1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng yêu nước của những người thân trong gia đình chủ tịch hồ chí minh

49 357 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 191,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh ra trên quê hơng giàu truyền thống lại đợc nuôi dỡng trong một gia đình nhohọc, nguồn gốc nông dân, từ cụ Nguyễn Sinh Nhậm, bà Hà Thị Hy ông nội, bà nội, cụ Hoàng Đờng, cụ Nguyễn Th

Trang 1

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy, cô giáo trong Khoa Lịch sử

- Trờng đại học Vinh

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Trần Văn Thức, đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Tác giả

Trang 2

A mở đầu

1.Lý do chọn đề tài:

Vĩ nhân bao giờ cũng có những nét thần kỳ, thần kỳ chứ không phải thần

bí, cho nên ta có thể hiểu đợc nguồn gốc của nó, tức là hiểu nó đợc hìnhthành trong điều kiện cụ thể nào?

Quê hơng Hồ Chí Minh là mảnh đất góp phần tạo nên nhiều biếnchuyển của dân tộc Cuối thế kỷ XIV Nghệ - Tĩnh là tâm điểm của nhiều biến

cố Dòng sông Lam lúc đục, lúc trong, lúc hiền hoà, lúc hung dữ nhng haibên bờ sông thơ mộng này thời nào cũng xuất hiện những anh hùng dân tộc:Mai Hắc Đế, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phạm HồngThái, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Minh Khai

Do vậy đây là vùng đất giàu truyền thống yêu nớc và cách mạng Sinh

ra trên quê hơng giàu truyền thống lại đợc nuôi dỡng trong một gia đình nhohọc, nguồn gốc nông dân, từ cụ Nguyễn Sinh Nhậm, bà Hà Thị Hy (ông nội,

bà nội), cụ Hoàng Đờng, cụ Nguyễn Thị Kép (ông ngoại, bà ngoại) đến ôngNguyễn Sinh Sắc, bà Hoàng Thị Loan, cô Nguyễn Thị Thanh, cậu NguyễnTất Đạt, cậu Nguyễn Tất Thành đều là những nông dân có học, hoà mình vớiquần chúng lao động cho nên những thành viên đó đã sống và đã hiểu mộtcách thực sự sâu sắc nỗi cực khổ, vất vả của nhân dân lao động

Truyền thống quê hơng, truyền thống gia đình là cơ sở hình thành t tởngthơng dân, yêu nớc và có những hoạt động cứu nớc

Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển t tởng yêu nớc nhữngngời thân trong gia đình chủ tịch Hồ Chí Minh là công việc có ý nghĩa đối vớinghiên cứu lịch sử dân tộc Qua đó thấy đợc những đóng góp to lớn tronghoạt động cứu nớc của những ngời thân trong gia đình Chủ tịch Hồ ChíMinh Đặc biệt do chịu ảnh hởng sâu sắc của quê hơng, gia đình Chủ tịch HồChí Minh với thiên tài trí tuệ và sự mẫm cảm với thời thế, Ngời đã có nhữngsáng tạo, vợt qua những hạn chế của lịch sử, đáp ứng kịp thời yêu cầu của dân tộc, của thời đại

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Quá trình hình thành

và phát triển t tởng yêu nớc của những ngời thân trong gia đình Chủ tịch

Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề:

Nghiên cứu về gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh về cuộc đời, sự nghiệp, ttởng của Ngời đã có không ít những công trình đề cập đến, trong đó có nhữngkhía cạnh có liên quan về những ngời thân trong gia đình, Chủ tịch Hồ Chí

Trang 3

Minh Trớc hết phải nói đến công trình: Những ngời thân trong gia đình Bác

Hồ - Trần Minh Siêu biên soạn, NXB Nghệ An, năm 2004, Hồ Chí Minh thờiniên thiếu - Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng, tỉnh uỷ Nghệ An NXB Nghệ

An - 2004, Hồ Chí Minh cuộc đời và sự nghiệp, Bá Ngọc – NXB Nghệ An.Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây 2003; Búp sen xanh - Sơn Tùng,NXB Kim Đồng, Hà Nội năm 1984; Quá trình hình thành t tởng yêu nớc của

Hồ Chí Minh, Đức Vợng - NXB Chính trị Quốc Gia - Hà Nội Ngoài ra córất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu về gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minhnh: “Gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh một gia đình văn hoá và yêu nớc” Báocáo khoa học của Trần Minh Siêu - Sở văn hoá thông tin Nghệ An “Những

đặc điểm nổi bật của gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh” Báo cáo khoa học củaTrần Minh Siêu - Khu du tích Kim Liên “Một gia đình văn hoá u tú bậc nhất

ở xã Kim Liên và của cả nớc”

Qua nghiên cứu tài liệu, tôi đợc biết cha có một đề tài nào đề cập mộtcách đầy đủ và khái quát về t tởng yêu nớc những ngời thân trong gia đìnhchủ tịch Hồ Chí Minh Vì vậy luận văn này, trên cơ sở tiếp thu những kết quảnghiên cứu của các tác giả nói trên, kết hợp với nhiều nguồn tài liệu bổ sungnhằm làm sáng tỏ nguồn gốc hình thành t tởng yêu nớc những ngời thân tronggia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang 4

3 Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài :

3.1.Đối tợng:

Đối tợng nghiên cứu của luận văn: Là những nhân tố tác động đến t ởng yêu nớc và t tởng yêu nớc của những ngời thân trong gia đình của Chủtịch Hồ Chí Minh

t-3.2.Phạm vi của đề tài:

Nghiên cứu về những hoạt động cứu nớc của những ngời thân trong gia

đình của Chủ tịch Hồ Chí Minh

4 Giả thiết khoa học:

-Thấy đợc những đóng góp về hoạt động cứu nớc của những ngời thântrong gia đình Bác

- Qua đó thấy đợc những cống hiến của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Ngời đãvợt qua những hạn chế của lịch sử, đáp ứng kịp thời yêu cầu của dân tộc, củathời đại

5 Cơ sở t liệu và ph ơng pháp nghiên cứu :

5.1.Cơ sở t liệu:

- Su tầm, nghiên cứu t liệu ở khu di tích Kim Liên

- Nghiên cứu các bài báo cáo, các bản đánh máy của các nhà nghiêncứu về Hồ Chí Minh

5.2.Phơng pháp nghiên cứu:

Sử dụng và kết hợp chặt chẽ phơng pháp lịch sử với phơng pháp logictrong quá trình lựa chọn, phân tích lý giải hệ thống t liệu và hình thành bốcục, các luận điểm khoa học của luận văn

6 Bố cục của khoá luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm ba chơng:

Chơng 1 : Những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển t

t-ởng yếu nớc của những ngời thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chơng 2: Quá trình hình thành và phát triển t tởng yêu nớc của những

ngời thân trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chơng 3: Từ tình thần yêu nớc của những ngời thân trong gia đình Hồ

Chí Minh đã tiếp thu và phát triển thành chủ nghĩa yêu nớc, tìm thấy con ờng cứu nớc đúng đắn cho dân tộc Việt Nam

Trang 6

đ-B Nội dung

Ch ơng 1

Những nhân tố tác động đến sự hình thành và pháttriển t tởng yêu nớc của những ngời thân

trong gia đình chủ tịch Hồ Chí Minh

Sự thành đạt của một con ngời bao giờ cũng gắn bó với nhiều nhân tố.Các nhân tố truyền thống của quá khứ, các nhân tố của đơng đại chính là cơ

sở, là nền tảng để tạo nên những điều kỳ diệu trong t tởng và sự nghiệp củamột vĩ nhân Các nhà t tởng Đông-Tây, Kim - Cổ tuy giá trị t tởng của họ vớidân tộc có thể khác nhau, ảnh hởng sâu rộng và với thời gian không tơng

đồng, song quá trình hình thành t tởng của họ khá giống nhau Đó là đều chịu

ảnh hởng khá lớn của quê hơng, dòng họ và gia đình

1.1.Quê h ơng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mảnh đấtgiàu truyền thống

Từ thành phố Vinh theo đờng hàng tỉnh số 49, qua làng Thái Lão, quaCầu Mợu ven chân núi Độc Lôi bớc vào địa phận Nam Đàn, đi 4 km nữa là

đến xã Kim Liên-Mảnh đất giàu truyền thống

Xã Kim Liên trớc đây gọi là Chung Cự thuộc Tổng Lâm Thịnh, HuyệnNam Đàn, tỉnh Nghệ An , có làng Kim Liên quê cha, làng Hoàng Trù quê mẹchủ tịch Hồ Chí Minh cùng với năm làng khác gọi là Ngọc Đình, Vân hội,Tình Lý, Cờng Ky, Khoa Cử Cả bảy làng này đều ở quanh núi Chung

