào văn húa Việt Nam
“Phạm Quỳnh đỏng được coi là một trong số nhõn vật tiờu biểu cho quỏ trỡnhtiếp nhận văn húa nhất là ở giai đoạn đầu của sự tiếp nhận” [41, 57]
Trang 9Nguyễn Ngọc Thiện - tỏc giả bài Thăng trầm trong thức nhận văn nghiệp học giả Phạm Quỳnh, đó quan tõm đến vấn đề nghiờn cứu Phạm
Quỳnh từ 1924 cho đến nay Tỏc giả viết “Nhỡn khỏi quỏt cú thể thấy việcđỏnh giỏ Phạm Quỳnh trờn phương diện học thuật đó trải qua ba giai đoạntheo cỏc khuynh hướng khỏc nhau:
- Từ 1924 đến cỏch mạng thỏng 8- 1945
- Từ sau cỏch mạng thỏng 8- 1945 đến thỏng 4- 1975
- Từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay” [60, 10]
Lờ Tỳ Anh trong bài Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học giai đoạn
1900 - 1930, đó đi vào tỡm hiểu quan niệm về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh và
viết “Phạm Quỳnh có nhiền kiến giải xác đáng về tiểu thuyết hiện đại trên cácphơng diện: định nghĩa tiểu thuyết, kết cấu tiểu thuyết, phép hành văn tiểuthuyết, yêu cầu đối với nhà viết tiểu thuyết, phân loại tiểu thuyết…So với quanSo với quanniệm của các tác giả viết tiểu thuyết giai đoạn này, tiểu luận của Phạm Quỳnhbài bản và sâu sắc hơn” [1, 96]
Trong bài Cảm quan thế giới trong lý luận phờ bỡnh văn học của Phạm Quỳnh và tỏc động của nú trong tiến trỡnh văn học, Trần Văn Toàn đó chỳ ý
đến việc Phạm Quỳnh giới thiệu kịch, thơ, tiểu thuyết phương Tõy vào ViệtNam và biờn khảo, phờ bỡnh, dịch thuật Tác giả viết “Vai trò quan trọng củavăn học giao thời là kiến tạo ra bộ khung thể loại của nền văn học mới: vănxuôi h cấu bao gồm truyện ngắn và tiểu thuyết, thơ, kịch- một hệ thống cónguồn gốc từ phơng Tây để thay thế thể loại văn học truyền thống…So với quan Để những
hệ thống trên bén rễ, để những thể nghiệm trong sáng tác có đợc định hớng lâudài thì điều quan trọng là phải hình thành một quan niệm về thể loại cho ngờicầm bút và ngời tiếp nhận Lý luận phê bình Phạm Quỳnh đáng kể trong việc
đảm nhận vai trò lịch sử ấy” [66, 82]
Đỗ Lai Thỳy trong bài Đọc lại tạp chớ Nam Phong và Phạm Quỳnh,
đó chỳ ý làm rừ cụng lao to lớn của Phạm Quỳnh trong việc cổ đọng cho vănhọc quốc ngữ, nền quốc văn nước nhà, xõy dựng một nền văn húa Việt Namtrờn cơ sở kết hợp hài hũa nền văn chương học thuật, tư tưởng Đụng -Tõy
Trang 10Ông viết “Phạm Quỳnh đã là một trong những người đầu tiên cổ vũ và xâydựng nền quốc ngữ tư tưởng chính của Phạm Quỳnh là xây dựng một nềnvăn hóa Việt Nam không giống Tàu cũng không giống Tây, tuy có tiếp thutinh hoa cả hai” [63, 62].
2.4 Giới nghiên cứu hải ngoại
Con người và văn nghiệp của Ph¹m Quúnh được giới nghiên cứu hảingoại quan tâm và tìm hiểu Tác giả Âu Vĩnh Hiền đã quan tâm đến vấn đề
«ng “dùng chữ quốc ngữ làm nền tảng văn hóa nước nhà” [22, 2]
Tác giả Trịnh Vân Thanh trong cuốn Thành ngữ điển tích Danh nhân
từ điển đánh giá cao vai trò của Phạm Quỳnh trong văn hóa nước nhà “Trên
lĩnh vực văn hóa Phạm Quỳnh xứng đáng là một kiện tướng có đủ năng lựctài ba để điều khiển một cơ quan ngôn luận và có công rất lớn trong việc pháthuy những khả năng tiềm tàng của Việt ngữ và xây dựng nền móng vững chắccho quốc văn, bằng cách tô bồi với nhưng tinh hoa mà ông đã rút tỉa trongnhững tư tưởng và học thuật Âu - Tây” [22, 3]
Hai tác giả Lê Kim Ngân, Võ Thu Tịnh trong bài Văn học Việt Nam thế
kỉ XX đã quan t©m đến vấn đề chữ quốc ngữ do Phạm Quỳnh dày công vun
đắp Họ đã đánh giá “Phạm Quỳnh là người chiếm công đầu trong việc vunđắp chữ quốc ngữ Nhờ ông mà chữ quốc ngữ đã từ thời ấu trĩ bước sang giaiđoạn trưởng thành Cái công dịch thuật và khảo cứu của ông thật đáng nể.Nhờ đó mà các thanh niên tân học hiểu được nền cổ học phương Đông, cácngười cựu học thấy rõ nền Tây học để đi tới chỗ dung hợp mà xây dựngnền văn hóa nước nhà” [22, 4]
Những công trình nghiên cứu được chúng tôi điểm ra trên đây đã chứng
tỏ Phạm Quỳnh là người có đóng góp rất lớn cho nền văn học ViÖt Nam đầuthế kỷ XX Nhiều vấn đề ở ông cần được nghiên cứu thấu đáo và khoa họchơn Đề tài nghiên cứu của chúng tôi là sự tiếp tôc nghiªn cøu Phạm Quỳnh
Trang 11qua viÖc nghiªn cøu về văn chương truyền thống dân tộc, quan niệm về thơ,quan niệm về tiểu thuyết cña «ng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu đánh giá quan niệm văn chương của Phạm Quỳnh được
thể hiện trong Thượng Chi văn tập qua tìm hiểu về các phương diện: Phạm
Quỳnh đánh giá về văn chương truyền thống, quan niệm về thơ, quan niệm vềtiểu thuyết Từ đó thấy được những cách tân trong quan niệm văn chương củaPhạm Quỳnh và đóng góp của ông trong thời kỳ xây dựng nền văn chươngquốc ngữ đầu thế XX
3.2 Khái quát quan niệm văn chương Phạm Quỳnh (chú trọng các
phương diện: quan niệm về chức năng của văn chương, quan niệm về thể loại,
về văn tự, quan niệm về thơ, về tiểu thuyết)
3.3 Lý giải quan niệm đó từ truyền thống văn chương dân tộc, từ sự
tiếp thu của văn học phương Tây, từ quan điểm chính trị của tác giả
3.4 Đặt quan niệm đó vào đời sống lịch sử xã hội, đời sống văn
chương đương thời và từ quan điểm hiện nay để đánh giá quan niệm vănchương của Phạm Quỳnh
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi
Nghiên cứu tất cả những bài viết có liên quan đến quan niệm văn
chương trong Thượng Chi văn tập, Nxb Văn học (2006).
