1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quần thể di tích lễ hội đền bà triệu

114 569 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 532,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tưởng nhớ công lao to lớn của Bà Triệu, nhân dân làng Phú Điền đã xây lăng, dựng Tháp trên đỉnh núi Tùng - nơi người nữ anh hùng dân tộc họ Triệu đã ngã xuống tại vùng đất lịch sử này

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh

Nguyễn Thị Liễu

Quần thể di tích và lễ hội đền Bà Triệu

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.54

Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Ngời hớng dẫn khoa học: TS Trần Văn Thức

vinh, năm 2010 LỜI CẢM ƠN

Trang 2

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô trong khoa Đào tạo Sau đại học, khoa Lịch sử trường Đại học Vinh đã tận tình dạy dỗ, truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập ở trường và thực hiện luận văn Đặc biệt tôi tỏ lòng biết

ơn chân thành và sâu sắc tới TS Trần Văn Thức, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn các cô, các chú trong Uỷ ban nhân dân xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, các cụ từ trong đền Bà Triệu đã cung cấp thông tin, nhiệt tình giúp đỡ

và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian đi điền dã tại địa phương Đồng thời tôi cũng cảm ơn sâu sắc tới các cô thủ thư của thư viện Khoa học tổng hợp Thanh Hoá đã giúp đỡ tôi trong quá trình đi tìm tư liệu.

Tôi đặc biệt muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, những người đã luôn bên tôi trong mọi hoàn cảnh, là chỗ dựa vững chắc để tôi yên tâm học tập trong suốt thời gian qua Đồng thời tôi cũng cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT Hậu Lộc 3, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

Trang 4

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Cấu trúc luận văn 5

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN BÀ TRIỆU Ở LÀNG PHÚ ĐIỀN (HẬU LỘC - THANH HÓA) 7

1.1 Làng Phú Điền - Truyền thống lịch sử và văn hoá 7

1.1.1 Vị trí, điều kiện tự nhiên, dân cư 7

1.1.2 Truyền thống lịch sử và văn hoá 9

1.2 Thân thế và sự nghiệp anh hùng Triệu Thị Trinh 17

1.2.1 Bối cảnh lịch sử nước ta vào đầu thế kỷ III 17

1.2.2 Bà Triệu - truyền thuyết và thần tích 21

1.2.3 Khởi nghĩa Bà Triệu, kết quả và ý nghĩa lịch sử 28

1.3 Quần thể di tích đền Bà Triệu 33

1.3.1 Đền Bà Triệu 33

1.3.2 Lăng Bà Triệu 41

1.3.3 Đình làng Phú Điền (hay đình Bà Triệu) 43

Tiểu kết chương 1 45

CHƯƠNG 2 LỄ HỘI ĐỀN BÀ TRIỆU 47

2.1 Lịch sử lễ hội 47

2.2 Hoạt động của lễ hội 51

2.2.1 Quá trình chuẩn bị 51

2.2.2 Phần lễ 53

2.2.3 Phần hội 70

Tiểu kết chương 2 79

CHƯƠNG 3 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA QUẦN THỂ DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN BÀ TRIỆU 80

3.1 Giá trị lịch sử - văn hoá của quần thể di tích và lễ hội 80

3.1.1 Quần thể di tích và lễ hội bảo lưu các giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa 80

3.1.2 Giá trị văn hóa tâm linh 83

3.1.3 Giá trị văn hóa du lịch 85

Trang 5

3.2 Bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích và lễ hội 87

3.2.1 Thực trạng di tích và lễ hội hiện nay 87

3.2.2 Một số kiến nghị đề xuất 93

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 110

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Bà Triệu - một vị nữ anh hùng dân tộc - đã tiếp nối truyền thống ông cha dựng cờ khởi nghĩa chống ngoại xâm làm rạng rỡ non sông đất nước, như một dấu son chói lọi trong tâm thức các thế hệ người Việt Nam đầu thiên niên

kỉ III sau Công nguyên Để tưởng nhớ công lao to lớn của Bà Triệu, nhân dân làng Phú Điền đã xây lăng, dựng Tháp trên đỉnh núi Tùng - nơi người nữ anh hùng dân tộc họ Triệu đã ngã xuống tại vùng đất lịch sử này Lễ hội đền Bà Triệu ở xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá là lễ hội lịch sử, nó được hình thành trên cơ sở một sự kiện lịch sử, nhằm tỏ lòng ngưỡng mộ của người đương thời Đồng thời, lễ hội tạo ra một hiện tượng văn hoá làm sống lại lòng yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất và tài năng xuất chúng của Bà Triệu

Trang 6

1.1 Hình ảnh Bà Triệu đã in sâu trong lòng nhân dân Việt Nam cũng

như nhân dân Thanh Hoá Từ bao đời nay, nhân dân Thanh Hoá thờ phụng

Bà, tôn kính Bà, tự hào về Bà Chính vì thế, nó đã có một sức hút với tôi khibắt đầu tìm hiểu Thông qua đề tài, chúng tôi muốn làm cho nhân dân, nhất làthanh niên và phụ nữ tỉnh Thanh, thấy được tinh thần khát khao độc lập, tự docủa tổ tiên ta, thấy được tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất không mộtchút riêng tư của người nữ thanh niên họ Triệu quyết hi sinh cứu nước Qua

đó nhằm góp phần giáo dục các thế hệ thanh thiếu niên hiện nay - những concháu của Bà - nhận rõ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ đất nước, xứng đáng với người xưa, xứng đáng với mảnh đất quê hươnganh hùng Bà Triệu

1.2 Cho đến nay, tuy có nhiều ban ngành tổ chức, nhiều tác giả, đề tài

nghiên cứu đã ít nhiều đã đề cập đến quần thể di tích và lễ hội đền Bà Triệunhưng vẫn chưa có công trình nào có một cái nhìn tổng quan, hệ thống Chính

vì vậy, qua Luận văn này tôi muốn góp nhặt những mảng nghiên cứu đó lại để

có được một cái nhìn toàn diện, từ mọi góc độ lịch sử - địa lý - văn hoá, tuyvậy sẽ không tránh khỏi sơ sài nhiều sai sót

1.3 Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử và văn hoá vật thể, phi vật thể

của đền Bà Triệu một cách toàn diện, đầy đủ là việc làm quan trọng và cầnthiết của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và trách nhiệm của mỗi người dântỉnh Thanh Để trong tương lai gần khu di tích đền Bà Triệu trở thành mộttrong những trung tâm thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế vềvới lễ hội, chiêm ái và ngưỡng vọng, nhằm giáo dục truyền thống, hướng vềcội nguồn dân tộc cho thế hệ trẻ Vì vậy, cần được sự quan tâm của các cấp,các ban ngành đầu tư để tạo ra một không gian sinh hoạt văn hoá cho nhândân, duy trì sự tồn tại của di tích và lễ hội

Trang 7

Với tất cả những lý do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài “Quần thể

di tích và lễ hội đền Bà Triệu (Hậu Lộc - Thanh Hoá)” làm Luận văn Thạc

sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Quần thể di tích lịch sử và lễ hội đền Bà Triệu có một giá trị to lớn cả

về văn hóa vật chất, tinh thần đối với Thanh Hoá nói riêng và cả nước nóichung Thế nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều tác giả, đề tài nghiên cứu đề cậpđến vấn đề này một cách đầy đủ toàn diện

Trước hết phải kể đến cuốn “Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu” - Kỷ yếu

của Hội nghị nghiên cứu lần thứ nhất từ 17 đến 19/11/1971 của Ty Văn hoáThanh Hoá (xuất bản năm 1972), là tập hợp những báo cáo, tham luận hoặc ýkiến trong hội nghị về Bà Triệu và cuộc khởi nghĩa Bà Triệu

