1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hình thành và phát triển giáo phận vinh từ thế kỷ XIX đến năm 2005

96 512 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 456,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đa ra những nhận định, đánhgiá về một số mặt tác động của đạo Thiên chúa đối với đất nớc ta trong hoàncảnh lúc bấy giờ.Tuy nhiên tác giả cha đi vào nghiên cứu lịch sử quá trìnhhì

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh - -

Trang 2

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nguồn t liệu, phơng pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận

văn 5

6 Bố cục luận văn 6

Chơng 1.

Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Nghệ An

- Hà Tĩnh - Quảng Bình trớc sự du nhập của đạo Thiên chúa.

1 1 Khái quát chung về Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng

1.2 Tình hình kinh tế xã hội Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình trớc sự

du nhập của đạo Thiên chúa 11

Chơng 2.

Quá trình hình thành và phát triển Giáo phận Vinh.

2.1 Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt

Trang 3

2.2.1 Sự du nhập đạo Thiên chúa và hình thành Giáo phận Vinh

Chơng 3.

Tác động của đạo Thiên chúa đối với Nghệ An

-Hà Tĩnh – Quảng Bình. Quảng Bình.

3.1 Đóng góp tích cực 71

3.1.1 Trên lĩnh vực văn

hóa 71

3.1.2 Hoạt động yêu nớc trong các cuộc kháng chiến chống

xâm lợc của dân tộc 75

3.1.3 Trên lĩnh vực phát triển kinh

tế 86

3.1.4 Công tác từ

thiện 91

Trang 4

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo với một vị trí địa lý đặcbiệt, nằm trên ngã t đờng của các nền văn hóa lớn của thế giới, do đó các tôn

Trang 5

giáo thế giới nh Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo trong suốt hơn 2000năm qua cứ kế tiếp nhau theo sóng của đại dơng và theo những ngọn gió củathảo nguyên mà xâm nhập rồi bén rễ vào hầu khắp các vùng trên đất nớc.Ngoài ra, ở Việt Nam còn có nhiều tôn giáo bản địa nh Cao Đài, HòaHảo càng làm cho tôn giáo ở Việt Nam đa dạng và phong phú.

Đạo Thiên chúa theo chân các giáo sỹ và thuyền buôn phơng Tâytruyền vào nớc ta từ thế kỷ XVI Tuy gặp rất nhiều khó khăn vì chính sách

"cấm đạo" của nhà Nguyễn nhng đạo Thiên chúa ngày càng phát triển nhanh

ở cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài

Vùng đất Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình là một trong những nơisớm đợc các giáo sỹ phơng Tây gieo " hạt giống tin mừng" Vì vậy, nghiêncứu qúa trình hình thành và phát triển Giáo phận Vinh sẽ góp phần làm sáng

tỏ thêm về quá trình hình thành và và phát triển của một trong những tôngiáo lớn ở nớc ta, đó là đạo Thiên chúa

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đồng bào giáo dân ở Việt Namnói chung và Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nói riêng đã có những đónggóp to lớn về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội đối với đất nớc Đã có nhữngcông trình nghiên cứu về Giáo phận Vinh nhng cha có một công trình nàonghiên cứu một cách hệ thống quá trình hình thành, các giai đoạn phát triển

và những tác động đối với Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Bởi vậy, cần cómột sự đánh giá đúng đắn đối với chức sắc và đồng bào giáo dân đạo Thiênchúa đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc

Nghiên cứu về quá trình thành lập, phát triển Giáo phận Vinh khôngnhững dựng lại bức tranh chân thực về lịch sử Giáo phận Vinh từ khi thànhlập cho đến ngày nay mà còn góp phần làm rõ hơn những tác động của tôngiáo này đối với mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của Nghệ An

- Hà Tĩnh - Quảng Bình Qua đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệmtrong quản lý Nhà nớc về tôn giáo nói chung và Thiên chúa giáo nói riêng

Đồng thời hiểu rõ hơn chủ trơng của Đảng và chính sách của Nhà nớc về vấn

đề tôn giáo, vấn đề đoàn kết dân tộc, từ đó đề xuất những giải pháp để thựchiện tốt chính sách tôn giáo và đoàn kết lơng giáo ở Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình

Trang 6

Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài" Quá trìnhhình thành, phát triển Giáo phận Vinh từ thế kỷ XIX đến năm 2005" làm đềtài luận văn thạc sỹ sử học cho mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Tôn giáo đang là một trong những vấn đề đợc nhiều ngành, nhiều cấpquan tâm Trong đó nghiên cứu về các giáo phận đang trở thành xu hớngquan tâm của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học lịch sử Cho đếnnay, cha có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu về quá trình hìnhthành, phát triển của Giáo phận Vinh với những tác động của nó đối vớiNghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình Những công trình đề cập đến những khíacạnh khác nhau liên quan đến đề tài cũng không nhiều

Cuốn " Giáo hội công giáo Việt Nam niên giám 2004 " trong phần III,chơng 26 có tóm lợc về ranh giới, dân số, các giáo xứ và giáo hạt trong Giáophận Vinh Gắn kết giáo phận Vinh trong dòng chảy của Giáo hội công giáoViệt Nam Tài liệu đã chỉ ra toàn cảnh dòng chảy của đạo Thiên chúa ở ViệtNam nhng cha nghiên cứu sâu về các giáo phận, trong đó có Giáo phậnVinh

Năm 2001, tác giả Nguyễn Văn Kiệm xuất bản cuốn "Sự du nhập củaThiên chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX" Đây là mộtcông trình nghiên cứu rất sâu sắc về Thiên chúa giáo Tác giả tập trung làm

rõ mối quan hệ giữa truyền giáo và thực dân của các giáo sỹ phơng Tây để từ

đó đi sâu vào lý giải các chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn trớc và trongquá trình thực dân Pháp xâm lợc nớc ta Tác giả đa ra những nhận định, đánhgiá về một số mặt tác động của đạo Thiên chúa đối với đất nớc ta trong hoàncảnh lúc bấy giờ.Tuy nhiên tác giả cha đi vào nghiên cứu lịch sử quá trìnhhình thành và phát triển các giáo phận của giáo hội công giáo

Cũng viết về đề tài tôn giáo nhng không tìm hiểu về lịch sử mà nghiêncứu về văn hóa, tác giả Hà Huy Tú với tác phẩm "Tìm hiểu nét đẹp văn hóaThiên chúa giáo"(xuất bản năm 2002) và Trơng Nh Vơng với cuốn "Tìm hiểuquan niệm đạo đức trong Kinh thánh" (xuất bản năm 2005) phân tích và chỉ

rõ những giá trị văn hóa của tôn giáo độc thần này cũng nh những tác động

to lớn của nó đối với đạo đức và lối sống của xã hội

Trang 7

Tìm hiểu về giáo phận Vinh không thể không nói đến những nghiêncứu của các linh mục, các chức sắc tôn giáo đã và đang hoạt động ở Giáophận Vinh, nh linh mục Trơng Bá Cần với "Lịch sử Giáo phận Vinh" nghiêncứu giáo phận từ khi ra đời đến năm 1996 Hay linh mục Cao Vĩnh Phan với

"Lịch sử giáo phận Vinh", "Đi tìm xứ đạo đầu tiên Giáo phận Vinh" Đây lànhững t liệu quan trọng về lịch sử hình thành giáo phận Trong những tácphẩm này, các tác giả tìm hiểu về quá trình truyền bá đạo Thiên chúa củagiáo sỹ Alexandre de Rhodes và các giáo sỹ thừa sai vào Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình Có thể nói đây là các công trình nghiên cứu có giá trị về mặt tliệu lịch sử trong nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển Giáo phậnVinh Hay luận văn thạc sỹ sử học "Đạo Thiên chúa ở Nghi Lộc từ thế kỷ thứXVII đến năm 2004" của tác giả Hoàng Thị Thu Hiền cũng đề cập đến quátrình truyền bá đạo Thiên chúa vào Nghệ An nói chung, trong đó có vùngNghi Lộc nói riêng, nhng cũng cha đi vào quá trình hình thành, phát triểnGiáo phận Vinh với những tác động to lớn của nó đối với xã hội

Nhìn chung, các công trình trên đều ít nhiều có liên quan đến đề tài

mà chúng tôi nghiên cứu Phần lớn các công trình trên hoặc đề cập cha sâu,hoặc mang tính giới thiệu, hay đi sâu vào một khía cạnh nào đó có liên quan

đến đề tài luận văn mà thôi Đó là những tài liệu rất bổ ích để chúng tôi thamkhảo trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tợng nghiên cứu.

Đối tợng nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, phát triển Giáophận Vinh và những tác động của nó đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội của các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình

4 Nguồn t liệu, phơng pháp nghiên cứu.

Trang 8

- Các tài liệu của Viện nghiên cứu tôn giáo về đạo Thiên chúa.

- Các tài liệu của Ban tôn giáo Chính phủ về Thiên chúa giáo và quản

lý Nhà nớc đối với tôn giáo

- Các tài liệu của Văn phòng Trung ơng Đảng, Viện lịch sử ĐảngTrung ơng, Bảo tàng cách mạng Việt Nam

- Các tài liệu của tòa giám mục Xã Đoài

- Các công trình nghiên cứu, các sách viết về Giáo phận Vinh

- Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Báo Ngời công giáo Việt Nam,

- Trang web: wwwdiendantongiao.com.vn

- Các niên giám thống kê do Cục thống kê tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình ấn hành hàng năm

- Các tài liệu lu trữ về Giáo phận Vinh hiện còn ở các cơ quan lu trữcủa Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình

4.2 Phơng pháp nghiên cứu.

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng nhiều phơngpháp khác nhau, đó là: phơng pháp luận sử học mácxit, phơng pháp khoa họclịch sử, phơng pháp lôgic, phơng pháp tổng hợp, thống kê, so sánh để nghiêncứu, làm rõ quá trình hình thành và phát triển Giáo phận Vinh

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp thực địa,

điền dã để có thêm nguồn t liệu địa phơng chứng minh cho quá trình dunhập, phát triển đạo Thiên chúa ở Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình

5 Đóng góp của luận văn.

Trang 9

Thứ nhất : Luận văn bớc đầu dựng lại đợc bức tranh chân thực về quá

trình hình thành, những bớc phát triển thăng trầm của Giáo phận Vinh từ khithành lập cho đến năm 2005

Thứ hai: Thông qua nguồn tài liệu phong phú, luận văn cũng đã nêu

lên đợc những tác động to lớn của đạo Thiên chúa đối với mọi mặt kinh tế,văn hóa, xã hội đối với đất nớc nói chung và Nghệ - Tĩnh - Bình nói riêng.Qua đó cũng thấy đợc những đóng góp to lớn của đồng bào giáo dân đối với

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử dân tộc Đặc biệt trongcông cuộc đổi mới của nớc ta hiện nay, những đóng góp của giáo hội Thiênchúa giáo ngày càng quan trọng nh đờng hớng phục vụ mà Hội đồng giámmục Việt Nam đa ra trong th chung năm 1980, đó là " Sống phúc âm giữalòng dân tộc, xây dựng một nếp sống và một cách diễn tả đức tin phù hợp vớitruyền thống dân tộc."

Thứ ba: Luận văn giúp hiểu rõ về đồng bào giáo dân đạo Thiên chúa

nói chung và giáo dân Giáo phận Vinh nói riêng, từ đó góp phần củng cố

đoàn kết lơng - giáo ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình

Thứ t: Có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tuyên truyền, vận động

giáo dân Giáo phận Vinh cho cán bộ các đoàn thể chính trị hoạt động trongvùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa

Chơng 2 Quá trình hình thành, phát triển Giáo phận Vinh

Chơng 3 Tác động của Thiên chúa giáo đối với Nghệ An, Hà Tĩnh ,Quảng Bình

Chơng 1

Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Nghệ An- Hà tĩnh – Quảng Bình. Quảng Bình tr ớc sự du nhập của đạo Thiên Chúa

Trang 10

1.1 Khái quát chung về Nghệ An - Hà Tĩnh – Quảng Bình. Quảng Bình.

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.

