giúp cho các cảm nhận được cái đẹp của cuộc sống một cách tinh tế và sâusắc hơn.1.4 Văn miêu tả ở Tiểu học gồm có 5 kiểu bài: văn miêu tả con vật, văn miêu tả đồ vật, văn miêu tả cây cối
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa GIÁO DỤC
PH ẠM THỊ HUẾ
KHóA LUậN tốt nghiệp
Đề tài:
RẩN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT VĂN MIấU TẢ
CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4
CHUYấN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
Lớp: 49A1 - Tiểu học
Giảng viờn hướng dẫn: TS Chu Thị Hà Thanh
VINH - 2012
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Sau một thời gian nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn dạy học Tập Làm Văn ở Tiểu học, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4” Để có được kết quả này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân phải kể đến vai trò của người đã
hướng dẫn đề tài này cho tôi - giảng viên TS Chu Thị Hà Thanh Lần đầu
tiên khi tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, tôi đã gặp không ít những khó khăn, lúng túng nhưng nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cô nên tôi
đã dần dần tháo gỡ những khó khăn ban đầu, những lúng túng gặp phải Chính cô đã vạch cho tôi con đường thuận tiện nhất để tôi có thể hoàn thành được đề tài nghiên cứu này Bên cạnh đó BCN khoa Giáo dục, các thầy cô giáo và học sinh trường Tiểu học Lê Lợi cùng các bạn sinh viên khoa Giáo dục đã không ngừng tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này Với tấm lòng chân thành nhất tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới: Cô giáo TS Chu Thị Hà Thanh, BCN khoa Giáo dục, tập thể trường Tiểu học Sơn Lâm cùng các thầy cô giáo và các bạn trong khoa Giáo dục.
Là một sinh viên bước đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa học nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, hạn chế Tôi rất mong được những ý kiến đóng góp của quý thầy giáo, cô giáo và toàn thể các bạn sinh viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày tháng năm 2012
Phạm Thị Huế
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 34.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 4
Trang 4NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Khái niệm văn miêu tả 6
1.1.3 Kĩ năng Kĩ năng viết văn miêu tả con vật biện pháp rèn luyện kĩ năngviết văn miêu tả con vật cho HS lớp 420
1.1.4 Đặc điểm tâm lý HS với quá trình dạy học văn miêu tả 22
1.2.2 Thực trạng dạy và học văn miêu tả con vật 27
1.2 Khảo sát chương trình SGK về văn miêu tả con vật 30
Chương 2: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đặc trưng bộ môn 38
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý đặc điểm lứa tuổi 38
2.2 Các biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS lớp
39
2.2.3 Rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ trong văn miêu tả con vật 51
2.2.5 Rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ trong văn miêu tả con vật
63
2.2.6 Rèn luyện kĩ năng liên kết câu, đoạn trong bài văn miêu tả con vật
Trang 5Chương 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM
tư duy, tạo tiền đề và cơ sở cho việc học tập các môn học khác
1.2 Phân môn Tập làm văn ở Tiểu học là một phân môn tổng hợp kiến thứccủa các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện nhằm giúpcác em làm được những bài văn hay
1.3 Văn miêu tả là một trong những kiểu văn quen thuộc và phổ biến trongchương trình Tập Làm Văn của nhà trường Văn miêu tả giúp tái hiện đờisống, hình ảnh và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả năng nhậnxét, đánh giá của mình Các bài văn miêu tả ở Tiểu học thường yêu cầu tảnhững đối tượng mà các em yêu mến hoặc thích thú Qua đó các em gửi gắmnhững suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể củamình Chính vì thế nó làm cho tâm hồn và trí tuệ của các em thêm phong phú,
Trang 6giúp cho các cảm nhận được cái đẹp của cuộc sống một cách tinh tế và sâusắc hơn.
1.4 Văn miêu tả ở Tiểu học gồm có 5 kiểu bài: văn miêu tả con vật, văn miêu
tả đồ vật, văn miêu tả cây cối, văn miêu tả cảnh và văn miêu tả con người.Trong những kiểu bài đó thì văn miêu tả con vật là một kiểu bài rất gần gũi vàthích thú đối với học sinh Qua các con vật gần gũi mà các em tả người đọc sẽthấy được tình cảm của các em đối với chúng, sự yêu thương của các em đốivới những con vật đó Qua những bài văn như vậy cũng góp phần nuôi dưỡngtâm hồn trẻ thơ, tình yêu thương động vật của các em
1.5 Để viết được một bài văn miêu tả con vật hay thì người viết phải có tàiquan sát thể hiện bằng những từ ngữ, hình ảnh so sánh, ví von độc đáo… Đặcbiệt là phải thể hiện được tình cảm, sự gắn bó yêu thương đối với con vật đó
Vì thế việc rèn kĩ năng cho học sinh để các em có thể làm được một bài vănhay là rất cần thiết
Thế nhưng trong thực tế dạy và học văn miêu tả con vật ở Tiểu học còn cónhiều hạn chế Hầu hết các giáo viên chưa áp dụng những biện pháp phù hợphoặc không có sự sáng tạo trong khi áp dụng phương pháp dạy học thôngthường Nhiều bài làm của học sinh chưa đạt yêu cầu về cả nội dung lẫn hìnhthức
Từ tầm quan trọng của việc dạy và học văn miêu tả con vật trong văn miêu tảcon vật lớp 4 của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học và một số lí do nêu trên
nên tôi quyết định chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật
cho học sinh lớp 4”.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu về văn miêu tả
1 Văn miêu tả và kể chuyện - Vũ Tú Nam, Phạm Hổ - NXB GD - Hà Nội
1998
Phần lớn cuốn sách này là trích dẫn những đoạn văn miêu tả và vă kể chuyện
Trang 7điển hình của một số nhà văn Cuốn sách cũng chỉ ra những cái hay, cái đẹpcủa văn miêu tả và bàn về mẹo viết văn miêu tả và văn kể chuyện của một sốnhà văn nổi tiếng.
2 Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông - Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh
Diệu - NXB GD - Hà Nội 2003
Sách gồm 3 chương và một phần phụ lục:
Chương 1: Phân tích và chỉ ra những đặc điểm của văn miêu tả
Chương 2: Giới thiệu một số ý kiến và một số trang văn miêu tả của các nhàvăn, chủ yếu là các nhà văn viết cho thiếu nhi, có nhiều tác phẩm đưa vào nhàtrường
Chương 3: Tập trung giới thiệu văn miêu tả trong nhà trường phổ thông theoyêu cầu của chương trình SGK mới Bên cạnh đó chương 3 con đưa ra hệthống 95 bài tập và 20 đề văn miêu tả với yêu cầu kết hợp các phương thứcbiểu đạt khác
Phần phụ lục: Tập hợp 50 đoạn văn, bài văn miêu tả được chuyển từ các sáchtrong khoảng nửa thế kỷ qua, sau đó bình giảng một số đoạn văn miêu tả củacác nhà văn
2.2 Các công trình nghiên cứu về dạy học văn miêu tả ở Tiểu học
Các tác giả Lê Phương Nga, Nguyễn Trí là những người có tâm huyết và gắn
bó trong lĩnh vực nghiên cứu phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.Phương pháp dạy học tiếng Việt Tiểu học (tập 1,2) - Lê Phương Nga,
Nguyễn Trí - NXB Đại học Sư phạm Hà Nội 1995
Trong cuốn sách này tác giả trình bày thành hai phần tương đối rõ ràng:
Phần 1: Bàn về những vấn đề chung của phương pháp dạy học tiếng Việt ởTH
Phần 2: Đi sâu vào những phương pháp dạy học các phân môn cụ thể và dànhmột phần rất nhỏ cho dạy học Tập làm văn ở Tiểu học
2 Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học - Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Trang 8- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 1999.
