Đợc viết những xúc động từ trong lòng, từnhững điều chính mắt các em quan sát đợc, không ít học sinh đã vết đợcnhững bài văn khá hoàn chỉnh với những hình ảnh so sánh thật phong phú vàsi
Trang 3Cho phép tôi xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới Tiến sĩ Chu Thị Hà Thanh, ngời luôn tận tìnhchỉ dẫn, giúp đỡ và tạo cho tôi niềm hứng thú trong công việc vốn đầy khó khăn và tháchthức này.
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy giáo, cô giáo trongkhoa Giáo dục tiểu học Trờng Đại Học Vinh, các trờng tiểu học Bắc Hà, Mai Phụ, ThạchChâu, các đồng nghiệp và bạn bè, đặc biệt là gia đình - đã dành những góp ý chân thành vàtạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Dù đã rất cố gắng nhng do hạn chế về năng lực của ngời nghiên cứu, hạn chế về mặt côngviệc Vì vậy, chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong các thầycô giáo và bạn đọc góp ý
Vinh, tháng 12 năm 2008
Tác giả
0
Trang 4HS Häc sinh
SGK S¸ch gi¸o khoa
TV TiÕng ViÖt Tlv tËp lµm v¨n
Trang 6Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong đời sống, muốn mọi ngời nhận ra những điều mình thấy, đã
sống chúng ta phải miêu tả So với vẽ, và đặc biệt là những bức vẽ trẻ em
còn cha hoàn thiện, thì "Lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rất nhiều lần
những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vận động, lôgíc,
sự phức tạp của sự kiện Vì vậy, từ lớp 4, hoạt động sáng tạo yêu thích của trẻ
em là viết văn nói chung và viết văn miêu tả nói riêng Bởi thông qua hoạt
động này các em có thể thể hiện hết trí tởng tợng và khả năng cảm nhận thếgiới đồ vật, cây cối, cảnh vật và con ngời xung quanh Nếu đợc học văn miêutả theo một chơng trình đúng, một phơng pháp tốt thì trẻ em tuổi này sẽ rấthứng thú khi học văn miêu tả Đợc viết những xúc động từ trong lòng, từnhững điều chính mắt các em quan sát đợc, không ít học sinh đã vết đợcnhững bài văn khá hoàn chỉnh với những hình ảnh so sánh thật phong phú vàsinh động, hấp dẫn ngời đọc, ngời nghe
ở tiểu học, ngay từ lớp 2 học sinh đã đợc làm quen với thể loại văn
miêu tả thông qua việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi Đến lớp 3, 4, 5 thì nội
dung này lại đợc cụ thể hơn và yêu cầu cũng cao hơn Bên cạnh đó, ở lớp 3sách giáo khoa Tiếng Việt đã giới thiệu sơ bộ về phép tu từ so sánh ở đây,cha đi sâu về lý thuyết của phép tu từ so sánh mà chỉ hình thành những hiểubiết và kỹ năng ban đầu về so sánh thông qua hệ thống các bài tập thực hành
So sánh đợc xem là một trong những phơng thức tạo hình, gợi cảm, gợi ranhững hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho conngời Qua đó giúp học sinh cảm nhận đợc cái hay, cái đẹp của những hình ảnhthơ văn đồng thời giúp học sinh vận dụng phép tu từ so sánh vào quan sát các
sự vật, hiện tợng và con ngời xung quanh các em Từ đó, giúp học sinh thểhiện vào các bài văn miêu tả đợc tốt hơn, sâu sắc hơn và sinh động hơn
Thế nhng, trong thực tế, cả giáo viên và học sinh còn gặp rất nhiều khókhăn trong việc vận dụng phép tu từ so sánh vào dạy và học văn miêu tả Vìvậy, hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả cha cao Học sinh cha biết trongtrờng hợp nào nên vận dụng phép tu từ so sánh vào nói, viết đoạn văn, bài vănmiêu tả của mình Nếu có sử dụng hình ảnh so sánh thì cũng là phát hiện củangời khác vì thế hành văn của các em cha tạo đợc sự mới mẻ, độc đáo, cha códấu ấn cá nhân
Trang 7Mặt khác, giáo viên cha nhận thức đúng tầm quan trọng của việc dạyvăn miêu tả cho học sinh, giáo viên cha có những hiểu biết về lí thuyết củavăn miêu tả cũng nh cha nắm đợc đặc trng của văn miêu tả
Tất cả những lý do trên, đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu: "Quy trình hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Về văn miêu tả và dạy- học văn miêu tả cũng nh việc vận dụng phép tu từ sosánh trong văn miêu tả đã có một số công trình nghiên cứu đề cập:
1 Nguyễn Trí trong Dạy tập làm văn ở tiểu học [17], công trình này đã giới
thiệu về văn miêu tả, đặc điểm của văn miêu tả, giới thiệu quy trình làm cáckiểu bài làm văn miêu tả cũng nh phơng pháp dạy các kiểu bài đó Mặc dù,sách đã đề cập đến vấn đề văn miêu tả, những nét đặc sắc của sự vật , hiện t-ợng khi miêu tả, song cũng chỉ nói qua, cha hình thành và cha đề cập đến phép
tu từ so sánh và việc vận dụng chúng vào luyện tập làm văn miêu tả
2 Vũ Khắc Tuân trong Bài tập luyện viết văn miêu tả ở tiểu học [19], tác giả
đi sâu vào giới thiệu các bài tập thuộc các loại bài của văn miêu tả và một sốkinh nghiệm của các nhà văn trong việc làm văn miêu tả, một số giai thoạitrong việc dùng câu chữ khi viết văn
3 Lê Phơng Nga- Nguyễn Trí viết Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học [11] Phần đầu cuốn sách bàn về những vấn đề chung của dạy tiếng Việt ở tiểu
học và sau đó đi sâu vào các phơng pháp dạy học các phân môn cụ thể Côngtrình này cũng bàn nhiều về phơng pháp dạy văn miêu tả, đề cập đến nhữngtồn tại và đa ra những kiến nghị trong dạy học văn miêu tả Tuy nhiên, nhữngkiến nghị và giải pháp mà công trình đa ra còn ở góc độ khái quát, cha vậndụng đợc vào thực tiễn dạy- học văn miêu tả ở nhà trờng tiểu học hiện nay
4 Vũ Tú Nam- Phạm Hổ- Bùi Hiển- Nguyễn Quang Sáng trong Văn miêu tả
và kể chuyện [10] Về cấu trúc, sách gồm hai phần:
Phần 1- Giới thiệu những bài viết của các nhà văn về suy nghĩ, kinh nghiệmcủa bản thân khi viết văn miêu tả và kể chuyện
Phần 2- Là những đoạn văn tả và kể chọn lọc của nhiều cây bút khác nhau
Trang 8Cũng nh những công trình nghiên cứu ở trên, công trình này chỉ mới đề cậpnhững nét chung nhất của một bài miêu tả, những vấn đề đa ra vấn còn là trừutợng đối với giáo viên và học sinh Vì thế, giáo viên rất khó vận dụng vào quátrình dạy- học văn miêu tả ở lớp 4, 5.
5 Đinh Trọng Lạc viết 99 phơng tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt [7].
Đây là cuốn đề cập đến các biện pháp tu từ và các phơng tiện diễn đạt, trong
đó có phép tu từ so sánh Tuy nhiên, công trình này chỉ nghiên cứu về mặt líthuyết chứ cha chỉ ra sự vận dụng của phép tu từ này vào dạy- học văn miêu tả
ở tiểu học
6 Nguyễn Thị Hạnh trong Phơng pháp dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3 [4].
Đây là công trình nghiên cứu sâu về phép tu từ so sánh, song luận văn này chỉdừng lại ở đối tợng học sinh lớp 3 Việc vận dụng phép tu từ so sánh chỉ hớng
đến các phân môn của môn Tiếng Việt ở lớp 3 Công trình cha đề cập đến việchớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong Tập làm vănmiêu tả
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về vấn đề văn miêu tả và phép
tu từ so sánh Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các công trình này vẫn cha
có tính hệ thống và đặc biệt là cha có một công trình nào nghiên cứu về: Quy
trình hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả.
Nh vậy, vấn đề hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ sosánh trong giờ làm văn miêu tả đang là một khoảng trống lớn cha đợc chú ý.Việc tìm ra quy trình hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ sosánh trong Tập làm văn miêu tả là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lợng dạyhọc Tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quy trình hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ
so sánh trong Tập làm văn miêu tả góp phần tháo gỡ những khó khăn của giáoviên và học sinh nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và học văn miêu tả ởlớp 4, 5
4 Khách thể và đối tợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học văn miêu tả ở lớp 4, 5
4.2 Đối tợng nghiên cứu
Trang 9Quy trình hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánhtrong Tập làm văn miêu tả.