Trong cuốn “Lễ tục lễ hội truyền thống xứ Thanh” của tác giả Hoàng

Anh Nhân, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc - Hà Nội (2001), cũng đã trình bày một cách khái lược về lễ hội đền Bà Triệu

Hay trong cuốn “Lệ Hải Bà Vương và đền thờ Bà Triệu” của tác giả

Mai Thị Hoan, nhà xuất bản Thanh Hoá (2008) đã đề cập đến vấn đề này, tuynhiên cũng chỉ giới thiệu một cách sơ lược về thân thế, sự nghiệp anh hùngdân tộc Triệu Thị Trinh, khu di tích lịch sử văn hoá đền Bà Triệu

Trong một số cuốn như: “Lịch sử Thanh Hoá” - Tập 2 (từ thế kỉ I đến

đầu thế kỉ XV) của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, nhà xuất

bản Khoa học xã hội Hà Nội (1994); cuốn “Danh nhân Thanh Hoá”, nhà xuất bản Thanh Hoá (2004); hay cuốn “Việt Nam - những cuộc chiến chống xâm lăng trong lịch sử” của Nguyễn Hữu Đức, nhà xuất bản Quân đội nhân dân

(2001) cũng đã giới thiệu một cách khái lược nhất về cuộc khởi nghĩa BàTriệu năm 248

Trang 8

Ngoài ra, trong một số bài báo xuất bản ở Thanh Hóa cũng có nhắc đến

lễ hội đền Bà Triệu, song chỉ mới đưa ra một cái nhìn khái quát mà thôi

Như vậy, từ trước đến nay, các tài liệu ghi chép về quần thể di tích và

lễ hội đền Bà Triệu còn quá ít ỏi, chủ yếu là truyền miệng Đây cũng chính làkhó khăn mà chúng tôi gặp phải trong việc tìm tài liệu, xử lý tư liệu và kếthừa các nguồn tài liệu thành văn để hoàn thành Luận văn này

Vì lẽ đó, đề tài “Quần thể di tích và lễ hội đền Bà Triệu (Hậu Lộc Thanh Hoá)” tuy ở phạm vi nhỏ, thậm chí mang tính địa phương nhưng từ

-kết quả của những đợt điền dã thực tế và việc xử lý các nguồn thông tin, tưliệu chúng tôi sẽ tái hiện một bức tranh khái quát nhất về quần thể di tích và lễhội đền Bà Triệu Là một đề tài không mới nhưng mang ý nghĩa thực tiễntrong việc giữ gìn, phát huy truyền thống lịch sử - văn hóa dân tộc và đónggóp phần nào về mặt khoa học khi tìm hiểu về nữ tướng Bà Triệu, quần thể ditích và lễ hội đền Bà Triệu nói riêng, hệ thống di tích lịch sử và lễ hội ởThanh Hóa nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu quần thể di tích lịch sử và

lễ hội đền Bà Triệu ở Thanh Hoá

Giới hạn phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là giới thiệu quần thể ditích lịch sử đền Bà triệu, đặc biệt làm nổi bật những nét đặc sắc trong lễ hộiđền Bà Triệu ở làng Phú Điền (Hậu Lộc - Thanh Hoá) Từ đó khẳng định giátrị lịch sử, văn hoá của lễ hội đã ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống văn hoátinh thần của nhân dân

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.

4.1 Nguồn tài liệu:

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nguồn tài liệu thành vănliên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu và nguồn tài liệu điền dã tại địa

Trang 9

phương Đồng thời tác giả đã trực tiếp trao đổi với các vị cao niên trong làng

về các câu truyện truyền thuyết, sự tích, hiện vật liên quan đến nhân vật BàTriệu và về cách thức tổ chức của lễ hội đền Bà Triệu

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, để hoàn thành những yêu cầu đề tài đặt ra,chúng tôi đã sử dụng kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháplogic để nghiên cứu quần thể di tích lịch sử và lễ hội đền Bà Triệu ở Hậu Lộc

- Thanh Hoá Từ đó thấy được tác động và giá trị to lớn của sự kiện lịch sử, ditích và lễ hội mà đề tài nghiên cứu

Tác giả đã sử dụng phương pháp điền dã thực địa ở Hậu Lộc (ThanhHóa), nơi có quần thể di tích lịch sử và lễ hội đền Bà Triệu Đây là mộtphương pháp quan trọng để thấy được hiện trạng di tích và lễ hội Tác giả đãtrực tiếp tham gia lễ hội để có sự so sánh đối chiếu giữa lễ hội Bà Triệu hiệnnay và lễ hội Bà Triệu trong các tài liệu thành văn đã công bố trước

Chúng tôi cũng đã sử dụng tổng hợp các phương pháp liên ngành:Khảo

cổ học, Xã hội học, Kiến trúc, Dân tộc học… Một số phương pháp cụ thểkhác mà đề tài quan tâm và sử dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu là:

- Phương pháp điều tra sưu tầm tư liệu

- Hệ thống hóa, chỉnh lý tư liệu

- Khảo tả, phân tích, phân loại tư liệu

5 Đóng góp của Luận văn.

Luận văn đã góp phần giới thiệu một cách có hệ thống:

5.1. Khái quát về truyền thống lịch sử văn hoá làng Phú Điền, thân thế

sự nghiệp anh hùng của Triệu Thị Trinh Từ đó giới thiệu quần thể di tích lịch

sử đền Bà Triệu

Trang 10

5.2. Sự hình thành lễ hội đền Bà Triệu - không gian tổ chức lễ hội, trìnhbày một cách hệ thống diễn biến lễ hội.

5.3 Kết quả nghiên cứu của Luận văn là một đề tài có ích giúp cho

việc biên soạn, nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương của các trường họctrên địa bàn Thanh Hóa

5.4 Luận văn là một tài liệu có ý nghĩa để các nhà quản lý hoạch định

những chính sách hợp lý nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thốngcủa quần thể di tích và lễ hội đền Bà Triệu

5.5 Đề tài có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, tình cảm trân trọng

và biết giữ gìn những giá trị lịch sử - văn hóa truyền thống của người dân xứThanh, nhất là thế hệ trẻ, tương lai của đất nước

6 Cấu trúc Luận văn.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dungchính của luận văn được trình bày qua 3 chương:

Chương 1: Quần thể di tích đền Bà Triệu ở làng Phú Điền (Hậu Lộc

- Thanh Hoá) Chương 2: Lễ hội đền Bà Triệu

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hoá quần thể di

tích và lễ hội đền Bà Triệu

Trang 11

NỘI DUNGChương 1QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN BÀ TRIỆU Ở LÀNG PHÚ ĐIỀN

(HẬU LỘC - THANH HOÁ)

1.1 Làng Phú Điền - Truyền thống lịch sử và văn hoá.

1.1.1 Vị trí, điều kiện tự nhiên , dân cư.

“Ai qua Hậu Lộc Phú Điền Nhớ xưa Bà Triệu trận tiền tiến binh”

Trang 12

Hậu Lộc là một huyện đồng bằng ven biển Nằm ở phía đông bắc tỉnhThanh Hoá, Hậu Lộc cách Hà Nội hơn 150 km và cách thành phố Thanh Hoá