Núi Chung, một thắng cảnh trong vùng, cũng là một di tích lịch sử trên

đó có đền thờ Nguyễn Đắc Đài, một tớng tài Nhà Trần, có công đánh giặcngoại xâm Năm 1885, khi thực dân Pháp đặt chân xâm lợc đến mảnh đấtthiêng liêng này, tú tài Vơng Thúc Mậu ngời làng Kim Liên đã lập “Độichung nghĩa binh” tại đây để chống giặc, bảo vệ quê hơng

Phía Tây Núi Chung có Hùng Sơn (rú Đụn) đồ sộ, từ xa đã đợc liệt vàohàng “Danh sơn mây khói tụ” [13] ở đó có thành Vạn An và đền Mai Hắc

Đế - Ngời đứng đầu phong trào quật khởi chống quân xâm lợc nhà Đờng năm

722 Phía Tây Nam là dãy Thiên Nhẫn trùng trùng điệp điệp nh “đàn ngựaruổi theo” [13] ở đó có thành Lục Niên, với ba ngọn Triều Khẩu, PhợngHoàng, Nghĩa Liệt đứng kề ngã ba Tam Chế của Sông Lam một thời đã làmchỗ đứng chân cho kỵ sở Hoan Châu ở đây có Thành Lam, nơi có kỳ tích

Trang 7

“Ăn cỗ đầu ngời” của Nguyễn Biểu - một danh thần thời Trần Trùng Quang,khi ông giáp mặt đối đầu với tớng giặc Minh là Trơng Phụ.

Phía Bắc có núi Đại Vạc, Đại Huệ, thế núi nguy nga, đẹp nh tranh vẽ ở

đây còn lu dấu vết thành quách Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thơng trong côngcuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập chống ngọn sóng xăm lăng của giặc minhxâm lợc

Phía dới Đại Huệ là dãy núi Đại Hải, giăng giăng nh bức tờng thànhchống chọi với phong ban biển cả Nơi đó có mộ tổ vua Quang Trung-Nguyễn Huệ ngời anh hùng áo vải Trong cuộc hành quân cấp tốc từ kinh đôPhú Xuân, tới đất Nghệ Tĩnh, ông đã dừng lại ở Phù Thạch và chỉ trong mấyngày đã lấy thêm đợc năm vạn quân làm cánh trung quân, rồi hành quân thầntốc ra Thăng Long giữa tết Kỷ Dậu (1789), đánh tan 29 vạn quân Thanh cứunguy cho đất nớc

Khi đại thắng trở về, Quang Trung lại chọn thế đất và lòng ngời Nghệtĩnh để xây dựng Đế Đô - tức Phợng Hoàng Trung Đô dới chân núi DũngQuyết thuộc thành phố Vinh ngày nay

Bên dòng sông Lam cách Kim Liên 4 km về phía Tây nơi xóm làng inxuống dòng sông trong xanh những tảng bóng êm đềm uyển chuyển là làng

Đan Nhiệm, nơi chôn rau cắt rốn của nhà chí sỹ Phan Bội Châu, ngời đã

gi-ơng cao lá cờ chống thực dân Pháp trong 20 năm đầu thế kỷ XX

Đứng trên núi Chung phóng tầm mắt ra xa, thấy đợc làng Thông Lạng,quê hơng Lê Hồng Phong; làng Xuân Nhu quê hơng Phạm Hồng Thái; Tùng

ảnh quê hơng Trần Phú; Đồng Thái quê hơng Phan Đình Phùng; thành phốVinh nơi sinh ra Nguyễn Thị Minh Khai và dới chân núi Hồng Lĩnh là quê h-

ơng của Nguyễn Công Trứ và đại thi hào Nguyễn Du

Đất nớc, núi sông quê hơng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn chặt với lịch

sử nớc nhà trong tất cả các thời đại

Xã Kim Liên cũng là mảnh đất có phong cảnh hữu tình, ca dao xa có câu:

“Nhất vui là cảnh quê mìnhKim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu”

Trang 8

Khí hậu, thổ nghi vùng quê hơng chủ tịch Hồ Chí Minh xa nay là nơikhông đợc thiên nhiên u đãi Đất đai cằn cỗi, nhiều nơi là đồng chua, khí hậukhắc nghiệt, ma gió thất thờng.

Hoàn cảnh thiên nhiên ấy không thể không ảnh hởng đến tính cách, tinhthần và cuộc sống của con ngời ở đây

Các thế hệ cha ông sống trên mảnh đất này đã tin vào khả năng củamình, chung lng đấu cật, đổ nhiều mồ hôi và máu, giành giật với thiên nhiêntừng củ khoai, hạt lúa

Thiên nhiên càng khắc nghiệt, tinh thần cải tạo thiên nhiên của con ngời

ở đây càng dẻo dai, bền bỉ đã góp phần tôi luyện con ngời thêm tinh thần,giàu nghị lực, có khi đạt tới mức phi thờng, nhiều lúc đã giúp họ d sức vợtqua những trở lực trong cuộc sống đã vơn tới tơng lai

Về sinh hoạt tinh thần, vùng quê hơng Bác có nét đậm đà bản sắc riêng.Nổi bật nhất là những đêm hát phờng vải Hát phờng vải là môi trờngthi trí thử tài của nam thanh nữ tú Nhờ những buổi sinh hoạt dân gian này màtrớc đây có nhiều ngời, đặc biệt là phụ nữ tuy không biết đọc song nói vềnghĩa lý của chữ thì họ lại thông hiểu, có khi đạt mức sâu sắc

Những đêm gió mát trăng thanh, điệu hát đò đa từ mặt nớc sông Lamvọng lên, hoà với tiếng hát dặm, hát phờng vải từ thôn xóm ven sông đã làmxao xuyến lòng ngời, đánh thức tình yêu của lứa đôi và gợi lên mối tìnhquyến luyến quê hơng xứ sở, bồi đắp cho con ngời vốn văn hoá dân gianphong phú, lạc quan yêu đời

Ngoài những buổi hát phờng vải, hát dặm, hát ví đò đa, tâm hồn ngờidân quê hơng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đợc nuôi dỡng bằng những chuyện

cổ tích, truyện truyền kỳ riêng của mình Những nhân vật nh Cố Bợ, ông

Đùng, ông Bát Ngạo Những chuyện cổ tích “ Bắn chín mặt trời”, truyện “Phá cây nớc trời”,… đã góp phần bồi trúc, làm cho con ngời ở đây có mộttâm hồn lãng mạn tích cực, bất chấp gian lao nguy hiểm và coi khinh nhữngcám dỗ vật chất tầm thờng

Kim Liên từ xa đã nổi tiếng là nơi có thuần phong mỹ tục, có truyềnthống khổ học và hiếu học Vì thế vùng này là một trong những cái nôi củacâu đối:

“Sớm khoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đổ cả nhà”

Trang 9

Phong trào học tập ở đây thờng thi đậu nhiều và đậu cao Mục đích hiếuhọc ở đây là làm ngời sống có văn hoá, để thơng dân, học để biết yêu nớc vàcứu nớc.

Trí thức vùng Nam Đàn nói riêng, Nghệ Tĩnh nói chung có cuộc sốngvật chất rất gần gũi với ngời lao động Do đó tâm t tình cảm của họ thờng hoànhập với tâm t tình cảm của nhân dân lao động ở đây

Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nam Đàn có bốn ngờigiỏi nổi tiếng đợc mệnh danh là “Tứ hổ” thì làng Kim Liên có tới 3 ngời Đó

là Vơng Thúc Quý, Trần Văn Lơng và Nguyễn Sinh Sắc, chỉ một mình PhanBội Châu ở làng Đan Nhiệm Đây là những ngời đều có lòng yêu nớc nồngnàn và những hoạt động cứu nớc sôi động

Chung Cự ngày xa, Kim Liên ngày nay là mảnh đất giàu truyền thốngnằm giữa trung tâm tỉnh Nghệ An Từ xa nhân dân đã nổi tiếng cần cù lao

động, hiếu học, anh dũng đánh giặc, giữ nớc và xây dựng quê hơng

Khi nhận xét về mảnh đất truyền thống này, Lê Duẩn đã nói: Trong nớc

ta hàng năm nay, Nghệ Tĩnh là nơi xây dựng cơ sở chống ngoại xâm giữ n ớcnhà Khi nào phía Bắc mất, ngời ta lại vào đây xây dựng lực lợng, xây dựngsức mạnh để giải phóng cả nớc Do cơ sở vị trí truyền thống đó mà chúng takhông thấy làm ngạc nhiên ở Nghệ Tĩnh đã sinh trởng những lãnh tụ vĩ đạicủa dân tộc Cái đó không phải tình cờ mà do lịch sử tự nhiên, lịch sử lâu đời,lịch sử xây dựng kiến thiết đất nớc đã hun đúc lại Nghệ Tĩnh, nhân dân anhhùng, cần cù lao động Có nhiều năng lực phi thờng [14,17-18]