Là cuốn sách được biên soạn khá công phu trên cơ sở của cuốn Phương phápdạy học tiếng Việt Tiểu học (tập 1, 2)
Trong cuốn sách này, tác giả cũng chia làm 2 phần lớn:
Phần 1: Trình bày những vấn đề chung về dạy học Tiếng Việt ở Tiểu họcPhần 2: Đi sâu vào phương pháp dạy học các phân môn cụ thể Đặc biệt cuốnsách này trình bày khá chi tiết về dạy học văn miêu tả ở Tiểu học, nhất là vấn
đề cụ thể về dạy - học văn miêu tả lớp 4, 5 Trong đó có văn miêu tả con vật
3 Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở Tiểu học - Nguyễn Trí
- NXB GD 1998
4 Dạy Tập Làm Văn ở Tiểu học - Nguyễn Trí - NXBGD 2001
Cuốn sách này đề cập đến vấn đề: Mối quan hệ giữa TLV với các loại bài họckhác trong môn Tiếng Việt Tác giả giải thích ngắn gọn chương trình, cácmức độ yêu cầu, các bài TLV và dạy TLV cũng như các phương pháp dạyhọc cụ thể Trong đó có loại bài văn miêu tả
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinhlớp 4, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinhTiểu học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể: Quá trình dạy học TLV ở Tiểu học
- Đối tượng: Rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho họcsinh lớp 4
- Thực nghiệm sư phạm
Trang 96 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học TLV ở lớp 4 nếu GV nắm vững lí thuyết về văn miêu
tả đồng thời tổ chức rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS lớp 4một cách khoa học, hệ thống, phù hợp với đặc trưng thể loại thì sẽ nâng caochất lượng dạy - học TLV ở Tiểu học
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: đọc, nghiên cứu và tổng kết tài liệu cóliên quan
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, đàm thoại, điều tra,…
- Phương pháp thống kê toán học
8 Phạm vi nghiên cứu
GV, HS trường Tiểu học Sơn Lâm
Trang 10
NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.Khái niệm văn miêu tả
Theo "Từ điển Tiếng Việt cơ bản" (Nguyễn Như Ý- chủ biên), "Từ điển tiếng
Việt" (Viện ngôn ngữ học), sách giáo khoa phổ thông Nhìn chung, các định
nghĩa đều có cái nhìn giống nhau về ngôn ngữ miêu tả: Miêu tả là dùng ngôn
ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc, con người Muốn miêu tả đựơc phải quan sát, tổ chức sắp xếp các chi tiết theo logíc, lựa chọn từ ngữ, cách đặt câu, dựng đoạn một cách có nghệ thuật cốt để làm nổi bật cái thần, cái hồn của đối tượng miêu tả.
Theo Đào Duy Anh, trong “Hán Việt tự điển” thì miêu tả là lấy “nét vẽ hoặc
câu văn để biểu hiện chân tướng của sự vật ra” Trong văn miêu tả người ta
không đưa ra những nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tượng về
sự vật Mà văn miêu tả phải vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con ngườibằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Giúp cho người nghe, người đọcnhìn rõ chúng tưởng tượng được ra chúng như đang nhìn tận mắt, sờ tận tay.Tuy nhiên miêu tả không phải là một bức ảnh chụp lại hay là một bản saochép vụng về mà nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rungđộng sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát
Miêu tả là hòn đá thử vàng đối với các tài năng văn học, tạo nên sức hấp dẫncủa các tác phẩm văn học Có những tác phẩm có rất nhiều chi tiết nhưngnhững chi tiết đó không để lại cho người đọc gì ngoài những dòng chữ tẻnhạt Ngược lại, chỉ vài nét thôi, các tài năng đích thực đã tạo nên những bứctranh phong cảnh, những bức chân dung,…tuyệt diệu Ta thấy qua “Đèo Ba
Trang 11Dội” chỉ với 2 câu thơ: “Lắt lẻo cành thong cơn gió thốc Đầm đìa lá liễu
giọt sương gieo” Hồ Xuân Hương đã vẽ một bức tranh thật sinh động, cụ thể
và hữu hình Sự miêu tả trong văn chương có ưu thế riêng so với sự miêu tảbằng màu sắc, đường nét của hội họa dùng ngôn ngữ, văn chương có thểmiêu tả sự vật trong một quá trình vận động, có thể tả những thứ vô hình như
âm thanh, tiếng động, hương vị,… hay tư tưởng, tình cảm thầm kín của conngười
1.1.2 Đặc điểm văn miêu tả
1.1.2.1.Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết
Dù là tả một con mèo, một con gà, một cây bàng, cảnh đồng lúa hay một conngười…bao giờ người viết cũng đánh giá theo một quan điểm thẩm mĩ, cũnggửi vào bài viết những tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luân của mình Dovậy từng chi tiết của bài văn miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan.Cành thông và lá liễu trong hai câu thơ của Hồ Xuân Hương nêu trên mangrất rõ dấu ấn cá tính của cá thơ qua các chi tiết vừa giàu tính tạo hình vừa giàu
sức sống tiềm tàng: lắt lẻo, cơn gió thốc, đầm đìa, giọt sương gieo.
Đặc điểm này làm cho văn miêu tả trong văn học khác hẳn văn miêu tả trongkhoa học (sinh học, địa lí học, khảo cổ học,…) Tả trong phân môn Tập LàmVăn cũng khác hẳn cách miêu tả con vật, cây cối trong môn Tự nhiên và Xãhội
Chúng ta hãy đọc hai đoạn văn miêu tả cùng một con bướm sau và so sánh sựkhá biệt giữa chúng
Đọan thứ nhất trích từ SGK của học sinh:
“Thân bướm có ba phần: đầu, ngực, bụng Phần ngực có bốn cánh, sáu chân Bướm bay được nhờ hai đôi cánh là hai màng rộng bản chúng có vảy phấn bao phủ nên khoonng trong như cánh chuồn chuồn”.
Đoạn thứ hai trích từ một tác phẩm văn học của Vũ Tú Nam:
Trang 12“Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm Chao ôi, những con bướm đủ hình dáng, đủ sắc màu Con xanh biếc pha đen như nhung bay loang loáng Con vàng sẫm nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như trôi trong nắng con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn vẻ dữ tợn Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng Loại bướm nhỏ đen kịt,là là theo chiều gió, hệt như tàn than của những đám đốt nương Còn lũ bướm vàng tươi xinh xinh của những vườn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông”.
Ta thấy ở đoạn 1 người viết gạt bỏ hẳn cảm xúc riêng Các chi tiết hiện rachính xác nhưng thật lạnh lùng Còn ở đoạn thứ 2 ngay từ đoạn đầu miêu tả,tình cảm của người viết đã được xác định Đó là sự yêu thích, say mê, sự gắn
bó, hòa quyện tâm hồn của tác giả đối với thiên nhiên Chính vì điều này màđoan văn trở nên sinh động và hấp dẫn hơn
1.1.2.2 Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Đây là một đặc điểm nổi bật của văn miêu tả M.Gorki đã có lần phântích: Dùng từ để “tô điểm” cho người và vật là một việc Tả họ một cách sinhđộng, cụ thể đến nỗi người ta muốn lấy tay sờ, như người ta thường muốn sờ
mó các nhân vật trong Chiến tranh và hòa bình của Lép Tôn-xtôi, đó là một
việc khác
Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồvật, phong cảnh, con người,… trong bài văn hiện lên qua từng câu, từng dòngnhư trong cuộc sống thực, tưởng có thể cầm nắm được, có thể nhìn ngắm hay
sờ mó được như cách nói của Gorki Trong những chiếc ấm đất của Nguyễn
Tuân, đoạn miêu tả người đầy tớ già gánh nước từ trên chùa về làng là mộtđoạn văn miêu tả giàu chất tạo hình Đoạn này nhà văn dùng ít lời lẽ, ít chitiết nhưng sức gợi cảm trong tâm tưởng người đọc lại lớn
“Trên con đường đất cát khô nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt và
Trang 13thẫm màu Những hình sao ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát”.