5 Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng, nếu đa ra đợc một quy trình hớng dẫn học sinhlớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong quá trình làm bài văn miêu tả thìhiệu quả của việc dạy- học văn miêu tả ở lớp 4, 5 sẽ đợc nâng cao
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí thuyết về phép tu từ so sánh và việc vận dụng phép tu
từ so sánh trong dạy- học văn miêu tả ở lớp 4, 5
6.2 Nghiên cứu thực trạng dạy- học của giáo viên và học sinh về vấn đề
7.2 Phơng pháp quan sát - điều tra
Nhằm nghiên cứu thực tế dạy học phép tu từ so sánh, dạy học văn miêutả ở lớp 4, 5 để phát hiện ra những vấn đề cần nghiên cứu, cần có giải phápkhắc phục
7.3 Phơng pháp thực nghiệm
Nhằm kiểm tra tính hiệu quả của các đề xuất về quy trình dạy học vănmiêu tả
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần: mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chơng:
Chơng 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Trang 10Ch¬ng 2 Quy tr×nh híng dÉn häc sinh líp 4, 5 luyÖn tËp vÒ phÐp tu
tõ so s¸nh trong TËp lµm v¨n miªu t¶
Ch¬ng 3 Thùc nghiÖm vµ kÕt qu¶ thùc nghiÖm
Trang 11Theo Đào Duy Anh trong từ điển Hán Việt, miêu tả là"lấy nét vẽ hoặc
câu văn để biểu hiện cái chân tớng của sự vật ra" Trong văn miêu tả, ngời ta
không đa ra những lời nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tợng về
sự vật nh: Cái cặp này cũ, cái bàn này hỏng Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sựviệc, hiện tợng, con ngời bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Vănmiêu tả giúp ngời đọc nhìn rõ chúng, tởng nh mình đang xem tận mắt, bắt tậntay Tuy nhiên, hình ảnh một cánh đồng, một dòng sông, một con vật, một conngời do văn miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh chụp lại, sao chép lại mộtcách vụng về Nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung độngsâu sắc mà ngời viết đã thu lợm đợc khi quan sát cuộc sống
Chúng ta hãy nhìn xem cảnh mùa xuân bên bờ sông Lơng dới ngòi bút
của Nguyễn Đình Thi:"Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ sông
L-ơng Mùa xuân đã điểm các chùm hoa đỏ mọng lên những cành cây gạo chót vót giữa trời và trải màu lúa non sáng dịu lên khắp mặt đất mới cách ít ngày còn trần trụi đen xám Trên những bãi đất phù sa mịn hồng mơn mởn, các vòm cây quanh năm xanh um đã dần dần chuyển màu lốm đốm, nh đợc rắc thêm một lớp bụi phấn hung hung vàng; Các vờn nhãn, vờn vải đang trổ hoa.
Và hai bên ven con sông nớc êm đềm trong mát, không một tấc đất nào bỏ hở Ngay dới dòng sông từ sát mặt nớc trở lên, những luống ngô, đỗ, lạc, khoai, cà chen nhau xanh rờn phủ kín các bãi cát mùa này phơi cạn "
Trong đoạn văn miêu tả trên đây cảnh mùa xuân hiện lên cụ thể, từ
"chùm hoa gạo đỏ mọng chót vót ’’ đến "màu lúa non sáng dịu, những vòm
cây xanh um" Tình cảm yêu mến cảnh vật của tác giả không bộc lộ trực tiếp,
lộ liễu mà kín đáo gửi gắm trong từng chi tiết miêu tả Các màu sắc "đỏ mọng,
mịn hồng, mơn mởn, màu lúa non sáng dịu, xanh um, xanh rờn ", màu nào
cũng đậm, cũng nh đập mạnh vào mắt ngời đọc để khoe sức sống dồi dào bêntrong mỗi vòm cây, tán lá, để khoe cái màu mở, cái hớn hở, mà mùa xuân vừakhoác lên cho cỏ cây Những màu sắc tng bừng ấy là sự phản chiếu lên cảnhvật tình cảm sâu lắng bên trong của tác giả Tóm lại, biết quan sát và lựa chọntinh tế tác giả chỉ cần phác họa vài nét đã tạo ra bức tranh xuân rực rỡ mà hàihoà về màu sắc, giàu cảm xúc
Trang 12Sự miêu tả trong văn chơng có u thế riêng so với sự miêu tả bằng màusắc, đờng nét của hội hoạ Dùng ngôn ngữ, văn chơng có thể miêu tả sự vậttrong một quá trình vận động, có thể tả cả những thứ vô hình nh âm thanh,tiếng động, hơng vị hay t tởng tình cảm thầm kín của con ngời.
Nói tóm lại, "miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật củacảnh, của ngời, của vật để giúp ngời nghe, ngời đọc hình dung đợc các đối t-ợng ấy" (theo SGK TV4-Tập 1- Chơng trình TV hiện hành)
1.1.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả, [17.tr 105]
1.1.1.2.1 Văn miêu tả mang tính thông báo, thẫm mĩ, chứa đựng tình cảm của ngời viết
Dù là tả một con mèo, một con gà, một cây bàng thay lá mùa thu đếnmột cành lúa chín, một cảnh nhà ga hay bến tàu , bao giờ ngời viết cũng
đánh giá chúng theo một quan điểm thẫm mĩ, cũng gửi vào bài viết ít nhiềutình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luận của mình Do vậy, từng chi tiết củabài miêu tả đều mang ấn tợng cảm xúc chủ quan
Đặc điểm này làm cho miêu tả trong văn học khác hẳn miêu tả trongkhoa học (nh sinh học, địa lí học, khảo cổ học ) Miêu tả trong phân mônTập làm văn cũng khác hẳn miêu tả trong môn Khoa học thờng thức hoặc Tựnhiên và Xã hội
Ví dụ: Cùng miêu tả một con bớm, nhng chúng ta cùng so sánh hai
đoạn miêu tả sau:
"Thân bớm có 3 phần: đầu, ngực, bụng Phần ngực có bốn cánh, sáu
chân Bớm bay đợc là nhờ hai đôi cánh là hai màng rộng bản Chúng có vảy cánh bao phủ nên không trong nh cánh chuồn chuồn" (Trích từ sách Khoa
học thờng thức)
Đoạn miêu tả trên gạt bỏ hẳn cảm xúc riêng của ngời viết Các chi tiếthiện ra thật chính xác nhng thật lạnh lùng Hơn nữa ở đây ngời ta chỉ nêu ranhững chi tiết chỉ đặc điểm chung của loài bớm (cấu tạo thân, cánh ) và bỏqua đặc điểm riêng của từng con bớm
Đoạn thứ hai, "Ngoài giờ học chúng tôi tha thẫn bắt bớm Chao ôi!
Những con bớm đủ hình dáng, đủ sắc màu Con xanh biếc pha đen nh nhung bay nhanh loang loáng Con vàng sẫm, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng ca, lợn lờ đờ nh trôi trong nắng Con bớm quạ to bằng hai bàn tay ngời lớn, màu vàng xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ giữ tợn Bớm trắng bay theo đàn líu ríu nh hoa nắng Loại bớm nhỏ đen kịt, là là theo chiều gió, hệt nh tàn than của những đám đốt nơng Còn lũ bớm vàng tơi xinh xinh của những vờn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông".
Trang 13Ngay từ đầu đoạn miêu tả, tình cảm của tác giả đối với những cánh bớm
đã đợc xác định Đó là sự yêu thích, say mê bộc lộ qua hành động tha thẫn
bên bờ sông để bắt bớm, qua lời phát biểu trực tiếp "Chao ôi! Những con bớm
đủ hình dáng, đủ màu sắc ".Từng chi tiết tả loại bớm đều gắn với niềm say mê
đó, đều chứng tỏ sự gắn bó, hoà quyện tâm hồn của tác giả với thiên nhiên
Nếu không nh vậy làm sao có thể nhận ra cái dáng bay của đàn bớm trắng "líu
ríu nh hoa nắng ", làm sao lại có thể có sự liên tởng mới mẻ này: "loại bớm nhỏ, đen kịt, là là theo chiều gió, hệt nh tàn than của những đám đốt nơng "
1.1.1.2.2 Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình
Đặc điểm quan trọng này thờng cha đợc làm rõ trong các tài liệu về vănmiêu tả dùng trong các nhà trờng hiện nay Đây là phẩm chất của một bài
miêu tả hay M.Gorki có lần phân tích: "Dùng từ để "tô điểm"cho ngời và vật
là một việc Tả họ một cách sinh động, cụ thể đến nỗi ngời ta muốn lấy tay sờ,
nh ngời ta thờng muốn sờ mó các nhân vật trong Chiến tranh và hòa bình của
Lép - Tôn - xtôi, đó là một việc khác hay chuyện trò với các nhân vật lại là
một chuyện khác"
Một bài miêu tả đợc coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật,phong cách con ngời đợc miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng nh trongcuộc sống thực, tởng nh có thể cầm nắm đợc, có thể nhìn, ngắm đợc hoặc "sờmó" đợc nh cách nói của Gorki Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêutả là những chi tiết sống, gây ấn tợng Tớc bỏ chúng đi, bài miêu tả sẽ trở nên
mờ nhạt, vô vị Bài tả: Những cánh bớm bên bờ sông sẽ thế nào nếu bị xoá đi các chi tiết "tha thẫn ở bờ sông, đen nh nhung, bay nhanh loang loáng, nhiều
hình mặt nguyệt, ven có răng ca, lợn lờ đờ trôi trong nắng, là là theo chiều gió, hệt nh tàn than của những đám đốt nơng " Bài văn sẽ trơ trọi ra bộ xơng
khô Đọc nó tởng nh bắt gặp nụ cời nhợt nhạt của một ngời không còn sinhkhí Tuy nhiên, cần chú ý tránh một khuynh hớng là đa quá nhiều chi tiết đểbài miêu tả trở nên rờm rà theo kiểu liệt kê, đơn điệu Cần phải gạt bỏ đi chitiết thừa, không có sức gợi tả hay gợi cảm để cho bài miêu tả gọn và giàu chấttạo hình Những chi tiết sinh động lấy ở đâu ? Lấy từ sự quan sát cuộc sống
Trang 14quanh ta, từ kinh nghiệm sống của bản thân Có bắt nguồn từ trong thực tế, cóthai nghén từ trong kinh nghiệm, văn của ta mới cụ thể và linh hoạt.