Nh vậy, Nam Đàn nói chung và Kim Liên nói riêng là một vùng đấtgiàu truyền thống, nó đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng tác

động quá trình hình thành t tởng yêu nớc của những ngời thân trong gia đìnhChủ tịch Hồ Chí Minh

1.2 Dòng họ - gia đình

Theo gia phả họ Nguyễn Sinh ở Kim Liên, cách đây bốn trăm năm, ôngNguyễn Bá Phổ đến và khởi dựng ra dòng họ Nguyễn ở đây Đến thế hệ thứ t,Nguyễn Sinh Dân đổi tên lót Nguyễn Bá ra Nguyễn Sinh

Thế hệ thứ năm có Nguyễn Sinh Vật dự kỳ thi Hội năm Tân Mão (1651)

Thế hệ thứ sáu có Nguyễn Sinh Trí, năm 17 tuổi dự kỳ thi Hơng khoaQuý Sửu (1673) đậu hiệu sinh (tú tài) Năm 34 tuổi dự kỳ thi Hội khoa CanhNgọ nhng chỉ lọt đến Tam thờng

Trang 10

Thế hệ thứ tám ông Nguyễn Sinh Hải, lập chiến công to đợc vua LêCảnh Hng phong sắc khen thởng.

Ông nội Bác Hồ là Nguyễn Sinh Nhậm (tức Nguyễn Sinh Vợng) thuộcthế hệ thứ mời

Gia đình ông vào loại khá giả ở Làng Sen Ông lập gia đình sớm nhnghiếm con, khi sinh ngời con trai là Nguyễn Sinh Trợ (sau gọi là Nguyễn SinhThuyết) thì bà Nhậm mất Nuôi con đến tuổi trởng thành và lập gia đình riêngcho con thì ông tái hôn với bà Hà Thị Hy, một cô gái nhan sắc, thông minhtài hoa ở làng Mậu Tài (làng Sày) cũng thuộc xã Chung Cự

Bà Hy là con gái ông Hà Văn Cẩn, một ngời nổi tiếng về đàn hát, thuộcbậc trung lu Nhà ông thờng nuôi thầy dạy học cho con cái nhng ông lạikhông màng đến chuyện thi cử Bà Hà Thị Hy đợc cha rất mực yêu quý,truyền cho tất cả vốn hiểu biết của mình về sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật củaquê hơng xứ sở Bà Hà Thị Hy về làm bạn đời với ông Nguyễn Sinh Nhậm đ-

ợc ít lâu sau, cuối năm Nhâm Tuất (1863) sinh con trai, đặt tên là NguyễnSinh Sắc Cuộc sống của gia đình rất êm ấm Nguyễn Sinh Sắc mới ba tuổi thì

ông Nguyễn Sinh Nhậm qua đời, sau đó một năm bà Hà Thị Hy cũng tạ thế.Nguyễn Sinh Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ lúc bốn tuổi, phải ở với anh cùng chakhác mẹ là Nguyễn Sinh Trợ

Lớn lên Nguyễn Sinh Sắc phải lao động vất vả và không đợc học hành

nh bạn bè cùng lứa tuổi Bởi thế cậu rất khát khao học tập Những khi dắt trâu

ra đồng, ngang qua lớp học của thầy đồ Vơng Thúc Mậu, Nguyễn Sinh Sắcthờng buộc trâu vào gốc tre, mải mê đứng xem thầy giảng bài Hễ có thì giờrảnh, là tập viết

Tính siêng năng làm lụng và niềm say mê học hành của Nguyễn SinhSắc đợc bà con trong làng, ngoài xã khen ngợi

Ngày ấy, ở làng Chùa có thầy giáo Hoàng Xuân Đờng hay qua lại thămbạn là Vơng Thúc Mậu ở Làng Sen Vào dịp xuân Mậu Thìn (1878), trên đ-ờng qua Làng Sen thầy chợt thấy một cậu bé đang say sa đọc sách trên lngtrâu, trong khi các đám trẻ đang reo hò, chạy nhảy Sau khi hỏi tên tuổi và giacảnh cậu bé, thấy động lòng thơng và bỗng nảy sinh ý định xin Nguyễn SinhSắc về nuôi dạy Thầy đến gặp gia đình Nguyễn Sinh Trợ, bày tỏ ý định ấy.Anh Nguyễn Sinh Trợ không khỏi phân vân, lỡng lự về trách nhiệm của mìnhvới ngời em, nhng bởi cảm động trớc lòng nhân từ cao cả của thầy, cuối cùnganh đồng ý Từ đấy Nguyễn Sinh Sắc đợc gia đình thầy Hoàng Xuân Đờngnuôi cho ăn học

Trang 11

Vài năm sau, khi trình độ học vấn của Nguyễn Sinh Sắc đã khá, thầy ờng gửi cậu tới Làng Đông Chữ, xã Thịnh Trờng (nay là xã Nghi Trờng,huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ) để học hỏi với thầy Nguyễn Thúc Tự (cụSơn), một nhà nho nổi tiếng uyên bác và giàu lòng yếu nớc Nhờ chăm học,lại đợc thầy hết lòng dạy bảo.

Đ-Đối với Nguyễn Sinh Sắc, Làng Chùa là quê hơng thứ hai và cụ HoàngXuân Đờng là ngời cha đỡ đầu vô vàn kính yêu

Gia đình cụ Hoàng Đờng cũng vào hạng trung lu Cụ bà cùng với haingời con gái là Hoàng Thị Loan và Hoàng Thị An làm ruộng và dệt vải Ngôinhà gỗ năm gian, hai chái, lợp tranh Hai gian ngoài đợc dành làm nơi dạyhọc của cụ ông Do có lớp học trong nhà, cụ bà và hai con gái cũng biết ítnhiều chữ nghĩa

Theo gia phả họ Hoàng, chi nhánh ở Làng chùa có nguồn gốc ở làngHoàng Vân, Tổng Yên Lạc, huyện Kim Động, Phủ Khoái Châu, trấn sơnNam Thợng (nay là xã Hoàng Vân, Huyện Kim Thi, Tỉnh Hng Yên) Chính vìvậy mà trớc nhà thờ họ Hoàng (thuộc khu di tích Kim Liên) có câu đối:

“Hoàng Vân chính khí truyền thiên cổChung Cự hùng thanh chấn chấn ức niên”

(Đại ý là: Hoàng Vân khí tốt truyền từ nghìn xa lại, Chung Cự tiếnghùng vọng đến vạn năm sau) [21,35]

Dòng họ Hoàng xa có nhiều ngời học giỏi, đỗ đạt cao, làm quan to.Thân phụ cụ Hoàng Đờng là Hoàng Cơng (tự là Xuân Cẩn) đỗ tú tài (bakhoa) Cụ Hoàng Đờng cũng học rộng tuy chỉ trúng nhất trờng, nhng cụ đợcdân làng suy tôn là cụ Tú Đờng Cụ bà là con gái nhà nho Nguyễn Văn Giáp

ở làng Kẻ Sía (nay thuộc xã Hng Đạo, huyện Hng Nguyên) Cụ Giáp đi thibốn khoa đều đỗ tú tài Khi cụ đỗ tú tài lần thứ hai cũng là lúc vợ sinh con gái

đầu lòng, cho nên đặt tên con là Nguyễn Thị Kép

Cả hai gia đình, bên ngoại (họ Hoàng) và bên nội (họ Nguyễn) đều cótiếng là nhân từ “trọng nghĩa, khinh tài”, sống gần gũi với nhân dân lao động

Ba năm sau khi Nguyễn Sinh Sắc đã đến tuổi thành niên, cô Hoàng ThịLoan, con gái đầu lòng của cụ Đờng cũng đã lớn và ngày càng có cảm tìnhvới cậu con trai thông minh và tốt nết ấy Cụ Đờng quyết định chọn NguyễnSinh Sắc làm con rể của mình ý định này của cụ lúc đầu cha đợc cụ bàNguyễn Thị Kép đồng tình vì không môn đăng hộ đối Cụ phải kiên trì bànbạc, tìm mọi cách thuyết phục Cụ Nguyễn Văn Giáp là nhà nho tân tiến đã

Trang 12

ủng hộ ý định của con rể, khuyên con gái mình nên yêu thơng, đùm bọc lấyngời có tài, có đức gặp phải hoàn cảnh éo le.