Nghệ An – Quảng Bình Hà Tĩnh – Quảng Bình Quảng Bình là ba tỉnh tiếp giáp nhau thuộcvùng Bắc Trung bộ có vị trí chiến lợc quan trọng, đợc xem là “yết hầu” trêncon đờng xuyên Việt Đây là khu vực có đờng biên giới tiếp giáp với Lào và

có nhiều cửa biển nên có nhiều khả năng, điều kiện hội nhập với khu vực vàthế giới Đó cũng là một nguyên nhân làm cho đạo Thiên chúa đợc truyềnvào từ rất sớm và khu vực này luôn nhận đợc sự quan tâm đặc biệt của cácgiáo sỹ thừa sai trong quá trình phát triển đạo ở Việt Nam

Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình có vị trí địa lý rất quan trọng, đây làmiền đất giao nhau giữa hai miền Nam - Bắc, với vị thế tựa lng vào dãy Tr-ờng Sơn hùng vĩ và ngoảnh mặt ra biển Đông rộng lớn Phía bắc giáp tỉnhThanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía tây khu vực này có chung đ-ờng biên giới với nớc Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào với 452 km Trong đóNghệ An tiếp giáp với ba tỉnh là Xiêng Khoảng, Bôli Khăm xay và Hủa Phăndài 82 km; Hà Tĩnh có đờng biên giới dài 170 km, riêng Quảng Bình tiếpgiáp với tỉnh Khăm Muộn với đờng biên giới dài 201,9 km Phía Đông cóhàng loạt cửa biển: Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhợng, Cửa Khẩu, CửaRòn, Cửa Gianh thông thơng tốt với bên ngoài

Xét về điều kiện tự nhiên, đây là khu vực có nhiều sông sâu, núi caohiểm yếu Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Phía tây là sờn Đông của dãyTrờng sơn hùng vĩ ở đây địa hình đồi núi chiếm hơn 80% diện tích, đồngbằng nhỏ hẹp và bị cắt xẻ mạnh Chủ yếu là đồng bằng ven biển và ven cáccon sông lớn Điều đặc biệt là ba tỉnh đều có ba con sông lớn: sông Lam ởNghệ An, sông La ở Hà Tĩnh và sông Gianh ở Quảng Bình Dân c ngay từbuổi đầu dựng nớc đã quần c ở đây với nền văn minh ở lu vực sông Hồng,sông Mã, sông Cả (sông Lam) Khi đạo Thiên chúa đợc truyền vào đây, các

xứ đạo phần nhiều cũng kết tụ rải rác trên bờ các con sông này

Nằm trong vòng đai khí hậu nhiệt đới Bắc bán cầu nên Nghệ Tĩnh Bình chịu tác động của gió mùa khu vực Đông Nam á rất mạnh Đây là khuvực có lợng ma lớn, trung bình hàng năm từ 1500 mm đến 3000 mm, mùa

-đông lạnh và chịu ảnh hởng mạnh của bão Bão kèm theo ma lớn trong khilãnh thổ lại hẹp ngang, độ dốc lớn nên thờng gây ra lũ lụt đột ngột Khắc

Trang 11

nghiệt là ở chỗ, khi thì ma ngập đồng không có chỗ thoát nớc, khi thì khôhạn nghiêm trọng bởi gió tây nam ( gió Lào) tràn vào làm nhiệt độ tăng độtngột và kéo dài, lợng nớc bốc hơi lớn, nhất là tháng 7

Nhìn chung khí hậu của Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình khá khắcnghiệt, điều đó thể hiện qua chế độ nhiệt, độ ẩm, mùa ma trùng với mùa bão.Cộng với đất đai nghèo chất dinh dỡng, chủ yếu là đất feralit ở đồi núi, còn

đất phù sa chỉ có ở đồng bằng duyên hải và rải rác ở thung lũng, sông suối

Điều này đã ảnh hởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của con ngời nơi đây.Hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn vì phụ thuộc vào

điều kiện tự nhiên Đòi hỏi con ngời nơi đây phải kiên trì, bản lĩnh để đứngvững và phát triển

1.1.2 Con ngời Nghệ An – Quảng Bình. Hà Tĩnh – Quảng Bình. Quảng Bình

Trở lại lịch sử, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện vết tích xa

xa của ngời Việt cổ sống ngay trên đất Nghệ An, Hà Tĩnh với nền văn hoáThẩm ồm (huyện Quỳ Châu, nơi phát hiện 5 chiếc răng ngời hoá thạch) cách

đây vài vạn năm Chính nơi đây là một trong ba trung tâm văn minh đầu tiêncủa ngời Việt cổ thuở sơ khai là văn minh sông Hồng, sông Mã, sông Cả

Nh vậy, tổ tiên lâu đời của vùng đất này là ngời Việt cổ, tức là ngời Kinh

Là ngời Việt Nam “con Rồng cháu Tiên”, con ngời Nghệ – Quảng Bình Tĩnh – Quảng Bình.Bình có chung một lịch sử đấu tranh gian khổ vật lộn với thiên nhiên, đấutranh với kẻ thù xâm lợc, xây dựng và bảo vệ đất nớc Bên cạnh đó, ngờiNghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình cũng thừa hởng và chịu đựng khí hậu khắcnghiệt nên ngay từ đầu, ngời dân đã sớm tạo cho mình một bản tính siêngnăng, cần cù, tiết kiệm, kiên trì trong lao động Đó chính là nguồn gốc củatinh thần quật khởi, ý chí kiên cờng và nhiều nghị lực Đặc biệt con ngờiNghệ – Quảng Bình Tĩnh - Bình rất gắn bó với quê hơng, luôn đùm bọc lẫn nhau và hiếuhọc, nhiều chí tiến thủ Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc vùng

đất này đã sản sinh ra nhiều con ngời tiêu biểu mà tên tuổi đã đợc sử sáchghi danh Về mặt danh nhân văn hoá, có những tên tuổi nổi tiếng nh: Hải Th-ợng Lãn Ông( Lê Hữu Trác), La Sơn Phu Tử ( Nguyễn Thiếp), Phan Huy ích,Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Nguyễn Trờng Tộ, Ngô Đức Kế, Đặng ThaiMai, Xuân Diệu, Huy Cận,… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến

đấu kiên cờng với hàng vạn quân nhà Đờng vào những năm 722, Nữ tớng Bùi

Trang 12

Thị Xuân điều khiển cả 100 thớt voi ra Bắc Hà đánh quân Thanh, đánh đuổiTôn Sỹ Nghị chiếm lại thành Thăng Long Đó là nhà yêu nớc Phan ĐìnhPhùng, Phan Bội Châu cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đánh Pháp giảiphóng dân tộc Trong cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất Tổ quốc, tựhào thay Nghệ Tĩnh Bình là quê hơng đã sinh ra Trần Phú

(Tổng bí th đầu tiên của Đảng), Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Đại tớng VõNguyên Giáp và đặc biệt là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoáthế giới – Quảng Bình Hồ Chí Minh Đó là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam và củagiải đất nghèo khó này Hơn thế bản lĩnh của con ngời đất miền Trung còn đ-

ợc thể hiện ở truyền thống hiếu học, khổ học của ngời dân nơi đây Thờiphong kiến đi đâu trên đất nớc ta cũng nói đến ông đồ, song nói đến ông đồngời ta nghĩ ngay đến “ông đồ Nghệ” Trong các kỳ thi bao giờ Nghệ An, HàTĩnh cũng là những vùng đất có tỷ lệ đỗ đạt cao trong cả nớc Truyền thống

đó đợc thể hiện qua câu đối “ Sớm khoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà” Có thể thấy rằng càng cực khổ trong đờisống, truyền thống hiếu học của ngời dân Nghệ Tĩnh Bình càng đợc bồi đắp.Càng có tri thức con ngời nơi đây lại càng thấm thía hơn nỗi nhục mất nớc.Chính vì thế, Nghệ Tĩnh Bình là miền đất giàu truyền thống đấu tranh chốnggiặc ngoại xâm

Có thể nói rằng chính cảnh sông sâu núi cao hùng vĩ nhng khắcnghiệt của thiên nhiên đã tạo cho ngời dân xứ Nghệ Tĩnh Bình một bản lĩnhkiên cờng, bất khuất, đã sản sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt cho đất nớc,

và chính những anh tài tuấn kiệt đó đã làm cho Nghệ Tĩnh Bình trở thànhmột mảnh đất giàu truyền thống trong lịch sử dân tộc Thiên nhiên đã sinh ra

họ trên sỏi đá, đã phú cho họ thứ ngôn ngữ có vẻ nặng nề, cứng cỏi, nhngchính nhờ đó mà họ tự tạo cho mình một ý chí sắt đá, gang thép để đảm đơngnhững công việc khó khăn, trờng kỳ gian khổ của đất nớc, đặc biệt khi đất n-

ớc bị giặc ngoại xâm đô hộ Điều này đợc minh chứng qua hàng loạt các ditích lịch sử cách mạng Nếu ngồi thuyền đi dọc sông Lam cách Thành phốVinh khoảng 20km về phía tả ngạn là núi Đụn với thành Vạn An nơi MaiHắc Đế đã chiến đấu kiên dũng với hàng vạn quân nhà Đờng năm 722, bênkia sông là núi Thiên Nhẫn, xa kia vua Lê Lợi xây đắp làm căn cứ chốngquân Minh, tiếp đó là dãy núi Giăng Màn, nơi danh y Hải Thợng Lãn Ông vàdanh thần La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã lui về ở ẩn và viết những pho

Trang 13

sách nổi tiếng, cũng là nơi Phan Đình Phùng xây dựng căn cứ địa chốngPháp Tại núi Quyết là thành Phợng Hoàng Trung Đô, nơi xa kia vua QuangTrung đã dựa vào địa thế và ngời dân của mảnh đất này để lập Trung đô và

đắp thành Phợng Hoàng Ngoài ra có thành Trào Khẩu (Hng Nguyên), cửa ảiKhả Lu (Nam Đàn) nơi Lê Lợi đánh nhau với quân Minh, Sơn Phòng (HàTĩnh) là căn cứ chống Pháp của vua Hàm Nghi Những đặc điểm về con ngờicủa dải đất Nghệ Tĩnh Bình đã đợc các giáo sỹ thừa sai Pháp chú ý và tậptrung phát triển đạo Thiên chúa bởi họ cho rằng khi đạo Thiên chúa đã bén rễ

đợc ở đây thì nhất định sẽ phát triển bởi con ngời Nghệ - Tĩnh - Bình rất kiên

định, gan góc về tinh thần t tởng Quả thực, trải qua nhiều cuộc bách hại, đạoThiên chúa vẫn không ngừng phát triển và ngời giáo dân Thiên chúa mặc dù

bị kẻ thù lợi dụng nhng vẫn luôn nhớ “ trớc khi là ngời công giáo tôi đã làngời Việt Nam”

1.2 Tình hình kinh tế, xã hội Nghệ An – Quảng Bình. Hà Tĩnh – Quảng Bình. Quảng Bình trớc sự du nhập của đạo Thiên Chúa.

Đạo Thiên chúa du nhập và phát triển ở Nghệ An, Hà Tĩnh, QuảngBình vào thời điểm có nhiều biến cố lịch sử quan trọng, đó cũng là thời cơ vàthách thức cho quá trình phát sinh phát triển của tôn giáo này

Vào đầu thời Lê sơ, tình hình kinh tế chính trị xã hội của nớc ta tơng

đối ổn định, phát triển, Nhà nớc chăm lo cho đời sống của nhân dân nên kinh

tế đợc mở mang, làng xã ngày một phát triển Vùng Thanh - Nghệ - Tĩnhcũng dần dần trở thành một vùng trù phú và phát triển về mọi mặt

Sang đầu thế kỷ XVI, triều Lê suy vong, quyền hành rơi vào tay chúaTrịnh Trịnh Giang, Trịnh Sâm suốt ngày hội hè yến tiệc ăn chơi sa đoạkhông chú ý đến đất nớc và đời sống của nhân dân Các phe phái phong kiếntập hợp lực lợng tăng cờng bóc lột nhân dân để tranh giành quyền bính, đa

đất nớc vào cuộc nội chiến suốt mấy chục năm ròng và gây ra thảm hoạ phânliệt và hỗn chiến giữa Trịnh – Quảng Bình Mạc và Trịnh – Quảng Bình Nguyễn

Cuộc chiến tranh Trịnh – Quảng Bình Mạc đã biến vùng Thanh - Nghệ thành bãichiến trờng Từ 1627 nội chiến giữa Trịnh - Nguyễn kéo dài gần 50 năm(1627 - 1672) với 7 lần giao tranh ác liệt đã giáng bao tai hoạ xuống vùng

đất Nghệ - Tĩnh - Bình Đây là nơi không chỉ phải đi lính, nuôi dỡng quân,

Trang 14

phải đóng góp sức ngời sức của cho cuộc nội chiến mà còn là trận địa diễn ranhiều trận đánh ác liệt

Nỗi khổ đau do thiên tai, mất mùa, đói kém, những gánh nặng của tệcờng hào ác bá hoành hành, đục khoét, nhũng nhiễu cộng với sự tàn khốccủa chiến tranh đã làm cho đời sống của ngời dân ở vùng đất “ khô cằn sỏi

đá” này càng trở nên tiêu điều xơ xác

Trớc cuộc sống cơ cực, từ những mâu thuẫn xã hội đã thúc đẩy ngờinông dân vùng lên đấu tranh giành quyền sống Các cuộc khởi nghĩa nôngdân ở Nghệ An – Quảng Bình Hà Tĩnh – Quảng Bình Quảng Bình đã nổ ra hoà cùng với phong tràonông dân trên khắp Đàng Trong, Đàng Ngoài Tuy các cuộc khởi nghĩa đều

bị dìm trong biển máu nhng nó đã góp phần làm rung chuyển xã hội, làm sụp

đổ từng mảng trật tự chế độ phong kiến, chuẩn bị điều kiện cho sự phát triển

và thắng lợi của phong trào nông dân Tây Sơn trên quy mô cả nớc Trong quátrình phát triển và thắng lợi của phong trào Tây Sơn, Nghệ - Tĩnh - Bìnhkhông phải là nơi diễn ra các trận đánh ác liệt có ý nghĩa quyết định, nhngtrong tất cả những cuộc tiến công ra Bắc Hà lật đổ chính quyền Lê – Quảng Bình Trịnhthống nhất đất nớc, chống quân xâm lợc Mãn Thanh để bảo vệ độc lập dântộc, quân đội Tây Sơn đã đợc sự ủng hộ mạnh mẽ của đông đảo nhân dânvùng Nghệ - Tĩnh - Bình, đặc biệt là nông dân nghèo khổ và sỹ phu tiến bộcủa mảnh đất Lam Hồng