Chúng ta cũng có thể đọc được nhiều tác phẩm hay trong các kiệt táccủa các ngòi bút miêu tả bậc thầy như: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, NguyễnKhuyến,…
Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống,gây ấn tượng… Những chi tiết mà khi ta tước bỏ chúng đi, bài miêu tả sẽ trở
nên mờ nhạt Ta thử xem bài tả Những cánh bướm bên bờ sông sẽ như thế nào khi bị xóa đi các chi tiết như: tha thẩn ở bờ sông, đen như nhung bay loang
loáng, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như bơi trong nắng, líu ríu như hoa nắng, là là theo chiều gió,hệt như tàn than của những đám đốt nương,…? Bài văn sẽ trơ ra bộ xương khô Đọc nó tưởng như
bắt gặp nụ cười nhợt nhạt cuả một người không còn sinh khí Tuy nhiên cũngcần chú ý tránh khuynh hướng ngược lại là đưa quá nhiều chi tiết vào bài vănmiêu tả làm cho bài văn trở nên rườm rà Cần phải biết gạt bỏ các chi tiếtthừa, không có sức gợi tả hay gợi cảm để cho bài văn miêu tả vừa gọn mà vừgiàu chất tạo hình Vậy những chi tiết sống động như vậy thì lấy ở đâu ra? Đóchính là từ sự quan sát cuộc sống của người viết, từ những kinh nghiệm củabản thân Có bắt nguồn từ trong thực tế, có thai nghén trong kinh nghiệm thìbài văn mới có thể sinh động, linh hoạt và có tính tạo hình
Trong miêu tả người ta hay sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa Nólàm cho bài văn trở nên sinh động và hấp dẫn hơn nhiều
Ví dụ: “…Chú gà được mẹ mua từ phiên chợ Mai tết năm ngoái Hồi
ấy, chú chỉ là một “cậu bé thiếu niên” mới ba tháng tuổi con rụt rè, bỡ ngỡ Đến nay,chú đã là một “thanh niên” trưởng thành, oai phong Chú được lai giữa giống gà nòi và gà tàu nên chú chọn lọc những đặc tính tốt nhất của hai giống gà Bởi thế chú to khỏe như một “lực sĩ trên võ đài” và đẹp trai như một “siêu sao người mẫu” Chú khoác trên mình bộ áo màu đỏ tía chen lẫn
Trang 14màu vàng sậm Cái đầu của chú được trang điểm bằng một cái nón hình bánh lái tàu và đỏ chót như màu hoa phượng vĩ.Đôi mắt tròn to như hai hạt ngọc đưa qua đưa lại như muốn làm duyên với mấy cô gà mái tơ trong đàn.cái mỏ nhọn màu mận chin, phía đầu chót khoằm xuống như mỏ vẹt rất lợi hại, vừa
là phương tiện kiếm ăn vừa là vũ khí tự vệ Hai cái chân to khỏe và cao như chú gà nòi chính hiệu được bao bọc bởi một lớp vảy sừng màu vàng nghệ, giống như bộ giáp chiến giúp chú đánh trả lại kẻ thù một cách hữu hiệu Hai cái cựa nhọn hoắt chìa ra như hai mũi dao Thái Đây mới chính là thứ vũ khí tấn công của chú, khi cần thiết có thể đưa ra đòn đánh cuối cùng để dứt điểm đối phương.Đôi cánh của chú thì thật tuyệt, mỗi lần dang ra y hệt như cái quạt lông của vị quân sư Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc Cái đuôi của chú đủ màu, vươn dài ra phía sau và cong lại hình cánh cung Có những chiếc lông tam sắc đỏ, xanh, đen quăn lại như một nét hoa văn càng tôn thêm
vẻ “hào hoa, phong nhã” cho chú”.
1.1.2.3 Ngôn ngữ trong văn miêu tả
Ngôn ngữ trong văn miêu tả phải được chọn lọc kĩ càng, lựa chọn từngữ, cách đặt câu, dựng đoạn một cách có nghệ thuật cốt để làm nổi bật cáithần, cái hồn của đối tượng miêu tả Ngôn ngữ trong văn miêu tả phải đáp ứngđược các yêu cầu sau:
Trước hết, ngôn ngữ miêu tả là phải có tính chính xác Ngôn ngữ miêu
tả chính xác là ngôn ngữ miêu tả sát đúng, cụ thể từng biểu hiện của sự vật, sựviệc, con người (ngay cả ý nghĩ, tư tưởng ) Bởi văn học phản ánh cuộc sống
một cách chân thực, do đó "văn muốn hay là phải đúng" (Lê Quý Đôn) Tả con
mèo thì mắt phải tròn, tiếng kêu “meo meo”, ngủ “lim dim”, đi “nhẹnhàng”… Tả người thì tùy vào đối tượng đó là ai mà sử dụng ngôn ngữ phùhợp, không thể tả mái tóc, nước da của em bé cũng giống như người lớnđược…
Thứ hai, tính hàm súc Hàm súc nghĩa là súc tích, ít lời mà nhiều ý "ý
Trang 15tại ngôn ngoại" Đây là đặc điểm nổi bật đối với văn miêu tả bởi có thế thì đối
tượng cần tả mới nổi bật, gợi cảm Nhà văn Tô Hoài tả: "Nhưng hai bên sườn
núi trong các lũng vẫn chỉ sừng sững một màu đá xám ngắt, không thấy đâu một chút vàng lúa chín" (Cứu đất cứu mường) mà đó lột tả được cảnh núi rừng
Tính cá thể hoá cũng là một yêu cầu cao đối với văn miêu tả Mỗi học
sinh do xu hướng, sở trường, thị hiếu, tập quán, tâm lý xã hội, cá tính mà hìnhthành giọng điệu riêng, cái vẻ riêng về cách dùng từ, đặt câu, dựng đoạn trongbài văn Có như vậy người đọc nhận ra một bài văn có phong cách, ở chỗ nó
cho cảm giác “về một cái khép kín” (Mắc Gia Cốp) Đem lại cho cảnh rực rỡ,
lộng lẫy sắc màu, hài hoà, dung dị, tự nhiên Nó tạo nên giá trị biểu cảm, gợi
Trang 16hình, gợi nét và "gợi cho người đọc cảnh hiện ra y như thật" (Hà Minh Đức).
Ví dụ nhà văn Tô Hoài tả: "Bây giờ, buổi sáng mùa đông khô ráo Từ mặt đất,
mây mù dần cất cao như một mành sương cuộn lên, lần đầu tiên trông thấy đồng lúa chín, rồi nước suối Nậm Giơn óng ánh sáng, rồi các nóc nhà trong làng nhấp nhô, rồi thấy ngang lưng quả núi xanh ngắt”.
Chỉ khi ngôn ngữ đáp ứng được những yêu cầu đó thì bài văn miêu tảmới hay và hấp dẫn được
1.1.2.4 Văn miêu tả mang tính sáng tác
Văn miêu tả không phải là sự sao chép, chụp lại những đối tượng miêu
tả một cách rập khuôn, máy móc Mà nó là kết quả của sự nhận xét, tưởngtượng hết sức phong phú của mỗi cá nhân, chủ thể
Tùy vào mỗi người viết mà cùng một đối tượng lại có những cách viết,cách sáng tác khác nhau Mỗi bài văn miêu tả là một cái gì đó mới mẻ,riêngbiệt của người viết Qua những bài viết đó lại mang cho người đọc một cáinhìn, một góc nhìn mới lạ, hấp dẫn hơn Nhờ thế mà cùng một chủ đề vẫn cóthể có nhiều tác phẩm hay, để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc Mỗi ngườiđều có những suy nghĩ, cách nhìn khác nhau về một đối tượng nên khi viết
họ sẽ có những bài viết khác nhau Nhất là trong văn miêu tả sự khác biệt đólại càng trở nên quan trọng Nếu như miêu tả một con gà, một con chó, mộtcái cặp sách hay một cảnh nào đó… mà ai cũng viết giống nhau thì sẽ không
ai thích đọc cả
Ví dụ như cùng tả về con dế nhưng trong mỗi đoạn văn sau tác giả lại
có cách tiếp cận và sử dụng các biện pháp tu từ, ngôn ngữ khác nhau nên đọc
cả ba đoạn ta đều thấy sự mới lạ trong đó
Đoạn thứ nhất là Tô Hoài mượn lời của chú dế để nó tự tả mình:
“Đôi càng của tôi mẫm bóng Những cái vuốt ở chân, ở khoeo đã nhọn hoắt thỉnh thoảng muốn thử sức lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ Những cây cỏ gãy rạp xuống như là
Trang 17có ai lia qua một nhát dao Đôi cánh tôi, trước kia ngắn cun củn, bây giờ dài kín xuống tận chấm đuôi Mỗi khi tôi vỗ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã”.