Tuốc-ghê- nhi- ép có lần tâm sự : "Khi tôi mô tả cái mũi nâu đỏ hay
mái tóc màu sáng, thì quả nhiên mái tóc ấy màu sáng, cái mũi ấy màu đỏ thật
và điều ấy không có cách gì bác bỏ đợc Để tôi có thể viết ra đợc một cái gì
đấy, tôi cần thờng xuyên lẫn lộn với những con ngời, nắm đợc họ trong trạng thái sống "
1.1.1.2.3 Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Chỉ có nh vậy ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tả cảm xúc củangời viết, vẽ đợc sinh động, tạo hình đối tợng miêu tả Quan sát nhiều văn bảnmiêu tả, ngời ta thấy ngôn ngữ miêu tả giàu các tính từ, động từ, thờng hay sửdụng phép so sánh, nhân hoá, ẩn dụ Do sự phối hợp của các tính từ (màu sắc,phẩm chất ) của các động từ với các biện pháp tu từ, ngôn ngữ miêu tả luônluôn toả sáng lung linh trong lòng ngời đọc, gợi lên trong lòng họ những cảmxúc, tình cảm, ấn tợng, hình ảnh về sự vật đợc miêu tả Ví dụ, sau đây là một
đoạn văn tả cảnh có ngôn ngữ giàu hình ảnh : "đó là một buổi chiều mùa hạ
có mây trắng xô đuổi nhau trên cao Nền trời xanh vời vợi Con chim sơn ca cất tiếng hót tự do, tha thiết đến nỗi khiến ngời ta phải ao ớc giá mình có một
đôi cánh Trải khắp cánh đồng là nắng chiều vàng lịm và thơm hơi đất, là gió
đa thoang thoảng ngậm đòng và hơng sen" (Đỗ Chu)
1.1.1.3 Văn miêu tả trong nhà trờng tiểu học
Hiện nay văn miêu tả đợc đa vào chơng trình phổ thông ngay từ các lớp
đầu bậc Tiểu học Từ lớp 2, khi tập quan sát để trả lời câu hỏi, các em đã bắt
đầu làm quen với văn miêu tả Tại sao lại cho học sinh học văn miêu tả sớm
nh vậy? Có thể nêu nhiều lí do: văn miêu tả phù hợp với tâm lí tuổi thơ, ( aquan sát, thích nhận xét, sự nhận xét thờng thiên về mặt cảm tính ); gópphần nuôi dỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giớixung quanh, trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáo dụctình cảm thẫm mĩ, lòng yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ Họcvăn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa t duy vàtình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con ngời với thiên nhiên, với xã hội, đểkhêu gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thợng, đẹp đẽ Xu-khôm-
lin-xki, nhà giáo dục Xô Viết cho rằng: việc học sinh tiếp xúc với thiên nhiên,
Trang 15việc dạy các em miêu tả cảnh vật nhìn thấy, nghe thấy là con đờng có hiệu quả nhất để giáo dục và phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
ở bậc tiểu học, căn cứ vào đối tợng miêu tả, ngời ta chia văn miêu tảthành nhiều kiểu bài: tả đồ vật, cây cối, con vật, tả cảnh, tả ngời
Tuần chủ điểm Nội dung Trang
14 Tiếng sáo diều Thế nào là miêu tả 140
14 Tiếng sáo diều Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật 143
15 Tiếng sáo diều Luyện tập miêu tả đồ vật 150
15 Tiếng sáo diều Quan sát đồ vật 153
16 Tiếng sáo diều Luyện tập miêu tả đồ vật 162
17 Tiếng sáo diều Đoạn văn trong bài văn miêu tả
19 Ngời ta là hoa đất Luyện tập xây dựng mở bài
trong bài văn miêu tả đồ vật
10
19 Ngời ta là hoa đất Luyện tập xây dựng kết bài
trong bài văn miêu tả đồ vật
11
20 Ngời ta là hoa đất Miêu tả đồ vật
(kiểm tra viết)
18
21 Ngời ta là hoa đất Trả bài văn miêu tả đồ vật 28
21 Ngời ta là hoa đất Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối 30
22 Vẻ đẹp muôn màu Luyện tập quan sát cây cối 39
22 Vẻ đẹp muôn màu Luyện tập miêu tả các bộ phận
của cây cối
41
23 Vẻ đẹp muôn màu Luyện tập miêu tả các bộ phận
của cây cối
50
23 Vẻ đẹp muôn màu Đoạn văn trong bài văn miêu tả
cây cối
52
24 Vê đẹp muôn màu Luyện tập xây dựng đoạn văn
miêu tả cây cối
60
25 Những ngời quả cảm Luyện tập xây dựng mở bài
trong bài văn miêu tả cây cối
75
26 Những ngời quả cảm Luyện tập xây dựng kết bài
trong bài văn miêu tả cây cối
82
26 Những ngời quả cảm Luyện tập miêu tả cây cối 83
27 Những ngời quả cảm Miêu tả cây cối 92
Trang 16( kiÓm tra viÕt)
27 Nh÷ng ngêi qu¶ c¶m Tr¶ bµi v¨n miªu t¶ c©y cèi 94
29 Kh¸m ph¸ thÕ giíi CÊu t¹o cña bµi v¨n miªu t¶
con vËt
112
30 Kh¸m ph¸ thÕ giíi LuyÖn tËp quan s¸t con vËt 119
31 Kh¸m ph¸ thÕ giíi LuyÖn tËp miªu t¶ c¸c bé phËn
32 T×nh yªu cuéc sèng LuyÖn tËp x©y dùng më bµi, kÕt
bµi trong bµi v¨n miªu t¶ convËt
141
33 T×nh yªu cuéc sèng Miªu t¶ con vËt
(kiÓm tra viÕt)
149
34 T×nh yªu cuéc sèng Tr¶ bµi v¨n miªu t¶ con vËt 159
1 ViÖt Nam Tæ Quèc em CÊu t¹o bµi v¨n t¶ c¶nh 11
1 ViÖt Nam Tæ Quèc em LuyÖn tËp t¶ c¶nh 14
2 ViÖt Nam Tæ Quèc em LuyÖn tËp t¶ c¶nh 21
3 ViÖt Nam Tæ Quèc em LuyÖn tËp t¶ c¶nh 31
3 ViÖt Nam Tæ Quèc em LuyÖn tËp t¶ c¶nh 34
4 C¸nh chim hoµ b×nh LuyÖn tËp t¶ c¶nh 43
4 C¸nh chim hoµ b×nh T¶ c¶nh ( kiÓm tra viÕt) 44
5 C¸nh chim hoµ b×nh Tr¶ bµi v¨n t¶ c¶nh 53
6 C¸nh chim hoµ b×nh LuyÖn tËp t¶ c¶nh 62
7 Con ngêi v¬n tíi thiªn
12 Gi÷ lÊy mµu xanh LuyÖn tËp t¶ ngêi 122
13 Gi÷ lÊy mµu xanh LuyÖn tËp t¶ ngêi 130
13 Gi÷ lÊy mµu xanh LuyÖn tËp t¶ ngêi 132
15 V× h¹nh phóc con ngêi LuyÖn tËp t¶ ngêi 150
15 V× h¹nh phóc con ngêi LuyÖn tËp t¶ ngêi 152
Trang 1716 Vì hạnh phúc con ngời Tả ngời ( kiểm tra viết) 159
17 Vì hạnh phúc con ngời Trả bài văn tả ngời 172
19 Ngời công dân Luyện tập tả ngời 12
19 Ngời công dân Luyện tập tả ngời 14
20 Ngời công dân Kiểm tra viết 21
21 Ngời công dân Trả bài văn tả ngời 34
27 Nhớ nguồn Ôn tập về tả cây cối 96
27 Nhớ nguồn Tả cây cối (kiểm tra viết) 99
29 Nam và nữ Trả bài văn tả cây cối 116
b) T tởng chỉ đạo trên đã chi phối việc lựa chọn và sắp xếp tri thức vềvăn miêu tả trong chơng trình
Trang 18Qua thống kê ở trên, chúng ta thấy rằng, vấn đề dạy văn miêu tả ở lớp 4,
5 chơng trình tiếng Việt hiện hành đợc triển khai trên hai kiểu bài: Hình thành
kiến thức mới và Luyện tập thực hành.
ở kiểu bài Hình thành kiến thức mới, có cấu tạo ba phần ( Nhận xét;
Ghi nhớ; Luyện tập ) riêng phần Nhận xét và Luyện tập đợc xây dựng dới
dạng bài tập Phần Ghi nhớ chỉ bao gồm những vấn đề lí thuyết khái quát đợc rút ra từ phần Nhận xét và sẽ đợc củng cố thêm ở phần Luyện tập.
Các bài tập ở phần Nhận xét có mục đích chính là giúp HS phân tích
ngữ liệu để rút ra các khái niệm hoặc quy tắc cần ghi nhớ Mỗi bài tập ở phần
này sẽ tơng đơng với một bộ phận tri thức lí thuyết ở phần Ghi nhớ.
Đối với kiểu bài Luyện tập thực hành thờng bao gồm một tổ hợp bài tập Các bài tập của kiểu bài Luyện tập thực hành và các bài tập ở mục Luyện
tập của kiểu bài Hình thành kiến thức mới đều có mục đích và hình thức giống
nhau Chúng bao gồm hai loại: bài tập nhận diện và bài tập vận dụng.
Bài tập nhận diện có mục đích giúp HS củng cố các kiến thức lí thuyết
đã đợc hình thành trong bài ( với các bài tập ở phần Luyện tập) và các kiếnthức lí thuyết HS đã học ở những tiết trớc ( với các kiểu bài tập ở bài Luyệntập thực hành )
Bài tập vận dụng có mục đích giúp HS ứng dụng lí thuyết về các kiểubài của văn miêu tả, ứng dụng cách trình bày nói và viết các phần trong mộtbài văn miêu tả theo nhiều cách khác nhau trớc một đề bài, một gợi ý, mộttình huống cụ thể
Tóm lại, qua thống kê và phân tích chơng trình SGK Tiếng Việt ta thấynét khác biệt cơ bản là chơng trình cũ không dạy về lí thuyết văn miêu tả cònchơng trình mới dạy lí thuyết văn miêu tả nh: Khái niệm về văn miêu tả; Cấutạo của bài văn miêu tả: cây cối, con vật, đồ vật, tả cảnh, tả ngời Tất cả hệ
thống lí thuyết này đều đợc dạy thông qua kiểu bài Hình thành kiến thức mới
và thông qua kiểu bài Luyện tập thực hành lại tiếp tục củng cố và khắc sâu tri
thức lí thuyết
1.1.2 Phép tu từ so sánh và việc dạy phép tu từ so sánh trong chơng trình Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.2.1 Phép tu từ so sánh là gì?