Trang 12Để thực hiện đề tài có hiệu quả chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp sau:
- Phương pháp khảo sát, hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Lần đầu tiên luận văn nghiên cứu về quan niệm văn chương của Phạm
Quỳnh trong Thượng Chi văn tập nhằm khẳng định đóng góp của ông đối với
nền văn học hiện đại đầu thế kỷ XX Kết quả của luận văn có thể làm tư liệutham khảo cho việc tìm hiểu những đãng góp của Phạm Quỳnh cho nền vănchương quốc ngử và báo chí đầu thế kỷ XX nói chung
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần tài liệu tham khảo nội dungchính của luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Phạm Quỳnh đánh giá về truyền thống văn chương dân tộcChương 2: Quan niệm của Phạm Quỳnh về thơ
Chương 3: Quan niệm của Phạm Quỳnh về tiểu thuyết
Trang 13Chương 1
PHẠM QUỲNH ĐÁNH GIÁ VỀ TRUYỀN THỐNG
VĂN CHƯƠNG DÂN TỘC
1.1 Đánh giá về chức năng văn chương
1.1.1 Khái niệm về chức năng văn chương
Nói đến chức năng văn học là nói đến những yêu cầu khách quan mà vănhọc có thể đáp ứng Nói đến chức năng văn chương là nói đến vai trò tác dungcủa văn học đối với đời sống văn học, giá trị của văn học đối với đời sốngtinh thần của con người Ý nghĩa xã hội của văn chương có thể hiểu dưới góc
độ triết học, chính trị, đạo đức, hoặc như một giá trị nhân sinh Có thể xemviệc rèn luyện phát triển những năng lực tình cảm của con người như một ýnghĩa xã hội quan trọng của văn chương Việc tuyên truyền chính trị, đạo đức,giáo dục là một ý nghĩa cơ bản của nó Cũng có thể hiểu nghệ thuật là mộthình thức lý tưởng có chức năng làm cân bằng đời sống tinh thần của conngười, đem lại cho con người những gì chưa đến, những gì đang ước ao,mong mỏi, hy vọng
Những năm gần đây trong giới nghiên cứu văn học nước ta cũng nhưtrên thế giới đã có nhiều ý kiến thảo luận về chức năng văn học Trong cuốn
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “chức năng của văn học là một khái
niệm nhiều mặt, có nội dung phong phú nên phải cã cái nhìn tổng hợp, đứngtrên nhiều góc độ bình diện khác nhau để xem xét Đó chính là cơ sở của quanniệm về tính chất nhiều chức năng của văn học và trong số những chức năng
ấy, được đặc biệt nhấn mạnh chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chứcnăng thẩm mỹ, chức năng giao tiếp, bởi vì văn học là tiếng lòng của conngười hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ” [21, 98]
Trang 14Trong cuốn Lý luận văn học, cỏc nhà nghiờn cứu cho rằng khỏi niệm
chức năng văn học là khỏi niệm rất rộng “khỏi niệm chức năng của văn nghệtrong nghĩa rộng bao gồm vấn đề giỏ trị xó hội của tỏc phẩm lẫn ý nghĩa củahoat động sang tạo nghệ thuật đối với chủ thể sỏng tỏc” [38, 165]
Ngay từ những mầm múng đầu tiờn nghệ thuật đó bao gồm nhõn tốnhận thức Văn học vốn dĩ phản ỏnh cuộc sống và con người, viết văn là mộthoạt động nhận thức của nhà văn về thế giới và về bản thõn mỡnh Tiếp nhậnvăn học là một cỏch tiếp thụ những nhận thức ấy Tỏc phẩm văn học cú thểcung cấp cho người đọc những hiểu biết phong phỳ về lịch sử, địa lý, về vănhúa, xó hội, phong tục, tập quỏn và quan trọng hơn là giỳp người độc khỏmphỏ những vấn đề của xó hội, những bớ ẩn trong đời sống tõm hồn của conngười Văn học là một hỡnh thức để tiếp cận chõn lớ Vỡ vậy văn học cú chứcnăng nhận thức
Sự phản ỏnh trong văn học bao giờ cũng cú khuynh hướng gắn liền vớimột chỗ đứng, một cỏch nhỡn, một thỏi độ đối với cỏc hiện tượng được mụ tả
Do vậy văn học cú tỏc dụng giỏo dục, cải tạo quan điểm tư tưởng đạo đức rất lớn Văn học giỏo dục con người như người bạn đồng hành đối thoại tõmtỡnh với bạn đọc, là một tấm gương để người đọc cú thể soi mỡnh vào đú
Sự thưởng thức văn học nghệ thuật là một hoạt động tự nguyện, chủyếu gắn với nhu cầu về cỏi đẹp, cỏi lý tưởng, sự hoàn thiện Văn học cú nhiệm
vụ thỏa món nhu cầu ấy thụng qua sự phản ỏnh quan hệ thẩm mỹ của conngười với hiện thực khỏch quan, bồi dưỡng cho con người năng lực sỏng tạo
và cảm thụ thẩm mỹ
Văn học cũng là một phương tiện giao tiếp Nhà văn sỏng tỏc là để đỏpứng đũi hỏi của bản thõn về giói bày chia sẻ, trao đổi đối thoại với ngườikhỏc Trong tỏc phẩm văn học, đối thoại hoặc độc thoại giữa cỏc nhõn vậthoặc giữa nhà văn với nhõn vật cũng nhằm thể hiện sự đối thoại của nhà vănvới người đọc
Trang 15Ngoài những chức năng cơ bản trên, hiện nay nhiều nhà lý luận văn họccòn nhắc đến một số chức năng khác như chức năng thông báo, chức nănggiải trí, chức năng kiến tạo Các chức năng của văn học không tách rời màgắn bó chặt chẽ với nhau Các chức năng đó luôn tác động qua lại trong mốiquan hệ nhân quả Tùy theo những điều kiện lịch sử cụ thể của sự phát triểnvăn học ở các thời đại và các dân tộc, các chức năng văn học cũng thay đổi.Điều đó đòi hỏi khi xem xét chức năng của văn học phải có quan điểm lịch sửđúng đắn.
1.1.2 Quan niệm truyền thống về chức năng văn chương
Trong truyền thống văn học Trung Quốc và văn học Việt Nam từ “vănhọc”, “văn chương”, “văn” chỉ một ph¹m vi rộng Từ “văn” được Khổng Tử
sử dụng chỉ văn hóa học vấn, học thuật rồi sau chỉ vẻ đẹp hình thức (vẻ đẹptrang sức và văn học theo nghĩa rộng ) Còn ở Việt Nam khái niệm
“văn”,“văn học”“văn chương” chỉ chung văn chương, học vấn, giáo dục, vănhóa Các tác giả Ngô Thì Nhậm, Lê Quí Đôn… hiểu văn có nghĩa rộng nhưvậy Đến đầu thế kỷ XX khái niệm văn chương vừa được hiểu theo truyềnthống trung đại đó, vừa theo nghĩa hẹp “văn chương là văn chương” TheoPhạm Quỳnh thời xưa khái niệm văn được tiên nho cho một cái nghĩa rấtrộng Cßn “văn” theo ông hiểu “là cái vẻ thiên nhiên ở trong người, tự nó xuấthiện ra lời nói câu viết, không phải học mà làm được người có chí khí có tưtưởng, có phẩm cách cao là những người có văn cả nếu dụng tâm làm văn,văn ấy mới thực là văn chương” [47, 251] Những người có nhân cách hơnngười có dụng tâm làm văn thì mới sáng tạo ra những áng văn chương có giátrị Quan niệm này không chỉ có ở “Đông nho” mà “Tây nho” cũng thế.Người phương Tây cũng lấy văn diễn đạt tư tưởng, người nào có tư tưởngmới làm được văn
Cùng thời với Phạm Quỳnh có Phan Kế Bính trong Việt Hán văn khảo
đã đưa ra một khái niệm về văn chương khá hấp dẫn “Văn là gì? Văn là vẻ
Trang 16đẹp Chương là gỡ? Chương là vẻ sỏng Lời của người ta rực rỡ búng bẫy, tựanhư cú vẻ đẹp vẻ sỏng cho nờn gọi là văn chương Người ta ai là khụng cútớnh tỡnh cú tư tưởng Đem cỏi tớnh tỡnh tư tưởng ấy diễn ra thành cõu núi, tả
ra thành đoạn văn, gọi là văn chương Vậy văn chương tức là một bức tranh
vẻ cỏi cảnh tượng của tạo húa cựng là tớnh tỡnh và tư tưởng của loài ngườibằng lời núi” [64, 167]
Quan tõm đến chức năng văn chương, Phạm Quỳnh đó làm rõ khỏi
niệm “văn là gỡ” ễng lý giải và dịch Văn thuyết, của Tống Cảnh Liờm Tỏc
giả đồng tỡnh với ý kiến của Tống Cảnh Liờm về chức năng giỏo húa của vănchương “Giảng minh được đạo lý mới gọi là văn, lập thành được giỏo húamới gọi là văn, cú thể giỳp được phong tục, húa được nhõn dõn mới gọi làvăn” [47, 252] Núi đến văn chương thỏnh hiền là núi đến giỏo dục đạo đức tưtưởng cho con người Phạm Quỳnh để ngời đọc biết quan niệm của ngời xa vềvăn chơng Họ đề cao vai trò văn chơng thánh hiền- thứ văn chơng đạo lý lậpthành giáo hoá, đề cao giáo dục đạo đức t tởng Phạm Quỳnh cho rằng văn ch-
ơng truyền thống dân tộc ta có tác dụng giáo dục con ngời và nhất là giáo dục
đàn bà con gái Trong bài Sự giỏo dục đàn bà con gỏi, ông cho rằng ngày xa
nho học giới nghiêm về đạo đức, các cụ dạy đàn bà con gái chỉ ở những tậptục, biết cư xử ở nhà, khi xuất giỏ, chứ khụng bao giờ mở mang trớ thức chođàn bà con gỏi như đàn ụng Thời nay theo ụng cần dạy cho đàn bà con gỏimới phải Vậy dạy cỏi gỡ mới được Đú là dạy văn chương mà trước hết là
phải dạy những ỏng thơ truyện cũ (Truyện Kiều, Cung oỏn ngâm, Nhị độ mai, Chinh phụ ngõm, Lục Võn Tiờn ) hợp tớnh cỏch người đàn bà ễng đỏnh giỏ cao giỏ trị của Truyện Kiều trong việc giỏo dục đàn bà con gỏi “Một nền kiệt tỏc như Truyện Kiều mà khộo diễn giải bằng luận, thuyết minh cho đàn bà con
gỏi nghe thỡ tưởng khụng kinh thỏnh, truyện hiền nào hay bằng, thiết tha mà
thõm trầm bằng Cỏc cụ ngày xưa vẫn giới nghiờm về Truyện Kiều khụng cho
con gỏi đọc sợ dõm loạn mất tớnh tỡnh Thiết tưởng cỏc cụ quỏ nghiờm như
Trang 17vậy là lầm Người ta thường núi đàn ụng thuần lý, đàn bà thuần tỡnh, thuần lý
để lấy lý mà phục, thuần tỡnh thỡ lấy tỡnh cảm mới được Truyện Kiều thực là
một kho tỡnh vụ hạn Mỗi cõu như mang nặng một gánh tương tư với đời, lại
là một cỏi gương tày liếp phản chiếu cho ta trong thấy cỏc hạng người trong
xó hội” [47, 40- 41]
Phạm Quỳnh quan tõm đến vấn đề nhận thức của văn chương ễng chorằng học văn chương thỏnh hiền giỳp con người ta mở mang được nhận thức,thõu thỏi được thế giới xung quanh mỡnh ễng nhấn mạnh “Thỏnh hiền dẫukhụng trong thấy được mà những lời đạo đức nhõn nghĩa ở sỏch, khụng những
là bắt chước cỏi văn chương mà bắt chước cả đức hạnh, khụng những biếttrọng tõm mà lại phải hiển chứng ra ngoài mỡnh Nhỏ thời làm văn vẻ cho mộtnhà, giỏo húa cho một làng, lớn thời làm sỏng sủa cho bốn phương, thấm thớacho nhõn dõn, điểm trang cho cõy cỏ khiến ai cũng phải sửa đức đổi nết, yờungười thõn và kớnh người tụn, rồi truyền bỏ ra sỏch vở, lưu truyền mói vụ cựngcũng may ra sỏng đợc đạo mà lập được giỏo, dục đợc tục mà hoá đợc dân” [47,255]
Vốn dĩ là một trớ thức được đào tạo trong trường Tõy nờn Phạm Quỳnh đó rất
chỳ ý đến việc bàn về mỹ học Trong bài Đẹp là gi? tỏc giả đó đi sõu vào giải
thớch, chứng minh bản chất của cỏi đẹp Từ đú nờu lờn định nghĩa về cỏi đẹp
“muốn định nghĩa cho vừa rõ ràng vừa đầy đủ thỡ phải giải sự đẹp là cỏi gỡsỏng sủa, trọn vẹn, văn vẻ điều hũa, diễn ra hỡnh thức, cảm đến giỏc quan, gợimối tưởng tượng, khơi nguồn tỡnh tứ khiến cho người ta cú cảm hoài, cú cảmhứng, được món ý xứng tỡnh, hài lũng khoỏi trớ” [47, 219] Theo ụng đấy mới
là cỏi đẹp chõn chớnh ễng chỉ ra người phương Đụng với người phương Tõycảm giỏc về sự đẹp khỏc nhau Người phương Tõy hiểu sự đẹp rộng hơn: hiệntượng gỡ trong trời đất, loại giống gỡ trong vạn vật, mắt trong thấy tai nghethấy, lũng tưởng đến mà hứng khởi là thuộc về cỏi đẹp Cũn người Đụngphương cỏch cảm sự đẹp cú ý miển cưỡng khụng tự nhiờn Trong văn chương
Trang 18truyền thống tư tưởng phải tuõn theo qui củ mới đẹp Cỏi đẹp cú mẫu sẵn vàđược định hỡnh trong khuụn khổ.