17 km Tuy không phải là một huyện lớn (xét về diện tích và dân số) nhưngHậu Lộc có một bề dày lịch sử, một thiên nhiên phong phú đa dạng, một cộngđồng xã hội có tổ chức và truyền thống lâu đời Xét về nhiều phương diện,Hậu Lộc vừa có nhiều nét riêng mang tính địa phương độc đáo, vừa có nhữngđặc điểm chung mang tính chất phổ biến tiêu biểu cho nhiều huyện đồng bằngven biển ở Thanh Hoá và Việt Nam (nhất là các huyện ven biển miền Bắc vàmiền Trung)

Từ lâu Hậu Lộc đã nổi tiếng với nền văn hoá Hoa Lộc và cửa biển LạchTrường, là trung tâm buôn bán có tính chất thương cảng thời đầu dựng nước.Duy Tinh - Chợ Phủ là quận lỵ (tỉnh lỵ) Thanh Hoá suốt thời Lý - Trần Vùngnày còn giữ gìn được nhiều ngôi chùa cổ xây dựng từ thời Lý (chùa SùngNghiêm Diên Thánh) Hậu Lộc còn có lễ hội Cầu Ngư (làng Diêm Phố - NgưLộc) đã được Bộ Văn Hoá Thông Tin công nhận là di sản văn hoá phi vật thểcấp quốc gia

Phía tây Hậu Lộc đồi núi như bát úp, những xóm làng nhỏ xinh xắn népmình bên đồi Đường ô tô, đường xe lửa chạy giữa các triền núi trông thật

đẹp: “Đoạn đẹp nhất, ngoạn mục nhất của đường xe lửa từ Hà Nội đến Bến Thuỷ là đoạn đường từ Đồng Giao đến ga Yên Thái và đặc biệt là lúc tàu chạy qua phủ Hà Trung và Hậu Lộc” [13, tr.9].

Triệu Lộc là một trong những xã nằm ở phía Tây của huyện Hậu Lộc,cách trung tâm huyện 10 km về phía Đông và cách thành phố Thanh Hoá 15

km về phía Nam Phía Đông giáp xã Tiến Lộc, phía Tây giáp xã Châu Lộc,phía Nam giáp huyện Hoằng Hoá, phía Bắc giáp xã Đại Lộc Xã Triệu Lộc códiện tích khoảng 4 km², trong đó có 929 hecta diện tích đất tự nhiên, diện tích

Trang 13

đất canh tác khoảng 600 hecta, còn lại là đồi núi Toàn huyện hiện có 1090 hộvới 5221 nhân khẩu.

Xã Triệu Lộc gồm 4 làng: Phú Điền, Phú Lương, Phú Gia và Phú Sơn.Làng Phú Điền nằm gần tuyến đường sắt xuyên Việt và đường quốc lộ 1A.Làng Phú Điền gồm 4 thôn (Phú Thượng, Phú Thịnh, Phú Hoa và PhúCường), là làng có diện tích và số nhân khẩu lớn nhất

Làng Phú Điền nằm giữa hai ngọn núi là núi Bân và núi Tùng Xungquanh núi là rừng cây rậm rạp và những quả đồi thấp Phía Đông Nam cósông Mã chảy qua, phía Tây Bắc có sông Lèn (một nhánh của sông Mã) PhúĐiền giống như một thung lũng nằm giữa hai dãy núi đá vôi thấp, thung lũng

mở rộng cửa về phía đồng bằng ven biển và bị chặn ngang về phía Tây bởisông Lèn hiện nay Xưa kia có một dòng sông lớn chảy qua thung lũng này,sau đó bị lấp dần nay đã thành ruộng lầy Là địa điểm gần biển, lại là cửa ngõ

từ miền Bắc vào xứ Thanh nên đây có một vị trí quân sự hiểm yếu, thuận lợi

cả công lẫn thủ: “Ngẫm mà xem phong cảnh Phú Điền Sau có núi, trước có sông làm án Phong cảnh ấy và giang sơn ấy nên công hầu, công tước là đây”

[13, tr.10]

Tuy nằm ở đồng bằng sông Mã nhưng vùng đất này mang tính chất bánsơn địa khá rõ Ở đây có vùng đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng, nhân dân làmlúa nước, gieo trồng màu, đào ao thả cá Đồng thời, nơi đây cũng có cả vùngđồi núi, rừng rậm, nơi trồng cây lưu niên (lim, sến, vàng tâm hoặc cây sơn đểlấy nhựa…) và các loại cây ăn quả (bùi, trám, mít, cam, chuối…) Núi đá vàrừng rậm là môi trường sinh sống và phát triển của các loại thú rừng Từ ngànxưa người dân nơi đây chăm chỉ, cần cù, nhẫn nại:

“Cấy xong lúa nước đồng làng Làm hết màu cạn lên đồi trồng cây”.

Trang 14

Không chỉ có một thiên nhiên phong phú, đa dạng, làng Phú Điền còn

có bề dày lịch sử và văn hoá

1.1.2 Truyền thống lịch sử và văn hoá.

1.1.2.1 Truyền thống lịch sử:

Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” biên soạn thời nhà Nguyễn và

theo thể phả của làng thì từ xa xưa, vùng thung lũng rộng lớn này, nhân dân ởrải rác sống tự do, phần đông làm nghề đốn củi, săn bắt thú rừng để sinh sống.Đến khoảng thế kỉ III, một người tên là Lý Phục mới tập hợp được một sốngười lập thành trang trại gọi là “Sơn Trang”, lập miếu thờ ở đầu Eo để cầutrời và thần núi cho nhân dân được sống yên lành Nhưng thiên nhiên khôngchiều theo ý người Năm 240, một cơn lốc dữ dội tàn phá bao nhiêu cây cối,đất đá đã lấp đầy cù lao, đầm lầy gây khó khăn cho cuộc sống sinh hoạt củangười dân Nhân dân phải di tràn về phía Bắc dãy Bồ Sơn gọi là “Bồ Trang”.Một số dân tràn xuống dãy phía đông núi Bần gọi là “BầnTrang” Cuộc sốngcủa người dân đã tương đối ổn định, họ vừa sản xuất vừa chống chọi với thú

dữ, với thiên nhiên

Năm 245, Lý Phục đã cùng Lý Mạc vận động nhân dân lập 7 trại ngănthú rừng để bảo vệ dân làng Vì ông có công nên nhân dân đã tôn ông là “ônggià trang trại” Năm 246, Lý Phục đã tập hợp được đông đảo nhân dân ở haitrang trại thành một trang trại, đổi tên chữ “Trang” thành chữ “Điền” gọi là

“Bần Điền Trang” và ông là người làm trưởng Bần Điền Trang:

“Có người Lý Phục Bần Điền Khai trang lập ấp mọi miền yên vui”

Lý Phục có ba người con là Lý Thành, Lý Hoằng và Lý Mỹ Năm 247ông đã tự nguyện cho ba người con xung phong vào nghĩa quân của Bà Triệuđánh đuổi giặc Ngô Sau đó nhân dân từ các phía của Bần Điền Trang đã tậphợp nhau lại thành khu dân cư để khai khẩn đất hoang, phát triển sản xuất và

Trang 15

đặt tên làng là làng “Bồ Điền”, sau đó đổi tên thành làng “Phú Điền” Điềunày có thể tìm thấy trong những sáng tác dân gian cổ truyền Ví dụ:

“Rượu ngon Kẻ Năn

No ăn Kẻ Lãi Nhất gái Kẻ Ghì Nhì gái Kẻ Sơn Giầu trơn Kẻ Ngô Phì phò Kẻ Ngọ Đánh Ngô Kẻ Bồ

Ra tro Kẻ Lục…” [46, tr.13]

Thời Gia Long (1802 - 1820), theo sách địa danh “Các tổng trấn xã

danh bị lãm” (được biên soạn trong khoảng năm 1810 - 1813) thì huyện HậuLộc có 91 đơn vị xã, thôn, trang, trại, sở, phân bố theo 5 đơn vị tổng, trong đóthôn Phú Điền nằm trong tổng Đại Lý Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,đơn vị tổng được bãi bỏ và thay bằng các đơn vị xã, quy mô nhỏ hơn và tất cảcác xã đều được đặt tên theo một nguyên tắc chung là lấy chữ “Lộc” để cấutạo thành tên xã Như vậy, làng Phú Điền thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộcngày nay

Lịch sử làng Phú Điền trước hết là lịch sử đấu tranh thiên nhiên rất giannan, nguy hiểm nhưng cũng rất kiên cường và giàu tính sáng tạo của con người ở đây:

“Tre non mà cắm bãi lầy Nản gan đâu đến chốn này làm chi Rậm đường thì phát đường đi,

Mẹ hùm chẳng sợ, sợ chi con hùm.