1.1.2.1.1 So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó ngời ta
đối chiếu hai đối tợng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả hình ảnh
một lối tri giác mới mẻ về đối tợng.
Trang 19* Mô hình so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố
1 2 3 4
Mặt tơi nh hoa
Trong đó 1 là hình ảnh so sánh ( Mặt ), 2 là đặc điểm so sánh (
t-ơi), 3 là liên từ so sánh ( nh), 4 là cái đợc so sánh (hoa )
* So sánh tu từ đợc dùng phổ biến trong các phong cách của tiếng Việt,nhng chỉ trong việc sản sinh các văn bản có tính nghệ thuật hay thể loại vănmiêu tả nó mới có thể biểu hiện đầy đủ nhất những khả năng tạo hình- diễncảm của nó Ví dụ:
Tiếng rơi rất mỏng nh là rơi nghiêng
(Trần Đăng Khoa)
"Một làn gió rì rào chạy qua, những chiếc lá rập rình lay động nh
những đốm lửa vàng lửa đỏ bập bùng cháy "(Trần Hoài Dơng - TV4 - Tập 1).
1.1.2.1.2 Chức năng của phộp tu từ so sỏnh
a) Chức năng nhận thức
Bản chất của sự so sỏnh là lấy một hỡnh ảnh cụ thể để miờu tả một hỡnhảnh chưa được cụ thể Paolơ cho rằng: "Sức mạnh của so sỏnh là nhận thức"[9.tr.193]
Vớ dụ: - Nhanh như súc
- Nhanh như cắt
- Nhanh như ngựa phi
- Nhanh như giú thổi
- Nhanh như điện
hoặc: Bà như quả ngọt chớn rồi
Càng thờm tuổi tỏc, cỏc tươi lũng vàng
(TV3, Tập 1- tr7)
"Bà" được vớ như quả ngọt đó chớn, bà càng cú tuổi thỡ tỡnh cảm của bàcàng sõu sắc, càng thờm ngọt ngào như quả chớn trờn cõy Chớnh sự so sỏnhnày, mà người chỏu đó hiểu và đó thể hiện được tỡnh cảm, sự quý trọng củachỏu đối với bà
b) Chức năng biểu cảm, cảm xỳc
Trang 20Ngoài chức năng nhận thức, phép tu từ so sánh còn có chức năng biểucảm, cảm xúc Với chức năng này, lời nói trong giao tiếp hằng ngày củachúng ta sẽ dễ đi vào lòng người hơn, và dễ dàng đạt được mục đích giao tiếp.Cùng viết về tiếng suối nhưng mỗi người lại có một cách nhìn riêng, cáchcảm riêng, sau đây là một số ví dụ:
- Tiếng suối trong như tiếng hát xa
(Hồ Chí Minh)
- Tiếng suối trong như níc Ngọc Tuyền
Êm như hơi gió thoảng cung tiên
(Thế Lữ - TiÕng gäi bªn s«ng)
- Trong nh tiÕng h¹c bay qua
§ôc nh níc suèi míi sa nöa vêi
(NguyÔn Du - TruyÖn KiÒu)Nhờ có so sánh tu từ mà những hình ảnh vốn rất đỗi bình thường trongcuộc sống hàng ngày đã đi vào thơ ca, vào lòng người vừa nhẹ nhàng lại vừasâu lắng
Do chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm- cảm xúc, và do cấutạo đơn giản cho nên so sánh tu từ ®ược dùng nhiều trong phong cách tiếngViệt (phong cách sinh hoạt hàng ngày, phong cách chính luận) nhất là tronglời nói nghệ thuật
+ Trong lời nói hàng ngày có những cách nói ví von rất hay, rất hìnhảnh, rất thấm thía Dân gian sử dụng biện pháp tu từ so sánh một cách sángtạo trong thành ngữ, tục ngữ: Ví dụ:
- Gầy như mắm, gầy như cò hương, gầy như mèo hen, gầy như quỷ,
gầy như ma đói.
+) Trong lời nói nghệ thuật, so sánh tu từ đã biểu hiện ®ầy đủ nhữngkhả năng tạo hình - diễn cảm của nó Nhà văn luôn cố gắng phát hiện ranhững nét giống nhau chính xác đến bất ngờ, điều mµ người ta không để ýđến hoặc không nhận thấy Ví dụ:
- Trong như tiếng hạc bay qua
§ôc nh níc suèi míi sa nöa vêi
Trang 21- Trời cao lại thẳm như đỏy biển mỡnh vừa tuột tay đỏnh rơi ngọc mỡnh
và đỏy vụ biờn và mỡnh cũng đang lao theo
- Nam cao hơn Yến
- Cô ấy đẹp hơn chúng ta nghĩ rất nhiều
Dạng 3: So sánh tuyệt đối- (so sánh bậc cao nhất)
Là dạng so sánh dùng để khẳng định một việc gì đó theo cách nhìnnhận, cách đánh giá riêng của ngời so sánh
Ví dụ:
Ôi lòng Bác bao la trong di chúc
Vẫn hạt lúa củ khoai chân chất bình thờng
Cả dân tộc khóc Ngời thơng mình nhất
Trang 22Ngời đợc thơng trên tất cả ngời thơng
Ngời suốt đời quên mình cho Tổ quốc.
(Việt Phơng)Qua ví dụ trên ta thấy đối tợng đợc đa ra để so sánh thật đặc biệt Song,
do cách nhìn nhận rất riêng, các đối tợng vốn là khác loại, khác bản chất nhnglại có thể chuyển hóa cho nhau, có những nét tơng đồng Đây là những pháthiện mới mẻ và độc đáo của ngời so sánh
Tóm lại, so sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó ngời
ta đối chiếu hai đối tợng khác loại của thực tế khách quan, không đồng nhấtvới nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằnghình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tợng
1.1.2.2 Phép tu từ so sánh trong chơng trình Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.2.2.1 Bảng 2: Nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong phân Luyện từ và câu ở lớp 3.
1 Măng non Làm quen với phép tu từ so sánh 8
7 Cộng đồng So sánh con vật với con ngời 79
10 Quê hơng So sánh âm thanh với âm thanh 98
12 Bắc-Trung- Nam So sánh hoạt động với hoạt động 98
15 Anh em một nhà Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh 126
* Một số nhận xét về nội dung dạy học phép tu từ so sánh trong
ch-ơng trình luyện từ và câu ở lớp 3.
a) Xét về mặt thời lợng, chơng trình đã dành 7 tiết (7 bài) dạy toàn bộphần phép tu từ so sánh- chiếm 1/35 tổng số thời gian của môn Tiếng Việt, 1/5tổng thời gian của môn Luyện từ và câu
b) Xét về mặt nội dung, ở lớp 3 dạy học phép tu từ so sánh cho học sinhthông qua hệ thống các dạng bài tập:
Đối với loại bài tập này thờng đa ra các ngữ liệu nh: Câu văn, câu thơ,khổ thơ, đoạn văn Trong đó, ngời ta sử dụng phép tu từ so sánh Và nhiệm vụcủa học sinh là chỉ ra đợc các hình ảnh so sánh, các sự vật đợc so sánh, các vế
đợc so sánh, các từ đợc so sánh, các đặc điểm so sánh với nhau trong ngữliệu ấy Trong loại bài tập này ngời ta chia ra các kiểu bài cụ thể nh:
Trang 23- Tìm những sự vật đợc so sánh Với loại bài tập này giúp học sinh nắm
đợc cấu trúc của phép so sánh Các em sẽ nhận ra yếu tố 1(hình ảnh so sánh)
và yếu tố 4 (cái đợc so sánh) trong phép so sánh
Ví dụ: Tìm những sự vật đợc so sánh vói nhau trong các câu thơ dới
đây
Ơ, cái dấu hỏi Trông ngồ ngộ ghê,
Nh vành tai nhỏ Hỏi rồi lắng nghe
(TV3 - Tập 1, tr 8)
- Tìm những hình ảnh so sánh ở loại bài tập này các em không chỉ nắm
đợc cấu trúc của phép so sánh mà còn phải tìm cả hình ảnh so sánh
Ví dụ: Tìm hình ảnh so sánh trong câu văn dới đây:
Những đêm trăng sáng dòng sông là một đờng trăng lung linh dát vàng.
Nh mây từng chùm
- Mắt hiền sáng tựa vì sao
Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời.
Trang 24Ví dụ: Trong những đoạn trích sau, những hoạt động nào đợc so sánh
với nhau: "Xuồng con đậu quanh thuyền lớn giống nh đàn con nằm quanh
bụng mẹ Khi có gió, thuyền mẹ cót két rên rỉ, đám xuồng con lại húc húc vào mạn thuyền nh đòi bú tí".
(TV3 - Tập 1, tr 98)
Qua ví dụ trên ta thấy những chiếc " Xuồng con" bỗng trở thành những
đứa trẻ đang vòi vĩnh đòi bú tí quanh bụng mẹ và cái hành động "cót két rênrỉ" "rất mẹ" của xuồng mẹ đã tạo nên một hình ảnh so sánh độc đáo, vừa trẻthơ lại rất đỗi nên thơ
Trong loại bài tập này gồm 2 lọai bài tập nhỏ: Bài tập nhận biết tácdụng của phép tu từ so sánh; Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh
- Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh Loại bài tập này
ch-ơng trình không yêu cầu học sinh phải chỉ ra tác dụng của phép tu từ so sánh
mà học sinh thông qua giải bài tập, phát hiện và cảm nhận cái hay, cái đẹp củacác hình ảnh so sánh Từ đó các em tập diễn đạt thành lời
Ví dụ:
Đọc đoạn thơ sau:
Đã có ai lắng nghe Tiếng ma trong rừng cọ
Nh tiếng thác dội về
Nh ào ào trận gió.
Qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng ma trong rừng cọ ra sao?
- Bài tập đặt câu có phép tu từ so sánh Đây là loại bài tập có mức độyêu cầu khó với học sinh khi học phép tu từ so sánh Từ những cấu trúc trớchọc sinh sẽ tìm những từ phù hợp điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh câu qua sựquan sát các bức tranh
Ví dụ: Quan sát từng cặp sự vật đợc vẽ dới đây rồi viết những câu có
hình ảnh so sánh các sự vật trong tranh
(TV3- tập 1, tr 126)
Về mặt hình thức: Chơng trình đã giới thiệu sơ lợc cho các em về sự
phát triển của cấu trúc so sánh một cách sơ lợc nhất
Trang 25Học sinh đợc làm quen với phép tu từ so sánh có độ dài cấu trúc dới cácdạng nh sau:
Về mặt nội dung: Sự thay đổi cấu trúc A x B còn đợc thể hiện qua sự
biến đổi về quan hệ ngữ nghĩa của 2 vế Xét về mức độ ý nghĩa, mô hình sosánh có dạng: Dạng: A x B
(Trừu tợng) (Cụ thể)
Trong đó, A đợc so sánh nh B
Ví dụ: Mặt biển sáng trong nh tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.
(TV3 - Tập 1- tr 8)Hoặc:
Trang 26Ví dụ: Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đờng trăng lung linh
mà lớn hơn đó là tình yêu dành cho những ngời thân trong gia đình và cao hơnnữa là tình yêu dành cho Bác Hồ Đó còn là vẻ đẹp của các vùng miền trên đấtnớc ta; Những kiến thức chơng trình đa ra để dạy về phép tu từ so sánh ở mức
độ cơ bản và sơ giản, cha đi sâu vào dạy chúng nh một lý thuyết về từ; Mặtkhác, nội dung về phép tu từ so sánh đợc xây dựng theo quan điểm tích hợp.Các nội dung kiến thức không chỉ đợc dạy trong phân môn Luyện từ và câu ởlớp 3 mà còn đợc lồng ghép trong tất cả những phân môn của môn Tiếng Việt
Đây là cơ sở vững chắc để học sinh phát triển kỹ năng sử dụng biện pháp tu từ
Nét đặc thù của nhân cách học sinh lứa tuổi này là ý thức mình khôngcòn là trẻ con Vì vậy tuy hành vi vẫn là trẻ con nhng các em lại tỏ ra mình đã
là ngời lớn Các em dễ cáu bẳn nếu bị ngời lớn âu yếm nh trẻ con, và bớngbỉnh, khó bảo nếu không đợc tôn trọng, không đợc c xử bình đẳng Tuổi nàyvì vậy đợc gọi là tuổi chuyển tiếp, tuổi " bất trị"
Do sự cân bằng cơ thể của trẻ em bị phá vỡ, sự cân bằng cơ thể ngời lớncòn cha vững chắc, các em dễ xúc động và xúc động cao.L.X Vgốtxki:
Trang 27"Những giai đoạn khủng hoảng trong đời sống con ngời, những thời kỳ chuyển
tiếp và cấu tạo lại cơ thể luôn tràn đầy những phản ứng cảm xúc và đời sống tình cảm" (Tởng tợng và sáng tạo ở tuổi thiếu niên - Matxcơva 1967).
Tình trạng dâng cao cảm xúc khiến trẻ em tuổi này có một sự thay đổi
đáng kể là: Các em thích quan sát thích nhận xét đánh giá, thờng thì nhữngnhận xét này mang tính trực quan cảm tính, các em đã thay hoạt động sáng tạoyêu thích là vẽ ở trớc giai đoạn trớc tuổi đến trờng và đầu tiểu học bằng hìnhthức sáng tạo ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết So với vẽ, và đặc biệt là những
bức vẽ trẻ em còn cha hoàn thiện, thì "Lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn
rất nhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vận động, lôgíc, sự phức tạp của sự kiện Vì vậy, từ lớp 4, hoạt động sáng tạo
yêu thích của trẻ em là viết văn nói chung và viết văn miêu tả nói riêng Bởithông qua hoạt động này các em có thể thể hiện hết trí tởng tợng và khả năngcảm nhận thế giới đồ vật, cây cối, cảnh vật và con ngời xung quanh Nếu đợchọc văn miêu tả theo một chơng trình đúng, một phơng pháp tốt thì trẻ em tuổinày sẽ rất hứng thú khi học văn miêu tả Đợc viết những xúc động từ tronglòng, từ những điều chính mắt các em quan sát đợc, không ít học sinh đã vết
đợc những bài văn khá hoàn chỉnh với những hình ảnh so sánh thật phong phú
và sinh động, hấp dẫn ngời đọc, ngời nghe Tất cả những đặc điểm tâm sinh lýcủa học sinh lứa tuổi thiếu niên (Giai đoạn phát triển tâm lý thứ hai của bậctiểu học) là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu, đa ra qui trình dạy vănmiêu tả nhằm phù hợp với tinh thần đổi mới phơng pháp dạy học, phù hợp vớimục tiêu của môn Tiếng Việt, đặc biệt phù hợp với sự phát triển tâm lý, trí tuệlứa tuổi này
1.2 Cơ sở thực tiễn
Việc dạy - học làm văn ở nhà trờng phổ thông nói chung, việc dạy họcvăn miêu tả ở lớp 4, 5 nói riêng, bên cạnh nhiều điểm tốt, mang lại một số kếtquả nhất định, còn khá nhiều nhợc điểm và khuyết điểm Khuyết điểm lớnnhất, dễ thấy nhất là bệnh công thức, khuôn sáo, máy móc thiếu tính chânthực trong cả cách dạy và học văn miêu tả
Trang 28- Vay mợn ý tình của ngời khác, thờng là của một bài mẫu Nói cáchkhác, học sinh sẵn sàng học thuộc một bài văn mẫu, một câu văn mẫu, khi làmbài các em sao chép ra và biến thành bài làm của mình, không kể đầu bài quy
định nh thế nào Với cách làm ấy, các em không cần biết đến đối tợng miêutả, không quan sát và không có cảm xúc gì về chúng Chấm bài không tinh,thầy cô giáo dễ khen nhầm văn của ngời khác mà cứ tởng là văn của học tròmình Đây là điều không chỉ xảy ra với văn miêu tả mà hầu hết các thể loạivăn khác cũng tơng tự nh thế
- Miêu tả hời hợt, chung chung không có một sắc thái riêng biệt nào của
đối tợng đợc tả Vì thế bài làm ấy gán cho đối tợng miêu tả nào cùng loạicũng đợc, thay đổi họ tên của ngời làm bài đi dùng cho học sinh nào cũng thế.Một bài miêu tả nh vậy đọc lên ta cảm thấy nhợt nhạt, mờ mờ Nguyên nhânchủ yếu là vì các em không đợc quan sát, không biết cách hồi tởng lại kinhnghiệm sống của mình hoặc không biết cách quan sát nên không có nhữngnhận xét cụ thể và tinh tế
1.2.1 Về phía giáo viên
Kết quả điều tra, vào năm học 2007- 2008, ở các trờng tiểu học: Bắc
Hà, Mai Phụ, Thạch Châu, trên đối tợng là GV dạy ở các lớp 3, 4,5 thuộc tỉnh
Hà Tĩnh của chúng tôi cho thấy rằng: 57,2% GV dạy lớp 4, 5 cha thấy đợctầm quan trọng của của việc dạy văn miêu tả cho HS Chỉ có 42,8% GV nắm
đợc tầm quan trọng của việc dạy văn miêu tả cho HS Và có 30,62% nắm đợc
đặc điểm của văn miêu tả, số giáo viên còn lại khi đợc phỏng vấn đều trả lờichung chung 69,38% Điều này chứng tỏ ở giáo viên sự thiếu hụt về lý thuyếtvăn miêu tả còn chiếm một số lợng lớn Đa số giáo viên đều cho rằng Tập làmvăn khó dạy, đặc biệt là thể loại văn miêu tả, không biết diễn đạt thế nào, lựachọn hình thức dạy học ra sao để học sinh dễ hiểu 73,12% GV gặp khó khăntrong quá trình dạy Tập làm văn Ngoài kiểm tra những hiểu biết chung của
GV về văn miêu tả, trong quá trình điều tra chúng tôi cũng tiến hành khảo sát
về nhận thức cũng nh thực trạng sử dụng phép tu từ so sánh trong khi dạy họcvăn miêu tả Có 28,12% GV đã vận dụng biết pháp tu từ so sánh trong khi h-
Trang 29ớng dẫn HS nói, viết đoạn văn, bài văn miêu tả Tuy nhiên, mức độ và hiệuquả cha thực sự cao
Có 41,87% GV nắm đợc khái niệm của phép tu từ so sánh 33,12% GVnhận biết đợc phép tu từ so sánh 56,25 % GV nắm đợc các dạng so sánh ởtiểu học Có thể thấy rằng: những hiểu biết về mặt lí luận của GV về văn miêutả và phép tu từ so sánh đang còn là một khoảng trống với họ vì thế việc vậndụng vào thực tiễn dạy học còn gặp nhiều khó khăn ( Xem bảng 3)
Ngoài những thực trạng cụ thể mà chúng tôi khảo sát ở trên ở GV còntồn tại một số nhợc điểm chung sau đây:
- Giáo viên chỉ có một con dờng duy nhất hình thành các hiểu biết về lí
thuyết thể văn, các kĩ năng làm bài thông qua việc phân tích các bài mẫu.