Nhng khởi nghĩa Tây Sơn không đủ điều kiện để vơn tới một cuộccách mạng xã hội thực sự Sau khi lật đổ chính quyền Lê Trịnh ở ĐàngNgoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đánh bại quân xâm lợc Mãn Thanh vàXiêm, vua Quang Trung đột ngột mất sớm, Nguyễn ánh đã thống nhất cả n-

ớc, lên ngôi vua và đàn áp những ngời theo Tây Sơn khởi nghĩa

Những cuộc đấu tranh liên miên ấy đem lại chết chóc, đau thơng, litán, đói rét cho ngời dân, đa họ vào tình trạng tuyệt vọng Và nh bất cứ ở

đâu, chiến tranh khốc liệt là cửa mở cho các loại hình tôn giáo Thiên Chúagiáo du nhập vào Nghệ - Tĩnh - Bình hồi đầu thế kỷ XIX đã gặp một mảnh

đất màu mỡ và là cơ hội để có thể cạnh tranh với các tôn giáo nh Phật, Lão,Nho để bén rễ trong tâm linh ngời Việt

Sau khi Nguyễn ánh đánh bại phong trào Tây Sơn, vơng triều Nguyễn

đợc thiết lập đã không có những chính sách để phát triển kinh tế xã hội, bồi

Trang 15

dỡng sức dân trớc nguy cơ xâm lợc của t bản nớc ngoài, đặc biệt là Pháp.Nhà Nguyễn còn tăng cờng bóc lột nhân dân “dân nghèo không có mảnh đấtcắm dùi”, thuế khoá nặng nề làm cho đời sống ngời dân càng thêm điêu

đứng Hơn thế vỡ đê, lụt lội, hạn hán lại liên tiếp xảy ra, nạn đói diễn ra liêntục và kéo dài… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến Niềm hy vọng đổi đời của ngời nông dân Nghệ - Tĩnh -Bình đã không thể trở thành hiện thực khi tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bịtriều đình nhà Nguyễn đàn áp dã man, và trong khi họ đang tuyệt vọng vềcuộc sống nơi trần thế đầy bất công, tủi nhục thì đạo Thiên chúa tràn đến.Các giáo sỹ phơng Tây đã đa họ đến một sự an ủi, một niềm hi vọng về viễncảnh một nớc Chúa yên bình, hạnh phúc ở thế giới bên kia Đó là nguồn sứcmạnh giúp họ tiếp tục sống trong xã hội loạn lạc bần cùng lúc bấy giờ Do đó

đạo Thiên chúa đã đợc nhiều ngời đón nhận, tin theo và sớm bén rễ ở Nghệ Tĩnh - Bình

Đạo Thiên chúa đợc truyền vào Việt Nam khi ở Việt Nam nóichung và Nghệ - Tĩnh - Bình nói riêng, đã có sự chung sống của đạo Phật,

đạo Nho, đạo Lão và tín ngỡng dân tộc (đặc biệt là Thờ thờ cúng tổ tiên).Lúc này, Nho giáo đang là hệ t tởng của giai cấp phong kiến, của Nhà nớcphong kiến Tuy nhiên hệ t tởng Nho giáo lỗi thời, lạc hậu đã trở thành lựccản, tạo ra sức ì cho sự phát triển của xã hội Đạo Phật thịnh hành chủ yếutrong dân gian và hòa nhập vào văn hóa dân tộc Và đạo Thiên chúa với tìnhbác ái khuyên răn con ngời làm điều thiện, thơng yêu nhau, sống nhân ái đã

có những điều phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc, đó là truyềnthống thơng yêu "lá lành đùm lá rách" của ngời Việt

Nh thế, khi vào nớc ta nói chung và đặc biệt là vùng Nghệ An - HàTĩnh - Quảng Bình, giáo lý đạo Thiên chúa sẽ phải đụng đầu với một xã hội

cổ truyền có lịch sử lâu đời với một "đạo nhà'' bền vững theo quy tắc chặtchẽ của học thuyết Khổng - Mạnh: Thờ cúng tổ tiên, trung với vua, hiếu vớicha mẹ, thành kính với thần phật nh là một tín điều, một nguyên tắc đạo lýbất khả xâm phạm Đúng nh nhà nho Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định:

" Thà đui mà giữ đạo nhàCòn hơn có mắt ông cha không thờ'' [61, 20]

Thay đổi một nếp nghĩ là rất khó nhng khi con ngời đã mệt mỏi vàkhông còn niềm tin vào cuộc sống thì niềm tin tôn giáo sẽ có chỗ để gieo

Trang 16

mầm Đó là thời cơ và cũng là thách thức đối với đạo Thiên chúa khi truyềnbá vào Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình

Chơng 2 Quá trình hình thành và phát triển giáo phận Vinh 2.1 Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam

2.1.1 Khái niệm về tôn giáo và đạo Thiên chúa.

* Khái niệm về tôn giáo

Tôn giáo là một phạm trù lịch sử, ra đời, phát triển và biến đổi theo

sự biến động của điều kiện kinh tế xã hội Đây là vấn đề phức tạp, mang tínhnhạy cảm cao của xã hội Vì vậy cho đến nay định nghĩa về tôn giáo vẫn rất

đa dạng, phong phú và cha thể có một ý kiến thống nhất trong nghiên cứukhoa học Vậy khái niệm “tôn giáo” (religion) đợc hình thành nh thế nào?

Thuật ngữ "tôn giáo" (religion) thoạt tiên đợc sử dụng ở châu Âuvào thế kỷ III nhằm chỉ một tôn giáo là đạo Kitô, bởi lẽ đơng thời tôn giáonào khác đạo Ki tô đều bị coi là tà đạo Phải đến thế kỷ XVI, gắn với sự ra

đời và phát triển của đạo Tin lành tách ra khỏi Công giáo, trên diễn đàn khoahọc và thần học châu Âu, thuật ngữ “religion” mới trở thành một thuật ngữchung dùng để chỉ hai tôn giáo thờ cùng một Chúa Với sự bành trớng củachủ nghĩa t bản ra ngoài châu Âu, với sự tiếp xúc của các thế giới thuộc cácnền văn minh khác Kitô giáo thì thuật ngữ “religion” mới đợc dùng để chỉcác hình thức tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới Đến thế kỷ XVIII, thuật

Trang 17

Trung Hoa Đến cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ này vào Việt Nam và đ ợc gọi là

“tôn giáo” sau khi qua Nhật Bản và Trung Quốc Lúc này, thuật ngữ tôn giáotrở thành một khái niệm mang tính phổ quát toàn cầu

Trong định nghĩa này các tác giả đã làm nổi rõ bản chất nguồn gốccủa sự tồn tại tôn giáo trong xã hội loài ngời, đó chính là quan niệm của conngời tin vào sự tồn tại của lực lợng siêu nhiên có khả năng quyết định vậnmệnh của mình, từ đó nảy sinh ra tôn giáo Định nghĩa cũng đa ra mốc thờigian xuất hiện tôn giáo, đó là xã hội nguyên thuỷ

Theo tác phẩm “Một số tôn giáo ở Việt Nam” thì: “tôn giáo là hìnhthái ý thức xã hội, ra đời và phát triển hàng ngàn năm nay, và sẽ tồn tại cùngvới loài ngời trong một thời gian khó mà đoán đợc Trong quá trình tồn tại vàphát triển, tôn giáo có ảnh hởng đến khá sâu sắc đến đời sống chính trị, vănhoá, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiềuquốc gia dân tộc”[ 44, 3]

Ăng ghen – Quảng Bình nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khi nghiên cứu vềtôn giáo đã kết luận: … Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh h

ảo vào trong đầu óc của con ngời của những lực lợng ở bên ngoài chi phối

đời sống hàng ngày của họ; chỉ sự phản ánh trong đó những thế lực trần thế

đã mang hình thức những lực lợng siêu trần thế”[ 12, 437]

Nh vậy ta có thể hiểu tôn giáo là lòng tin của con ngời vào nhữnghiện tợng siêu nhiên, để từ đó sùng bái, biến nó thành thiêng liêng nhằm lígiải thế giới khách quan mà mình cha hiểu, làm chỗ dựa cho lòng tin vớicuộc sống, lao động và hớng con ngời tới cái thiện, loại trừ cái ác Tôn giáo

Trang 18

đi vào cuộc sống thành nghi thức, tổ chức cụ thể, trở thành sinh hoạt văn hoácủa cộng đồng dân c Bởi vậy tôn giáo có khả năng thu hút quần chúng vàtác động không nhỏ tới tâm lý, đạo đức, phong tục, tập quán từng bộ phậnnhân dân Trên thực tế, tôn giáo đã trở thành một quan hệ xã hội và một lựclợng xã hội.

Nh vậy có thể hiểu một cách khái quát “tôn giáo là một sản phẩm củalịch sử, một sản phẩm của con ngời, do con ngời tạo ra và lại bị nó chi phối”,

và nh vậy, chính con ngời tạo ra tôn giáo chứ không phải Chúa trời hay ợng đế… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiếntạo ra con ngời và vạn vật trong xã hội

Th-* Sơ lợc về đạo Thiên chúa.

Đạo Thiên chúa là một trong bốn nhánh lớn của đạo Kitô Đạo Kitô

-đạo thờ chúa Giêsu Kitô( còn gọi là Thiên chúa) ra đời ở các tỉnh phía Đông

đế quốc La Mã cổ đại Sau khi những cuộc khởi nghĩa của nô lệ nổi dậychống lại ách thống trị của đế quốc Rô Ma bị thất bại Những ngời nô lệtrong xã hội Rô Ma cổ đại không còn hi vọng về một cuộc đổi đời trong cuộcsống trần thế nữa, họ tìm đến một cuộc sống ảo ảnh ở thiên đờng do Thiênchúa tạo ra sau khi chết Dù đó chỉ là viễn cảnh nhng họ vẫn hi vọng và tintheo để đủ sức tiếp tục cuộc đời nô lệ của mình Đạo Kitô khi mới ra đời làtôn giáo của những ngời nô lệ chống lại giai cấp chủ nô Rôma nên bị giaicấp chủ nô Rôma đàn áp tàn bạo Nhng càng bị đàn áp thì đạo Kitô càngphát triển Sau nhiều sự phân chia về tổ chức, hiện nay đạo Kitô gồm có:Chính thống giáo (khoảng 200 triệu tín đồ); Đạo Tin Lành (do Luthơ thànhlập ở Đức năm 1517 và Calvin ở Thuỵ Sỹ năm 1534, có hơn 300 triệu tín đồ);Anh giáo (do Hăng ri VIII, vua nớc Anh thành lập 1539 có 20 triệu tín đồ);

và Thiên chúa giáo (còn gọi là Công giáo) là giáo phái lớn, đợc tổ chức chặtchẽ nhất, có 900 triệu tín đồ và trên 40 vạn giáo sỹ khắp toàn cầu

Hiện nay đạo Thiên chúa là một trong số các tôn giáo lớn có mặt ởhầu hết các châu lục Theo niên giám thống kê của Toà thánh phát hành năm

2002, hiện nay số tín đồ đạo Thiên chúa trên thế giới là 1.071.000 000 đợcphân bố nh sau:Châu Mỹ 49,9%, Châu Âu 26,15%, Châu Phi 12,84%, Châu

á 10,3%, Châu Đại Dơng 0, 78 % [4, 34]

Nội dung cơ bản về giáo lý đạo Thiên chúa đợc chứa đựng trongKinh thánh gồm hai bộ: kinh Cựu ớc và kinh Tân ớc Trong đó thể hiện vai

Trang 19

trò sáng tạo ra thế giới và con ngời của Thiên chúa Do đó, giáo dân phải biếtmến Chúa, tin tởng vào công trình sáng tạo, cứu chuộc của Thiên chúa Đó làhành trang để đợc vào cõi vĩnh hằng.