Năm 1883, lễ thành hôn Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan đợc tổchức tại Làng Chùa

Bảy năm sau ngày cới cô Hoàng Thị Loan bấy giờ đã là mẹ của ba ngờicon: Nguyễn Thị Thanh (Tự là Bạch Liên) sinh năm 1884; Nguyễn SinhKhiêm (tự là Tất Đạt) sinh năm 1888; Nguyễn Sinh Cung (tự là Tất Thành)sinh ngày 19/5/1890

Cả hai gia đình bên nội Bác Hồ (họ Nguyễn) và bên ngoại Bác Hồ (họHoàng) đều là những ngời nông dân nghèo, do đó sớm hiểu đợc nổi cực khổ,vất vả của ngời lao động, sống hoà mình với quần chúng lao động Là nhữngngời nông dân lao động nhng cả hai gia đình nội và ngoại Bác Hồ đều lànhững ngời có trí thức, hiếu học, ham hiểu biết nên có những t tởng tân tiếnsớm tiếp xúc với văn thân, sỹ phu yêu nớc Vì thế sớm có lòng yêu nớc thơngdân sâu sắc Chính truyền thống của dòng họ-gia đình ở trên trở thành mộtnhân tố ảnh hởng rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển t tởng yêu nớccủa những thành viên trong gia đình Hồ Chí Minh

Ch ơng 2

quá trình hình thành và phát triển t tởng yêu nớc của

những ngời thân trong gia đình

chủ tịch Hồ Chí Minh

2.1.Những đặc điểm chung của gia đình Hồ Chí Minh

2.1.1.Gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh là một gia đình trí thức nghèo, nguồn gốc nông dân.

Từ cụ Nguyễn Sinh Nhậm, bà Hà Thị Hy (ông nội, bà nội), cụ Hoàng

Đờng, cụ Nguyễn Thị Kép (ông ngoại, bà ngoại) đến Nguyễn Sinh Sắc, HoàngThị Loan, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành đều lànhững ngời nông dân có học vấn sâu rộng nhng nghề sống chính vẫn là làmruộng Trong đó chỉ có ông Nguyễn Sinh Sắc đậu phó bảng thành trí thức, nh-

ng có cuộc sống thanh bạch, hoà mình với quần chúng lao động Cho nên

Trang 13

những thành viên đó đã sống và đã hiểu một cách thực sự sâu sắc nỗi cực khổ,vất vả của nhân dân lao động.

2.1.2.Gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm những ngời hiếu học và khổ học để tích luỹ cuộc sống:

Ông Nguyễn Sinh Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ từ sớm, lớn lên khát học

mà không đợc học Nhờ đức tính hiếu học và khổ học, đợc cụ Hoàng Đờng

th-ơng yêu giúp đỡ nên trở thành ông phó bảng - một học vị cao nhất ở làng KimLiên trong suốt 96 khoa thi Hơng và thi Hội

Bà Hoàng Thị Loan không theo học ở lớp chữ Hán nhng nhờ có đầu ócthông minh và hiếu học nên bà đã biết ít những chữ Hán và tiếp thu đợc nhữngnét tiêu biểu nền văn hoá truyền thống cả Vùng Nam Đàn nổi tiếng là hát ph-ờng vải Do đó tuy bà không biết chữ nhiều nhng khi nói về nghĩa lý của chữthì bà lại thông hiểu, có khi đạt tới sâu sắc

Gơng hiếu học và khổ học của ngời cha và ngời mẹ đã ảnh hởng nhiều

đến những ngời con

Nhờ hiếu học và khổ học mà Nguyễn Thị Thanh con gái đầu của ông bàNguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan tuy không đợc học chữ Hán chính quy ởtrờng nhng cô đã tự học, có đủ trình độ để nghiên cứu Hán học, đặc biệt là yhọc, tích luỹ cho mình một vốn sống y học dân tộc khá phong phú

Nhờ hiếu học và khổ học mà Nguyễn Tất Đạt giỏi chữ quốc ngữ, thôngthạo chữ Hán, biết chữ Pháp, có một vốn trí thức trong cuộc sống khá uyênbác đợc nhiều ngời kính nể

Chính nhờ hiếu học và khổ học nên trớc khi rời Tổ quốc, Nguyễn TấtThành đã biết tích luỹ cho mình một vốn văn hoá Phơng Đông cần thiết đểlàm cơ sở cho việc học tập, tiếp thu có chọn lọc văn hoá Phơng Tây, văn hoáthế giới

Phát huy truyền thống hiếu học, khổ học của gia đình trên hành trình đitìm đờng cứu nớc, năm 1914 đến Luân Đôn, chàng trai Paul Thành đã phải lao

động vất vả, nhận công việc xúc than dới hầm tối cho một chủ ngời Anh, nónghầm hập, cả ngày không thấy mặt trời, trên mặt đất nớc đóng băng với một

đồng lơng rẻ mạt để sống và để giành tiền đến học Tiếng Anh tại vờn hoaHuyĐơ

Khi chuyển sang làm phụ bếp tại khách sạn Cáctơ nổi tiếng ở phốHayMaKet (Luân Đôn), Nguyễn Tất Thành phải vừa rửa bát vừa viết chữ Anhlên cánh tay để học, nhng lại sẵn sàng từ chối sự giúp đỡ hào hiệp của vua đầubếp Excơfie truyền cho nghề làm bánh kem Vani nhân hạt đào ngon nổi tiếng

Trang 14

2.1.3 Gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh là những ngới có cuộc sống giản dị thanh bạch bằng kết quả lao động của chính mình và giàu lòng thơng ngời, biết sống hoà mình trong quần chúng lao động:

Khi nghiên cứu về cuộc đời của ông Nguyễn Sinh Sắc ta thấy rõ địa vịxã hội của ông đợc thay đổi từ thấp đến cao Nhng nhân sinh quan của ôngkhông hề thay đổi, trớc sau nh một: yêu nớc, thơng dân Từ chỗ ông là mộtchú bé mồ côi cha mẹ, khát học mà không đợc học, còn khi đợc học thì ông ýthức rằng: “Học nh u tất sỹ” (nghĩa là học giỏi thì hết khổ) [20,6] Nhng khi

đậu quan to thì ông khớc từ lễ rớc vinh quy, chia số tiền làng trình ăn mừngcho những ngời dân nghèo khổ

Khi buộc phải đi làm quan thì ông phủ định quan niệm phong kiến

“Dân thi dân chi phụ mẫu” (quan là cha mẹ của dân) [20,6] mà đã chua xótcông khai truyền ngôn trớc đám sinh viên trờng Quốc Tử Giám “ Quan trờngthi nô lệ trung chi nô lệ hựu nô lệ” (Quan trờng là nô lệ trong những ngời nô

lệ lại càng nô lệ hơn) [20,6]

Trong thực tế ông đã ra sức bênh vực quyền lợi cho nhân dân, ông đãmạnh dạn thả tù chính trị ở Bình Khê

Khi làm thầy thuốc cứu dân, những ngời nghèo đợc ông sẵn sàng giúp

đỡ và khuyên bảo cố gắng chữa khỏi bệnh, lấy lại sức khoẻ lao động để nuôisống gia đình Ông đã làm cho họ có một tình cảm gắn bó với lao động sảnxuất và một niềm tin tởng ở thành quả lao động của mình

Và những năm cuối đời, tuổi càng cao, lòng yêu nớc thơng dân của ôngcàng day dứt, nên hoạt động cứu nớc, cứu dân của ông càng nhân đôi, cho

đến khi trút hơi thở cuối cùng tại thị trấn Cao Lãnh - Đồng Tháp Ông vẫn giữtrọn đủ đợc một cuộc sống thanh bạch, có một nhân cách cao thợng, coi thờngvật chất tầm thờng, đợc mọi ngời ngỡng mộ, kính phục

Bà Hoàng Thị Loan sinh ra và trởng thành trong một gia đình nho học

có truyền thống, khi lớn lên là một cô gái nết na, thuỳ mị, chăm chỉ, siêngnăng… Khi đến tuổi trởng thành, theo quan niệm phong kiến lẽ ra bà sẽ lấymột ngời con nhà giàu có, đỗ đạt, hoặc làm quan có địa vị Nhng đợc cha h-ớng dẫn động viên, bà đã mạnh dạn đem lòng yêu thơng ông Nguyễn Sinh Sắclúc đó là một chàng trai nghèo, mồ côi cả cha lẫn mẹ, đợc gia đình mình nuôinấng cho ăn học Bà chấp nhận cuộc tình duyên này, tức là bà đã can đảmchấp nhận một cuộc sống vất vả, khó khăn về vật chất cho cả đời ngời củamình Bà đã sống một cuộc sống thanh bạch, đầy lòng nhân hậu

Trang 15

Đối với những ngời con của mình, ông Nguyễn Sinh Sắc, bà Hoàng ThịLoan luôn chú ý uốn nắn dạy dỗ, vun trồng cho những bài học và cách sống,

về đạo lý làm ngời Nhớ đó mà Nguyễn Thị thanh, Nguyễn Tất Đạt, NguyễnTất Thành tuy là con cái ông cử nhân, hơn nữa là con “quan phó bảng” nhngluôn có phong cách nhân dân, hoà mình trong nhân dân Hoàng Trù, Kim Liên,Nghệ Tĩnh, Thừa Thiên – Huế

2.1.4 Đặc điểm nổi bật quan trọng trong gia đình chủ tịch Hồ Chí

Minh đó là lòng thơng dân nâng lên thành t tởng yêu nớc, căm thù giặc, biết hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp cứu nớc.