Văn chương khụng chỉ cú tỏc dụng giỏo dục mà giỳp cho con ngườihiểu được cỏi hay cỏi đẹp Cỏi đẹp đến trỡnh độ cao thỡ tự nú cú sức mạnh cảmhoỏ, điều hũa được phải trỏi Theo Phạm Quỳnh thỡ cỏi đẹp khụng chỉ thuộc
về cảm giỏc từng người mà thực ra cú quan hệ với cộng đồng người trong xó
hội ễng đỏnh giỏ cao cỏi đẹp trong Truyện Kiều Trong văn chương Nụm cú Truyện Kiều dự là người trớ thức, danh sĩ, giai nhõn, cho đến nụng phu dó phu
cũng đều cụng nhận hay Nhưng mỗi người cảm nhận hay một vẻ ễng cũngđỏnh giỏ cỏi nhỡn của người phương Đụng hoàn toàn khỏc người phương Tõy.Người phương Đụng cảm sự đẹp theo khuụn mẫu, cỏch hỡnh dung về sự đẹp
đó in hỡnh trong trớ nóo người ta “Cỏi đẹp của người phương Đụng thiờn về
diễm lệ mà thiếu về phần hựng trỏng” [47, 225] Văn chương nghệ thuật nhỡn
cỏi đẹp cú phần bú buộc, hẹp hũi Minh chứng cho nhận định của mỡnh về cỏi
đẹp của người phương Đụng, Phạm Quỳnh đó bỡnh luận bài thơ Qua đốo ngang “cũn bức tranh nào khộo vẻ bằng! Thực như một mónh sơn thủy ở cỏc
lọ sứ Tàu đem phả vào khỳc đàn hay vậy Lời chuốt như ngọc, giọng ờm như
ru Nào trời, nào nước, nào non, nào cõy cỏ, nào đỏ hoa, nào chim kờu, vượnhút, chẳng thiếu thứ gỡ, lại thờm chỳt tỡnh cảm động của kẻ tha hương, người
lữ thứ, một mỡnh đối với cảnh trời cao bể rộng Mà bấy nhiờu thứ chỉ trongkhoảng tỏm cõu, năm mươi sỏu chữ” [47, 51]
Văn chương khụng thể tỏch rời khỏi khả năng nhận thức của conngười Nhờ văn chương mà con người nhận thức được về mỡnh, và thế giớixung quanh và xó hội Theo Phạm Quỳnh một bộ phận văn chương khụng thểthiếu trong truyền thống văn chương dõn tộc là tục ngữ, ca dao Thể loại vănchương truyền khẩu này, cú tỏc dụng rất lớn đối với đời sống của nhõn dõnlao động ễng cho rằng văn chương truyền khẩu là kho tàng tri thức quantrọng về kinh nghiệm sống, về luõn lý, về thời tiết, về sản xuất
Trang 19Vậy Phạm Quỳnh đánh giá chức năng văn chương truyền thống bằng tưduy của lý luận văn học hiện đại Tuy chưa đi sâu vào từng chức năng cụ thểnhưng ông đã có những nhận định rất xác đáng về chức năng văn chươngtruyền thống và quan niệm trước ®©y về chức năng của văn chương.
1.2 Đánh giá về thể loại
Tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn của các yếu tố đề tài, chủ
đề, tư tưởng, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn Thể loại tác phẩm văn học
là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loạinội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm mộthình thức tồn tại chỉnh thể Khi đánh giá về thể loại văn học truyền thống,Phạm Quỳnh quan tâm đến những thể loại văn học truyền khẩu như tục ngữ,
ca dao, những thể loại văn học truyền thống như thơ Đường luật, văn tế,
TruyÖn Kiều
1.2.1 Thể loại văn chương truyền khẩu
Trong văn học dân gian Việt Nam, ca dao tục ngữ là phần phong phúnhất Tục ngữ ca dao là tài sản tinh thần chung của nhân dân lao động Đây làphần có giá trị nhất về mặt tình cảm, trí tuệ và nghệ thuật biểu hiện Do nộidung và và hình thức ngắn gọn, có vần, dÓ hiểu, dể nhớ nên nó luôn đượcnhân dân sử dụng và truyền miệng qua nhiều thế hệ Tục ngữ ca dao luônđược trao chuốt gìn giữ và vấn đề nghiên cứu tục ngữ ca dao diễn ra rất sớm.Ngay những năm đầu thế kỷ XX, Phạm Quỳnh đã quan tâm đến thể loại vănchương truyền khẩu này
Phạm Quỳnh muốn xây dựng nền văn chương quốc ngữ nước nhà, đãkêu gọi mọi người nhiệt thành với chữ quốc ngữ, với văn chương quốc ngữ.Ông nhận ra giá trị to lớn của văn chương truyền thống, nhất là bộ phận vănchương truyền khẩu “đương khi ta còn túy tâm về Hán học, đương khi nhữnghạng thượng lưu trong nước còn miệt mài về chữ nho nung kinh nấu sử, thời
Trang 20trong dõn gian những kẻ làm ruộng hỏi dõu, cựng là đàn bà con trẻ, núi vớinhau bằng gỡ, lấy gỡ mà dạy bảo khuyờn răn lẫn nhau, những mỏnh khúe ởđời, những điều kinh nghiệm về việc làm ăn, những khi nhớ hảo thươngthầm là những lời tục ngữ ca dao ta thường nghe thấy trong dõn gian” [47,890- 891] Đú là thứ văn chương truyền khẩu, mẹ dạy con từ lỳc bỳ mớm,chồng tõm sự với vợ lỳc đờm khuya, trai gỏi đối đỏp nhau vào những ngày hội
hố Văn chương dõn gian ấy tuy khụng cú sỏch biờn chộp nhưng rất phongphỳ dồi dào Nú bao hàm cả luõn lý, học thức, mĩ thuật, văn từ phổ thụngtrong dõn gian Trong bài diễn thuyết về tục ngữ ca dao Phạm Quỳnh chứnggiải cho mọi người hiểu vốn sống dồi dào, phong phỳ ở văn chương của ngờilao động được thể hiện bằng ngụn ngữ nụm na, nhưng chứa đựng một tinhthần riờng, làm nờn một kho tài liệu riờng cho nền quốc văn nước ta lỳc bấygiờ
Sau này trong cụng trỡnh nghiờn cứu Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan
đó cú nhận xột xỏc đỏng, thừa nhận cụng lao của Phạm Quỳnh trong bài Tục ngữ ca dao ễng viết “Những cõu tục ngữ, phương ngụn và ca dao ụng
(Phạm Quỳnh) lựa ra đều là những cõu rất đỳng khụng như trong quyển cadao khỏc, phần nhiều là đầu Ngụ mỡnh Sở, cõu bài nọ chắp vào bài kia ễnglại định nghĩa rất rừ thế nào là tục ngữ, thế nào là phương ngụn, thế nào là cadao” [45, 93]
Viết về tục ngữ ca dao, trước hết Phạm Quỳnh đưa ra định nghĩa về tụcngữ, ca dao, và phõn biệt tục ngữ với ca dao Tục ngữ một thể loại văn họcdõn gian gần với lời ăn tiếng núi của nhõn dõn lao động Nú gần với tiếng núihằng ngày cả về cấu tạo ngụn ngữ cả về chức năng Đõy là một trong nhữngthể loại ra đời sớm, được tớch lũy từ lõu đời và ngày càng phong phỳ, tạo nờnmột trong những đặc điểm nổi bật của ngụn ngữ Việt Nam là giàu hỡnh ảnh.Phạm Quỳnh định nghĩa “Tục ngữ hay là ngạn ngữ là những cõu núi thườnghoặc vỡ cỏi thể nú gọn ghẽ dể nhớ hoặc vỡ cỏi ý nú phổ thụng dể hiểu” [47,
Trang 21892] Ông còn giải thích cụ thể về chữ “tục” trong tục ngữ Người bìnhthường ít học, không có bóng bẩy chải chuèt nên gọi là tục chứ không phải làthô bỉ tục tằn Thượng Chi còn đưa ra khái niệm về phương ngôn “Phươngngôn là những câu tục ngữ riêng của từng địa phương, phương này thôngdụng mà phương kia ít dùng hoặc không biết” [47, 892] Tóm lại theo ông,tục ngữ là những câu truyền khẩu tự nhiên chỉ phong tục riêng của một nước.