(Ca dao)

Trang 16

Tư tưởng và tính cách anh dũng trong bài ca dao trên đây chẳng nhữngđược thể hiện trong đấu tranh thiên nhiên mà còn được bộc lộ khá rõ trongđấu tranh bảo vệ dân tộc chống ngoại xâm và đấu tranh cách mạng, cải tạo vàxây dựng xã hội của người làng Phú Điền nói riêng và của người Hậu Lộc nóichung.

Từ thời kỳ Văn Lang, Âu Lạc đến nay, Phú Điền luôn luôn có mặttrong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, đã đóng góp nhiều sứcngười, sức của và xương máu cho sự nghiệp vĩ đại này Trên vùng đất địa linhnhân kiệt này ở thế kỉ III, Bà Triệu đã xây dựng căn cứ và chiến đấu đến giọtmáu cuối cùng chống quân xâm lược Đông Ngô Theo truyền thuyết và giaphả của một số dòng họ trong làng còn nói đến khá nhiều người có công đánhgiặc cứu nước trong các thời Tiền Lê, khi vua Lý Nam Đế đem quân đi dẹpgiặc ở phương Nam qua đây, người dân làng Phú Điền đã cung cấp lươngthảo và tòng quân đánh giặc

Trong thời kì Cần Vương chống Pháp (cuối thế kỉ XIX), nhân dân làngPhú Điền đã có những đóng góp to lớn cho cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886),

đã chứng kiến những cái chết bi hùng bất tử của Phạm Bành (Trương Xá Hoà Lộc), Hoàng Bất Đạt (Bộ Đầu - Thuần Lộc), những lãnh tụ kiên trung lỗilạc của nghĩa quân Ba Đình đã nung nấu và thức tỉnh lòng yêu nước căm thùgiặc của nhân dân nơi đây

-Sang thế kỉ XX, nhất là khi Đảng cộng sản Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, tiếp bước cha ông, các thế hệ thanh niên và nhân dân làng Phú Điền

đã dũng cảm đứng lên chống bọn thực dân, phong kiến góp phần xứng đángvào sự nghiệp cách mạng lớn lao của nhân dân trong huyện, trong tỉnh vàtrong cả nước

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ phát huy truyền thống quê hương Bà

Trang 17

Triệu, ngày 5/4/1965 nhân dân Phú Điền đã bắt sống tên giặc lái Mỹ trên đỉnhnúi Tùng, nơi có lăng mộ Bà Triệu Nhân dân ở đây sẵn sàng nhường nhà đểchứa vũ khí và lương thực Hơn nữa, trong những năm chống chiến tranh pháhoại của giặc Mỹ, nhân dân làng Phú Điền đã lập nhiều thành tích Là mộtlàng nằm bên cạnh ga Nghĩa Trang, cách cầu Lèn 2 km, có đường quốc lộ 1A

và đường sắt chạy qua Những năm chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, xãTriệu Lộc nói chung và làng Phú Điền nói riêng là một trọng điểm bắn phácủa máy bay Giặc Mỹ đã ném xuống Triệu Lộc 489 quả bom, 128 quả rốckét, 135 băng đạn canông 20 ly, 5 quả tên lửa, 6 quả đạn đại bác, làm 20người chết, hàng chục người khác bị thương, hàng chục ngôi nhà và trườnghọc bị đổ

Làng Phú Điền có đồi núi, nhiều cây cối um tùm nên các đơn vị côngbinh và giao thông vận tải đã mở con đường ô tô từ ga Nghĩa Trang vào làngnối với bến đò Châu Tử (Châu Lộc) và 26 con đường nhỏ chạy vào các thônxóm, vườn cây, bãi đất vách núi để làm nơi trung chuyển hàng hoá từ cầu Lènđến Nghĩa Trang, từ Nghĩa Trang đi Hàm Rồng Hàng ngày có hàng nghìn tấnhàng hoá với đủ các loại: súng đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc men, quântrang, quân dụng… được đưa vào các vườn cây, những toa tàu, ô tô đầy ắphàng hoá cũng được đưa về ẩn náu ở đây để tránh sự đánh phá của máy bay.Tình hình này đã đặt cho người dân ở đây nhiệm vụ hết sức nặng nề nguyhiểm: nguỵ trang cất giấu và bảo vệ hàng hoá, xe tàu của nhà nước Được sựchỉ đạo trực tiếp của đảng uỷ xã và công an xã Triệu Lộc, người dân ở đây đãcùng nhau bảo vệ tài sản của nhà nước Trong nhân dân đã lập ra nhiều tổ “hộlương”, gồm các bà mẹ, chị em phụ nữ và các cháu thiếu nhi để kiểm tra bảo

vệ hàng hoá Từng tổ có công an viên phụ trách Nhân dân đã nô nức tham gia

tổ “hộ lương” để nguỵ trang, nhặt hàng hoá rơi vãi, che đậy bảo vệ BàNguyễn Thị Chính là người tiêu biểu của phong trào này Năm 1973, một đơn

Trang 18

vị thanh niên xung phong đã đến xã tạm nghỉ Vì quá gấp gáp, nên khi đi đểlại hàng chục tấn hàng hoá gồm lương thực, thực phẩm, quân trang, quândụng… Ban công an đã cùng với nhân dân đã thu dọn đưa vào kho bảo vệ, rồisau đó trả lại cho đơn vị không thiếu thứ gì Mặc dù trong những năm 1965 -

1974, đời sống của nhân dân trong làng rất khó khăn, nhiều gia đình phải ăncháo, khoai, rau má hàng tháng nhưng hàng hoá của nhà nước vẫn được bảo

vệ chu đáo không thất thoát hư hao Do có nhiều thành tích nên năm 1975công an xã Triệu Lộc đã được nhà nước tặng danh hiệu anh hùng, 7 năm liềnđược Bộ Nội vụ công nhận là đơn vị quyết thắng trong đó có những đóng gópkhông nhỏ của nhân dân làng Phú Điền Không những thế họ còn kết hợp vớicông binh, thanh niên xung phong san lấp nối lại đường khi bị máy bay bắnphá, đảm bảo giao thông thông suốt, nhân dân còn đóng góp nhiều tre, gỗ, ván

để làm đường

Cũng như bao nhân dân ở các vùng miền trong cả nước, con em làngPhú Điền cũng đã rời quê hương lên đường đi chiến đấu, tham gia vào nhữngđội thanh niên xung phong Nhiều người đã ngã xuống tại các chiến trường,

có những bà mẹ có con độc nhất hi sinh được nhà nước phong tặng Bà mẹViệt Nam anh hùng

Năm 1975, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, Bắc - Namsum họp một nhà, tạo một sức mạnh dời non lấp biển Đất nước thống nhất, cảnước thực hiện hai nhiệm vụ: Xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩatrở thành nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Với lợithế của mình, nhân dân làng Phú Điền có quyền tự hào đã phát huy truyềnthống của một mảnh đất có bề dày lịch sử và văn hóa lâu đời Có truyền thốnganh dũng cách mạng, dũng cảm kiên cường trong đấu tranh cách mạng, cần cùsáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết thống nhất để cùng nhau xây dựng

và phát triển làng ngày một văn minh giàu đẹp

Trang 19

Như vậy, với truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất của nhân dânlàng Phú Điền trong mọi thời kỳ lịch sử, cả trên mặt trận quân sự lẫn mặt trậnkinh tế, cả ở hậu phương lẫn trên tiền tuyến… đã tạo nên những chiến côngoanh liệt, hào hùng và vẻ vang.