Do chịu ảnh hởng của gia đình, của các phong trào cứu nớc nên tất cảnhững ngời con trong gia đình từ Nguyễn Thị Thanh đến Nguyễn Tất Đạt,Nguyễn Tất Thành ai cũng sớm có lòng thơng dân, yêu nớc, ai cũng sớm cólòng căm thù giặc cao độ và đã tham gia hoạt động cứu nớc sôi nổi, hy sinh cảcuộc đời sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân

2.2 T t ởng yêu n ớc của những ng ời thân Trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Nhờ tính hiếu học Nguyễn Sinh Sắc đã đợc nhà nho Hoàng Đờng quýmến và có cảm tình, nên đã nhận về nuôi cho ăn học Nhờ sự chăm sóc, dạy

dỗ của cụ Hoàng Đờng, đúng nh dự cảm của cụ, Nguyễn Sinh Sắc học tập tấntới rất nhanh Tiếng tăm học giỏi của Nguyễn Sinh Sắc đồn đại khắp vùng.Hồi đó Nguyễn Sinh Sắc ở làng Kim Liên có Nguyễn Đậu Tài học giỏi nổitiếng, đợc nhân dân suy tôn là “thần đồng” Cả vùng Chung Cự thờng truyềnnhau câu “Sắc tài ai kém ai đâu” [18,11]

Cụ Đờng thơng yêu Nguyễn Sinh Sắc nh con đẻ Sau hai năm, cảm thấytrình độ mình có hạn, cụ quyết định gửi Nguyễn Sinh Sắc đến làng đồng Chữ,xã Thịnh Trờng (nay là xã Nghi Trờng, huyện Nghi Lộc), cách Hoàng Trù trên

Trang 16

30 km để học với thầy đồ Nguyễn Thức Tự, ngời nổi tiếng uyên bác và cólòng yêu nớc.

Với t chất thông minh với lòng ham học say mê hiếm có và lòng tự tinmãnh liệt đã giúp cho cụ Nguyễn Sinh Sắc vợt lên trên bao khó khăn, ngay cảnhững lúc khó khăn nhất trong cuộc đời Đầu năm 1901 khi cụ đã gần 40 tuổi,

vợ mất, một tổn thất lớn về tình cảm, mất thăng bằng cuộc sống của ông Chacon ông không nguồn thu nhập, không kế sinh nhai, tất cả đều dựa vào cụNguyễn Thị Kép Nhng tuổi già sức yếu, con gái qua đời đột ngột làm cụ càngyếu thêm Vô cùng thơng tiếc ngời vợ hiền, tận tuỵ trọn đời vì sự nghiệp củamình, ông Sắc quyết tâm tiếp tục vào Kinh đô Huế dự thi Hội khoa Tân Sửu đểlập công đền đáp công ơn ngời vợ hiền

Đợc cụ Kép và bà con xóm làng khuyến khích, giúp đỡ tận tình, ông đãgửi các con lại quê nhà rồi kịp vào Kinh đô Huế dự thi Sau hơn hai mơi nămkhổ học, tu luyện văn chơng, kỳ thi Hội này ông đậu phó bảng (1901)

Một vị đại thần trong triều đình Huế phục tài học của ông Sắc đã làmcâu đối mừng:

“Độc quần đại đình văn sở trần vô phi bình trị quy mô, chân hảo đắc

Đông Quảng Xuyến chi học

Văn quân sinh nhật ngữ nhập nội tất dĩ ý thành tâm chính quả bất phụChu Khảo Đình sở ngôn”

(Dịch nghĩa: - Đọc văn đại đình khoa của anh điều trình bày khôngngoài quy mô bình trị, thật anh có đợc tài học nh Đông Quảng Xuyên

- Nghe lời anh nói hàng ngày thấy rõ ý thật lòng ngay, thật không phụlời nói của Chu Khảo Đình) [18, 138]

Cử nhân Vơng Thúc Quý thay mặt nhân dân Kim Liên viết bài trớngvăn trong đó có đoạn:

“Nguyễn hiền đài sau lần Hội chí, trở về quê Nghệ An, đem theo vợ condắt díu vào Nam Bản thân học Quốc Tử Giám, gia đình trọ chốn Kinh Đô.Ngày hai bữa cháo cơm đạm bạc, ăn chẳng bao nhiêu, mà học nghiệp ngàycàng ti tấn Ôi, gọi là “Phú” mà đất trắng không, xớng là “Kim” mà phậnnghèo lại túng Lại nữa, trời độ ngời thanh, mộng vàng chợt tỉnh: Xa giao cầmnâng gẫy mà lòng riêng chợt cảm, nay tuổi trung niên đã ôm mối tình chung.Gàn sức rã rời mà vẫn cứ ruổi rong Nhảy, bay đã rõ giống giao long! mới hay,duyên cớ đủ thì kiến ong tự đến, văn chơng hay lạ phải gợng làm văn

Vậy nên, lửa cháy nổ vang, phiến gỗ đồng thành cây đàn tiêu vĩ Đỉnhnúi thu ý chực vút xung thiên, nhành mai lạnh khai đầu hoa nở sơm Nhị giáp

Trang 17

cây trồng lần trớc, tam trờng rạng rỡ nghiệp xa Gọi mở lòng ngời về vận thế,văn chơng Thật đáng chúc mùng, đáng để chúc mừng Mà công lao của nhohọc đối với triều đình làng nớc cũng là ở đây, ở chỗ này đây.

Xin bày tỏ mấy lời thơ vụng, vui cùng ngời áo gấm vinh quy 139]

[22,138-Kể từ khi hoa thi Hội Tân Sửu (1901) những ngời đậu phó bảng bắt đầu

đợc hởng 2 đặc ân của chính bảng là đợc vua ban cờ, biển và cho hởng lễ vinhquy bái tổ Vì thế trong lễ xớng danh, ông Nguyễn Sinh Sắc đợc vua ThànhThái tặng biển “Ân tứ ninh gia” (ơn ban cho gia đình tốt) và cấp phơng tiện đ-

a về tận tỉnh lỵ Vinh, có cờ “ Phó bảng phát khoa”

Sau khi vinh quy về làng, ông Nguyễn Sinh Sắc cùng các con sống mộtcuộc sống thanh bạch, đầm ấm trong ngôi nhà năm gian do xã Chung Cự và

bà con hai họ Nguyễn Sinh, Hoàng Xuân làm cho

Triều đình Huế mời ông Sắc đi làm quan, nhng ông lấy lý do “bị bệnh

ở lại quê quán uống thuốc” để từ chối Ông viết lên xà nhà mấy chữ “Vật dĩquan gia, vi ngô phong dạng” (đừng lấy phong cảnh nhà quan làm phong cảnhnhà mình) để răn dạy con [18,21]

Ông sắc rất quan tâm đến việc học hành của con cái, ông cho con trai

đến học với cử nhân Vơng Thúc Quý (là con trai tú tài Vơng Thúc Mậu, lãnh

tụ cần vơng chống Pháp ở núi chung), bạn thân của ông và là một “Tứ hổ” củaNam Đàn

Sau khi đậu phó Bảng, ông Nguyễn Sinh Sắc có điều kiện đàm đạo thờicuộc với Phan Bội Châu và các sĩ phu yêu nớc trong vùng T tởng yêu nớc của

cụ phát triển mạnh và bắt đầu có những hoạt động cứu nớc Năm 1903 nhândân Võ Liệt, huyện Thanh Chơng, một vùng có truyền thống hiếu học và yêunớc, nghe tin ông Nguyễn Sinh Sắc là ngời có học vấn uyên bác, văn hay chữtốt, có đạo đức trong sáng, liền cử ông Phan Sĩ Mậu (còn gọi là ông Đồ Cẩm)xuống tận Kim Liên mời ông lên dạy học tại nhà ông Nguyễn Thế Vấn

Gần một năm dạy học ở đó, ông đã để lại hình ảnh đẹp của ngời thầygiáo, có ảnh hởng tốt trong học trò Có ngời kể rằng: Những đêm học trò đếnhỏi bài khuya quá không thể về nhà, đợc ông cho ngủ chung cùng giờng Ôngthờng khuyên học trò đã đi học thì phải chăm học, học để hiểu đạo lý làm ng-

ời, chứ không phải học để đi thi Nếu đi thi có đỗ cũng không nên làm quan vìquan là áp nức, bóc lột, đè nén dân

Ông không coi việc học trò thi cử đậu đạt cao, làm quan to là vinh hiển

Trang 18

của ngời thấy giáo Đây là điều khác biệt giữa thầy đồ nho Nguyễn Sinh Sắcvới các thầy đồ nho khác ở trong vùng.