Từ rất sớm đạo Thiên chúa đã xây dựng cho mình một hệ thống luật

lệ rất chi tiết nh 10 điều răn của chúa, 6 điều răn của giáo hội, 7 phép bí tích( rửa tội, thêm sức, giải tội, thánh thể, xức dầu thánh, hôn phối, truyền chứcthánh), các ngày lễ trong năm( Giáng sinh, Phục sinh, lễ chúa Giêsu lên trời,

lễ chúa Thánh thần hiện xuống), và đợc thể hiện thống nhất trên toàn thếgiới

Đạo Thiên chúa đợc truyền vào nớc ta do công lao của các giáo sỹ Bồ

Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp Quá trình du nhập, truyền giáo, tồn tại vàphát triển đã trải qua nhiều diễn biến lịch sử chính trị phức tạp do đây là mộttôn giáo thế giới, có tổ chức chặt chẽ trên toàn cầu, do đó có quan hệ quốc tếrộng rãi, đặc biệt với giáo triều Vatican Vì vậy, nó thờng bị các thế lực thù

địch lợi dụng để phục vụ mu đồ xâm lợc nớc ta

2.1.2 Quá trình du nhập đạo Thiên chúa vào Việt Nam.

Từ cuối thế kỷ XV, nhất là từ thế kỷ XVI, vùng Viễn Đông đã là nơilui tới của nhiều đoàn thám hiểm, các thơng nhân và giáo sỹ đến từ phơngTây để buôn bán, truyền đạo, rồi qua đó chiếm đất đai vùng này làm thuộc

địa ấn Độ rơi vào vòng kiểm soát của Anh, Philippin trở thành thuộc địaTây Ban Nha, Inđônêxia bị Hà Lan chiếm… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiếnViệt Nam tuy nằm trong khu vựcViễn Đông nhng cha đợc các giáo sỹ quan tâm Thỉnh thoảng có giáo sỹ TâyBan Nha hay Bồ Đào Nha dừng chân giảng đạo thì cũng hoặc là ngẫu nhiênhoặc chỉ có tính chất thăm dò mà cha có kết quả gì đáng kể

Trong “Khâm định Việt sử thông giám cơng mục” đợc soạn thảo dớitriều vua Tự Đức từ năm 1856, quyển 33 phần chính biên khi nói đến chỉ dụcấm đạo Thiên chúa, đã viết rằng " vào năm 1533, năm Nguyên Hoà I, đời

Lê Trang Tông, có một giáo sỹ tên I-nê-khu, theo đờng biển đến truyền đạotại làng Ninh Cờng, làng Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũthuộc huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định" (giáo phận Bùi Chu hiện nay) Vìthế, nhiều nhà sử học Công giáo Việt Nam đã chọn năm 1533 nh khởi đầucho đạo Thiên chúa tại Việt Nam

Trang 20

Năm 1550, linh mục Gaspar da Santacruz đến giảng đạo tại Hà Tiên.Năm 1558, đời vua Lê Thế Tông, hai giáo sỹ Bồ Đào Nha là Alonson daCosta và Gonsalves đến giảng đạo tại vùng Vạn Lại, Thủ đô cũ Namtriều[33, 51].

Tuy nhiên, những cố gắng của các nhà truyền giáo nói trên mới chỉ lànhững bớc chân dò dẫm cho giai đoạn khai phá chính thức, gắn với tên tuổicủa các vị thừa sai dòng Tên ở cả hai miền Nam - Bắc, đặc biệt là vai trò củalinh mục Alexandre de Rhodes (Alecxanđơrốt) Vào thời điểm này các chúa

Đàng Trong hay Đàng Ngoài trong cuộc chạy đua quyền lực đều muốn liên

hệ ngày càng nhiều với các thơng nhân nớc ngoài để mua vũ khí, đạn dợchoặc các nguyên liệu quý để tăng thêm sức mạnh quân sự Không những thế,các quan lại bản địa cũng tỏ ra ham muốn có và sử dụng các sản phẩm côngnghệ có chất lợng cao của phơng Tây Đây là những cơ hội thuận lợi chocông cuộc truyền giáo của các giáo sỹ ở Việt Nam

Phải từ 1615 trở đi khi trung tâm truyền giáo của Bồ Đào Nha cử 2giáo sỹ Francos Bujomi và Diego Carvalho sang Hải Phố, thuộc tỉnh QuảngNam (Đàng Trong) thì việc truyền đạo Thiên chúa vào Việt Nam mới đợc coi

là thực sự bắt đầu

Hải Phố là nơi buôn bán sầm uất của Đàng Trong với nớc ngoài trong

đó có mặt nhiều thơng nhân Nhật Bản có đạo và nhiều giáo dân Nhật Bản

đến c trú để tránh cuộc bắt đạo trong nớc đang diễn ra gay gắt Vì vậy, haigiáo sỹ đã dựa vào số giáo dân Nhật Bản này để tiến hành cuộc truyền giáotại đây Chỉ một năm sau, năm 1616 họ đã cải giáo đợc hơn 300 ngời Việt ởcác vùng xung quanh Tiếp đó, giáo sỹ Feancois Barretto và Francois de Pina

đợc cử sang tăng viện và mở rộng địa bàn truyền giáo Họ đã tranh thủ đợctầng lớp quan lại để có cơ hội truyền đạo và số giáo dân Việt Nam cứ khôngngừng tăng lên

Trớc tình hình thuận lợi đó, năm 1624, một giáo đoàn gồm 6 giáo sỹtrong đó có giáo sỹ Alexandre de Rhodes đã đến Việt Nam tăng cờng truyền

Trang 21

dạng chữ viết của ngời Việt bằng mẫu tự la tinh - đó là chữ quốc ngữ Ôngsoạn thảo hoàn chỉnh cuốn Từ điển Việt - Bồ - La tinh, có phần phác thảovăn phạm tiếng Việt trong phần mở đầu và in cuốn "Phép giảng tám ngày"bằng chữ quốc ngữ để dạy giáo lý đạo Thiên chúa cho các thầy giảng ngờiViệt Ông cũng là một giáo sỹ áp dụng thành công phơng pháp tiếp cận vuachúa quan lại bằng các lễ vật quý để đợc tự do truyền giảng đạo; đồng thời

ông cũng hết sức chú trọng việc cải giáo cho những ngời quyền quý, nhất lànhững ngời thân thích của vua chúa để qua họ lôi kéo thêm nhiều ngời theo

đạo

Sau khi đến Hội An, Alexandre de Rhodes tiếp cận đợc chúa Sãi vơng,rồi cải giáo cho một bà có họ gần với chúa, tên thánh là Marie Madeleine Bànày ra sức thuyết phục những ngời xung quanh theo đạo và che chở cho cácgiáo sỹ, lại lập một nhà nguyện trong khu nhà ở của mình Hay ở Đàngngoài, Alexandre de Rhodes cũng dùng lễ vật quý dâng chúa Trịnh Cán ởCửa Bạng (Thanh Hoá) và đợc chúa Trịnh cho về giảng đạo tại Hà Nội ChúaTrịnh còn cho dựng một ngôi nhà lớn để Alexandre de Rhodes vừa làm nhà ởvừa làm nhà thờ Ông cũng cải giáo cho một ngời chị của Chúa theo đạo vàvận động những ngời trong gia đình theo đạo Thiên Chúa Nhờ vậy, việcgiảng đạo của Alexandre de Rhodes rất thuận lợi Năm 1629, trớc khi rời

Đàng Ngoài, ở Hà Nội và các vùng lân cận có hơn 3500 giáo dân, nhà thờ HàNội đợc lập tháng 7 năm 1626 Hoạt động truyền giáo của Alexandre deRhodes gây nên sự xao động trong d luận Song song với việc truyền đạo,Alexandre de Rhodes đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo tầng lớp cốt cán, gọi

là các thầy giảng để hỗ trợ cho mình trong việc truyền đạo và giúp duy trì đờisống đạo cho giáo dân khi vắng thừa sai hoặc linh mục

Các ông chọn những giáo dân xuất sắc về mặt đạo đức, đợc giáo dântín nhiệm, cho họ tuyên khấn trớc mặt cộng đoàn: độc thân, để mọi sự làmcủa chung, tuân phục ngời đợc các thừa sai đặt làm trởng và sau đó đợc đàotạo về giáo lý đạo Thiên chúa để truyền đạo cho mọi ngời Vì số lợng thừasai và linh mục rất ít nên tổ chức thầy giảng là mạch máu của giáo đoàn, họ

là ngời thay mặt các thừa sai dạy giáo lý, chủ sự các buổi cầu nguyện, thămngời bệnh, rửa tội ngời bệnh nặng và các tân tòng… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến

Trang 22

Đây là sáng kiến mang lại hiệu quả rất lớn trong việc duy trì và pháttriển đạo Thiên chúa ở Việt Nam, vì ngay cả vào thời điểm các thừa sai bịsăn lùng ráo riết thì sinh hoạt đạo của các giáo dân vẫn đợc duy trì nhờ tầnglớp thầy giảng này và những ngời xuất sắc trong số họ thờng đợc chọn để

đào tạo thành linh mục

Nhờ các thầy giảng và những tông đồ giáo dân nhiệt thành, trớc khirời khỏi Việt Nam năm 1645, Alexandre de Rhodes cùng với các cộng sựgây dựng đợc nền móng đầu tiên cho giáo hội Thiên chúa ở Việt Nam ở

Đàng Trong, đạo Thiên chúa đợc truyền bá rộng rãi ở các tỉnh Quảng Nam,Quảng Ngãi, Bình Định, Thuận Hoá, Quảng Bình với số giáo dân khoảng50.000 ngời ở Đàng Ngoài, đạo Thiên Chúa đợc truyền bá ở Thanh Hoá,Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Nội… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến với số giáo dân khoảng 100.000 ngời ; trong

đó riêng Nghệ An có tới 72 làng theo đạo, 100 nhà thờ lớn, 300 nhà thờnhỏ[33, 54]

Sau khi bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam năm 1645 để về châu

Âu, Alexandre de Rhodes còn vận động toà thánh La Mã chọn một nớc bảotrợ mới, đủ sức phục vụ cho sự phát triển đạo đang thuận lợi ở Viễn Đông,nhất là Việt Nam, để thay thế Bồ Đào Nha không còn đủ sức đảm đơng, qua

đó kêu gọi có thêm thừa sai và Giám mục sang Việt Nam

Cuộc vận động này gặp khó khăn do bị Bồ Đào Nha phản đối Mãi

đến năm 1658, với áp lực và nhiệt tình của giáo hội Pháp, Giáo hoàngAlexander VII ra sắc chỉ Super Cathedram, quyết định thiết lập ở Việt Namhai giáo phận và chọn hai vị thừa sai quốc tịch Pháp sang quản lý Viễn

Đông Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam, gồm cả phần đấtChiêm Thành, Chân Lạp do giám mục Lambert de La motte cai quản Giáophận Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, bao gồm cả Lào và 5 tỉnh phíaNam Trung Quốc do đức cha Francois Pallu coi sóc Từ đây, các giáo sỹthuộc quốc tịch khác, hoặc bất cứ dòng nào, kể cả giáo sỹ Bồ Đào Nha, nếuhoạt động trong những địa phận nói trên đều phải phục tùng các giám mụcngời Pháp Bởi vậy, xuất hiện mâu thuẫn giữa giáo sỹ Pháp và giáo sỹ dòngTên của Bồ Đào Nha về vấn đề truyền giáo, điều này ảnh hởng rất lớn đếnkết quả truyền đạo ở Viễn Đông và Việt Nam, vì các giáo sỹ nói xấu nhau,làm giảm uy tín của nhau nhằm tranh giành ảnh hởng của mình đối với giáo

Trang 23

dân Do đó, đây là thời kỳ lục đục giữa các giáo sỹ dòng Tên và các giámmục ngời Pháp đợc Tòa thánh cử sang và tình trạng này kéo dài mãi đến khikhông còn vị thừa sai dòng Tên nào sống sót trên lãnh thổ Việt Nam nữa.Ngoài ra, mâu thuẫn giữa thừa sai quốc tịch này với thừa sai quốc tịch khác,giữa thừa sai dòng này với thừa sai dòng khác cùng với việc đạo Thiên chúa

có mặt trên đất Việt Nam bị coi là bất hợp pháp gây ra khó khăn nhất địnhcho quá trình truyền giáo

Vì vậy, trớc khi đi Viễn Đông, Pallu cùng với các giáo sỹ Pháp nhiệttình với cuộc truyền giáo ở Viễn Đông đứng ra thành lập tổ chức Hội thừa saiPari lo việc đào tạo các giáo sỹ thừa sai để gửi đi Viễn Đông Hội thừa saiPari đợc nhà vua Pháp Lui XIV và các nhà quyền quý nhiệt liệt ủng hộ cả vềvật chất lẫn tinh thần, chính thức ra mắt ngày 27 tháng 10 năm 1663 ở Pari

Với sắc chỉ Super Cathedram của Giáo hoàng Alexander VII và sự ra

đời của Hội thừa sai Pari đánh dấu một bớc ngoặt lớn của cuộc truyền bá đạoThiên chúa vào Việt Nam Kể từ đây, nớc Pháp không chỉ nắm độc quyềntruyền giáo mà còn tăng cờng bành trớng thế lực ở đây Thực tế là hai phơngdiện đó không hề tách rời trong nhận thức và hành động của các giáo sỹ thừasai Pháp khi đến truyền giáo ở Việt Nam Đức cha Pallu nhiều lần muốn tới

Đàng Ngoài để nhận nhiệm sở nhng bị cản trở nên đành nhờ Đức chaLambert de la Motte giám quản giùm và đặt cha Francois Dier Phan làmtổng đại diện cho Giáo phận Đến năm 1679, Toà thánh bổ nhiệm đức chaPallu làm giám mục giáo phận Phúc Kiến ( Trung Quốc ) và cha qua đời tại

đó sau 9 tháng nhận nhiệm sở Còn cha Dier Phan đi truyền giáo ở Nam

Định, Ninh Bình, Thanh Hoá… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến và theo những ghi chép còn lại, riêng năm

1667, cha rửa tội cho 1500 ngời, cải giáo cho 7080 ngời và phong chức linhmục đầu tiên cho 2 thầy giảng Đàng Ngoài là Hiền và Huệ Năm 1670, đứccha Lambert cũng truyền chức cho 7 thầy, lập dòng tu nữ Mến thánh giá tạiKiên Lao (Bùi Chu) và Bái Vàng (Hà Tây) [33, 62]