1.1.2.2 Truyền thống văn hoá:

Tuy nằm ở đồng bằng sông Mã nhưng vùng đất này mang tính chất bánsơn địa khá rõ Ở đây có vùng đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng, nhân dân làmlúa nước gieo trồng màu, đào ao thả cá Lại có cả vùng đồi núi, rừng rậm Đồi

là nơi trồng cây lưu niên, có loại cây ăn quả như bùi, trám, mít, ca, chuối;trồng cây lấy gỗ như lim, sến, táu, vàng tâm hoặc cây sơn để lấy nhựa; núi đồi

và rừng rậm là môi trường sinh sống và phát triển của nhiều loại thú rừng.Trước đây những ngôi nhà thường nhỏ, cột bằng gỗ phi lao, kèo tre, mái làmbằng tranh, vách thưng bằng tre, nứa Vật dụng trong gia đình đơn giản chỉ cómấy chiếc giường chõng làm bằng tre, ngày hè hoặc đêm đông giá lạnh chỉ cóchiếu cói, vừa làm chăn, vừa làm chiếu Nhà nào sung túc lắm thì có được

chiếc chăn chiên mỏng đắp

Có thể nói tuy đời sống vật chất của người dân nơi đây chưa cao, nhưng

họ có một đời sống tinh thần rất giàu có và phong phú

Nhìn chung về tôn giáo tín ngưỡng, người dân làng Phú Điền rất coitrọng tục thờ cúng tổ tiên ông bà, cha mẹ, chăm chút một phần mộ bình yên,mong cầu phù hộ trợ giúp họ Trong những dịp lễ tết, hội hè hàng năm, đượcngười dân Phú Điền ý thức như là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với các bậctiền nhân, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của các thế hệ sau đối vớicha ông Ở làng Phú Điền có đình thờ thành hoàng làng đó là Bà Triệu và đền

Bà Triệu để tưởng nhớ công lao của Bà

Phú Điền là một vùng đất có vốn văn hoá, văn nghệ dân gian phongphú mang đậm sắc thái văn hoá của cư dân nông nghiệp Mỗi một hòn núi,

Trang 20

mô đất, rặng cây… đều gắn liền với những sự tích, huyền thoại do nhân dânsáng tạo nên Đó là truyện kể về núi Bần, tuy đượm vẻ hoang đường, huyềnthoại nhưng rất giàu ý nghĩa, phản ánh nhiều khía cạnh đáng chú ý của thiênnhiên và con người nơi đây.

Bên cạnh đó, vùng đất này còn lưu giữ vốn dân ca dân vũ rất phongphú mang nhiều sắc thái Hệ thống các làn điệu dân ca ở đây rất đa dạng, gồmcác loại hình như: dân ca lao động, dân ca nghi lễ, dân ca sinh hoạt, dân cagiao duyên, dân ca vui chơi, bông đùa… đặc biệt là hình thức dân ca nghi lễ.Việc biểu diễn dân ca nghi lễ ở đây thường do các thầy cúng, thầy phù thuỷ,

sư sãi và những người hát văn (thường được gọi là cung văn) đảm nhiệm.Phần lớn họ làm việc này với tính chất bán chuyên nghiệp và được trả côngdưới hình thức mời ăn, uống, biếu lễ vật hoặc tiền thưởng Dân ca nghi lễthường được hát vào ngày lễ hội tại đền Bà Triệu

Những bài ca dao ở Phú Điền cũng rất phong phú đa dạng Những câu

ca dao không chỉ ca ngợi cái hay, cái đẹp của quê hương như:

“Ai qua Hậu Lộc Phú Điền Nhớ xưa Bà Triệu trận tiền tiến binh”,

mà còn có ca dao về tình cảm gia đình hay là lời than thân của những người

vợ lẽ khá độc đáo

Cũng như ở nhiều địa phương khác, ca dao về tình yêu đôi lứa ở PhúĐiền chiếm tỉ lệ cao nhất trong các loại ca dao Bộ phận ca dao này hướng vềnhiều đề tài và chủ đề khác nhau như tỏ tình, hẹn ước, nhớ nhung, thề nguyền,dặn dò, trách móc, thở than… như:

- “Anh về xẻ ván cho dầy

Bắc cầu sông cái cho thầy mẹ sang”

- “Đêm nằm lưng chẳng bén giường Trông cho mau sáng ra đường gặp anh”

Trang 21

- “Đôi ta đã quyết thi hành

Đã đan thì lận tròn vành mới thôi”

- “Em đây đã quyết thi hành

Đã cấy thì gặt với anh một mùa” [46, tr.210]

Người dân làng Phú Điền ham thích văn nghệ dân gian, họ cũng thíchtham gia các trò chơi, trò diễn trong trong những ngày hội lễ truyền thốngnhư: Đấu vật, bơi chải, đánh cờ người, kéo dây, múa kỳ lân…

Về phong tục tập quán và lễ hội: Trước kia người dân nơi đây có cáctục lệ liên quan đến sản xuất nông nghiệp như lễ hạ điền, thượng điền Lễ hạđiền là nghi lễ xuống đồng cày cấy Làng lấy quỹ chung hoặc bổ bán cho dânđóng góp để có được xôi, thịt, trầu cau cúng lễ ở các đền, chùa Sau đó dânlàng mới được xuống đồng cày cấy Khi cày cấy xong làng lại làm lễ thượngđiền Sự thật thì trước khi cắm cây mạ thì đã phải cầy bừa Sau khi cắm xongcây mạ là làm cỏ, bỏ phân Quanh năm ngoài đồng ruộng không có qui địnhcho việc lên hoặc xuống đồng Hạ điền, thượng điền đây là mốc khi cắm cây

mạ đầu tiên và cấy xong cây mạ cuối cùng Nói cho đúng đây cũng chỉ là việclàm lấy lệ cúng ông thần Nông mà trong truyền thuyết coi đó là vị tổ sư củanghề nông nghiệp Tuy nhiên đến nay, tục lệ này không còn được thực hiệnnữa Hoạt động lễ hội chủ yếu là lễ hội đền Bà Triệu, diễn ra liên tục từ ngày

19 đến 24 tháng 2 âm lịch hàng năm

Ngày nay, đời sống nhân dân làng Phú Điền đã khá hơn nhưng nhìn chung đời sống vẫn chưa đáp ứng một cách toàn diện Xây dựng làng văn hoá

“an toàn làm chủ” là nguyện vọng và mong ước làm cho quê hương mình giàu

về kinh tế, đẹp về phong cảnh, mạnh về an ninh quốc phòng, văn hoá giáodục, trình độ khoa học kỹ thuật tiến lên không ngừng

Nhìn chung, làng Phú Điền có khá nhiều tiềm năng về người, về đất,đồi núi, cảnh quan thiên nhiên, về truyền thống văn hoá lịch sử Làm gì và

Trang 22

làm thế nào để đánh thức, khai thác và sử dụng được thật nhiều những tiềmnăng ấy, từ đó mà tạo ra thế mạnh thực tế, tạo ra sự giàu có và tiến bộ nhiềumặt cho quê hương? Đó là vấn đề lớn nhất, cơ bản nhất và quan trọng nhấtđang đặt ra với mỗi người con làng Phú Điền.