Đoạn thứ hai là đọan văn miêu tả con dế của Vũ Tú Nam:
“Rồi đột ngột con dế cụ cắn toang vỏ đất mỏng, từ cái nghách bí mật vọt ra Đó là một con dế lực lưỡng, đầu tròn bóng như sừng, cánh vân hình sóng lượn và đôi càng mập, cứng, đầy gai nhọn hoắt.
Đoạn thứ ba là đoạn văn của Duy Khán:
“Bố đi cắt tóc về, không một lần nào là chúng tôi không có quà.
Mở hòm dụng cụ ra là cả một thế gian trên đất: con xập xành,con muỗm, con bọ bầu to xù, mốc thếch,ngó ngoáy Hấp dẫn nhất là mấy con dế lạo xạo trong các vỏ bao diêm: toàn dế đực, cánh xoăn, chọi nhau phải biết
và gáy vang nhà Bố gọi chung các loại dế biết gáy là “tắc tẩu”, chúng tôi gọi riêng theo từng loại: con “roóc”, con “chéc”, loại bé nhất là “két”… theo tiếng kêu của chúng mà gọi”.
Trang 181.1.2.5 Tính chân thật trong văn miêu tả
Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản cái mới
mẻ của người viết Nhưng như vậy không có nghĩa là cho phép người viết bịamột cách tùy tiện, muốn nói sao thì nói, muốn viết sao thì viết Khi miêu tảngười viết bắt buộc phải tưởng tượng nhưng phải hợp lí gắn liền với cái chânthật khiến người đọc chấp nhận được Có lần tôi đã đọc được một đoạn văn
của học sinh như sau: “Tháng trước mẹ mua cho em một con gà trống về
nuôi Nhờ em chăm sóc chu đáo nên nó lớn nhanh như thổi và đã đẻ được ba con gà con…” Đoạn văn này dù có hay thế nào đi nữa thì người đọc cũng
không thể chấp nhận được vì nó quá vô lí
Có nhà văn, nhà thơ đã nói về cái giả và cái thật như sau: “Giả và thật
cũng giống như hai cái dây điện có mắc bóng điện đâu vào đấy Nhưng bấn một cái thì bóng điện này sang còn bóng điện kia tối vì một bên có điện một bên thì không” Bề ngoài thì hai cái giả và thật khó phân định được nhưng khi
đi sâu khám phá bản chất của đối tượng thì mình mới thấy được cái quantrọng của sự chân thật trong văn miêu tả
Nhờ quan sát tinh tế của người viết mà người đọc có những hiểu biếtrộng hơn, sâu hơn, và tinh tế hơn về cuộc sống xung quanh mình Theo “Nghệthuật làm văn của Vũ Ký”, Hoàng Đạo đã có bài “Tả hai mẹ con Hươu sao”như sau:
“Một đám mây vàng hiện ra ở Phương Đông, nằm ngang chân trời lá cây nặng trĩu sương đêm nghiêng mình và bỏ những giọt nước trong vắt lốp bốp xuống nội cỏ Tiếng hai con chim thủ thỉ và thù thì nghe đã gần nhau lắm Trời đã rạng Đông.
Dưới gốc cây trám nắng, trong bụi rậm con hươu nhỏ và gầy, chập chững trên bốn chân còn run run và yếu ớt quá Một con chim chích chòe ý chừng vừa mới ngủ dậy ở trên cành cao bay là là xuống đậu gần hai mẹ con hươu, vểnh đuôi lên mấy cái nhìn tả, nhìn hữu để làm duyên rồi nói:
Trang 19- Mẹ tròn con vuông chứ? Chích! Chích! Trông nó hay lắm đấy nhỉ! Nhưng nó to hơn làm sao! Và lông nó thô quá, ít ỏi quá! Hôm nọ, chị tôi cũng vừa ở cữ một lứa, những năm đứa trẻ nhỏ xíu trông xinh lắm! Chích! Chích!
Hươu mẹ lơ đãng trả lời cô chích chòe lắm điều:
- Chị nói gì kia ạ! Xin lỗi chị, tôi không nghe chị nói gì cả!
Chích Chòe giương mắt nhìn Hươu, vểnh đuôi lên rồi vỗ cánh bay đi Hươu mẹ không để ý đến sự tức giận của Chích Chòe cứ rúc đầuvào con mà hun hít, âu yếm Hươu con ngơ ngác nhìn xung quanh những hình ảnh mới lạ bên ngoài hỗn độn in vào trong trí khôn con non nớt Ánh nắng lọt qua lá cây, dịu dang soi sáng một vùng rừng thẳm Những cây cổ thụ dướn cao lên không, dưới chân cây lá khô xào xạc trong gió nhẹ Mấy cây lau chốc chốc lại chạm đầu vào nhau như thì thầm nói chuyện riêng Dưới nội cỏ ướt sương
có muôn vàn tiếng động rất khẽ của côn trùng Ở trên bụi tre một con sáo sậu cãi chí cha chí chát.Còn mấy con chim ri, mấy con chim sậu đậu chỗ này bay chỗ kia không lúc nào yên Xa xa như cầm nhịp, vọng đưa lại tiếng chua ngoa của con chim than yêu của những nơi nước độc: “bắt cô trói cột! bắt cô trói cột!”
Mọi vật trong rừng đều rung động theo một điệu sống mạnh mẽ, những con hươu sao mới ra đời chưa cảm thông được với khúc nhạc hòa hợp,nhịp nhàng ấy Nó chỉ biết nó khoan khoái trong người Con hươn mẹ đứng một chỗ cho con bú, thỉnh thoảng nó mới cúi xuống liếm lông con và nói se sẽ:
- Bú đi con! Bú đi Búp! Bú đi, Búp yêu dấu của mẹ!”
Đọc xong bài văn trên ta thấy việc chọn lọc những chi tiết để miêu tả vẻ
bề ngoài của các sự vật hòa quyện với lòng yêu thiên nhiên của tác giả đã tạonên cái bên trong, cài hồn của các sự vật Tác giả tả hai mẹ con Hươu Saonhưng khi đọc lên ta lại nghĩ tới những con người Ở đây tác giả có sự sángtạo với cách nhìn hóm hỉnh, những quan sát tinh tế cộng với sự tỉ mỉ đã làmcho bức tranh trở nên sinh động và đầy hấp dẫn
Trang 201.1.2.6 Đặc điểm văn miêu tả con vật
Miêu tả con vật là dùng từ ngữ để tả con vật về cả hai mặt hình dáng
và tính nết, hoat động của con vật Ở lớp 4 đối tượng miêu tả của học sinh tảnhững con vật gần gũi mà các em đã có dịp nhìn thấy hoặc tiếp xúc như: conchó, con mèo, con lợn,… Dù miêu tả ngoại hình hay hoạt động, tính nết củacon vật thì bài văn miêu tả đều đòi hỏi những chi tiết độc đáo,tinh tế trongviệc phát hiện đặc điểm riêng, mới lạ của con vật đó Miêu tả ngoại hình cầnnhấn vào một số khía cạnh tiêu biểu nhất để không cần chi tiết, hình ảnh thìcon vật vẫn hiện ra một cách sinh động trước mắt người đọc Các tác giả như
Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Đoàn Giỏi, Võ Quảng,… là những cây bút giàu kinhnghiệm trong phạm vi này Qua Đất rừng phương Nam, Dế Mèn phiêu lưu kí,Quê nội và Tảng sáng,… hàng chục con vật được miêu tả sinh động và giàutính tạo hình Miêu tả hoạt động của con vật làm cho bức tranh trở nên cóhồn Các chi tiết tả hoạt động và hình dáng phải cò mối quan hệ với nhau.Việc miêu tả ngoại hình làm cho người đọc cảm nhận các hoạt động của convật đúng hơn, đầy đủ hơn và ngược lại Hoạt động của con vật có nhiều loại:
di chuyển,kiếm ăn, chơi đùa,… Các hoạt động này thường giồng nhau trongcùng một loài: con vịt nào cũng biết bơi, con bò nào cũng ăn cỏ,… Nhưng khimiêu tả cần lựa chọn những chi tiết vừa mang tính chung của giống loài, vừamang tính cá biệt của từng con vật cụ thể Các hoạt động tiêu biểu ấy tạo chomỗi con vật một tính nết riêng, cá thể hóa bức tranh miêu tả Bài văn miêu tảcon vật phải làm cho người đọc, người nghe như đang sống cùng với chúng,nhìn ngắm hình dáng bên ngoài, chứng kiến hoạt động của chúng
Ví dụ qua đoạn văn miêu tả về con ngan mới nở của Tô Hoài dườngnhư chúng ta cứ muốn đưa tay khẽ nâng chú ngan con lên ngắm nghía
“Con ngan nhỏ mới nở được ba hôm trông chỉ to hơn cái trứng một tí.