Khoảng năm 1904, sau khi dạy học ở Thanh Chơng một năm ôngchuyển sang dạy học ở nhà Nguyễn Bá Uý thuộc làng Du Đồng, huyện đứcThọ Sau đó ông đi khắp các vùng trong tỉnh gặp các nhân sỹ yêu nớc Đếnlàng Đồng Thái, quê hơng của cụ Phan Đình Phùng; đến làng Trung Lễ, quêhơng của Lê Ninh; có vài lần ông đa Nguyễn Sinh Cung đến làng Trung Cần,quê hơng của Thám hoa Nguyễn Đức Giao; lên núi Thiên Nhẫn, thăm di tíchlịch sử thành Lục Niên, đại bản danh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đợc xây dựng

từ năm 1424 chống quân xâm lợc nhà Minh lên đỉnh núi Bùi Phong thăm miếuthờ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, một trí thức nổi tiếng thời Tây Sơn Có khi

ông ra đến tận huyện Diễn Châu thăm ông Võ Tất Đắc, một tri huyện ở ThanhHoá, cáo quan về làng Vạn Phần (nay là xã Diễn Bình), trớc là tơng tán quân

vụ trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp của cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn về ở tại

đây Ông lên xã Tràng Sơn, huyện Yên Thành, thăm con cháu Lê Doãn Nhã,một lãnh tụ chống Pháp, ra làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Có lần ông ra

đến tận huyện Kiến Xơng, tỉnh Thái Bình đàm đạo thời cuộc với các sỹ phu ởngoài Bắc, trong đó có ngời con trai lãnh tụ chống Pháp Nguyễn Quang Bích,

là cậu ấm Nguyễn Quang Đoan [ 18,23]

Những nơi ông đến là những nơi có phong trào đấu tranh chống Phápsôi nổi và anh dũng Những ngời ông kết giao đều là những ngời có lòng yêunớc, có chí cứu nớc Trong lúc đàm đạo thời cuộc với các nhà nho yêu nớc,

ông Nguyễn Sinh Sắc thờng phê phán lối học của các cụ đơng thời là “chidiệp, chi văn” (lối văn trên cành, trên lá), là không thiết thực Tại sao cuộcchiến đấu của phong trào khởi nghĩa Phan Đình Phùng, khởi nghĩa củaNguyễn Xuân ôn rất sôi động và oanh liệt, nhng kết cục không thắng lợi đợc

là đề tài các cụ thờng đàm luận, các cụ thờng bàn nhiều đến việc làm thế nào

để giải phóng đất nớc, làm sao cho dân khỏi khổ…

Những cuộc đàm luận này đã có ảnh hởng sâu sắc tới t tởng yêu nớccủa Nguyễn Sinh Cung, góp phần giúp cậu có nhiều suy nghĩ về con đờng sẽlựa chọn sau này

Trong gia đình, Nguyễn Sinh Cung là ngời đợc ông yêu thơng và đặtnhiều hy vọng nhất, đi đâu cũng thờng cho đi cùng, nhờ vậy mọi việc làm,mọi lời nói, mọi cử chỉ hàng ngày của ông đều đã tác động mạnh mẽ và ảnh h-ởng sâu sắc tới Cậu

Trang 19

Ông Nguyễn Sinh Sắc hết sức quan tâm đến vận mệnh của đất nớc,

nh-ng làm thế nào để cứu nớc thì ônh-ng vẫn cha xác định đợc Ônh-ng khônh-ng tin hoạt

động của những sỹ phu yêu nớc lúc đó là có thể thành công Tâm trạng này đãthể hiện trong câu đối mừng ngời bạn là Nguyễn Tài Tốn đậu cử nhân khoaBính Ngọ (1900)

Ngô bối do hoè vi cức viện tiến thân, hiện tại chỉ khán đàm Giáp ấtTiên công dĩ đại bút văn minh thế tái sinh bằng Phủ chí Canh Tân

(Dịch nghĩa: Bọn ta từ chốn trờng thi mà làm nên danh vọng, thế nhngbây giờ đây chỉ ngồi bàn thứ tự cao thấp mà thôi

Các bậc đời trớc lấy bút manh văn hùng thức tỉnh đời, ví bằng có sốnglại thì cũng khó làm nổi việc canh tân) [18,25]

Vì thế ông không hành động theo một tổ chức nào, kể cả phong trào

Đông Du của Phan Bội Châu, bạn chí thân của ông Đây là ngã ba rẽ lối giữaNguyễn Sinh Sắc và Phan Bội Châu Hai ông cùng chung t tởng yêu nớc vàmục đích cứu nớc, nhng làm thế nào để cứu nớc thì mỗi ngời suy nghĩ và hành

động theo một hớng

Lúc này triều đình Huế lại đa giấy về mời ông đi là quan Mẹ vợ mất rồi

và cũng hết thời gian chịu tang, không còn lý do từ chối, ông thấy thật khónghĩ Trong lúc cha biết ra sao, ông tạm chấp nhận việc đi làm quan Thờigian này thực dân Pháp đã đi sâu khai thác thuộc địa

Để thuận tiện chuyên chở của cải thu mua, vơ vét, tớc đoạt đợc ở Lào, ởNghệ Tĩnh chúng đã khẩn trơng làm đờng Vinh - Cửa Rào, nối liền đờng sắt

Hà Nội - Vinh Việc bị cỡng bức phải đi phu làm đờng Vinh - Cửa Rào - TrấnNinh, là một tai hoạ khủng khiếp đối với nhân dân Nghệ Tĩnh

Với nỗi niềm thơng dân vô hạn, trớc khi ra đi làm quan ông NguyễnSinh Sắc chỉ để lại một ít ruộng cho con gái là Nguyễn Thị Thanh ở nhà càybừa mà sinh sống, còn nữa ông đem bán lấy tiền giúp cho những ngời dântrong làng có ngời ruột thịt phải đi phu

Khi chuẩn bị lên đờng, có ngời bà con đến ngỏ ý xin đi theo để vừachăm sóc ông vừa nơng nhờ Ông thành thật chỉ bảo: “Anh ở nhà mà cày bừalàm ăn, tôi đi cha chắc đã làm quan, nếu có làm quan cha chắc đã làm quanlâu” [2,295]

Khi ông Sắc cùng 2 con trai đi Huế rồi, nhân dân trong làng Kim Liên,làng Hoàng Trù và cả xã Chung Cự nói với nhau: “Ngời ta đi làm quan để vinhthân, còn ông Phó Bảng đi làm quan để che thân” [18,27]

Trang 20

Trong triều đình Huế ông Nguyễn Sinh Sắc đợc bố trí làm thừa biện ở

bộ lễ, là một chức quan nhỏ Bằng thực tế cuộc sống trong đám quan tr ờng

đ-ơng nhiệm, bằng chính thực tế của bản thân mình đang phải chịu đựng, ôngchua xót nói với các giám sinh rằng: “Quan trờng thị nô lệ trung chi nô lệ, hựunô lệ” (Quan trờng là nô lệ trong đám ngời nô lệ, lại càng nô lệ hơn) [23,37]

Đó là thực chất cuộc sống quan trờng mà những ngời nh ông Sắc phảichịu đựng Ông Sắc đã thẳng thắn nói rõ Đây là kết quả của một quá trìnhnhận thức suy ngẫm, tổng kết T tởng tiến bộ của ông đã phát triển từ thấp lêncao, tất yếu sẽ đến chỗ đối kháng với chế độ phong kiến và thực dân đơngthời Chán ghét sự giả dối, đồi truỵ của đám quan trờng trong triều đình Huế

và chán ghét nhân tình thế thái lúc ấy, từ kinh đô ông đã gửi th về quê nhà chocháu Nguyễn Sinh Lý để khuyên răn con cháu giữ lấy nhân cách:

Không muốn để ông Sắc sống ở Huế, nơi có cơ quan đầu não của triều

đình nhà Nguyễn và bọn thực dân Pháp ở xứ Trung Kỳ, mặc dầu công việc tổchức thi Hơng ở Bình Định cha xong nhng ngày 11 tháng 4 năm Kỷ Dậu(29/5/1909) bộ Lại đã có văn bản trình lên Hội đồng nhà Vua và khâm sứTrung Kỳ bổ nhiệm ông Sắc chức Tri Phủ lĩnh nhiệm Tri huyện Bình Khê Hội