1.2 Thân thế và sự nghiệp anh hùng Triệu Thị Trinh.

1.2.1 Bối cảnh lịch sử nước ta vào đầu thế kỷ III.

Từ năm 25 sau Công nguyên, nhà Hán (Đông Hán) tái lập ở TrungQuốc sau một thời gian bị Vương Mãng cướp ngôi (8/24) Vua Quang Vũ nhàHán tăng cường ách đô hộ ở các nước bị chúng xâm lược, trong đó có nướcta

Từ năm 43, sau khi lật đổ chính quyền tự chủ của Hai Bà Trưng, nhàHán thiết lập lại chính quyền đô hộ ở nước ta, chặt chẽ hơn, loại bỏ những tổchức cũ của chính quyền bản xứ do người bản xứ cai quản ở cấp huyện, tiếnthêm một bước trong việc tổ chức cai trị trực tiếp bằng quan lại người TrungQuốc Các chức thứ sử, thái thú vẫn được duy trì như trước khởi nghĩa Hai BàTrưng Ở mỗi huyện có huyện lệnh đứng đầu là người Hán Chế độ Lạc tướngcủa người Việt bị bãi bỏ Các viên chức cao cấp trong bộ máy chính quyền đô

hộ hầu hết là người Trung Quốc Nhà Hán đổ, cục diện Tam quốc, chiến tranhloạn lạc dẫn đến chỗ nước ta bị nhà Ngô đô hộ Năm 226, nhà Ngô tách cácquận Hợp Phố (thuộc địa phận tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc), Giao Chỉ,Cửu Chân, Nhật Nam thành lập Châu Giao Dựa vào một tổ chức quan lại,quân đội tương đối chặt chẽ và khá mạnh, chính quyền đô hộ ra sức bóc lột vàđàn áp nhân dân các châu quận Chúng ra sức chiếm đất, xây dựng cơ sở kinh

tế riêng để có thể duy trì lâu dài nền thống trị của mình trên đất nước ta Ngay

từ thời Hán thống trị đã thực hiện chính sách đồn điền nhằm giữ đất đai mớichiếm được của nhân dân ta Chúng đưa tội nhân, dân nghèo người Hán đến ởlẫn với người Việt, xâm lấn, khai phá ruộng đất để lập đồn điền

Trang 23

Thời Ngô, chính quyền đô hộ trực tiếp quản lý loại đồn điền do ngườiViệt, người Hoa cày cấy, biến họ thành nông nô của nhà nước đô hộ Đại bộphận nhân dân Việt là nông dân, cày cấy ruộng đất công phải nộp tô thuế chịulao dịch cho chính quyền đô hộ Chính sách tô thuế của chính quyền thống trịngoại tộc rất nặng, làm cho “trăm họ xác xơ” dẫn đến hậu quả là nhiều nơinông dân bị phá sản, nhiều người phải bán mình, bán vợ, con cho tầng lớpgiàu có, thống trị để biến thành nô tì Một trong những hình thức bóc lột rấtnặng nề đối với nhân dân ta của chính quyền và quan lại đô hộ là cống nạp.Các loại sản phẩm lao động của nhân dân ta, những của cải của thiên nhiênthuộc phạm vi lãnh thổ nước ta đều là đối tượng cống nạp của chính quyền vàbọn quan lại đô hộ Với chế độ cống nạp, bọn phong kiến phương Bắc đã vơvét, bóc lột nhân dân ta không có mức độp và giới hạn nào quy định Thái thúGiao Chỉ là Tôn Tư (thời Ngô) tham lam bạo ngược, bắt hàng ngàn thợ khéo

ở nước ta sang xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh - Trung Quốc).Thứ sử Đặng Tuân vừa đến quận Giao Chỉ làm việc đã tự tiện bắt dân nộp

3000 chim công để dâng về nhà Ngô… Với chính sách bóc lột, vơ vét triệt đểcủa chính quyền đô hộ nhân dân Châu Giao nói chung và quận Cửu Chân nóiriêng đã phải trải qua cuộc sống đói khổ, đầy đau thương, tủi nhục

Với âm mưu đồng hoá dân tộc ta, chính quyền đô hộ đã truyền bá Nhogiáo vào nước ta Tiếng Hán và chữ Hán cũng được phổ biến ở đây nhằm làmcông cụ thực hiện chính sách đồng hoá người Việt thành người Hán Chínhquyền đô hộ còn ráo riết đẩy mạnh di dân Hán đến ở lẫn với người Việt, bắtnhân dân ta phải thay đổi phong tục tập quán theo người Hán

Để duy trì nền thống trị và ách áp bức bóc lột, các triều đại phong kiếnphương Bắc đã áp dụng luật pháp hà khắc tàn bạo đối với người Việt Chínhquyền đô hộ từ thời Hán về sau thẳng tay đàn áp nhân dân ta Trong cuộc đàn

áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng để tiêu diệt chính quyền tự chủ của Hai Bà vào

Trang 24

năm 43, Mã Viện đã giết hàng vạn nhân dân Lạc Việt, nhiều dòng họ quý tộcLạc Việt bị trấn áp triệt để, hơn 300 thủ lĩnh Việt tộc bị bắt đày sang TrungQuốc Nhiều trống đồng bị phá huỷ Dưới ách thống trị của nhà Ngô “lấy binh

uy mà ức hiếp”, nhà Ngô đã bắt hàng nghìn, hàng vạn trai tráng người Việt bị

xích trói bắt đem về Trung Quốc làm bia đỡ đạn cho chúng

Như vậy với chính sách cai trị của chính quyền đô hộ, xã hội ChâuGiao vào thế kỷ III đã phân hoá khá phức tạp nhưng quan hệ bao trùm chiphối toàn bộ xã hội Châu Giao lúc bấy giờ là quan hệ giữa nhân dân ta và bọn

đô hộ ngoại tộc Đó là quan hệ nô dịch, áp bức bóc lột nặng nề, tàn khốc.Quan hệ ấy đẻ ra mâu thuẫn không thể điều hoà được giữa một bên là nhândân ta và một bên là bọn đô hộ ngoại tộc

Dân ta tuy lúc đó còn đang ở trên đường đi tới hình thành hoàn chỉnhnhưng đã có ý thức và tự hào của “một dân tộc đã xây dựng nên một trongnhững nền văn hoá cổ nhất của loài người, thực hiện một bước nhảy vọt tronglịch sử từ thời đại mông muội sang thời đại văn minh” [47, tr.2] Và từ đó,dân ta có tinh thần làm chủ đất nước mình và có quyết tâm bảo vệ đất nước

ấy Với ý thức và tinh thần ấy, dân ta dưới thời Đông Hán và Đông Ngô đã kếtục sự nghiệp của Hai Bà Trưng không ngừng nổi dậy chống lại bọn đô hộ.Rất tiếc là sử sách cũ của Trung Quốc và của ta không ghi chép hoặc chỉ ghichép qua loa, phần nào xuyên tạc những cuộc nổi dậy ấy cho nên chúng takhông có đủ cơ sở để miêu tả lại tinh thần đấu tranh bền bỉ, bất khuất của tổtiên chúng ta Nhưng qua những ghi chép sơ lược, bóp méo ấy chúng ta cũng