- Để đối phó với học sinh làm bài kém, để bảo đảm "chất lợng" thi địnhkì nhiều thầy giáo, cô giáo cho học sinh học thuộc một số bài mẫu để các
em khi gặp một đề bài tơng tự và nh thế cứ việc chép ra Vì vậy, dẫn đến tìnhtrạng cả thầy và trò nhiều khi bị lệ thuộc vào mẫu không thoát khỏi đợc mẫu
- Ra đề bài văn miêu tả không cần biết đến đề đó có thích hợp với họcsinh của mình không Giáo viên quá lệ thuộc vào sách giáo khoa và sách giáo
viên, cha có sự chủ động, linh hoạt trong mỗi lần ra đề, cha chú ý đến đặc
điểm của từng vùng miền Ví dụ, ở thành phố cho học sinh tả con lợn của nhà
em, con trâu của đội em, cho học sinh tả "chiếc cối đậu", cây cà chua (SGKTiếng Việt 4) Đây là những đồ vật, con vật, cây cối vốn xa lạ với các em họcsinh thành phố Còn ở nông thôn lại ra đề cho các em tả một " sân ga", "bếntàu" tất cả những điều này có thể các em cha nhìn thấy, cha đợc quan sátchúng Điều này có nghĩa từ khâu ra đề tới câu văn mẫu nhất nhất đều theoSGK không sai một chữ nào dù đối tợng đợc miêu tả không phù hợp với từnghọc sinh, dù dàn ý mẫu không thích hợp với hoàn cảnh miêu tả cụ thể của lớpmình dạy, dù câu văn mẫu không phù hợp với quan sát thực của các em
- Qua thực tế giảng dạy của bản thân ở trờng tiểu học chúng tôi cũng dễdàng nhận thấy một điều: Tất cả các giờ học Tập làm văn không chỉ riêng thểloại văn miêu tả mà các giờ TLV còn lại đều đợc tiến hành trong bốn bức tờng
Trang 30chật hẹp Đa số học sinh đợc hỏi đều có câu trả lời: "cô giáo chỉ ghi đề bài ởbảng lớp, sau đó cho học sinh đọc gợi ý trong SGK và tiếp theo là chúng em tựlàm bài văn".
- Trong quá trình dạy- học văn miêu tả giáo viên cha khai thác hết cácbiện pháp dạy học, cha vận dụng các biện pháp tu từ so sánh vào quá trìnhluyện tập, thực hành cho học sinh Có chăng, giáo viên chỉ nhắc đến tên củacác biện pháp tu từ chứ cha hớng dẫn học sinh cách thức làm nh thế nào, chacho học sinh đợc trực tiếp quan sát đối tợng miêu tả Vì vậy, bài làm của họcsinh cha đúng theo yêu cầu của đề, cha thực sự sinh động và hình ảnh so sánhnhiều khi tỏ ra khập khiễng
1.2.2 Về phía học sinh học
Giữa học kỳ I, đầu học kỳ II, năm học 2007- 2008, chúng tôi tiến hànhkhảo sát hai mặt kiến thức về phép tu từ so sánh và vận dụng phép tu từ sosánh vào làm văn, khảo sát những hiểu biết của HS lớp 4, 5 ( ở các trờng chọnthực nghiệm) về thể loại văn miêu tả và thực trạng của việc học văn miêu tảcủa HS
- Học sinh không hứng thú học văn miêu tả Các em cho rằng học Toán,
Âm nhạc, Mĩ Thuật hấp dẫn đối với các em Học sinh say sa khi giải các bàitoán khó, say sa với hoạt động vẽ của mình Đối với các em, học văn miêu tảthực sự là một công việc hết sức khó khăn, vì chúng em không biết diễn đạtthế nào, không biết liên tởng, tởng tợng ra sao để nói, viết về đối tợng tả chophù hợp
- Mỗi một lần có kiểm tra là chúng em chịu khó học thuộc các bài vănmẫu để đối phó với đề ra của cô giáo
Khi phỏng vấn HS đã không ngần ngại trả lời chúng tôi về những tồn tại nóitrên Tuy nhiên, khi đa các Test trắc nghiệm mà chúng tôi xây dựng thì hầu hết tấtcả các em đều hào hứng trong việc giải quyết các nhiệm vụ Kết quả 19,25% HS đạt
điểm giỏi khi vận dụng phép tu từ so sánh vào làm văn tả cô giáo em 40,76% HS
đạt điểm khá, tỷ lệ đạt điểm yếu và trung bình thấp: yếu 11,53% Số lợng HS đạt
điểm giỏi trong việc nhận diện hình ảnh so sánh rất cao 55,4% Khả năng liên tởng
Trang 31đến hình ảnh so sánh khác rất phong phú và đa dạng, mỗi em có một cách liên tởngkhác nhau nhng tất cả câu trả lời đều làm thỏa mãn sự mong đợi của chúng tôi.29,48% liên tởng đến hình ảnh so sánh khác của HS đạt điểm giỏi, 38,46% đạt điểmkhá Có thể nói, khi chúng tôi kiểm tra kết quả, các em đã cho chúng tôi đọc những
đoạn văn, những câu trả lời thật dí dỏm và bất ngờ: bất ngờ không chỉ hình ảnh sosánh hay, tinh tế mà còn độc đáo, sự so sánh của các em không theo một lối mònquen thuộc, những hình ảnh các em đa ra rất gần gũi với cuộc sống đời thờng, ( Kếtquả ở bảng 4)
Nguyên nhân của thực trạng trên:
+ Giáo viên cha ý thức đợc vai trò và tầm quan trọng của việc dạy- họcvăn miêu tả trong nhà trờng Tiểu học Cha xác định đợc mục tiêu của dạy họcTiếng Việt nói chung và mục tiêu dạy văn miêu tả nói riêng Vì thế, cha pháttriển các kĩ năng trong từng bài học, trong từng thể loại văn miêu tả
+ Trình độ về lí luận dạy học tiếng Việt theo quan điểm hiện đại cha đợc trang
bị một cách đầy đủ và hệ thống đối với từng giáo viên Do đó, về mặt nhận thức cũng
nh việc phối hợp linh hoạt các phơng pháp dạy học còn có phần hạn chế
+ Mặc dù quy trình hớng dẫn cho mỗi tiết Tập làm văn đều rất rõ ràng
và khá cụ thể nhng dờng nh giáo viên đều bỏ qua các bớc, không có sự định ớng cho học sinh một cách chi tiết trong từng bớc, từng phần Vì vậy, hiệu quảcủa việc dạy- học văn miêu tả cha đem lại kết quả nh mong đợi
h-+ Hình thức dạy học và đồ dùng trực quan còn nghèo nàn nên học sinhkhông có những hiểu biết, những hình dung cụ thể và rõ nét về đối tợng miêutả Bởi vậy, học sinh nói và viết mơ hồ, chung chung, không có sắc thái biểu cảm,hay nói cách khác trong mỗi bài làm cha đa ra đợc yếu tố liên cá nhân
Bảng 3: Nhận thức và thực trạng dạy học văn miêu tả của GV
Khảo sát tổng số: 160 giáo viên
TT Nội dung khảo sát Số lợng Tỷ lệ %
Trang 325 Nắm đợc đặc điểm của văn miêu tả 49 30,62
6 Khó khăn khi dạy văn miêu tả 117 73,12
7 Tầm quan trọng của việc dạy văn miêu tả 68 42,8
8 Giáo viên đã vận dụng phép tu từ so sánh
vào dạy học văn miêu tả
45 28,12
9 Tác dụng của phép tu từ so sánh 79 49,37
10 Tuân thủ theo cấu trúc của hình thức so sánh 123 76,87
Bảng 4: Nhận thức của học sinh khi học về văn miêu tả
1.3.1 Những tồn tại, hạn chế của chơng trình CCGD và những nguyên nhân
vừa phân tích, lí giải đợc ở trên là cơ sở để chúng tôi đề xuất quy trình hớng dẫn họcsinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả Chơng trìnhTiếng Việt mới ra đời với một quan điểm mới về mục đích, nội dung, phơng phápdạy học và định hớng mới về dạy học văn miêu tả cũng là điều kiện để cho những
đề xuất của đề tài có điều kiện ứng dụng trong thực tế dạy học, khẳng định cơ sởkhoa học và tính khả thi của những đề xuất mà chúng tôi đa ra
1.3.2 Thực trạng nhận thức về mục đích, nội dung, phơng pháp và tầm
quan trọng của việc luyện tập phép tu từ so sánh vào dạy học văn miêu tả chohọc sinh lớp 4, 5 còn có nhiều tồn tại và bất cập Những hạn chế trong khâu ra
Trang 33đề của giáo viên cũng nh của SGK, những nhợc điểm còn bắt gặp ở học sinh
sẽ là vấn đề để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu, tìm kiếm một quy trình cụ thểhơn cho từng thể loại văn miêu tả ở tiểu học là một yêu cầu cấp thiết
Trang 34
2.1.1.2 Căn cứ vào đặc điểm của văn miêu tả
- Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm củangời viết
- Văn miêu tả có tính sinh động tạo hình
- Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
2.1.1.3 Căn cứ vào quy trình dạy Tập làm văn nói chung
- Tìm hiểu đề bài để xác định đúng yêu cầu, làm bài đúng hớng, khônglạc đề, không lan man;
- Tìm những ý cần thiết để triển khai bài văn;
- Lập dàn bài sơ lợc đến chi tiết để sắp xếp ý theo một thứ tự hợp lí;
- Tập chuyển dàn ý thành văn nói (nói từng đoạn, sau đó nói cả bài);-Tập diễn đạt thành bài băn viết
2.1.1.4 Căn cứ vào quy trình dạy văn miêu tả lớp 4, 5
- Quan sát và tìm ý
- Lập dàn ý
- Nói, viết đoạn văn
- Nói, viết bài văn
Mặc dù quy trình dạy một bài tập làm văn là khá rõ theo trình tự trên vàSGV đã có những chỉ dẫn khá cụ thể kèm theo những bài mẫu; vở bài tậpTiếng Việt cũng in sẵn gợi ý dàn bài cho mỗi bài văn, nhng Tập làm văn nhất
là ở lớp 4, 5 thể loại văn miêu tả vẫn là phần khó dạy đối với giáo viên tiểuhọc hiện nay ấy cũng là cơ sở để chúng tôi đa ra quy trình dạy học văn miêutả cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học
2.1.1.5 Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí học sinh lớp 4, 5
Trang 35Nh đã trình bày ở phần cơ sở lí luận, đặc điểm tâm sinh lí của học sinhtiểu học có những ảnh hởng nhất định trong quá trình tổ chức dạy học củagiáo viên.