Nó có bộ long vàng óng Một màu vàng đáng yêu như màu những con tơ non mới guồng Nhưng đẹp nhất là đôi mắt với cái mỏ Đôi mắt chỉ bằng hạt
Trang 21cườm, đen nhánh hạt huyền, lúc nào cũng long lanh đưa đi đưa lại như có nước, làm hoạt động hai con ngươi bóng mờ Một cái mỏ màu nhung hươu vừa bằng ngón tay đứa bé mới đẻ và có lẽ cũng mềm như thế, mọc ngay ngắn đằng trước cái đầu xinh xinh vàng muỗm và ở dưới bụng lủn chủn hai chân
bé tí màu đỏ hồng”.
Hoặc qua đoạn miêu tả đàn bò sau của Hồ Phương ta lại thấy ông đãkhéo tả các cách ăn khác nhau của mỗi con bò Ba Bớp thì tham ăn, cu Tũnthì ham chơi, chị Vàng thì dịu dàng,…
“Con Nâu dừng lại Cả đàn bò dừng theo Tiếng gặm cỏ bắt đầu rào lên như một nong tằm ăn rỗi khổng lồ.Con Ba Bớp vẫn phàm ăn tục uống nhất, cứ thúc mãi mõm xuống đất, ủi cả đất lên mà gặm Bọt mép nó trào ra trông đến là ngon lành Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ Cu Tũn dở hơi, chốc chốc laijheechs cái mồm tròn vo, đen mịn như nhung và cặp mắt trong suốt lên nhìn rối chạy tới ăn tranh mảng cỏ của mẹ Chị Vàng lại dịu dàng nhường cho nó, đi kiếm mảng khác…”.
Nếu bài văn miêu tả nào tước bỏ đi những nét riêng, nét cá biệt của convật, chỉ có những nét chung chung của một giống loài nào đó thì bài văn miêu
tả ấy trở nên khô khan, mờ nhạt Bên cạnh hai nội dung trên cần chú ý đếnmột nội dung cũng không kém phần quan trong đó là thể hiện tình cảm củangười viết đối với con vật được tả Quan sát để miêu tả bao giờ người ta cũng
có nhận xét, đánh giá hay có tình cảm(yêu, ghét, vui, buồn,…) đối với convật Việc bộc lộ những tình cảm, nhận xét đó có khi được miêu tả trực tiếpnhưng phần lớn là nó được miêu tả gián tiếp qua cách chọn lựa từ ngữ, hìnhảnh; qua cách ví von giàu tưởng tượng, dạt dào cảm xúc, hoăc qua bố cục,…của một bài văn miêu tả
Ngôn ngữ trong văn miêu tả loài vật là ngôn ngữ chính xác, hàm súcnhưng sinh động, giàu hình ảnh và cảm xúc Trong văn miêu tả con vật người
ta thường sử dụng có hiệu quả các tính từ chỉ màu sắc, khồi lượng, các từ
Trang 22tượng thanh, các động từ chỉ hoạt động, các phép nhân hóa, so sánh,… Trongbài văn miêu tả con vật ta thấy các tính từ đặc biệt là các tính từ chỉ màu sắc,khối lượng có tần số xuất hiện cao Điều này cũng dễ hiểu vì chúng nó có ưu
thế trong việc khắc họa hình ảnh con vật Con ngan mới nở bộ lông vàng óng,
đôi mắt đen nhánh hạt huyền Con mèo đầu tròn xinh và nghộ nghĩnh, to bằng quả bóng cao su, đôi mắt long lanh như ngọc và tròn xoe như hai hòn bi
ve Song điều cần lưu ý là phải tìm cho được các tính từ miêu tả con vật đung
và hay nhất về màu sắc, hình dáng con vật, không nên chỉ dừng lại ở cac tính
từ chung chung Con ngan, con vịt mới nở màu gì? Chỉ nói màu vàng thôi thìchưa đủ hay vì chưa lột tả đúng sắc độ của màu vàng Phải nói như Tô Hoài
“bộ lông vàng óng” hay như Vũ Thị Thường “lông vàng suồm suộm” Cùng
tả con cá song có người viết “vây hoa xám đen lốm đốm” còn Huy Cận lại viết “cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”.
Các từ tượng được sử dụng có khi để miêu tả tiếng kêu của con vật hay
tiếng động do nó tạo ra Đàn bò thì sung sướng ò…ò…,các chú vịt con thì vít
vít đáng yêu, con khỉ thì khẹc…khẹc…, “con gà bà Kiến chỉ rặn được ba tiếng
éc, e, e cụt ngủn…”… Các từ tượng thanh làm cho bài văn miêu tả trở nên
chân thực hơn, hấp dẫn hơn vì con vật được tả giống như trong cuộc sốngvậy
Các động từ hoạt động rất cần cho việc miêu tả hoạt động miêu tả củacon vật Các hoạt động này rất phong phú Do đó số lượng lớn động từ hoạtđộng được sử dụng Các động từ này làm cho các hoạt động của con vật nhưhiện rõ trước mắt người đọc “Chim bố và chim mẹ mải miết đi kiếm mồi về
mớm cho con Thỉnh thoảng Minh lại bắc ghế nhòm lên Môi Minh chúm lại
khe khẽ bắt chước tiếng chim kêu lích tích, lích tích Những chú chim non vội
nhổm hết cả dậy Những đôi mắt tròn như hạt cườm đen, chớp chớp, cái đầu khẽ nghiêng nghiêng,… Những chiếc mỏ vàng khúm lại há ra đớp đớp, ngon lành như em bé của Minh lúc nó ọ ẹ hớp hớp đôi môi đòi bú tí…”.
Trang 23Phép nhân hóa, so sánh tỏ ra đăc dung trong văn miêu tả con vật Ởnhiều tác phẩm, nhân hóa không những chỉ là những biện pháp hoặc thủ pháp
có tính chất tu từ mà trở thành phương pháp xây dựng hình tượng, xây dựng
tác phẩm như trong Dế Mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ Bọ Ngựa,… Phổ biến trong
các tác phẩm miêu tả, nhân hóa được dùng như một biện pháp nghệ thuật.Người viết dùng cách gọi người để gọi con vật (cu Tũn, chị Vàng,…), tả cáchoạt động, tính nết của con vật như con người,… Nhờ biện pháp nhân hóa và
so sánh con vật được miêu tả trở nên sinh động và thân thiết hơn đối vớingười đọc
“Ở một trang trại kia có một con chó Vện Vện rất khó tính Nếu bị
xích, nó lăn ra kêu ăng ẳng Nhưng nếu để tự nhiên thì nó chạy rông suốt ngày, có khi đến bữa cũng mải vui chơi với chúng bạn, quên cả về ăn cơm Bởi thế nên Vện thường bị khổ hình số một Nghĩa là phải xích cổ lại.