ít nhiều biết được sự lớn mạnh không ngừng của phong trào đấu tranh ấy

Từ những cuộc phản kháng nhỏ lẻ lúc đầu, khi mà chính quyền nhàĐông Hán còn vững mạnh đến năm 100 thì ở quận Nhật Nam đã có 2000 man

di nổi dậy 37 năm sau đó Khu Liên cũng ở quận Nhật Nam đã lãnh đạo “mandi” ngoài cõi Nhật Nam khởi nghĩa Binh lính hai quận Giao Chỉ và Cửu

Trang 25

Chân vì bị bắt đi đàn áp cuộc khởi nghĩa này nên cũng đã nổi dậy hưởng ứng.Cuộc khởi nghĩa này đã làm cho chính quyền đô hộ gần như tan rã từ CửuChân trở vào trong hai năm liền năm 137 và năm 138 Sáu năm sau, năm 144Nhật Nam và Cửu Chân lại có cuộc nổi dậy của hơn 1000 người đánh giếtbọn quan lại đô hộ Năm 157, một người trong huyện Cư Phong ở quận CửuChân tên là Chu Đạt đã lãnh đạo nhân dân trong huyện vùng lên giết chết viênhuyện lệnh và tiến đánh quận trị Cửu Chân ở Tư Phố, giết chết thái thú Từnăm 178 đến năm 181, Lương Long người quận Giao Chỉ đã hô hào nhân dâncác quận trong châu khắp nơi đánh chiếm các quận huyện [47, tr.21].

Đến khi nhà Ngô lên cầm quyền, cuộc đấu tranh lại càng mãnh liệt hơn

vì chính sách quân phiệt “lấy binh uy mà ức hiếp” của chúng Vào những năm

230, Lữ Đại thứ sử của nhà Ngô đã đàn áp một cuộc nổi dậy của nhân dân

Cửu Chân tàn sát đến vạn người Mặc dầu thế Châu Giao vẫn chưa yên Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên ghi: “Tân Hợi (231) Hán Kiến Hưng nămthứ 9, Ngô Hoàng Long năm thứ 3, Ngô vương cho là miền Nam đã yên tĩnh,

gọi thứ sử Lữ Đại về Thái thú Hợp Phố là Tiết Tổng dâng sớ nói: “Nay Giao Châu tuy rằng tạm yên nhưng còn giặc lâu năm ở huyện Cao Lương, bốn quận Nam Hải, Thượng Ngô, Uất Lâm, Châu Nhai cũng chưa yên, thường họp nhau trộm cướp Nếu Đại không sang phương Nam nữa thì thứ sử mới nên chọn người nào tinh thông, kín đáo, có phương lược trí mưu để vỗ về mới

có thể trị yên được Nếu là hạng người thường chỉ giữ phép thường không có mưu kỳ chước lạ thì trộm cướp mỗi ngày càng nhiều” [47, tr.22].

Điểm qua những nét ghi sơ lược ở trên ta thấy rằng những cuộc khởinghĩa được ghi trên đây chỉ là những cuộc nổi dậy tương đối tiêu biểu Chắcchắn còn vô số cuộc “phản loạn” khác mà sử sách cũ Trung Hoa lơ đi Ta lạithấy rằng hơn hai trăm năm này phong trào đấu tranh ở các quận phía nam từCửu Chân trở vào mạnh mẽ liên tục hơn các quận ở phía bắc vì các quận ở

Trang 26

phía nam ở xa châu trị Châu Giao đóng ở Giao Chỉ nhưng vì đây là miền đấtmới khai phá, nhân dân bị lao dịch, bóc lột nặng nề hơn, bọn quan cai trị ởđây hầu như được tự do hoành hành, vượt ra ngoài sự kiểm soát của chínhquyền đô hộ ở Giao Châu Như vậy có thể ở thế kỷ III các cuộc nổi dậy củanhân dân chống chính quyền đô hộ nổ ra liên tục Nơi này bị dìm xuống thìnơi kia trỗi dậy, phong trào ngày càng rộng rãi và mạnh mẽ Trong phong trào

ấy người con gái họ Triệu đã xuất hiện như một ngôi sao sáng

1.2.2 Bà Triệu - truyền thuyết và thần tích:

Không chịu nổi cảnh áp bức bất công, tham tàn bạo ngược của chínhquyền đô hộ, nhân dân ta đã không ngừng nổi dậy chống lại chúng và tiêubiểu nhất lúc bấy giờ là cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh - người con gáitràn đầy sức sống mãnh liệt và khí phách anh hùng đã đứng lên dựng cờ tụnghĩa chống lại quân Ngô

Bà Triệu tên huý là Triệu Thị Trinh, sinh ngày 2 tháng 10 năm BínhNgọ (năm 226) Bà quê ở huyện Quan Yên, quận Cửu Chân nay thuộc thôn

Cẩm Trướng, xã Định Công, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Triệu Ẩu người huyện Quân Yên Cửu Chân, họp tập đồ đảng trong núi Bồ Điền Nay xét huyện Quân Yên xưa tức huyện Yên Định bây giờ và Bồ Điền xưa tức xã Phú Điền bây giờ, đền thờ Bà ở chân núi

xã ấy” [13, tr.12] Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một huyện lệnh có thế lực

trong vùng Sinh ra và lớn lên trong một gia đình quyền thế trong vùng songTriệu Thị Trinh đã tỏ rõ là người có chí khí ngay từ nhỏ Bà không như đám

nữ nhi thường tình chỉ chăm lo việc thêu thùa, nấu nướng mà rất ham rènluyện võ nghệ, cung kiếm Cha mẹ mất sớm, bà ở với anh trai và chị dâu, năm

19 tuổi chưa lấy chồng, Bà đã chiêu nạp trai tráng trong vùng, luyện tập võnghệ

Trang 27

Ở Triệu Sơn, Như Xuân, tại vùng Sơn Trung, nay là xã Hợp Thành và

xã Xuân Du có một câu truyện như sau: Vùng này có một cánh đồng lấy tên

là đồng Bắt Voi Chuyện kể rằng khi chưa khởi nghĩa, vùng này có một convoi trắng một ngà rất dữ tợn hay về phá hoại mùa màng, mọi người đều sợ

Để trừ hại cho dân, Bà Triệu cùng chúng bạn đi bắt voi, lùa voi xuống đầmlầy rồi dũng cảm nhảy lên đầu voi và cuối cùng đã khuất phục được con voi

dữ Từ đó con voi một ngà trở thành người bạn thân thiết theo Bà Triệu trênkhắp các chiến trường

Sang bên hữu ngạn sông Mã, tại vùng Cẩm Trướng thuộc xã ĐịnhCông có câu truyện “đá biết nói” Truyền thuyết kể rằng các mưu sĩ trongquân Bà Triệu, những ngày đầu khởi nghĩa đã đục núi Quan Yên, bí mật chongười ngồi trong hốc đá đọc bài đồng dao:

“Có Bà Triệu tướng Vâng lệnh trời ra Trị voi một ngà Dựng cờ mở nước Lệnh truyền sau trước Theo gót Bà Vương’’ [13, tr.13]

Nhờ đó cả vùng đã đồn ầm lên rằng núi Quan Yên biết nói báo hiệu chodân chúng biết Bà Triệu là “thiên tướng giáng trần” giúp dân cứu nước Vìvậy mà Bà đã chiêu nạp được nhiều trai tráng ngày đêm luyện tập võ nghệ,xây dựng căn cứ chống giặc Ngô