* Về mặt nhận thức:
ở lớp 4, 5 nhận thức của học sinh còn mang tính trực quan cảm tính
Đây là giai đoạn thứ 2 của quá trình t duy Mặc dù vậy, về mặt tri giác của
các em thờng gắn với hành động, gắn với đối tợng là vật việc, con ngời cụ thểvới hoạt động thực tiễn của các em
Học sinh Tiểu học, chú ý có chủ định của các em đang còn yếu, sự chú
ý diễn ra trong một thời gian ngắn, khả năng điều chỉnh chú ý cao
T duy của học sinh tiểu học nh đã nói đợc phát triển theo từng giai
đoạn Giai đoạn 1 từ các lớp (1, 2, 3) và giai đoạn 2 (4, 5)
Ngôn ngữ ở giai đoạn này cũng phát triển hơn so với giai đoạn 1, 2, 3
vì các kỹ năng: nghe- nói- đọc- viết của các em có phần thuần thục hơn Vìvậy, các em thích học văn miêu tả bởi đây là dịp các em đợc bộc lộ những
điều các em đã cảm, đã nghĩ về những gì các em đợc tận mắt chứng kiến
Có thể thấy rằng: ở giai đoạn này học sinh thích đợc khám phá, tự mìnhtìm hiểu thế giới xung quanh, cũng nh về con ngời Các em thích thú khi đợcquan sát, nhận xét, bình phẩm, đa ra ý kiến của mình trớc một đối tợng, mộthoạt động nào đó (vì học sinh ở giai đoạn này muốn chứng tỏ mình là ngờilớn, ngời đã trởng thành, không thích ngời khác làm hộ, làm sẵn)
* Về mặt tình cảm:
HSTH rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình.Nếu đợc học văn miêu tả với một chơng trình và thời lợng thích hợp thì trẻ em
ở tuổi này sẽ rất hứng thú khi học thể loại văn này Đợc viết những xúc động
từ trong lòng, từ những điều do chính các em quan sát đợc, hồi tởng đợc,không ít HS đã viết đợc những bài văn khá hay và hoàn chỉnh với những hình
nh giúp các em phát triển toàn diện hơn về bản thân
2.1.2 Nguyên tắc để xây dựng quy trình hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả
2.1.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Trang 36Trong quá trình xây dựng quy trình cần đi theo tuần tự logic của bàimiêu tả, sao cho bớc 2 là sự kế tiếp của bớc1 Bớc 3 rồi mới đến bớc 4 Tínhtrật tự logic còn yêu cầu ở chỗ bài làm của các em phải đi từ: tìm hiểu đề, lậpdàn ý, nói, viết đoạn, bài văn theo một bố cục rõ ràng có mở bài, thân bài, kếtbài.
2.1.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Trong quá trình hiện thực hóa quy trình, những tri thức cung cấp chocác em phải chính xác, phản ánh đợc những kết quả của quá trình quan sát,liên tởng, tởng tợng, các hình ảnh so sánh phản ánh đợc những thành tựu củavăn miêu tả trong ngôn ngữ học hiện đại đã đạt đợc Qua đó, dần dần giúp họcsinh hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất cần có khi làmvăn Bồi dỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, phê phán, đánh giátrớc một tình huống, một hiện tợng tốt, hay tiêu cực, bộc lộ thái độ đúng đắntrong khi làm bài Tức là bộc lộ rõ những nhận xét, đánh giá của cá nhân cácem
2.1.2.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung với tính vừa sức riêng trong dạy học
Xây dựng quy trình phải chú ý sự phù hợp với trình độ phát triển chungcủa học sinh trong lớp, đồng thời cũng phù hợp với trình độ phát triển củatừng em học sinh Đảm bảo cho mọi học sinh đều có thể phát triển ở mức tối
đa so với khả năng của mình Trong quá trình dạy học, GV cần nắm đặc điểmchung của học sinh cũng nh đặc điểm riêng của chúng không chỉ về mặt nhậnthức mà còn cả về tinh thần, thái độ học tập
Việc cung cấp tri thức cho học sinh phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản
đến phức tạp, từ gần đến xa, từ nắm tri thức đến rèn kĩ năng, kĩ xảo Từ vậndụng tri thức vào những đề bài ở mức độ dễ (đơn giản) đến đề bài khó hơn,yêu cầu cao hơn Cần cá biệt hóa quy trình, để tất cả học sinh có thể tham giavào giải quyết nhiệm vụ
Từ những căn cứ và yêu cầu về mặt nguyên tắc nói trên, sau đây chúngtôi xin đa ra quy trình hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ sosánh trong Tập làm văn miêu tả
2.2 Quy trình hớng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép
tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả
B
ớc 1 : Hớng dẫn học sinh quan sát đối tợng miêu tả
Dạy văn miêu tả là dạy trẻ em học quan sát- một phẩm chất rất cần chocon ngời Chính nhờ quan sát mà con ngời thể hiện đợc những hiểu biết phong
Trang 37phú, rộng rãi, cụ thể và sâu sắc về thế giới hiện thực Vậy quan sát là gì ?Quan sát một bài văn miêu tả cần chú ý những gì?
a) Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật Mắt cho tacảm giác về màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng, da cam ), hình dạng (cây cao haycây thấp, cái bàn vuông hay chữ nhật ), hoạt động con gà sống khi đi cổ th-ờng nghểnh cao, con ngan bớc đi chậm chạp, lạch bạch ) Dạy học sinh quansát chính là dạy cách sử dụng các giác quan để tìm ra đặc điểm của sự vật trớc khihọc văn miêu tả các em đa tiến hành quan sát một cách tự phát nhng cha có phơngpháp, cha có định hớng rõ nh ở các tiết học văn miêu tả
b) Cần chọn vị trí quan sát
Vị trí quan sát tốt sẽ giúp ngời ta cảm nhận đồ vật, cây cối, cảnh vật rõràng, cụ thể và tinh tế hơn Và do vậy, miêu tả cũng hồn nhiên, sinh động và
hấp dẫn Ví dụ bài Trên công trờng khai thác than của Trần Nhuận Minh, từ
vị trí bờ moong mà tác giả đã: nhìn đợc toàn cảnh của công trờng trong mộtvòng cung cực lớn hình phễu Và do có đợc chỗ đứng, quan sát thuận lợi màtác giả đã miêu tả có thứ từng hợp lí theo không gian từ cao xuống thấp, từngoại vi vào trung tâm của công trờng
Trên cao và ngoại vi là những cổ máy khoan ở sờn núi trớc mặt (cùngmột độ cao với vị trí tác giả đứng) Xuống thấp là trung tâm: dới đáy moongvới những chiếc máy xúc Cũng do có đợc chỗ đứng quan sát thuận lợi mà tácgiả đã miêu tả có tờng, có lợc : những cổ máy khoan khi ẩn, khi hiện, chín
chiếc máy xúc luôn luôn quay cổ từ bên này sang bên kia Đờng đi Sa Pa,
chỗ đứng quan sát của tác giả bắt đầu trên ôtô suốt chặng đờng lên Sa Pa, haibên là núi non trập trùng với những rừng cây âm âm Tầng thứ tiếp đến, cùngvới sự thay đổi về không gian là thời gian: Buổi chiều xe dừng lại ở một thịtrấn nhỏ Đây là điểm dừng chân trên đoạn đờng, nên tác giả có điều kiệnquan sát tỉ mỉ và miêu tả cũng có chiều sâu hơn Nếu đoạn trên là ngồi trên xelớt qua miêu tả sơ lợc, thì ở đây là trung tâm nên miêu tả tờng tận, sinh độnghơn Nh vậy, do tác giả khi quan sát đã có đợc vị trí đứng mà cảnh vật miêu tảtrở nên mạch lạc, cụ thể; khiến hình ảnh trở nên sống động, ngời đọc nh thấy
đợc tận mắt
c) Quan sát làm bài văn miêu tả, cần tìm ra những đặc điểm chung và
đặc điểm riêng biệt của từng đồ vật, con vật, cây cối Ví dụ: Dạy quan sát câybút chì của em, giáo viên hớng học sinh nhận xét không chỉ màu sắc của vỏbút chì mà còn nhận những dòng chữ in trên vỏ, các đặc điểm khác ở vỏ màchỉ riêng bút chì của em mới có (có chỗ nào bị sứt không? có vết mực ở đoạn
Trang 38nào? ) Nhận xét con gà trống ở nhà bà ngoại phải cố tìm ra mào của nó, lôngcủa nó có gì khác với con ngà trống hàng xóm hoặc con gà trống em thấyngoài ngõ Con gà trống nào cũng có mào nhng mỗi con độ to, nhỏ, màu sắc,hình dáng của mào lại khác nhau Quan sát để làm bài miêu tả cần nhận ra
đặc điểm riêng biệt đó Chúng ta đều thấy cảnh vật tơng tự nhng mỗi cái điều
có đặc điểm riêng, chỉ khi ta nắm đợc đặc điểm của chúng thì viết ra hình ảnhmới nh thật Nếu nh tả công viên mùa xuân mà điều là trăm hoa khoe sắc, h-
ơng thơm ngào ngạt, lũ bớm bay lợn, con ong bay tới, bay vù vù, kêu o o; còn
tả về biển thì đều viết là: Lớp lớp sóng xô những con sóng bạc đầu sủi bọt thì
nh vậy là công thức và nhàm chán, không để lại ấn tợng cho ngời đọc.