Sau này trong cuốn Văn học dân gian ViÖt Nam do Đinh Gia Khánh (chủ
biên) định nghĩa “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn có ý nghĩa hàm súc do
nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ” [28, 244].
Vậy tục ngữ là thể loại văn học dân gian có chức năng chủ yếu là đúc rút kinhnghiệm, đúc rút tri thức, nêu lên những nhận xét dưới hình thức những câunói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh dể nhớ, dể truyền
Về vấn đề phân loại tục ngữ, ý kiến của Phạm Quỳnh đưa ra rất đángchú ý Theo tác giả muốn biên tập các tục ngữ, phương ngôn, không thể lấy ýnghĩa mà phân loại mà phải dùng quyển từ điển xếp theo vần Tây, nhưngkhông phải xếp theo vần chữ đầu mà phải xếp theo vần chính trong câu Câunào có hai ba chữ nghĩa quan trọng như nhau thì xếp hai ba vần thuộc chữ đó
Ví dụ như câu: “Cõng rắn cắn gà nhà”, thì xếp vào vần “rắn” và vần “gà”
Phạm Quỳnh còn quan tâm đến ý nghĩa của tục ngữ Tục ngữ thường
là những lời ví von, những cách nói lối, những câu răn dạy những giọng khenchê, toàn thuộc về thể nói lối Phạm Quỳnh giải thích cách nói lối là cách sắpđặt câu cho êm tai dễ đọc
Về kết cấu ông chỉ ra tục ngữ có ba cách thông dụng Cách thứ nhất
“thanh âm hưởng ứng” nghĩa là trong một câu có mấy tiếng đọc tương tựnhau Như:
Cả cây nây buồng Tay làm hàm nhai Nói ngọt lọt đến xương
Trang 22Cái khó bó cái khôn Sai một li đi một dặm
Thứ hai là cỏch “đối tự đối ý” nghĩa là trong cõu cú hai chữ hay hai ýđối nhau Như:
Giơ cao đỏnh khẽ Miệng núi chõn đi Bới lụng tỡm tỡm vết
Đục cây tra ngành
No nên bụt đói nên ma
Thứ ba là cỏch “hội ý suy loại” nghĩa là hoặc lấy ý hoặc suy nghĩ màđặt thành cõu Như:
Nước đổ lỏ khoai Chú cắn ỏo rỏch Quỷ cắn nhà ma Chết đuối đĩa đèn Há miệng chờ ho
Phạm Quỳnh cho rằng những cõu nào khụng thuộc cỏch thứ nhất, thứhai, thỡ ắt hẳn thuộc cỏch thứ ba Trong ba cỏch ấy thỡ cỏch “thanh õm hưởngứng” là thụng dụng nhất Phương ngụn tục ngữ là gương phản chiếu cỏi tư cỏchbỡnh thường của người dõn cho nờn nú ớt cú nghĩa lý sõu xa
Về đặc trưng của tục ngữ Phạm Quỳnh nhận thấy tục ngữ khụng chỉ làcỏi kho luõn lý mà cũn là kho tri thức ễng nhận xột vỡ nước ta là một nướcnụng nghiệp nờn người ta tớch lũy được nhiều vốn kinh nghiệm về sản xuất,
về thời tiết, về canh nụng, về phong tục tập quỏn Như:
Chớp đụng nhay nhỏy gà gỏy thỡ mưa Trăng quầng thỡ hạn, trăng tỏn thỡ mưa Trời nắng tốt dưa trời mưa tốt lỳa Giặc bờn Ngụ khụng bằng bà cụ bờn chồng
Trang 23Sau này nghiờn cứu về kết cấu tục ngữ tỏc giả Chu Xuõn Diờn cũng chorằng: phần lớn cỏc cõu tục đều cú hai vế Trong nhiều trường hợp quan hệgiữa hai vế đú phản ỏnh phương phỏp suy nghĩ bằng liờn tưởng và bằng tỷ dụcủa nhõn dõn.
Người sống đống vàng Người đẹp vỡ lụa lỳa tốt vỡ phõn.
Tục ngữ cổ truyền đa số hỡnh thành trong mụi trường nhõn dõn laođộng ở nụng thụn Vỡ vậy cỏc hỡnh tượng trong tục ngữ thường phản ỏnh vềmọi mặt hoạt động, sinh hoạt hằng ngày Tục ngữ núi chung được đỳc kết lạithành lời núi dể nhớ mang tớnh chất bền vững cả về mặt nội dung lẩn hỡnhthức
Phạm Quỳnh cũn phõn biệt giữa tục ngữ với ca dao ễng chỉ ra “mộtđàng là cõu núi, một đàng là cõu hỏt, hai đàng khụng thể lẫn được” Theo ụng
cú một số cõu:
Mấy đời bỏnh đỳc cú xương Mấy đời dỡ ghẻ mà thương con chồng.
hay:
Mồ cụi cha ăn cơm với cỏ
Mồ cụi mẹ liếm lỏ đầu đường.
cho là tục ngữ cũng được, mà cho là ca dao cũng khụng phải là khụng được.Chỗ giới hạn giữa hai thể ấy khụng được phõn minh Về sau Chu Xuõn Diờnphõn biệt “Tục ngữ và ca dao khỏc nhau ở chỗ, tục ngữ thiờn về lý trớ, ca daothiờn về tỡnh cảm Nhưng giữa hai thể loại đú khụng phải là khụng cú nhữngtrường hợp thõm nhập lẫn nhau Khi những cõu tục ngữ cú thờm yếu tố cảmxỳc thỡ tục ngữ đó tiếp cận ca dao” [28, 256] Tục ngữ thiờn về lý trớ, tục ngữcung cấp cho người nghe những triết lý dõn gian, những tri thức dõn gian.Cũn ca dao thiờn về tỡnh cảm cú nội dung trữ tỡnh dõn gian
Trang 24Ca dao là thể loại văn học dân gian, nhằm thể hiện cái hay cái đẹp vềcuộc sống của nhân dân lao động Ca dao giúp chúng ta có đời sống tinh thầnphong phú có lý tưởng, ước mơ xây dựng cuộc sống Phạm Quỳnh rất tâm đắcvới thể loại này Ông đưa ra định nghĩa “ca dao là những bài hát nhỏ từ haicâu trở lên, mà không bao giờ dài lắm, giọng điệu tự nhiên cũng do truyềnkhẩu mà thành ra phổ thông trong dân gian thường hát Ca dao là những bài
quốc phong trong Kinh thi thường là những bài ngâm vịnh về công việc nhà
quê hay là lời con trai con gái hát với nhau” [47,894] Phạm Quỳnh thừa nhận
cách chế tác của ca dao và chia ra ba thể: phú, tỷ, hứng Theo lời Chu Tử trong bản chú thích Kinh thi, phú là kể rõ tên nói rõ việc, tỷ là lấy vật này ví với một vật khác Hứng là mượn một vật để dẫn một việc mà việc ấy thường
ở câu dưới Ông kể ra một số câu này và cho là thể phú:
Ai ơi chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm Ngày thì cắp sách đi rong Tối về lại giữ đèn chông một mình.
Thể phú thường nói thẳng vào việc không quanh co.
Còn thể tỷ ông điểm ra mấy câu sau này và cho rằng từ đầu chí cuối
đều là lời ví, mà ý thì ở ngoài lời:
Tò vò mà nuôi con nhện Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti.
Nhện ơi nhện hỡi mày đi đường nào.
Thể hứng được xem là thể thông dụng nhất trong ca dao Người ta thấy
rất nhiều bài thuộc về thể này như:
Quả cau nho nhỏ Cái vỏ vân vân Nay anh học gần Mai anh học xa
Trang 25Anh lấy em từ thủa mười ba
Đến năm mười tám em đà năm con
Ra đường thiếp hãy còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
Phạm Quỳnh chỉ ra đặc ®iÓm của ca dao: ngắn từ hai câu, bốn câu, dàimười lăm hai mươi câu Ca dao thường có giọng điệu tự nhiên, thanh thoát.Nhỏ từ trẻ con chăn trâu ngoài đồng, lớn đến bà già ẳm cháu ngồi trong võng,trai gái giao duyên, đối đáp khi gieo mạ, tát nước, khi gánh củi hái dâu Ôngnhấn mạnh ca dao cũng giống như tục ngữ nhiều như rừng không sao nói hếtđược Từ ca dao than thân trách phận, ca dao tình nghĩa vợ chồng đến ca daochỉ phong tục tập quán, ca dao gia tộc, những bài đồng dao Ông đã liệt kê rahàng loạt bài để mọi người tiện việc tìm hiểu
Bài bàn về Tục ngữ ca dao là một bài diễn thuyết vừa biên tập vừa bình
luận nhưng cũng là một bài viết có tư duy phân tích sâu sắc về thể loại vănchương truyền khẩu của dân tộc
1.2.2 VÒ thÓ lo¹i v¨n häc viÕt cæ truyÒn
Văn học trung đại Việt Nam có lịch sử mêi thế kỷ, có vị trí quan trọngtrong lịch sử văn học và mang ý nghĩa lớn lao đối với đời sống tinh thần củangười Việt Nam Đầu thế kỷ XX, khi nền văn học nước nhà chuyển mình từthi pháp văn học trung đại sang thi pháp văn học hiện đại, nhiều nhà nghiªncứu đã tìm về truyền thống văn chương dân tộc để khám phá những tinh hoa
có thể làm nền tảng cho công cuộc hiện đại hóa sau này Trong đó phải kể đếnhọc giả Phạm Quỳnh một trí thức do Pháp đào tạo và sử dụng Phạm Quỳnhviết về mảng văn chương truyền thống dân tộc để khám phá những giá trị vănhọc đích thực mà cha ông để lại Ông quan tâm đến nhiều thể loại như: thơ
Đường luật, văn tế, Truyện Kiều
Về thơ §ường luật Phạm Quỳnh đã đánh giá cao giá trị thơ ca của cácbậc tiền bối:
Trang 26Vẩn vơ tơ vương hồn Đại Việt Thanh tao thộp lột giọng Hàn Thuyờn
Đến với văn chương truyền thống là tỡm về cội nguồn dõn tộc, tỡm vềhồn thiờng nước Việt Giọng Hàn Thuyờn, hồn Đại Việt là lũng hy vọng củatất cả chỳng ta Phạm Quỳnh cho rằng từ xưa tới giờ chưa ai đem cỏi giọngHàn Thuyờn ra diễn cỏi hồn Đại Việt “Bởi thế nờn ngay nay được đọc, đượcngõm những mảnh thơ nụm của cỏc bậc tiền bối cũn sút lại đến giờ trong lũng
cú cỏi cảm vụ hạn Tưởng như hồn xưa của đất Việt cũn phảng phất đõu ởtrong mảnh thơ tàn văn vụn mà vẳng đến tai ta những giọng vui sầu của ngườithủa trước” [47, 47]
Thơ là thể loại ra đời sớm và cú sức sống mónh liệt trong thời kỳ dàicủa lịch sử dõn tộc Thơ Việt Nam theo Phạm Quỳnh, thơ Nụm là hỡnh ảnhhội tụ của đất nước và con người Việt Nam Tỡnh cảm là yếu tố chớnh trongthơ Khi bàn luận về thơ Nụm, Phạm Quỳnh nhấn mạnh “tiếng khúc, giọngcười” Thơ là cỏc cung bậc của cảm xỳc “Cựng một tiếng khúc một giọngcười mà sao giọng cười tiếng khúc bằng cỏi lời họ Hàn kia nú cảm ta như thế!