Tất nhiên Vện không ưng thế Nó phản đối nó cắn xích Nó nhá thừng Nhưng xích thì bằng xích dây thì bằng đay Cắn nhá lắm chỉ tổ có rách mép, đau răng thôi Sau một hồi ghè nhay, cậu cả lại mệt lử, nằm nhoài ra thở phì phò Không làm thế nào được”.
Trên đây là một số đặc điểm về đối tượng, nội dung cũng như ngôn ngữtrong văn miêu tả Qua một số nét như vậy ta cũng có cái nhìn toàn diện,sâusắc hơn về văn miêu tả con vật
1.1.3 Kĩ năng Kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS Tiểu học
Trang 24Vậy, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một
hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động đúng đắn vào thực tiễn.
Như vậy kỹ năng không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành thôngqua một quá trình luyện tập và trải qua một quá trình nhất định Bất cứ kỹnăng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết - đó là kiến thức Sở dĩ như vậy là
vì, xuất phát từ cấu trúc kĩ năng (phải hiểu mục đích, biết cách thức đi đếnkết quả và hiểu những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó)
Thực chất của việc hình thành kỹ năng là hình thành cho học sinh nắmvững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ nhữngthông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng vớinhững hành động cụ thể Muốn vậy, khi hình thành kỹ năng cho học sinh,người giáo viên cần phải thực hiện các thao tác sau:
Thứ nhất, giúp cho học sinh biết cách tìm tòi để nhận xét ra yếu tố đãcho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng trong các tình huống và trongcác bài tập
Thứ hai, giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyếtcác bài tập, các đối tượng cùng loại
Thứ ba, giúp học sinh xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hìnhkhái quát và các kiến thức tương xứng
Kĩ năng được xem xét nghiêng về kĩ thuật của thao tác, hành động hayhoạt động kĩ năng được xem xét nghiêng về mặt năng lực của con người.theo quan niệm này thì kĩ năng vừa mang tính ổn định vừa mang tính linhhoạt, mềm dẻo
1.1.3.2 Kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS lớp 4
Sản phẩm của phân môn TLV là các ngôn bản ở dạng nói và viết theocác dạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định Nói cách khác, mụcđích của TLV là tạo lập được ngôn bản Vì vậy nhiệm vụ cơ bản của dạy học
Trang 25TLV là giúp HS tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo phong cách khácnhau do chương trình quy định.
Nhiệm vụ của TLV là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản
ở HS Năng lực tạo lập ngôn bản được phân tích thành các kĩ năng bộ phậnnhư: xác định mục đích nói,viết, lập ý, triển khai ý thành lời dưới dạng nói,viết thành câu, đoạn, bài Vì vậy, phân môn TLV phải cung cấp cho HSnhững kiến thức và hình thành, phát triển cho các em những kĩ năng này ỞTiểu học, phân môn TLV có nhiệm vụ rèn kĩ năng nói theo các nghi thức lờinói, nói, viết các ngôn bản thông thường, viết một số các văn bản nghệ thuậtnhư kể chuyện, miêu tả
Trong văn miêu tả con vật cũng vậy các kĩ năng trên càng thể hiện tầmquan trọng, sự cần thiết của mình trong quá trình dạy và học của GV và HS
Ta có thể hệ thống các kĩ năng làm văn miêu tả con vật như sau:
- Kĩ năng tìm hiểu đề bài(kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và giới hạn
đề bài bài viết)
- Kĩ năng xác định tư tưởng của bài viết
- Kĩ năng quan sát, thu thập tài liệu cho bài viết(tìm ý)
- Kĩ năng lập dàn ý (hệ thống hóa, lựa chọn tài liệu)
- Kĩ năng diễn đạt (dùng từ đặt câu) thể hiện chính xác, đúng đắn phongcách, tư tưởng bài văn miêu tả
- Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo phong cách miêu tả
- Kĩ năng hoàn thiện bài viết (phát hiện và sữa chữa lỗi)
1.1.4 Đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học với quá trình dạy học viết văn miêu tả
Hiện nay văn miêu tả được đưa vào chương trình phổ thông ngay từnhững lớp đầu của Tiểu học Ở lớp 2 khi tập quan sát tranh để trả lời câu hỏicác em đã được làm quen với văn miêu tả qua việc việc viết ghép câu trả lờicủa các em lại thành một đoạn văn Đặc biệt lên lớp 4, 5 các em thực sự làm
Trang 26văn miêu tả qua năm tiểu loại đó là: văn miêu tả đồ vật, văn miêu tả cây cối,văn miêu tả con vật, văn miêu tả cảnh và văn miêu tả người.
Học sinh Tiểu học có đặc điểm là thích quan sát, thích tìm tòi Mọi vậtxung quanh đối với các em đều là những dấu hỏi và cũng chính những thứ đólại trở thành câu trả lời riêng cho các em Văn miêu tả đòi hỏi phải có sợ quansát tỉ mỉ và cụ thể cho nên nó rất phù hợp với tâm lí của các em Nó góp phầngiúp các em thích quan sát, khám phá hơn và quan sát các em có mục đích cụthể, quan sát để tìm ra câu trả lời cho bản thân Khi tả về một đối tượng nào
đó thì trước hết các em phải biết chúng đã nên các em phải tìm tòi nhiều hơn
Vì thế qua văn miêu tả cũng tích lũy cho các em một vốn kinh nghiệm sốngđáng kể
Văn miêu tả ở Tiểu học cơ bản chỉ yêu cầu các em tả về hình dáng bênngoài và tính nết nổi bật của đối tượng miêu tả Đây cũng là một thuận lợi chocác em vì đặc điểm nhận thức của các em bây giờ đang là nhận thức cảm tính.Các em nghiêng về vẻ bề ngoài, những cái gì các em có thể nhìn thấy trực tiếpđược, các em chưa đi sâu vào bản chất của đối tượng Chúng ta có thể nhậnthấy rõ điều đó qua các bài viết của học sinh Các em chủ yếu là liệt kê nhữngchi tiết các em quan sát được về đối tượng để viết thành một bài văn
“Chú gà trống nhà em đã ra dáng một chú gà trống đẹp Mình nó phủ
một bộ lông màu đỏ, điểm thêm vài cái lông màu đen.Chót đuôi là một túm lông màu đen và xanh pha trộn, cao vống lên, uốn cong xuống nom thật kiêu hãnh, thật oai phong Mỗi khi chú bước đi, những cái lông đó rung rung làm
em lại nhớ đến túm lông cắm trên đầu các vị tướng tuồng Trên đàu chú đã thấy nhú lên cái mào đỏ, tuy chưa to nhưng sắc đã thật đỏ rực Đôi chân chú cao, to với cái cựa sắc nhọn, và ở mỗi đầu ngón, ta đã nhìn thấy rõ một móng nhọn, sắc tưởng như khẽ đụng vào da thịt thì cũng đủ làm da thịt ta chảy máu”.
Văn miêu tả góp phần nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm
Trang 27của các em đối với thế giới xung quanh Trong đó được chú trọng là tình cảmcủa các em đối với thiên nhiên, tình cản thẩm mĩ, tình yêu cái đẹp, góp phầnphát triển ngôn ngữ cho các em,…Đối tượng của văn miêu tả ở Tiểu học lànhững thứ gần gũi với cuộc sống của các em Qua các bài văn miêu tả các emhiểu rõ hơn về nó Nhờ đó mà tạo nên quan tâm của các em đối với chúng.Học văn miêu tả học sinh có nhiều điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tưduy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên và với xãhội để gợi lên những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thượng, đẹp đẽ… trongtâm hồn mỗi học sinh Xu- khôm- lin- xki, nhà giáo dục Xô Viết đã cho rằngviệc học sinh tiếp xúc với thiên nhiên,việc dạy các em miêu tả cảnh, vật nhìnthấy, nghe thấy… là con đường hiệu quả nhất để giáo dục các em và pháttriển ngôn ngữ ở trẻ.
Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học là đi từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng và trở về thực tiễn Do đó trong khi học văn miêu tả giáoviên phải cho các em được quan sát vật thật hoặc tranh, ảnh về đối tượng cầnmiêu tả Có như vậy thì đối tượng miêu tả sẽ được làm nổi bật thông qua ngônngữ của học sinh Hơn nữa đối tượng miêu tả ở Tiểu học rất gần gũi với các
em nên cũng là một thuận lợi trong việc học tập của các em
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh về văn miêu tả con vật
1.2.1.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về văn miêu tả con vật
Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu và tiếp xúc với GV tại trườngTiểu học Sơn Lâm Tôi đã nhận thấy được những mặt tích cực và một số hạnchế của GV trong quá trình văn miêu tả nói chung và văn miêu tả con vật nóiriêng Những hạn chế mà GV ở trường mắc phải chủ yếu xuất phát từ nhậnthức chung của GV về văn miêu tả con vật
Được sự cho phép của nhà trường, tôi đã tiến hành khảo sát các 20 giáo
Trang 28viên đanng trực tiếp giảng dạy tại trường Tiểu học Sơn Lâm thông qua phiếutrắc nghiệm(phần phụ lục) mà tôi đã soạn mỗi phiếu gồm 8 câu hỏi kết quảthu được đánh giá theo thang điểm 8, nghĩa là tối đa là 8 điểm Mỗi câu trả lờiđúng được tính 1 điểm, mỗi câu trả lời sai không được tính điểm Kết quả thuđược như sau:
Bảng điều tra thực tế dạy học văn miêu tả con vật lớp 4
1
Nêu được kháiniệm văn miêu tảcon vật
2
Chỉ ra được đúngcác lỗi HS haymắc
3
Chỉ ra được nhữngkhó khăn khi dạy
và học văn miêu tảcon vật
4
Xác định đượcphương tiện chủyếu trong dạy họcvăn miêu tả convật
5
Xác định đượcphương pháp chủđạo trong dạy họcvăn miêu tả convật
tượng văn miêu tả
Trang 29con vật.
7
Xác định đượcnhững kĩ năng cầnrèn luyện cho HSqua văn miêu tảcon vật
8
Đưa ra những ýkiến để hoàn thiện
kĩ năng làm vănmiêu tả con vật
Qua số liệu trên cho ta thấy các GV ở trường chưa có sự nhận thức thậtsâu sắc về văn miêu tả con vật Đa số các GV chỉ nhận thức một cách chungchung về văn miêu tả mà chưa có sự đào sâu, đầu tư cho loại văn miêu tả convật Khi tôi đưa ra các câu hỏi nhìn vào có vẻ rất dễ nhưng khi trả lời GV gặpkhông ít lúng túng trong việc trả lời câu hỏi và giải quyết vấn đề Việc đóchứng tỏ GV rất chủ quan với những vấn đề này, các đồng chí có cái nhìn hờihợt về vấn đề và thực sự chưa có ý thức trau dồi về lĩnh vực văn miêu tả convật
1.2.1.2 Thực trạng nhận thức của học sinh về văn miêu tả con vật
Làm văn ở HS Tiểu học là một công việc không mấy dễ dàng, hấp dẫnđối với các em Làm văn buộc các em phải tưởng tượng rất nhiều, bên cạnh
đó các em phải viết nhiều, phải vận dụng rất nhiều kĩ năng khi làm bài Điều
đó làm cho các em dễ chán nản và mệt mỏi
Trong qua trình dự giờ, lên lớp tôi nhận thấy những mặt tích cực và hạnchế của HS trong quá trình học văn miêu tả nói chung và văn miêu tả con vậtnói riêng Những hạn chế đó một phần xuất phát từ nhận thức chung của HS
về lý thuyết văn miêu tả con vật
Tôi đă điều tra, khảo sát 20 HS đang trực tiếp học tại trường Tiểu học
Trang 30Sơn Lâm - Sơn Lâm - Hương Sơn - Hà Tĩnh thông qua 20 phiếu trắc nghiệm(phần phụ lục) Kết quả điều tra được tính theo thang điểm 9 nghĩa là một câuđược tính là 1 điểm Trả lời sai không được tính điểm Kết quả thu được nhưsau:
Bảng điều tra thực tế việc học văn miêu tả con vật lớp 4
1
Chỉ ra đúng cácphần của một bàivăn miêu tả
2
Chỉ ra được cáccách mở bài trongbài văn miêu tả convật
3
Biết viết đoạn mởbài gián tiếp chomột đề văn miêu tảcon vật
4
Chỉ ra được cáccách kết bài trongbài văn miêu tả convật
5
Biết viết đoạn kếtbài cho một đề văncho trước
6
Chỉ ra được các kĩnăng khi làm vănmiêu tả con vật
kiểu mở bài trong
Trang 31đoạn văn cho trước
8
Nêu được nhữngkhó khăn khi làmvăn miêu tả convật
9
Biết cách lập dàn ýcho một đề văn chotrước
1.2.2 Thực trạng dạy và học văn miêu tả con vật
Qua thời gian tìm hiểu tôi thấy các nhà trường Tiểu học cũng đã có sựquan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn có hiệu quả, nâng cao taynghề cho giáo viên Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, cácbuổi dạy đánh giá trong tổ chuyên môn, các buổi tập huấn cho giáo viên Đểqua những buổi như vậy các đồng chí có thể trao đổi ý kiến, kinh nghiệm chonhau Từ đó nâng cao hiểu biết và tay nghề cho mỗi giáo viên Tất cả các giáoviên đều được trang bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo,
… Nhà trường cũng tạo điều kiện mua các phương tiện dạy học hiện đại nhưmáy chiếu để dạy bằng điện tử,… Đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm, yêunghề, nhiệt tình với công tác giảng dạy và học sinh Đối với văn miêu tả hầuhết giáo viên dã dạy đúng và đủ phần văn miêu tả con vật trong chương trìnhTiểu học Một số giáo viên còn biết sử dụng những phương pháp dạy học mớihay ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học nhằm phát huy tính tíchcực, tự giác học tập của học sinh
Trang 32Đối tượng của văn miêu tả con vật là nhưng loài rất quen thuộc vớicuộc sống của các em Nên trong giờ học đa số các em rất thích thú, có ý thứcxây dựng bài Các em có tâm hồn trong sáng, ngây thơ, giàu cảm xúc Thếgiới của các em bây giờ đang là một thế giới cổ tích Đặc biệt đa số các emđều rất gần gũi và yêu thương các con vật Các em có thể tâm tư, chia sẻ tìnhcảm của mình với con vật đó Đây là một điểm rất thuận lợi cho việc khơi gợi
Học sinh Tiểu học rất hứng thú khi được tìm hiểu các đối tượng đượcmiêu tả Nhưng các em chưa có được kĩ năng quan sát tốt, chưa xác định đượcchính xác mục tiêu quan sát cho nên các em gặp nhiều khó khăn trong việclựa chọn các chi tiết để đưa vào bài làm của mình Khi các em lựa chọn được
Trang 33chi tiết thì việc sử dụng từ ngữ viết thành câu, liên kết các câu sao cho mạchlạc,trôi chảy cũng là một vấn đề Trong khi đó đa số các giáo viên đều chưa
có biện pháp cụ thể để rèn luyện các kĩ năng này cho học sinh
Ta có thể thấy rõ hơn những lỗi học sinh hay mắc phải qua một số bàilàm của các em sau:
Một số bài viết của các em còn quá ngắn, câu cụt, kể lể, ít hình ảnh,…
Nhà em nuôi rất nhiếu con vật như: chó, gà, lợn,… Nhưng em thích nhất vẫn là con chó.