Chúng ta hãy xem là nhà văn Nguyễn Phan Hách miêu tả cảnh núi rừng
Tây Bắc theo hai bên đờng ôtô lên Sa Pa nh thế nào: Xe chúng tôi leo chênh
vênh trên dốc cao của con đờng xuyên tỉnh Hoàng Liên Sơn những đám mây trắng nhỏ sà xuống cửa kính ôtô tạo nên một cảm giác bồng bềnh, huyền ảo Chúng tôi đang đi bên những thác nớc trắng xóa tựa mây trời, những rừng cây
âm âm, những bông hoa chuối rực lên nh ngọn lửa Rõ ràng chỉ mấy câu thôi
mà một bức tranh hoành tráng với đủ màu sắc hiện lên rõ mồn một Chỉ mộtbông hoa chuối rực lên nh ngọn lửa thôi cũng đủ rõ các đặc điểm của núi rừngTây Bắc: Hoa chuối rừng không chúc xuống nh chuối ở nhà mà ngớc lên trời,sắc đỏ rực nh ngọn lửa
Thế nhng, chỉ làm nổi bật cái đặc điểm bên ngoài của cảnh vật khôngthôi thì miêu tả hãy còn nông Nếu biết thể hiện cái đặc sắc ẩn chứa bên trongcảnh vật, để rồi gửi vào đó những suy t những tình cảm thì kì diệu biết bao Ta
hãy quan sát cách miêu tả của Nguyễn Đình Thi qua bài đọc thêm " Mùa xuân
bên sông Luống": Mùa xuân đã điểm các chùm hoa đỏ mọng lên những cành cây gạo chót vót giữa trời và trải màu lúa non sáng rực lên khắp mặt đất mới cách ít ngày còn trần trụi đen xám từ sát mặt nớc trở lên, những luống ngô,
đỗ, lạc, khoai, cà chen nhau xanh rờn phủ kín các bãi cát mùa này phơi cạn
" Phải yêu lắm làng quê mới viết nên đợc những câu gợi tả vừa hình ảnh vừa
đợm tình đến vậy Và tình cảm chân thực của chính tác giả đã rung cảm lòng
ta qua từng câu thơ, từng chữ để lại một d vị khôn nguôi
d) Có sự khác nhau giữa cách quan sát tự phát với cách quan sát có
ph-ơng pháp, có định hớng mà nhà trờng dạy cho học sinh Trong các tiết dạy vănmiêu tả, GV cần dạy cho học sinh:
- Phân chia đối tợng quan sát
Để có thể quan sát một bức tranh, một con vật, một con vịt, một quyểnlịch GV cần dạy cho các em cách phân chia các đối tợng đó thành từng bộ
Trang 39phận rồi lần lợt quan sát các bộ phận đó Một bức tranh có thể chia thành 2phần, phía trên và phía dới hoặc nửa trái hoặc nửa phải lại có thể chia bứctranh thành nhiều phần: phía phải, phía trái và phần trung tâm Có ngời lại
chia tranh theo nhóm nhân vật hoặc các hoạt động có trong tranh (Quan sát
hai bạn đang đá cầu và miêu tả lại buổi vui chơi đó).
- Lựa chọn trình tự quan sát
ở lớp 4, lớp 5, cần hớng dẫn học sinh lựa chọn quan sát thích hợp ờng hợp các em lúng túng, giáo viên có thể gợi ý trình tự quan sát bản thân đãchuẩn bị Sau đây là một số trình tự quan sát chung nhất có thể vận dụng vàocác trờng hợp cụ thể:
Tr-+ Trình tự không gian: Từ quan sát to n bộ đến quan sát từng bộ phậnàn bộ đến quan sát từng bộ phậnhoặc ngợc lại; quan sát từ trái sang phải hay trên xuống dới hay ngoài vàotrong hoặc ngợc lại
+ Trình tự thời gian: Quan sát tả cảnh vật, cây cối theo mùa trong năm,quan sát sinh hoạt của con gà, con lợn theo thời gian trong ngày: Buổi sáng,buổi tra, buổi chiều
Dù quan sát theo trình tự nào cũng cần tập trung bộ phận chủ yếu vàtrọng tâm
- Hớng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát
Thờng học sinh chỉ dùng mắt để quan sát, các nhận xét thu đợc thờng lànhận xét và cảm xúc gắn liền với thị giác đây là mặt mạnh nhng cũng là mặtyếu của các em Chúng ta cần hớng dẫn học sinh tập sử dụng các giác quan
khác để quan sát Quan sáy một cây đang ra hoa, cảnh tấp nập trên đờng phố,
một trận thi đấu tại địa phơng Ngoài ra còn biết huy động cả khứu giác (để
phát hiện ra mùi các món ăn trên đờng phố buổi sớm mai, mùi hơng lúa, hơnghoa trên con đờng xuyên qua cánh đồng ) cả thính giác để thu nhận các tiếng
động nh tiếng ô tô, tiếng xe máy, tiếng rao bán hàng trên đờng phố, tiếng cổ
động viên trên sân bãi thi đấu )
Giáo viên có thể định hớng cho học sinh giác quan cần sử dụng khiquan sát Dạy quan sát cái bút chì có thể hỏi "dùng tay sờ vỏ bút chì em cócảm giác thế nào?"
- Hớng dẫn học sinh cách thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại.Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hớng dẫn các em trả lời bằngnhiều chi tiết cụ thể Hớng dẫn các em quan sát hai bạn đang đá cầu trong giờ
ra chơi Bạn này làm gì? Nếu các em nói " hai bạn đang đá cầu" thì đây lànhận xét chung chung, sơ lợc, kết quả của sự quan sát này là hời hợt, hoặc
Trang 40thiếu phơng pháp Giáo viên không bằng lòng với câu trả lời này mà cần gợi ýthêm " Em hãy quan sát kỹ xem, mỗi bạn đang làm gì? Nếu học sinh trả lời:hai bạn đang đá cầu Một bạn đang đá cầu đi Bạn kia chuẩn bị đón cầu." Câutrả lời đã chi tiết hơn nhng cha cụ thể Giáo viên cần gợi ý thêm "Em hãyquan sát và nhận xét rõ hơn về động tác từng bạn" để học sinh có thể trả lời cụthể " hai bạn đang đá cầu Bạn bên trái hơi khom ngời đá mạnh chân về phíatrớc, quả cầu bay lên vạch đờng đi trong không khí Bạn bên phải hơi ỡn ngời,
đa chân phải về sau"
Ví dụ: Đề bài- Tả chiếc cặp sách của em.( TV4- Tập 1)
Với đề bài trên, ngoài phần tìm hiểu đề, và lựa chọn cách cách viết mởbài theo dụng ý của các em thì công việc tiếp theo cần hớng dẫn học sinh làquan sát chiếc cặp đó để có cái nhìn tổng quát Đó là một chiếc cặp bằng dahay bằng vải, hay giả da Màu của nó thì nh thế nào: nâu, đen, xanh, hay phamàu hỗn hợp Hình dạng ra sao? To bằng vật gì hoặc kích thớc cụ thể của nó(chiều dài, chiều rộng) Có quai xách không? Hay quai đeo
Học sinh quan sát để nhận ra đặc điểm chiếc cặp của mình, phân biệtvới chiếc cặp của các bạn khác Ngoài những nét đại cơng, cần quan sát cụ thểhơn: da cặp nhẵn hay ráp bóng hay mờ, cũ hay mới có gì đặc biệt (một vết x -
ớc, một chỗ rách) Xung quanh đợc viền chỉ ra sao, chỉ có màu gì? Trớc mặtcặp làm bằng khoá (Mủ, đồng, sắt) hay là giây kéo khóa nhựa? Mặt cặp có đ-
ợc tranh trí bởi những hình ảnh nào? (Tranh hoạt hình ) Cấu tạo của quaixách ra sao? Đến đây học sinh đã quan sát và thu thập đợc các thông tin vềcác bộ phận bên ngoài của chiếc cặp Nếu dừng lại sự quan sát ở đây thì bàilàm của các em ở đây sẽ còn thiếu.Vậy nên bớc tiếo theo là giáo viên định h-ớng các em quan sát các bộ phận bên trong của chiếc cặp: Phía trong cặp đ ợclót bằng nhiều ngăn, mỗi ngăn đợc lót bằng vải mỏng, hay da mỏng, màu sắc
ra sao? Từng ngăn ấy có tác dụng nh thế nào? Chiếc cặp đó mang lại cho emnhững tác dụng nào? Cuối cùng học sinh bộc lộ nhận xét, bầy tỏ ý kiến củamình về chiếc cặp em đang tả Hay nói cách khác, sau mỗi phần quan sát các
em rút ra nhận xét, bình phẩm, đa ra ý kiến riêng của mình, cảm xúc, tình cảmcủa mình đối với chiếc cặp
Ví dụ khác, Đề bài: Tả một con tem.
Tôi có một bộ tem các nhà văn cổ điển, trong đó có một con tem tôi thích nhất.
Con tem này lớn hơn con tem bình thờng chút xíu, chung quanh không
có đờng diềm hoa văn để trang trí, tranh vẽ cũng không sử dụng màu sắc loè loẹt, xem ra nó nh một bức tranh cổ trang nhã mộc mạc.