Những hoạt động của Lambert trên đất Việt Nam đa việc truyền giáo

ở đây đi vào nề nếp, qui củ Nhờ đó, trong thời gian từ nửa sau thế kỷ XVIII,mặc dù có những trở ngại lớn nh chiến tranh và cấm đạo thờng xuyên nhng

đạo Thiên Chúa vẫn đợc duy trì và mỗi khi có cơ hội thuận lợi lại đợc đẩymạnh và tiến triển dần dần

Trang 24

Năm 1743, sau 10 năm tha cấm đạo dới thời chúa Ninh Vơng, địaphận Đàng Trong có 300 nhà thờ, 70000 bổn đạo với 29 linh mục ngoại quốc

và 200 thầy giảng Riêng ở Huế có 5 nhà thờ Lúc này Đàng Trong đợc chiathành 3 địa phận nhỏ giao cho mỗi dòng cai quản 1 địa phận:

Dòng Tên cai quản địa phận từ Quảng Bình đến Huế

Dòng Thừa sai cai quản địa phận từ Huế đến Bình Thuận

Dòng Phan sinh cai quản địa phận Bình Thuận và Cao Miên

Năm 1679, trớc sự phát triển của đạo Thiên chúa ở Việt Nam giámmục Pallu đã đề nghị với Giáo hoàng chia Đàng Ngoài thành 2 địa phận :

Địa phận Tây (vùng hữu ngạn sông Hồng đến giáp Lào) do đức chaBourges làm giám mục

Địa phận Đông (từ tả ngạn sông Hồng ra tới biển) do đức chaDeydier làm giám mục Cả 2 đều là giáo sỹ Hội thừa sai

Trong suốt hơn 1 thế kỷ, các giám mục Đại diện tông toà kế tiếpnhau cai quản Đàng Trong và Đàng Ngoài Việt Nam gồm 7 vị ở ĐàngTrong, 7 vị ở Tây Đàng Ngoài và 7 vị ở Đông Đàng Ngoài Đây là thời kỳcấm đạo, bắt đạo gay gắt của chúa Trịnh ở ngoài Bắc cũng nh thời nhà TâySơn ở miền Trung, do đó nhiều giáo sỹ, thầy giảng và giáo dân đã bị thiệtmạng vì các chính sách này

Nhờ sự tích cực truyền giảng đạo của các giáo sỹ thừa sai và linh mụcbản xứ, cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài vẫn đạt nhiều kết quả khả quan Tính

đến năm 1800, ở địa phận Tây Đàng Ngoài có 1 giám mục, 6 giáo sỹ thừa saingoại quốc, 63 linh mục bản xứ, 120.000 giáo dân ở địa phận Đông ĐàngNgoài có 1 giám mục, 4 giáo sỹ thừa sai ngoại quốc, 41 linh mục bản xứ,140.000 giáo dân Cộng với số liệu ở Đàng Trong cả nớc ta có: 3 giám mục,

15 giáo sỹ thừa sai ngoại quốc, 119 linh mục bản xứ và 310.000 giáo dân

Đồng thời, một giáo hội có cơ cấu hẳn hoi gồm 3 giáo đoàn: Đàng Trong,Tây Đàng Ngoài và Đông Đàng Ngoài đã đợc thiết lập, với hơn 200 linh mụcViệt Nam, 410.000 giáo dân, có hệ thống từ giám mục đến linh mục quảnhạt, linh mục quản xứ đến thầy giảng… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến

Trang 25

Trớc những khó khăn trong quá trình truyền giáo do đạo Thiên chúakhông chấp nhận những tín ngỡng truyền thống của Việt Nam, nhất là tín ng-ỡng thờ cúng tổ tiên, một tín ngỡng lâu đời của dân tộc lại thấm đợm tinhthần Nho giáo giữ vai trò nền móng cho việc tôn vinh cờng quốc phong kiếncũng nh góp phần tích cực vào việc củng cố trật tự xã hội đơng thời Đức chaPigneau de Behaine thờng gọi là Bá Đa Lộc là Giám mục cai quản địa phận

Đàng Trong (1771 - 1779) đã chủ động giúp đỡ Nguyễn ánh năm 1777 vàsau đó tích cực giúp đỡ Nguyễn ánh trở lại ngôi vua Giám mục Bá Đa Lộcnuôi sẵn hi vọng Nguyễn ánh sẽ cải giáo và sẽ Thiên chúa giáo hoá ViệtNam Song mặc dầu chịu ơn sâu của giám mục Bá Đa Lộc, Nguyễn ánhkhông cải giáo Ngay cả hoàng tử Cảnh vốn đợc Bá Đa Lộc dạy dỗ từ nhỏkhi đến tuổi trởng thành cũng không cải giáo, ý đồ tạo một Constantinus ở đếquốc RôMa (năm 313) ở Việt Nam của Giám mục Bá Đa Lộc hoàn toàn thấtbại

Tuy vậy, trong thời kỳ ở ngôi (1802-1820) Gia Long không ban hànhmột sắc chỉ cấm đạo nào Mặc dù trong sắc lệnh về tôn giáo năm 1804, trongkhoản 4 nói về Thiên chúa giáo, Gia Long công khai tuyên bố đó là một thứ

dị đoan và ra lệnh:… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến “Từ nay trong các tổng, các làng có nhà thờ của ngờiThiên Chúa giáo cấm sửa chữa hoặc xây dựng lại những nhà thờ đã bị h nát,còn cất nhà thờ mới ở những nơi cha có tuyệt nhiên cấm hẳn… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến.”[33, 73]

Đầu thế kỷ XIX, do phải đối phó với ảnh hởng của cuộc cách mạngPháp nên giáo hội Pháp không đủ sức cung cấp cho Việt Nam số giáo sỹ thừasai cần thiết Vì vậy, trong khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XIX, mặc dù GiaLong không thực hiện chính sách cấm đạo nhng việc truyền giáo không pháttriển đợc bao nhiêu, mà chỉ là thời gian giáo hội Việt Nam củng cố và ổn

định tổ chức để đối phó với những đợt cấm đạo ngày càng gay gắt từ thờiMinh Mạng trở đi

Là một ông vua có học vấn uyên thâm, có nhiều đóng góp cho việctrị nớc, Minh Mạng coi việc hạn chế để đi đến triệt bỏ hoàn toàn đạo Thiênchúa cũng là một chính sách lớn để duy trì trật tự quân chủ tức là ý thức hệNho giáo Do vậy, từ năm 1825 đến năm 1838, Minh Mạng đã liên tiếp ra 4sắc dụ cấm đạo (1825, 1833, 1836, 1838) với nội dung chủ yếu là: Ngăn cấmcác giáo sỹ thừa sai lén lút nhập cảnh để truyền đạo, giáo sỹ nào bị bắt sẽ bị

Trang 26

xử tử hình Tập trung các giáo sỹ thừa sai hiện đang có mặt tại Huế để dịchsách và tài liệu tiếng phơng Tây, đồng thời cũng là để quản thúc, không cho

họ tiếp xúc với giáo dân Khi đợc thả về nhiệm sở, các giáo sỹ này phải chịu

sự quản thúc của các quan địa phơng, không đợc đi lại tự do nếu không đợcphép Ai trái lệnh sẽ bị tử hình

Đối với giáo dân, Minh Mạng lệnh cho các quan phải ra sức giáohuấn họ bỏ đạo, tự thân vua thảo “Thập điều giáo huấn” để các chức sắc địaphơng giảng cho giáo dân, buộc giáo dân bỏ đạo Đặc biệt vấn đề cấm đạonày gắt gao hơn sau vụ binh biến Lê Văn Khôi ở Gia Định (7/1833) Các sắc

dụ thời vua Minh Mạng đã khiến hàng trăm giáo dân, hàng chục linh mụcbản xứ và giám mục tử đạo, gây thiệt hại rất nặng nề cho giáo hội Thiên chúagiáo ở Việt Nam

Tuy vậy, nhờ sự điều hành khéo léo của các giám mục, các thừa sai

và lòng trung kiên của các giáo hữu, đạo Thiên chúa ở Việt Nam vẫn khôngngừng phát triển Số liệu thống kê năm 1840 nh sau:

mục

PhóGiámmục

Thừasai

Linhmục bảnxứ

Giáodân

Nh vậy, so sánh với năm 1800, số giáo dân trong cả nớc đã tăng thêm

11000 ngời Từ năm 1841 đến 1847, dới thời Thiệu Trị, đạo Thiên chúa cócơ hội phát triển do nhà vua vẫn duy trì những sắc lệnh cấm đạo thời MinhMạng, nhng không ra thêm một chỉ dụ bắt đạo mới nào Do vậy số giáo sỹ vàgiáo dân bị nạn trong thời Thiệu Trị hầu nh không đáng kể Thời Thiệu Trị,các thừa sai nớc ngoài bị trục xuất, có 3 ngời tử đạo: bà An- nê Lê ThịThành, linh mục Phêrô Hoàng Khanh và Thánh Mathêô Lê Văn Gâm

Trang 27

Năm 1846, địa phận Tây Đàng Ngoài đợc chia thành 2 địa phận: Địaphận Vinh gồm Nghệ An, Hà Tĩnh và Bắc sông Gianh (Bố Chính) của tỉnhQuảng Bình do giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) quản trị với 35 linh mục,

4 trợ sỹ và 60 000 giáo dân Địa phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) gồm 50 linhmục, 6 trợ sỹ và 140.000 giáo dân do giám mục Retord (Liêu) cai quản

Dới thời Tự Đức, đã xảy ra nhiều biến cố lớn, ảnh hởng đến quá trìnhtruyền bá đạo Thiên chúa ở Việt Nam, nghiêm trọng nhất là việc quân độiPháp, Tây Ban Nha lấy cớ bảo vệ giáo sỹ, giáo dân, đòi tự do truyền giáo đã

nổ súng xâm lợc Đà Nẵng, tiếp đó tấn công Gia Định (1859) rồi chiếm đóng

3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ Trong cuộc tấn công đó, một bộ phận giáo dânthiếu sáng suốt đã cùng các giáo sỹ thừa sai Pháp hởng ứng, ủng hộ hành

động này Vì vậy, Tự Đức đã liên tiếp ra nhiều chỉ dụ cấm đạo, đặc biệt làsắc lệnh “Phân tháp”giáo dân, buộc dân giáo phải chia ra ở chung vào dân l-

ơng Vì vậy, nhiều giáo sỹ, thừa sai cũng nh giáo dân bị giết, cơ sở thờ tự bịphá huỷ Ngoài ra, trong phong trào Văn thân, những năm 1867- 1868, 1873,

1874, và 1883 – Quảng Bình 1885, đạo Thiên chúa cũng bị thiệt hại rất nặng nề

Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế đã ký với Pháp điều ớctrong đó khoản 2 quy định: “Những thần dân của 2 quốc gia Pháp và TâyBan Nha đợc phép truyền bá đạo Thiên chúa trong vơng quốc An Nam, vàcác thần dân của vơng quốc này, bất kể là ai, muốn đi theo đạo Thiên Chúathì đều đợc tự do và không có sự ép buộc, nhng cũng không ai đợc ép buộcmọi ngời đi theo đạo này nếu họ không muốn”[33, 81]

Do không đủ sức chống lại cuộc xâm lợc của Pháp ở Nam Bộ, lại loBắc Kỳ rơi vào tay của các cuộc khởi nghĩa, Tự Đức đã chủ trơng hoà hoãnvới Pháp

Với điều ớc năm 1874, Tự Đức đã thừa nhận chủ quyền của Pháp ởNam bộ và công khai thừa nhận Thiên chúa giáo đợc truyền bá tự do Từ sau

điều ớc này, đạo Thiên chúa đã trở thành một tôn giáo hợp pháp, đợc truyềnbá tự do và đợc bảo vệ Từ đây, đạo Thiên chúa đợc nớc Pháp bảo hộ để pháttriển, chấm dứt thời kỳ truyền bá khó khăn gian khổ bởi các chính sách cấm

và diệt đạo của các thế lực phong kiến Việt Nam

2.2 Quá trình hình thành và phát triển Giáo phận Vinh.

Trang 28

2.2.1 Sự du nhập đạo Thiên chúa vào Nghệ An- Hà Tĩnh - Quảng Bình

2.2.1.1 Dòng Tên Đặt nền móng truyền giáo vào Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình.

Ngợc dòng lịch sử thì Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình không phải là

địa danh đạo Thiên chúa du nhập vào sớm nhất mà theo Khâm định Việt sửthông giám cơng mục, năm 1533 đã có vị giáo sỹ Inikhu đến truyền đạo ởhuyện Nam Chân và Giao Thuỷ (Nam Định) Nhng việc vị giáo sỹ này có

đến truyền đạo ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình không thì không thấy tàiliệu nào nói đến Mà công lao truyền bá đạo Thiên chúa ở vùng này buổi ban

đầu thuộc về các thừa sai dòng Tên

Dòng Tên là dòng Đức chúa Giêsu do Ingatio De Loyola sáng lập ởTây Ban Nha năm 1534 Các giáo sỹ của dòng Tên là những ngời rất thôngthái về nhiều lĩnh vực và chính những lúc các ngài đi truyền giáo là lúc màcác ngài đem tất cả học vấn của mình giúp ích cho xã hội Chính ánh hàoquang tri thức toả ra từ các giáo sỹ thừa sai cùng với sự phát triển cao của ph-