Con chó nhà em tên là Lu Lu Nó có đầu, đuôi và thân.đầu của nó nhỏ nhỏ, xinh xinh nhìn rất đáng yêu Thân của nó phủ một lớp lông màu xám mịn Đuôi của nó dài Mỗi khi em đi học về là nó lại chạy lại ngoe nguẩy cái đuôi của nó Em rất hay chơi đùa với nó, hay tắm rửa cho nó nữa.
Em rất yêu quý con Lu Lu nhà em.
Một số bài các em dùng từ thiếu chính xác, sử dụng các biện pháp tu từchưa hợp lí,…
Con lợn nhà em có đôi mắt sáng long lanh Cái mõm của nó dài ơi là dài Mỗi khi nó ăn nó lại sục cái mõm xuống máng ăn một cách ngấu nghiến như Trư Bát Giới vậy
Ở một số bài khác nữa thì các em còn khô khan, nghèo cảm xúc, sự liệt
kê lan man, dài dòng, câu lủng củng, sắp xếp lộn xộn, lặp đi lặp lại nhiều lầnhay không có sự liên kết giữa các câu, không lột tả được đối tượng miêu tả,đôi khi còn bịa đặt
Con chó nhà hàng xóm nhà em rất đẹp Lông của nó trắng tinh Đôi mắt nó rất tinh nhanh Nó thường hay đuổi bắt con mèo nhà em Con mèo nhà em có bộ lông màu xám đen vằn vàng Nó chạy rất nhanh nên con chó không lúc nào đuổi được con mèo nhà em Ngược lại con mèo nhà em còn nhiều lúc còn dám gầm gừ dọa lại con chó Mỗi khi con chó chạy đâu về là lưỡi nó lại thè ra nhìn tội nghiệp Mỗi lần ăn con chó ăn năm bát cơm Nó rất
Trang 34Em rất thích con chó đó.
Bên cạnh đó các bài làm của học sinh vẫn thường mắc một số lỗi thôngthường như: lỗi chính tả (nhầm phụ âm đầu l/n, s/x, d/r/gi,…) lỗi dấu câu(không dùng dấu câu, dùng sai dấu câu), lỗi diễn đạt (dùng từ không phù hợp,câu không đủ thành phần, câu thừa thành phần, câu sai nghĩa, câu không rõnghĩa,…), lỗi chủ đề (lạc chủ đề,…)…
Trang 351.3 Khảo sát chương trình sách giáo khoa về văn miêu tả
Nội dung chương trình TLV lớp 4 được thiết kế tổng công 62 tiết/ năm.Trong đó văn miêu tả gồm có 30 tiết được phân bố như sau:
Nhận biết được câu văn
miêu tả trong truyện Chú
Đất Nung; bước đầu viết
được 1,2 câu miêu tả mộttrong những hình ảnh yêu
thích trong bài thơ Mưa.
Nắm được cấu tạo bàivăn miêu tả đồ vật, cáckiểu mở bài, kết bài, trình
tự miêu tả trong phầnthân bài
Biết vận dụng để viết mở
văn miêu tả cái trốngtrường
vật
Nắm vững cấu tạo 3phần(mở bài, thân bài,kết bài) của bài văn miêu
tả đồ vật và trình tự miêutả; hiểu vai trò của quan
Trang 362 Quan sát đồ vật
sát trong việc miêu tảnhững chi tiết của bàivăn, sự xen kẽ của lời tảvới lời kể
Lập được dàn ý cho bàivăn tả chiếc áo mặc đếnlớp
Biết quan sát đồ vật theomột trình tự hợp lí, bằngnhiều cách khác nhau;phát hiện được đặc điểmphân biệt đồ vật đó với
đồ vật khác; dựa vào kếtquả quan sát, biết lập dàn
ý để tả một đồ chơi quenthuộc
Tuần 16
Luyện tập miêu tả đồ vật
Dựa vào dàn ý đãlập(TLV, tuần 15), viếtđược một bài văn miêu tả
đồ chơi em thích với baphần: mở bài, thân bài,kết bài
văn miêu tả đồ vật.
2 LT xây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật
Hiểu được cấu tạo cơ bảncủa đoạn văn trong bàivăn miêu tả đồ vật, hìnhthức thể hiện giúp nhậnbiết mỗi đoạn văn
Nhận biết được cấu tạocủa đoạn văn; viết được
Trang 37một đoạn văn tả bao quátmột chiếc bút.
Nhận biết được đoạn vănthuộc phần nào trong bàivăn miêu tả, nội dungmiêu tả của từng đoạn,dấu hiệu mở đầu đoạnvăn; viết được đoạn văn
tả hình dáng bên ngoài,đoạn văn tả đặc điểm bêntrong của chiếc cặp sách
Tuần 19
1 LT xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả
đồ vật
2 LT xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả
đồ vật
Nắm vững hai cách mởbài (trực tiếp, gián tiếp)trong bài văn tả đồ vật.Viết được đoạn mở bàicho một bài văn miêu tả
đồ vật theo hai cách trên.Nắm vững hai cách kếtbài (mở rộng, không mởrộng) trong bài văn tả đồvật
Viết được đoạn kết bài
mở rộng cho một bài vănmiêu tả đồ vật
tra viết)
Biết viết hoàn chỉnh bàivăn tả đồ vật đúng yêucầu của đề bài, có đủ 3phần(mở bài, thân bài,
Trang 38kết bài), diễn đạt thànhcâu rõ ý.
…); tự sửa được các lỗi
đã mắc trong bài viết theo
sự hướng dẫn của GV
Nắm được cấu tạo 3 phần(mở bài, thân bài, kết bài)của một bài văn tả câycối
Nhận biết được trình tựmiêu tả trong bài văn tảcây cối; biết lập dàn ýmiêu tả một cây ăn quảquen thuộc theo 1 trong 2cách đã học
cây cối
2 LT miêu tả các bộ phận của cây cối
Biết quan sát cây cốitheo trình tự hợp lí, kếthợp các giác quan khiquan sát; bước đầu nhận
ra được sự giống nhaugiữa miêu tả một loài câyvới miêu tả một cái cây.Ghi lại được các ý quansát về một cây em thích
Trang 39theo một trình tự nhấtđịnh.
Nhận biết được một sốđiểm đặc sắc trong cáchquan sát và miêu tả các
bộ phận của cây cối trongđoạn văn mẫu; viết đượcmột đoạn văn ngắn tảlá(thân, gốc) một cây emthích
Tuần 23
1 LT miêu tả các bộ phận của cây cối
2 Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối
Nhận biết được một sốđiểm đặc sắc trong cáchquan sát và miêu tả các
bộ phận của cây cối (hoa,quả) trong đoạn văn mẫu;viết được một đoạn vănngắn tả một loài hoa emthích
Nắm được đặc điểm nộidung và hình thức củađoạn văn trong bài vănmiêu tả cây cối
Nhận biết và bước đầubiết cách xây dựng mộtđoạn nói về lợi ích củaloài cây em biết
Trang 40miêutả cây cối
về đoạn văn trong bài văn
tả cây cối đã học để viếtđược một số đoạnvăn(còn thiếu ý) cho hoànchỉnh
Tuần 25
LT xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối
Nắm được 2 cách mở bài(trực tiếp, gián tiếp) trongbài văn miêu tả cây cối;vận dụng kiến thức đãbiết để viết được đoạn mởbài cho bài văn tả mộtcây mà em biết
Tuần 26
1 LT xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối
2 Luyện tập miêu tả cây cối
Nắm được 2 cách kết bài(mở rộng, không mởrộng) trong bài văn miêu
tả cây cối; vận dụng kiếnthức đã biết để bước đầuviết được đoạn kết bài mởrộng cho bài văn tả mộtcây mà em thích
Lập được dàn ý sơ lượcbài văn tả cây cối nêutrong đề bài
Dựa vào dàn ý đã lập,bước đầu viết được cácđoạn thân bài, mở bài, kếtbài cho bài văn tả cây cốixác định