Là bởi trời sinh ta để núi cỏi tiếng ấy, trời sinh ra cỏi tiếng ấy để ta núi, ta cúnúi bằng tiếng ấy mới núi được lòng ta, núi bằng tiếng khỏc là núi bằngnhững chuyện khụng đõu cả Trong trời đất chỉ cú tiếng núi ấy với ta, ta vớitiếng núi ấy là sẵn cú duyờn nợ với nhau vậy” [47, 47]
Phạm Quỳnh rất hoan nghờnh cuốn Cổ xỳy nguyờn õm của Nguyễn
Đụng Chõu ễng cho rằng Đụng Chõu muốn “đỏnh trống thổi sỏo” đún rướcnhững bậc con chỏu Hàn Thuyờn, đó biết nối nghiệp tổ tiờn mà ngõm vịnhbằng nguyờn õm của nước nhà Phạm Quỳnh giới thiệu cỏch chia ra bảy mụccủa ụng Đụng Chõu: thi, phỳ, kinh, nghĩa, văn sỏch, ca từ, văn thủ, đối liễn
Phạm Quỳnh rất tõm đắc việc ụng Nguyễn Đụng Chõu cho xuất bản cuốn Cổ xỳy nguyờn õm “hiện nay mới in được một tập thứ nhất về mục thơ Ta ao ước
cỏc mục khỏc sẽ kế tiếp mà xuất bản cho mau thành một kho tài liệu về văn
Trang 27học nước nhà và chứng tỏ cho thiờn hạ biết rằng tiền nhõn ta cũng cú lưu tõmđến quốc õm chứ khụng phải khụng” [47, 48] Phạm Quỳnh nhận thấy thơtruyền thống của dõn tộc hết sức phong phỳ và phõn chia thành: thơ Đườngluật, thủ vĩ ngõm, thơ tứ tuyệt, thơ yết hậu, thơ trường thiờn Thịnh thànhhơn cả vẫn là lối Đường luật Thơ Đường luật là thể thơ cú bố cục chặt chẽ:
đề, thực, luận, kết, bằng, trắc nghiờm minh Trong phạm vi năm mươi sỏu chữphải chỉnh đốn, phải toỏt lờn được ngoại cảnh của tạo vật và nội cảnh của lũngngười ễng cho rằng thơ xưa theo quan niệm của người Tàu cú sự kết hợpgiữa “thi học” và “họa học” Thơ được vẽ bằng lời và õm thanh, vẽ là thơbằng hỡnh bằng màu sắc
Theo Phạm Quỳnh người làm thơ Đường luật đũi hỏi phải cú trớ tuệ cútrớ tưởng tượng kỳ diệu mới sỏng tỏc được những ỏng thơ tuyệt bỳt “Muốn vẽbức tranh thỡ con mắt phải nhỡn trong cảnh vật mà thu lấy cỏi hỡnh ảnh rồi mớitỡm cỏch truyền thần ra giấy lụa Muốn làm thơ cũng vậy đũi hỏi phải tưởngtượng ra cảnh hoặc là cảnh thiờn nhiờn hoặc cảnh trong tõm giới rồi dựngnhững õm hưởng thớch đỏng mà gọi mà kờu khiến người nghe cũng tưởngtượng ra thế Hai đàng cựng là vẽ cả, một đàng là vẻ bằng cỏch trực tiếp, mộtđàng vẻ cỏch giỏn tiếp nhưng đều muốn khờu gợi ra mối tư tưởng, tỡnh cảmtrong lũng trớ ta vậy” [47, 50] Trong sỏng tạo thơ cảm hứng là tiền đề khụngthể thiếu và trong thơ Đường luật cảm hứng càng quan trọng Cảm hứng biểu
lộ chiều sõu của tõm hồn, khơi dậy những trạng thỏi tỡnh cảm mónh liệt nhấtcủa con người
Văn tế là một thể loại của văn học trung đại, cú nhiều thành tựu đỏngchỳ ý Đõy là một thể loại văn học từng được sử dụng rất phổ biến trong xóhội xưa kia Văn tế “là bài văn đọc lỳc tế một người chết để kể tớnh nết, cụngđức của người ấy và tỏ lũng thương tiếc của mỡnh” [21, 13] Văn tế là thể loại
điển hình nhất cho cảm hứng cảm thơng cho nên có sự tơng thích với thời đại
đó Cùng là thể loại trữ tình nhng so với thơ, văn tế có u việt là dung lợng lớn
Trang 28“Văn tế cũng là thể loại cho phép đào sâu những tận cùng của cảm xúc suy ởng của cá thể để hòa nhập nó với giá trị của cộng đồng” [69, 177-178] Văn
t-tế là loại ít xuất hiện trên thi đàn đương thời nhng Phạm Quỳnh vẫn hớng ngòibút phê bình của mình vào thể loại này để khám phá những giá trị thẩm mỹ
Tỏc giả đó viết bài phờ bỡnh Tựa bài “tể tướng sỹ văn” của tiền quõn Nguyễn
Văn Thành Đõy là bài phờ bỡnh thuộc khuynh hướng phờ bỡnh cũ- khuynhhướng phờ bỡnh nhà nho, chịu ảnh hưởng quan điểm văn chương thời trungđại Phạm Quỳnh bỏm sỏt bài văn để nhận xột ý nghĩa của tỏc phẩm ThượngChi đỏnh giỏ bài văn tế của tiền quõn Nguyễn Văn Thành là một ỏng vănchương tuyệt bỳt Trong nhỡn nhận của ụng văn tế xưa nay cũng nhiều vàphần lớn là những bài “than dựm khúc mướn” chưa cú “bài nào hay bằng bàinày, cảm động lũng người bằng bài này Hay là vỡ lời văn trỏc luyện, hay là vỡcỏi khớ anh hựng, hay là vỡ ý tứ thõm trầm, hay là vỡ cảm tỡnh chan chứa trongtoàn thiờn” [47, 298] Phạm Quỳnh đó chỳ ý đến một số phương diện cụ thểnhư lời văn, chớ khớ, ý tứ, tỡnh cảm để đỏnh giỏ tài năng của người cầm bỳt làngười cú năng lực cảm thụ văn chương và nhận xột về từng phần cụ thể.Trước hết ông khen lời văn “hay về lời văn: lời lời đỏng ghi vào vàng đỏtruyền đến muụn đời, khi giúng giả như nhịp trống quõn, khi tơi bời như ngọn
cờ dưới nguyệt, khi mịt mự như cơn giú lốc thổi dấu kẻ tha hương, khi lập lũenhư đỏm lửa trời, khi hựng trỏng như tiếng gươm tuốt trong trận, khi lõm linhư tiếng vượn khúc trờn ngàn” [47, 298] ễng đó diễn tả được mọi cung bậccủa lời văn trong bài văn
ễng cho rằng “ý tứ thõm trầm, muốn biểu dương cụng nghiệp của kểquõn nhõn đó giỳp bản triều gõy dựng nờn cơ đồ vĩ đại” Người sống đó hếtphận truy tựng “chung nỗi õn ưu mà riờng phần lao khổ” kẻ chết cũng cũn hộđược “hoàng triều cho bể lặng sụng trong” Phạm Quỳnh thấy được cỏi haytrong cỏc cung bậc cảm xỳc của bài văn tế ễng đó dựng những lời bỡnh thậtđắc đạo khi thể hiện tỡnh cảm của mỡnh ễng cho rằng bài văn tế hay là vỡ
Trang 29tình cảm Đó là tình cảm của một võ tướng thương nhớ kẻ “tỳ hưu” đã cùngmình khi uống “chén rượu đầu ghềnh”, khi vung “tấm rìu trước gió”, mà naygặp hội thăng bình, xót vì nỗi người còn kẻ mất, thương xót ngậm ngùi màchạnh lòng nghĩ đến “cha già mẹ yếu vợ góa con côi” của những kẻ chẳngmay đã khuất
Ngoài việc đánh giá năng lực viết văn sử dụng từ ngữ, thể hiện cảmxúc, chí khí, ông còn khâm phục cái tâm trong sáng của Nguyễn Văn Thành.Ông cho rằng đọc bài văn tế “đủ biết tâm địa của một ông tướng giỏi nướcNam ta” Nguyễn Văn Thành thương quân sĩ như thương con nên mới sángtạo ra một bài văn tế tuyệt tác như vậy
Theo Phạm Quỳnh bài văn tế đem đọc trước mặt ba quân thì khôngcòn cảnh tượng gì hùng tráng, cảm động bằng, người nghe ai cũng phải nấc
nở trong lòng, phải chứa chan giọt lệ Phạm Quỳnh đề cao ngôn ngữ, tư tưởngcủa bài văn tế “bài văn này về đường văn chương tư tưởng, có thể đem sánhcùng những bài văn tế rất hay của linh mục Bossuet nước Pháp hay là văn hàoHàn Dũ nước Tàu không sợ thua vậy” [47, 299] Qua việc bình bài văn tế,chúng ta nhận thấy rằng Phạm Quỳnh là một người rất thâm hiểu vốn vănchương truyền thống dân tộc Ông không những tiếp thu những tinh hoa củavăn học phương Tây mà còn khám phá những tinh hoa của văn học Việt Nam
Kiệt tác Truyện Kiều từ lúc ra đời đã thu hút các tầng lớp tiếp nhận từ
dân gian, nho sĩ phong kiến, vua quan đến các học gi¶, các nhà nghiên cứu.Vấn đề nghiên cứu phê bình tác phẩm này vẫn chưa bao giờ kết thúc Những
người nghiên cứu Truyện Kiều qua nhiều thời đại đã đem đến những sắc màu
khác nhau, những quan niệm khác nhau về nhân sinh và về nghệ thuật Đầuthế kỷ XX có những lí do để nhiều người cả “cựu học” và “tân học” tập trung
khai thác thể hiện chính kiến của mình về Truyện Kiều Phạm Quỳnh là một
trí thức Tây học lần đầu tiên ông đem phương pháp mới của phê bình văn họcphương Tây vào nghiên cứu một kiệt tác Ông từng viết “không thể lấy tỉ lệ
Trang 30thường của văn chương Nôm để xem xét được, cho nên phải dùng phép phêbình khảo cứu của văn học Thái Tây mới mong phát biểu được cái đặc sắcbày tỏ được các giá trị của một tuyệt tác trong quốc văn Việt Nam ta” [47,551]
Thượng Chi đã giới thiệu phương pháp ấy trong nghiên cứu phê bình