đồng nhà Vua và khâm sứ Trung Kỳ đã duyệt y

Huyện Bình Khê là một huyện nhỏ miền núi, nghèo nhất của tỉnh Bình

Định, nằm dới chân đèo An Khê, đợc thành lập năm 1888, huyện lỵ đóng ở

Đồng Phó ở đây từ lâu có một số ngời Pháp cấu kết với các giáo sĩ ở toàGiám mục Gò Thị (Phớc Sơn, Tuy Phớc) đến đây chiếm rừng, cớp đất, gâynên sự chống đối quyết liệt của nhân dân Trong phong trào đấu tranh chốngthuế vừa qua, Bình Khê là nơi có phong trào đấu tranh của nông dân mạnhnhất tỉnh Bình Định ở đây cũng là địa bàn hoạt động của nhiều toán cớp.Tình hình đó đã làm cho một số tri huyện tiền nhiệm mất chức, nhất là khi có

Trang 21

sự can thiệp của hai tên sỹ quan Pháp là Coutelle và Stager chỉ huy đồn ĐồngPhó Tháng 5 năm 1909 trong lúc ông Nguyễn Sinh Sắc đang chấm thi ở QuyNhơn, hai tên này lợi dụng sự tranh chấp đất đai giữa một số nông dân với lýtrởng Tuần đã làm cho tri huyện Phạm Lê Doãn bị xử phạt 40 roi, truất 6tháng lơng và ghi vào lý lịch, chuyển đi nơi khác.

Ngày 1 tháng 7 năm 1909 ông Sắc đến Bình Khê nhận chức tri huyện

Đến đây, ông Sắc ít khi có mặt ở huyện đờng, mà thờng đi thăm viếng dânchúng xung quanh huyện lỵ Đồng Phó Khi đi, ông không cho lính lệ theohầu Có lần ông bỏ huyện đờng đi chơi luôn mấy ngày, bị tên công sứ QuyNhơn quở trách

Các tù chính trị, nhất là những ngời bị bắt trong phong trào chống thuếnăm 1908, ông tìm cách thả ra, phu đài tạp dịch để trễ nãi, những vụ tranhchấp đất đai ít khi xét xử mà khuyên họ tìm cách tự hoà thuận giải quyết vớinhau, hoà hợp làm ăn mà sinh sống Ông thờng nói: “ nớc mất không lo, lo cáibờ” [18,32]

Ông Sắc cực kỳ ghét bọn cờng hào ác bá ở địa phơng, chúng dựa vàothế lực của ngời Pháp và bọn cha cố đạo Gia-tô để bức bách dân chúng Ôngkhông xét xử các vụ kiện cáo, tranh chấp của bọn này và đã bị bọn chúng tìmcách hãm hại

Theo hồ sơ của Sở mật thám Trung ơng thuộc Phủ toàn quyền Đông

D-ơng, tờ số A 37801, toà khâm sứ Trung Kỳ, thì ngày 17 tháng 1 năm 1910 ông

bị triều đình Huế bắt giam vì tội “lạm quyền dẫn tới cái chết của Tạ ĐứcQuang”

Tạ Đức Quang là một địa chủ cờng hào, ngời thân hai sỹ quan Pháp chỉhuy đồn Đồng Phó, làm đơn tố cáo dân chúng lên cơ quan huyện Bình Khê

Ông Sắc thụ lý đơn, nhng không xét xử ngay mà để lần lừa ngày tháng trôiqua, y làm đơn kiện thẳng lên tỉnh, ông Sắc nổi giận, bắt y lên huyện đờng

đánh roi, rồi tha về Hai tháng sau y ốm rồi chết Vợ y là Tần làm đơn kiện lêntriều đình Huế

Ngày 19 tháng 5 năm 1910 Hội đồng Nhiếp chính làm xong bản án

ông mang số140 Ngày 27 tháng 8 năm 1910 bản án số 140 đợc triều đìnhHuế duyệt y Ông bị kết án đánh 100 trợng, sau đổi thành giáng 4 cấp và bịtriệt hồi

Gần 1 tháng sau, ngày 23 tháng 9 năm 1910 bộ Hình có tờ trình lên Hội

đồng nhà Vua và khâm sứ Trung Kỳ rằng: “…Tuy xét ra không có t tính thùoán gì khác, nhng làm nh vậy thật là trái phép Viên tri huyện này là Nguyễn

Trang 22

Sinh Huy (tức Sắc), vốn nên chiếu luật (có trình bày rõ), phải phạt giáng 4 cấprồi chuyển đi xa Nhng lại xét Tạ Đức Quang bị đánh roi qua hơn 2 tháng sau

bị ốm chết chứ không phải bị đánh chết tức thì, tình có thể tha thứ Xin đội gia

ân, đổi làm giáng 4 cấp mà lu Truy thu 10 lạng bạc cấp cho gia nhân ngờichết lo việc chôn cất

… Lại xét viên tri huyện này mới ra làm quan, cha tờng dân chính, xincho bộ Lại tôi cải bổ kinh chức…” [22,147]

Nhng ông sắc không màng đến việc làm quan nữa, ông nói với một sốthân cận trong huyện đờng và bà con xung quanh: “Không làm quan nữa thì đ-

ợc làm dân” [2,298] Ra khỏi nhà tù, ông cảm thấy thong dong, không hề ớng bận điều gì, ông không trở về quê hơng Kim Liên, mà đi thẳng vào Nam.Việc đi vào Nam nghĩa là Cụ tự giải phóng mình, ly khai với chế độ phongkiến và thực dân xâm lợc, dấn thân vào con đờng đối lập với bọn thống trị

v-Trớc đó một thời gian, trên đờng dọc theo bờ biển, đi vào các tỉnh phíaNam, khi đến Quy Nhơn, Nguyễn Sinh Cung có lên Bình Khê thăm cha ÔngNguyễn Sinh Sắc liền hỏi con:

-Con đến đây làm gì?

-Con đến đây thăm cha

Nghe vậy, ông trìu mến nói với con:

-Nớc mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có ích gì?

[22,13]

Sau khi rời khỏi nhà tạm giam tại Huế, trên đờng vào Nam cụ có ghéqua Tuy Hoà, Nha Trang, Phan Thiết, cụ dừng chân mỗi nơi một thời gian,gặp gỡ các nhà yêu nớc và truyền bá chủ nghĩa yêu nớc trong quần chúng Cụlấy nghề lơng y theo lơng tâm “Thỉnh chẩn bát dung tù” và “Đầu thang phi thịngộ” [3,37] làm phơng tiện tạm sống và che mắt địch để gần gũi quần chúng

Đầu năm 1913, một sự kiện bất ngờ xảy ra trong đời sống của ông Sắc,

Lê Bá Cử nhận ông về làm cai phu đồn điền cao su Lộc Ninh, thuộc tỉnh ThủDầu Một (nay là tỉnh Sông Bé) Lúc này các nhà t sản Pháp đã bỏ ra khai thácvùng đất trù phú ở miền Đông Nam bộ, tạo ra những đồn điền cao su rộng lớn

nh những cánh rừng Đồng bào nghèo đói đợc chiêu mộ về đây làm phu Họ

đợc bố trí ở thành từng khu trong những dãy nhà lụp xụp, tối tăm Hàng ngày,

họ phải dậy từ 4 giờ sáng, lo cơm nớc xong để đến nơi làm việc trớc khi mặttrời lên, đến chiều tối mới đợc về Nếu chậm trễ thì bị đòn roi và phạt tiền L-

ơng không đủ sống, bệnh sốt rét hoành hành, thuốc men thiếu thốn, bọn th lạiquỷ quyệt cho họ tạm ứng lơng trớc, mà chúng biết là ngời phu không bao giờ

Trang 23

trả nổi Bọn chủ đã cột sinh mạng của ngời phu đồn điền vào gốc cây cao su.Hàng ngày, ông Sắc cùng với những ngời cai phu khác nhận lệnh của chủ đồn

điền cắt đặt cho phu làm, rồi đôn đốc, kiểm tra Ông Sắc đã đợc tận mắtchứng kiến cảnh cai phu hoạnh hoẹ, đánh đập phu để ăn tiền đút lót Còn bọnchủ đồn điền thu không biết bao nhiêu là lợi nhuận, sống giàu sang trên mồhôi, nớc mắt và cả xơng máu của ngời phu Thực tế phũ phàng đó làm cho ôngSắc càng đau lòng Sống ở đồn điền cao su Lộc Ninh cha đầy sáu tháng,không thể tiếp tục công việc đợc nữa, ông về Sài Gòn để nghe ngóng tin tức vềNguyễn Tất Thành Hàng ngày ông đi xem mạch, kê đơn chữa bệnh cho dân,

đến bữa ăn cơm vỉa hè quanh chợ Bến Thành với bà con lao động, tối đến vềngủ ở chùa Sắc Tứ Từ Ân hoặc chùa Linh Sơn và đọc sách nghiên cứu thêm về