ơng Tây về khoa học kỹ thuật đã góp phần thu hút ngời dân Việt Nam nóichung và ngời dân Nghệ An – Quảng Bình Hà Tĩnh- Quảng Bình nói riêng đến với đạoThiên chúa

Đối với 3 tỉnh Nghệ An – Quảng Bình Hà Tĩnh- Quảng Bình, điều may mắn là

có cơ hội đón nhận"tin mừng" từ chính nhà truyền giáo dòng Tên lừng danhAlexandre de Rhodes Chính ông đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng cơ sởvững chắc của đạo Thiên chúa trên mảnh đất này Alexandre de Rhodes sinhtại Avignon, ngày 15/03/1591, gốc tại tỉnh Argon, Tây Ban Nha, di c sangAvignon (Pháp) từ thế kỷ XV Năm 18 tuổi, ông đã gia nhập dòng Tên dothánh Ingatio De Loyola sáng lập, đợc huấn luyện truyền giáo tại trung tâm

tu luyện của dòng ở Rô Ma Lễ phục sinh năm 1818, ông đợc bề trên cử đitruyền giáo Ngày 27/12/1624 Alexandre de Rhodes theo thừa sai Gabriel DeMattos và các thừa sai khác xuống tàu vào miền Nam Việt Nam, đến ThuậnQuảng Đợc giáo sỹ De Pina giúp đỡ, ông đã chịu khó học tiếng Việt mộtcách nhanh chóng và thuần thục Chỉ 6 tháng, ông đã có thể giảng đạo bằngtiếng Việt, nghe giáo dân bản xứ xng tội và hiểu một cách sâu sắc về vănhoá, phong tục của ngời Việt Nam

Trang 29

Sau 2 năm ở Thuận Quảng, Alexandre de Rhodes đợc bề trên uỷ tháctrách nhiệm đi truyền giáo ở miền bắc Việt Nam cùng với giáo sỹ PedroMarquez ngời Nhật Bản Ngày 19/03/1627, ông đặt chân lên Cửa Bạng(Thanh Hoá), bắt đầu công cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài Ngày 2 tháng 7năm 1627, giáo sỹ Alexandre de Rhodes tới Kẻ Chợ, bằng những phơngpháp khéo léo và sự hỗ trợ của những tặng vật phơng Tây quý hiếm, ông đãchiếm đợc cảm tình của vua chúa, quan lại và tích cực truyền giảng đạoThiên Chúa Kết quả 2 thừa sai đã rửa tội đợc hơn 3500 ngời [33, 40].

Công cuộc truyền giáo đang diễn ra thuận lợi thì chúa Trịnh ra chỉ dụcấm đạo, trục xuất các thừa sai vĩnh viễn ra khỏi Việt Nam Cuối tháng 3năm 1629, các cha bị dẫn vào Nam chờ tàu buôn Bồ Đào Nha tới để theo kịp

về áo Môn (Ma Cao) Đây cũng là cơ hội để Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình

đợc đón nhận việc “rao giảng tin mừng” từ vị giáo sỹ dòng Tên này

Con thuyền đa các giáo sỹ dòng Tên rời khỏi Kẻ Chợ, xuôi theodòng sông Hồng qua các làng cửa ngõ miền Bắc vào miền Trung Bến đầutiên giáo sỹ Alexanđơrôt dừng chân trên đất Nghệ An là Cửa Chúa Bản đồViệt Nam do các giáo sỹ vẽ thời đó cho thấy bên dới Cửa Bạng (Thanh Hoá)

có một cửa biển đề tên “CUACIVA” nằm sát bờ biển trong phần đất tỉnhNghệ An, đọc rõ là Cửa Chúa Linh mục Alexandre de Rhodes đã nêu rõ: “Chúng tôi lên buồm đi từ trấn Thanh Hoá tới trấn Nghệ An và chúng tôi thấyhiện lên bến bà Chúa, ngời bản xứ gọi là Cửa Chúa”[2; 148]

Vậy Cửa Chúa là cửa nào? Cho đến nay vẫn cha thể xác định chínhxác Theo bản đồ địa lý hiện thời, khi rời khỏi Thanh Hoá, cho đến Bố Chính(Quảng Bình) ngày nay, ngời ta tính vùng bờ biển có tất cả 11 cửa Nghệ An

có 6 cửa là Cửa Cờn, Cửa Quèn, Cửa Thơi (Quỳnh Lu), Cửa Vạn ( Diễn Châu), Cửa Lò, Cửa Hội (Nghi Lộc) ở Hà Tĩnh có 3 cửa là Cửa Sót (Can Lộc),Cửa Nhợng (Cẩm Xuyên), Cửa Khẩu (Kỳ Anh), còn ở Quảng Bình có 2 cửa

là Cửa Ròn và Cửa Gianh

Theo linh mục Trần Minh Công, ông cho rằng Cửa Chúa là cửa Cờn,bởi theo bản đồ mà giáo sỹ Alexandre de Rhodes vẽ trong “Lịch sử vơngquốc Đàng Ngoài” thì Cửa Chúa nằm phía trong và gần nhất với Cửa Bạnghơn nữa cửa Cờn còn có đền thờ bà Chúa linh thiêng

Trang 30

Tuy nhiên, đa số ý kiến của các linh mục nghiên cứu về vấn đề nàycũng nh theo các nhà lịch sử nghiên cứu và giải thích thì họ đều cho rằngCửa Chúa chính là Cửa Lò ngày nay Bởi vì, trong bản đồ giáo sỹ Alexandre

de Rhodes vẽ hồi đó tính từ ngoài vào cho đến Bố Chính (Quảng Bình) chỉ cóbốn cửa biển đợc ghi tên là CUACIVA, CUA- RUM, CUA- SO và CửaGianh, chứ không ghi tên tất cả các cửa biển, vì vậy cha hẳn đã là cửa biểngần nhất với Cửa Bạng (tức là Cửa Cờn) Còn Cửa Lò vốn là một trong nhữngnơi có các giáo họ cổ xa nhất trong giáo phận nh họ Đá Dựng, Làng Ênh… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiếnNgoài những lời truyền khẩu của giáo dân ở Cửa Lò, vì đã đợc đón tiếp linhmục Alexandre de Rhodes thì “vẫn còn một bia tích không ai có thể hồ nghi

đợc, tấm bia đó do chính các giáo sỹ đã làm” [51, 44] Hơn thế nữa, sự hiểubiết về lịch sử địa phơng ở Cửa Lò của linh mục Alexandre de Rhodes cũng

là một minh chứng cho vấn đề này Linh mục Đỗ Quang Chính khi nghiêncứu về Alexandre de Rhodes ở Việt Nam cũng đã chú thích “Cửa Chúa hiệnnay là Cửa Lò và đợc định vị cách Bến Thuỷ, Vinh 10 cây số về hớng Bắc”

Sau khi vào Cửa Chúa, hai giáo sỹ đã gặp một quân nhân tên làSimong, ông đã tập trung đông đảo ngời nhà và bà con làng xóm để mời cha

về giảng đạo và làm phép rửa tội Nhờ đó giáo sỹ Alexandre de Rhodes vàgiáo sỹ Marquez đã có dịp rửa tội cho họ trong lần sơ ngộ này

Cách làng ông Simong “một khoảng xa là làng ông Andrê, lính túc

vệ ở kinh”, “ông này vội vã bỏ kinh thành và vội vã trở về trớc chúng tôi, ôngtởng sẽ gặp chúng tôi ở bến này, xa nơi ông ở chừng mấy dặm; nh vậy ông

có thể đa chúng tôi về nhà và xin cho mẹ, mẹ vợ và vợ ông chịu phép rửa.Nhng vì ông về trễ quá sau khi chúng tôi đã khởi hành, lại cũng về đêmkhông có thuyền để rợt theo, thế là ông đành theo đờng bộ đa mẹ, mẹ vợ, và

vợ ông đi tắt thông qua rừng núi để kịp tới trớc khi chúng tôi tới ĐàngTrong… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiếnThiên chúa đã ban cho họ đợc dễ dàng gặp chúng tôi ở nơi họ đã trùtính và đợc chịu ơn lành… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến” [2; 148]

Sau đó các giáo sỹ tiếp tục đi vào Bố Chính, đến địa giới Nghệ An

-Bố Chính thì đổi thuyền Trong 15 ngày đi từ Nghệ An đến -Bố Chính, 18trong số 36 anh em lính hải thuyền đã nghe giảng dạy và tự nguyện theo đạoThiên chúa và đợc giáo sỹ Alexandre de Rhodes rửa tội trớc khi trở về KẻChợ

Trang 31

Đến phần đất Bố Chính, hai giáo sỹ Alexandre de Rhodes vàMarquez đã may mắn đợc yết kiến vị quan trấn Bố Chính đã 80 tuổi và đợc

đón tiếp nồng hậu Ông cũng cho biết năm đó không có thơng thuyền Bồ

Đào Nha đến và các giáo sỹ muốn đi hay ở thì tùy, cả phơng tiện cũng vậy.Các giáo sỹ đã quyết định dùng con thuyền mà các tín đồ mua cho để đợc trởlại Kẻ Chợ Hơn nữa, với phơng tiện tự túc nh thế sẽ đợc tự do thăm viếnghoặc tiếp tục truyền giáo ở những họ đạo mà các ông đã lập đợc trong thờigian đi qua ở ven các bờ sông, bờ biển

“Những ngời trớc tiên hân hoan ra đón tiếp chúng tôi là hai ôngAndrê và Phêrô Nhờ công lao lo lắng của hai ông mà tất cả mọi ngời tronglàng hầu nh ai cũng đợc gặp lại hết Họ không đợc học giáo lý bao nhiêu, nh-

ng phần nhiều còn nhớ các kinh nguyện Vì phải dạy giáo lý cho họ mà trong

ba ngày ở lại, chúng tôi đã rửa tội thêm đợc 112 ngời” [28, 135 -137]

Sau đó các giáo sỹ đến thăm làng ông Simong, rửa tội thêm một sốngời rồi đến Cửa Rùm, vào thăm quan trấn Nghệ An Hiện nay ở Nghệ Ankhông có Cửa Rùm Theo giáo sỹ Đắc Lộ vẽ, Cửa Rùm nằm kế cận CửaChúa, tức là Cửa Lò Nh vậy, Cửa Rùm này không đâu khác ngoài Cửa Hội.Hơn nữa, trong cuộc hành trình của giáo sỹ Alexandre de Rhodes khi từ BốChính quay trở lại Nghệ An “ ông đã thẳng tới bến chính của tỉnh gọi làRùm” [2;152] và trong thực tế cửa biển chính vào tỉnh Nghệ An bấy giờ làcửa Hội Tuy nhiên, theo linh mục Trơng Bá Cần, thì Cửa Rùm có thể làthành phố Vinh vì trớc đây ở thành phố Vinh có một cái cầu gọi là Cầu Rầmbắc ngang kênh do Nam triều xây, sau này tuy bị phá đi nhng tên cầu đợc đặttên cho xứ đạo tỉnh lị Vinh gọi là nhà thờ Cầu Rầm (hiện nay ở phờng CửaNam, Thành phố Vinh)

Đối với dân chúng Nghệ An thời đó, ai cũng biết lệnh vua Lê chúaTrịnh cấm giảng đạo và các giáo sỹ bị đày biệt xứ, cho nên họ có phần e ngạicác giáo sỹ Hơn nữa, một số ngời còn cho rằng vì các giáo sỹ mà trời phạt

đại hạn mất mùa cơ cực May mắn cho đoàn truyền giáo là sau đó trời ma rất

to đã xoá tan những nghi kỵ ban đầu

Hơn nữa, thái độ của viên quan trấn Nghệ An tiếp đón giáo đoànniềm nở và nồng hậu đã làm d luận bớt xôn xao Đặc biệt, với việc dự báo tr-

ớc nhật thực xảy ra vào ngày 25 tháng 8 năm 1629 đã làm cho từ quan đến

Trang 32

dân rất khâm phục các thừa sai: “Việc trên trời mắt không thấy mà mấy ngời

đó còn nói trúng phóc nh thế, huống chi những việc đạo lý cao xa vợt tầm tríloài ngời, những việc của trời đất làm sao mà nói sai đợc” [51, 52]

Nhờ vậy, mà trong 8 tháng lu ngụ tại Nghệ An, nhất là thời gian đầuviệc truyền đạo đã đạt đợc những kết quả tốt đẹp, “ khắp nơi ngời ta tuôn đếnvới chúng tôi Có rất nhiều ngời gia nhập đoàn chiên Chúa Chính tay chúngtôi đã rửa tội cho 600 ngời Riêng các thầy giảng còn rửa tội đợc nhiều hơnthế nữa"[28, 137]

Sau khi giáo sỹ Alexandre de Rhodes và Marquez rời khỏi Nghệ An,trong khoảng thời gian dài từ năm 1629 đến năm 1632, ở Nghệ - Tĩnh - Bìnhkhông có giáo sỹ phơng Tây nào Nhng đạo Thiên Chúa ở đây vẫn tiếp tục đ-

ợc duy trì và phát triển Có thể nói, giáo sỹ Alexandre de Rhodes đã đếnNghệ An và Bố Chính một cách “bất ngờ” trong chuyến lu đày biệt xứ cuốitháng 3 năm 1629 Trong một tuần lễ, rửa tội 25 ngời, trong đó có một thầy