Truyện Kiều Trên cơ sở của phương pháp mới ông chia Truyện Kiều thành bèn mục: xét về cội rễ Truyện Kiều, lịch sử tác giả, tâm lí cô Kiều và văn chương Truyện Kiều Thực ra chủ ý của người phê bình là muốn thay đổi lối
bình phẩm cò về văn chương bằng một lối phê bình toàn diện và có hệ thốnghơn, để cho sản phẩm nghiên cứu phê bình được khách quan hơn PhạmQuỳnh chỉ ra đặc tính của phê bình phương Tây: phép phê bình của văn họcThái Tây thì muốn biết một văn sĩ có tài hay không nên xét xem những nhânvật miêu tả ra cái vẻ linh hoạt như người sống hiển nhiên không Phê bìnhđược nhận thức là một sự khám phá ra thế giới sinh động trong tác phẩm,mang tính chân thực trong nghệ thuật Phê bình theo phương pháp mới đòihỏi người phê bình phải có óc quan sát có cách đánh giá những sản phẩm
nghệ thuật của nhà văn Tác giả nghiên cứu Truyện Kiều bằng cách vừa vận
dụng lí thuyết vừa thực hành khảo sát từ nguồn gốc văn bản đến giá trị nộidung, hình thức và cả tiểu sử về Nguyễn Du Bài viết được trình bày theo mộttrình tự l«gic sau lời giới thiệu chung là các phần cụ thể
Ở phần giới thiệu chung Phạm Quỳnh đã ngợi ca đề cao Truyện Kiều Ông cho rằng ở nước ta không ai là không biết Truyện Kiều, không ai là
không thuộc ít câu Kiều và thương cho thân thế nàng Kiều hồng nhan bạc
mệnh Kiệt tác Truyện Kiều từ khi ra đời đến nay đã được nhiều tầng lớp đón nhận Đọc Truyện Kiều từ kẻ trí thức đến người làm lụng tầm thường, từ bậc
khuê môn đài các đến kẻ làm ruộng hái dâu không ai là không thích không
cảm động Ông so sánh Truyện Kiều với tiểu thuyết hay của Tàu và ngụ ngôn
của nước Pháp “văn chương Pháp có tập thơ ngụ ngôn của La Fontaine nhưng
Trang 31thuộc thể ngụ ngôn mîn giống vật để răn người đời, không phải là thể “tiểuthuyết” kể riêng về thân thế một người Văn chương Tàu có bộ Liêu Trai của
Bồ Tùng Linh nhưng toàn là những truyện yêu tinh quái đản, không đâu cóquyển sách nào vừa cao thượng đủ cảm người học thức vừa giản dị đủ cảm kẻ
bình thường như Truyện Kiều vậy” [47, 550-551] Phạm Quỳnh đánh giá sáng
tác của Nguyễn Du là sáng tác của bậc thiên tài
Sang phần Cội rễ Truyện Kiều, Phạm Quỳnh nhằm lược thuật về nội dung tác phẩm, đồng thời ông cũng chỉ ra Truyện Kiều có nguồn gốc từ tiểu
thuyết Trung Quốc Nguyên là một câu chuyện có thực, người Tàu đặt thànhtiểu thuyết, Nguyễn Du nhân đó mà đặt thành truyện Nôm Tác giả giới thiệukhá chi tiết: cuốn tiểu thuyết Tàu mà cụ Tiên Điền phỏng theo để đặt ra
Truyện Kiều là Thanh Tâm tài nhân lục không biết rõ tác giả là ai, soạn vào
đời nào, truyện tầm thường không có gì đặc sắc Tiểu thuyết ấy căn cứ vào sự
thực Ở phần này Phạm Quỳnh dịch kèm truyện Vương Thúy Kiều trong Ngu
sơ tân chí của Dư Hoài, kể về lai lịch nàng Kiều thuộc niên hiệu Gia Tĩnh đời
Minh để tham khảo Tác giả cho rằng, phải chăng thời đại ấy có người kü nữtên là Vương Thuý Kiều thật, thân thế nàng đã làm cảm thương người đờinhân đó thành truyện
Ở phần Lịch sử tác giả Phạm Quỳnh dựa vào Đại Nam liệt truyện
(chính biên) do sử quán Kinh Đô soạn dịch và giới thiệu về con người và sựnghiệp của Nguyễn Du Tính cách của Nguyễn Du cũng được nhắc đến, tínhtình khảng khái tự phụ mà bề ngoài thuần cẩn mỗi lần lên bệ kiến như sợ hãikhông nói lên lời Phạm Quỳnh đã khám phá ra những điều thầm kín củaNguyễn Du göi gắm vào trong tác phẩm: xem xét thì biết cụ có tính trầm uấtlàm quan thường không được đắc chí và trong sự kinh kịch có nhiều nỗi bấtbình:
Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Trang 32Theo Phạm Quỳnh muốn hiểu được nhân vật trong tác phẩm cần phảinắm vững tính cách và tâm lí của cuộc đời tác giả Sau này Nguyễn Lộc trong
cuốn Văn học Việt Nam nữa cuối thÕ kû XVIII đến hết thế kû XIX đã nghiên
cứu cụ thể về cuộc đời Nguyễn Du từ bản thân, đến gia đình, dòng họ, quêhương
Sang phần Văn chương Truyện Kiều, Phạm Quỳnh ngợi ca tài năng
sáng tạo của Nguyễn Du “văn chương hay là thứ nhất ở lời văn điêu luyện,thứ nhì ở ý tứ thâm trầm Có ý tứ hay mà lời văn không đạt thì ý tứ cũngkhông biểu lộ ra được, có lời văn đẹp mà không có ý tứ gì khác nào có xác
mà không có hồn” Xét trong Truyện Kiều có được cả hai cả lời văn điêu luyện cả ý tứ sâu xa Lời văn trong Truyện Kiều hay đến nỗi theo Phạm
Quỳnh không ai có tài nào đặt hơn được nữa Truyện Kiều có những đoạn tự
sự gãy gän, đích xác, những câu thơ chỉ gợi tình ý hàm súc Phạm Quỳnh tấm
t¾c “trong Truyện Kiều thật là đủ các lối văn chương mà lối nào cũng tới cực
điểm, mỗi lối một vẽ mà lối nào cũng là mười phân vẹn mười” [47, 588]
Phần cuối Tâm lí cô Kiều, Phạm Quỳnh đem so sánh sức sống của
nhân vật trong tiểu thuyết Thái Tây với nhân vật Kiều trong truyện củaNguyễn Du Thái Tây có những văn sĩ có tài là những tay sáng tạo ra cácnhân sinh tồn mãi mãi trong kí ức của người đời không bao giờ mai mộtđược Cụ NguyÔn Du đặt ra truyện Thúy Kiều qu¶ là một bËc sáng tạo vì cô
Kiều đã trở thành một nhân vật có một không hai ở nước ta Truyện Kiều là
một áng văn chương trác tuyệt Nhờ vào tài năng của Nguyễn Du mà mộtngười con hát vô danh bên Tàu ba bốn trăm năm về trước đã trở thành mộtcái gương phong tình tiết nghĩa cho cả nhân loại soi chung Theo PhạmQuỳnh tâm lí cô Kiều gói gọn trong bèn chữ: phong, tình, tiết, nghĩa NàngKiều là một con người đa sầu Thủa nhỏ mới học đàn đã gảy khúc “bạcmệnh”, khi đi chơi xuân thăm mộ lại sẵn mối thương tâm “trăm người nằmđấy biết sau thế nào”, nghe lời thầy tướng đoán mà tin ngay ở số đoạn
Trang 33trường Lúc nói chuyện với người tình Kiều cũng nghĩ xa nghĩ gần gẫynhững khúc buồn khiến người ngồi đấy cũng phải ngẩn ngơ lòng, thê lươngtrong dạ Tâm lí nhân vật được Phạm Quỳnh chú ý khai thác ở mặt nội tâm
“Kiều là người hay nghĩ hay buồn, lại là người khôn ngoan biết điều Kiều
là một người đa tình nhưng không đắm đuối vì tình, biết lấy nghĩa mà chếtình, thế là trúng với lí tưởng của đạo Nho” [47, 591]
Phạm Quỳnh cho rằng thiên tài Nguyễn Du đã sáng tạo ra nhân vậtsống như thật Ở nhân vật nàng Kiều có một đời sống nội tâm phong phú hội
tụ cả hai yếu tố Nho và Phật “tính cách là tính cách Nho mà tinh thần là tinhthần Phật Đó là một đặc sắc trong tâm lí cô Kiều” Dưới ngòi bút Nguyễn
Du, Kiều trở thành một biểu tượng của tấm lòng xót xa đau đớn Thông quanhân vật Kiều người đọc nhận biết về Nguyễn Du, một con người hiểu sâu vềnhân tình thế thái Xét trong phần lịch sử tác giả và phần tâm lí nhân vậtngười đọc chúng ta hiểu râ được nỗi lòng Nguyễn Du trong cảnh xã hộiphong kiến suy tàn Tác giả nhấn mạnh yếu tố tâm lí nhân vật Và đó có thểcoi là một phương diện chính của tác phẩm “điều sáng tạo mới mẻ củaNguyễn Du là biến nhân vật chính từ con người đạo lí thành con người tâmlí bằng cách đổi mới tư tưởng, đổi thay trọng tâm miêu tả nhân vật, đổi mới
điểm nhìn trần thuật Nguyễn Du đã sáng tạo lại Truyện Kiều, biến một tiểu
thuyết tài tử giai nhân thành một tiểu thuyết tâm lí Do sự ràng buộc của ýthức phong kiến còn nặng nề ý thức cá nhân chỉ mới được biểu hiện ở khíacạnh xót thân đau lòng Yếu tố đạo lí, nghÜa lí vẫn còn nguyên nhưng trọngtâm đã chuyển sang mặt tâm lí Nguyễn Du muốn cho thấy con người đạonghĩa ấy đã khổ đau như thế nào” [53, 120-121]
Bài phê bình Truyện Kiều (1919) của Phạm Quỳnh in trong Thượng Chi văn tập đã thể hiện rõ hiệu quả của lối phê bình mới của Nguyễn Du.