đạo phật

Đầu năm 1914, ông Sắc theo Lơng Ngọc Quyến, con trai cụ cử nhân

L-ơng Văn Can bí mật đi sang Phnôm Pênh, thủ đô Camphuchia để đàm đạo thế

sự, tìm kế sách cứu nớc với các nhà nho yêu nớc, trong đó có cụ Lơng VănCan đang bị thực dân Pháp đày đi an trí ở đây ở nhà cụ Lơng Văn Can đợcvài hôm, để tránh sự theo dõi của mật thám, ông Sắc chuyển đến ở chùa SùngPhớc [18,38]

Cuối năm 1915, ông Sắc rời Phnôm Pênh về Sài Gòn, trớc tiên ông đếnhiệu giặt là của ông Ba Tiêu để tìm nghe tin tức mới về Nguyễn Tất Thành,nhng không có Ông lại đi khắp vùng Bà Điểm, Hóc Môn và vùng Bảy Núi ở

An Giang với nghề làm thuốc Với một tấm lòng thơng dân, yêu nớc, ông đã

đến với mọi nhà, từ những gia đình nghèo làm ruộng đến các điền chủ, quanlại yêu nớc chống Pháp Đến lúc này, dù tuổi đã cao, nhng ông Sắc vẫn cònham học, ông đã đọc thông, viết thạo chữ quốc ngữ, bằng cách tự học Ông bắt

đầu học chữ Pháp…

Đầu năm 1917, tình cờ ông Sắc gặp Lê Quang Hiển tại nhà Diệp VănCơng ở quận Gò Vấp, Sài Gòn Lê Quang Hiển (1872-1950) là điền chủ yêunớc, quê ở Cao Lãnh đã từng ủng hộ nhiều tiền của cho phong trào Đông Du,

đợc cấp bằng Đề đốc Lê Quang Hiển biết tiếng tăm Nguyễn Sinh Sắc từ ngày

ông Sắc làm thừa biện bộ Lễ ở Huế Lê Quang Hiển có nhã ý mời ông Sắc đếnthăm viếng quê hơng Cao Lãnh Đây là lần đầu tiên ông Sắc đặt chân đến CaoLãnh, một miền quê có truyền thống đấu tranh kiên cờng, anh dũng, có nhiềunhà yêu nớc nổi tiếng Về Cao Lãnh, ông Sắc đến thăm viếng miếu Trời Sanh,chùa Linh Sơn, chùa Kim Quang…giao lu, bàn bạc thời cuộc với các nhà yêu

Trang 24

nớc trong vùng nh Lê Chánh Đáng, Lu Quang Bật, Nguyễn Quang Diêu,….[18,40].

Nghe tin ông Sắc đang trú ngụ ở Cao Lãnh, cử nhân Võ Hoành, quê ởThanh Trì, Hà Đông, một yếu nhân của Đông Kinh Nghĩa Thục bị thực dânPháp đày an trí ở Sa Đéc, cùng tìm đến gặp gỡ, bàn bạc công việc cứu nớc

Năm 1923, ông Sắc ra Phan Thiết sau hơn mời năm xa cách

Thời gian ở Phan Thiết, ông Sắc bị ốm nặng phải vào điều trị tại bệnhviện, nằm số giờng 57N, cũng bị mật thám phát hiện Ngày 9/11/1923 chúng

đánh bức điện số 225 báo cáo với Khâm sứ Trung Kỳ biết trong thời gian điềutrị tại bệnh viện, ông Sắc vẫn thờng xuyên liên lạc với các cựu chính trị phạmtrong vụ nổ bom Hà Nội và các sỹ phu yêu nớc quê ở Nghệ Tĩnh bị thực dânPháp đày vào đây

Đặc biệt chúng đã nắm đợc một kế hoạch bí mật của ông Sắc là nếu raviện, ngày 9 tháng tới (tức là ngày 9/12/1923), ông sẽ có mặt tại Thủ Dầu Một

để chuẩn bị vợt biên Chúng xin khâm sứ Trung kỳ cho chỉ thị cụ thể nên bắtngay vào lúc vừa xuất phát hay chọn một thơì điểm thuận lợi để tóm gọn toàn bộ

Một ngày sau, ngày 10/11/1923 Khâm sứ Trung Kỳ đã đánh bức điện

Nguyễn Sinh Huy (tức Sắc) đã đến Sài Gòn chiều tối 29 tháng 11 năm

1923, ông đến nhà ngời thợ giặt ủi quần áo quê ở Bắc Kỳ tên là Bùi Văn Tiêu(tức Ba Tiêu) đờng Lagsaw Diere Nhà Ba Tiêu không có chỗ ngủ nên ôngHuy đến ngủ tại nhà ngời em trai của Ba Tiêu tên là cậu Tám cùng phố Sáng30/11, ông Huy ra đi không biết đi đâu và bao giờ trở về Chờ đến 16 giờ ông

ta cũng cha trở lại Theo Ba Tiêu ông ta tính ở lại Sài Gòn ít lâu

Chánh mật thám ARNOUXTại Sài Gòn dới lớp áo “Ông thầy Huế hốt thuốc Bắc” Cụ hoạt độngyêu nớc trong mọi giới đồng bào Cụ thờng xuyên gần gũi anh em thanh niên,nhất là những thanh niên có nhiệt tâm yêu nớc, đang hăm hở tìm đờng cứu n-

ớc Ông là niềm tin yêu thành kính, là nguồn động viên lớn đối với họ

Vào khoảng tháng 9 năm 1926, trớc khi rời Sài Gòn, bí mật sang QuảngChâu dự lớp Thanh niên cách mạng đồng chí hội, đồng chí Lê Mạnh Trinh

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bảo tàng Kim Liên: “Những điều hiểu biết tóm tắt về cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc” (1863-1929), Bản sao lại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều hiểu biết tóm tắt về cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
4. Đến thăm một chiến sỹ quốc tế CS Nguyễn ái Quốc ở Ô-men Den-Stan, tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” (LX) số 39 ngày 23 tháng 12 năm 1923. Bản đánh máy của khu di tích Kim Liên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngọn lửa nhỏ
1. Bác Hồ (Hồi ký) (1960), Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội Khác
2. Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh (1982) Danh nhân Nghệ Tĩnh, Tập II, NXB Nghệ Tĩnh Khác
5. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng thành uỷ-TP.Hồ Chí Minh: Tuổi trởng thành của Hồ Chỉ Tịch. Từ Huế đến Sài Gòn ra đi tìm đờng cứu nuớc (Bản sao lại) Khác
6. Trần Ngọc Giản (1985 ) vài suy nghĩ về tinh thần yêu nớc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi còn trẻ. Báo cáo khoa học Khác
7. Hồ sơ của mật thám Trung ơng, thuộc phủ toàn quyền Đông Dơng, tờ A – 3789 I Toà khâm sứ Trung Kỳ (bản dịch của khu di tích Kim liên) Khác
8. Hồ sơ của mật thám Trung ơng, thuộc phủ toàn quyền Đông Dơng, tờ A – 3760 –Toàn khâm sứ Trung Kỳ Khác
9. Hồ sơ của Toà khâm sứ Trung Kỳ theo theo dõi hoạt động yêu nớc của Nguyễn Thị Thanh, tờ số A –1166 J (bản đánh máy của khu di tích Kim Liên) Khác
10. Hồ sơ của Toà khâm sứ Trung Kỳ theo theo dõi hoạt động yêu nớc của Nguyễn Sinh Khiêm, tờ số A –37811 Khác
11. Hồ Chí Minh toàn tập : tập IV (1989) NXB Sự thật –Hà Nội Khác
12. Hồ chí Minh toàn tập : tập VIII (1989 0 NXB sự thật –Hà Nội. ) Khác
13. Bùi Dơng Lịch (1993) Nghệ an phong thổ ký – NXB KH XH Hà Nội Khác
14. Lịch sử đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, tỉnh Nghệ Tĩnh (1987) NXB Nghệ Tĩnh Khác
15. Bá Ngọc (2003) Hồ Chí Minh, Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Nghệ An- Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây Khác
16. Phan Bội Châu niên biểu (1957) –NXB Văn –Sử- Địa Khác
17- Thiếu Lăng Quân (1947) bạch Liên Nữ sĩ, Chị cả cụ Nguyễn ái Quốc, đăng trên báo Lên đàng (Bản đánh máy của khu di tích Kim Liên) Khác
18. Trần Minh Siêu (2004) Những ngời thân trong gia đình Bác hồ –NXB Nghệ An Khác
19. Trần Minh Siêu (1983) Sơ lợc tiểu sử cô Nguyễn Thị Thanh – bản đánh máy Khác
20. Trần Minh Siêu (1982) - Những đặc điểm nổi bật của gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh – Báo cáo khoa học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w