đồ đợc ông uỷ nhiệm điều khiển giáo đoàn trẻ ấy Ông đã đến Nghệ Antrong 8 tháng, rửa tội cho 600 tân tòng và để lại những Andrê, Phêrô, Simong

âm thầm mà hữu hiệu nối dài cánh tay giáo sỹ Đắc Lộ (Alexandre deRhodes), để xây dựng những cơ sở vững chắc cho Giáo phận Vinh sau này

Sau ba năm kể từ khi giáo sỹ Đắc Lộ đi qua truyền giáo, vào năm

1632, giáo sỹ Majorica và De Fontis mới đến thăm các họ đạo vùng Nghệ

An, Thanh Hoá Từ năm 1634, cha Majorica phải kiêm cả hai vùng Nghệ

An, Thanh Hoá Khi đến Nghệ An, ông đã chọn Rùm làm trụ sở chính đểhoạt động Lúc này đây là xứ đạo lớn với 4183 nhân danh, đã dựng đợc mộtnhà thờ đẹp Trong thời gian ở đây đến năm 1656, linh mục Majorica đã tíchcực làm việc, ông đã đi thăm các họ đạo, họ đôi ngày, họ bốn năm ngày, vừagiảng dạy cho giáo dân, vừa tổ chức, xếp đặt họ đạo, đồng thời ông đã soạnnhiều sách bằng chữ Nôm cho giáo dân dùng để củng cố đức tin cho giáodân và thu hút các tân dòng mới Cha Majorica cũng là ngời đề xớng và cổ

động việc học và thi giáo lý đối với giáo dân, cho đến nay vẫn đợc duy trì ởcác họ đạo

Với lòng nhiệt thành của giáo sỹ Majorica, tuy trải qua nhiều lần cấm

đạo (thời Trịnh Tráng 1636 – Quảng Bình 1637, 1643, 1649), Nghệ An vẫn trở thànhmột trong những trung tâm phát triển của đạo Thiên Chúa ở Đàng Ngoài

Trang 33

Riêng năm 1639, ở Nghệ An có 70 làng đợc lãnh nhận đức tin Đến năm

1645, có tới 72 làng theo đạo, 100 nhà thờ lớn, 300 nhà thờ nhỏ… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến[33, 54]

Đến năm 1658, chúa Trịnh Tạc đã ra lệnh triệu tập tất cả các vị thừasai về kinh và trục xuất về áo Môn, chỉ trừ lại vị vùng trởng nhng không chophép truyền đạo nữa Ngày 12 tháng11 năm 1663, tất cả những thừa sai vàvùng trởng truyền giáo Borgis theo tàu buôn Hà Lan trở về Châu Âu, chấmdứt vai trò 34 năm công khai truyền giáo ở Việt Nam của các thừa sai dòngTên (Tây Ban Nha) Họ đã gieo vãi thành công hạt giống "tin mừng" ở Nghệ– Quảng Bình Tĩnh – Quảng Bình Bình, đặt cơ sở vững chắc cho sự phát triển của đạo Thiên Chúasau này Từ đây, vai trò truyền giáo chuyển sang Hội thừa sai Pari của nớcPháp

2.2.1.2 Công cuộc truyền giáo của Hội thừa sai Pari

Đến giữa thế kỷ XV, khi lực lợng kinh tế của Bồ Đào Nha trở nênsuy yếu, không đủ sức đài thọ cho hoạt động truyền giáo ở Viễn Đông.Trong khi đó, nớc Pháp vận động mạnh mẽ toà thánh Vatican để thay thế Bồ

Đào Nha đảm đơng hoạt động truyền giáo Kết quả giám mục Pallu vàLambert de la Mothe đã đợc chọn cai quản giáo phận Đàng Ngoài và giáophận Đàng Trong

Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của đạo Thiên chúa tại ViệtNam, năm 1679, Giáo hoàng Clemente X chia giáo phận Đàng Ngoài thành

Đông Đàng Ngoài và Tây Đàng Ngoài, giáo phận Vinh thuộc Tây ĐàngNgoài

Đánh giá đợc tầm quan trọng của Nghệ – Quảng Bình Tĩnh - Bình, các giáo sỹHội thừa sai Pari đã rất chú trọng phát triển đạo Thiên chúa ở vùng này.Trong mọi giai đoạn vùng Nghệ – Quảng Bình Tĩnh – Quảng Bình Bình luôn đợc u tiên bằng việcGiám mục chính ở Hoàng Nguyên (Hà Nội) thì luôn luôn có một giám mụcphó cai quản vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Toà giám mục phó lúc

đầu đặt tại Tràng Đen (Nam Đàn), sau di chuyển xuống Thọ Kỳ, mãi đếnnăm 1842, giám mục Gauthier mới dời Toà giám mục ra Xã Đoài (tức NghiLộc ngày nay)

Năm 1682, vị thừa sai của Hội truyền giáo Pari đầu tiên đã đến Nghệ

An, đó là linh mục Jean Louis Sarrante Lúc này, tuy toà thánh Vatican đã

Trang 34

giao quyền truyền giáo miền Viễn Đông cho giáo sỹ ngời Pháp nhng nhữnggiáo sỹ dòng Tên không dễ dàng từ bỏ những gì họ đã khó nhọc tạo dựng,nên vẫn cho rằng giáo dân thuộc quyền cai quản của họ Do đó, giáo sỹ dòngTên đã không tuân thủ các thừa sai Pari mà còn tìm cách hạ uy tín của cácthừa sai Pari, lôi kéo các giáo hữu về phía mình Linh mục Jean LouisSarante là ngời đã có công rất lớn trong việc kiến tạo những cơ sở hoạt độngcủa các thừa sai Pari trớc sự hiện diện của các giáo sỹ dòng Tên ở đây.

Trong suốt thời gian hoạt động đến trớc khi thành lập Giáo phậnVinh, 12 vị thừa sai Pari đã bằng sự nhiệt tình và khéo léo vừa giảng đạo, vừachăm sóc các họ đạo để dần dần nắm đợc số giáo dân cũ (của thừa sai dòngTên) và phát triển giáo dân mới Đạo Thiên chúa ở đây nhờ vậy không nhữngtăng về số lợng và cả chất lợng

Đến năm 1844, khi đề cập đến vấn đề tôn giáo ở Nghệ An – Quảng Bình HàTĩnh – Quảng Bình Quảng Bình, Linh mục Retord (Liêu) đã nói “Cả giáo phận Tây

Đàng Ngoài có tất cả 170.080 giáo dân, phân phối trong 1300 họ giáo lớnnhỏ… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến ở 2 huyện tỉnh Quảng Bình, giáo dân có 17617 ngời, ở Hà Tĩnh vàNghệ An có 45364 bổn đạo “ Bổn đạo trong hai tỉnh này là những bổn đạosốt sắng nhất trong địa phận” [51, 77]

Đạt đợc kết quả đó trong tình hình đạo Thiên Chúa bị cấm ở cả ĐàngTrong lẫn Đàng Ngoài, không thể không nói đến vai trò của tầng lớp thầygiảng tại Nghệ – Quảng Bình Tĩnh – Quảng Bình Bình

Thầy giảng là những ngời đợc chọn từ những giáo dân am hiểu giáo

lý, có đạo đức đợc đào tạo để giúp các thừa sai trong việc giảng đạo, làmphép và chủ trì lễ khi thừa sai đi vắng Những ngời u tú trong số họ sẽ đợcthụ phong linh mục.Việc xây dựng hệ thống thầy giảng là một thành côngcủa các giáo sỹ Pari trong việc nhân rộng đức tin cho ngời bản xứ và gópphần phát triển vững chắc đạo Thiên Chúa ở Nghệ An- Hà Tĩnh – Quảng Bình QuảngBình Cũng nhờ đó, số lợng linh mục ngời bản xứ hoạt động ở đây cũngkhông ngừng tăng nhanh Cho tới đầu thế kỷ XVIII, chỉ có 20 linh mục ViệtNam đợc phong chức và ở Nghệ – Quảng Bình Tĩnh – Quảng Bình Bình có từ 2 đến 3 linh mục hoạt

động thì đến năm 1770, ở Nghệ - Tĩnh - Bình đã có 11 linh mục Việt Namhoạt động và đến năm 1833, có khoảng 30 linh mục Việt Nam hoạt động th-ờng xuyên ở Nghệ – Quảng Bình Tĩnh – Quảng Bình Bình [8, 30]

Trang 35

Theo thèng kª, tríc khi h×nh thµnh Gi¸o phËn Vinh, sè liÖu vÒ gi¸o

xø vµ gi¸o d©n ë tØnh NghÖ An- Hµ TÜnh – Qu¶ng B×nh Qu¶ng B×nh nh sau:

4974 1405 3052 4286 4046 2775 2393

[26, 68]

Trang 36

Nh vậy, với lòng nhiệt tình của mình, các giáo sỹ thừa sai Pari đã đánhthức đợc lòng say mê, sùng đạo của ngời dân Nghệ Tĩnh Bình, đã vợt quamọi khó khăn từ chính quyền phong kiến Trịnh Nguyễn, Tây Sơn đến mâuthuẫn nội bộ để phát triển đạo Thiên Chúa ở vùng này Mặc dù về tổ chức,cho đến năm 1845 vẫn cha có một Giáo phận Vinh tồn tại độc lập nhng cácgiáo sỹ đã xây dựng đợc một hệ thống tổ chức cơ sở tơng đối bền vững.

Đứng đầu các xứ lớn có vị trùm trởng, (hoặc trơng, ký), đứng đầu các xứ lớn

có thừa sai Đây là yếu tố hạt nhân, là cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng đểGiáo hoàng cho phép thành lập Giáo phận Vinh năm 1846 theo đề nghị củalinh mục Retort (Liêu), giám mục tổng đại diện phụ trách vùng Nghệ An, BốChính

2.2.1.3 Sự thành lập Giáo phận Vinh (27- 03- 1846)

Dới thời Thiệu Trị (1841-1847), các cuộc bách hại đạo tạm thời lắngxuống, tuy ông không ra lệnh huỷ bỏ các chiếu chỉ cấm đạo thời Minh Mạngnhng cũng không ra thêm một chiếu chỉ cấm đạo nào, bởi vậy có thể nói đây

là giai đoạn đạo Thiên chúa đợc truyền bá một cách công khai, phạm vitruyền bá đợc mở rộng, số lợng các giáo hữu tăng nhanh và xuất hiện nhucầu tách, chia, lập các xứ đạo, giáo phận mới Trong vòng 6 năm từ năm

1844 đến năm 1850 ở Việt Nam đã có 8 giáo phận đợc thành lập, trong đó cóGiáo phận Vinh Hơn thế, vùng đất Nghệ – Quảng Bình Tĩnh – Quảng Bình Bình luôn luôn nhận đ-

ợc sự quan tâm đặc biệt của Hội thừa sai Pari cũng nh toà thánh Vatican Khi

đang nằm trong giáo phận Tây Đàng Ngoài, vì Nghệ – Quảng Bình Tĩnh – Quảng Bình Bình có lãnhthổ dài, rộng nên cai quản giáo phận Tây Đàng Ngoài là giám mục chính ởHoàng Nguyên (gần Hà Nội), còn một giám mục phó hoặc tổng đại diện sẽ

đợc cử cai quản vùng Nghệ An – Quảng Bình Hà Tĩnh – Quảng Bình Quảng Bình này

Mặt khác, vùng Nghệ An – Quảng Bình Hà Tĩnh – Quảng Bình Quảng Bình có số giáo dân

đông đã chiếm hơn 1/3 tổng số giáo hữu của địa phận Tây Đàng Ngoài, lại

có giọng nói tơng đối khác biệt, con ngời rất can trờng, trải qua nhiều chặng

đờng khốn khó, bách hại, hạt giống “tin mừng” vẫn nảy mầm đâm rễ và pháttriển mạnh mẽ không ngừng Vì vậy, năm 1844, Đức giám mục Retord Liêu

đã kiến nghị với Bộ truyền giáo phân chia giáo phận Tây Đàng Ngoài đểthành giáo phận Nam Bắc Kỳ, tức Giáo phận Vinh ngày nay Nguyên Văn

nh sau: “Nếu đợc Ngài ban phép , trong tình trạng khẩn trơng hiện nay, tôi

Trang 37

xin đề nghị lên thánh bộ một việc khác là theo ý tôi, điều hay nhất nên chiagiáo phận này ra làm hai Tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và vùng thờng gọi là BốChính hiện có ít nhất 60000 giáo dân, xứng đáng để lập thành một giáo phận

có thể gọi tên là giáo phận Nam Bắc Kỳ”[51, 88]

Trớc sự phát triển không ngừng về tổ chức và lực lợng đạo Thiênchúa ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ngày 27/3/1846, Giáo hoàng GrêgôrXVI đã ban sắc thành lập giáo phận Nam Đàng Ngoài gồm hai tỉnh Nghệ

phong Giám mục phó Tây Đàng Ngoài là Đức cha Gauthier (Ngô Gia Hậu)làm giám mục địa phận mới Lúc đầu địa phận mới có tên là Giáo phận Nam

Đàng Ngoài, thời Pháp thờng gọi là địa phận Nam bên Bắc Kỳ, từ năm 1924gọi theo địa danh là địa phận Vĩnh, sau năm 1945 gọi là địa phận Vinh và đ-

ợc giữ cho đến ngày nay

Ngày 15 tháng 2 năm 1847, Đức cha Gauthier (Ngô Gia Hậu) vàonhận Giáo phận mới, giám mục phó là Masson (Nghiêm), cho đến lúc nàytoàn giáo phận có 1 giám mục đại diện tông toà, 1 giám mục phó, 4 thừa sai

là linh mục Masson, Simonin, Gally, Taillander, 35 linh mục bản xứ, 75 thầygiảng, 69 chúng sinh, 270 nữ tu, 19 giáo xứ với 345 giáo họ và 66350 giáodân Nh vậy, sự ra đời của Giáo phận Vinh là một điều tất yếu trớc sự pháttriển mạnh mẽ và không ngừng về tổ chức và lực lợng của đạo Thiên chúa ởNghệ An- Hà Tĩnh – Quảng Bình Quảng Bình

Sau một thế kỷ rỡi nằm trong giáo phận Tây Đàng Ngoài, Giáo phậnVinh đã có điều kiện để phát triển, hoàn chỉnh về tổ chức và trở thành mộtlực lợng chính trị xã hội quan trọng ở khu vực và địa phơng

2.2.2 Những bớc phát triển thăng trầm của Giáo phận Vinh thời

kỳ 1846 – Quảng Bình. 1975.