Quan điểm phê bình của ông tỏ ra khách quan thấu đáo Bài phê bình nàygiúp người đọc hình dung ra nhiều tri thức về một tác phẩm văn học cổ điển
Trang 34hơn là lối phê bình truyền thống Sau đó, n¨m năm 1924, Phạm Quỳnh viết
bài Kỷ niệm cụ Tiên Điền đọc trong lễ kỉ niệm Nguyễn Du, in trên báo Nam Phong, người ta nhận thấy tính chất mét chiều trong sự nhận định về một tác gia và tác phẩm văn học Vị trí của Truyện Kiều và Nguyễn Du được đẩy lên
đến thế cực điểm của đỉnh cao nghệ thuật và văn hóa, ngang hàng với vận
mệnh của dân tộc “Truyện Kiều còn tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn,
vậy còn gì mà lo, còn gì mà sợ nữa” Từ chổ sử dụng lối phê bình mới mang
tư duy phân tích của phương Tây Phạm Quỳnh đã chuyển sang hướng tán
dương sùng bái Truyện Kiều, cho nên không tránh khỏi những cực đoan phiến
diện Trên văn đàn bùng nổ mét cuộc bút chiến quyết liệt giữa Phạm Quỳnh
và các nhà nho yêu nước tiêu biểu là Ngô Đức Kế, Huúnh Thóc Kh¸ng Hainhà chí sĩ đã đứng trên vấn đề chính trị để phản đối Phạm Quỳnh nhưng đối
với Truyện Kiều có chỗ chưa được thỏa đáng.
1.3 Quan niệm về ngôn ngữ văn chương
Ngôn ngữ là chất liệu cơ bản của văn học Văn học được gọi là loạihình nghệ thuật ngôn từ, M.Goorki cho rằng “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất củavăn học” Ngôn ngữ nhân dân là cội nguồn của ngôn ngữ dân tộc Trong tácphẩm văn học ngôn ngữ được nhà văn chọn lọc rèn giũa để tạo nên phongcách cá nhân Những năm đầu thế kỉ XX nền văn học dân tộc đứng trướcnhững thử thách lớn Trên thi đàn người ta bàn luận sôi nổi về các vấn đềngôn ngữ Phạm Quỳnh là một trí thức Tây học, tuy ủng hộ phong trào cáchtân ngôn ngữ nhưng vẫn có chủ trương duy trì truyền thống văn chương trungđại Ông đánh giá cao ngôn ngữ văn chương của dân tộc Vì thế trong bài diễn
thuyết về Tục ngữ ca dao ông tự hào về ngôn ngữ của cha ông:
Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
1.3.1.Văn tự
Trang 35Phạm Quỳnh cũn chú ý về vấn đề văn tự Trớc hết ông chỉ ra nguồngốc của chữ Hán (chữ nho) Đó là thứ chữ của ngời Tàu “Nước ta học chữTàu trong hai nghìn năm và lấy chữ Tàu làm văn tự chung trong n ớc” ChữHán là văn tự chính thức và cũng là phơng tiện để nhân dân ta học tập và tiếpnhận những học thuyết lớn của phơng Đông nh Nho giáo, Phật giáo, t tởngLão -Trang Phạm Quỳnh cho biết chữ Hán là văn tự phổ biến tr ớc đây “Conkhóc cha cũng làm văn tế bằng chữ nho, chồng giận vợ cũng viết thơ từ bằngchữ nho, coi đó là chữ phổ thông, tức là văn tự độc nhất vô nhị của nớcmình” [47, 331].
Sau này, trong một công trình nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, Phạm
Đức Dơng đã nhận xét rằng “Trong các nớc Đông Nam á thì Việt Nam chịu
ảnh hởng Trung Hoa sâu sắc nhất Ngay từ đầu văn hoá Trung Hoa đợcchuyển tải qua hai con đờng, con đờng triều đình và con đờng di dân con đờngtriều đình là những thái thú thời Bắc thuộc nh Tích Quang, Nhâm Diên mang
đến Đó là những thiết chế nhà nớc, chữ Hán, sách nho học đủ các loại Hai làcon đờng di dân của những ngời Hoa sang cộng đồng ngời Việt mang theo cácnghề thủ công, tục lệ thờ cúng” [15, 262]
Văn học viết bằng chữ Nôm phát triển mạnh từ thế kỷ XV và đạt đỉnhcao ở cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XI X Chữ Nôm và văn học chữ Nôm ra
đời là kết quả phát triển của lịch sử văn học dân tộc Phạm Quỳnh cho rằngthời trung đại nhờ sử dụng chữ Nôm vào sáng tỏc nghệ thuật mà nhiều tác giả
đã để lại cho đời nhiều tác phẩm cú giỏ trị nh Truyện Kiều, Cung Oán ngâm, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên Trên cơ sở chữ Hán ngời người sáng tạo ra
chữ Nôm Phạm Quỳnh nhận xét “thông văn Nôm thì học chữ Hán cũng dễ,không bao lâu có thể đọc sách ngâm thơ đợc, ngâm những câu Đờng thi, bìnhnhững bài văn cổ hiểu được ý nghĩa” [47, 41]
Trong bài Chữ nho với văn quốc ngữ, Phạm Quỳnh cũng cho rằng nớc
mình có những giai đoạn lịch sử vẻ vang là nhờ nho học nhiều Nhiều ngờicho là nho học đã cũ nhng theo Phạm Quỳnh, cũ là về phần hình thức cònphần cốt cách tinh thần cái gốc đạo đức của nho học thì sống mãi muôn đời.Theo ông, nên bỏ phần hình thức còn cốt cách thỡ nên giữ lấy Nguồn gốc của
Trang 36quốc văn từ Hán văn mà ra, Phạm Quỳnh cho rằng chữ nho cần cho quốc vănhiện tại “ngày nay cần phải biết chữ nho, không phải học chữ nho để làm đợcthơ, phú, văn sách nh trớc Xa học chữ nho là vì chữ nho mà học Nay học chữnho là để đủ cần dùng, đủ hiểu hết một quyển Kim Vân Kiều hay một quyểnLục Vân Tiên mà thôi” [47, 338] Theo ụng tư tởng và văn tự phải tiến ngangnhau, tức là có t tởng thì phải có đủ chữ để mà nói, có chữ dùng mà khônghiểu nghĩa lí cũng không đợc Trong văn chơng truyền thống các bậc tiền bốilàm văn chơng bằng chữ nho, chỉ có một số ngời làm văn Nôm nhng văn Nôm
ấy cũng cha thoát li khỏi khuôn phép của văn chữ Các thể loại nh văn nghịluận, văn thuyết giảng cần sử dụng chữ nho để bàn bạc, thuyết giảng vấn đềmột cách khoa học cặn kẽ Phạm Quỳnh nhận định “ngày nay Hán học đã suynhng phải giữ lấy khuôn phép của Hán văn thì sau này quốc văn mới có căncốt Một nền văn chơng không thể một ngày một buổi mà thành đợc Ta họcchữ Hán trong mấy ngàn năm tinh thần chữ Hán đã tiêm nhiễm vào trong nóo
ta muốn gội rửa cũng không sao đợc” [47, 358] Văn chơng truyền thống củadân tộc sử dụng cả hai văn tự Hán và Nôm Đó là hai văn tự góp phần làmgiàu ngôn ngữ dân tộc
1.3.2 Đặc trng ngôn ngữ văn chơng
Ngôn ngữ là chất liệu cơ bản của văn học và là yếu tố quan trọng để thểhiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Văn chơng truyềnkhẩu là một kho ngôn ngữ phong phú của dân tộc Việt Phạm Quỳnh coi ngônngữ văn chơng là tâm hồn, tính cách trí tuệ của dân tộc Việt Nam Ông đề caongôn ngữ của tục ngữ ca dao, vì đó là vốn sống dồi dào nhất
Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đợc đúc kết dới hình thức tinhgiản mang nội dung súc tích Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dântrong việc nhận thức thế giới, xã hội, và con ngời Đồng thời tục ngữ biểu hiệnthái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với những vấn đề của cuộc sống.Tục ngữ thể hiện một phần quan trọng của t liệu khoa học dân gian và triết lýdân gian