2.2.2.1 Giai đoạn 1846 – Quảng Bình. 1884.

Đây là thời kỳ bớc đầu xây dựng giáo phận dới quyền quản trị của

Đức giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) và Đức cha Croc (Hoà) trong hoàncảnh cực kỳ khó khăn bởi chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn

Ngay khi mới ra đời, Giáo phận Vinh đã phải đối mặt với hàng loạtcác sắc dụ cấm đạo năm 1848 của Tự Đức, rồi liên tiếp các sắc dụ 1851,

Trang 38

1853 ngày càng ác liệt Giám mục Ngô Gia Hậu đã phải bỏ dở chuyến đithăm phần lớn các giáo xứ, họ đạo của giáo phận Đặc biệt là sắc dụ cấm đạonăm 1848 đã nêu rõ: " Các thừa sai ngoại quốc phải chịu chặt đầu quẳngxuống biển, các nơi thờ tự công giáo phải phá thành bình địa, các linh mụcbản quốc phải in vào mặt bốn chữ nho : “da – Quảng Bình tô - dã - giáo” và phải đi línhphục vụ canh gác các dinh thự của nhà vua Do đó, Giáo phận Vinh cũng bịthiệt hại nặng nề Nhiều nhà thờ, trờng học, chủng viện và các cơ sở Dòngmến thánh giá bị phá huỷ, hàng chục linh mục, hàng ngàn giáo dân bị sáthại

Nh vậy trong nửa đầu thế kỷ XIX, dới quyền thống trị của nhàNguyễn, chỉ trừ thời vua Gia Long do chịu ơn sâu của giáo sỹ thừa sai Pháp

mà tiêu biểu là Bá Đa Lộc cho nên đạo Thiên chúa phát triển tự do ở n ớc ta.Còn Minh Mạng, Tự Đức đều bách hại đạo Thiên chúa bằng những sắc dụcấm đạo, bắt đạo gay gắt Những chính sách của nhà Nguyễn tuy nghiêmngặt và sử dụng những biện pháp hình sự nh trục xuất giáo sỹ, trấn áp tànkhốc giáo dân, thích chữ vào mặt, xử trảm, phá nhà thờ, thậm chí có lúc cónơi rất cực đoan Nhng rõ ràng đó là những biện pháp của nhà nớc lúc bấygiờ nhằm bảo đảm an ninh của vơng quốc trớc âm mu nhòm ngó, xâm lợccủa các nớc phơng Tây và nguy cơ nền văn hóa dân tộc bị xâm hại Lịch sử

đã cho thấy, giáo sỹ Alexandre de Rhodes ngay sau khi trở về Toà thánh vận

động các giáo sỹ Pháp sang Việt Nam truyền đạo, đã không ngần ngại nóirằng: “Đây là một vị trí cần phải chiếm lấy, và chiếm đợc xứ này thì các láibuôn châu Âu sẽ tìm đợc một nguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào”[5, 10]

Đặc biệt sau sự kiện Pháp và Tây Ban Nha lấy cớ bảo vệ đạo Thiên chúa, cứunguy công giáo tấn công cửa biển Đà Nẵng xâm lợc nớc ta, chủ trơng báchhại đạo ngày càng gay gắt hơn, Giám mục Ngô Gia Hậu đã phải rời khỏiGiáo phận Vinh, đến năm 1863, sau khi ký xong hoà ớc mới trở về

Nhìn lại lịch sử, tuy nhà Nguyễn thi hành chính sách cấm đạo xuấtphát từ việc bảo vệ an ninh của đất nớc nhng triều đình đã không giải thích

rõ vì sao lại cấm đạo cho nhân dân để tranh thủ sự ủng hộ của giáo dân và

l-ơng dân đối với mệnh lệnh của triều đình Do đó, cha đánh thức đợc lòng yêunớc vốn có của ngời dân Việt Nam, lôi cuốn họ đứng về phía dân tộc, bảo vệ

độc lập tự do của đất nớc Hơn nữa còn tạo ra mối bất hoà giữa dân lơng vàdân giáo, làm cho thực dân Pháp có thêm duyên cớ đẩy mạnh xâm lợc nớc ta

Trang 39

dới danh nghĩa bảo vệ đạo Cho nên, thực tế triều đình càng cấm đạo baonhiêu thì số lợng ngời theo đạo càng tăng lên bấy nhiêu.

Trong bản phúc trình đề ngày 13/2/1853, linh mục Gauthier Ngô GiaHậu đã thống kê số giáo dân giáo phận Vinh lên đến 76.397 ngời với 55 linhmục bản quốc, chia ra cho 21 xứ trong toàn giáo phận nh sau:

Trang 40

21 Cồn Dừa 2527 1

[51, 81]

Điều đó chứng tỏ sức sống đạo của giáo dân Nghệ - Tĩnh - Bình mạnh đếnchừng nào Sau hoà ớc 1862 về vấn đề nhợng 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ choPháp đợc ký kết, tình hình bách đạo mới dần dần lắng dịu Triều đình nhàNguyễn nghiêng về xu thế hoà hoãn với Pháp để chuộc đất về nên buộc phải

có sự thay đổi trong chính sách đối với đạo Thiên chúa vốn đợc nớc Pháp bảo

hộ

Nhng một bộ phận sỹ phu phong kiến đã không dễ dàng chấp nhận

sự bạc nhợc của triều đình trong việc cắt đất cho giặc, nhân một kỳ thi ở Huếnăm 1864 đã phát động phong trào đánh đuổi Pháp với khẩu hiệu “bình Tâysát tả”, gọi là phong trào Văn thân Văn thân là một tầng lớp rất yêu nớc, đầylòng tự tôn dân tộc và đợc đào tạo trong môi trờng Hán học thấm đẫm tinhthần Nho giáo Trớc nguy cơ “nớc mất nhà tan” bởi âm mu xâm lợc của thựcdân Pháp do các giáo sỹ thừa sai dẫn đờng và một số giáo dân ủng hộ âm munày, họ đã cho rằng tất cả những ngời theo đạo Thiên chúa đều là tay sai củaPháp nên chủ trơng tiêu diệt đạoThiên chúa rồi đánh đuổi giặc Pháp

ở Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình, mảnh đất giàu truyền thốngyêu nớc, quật cờng trong chống ngoại xâm và cùng cực dới chế độ phongkiến nhà Nguyễn, phong trào Văn thân đã diễn ra rất mạnh mẽ Khi sôi nổi,khi trầm lắng do sự can thiệp của triều đình nhng t tởng “bình Tây sát tả” đãkéo dài trên 20 năm bắt đầu từ Bang biện Trần Tấn, phó tổng Phan Điểm(1867) đến khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) và phong trào Cần Vơng (1885 -1886) Phong trào đốt phá nhà thờ, ngăn cản việc truyền đạo đã diễn ra vàgây ra nhiều vụ thảm sát hết sức đau lòng nh ở Bảo Nham (1874), Xuân Kiều(11/8/1885), Kẻ Sở (1886)… Về anh hùng dân tộc, có Mai Hắc Đế đã chiến

Đối với giáo phận Vinh, phong trào Văn thân đã để lại những hậuquả rất nặng nề: “129 làng công giáo của 8 xứ bị đốt phá, hàng trăm nhà thờ

bị triệt hạ, hàng nghìn giáo dân thiệt mạng”[26, 86]

Phong trào Văn thân ở Nghệ Tĩnh là một phong trào yêu nớc dotầng lớp Văn thân khởi xớng, nhng phong trào đã có những sai lầm khi cólúc xem việc “sát tả” là điều kiện thứ nhất của việc “Bình Tây” Nghĩa là giếtgiáo dân trớc rồi sau đó đánh đuổi thực dân Pháp Họ đã không phân biệt đầy

đủ tín đồ yêu nớc và các giáo sỹ làm tay sai cho Pháp Và với chủ trơng vơ

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Alexandre De Rhodes (1994), Lịch sử vơng quốc Đàng Ngoài, tủ sáchĐại Kết, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử vơng quốc Đàng Ngoài
Tác giả: Alexandre De Rhodes
Năm: 1994
3. Đặng Đức An - Lơng Ninh (1998 ), Lịch sử thế giới trung đại, tập I, quyển 2, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Nhà XB: NXB giáo dục
5. Báo Công giáo và dân tộc, số 632, xuất bản năm 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công giáo và dân tộc
8. Linh mục Trơng Bá Cần (1988), Lịch sử Giáo phận Vinh, lu hành nội bộ. Lu trữ Tòa giám mục Xã Đoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Giáo phận Vinh
Tác giả: Linh mục Trơng Bá Cần
Năm: 1988
9. Phan Bội Châu ( 1958), Việt Nam vong quốc sử, NXB văn sử địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam vong quốc sử
Nhà XB: NXB văn sử địa
10. Các Mác - Ăng ghen tuyển tập (1980 ), tập I, NXB Sự thật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác - Ăng ghen tuyển tập
Nhà XB: NXB Sự thật
11. Các Mác - Ăng ghen tuyển tập (1980 ), tập II, NXB Sự thật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác - Ăng ghen tuyển tập
Nhà XB: NXB Sự thật
12. Các Mác - Ăng ghen toàn tập (1994 ), tập II, NXB HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác - Ăng ghen toàn tập
Nhà XB: NXB HN
13. Các văn kiện Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, của Đảng cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn kiện Đại hội lần thứ VI, VII, VIII
14. Chỉ thị về chủ trơng và công tác đối với đạo Thiên Chúa ở miền Bắc, số 22-CT/TW, ngày 5 - 7- 1961, KH: 1767T.32. Lu trữ văn phòng TWĐảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về chủ trơng và công tác đối với đạo Thiên Chúa ở miền Bắc
15. Chỉ thị số 29- CT/TW về việc thi hành Sắc lệnh mới về vấn đề tôn giáo, ngày 27 - 6- 1955, đồng chí Phạm Văn Đồng ký. Lu trữ Viện Lịch sửĐảng TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 29- CT/TW về việc thi hành Sắc lệnh mới về vấn đề tôn giáo
16. Chỉ thị số 94 - CT/TW, 9-1954: Về việc thi hành chính sách tôn giáo ở miền mới giải phóng, do đồng chí Trờng Chinh ký ngày 21-9-1954.Lu trữ Viện Lịch sử Đảng TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 94 - CT/TW, 9-1954: Về việc thi hành chính sách tôn giáo ở miền mới giải phóng
17. Chỉ thị 37 CT/TW ngày 02/07/1998 của Bộ chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 37 CT/TW
18. Chỉ thị số 66- CT/TW ngày 26 -11-1990: Về việc thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về " Tăng cờng công tác tôn giáo trong tình hình mới". Lu trữ Viện Lịch sử Đảng TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cờng công tác tôn giáo trong tình hìnhmới
20. Đinh Dung (1997 ), Thử tìm hiểu ảnh hởng của Nho Giáo trong đờng lối ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XXI, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu ảnh hởng của Nho Giáo trong đờng lối ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XXI
21. Trần Văn Giàu (1995 ), Sự phát triển của t tởng Việt nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám năm 1945, NXB Chính trị Quốc gia, tËp 1,2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của t tởng Việt nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng Tháng Tám năm 1945
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
22. Giáo hội công giáo Việt Nam niên giám 2004 ( 2004 ), NXB Tôn giáo, Văn phòng tổng th ký Hội đồng giám mục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo hội công giáo Việt Nam niên giám 2004 (
Nhà XB: NXB Tôn giáo
23. Mai Thanh Hải (1998 ), Tôn giáo thế giới và Việt Nam, NXB Công an nh©n d©n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo thế giới và Việt Nam
Nhà XB: NXB Công an nh©n d©n
24. Giacôbê Võ Văn Hậu (2005 ), Lịch sử Giáo hội công giáo tóm lợc, (Lu hành nội bộ). Lu trữ Tòa giám mục Xã Đoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Giáo hội công giáo tóm lợc
26. Hỏi đáp 150 câu về Giáo phận Vinh (1995 ), NXB Thuận Hóa, Lu trữ Tòa giám mục Xã Đoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp 150 câu về Giáo phận Vinh
Nhà XB: NXB Thuận Hóa

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w