Theo Phạm Quỳnh, tục ngữ sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày nên cô đọngsúc tích, phù hợp với ngời bình dân Ông liệt kê rất nhiều câu tục ngữ vàchứng minh rằng ngôn ngữ tục ngữ là mẫu mực về tính chính xác, và tính hìnhtợng Qua tục ngữ nhân dân phát huy đợc u điểm của tiếng Việt về mặt ngữ
âm, từ vựng, ngữ nghĩa để biểu hiện t tởng của mình
Trang 37Bên cạnh tục ngữ, Phạm Quỳnh đánh giá cao ca dao Ca dao đợc xem là
“kinh điển” cho các nhà làm văn “ngày nay ngời mình biết quý trọng quốc
âm, thời những tục ngữ ca dao chính là kinh điển cho các nhà làm văn” [47,914] Phạm Quỳnh đã liệt kê hàng loạt câu ca dao nói về phong tục, về đạo lí
vợ chồng về tình yêu nam nữ, về những thói h tật xấu và cho thấy ca dao cómột phạm vi rất rộng Bao nhiêu nhân tình thế thái đợc diễn ra bằng các câuhát, vừa êm ái vừa chua cay, vừa tự nhiên vừa thanh thoát, vừa đùa cợt vừachâm biếm:
Sự đời nghĩ cũng nực cời Một con cá lội mấy ngời buông câu
Ai ôi chớ vội cời nhau Ngắm mình cho rõ trớc sau rồi cời
Ca dao đã sử dụng ngôn ngữ dân tộc để biểu hiện một cách tinh tế vàsinh động về cuộc sống T tởng và tình cảm đơc tác giả dân gian diễn đạt rấtphong phú và đa dạng Phạm Quỳnh đã có nhận xét “Tiếng Việt Nam ta haylắm, là một thứ tiếng êm nh ru vui nh hát Vậy ta nên trân trọng lấy, nên tậpluyện trau dồi cho mỗi ngày một hay, một đẹp hơn Ta nên nhớ lấy những câu
ca dao của nớc nhà” [47, 936] Thông qua việc sáng tác ca dao nhân dân đã đangôn ngữ văn học đến trình độ cao, nhiều câu đạt đến trong sáng cổ điển
Ngoài đánh giá về ngôn ngữ của cỏc thể loại văn học truyền khẩu thì
Phạm Quỳnh đề cao của ngôn ngữ thơ Nôm, ngôn ngữ Truyện Kiều Trong
hoàn cảnh thuộc địa ngôn ngữ dân tộc ngày càng bị xáo trộn phức tạp, có hạicho sự phát triển của nền quốc văn, nhiều nhà văn đã lên tiếng đấu tranh đòiduy trì tiếng nói dân tộc, mở rộng việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc Trong bài
Thơ Baudelaire, Phạm Quỳnh cho rằng ngụn ngữ văn học dõn tộc cú một sức
sống bền vững trong lịch sử “như thơ Nụm ta thì õm điệu liền với tiếng ta.Muốn sửa lối thơ cũ phải dần dần tựy theo tiếng núi trong nước khụng thể mộtngày phỏ được cỏi khuụn đó dựng từ xưa đến nay ” [47, 163]
Trong bài viết Chữ Phỏp cú dựng làm quốc văn Việt Nam được khụng? Phạm Quỳnh quan niệm muốn hiểu về tõm hồn, đời sống của một dõn
tộc khụng gỡ bằng nghe những giọng hỏt cõu ca trong dõn gian Nay vỡ cú
Trang 38người nói tiếng nước khác hay hơn, người Việt Nam nên ru con bằng tiếngTây thì ai cũng cho người đó là người bÊt bình thường
Hầu hêt các nhà nghiên cứu đều khẳng định Nguyễn Du là bậc thầy củangôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn ngữ thời đại ông Phạm Quỳnh vào
thời điểm đó đã đề cao ngôn ngữ Truyện Kiều Ông có nhận xét xác đáng về văn chương Truyện Kiều thứ nhất là lời văn điêu luyện, thứ nhì là ở ý tứ thâm
trầm Nguyễn Du quả thật tài tình “lời văn luyện cho đến nổi tưởng không ai
có tài nào đặt hơn được nữa, trong một câu không thể nào dịch đi một chữ,đổi lại một tiếng, giọng hồn nhiên, lời lời trầm trọng như mang nặng mộtgánh tình tha thiết như kêu oan” [47, 577] Phạm Quỳnh thừa nhận Nguyễn
Du sử dụng ngôn ngữ một cách tài tình trong để miêu tả tiếng đàn bằng nhiềucung bậc khác nhau, lúc tình nồng nàn:
Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới sa nữa vời Tiếng khoan như gió thoảng qua Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa
Lúc hầu rượu Thúc Lang:
Bốn dây như khóc như than Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng
Lúc Từ Hải bị lừa chết, Hồ Tôn Hiến mở tiệc :
Một cung gió thảm mưa sầu Bốn d©y rỏ máu năm đầu ngón tay
Trang 39nhau Thúy Vân được miêu tả bằng hàng loạt từ: trang trọng, đầy đặn, nởnang, đoan trang đẹp về hình thức hơn là tinh thần Còn nàng Kiều thì sắcsảo mặn mà, tài sắc, thu thủy, xuân sơn đẹp kết hợp giữa tài và tình.Phạm Quỳnh còn thấy lối vẽ phá bút của Nguyễn Du, tức là chỉ một vàicâu, thậm chí dăm ba chữ mà phác hoạ một nhân cách con người, như việc
tả Mã Giám Sinh:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao
Phạm Quỳnh cho rằng Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ rất đa dạng
Ông nhận xét “trong Truyện Kiều thật đủ các lối văn chương mà lối nào
cũng tới cực điểm, mỗi lối một vẻ đúng là mười phân vẹn mười Tiếng Việt
Nam nhiều người chê là nghèo nàn, non nớt, thế mà Truyện Kiều là một
áng văn chương lão luyện, có thể sánh với những hạng kiệt tác trong vănchương khác ” [47, 588]
Đánh giá về ngôn ngữ Truyện Kiều của Phạm Quỳnh khá tinh tế và sâu sắc Sau này nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng “Truyện Kiều chỉ
kém Kinh thánh trong việc chinh phục lòng tin của độc giả” Còn Lê TríViễn nhận xét “trình độ lời thơ được phổ cập đến mọi người” Tác giả
Nguyễn Lộc đánh giá cao về ngôn ngữ Truyện Kiều Ông cho rằng Nguyễn
Du sử dụng ngôn ngữ rất đa dạng, cả từ thuần Việt lẫn từ Hán Việt, vậndụng cả ca dao, tục ngữ vào sáng tạo tác phẩm Phan Ngọc trong công trình
Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều đã nghiên cứu ngôn ngữ
ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ thiên nhiên Ông nhấn mạnh
“chúng tôi bàn đến ba phạm trù mỹ học mới mà Nguyễn Du đã làm xuấthiện Đó là phạm trù ngôn ngữ tác giả, phạm trù ngôn ngữ nhân vật và phạmtrù ngôn ngữ thiên nhiên Mọi phạm trù ngôn ngữ phong cách đều là nhữngkiểu lựa chọn” [40, 142]
Trang 40Tóm lại, Phạm Quỳnh là một trí thức Tây học nhưng vẫn đề cao vănchương truyền thống dân tộc Vì theo ông văn chương truyền thống là cả một
di sản quÝ giá là cơ sở vững chắc để hiện đại hóa văn chương quốc ngữ lúcbấy giờ Phạm Quỳnh hiểu khái niệm văn chương khác với cách hiểu củangười xưa và nhiều người cùng thời Nhờ cách hiểu đó mà ông đã khám pháđược các đặc trưng của văn chương truyền thống một cách khoa học Đối vớivăn học truyền khẩu, Phạm Quỳnh đề cao giá trị của tục ngữ, ca dao Đó làthứ văn chương dễ nhớ, giàu tình cảm của người bình dân Ngôn ngữ tục ngữ
ca dao được nhiều tác giả vận dụng vào sáng tác của văn học viết một cáchtinh tế, phong phú Về thơ Nôm, Phạm Quỳnh rất tâm đắc các nhà thơ lớn của
dân tộc và cho rằng nó là quốc túy của quốc văn Khi nghiên cứu về Truyện Kiều, ông đã vận dụng phương pháp phê bình mới của văn học phương Tây
vào để tìm hiểu những giá trị đặc sắc của nó Đánh giá về văn học truyềnthống cho thấy Phạm Quỳnh người có kiến thức rộng, và tôn trọng di sản văn
học dân tộc