Để tránh sự dòm ngó của kẻ thù, Bà Triệu cùng nghĩa quân đã vượtsông Chu đến vùng núi Nưa cách quê hương 30 km để lập căn cứ Theo Đại

Nam nhất thống chí: “Núi Nưa, tức Na Sơn ở huyện Nông Cống, mạch núi từ phủ Thọ Xuân kéo đến chạy dài vài mươi dặm, đến địa phận tổng Cổ Định thì nổi vọt lên nhiều ngọn, ngọn cao nhất là núi Nưa, bên ngoài thì bốn dòng

Trang 28

nước giao lưu, đỉnh núi có động…” [13, tr.14] Không phải không có ý nghĩa khi Nguyễn Trãi viết về tỉnh Thanh Hoá trong “Dư địa chí” đã nêu lên làm đề mục: “Núi Na (tức núi Nưa), núi Tùng và sông Lương ở về Thanh Hoá” [47;

tr.15], mặc dầu Thanh Hoá có vô số núi cao sông dài Núi Nưa là bức thànhphía đông nam của một thung lũng rộng lớn bao gồm các xã Hợp Thành, Hợp

Lý, Hợp Tiến, Hợp Thắng, Thọ Tiến, Thọ Tân thuộc huyện Triệu Sơn Thunglũng này cũng như bản thân núi Nưa xưa kia rất rậm rạp, rừng cây bao phủ.Chả thế mà trước kia người ta gọi là ngàn Nưa chứ không gọi núi Nưa vàchàng trai ngàn Nưa thời ấy đã ướm hỏi người yêu:

“Em đã chịu lấy anh chưa

Để anh đẵn gỗ ngàn Nưa làm nhà”.

Những năm trước Cách mạng tháng Tám, ở thung lũng núi Nưa, người

ta còn thấy những voi đàn, voi độc và hùm beo lẻn về rình lợn, bò của cácthôn xóm ở chân đồi núi Từ chân núi về phía đông là vùng đồng bằng châuthổ, vùng đất đai màu mỡ vào bậc nhất của tỉnh Thanh, có nhiều sông ngòingang dọc, có những tụ điểm cư dân đông đúc Đây là nơi cung cấp lươngthực, vũ khí cho nghĩa quân Bà Triệu Phía Tây núi tiếp giáp với một vùngrừng núi trùng điệp và hiểm trở Ngày nay quanh vùng núi Nưa còn lưutruyền huyền thoại về “Bà Chúa Thượng ngàn”: Trên đỉnh núi Nưa có mộtnàng tiên xinh đẹp Nàng sống trong một chiếc Am quanh năn mây trời baophủ Sáng chiều nàng thường ẩn hiện sau những rừng cây xanh, luôn luôn cóhai nàng tiên nữ đeo kiếm theo hầu Nàng đẹp tuyệt trần Nàng tiên ấy làTriệu Thị Trinh và Am Tiên là chỗ ở của nàng để mưu việc đánh đuổi quânNgô:

“An Nông, Phủ Tía, Núi Nưa

Am Tiên, Tế Lợi sớm trưa luyện rèn”

Trang 29

Quanh vùng núi Nưa đâu đâu cũng ghi dấu về Bà Triệu và những hoạtđộng của nghĩa quân Nhiều địa danh được nhắc đến như Bãi Bò (nơi BàTriệu ra quân, giết bò cho quân làm thức ăn); Bái Đa (nơi quân Bà Triệu dùngbánh đa làm lương khô); Eo Én (nơi quân Bà triệu tập cung nỏ, dùng tên bắnchim én) Ở vùng Nông Cống trước kia có lưu hành một bài đồng dao kèmtheo trò chơi của trẻ em như sau:

“Này cò, này cấu Này đấu, này thưng Lưng sào, cành ná Này lá, này lao Nghe cồng Bà rao Nghe lệnh Ông gióng Nghe voi rông rống Chong chóng chạy về

Ê hê! Chạy!’’ [47, tr.55].

Cũng ở vùng này còn tương truyền rằng đã có lần người ta còn bắtđược một cái cồng giấu trong cây cổ thụ khi cây bị bão đánh đổ Cái cồng ấynghe đâu do một viên tướng chính quê ở đây trốn về sau khi Bà Triệu mất,đem giấu trong hốc cây Không ai cho biết viên tướng ấy tên là gì và chiếccồng cũng đã mất Cách núi Nưa chưng 5 km về phía Đông Nam những nhàkhảo cổ học đã tìm thấy trên đồi làng Định Kim xã Tân Phúc (Nông Cống) dichỉ khảo cổ núi Sỏi và dấu vết một làng cổ Dưới chân núi Nưa năm 1961 đãtìm thấy một thanh đoản kiếm bằng đồng thau Thanh đoản kiếm núi Nưa làmột di vật của văn hoá Đông Sơn mà cho đến nay chưa tìm được ở bất kì đâumột tiêu bản thứ hai Kiếm dài đúng nửa mét Một trong những vẻ đặc sắc củathanh đoản kiếm là chuôi kiếm được đúc khéo léo thành một tượng ngườitoàn thân của nó Đó là tượng một người phụ nữ mà hệ thống trang phục gồm

Trang 30

khăn, áo, yếm, váy, đệm váy, thắt lưng đã được thể hiện khá tỉ mỉ cùng với bộtrang sức gồm những chiếc vòng tai rất lớn và cả hai chuỗi vòng tay cho phépchúng ta đoán định rằng đây chính là hình ảnh phụ nữ thuộc tầng lớp trên của

xã hội cổ đại, của những nữ thủ lĩnh bản địa, nếu không phải là hình ảnh củachính ngay Bà Triệu [47, tr.72]

Cư dân Bồ Điền sinh sống trên một gò đất cao của thung lũng Tươngtruyền rằng: Có hai vợ chồng ông Lý Phục cùng một số người thành lập trangtrại ở triền núi đặt là Sơn trang Vào một năm có lốc dữ dội làm sạt lở cây cốiđất đá gây khó khăn cho sinh hoạt của dân, họ phải dời trang trại xuống dướiphía Đông Bắc núi Bần vì thế gọi là Bần Trang Vợ chông Lý Phục có 3người con là Lý Công Thành, Lý Công Hoằng và Lý Công Mỹ Sau này baanh em họ đã chiêu nạp tráng sĩ, xây dựng căn cứ, tích luỹ lương thảo, vũ khítại quê hương chờ dịp liên kết với quân khởi nghĩa của Bà Triệu và ba anh em

họ Lý sau trở thành tướng của Bà Triệu Bồ Điền là nơi rừng núi rậm rạp Vềmặt quân sự, đây là căn cứ có vị trí lý tưởng cho cả công lẫn thủ Vì thế BàTriệu đã cùng ba anh em họ Lý quyết định xây dựng một căn cứ vững chắc,làm bàn đạp trước khi tiến ra Giao Chỉ

Truyền thuyết và thần tích quanh vùng Bồ Điền cho biết trên núi ChungChinh, Bà Triệu cùng ba anh em họ Lý đã xây dựng liên tiếp bảy đồn luỹ vàmột đồn chỉ huy tại núi Tùng Đứng trên đỉnh núi Tùng ta có thể thấy đượcsáu đầu con sông (còn gọi là Lục Đầu giang) vì thế rất thuận tiện cho giaothông Từ đây có thể ngược sông Lèn, sông Ấu ra sông Mã rút lên Định Cônghoặc căn cứ núi Nưa và có thể chủ động tấn công phía Bắc theo sông Đào racửa Thần Phù để khống chế địch Tại đây đã chứng kiến trên 30 trận đánh (cóngười nói là 77 trận) của Bà với giặc Ngô Dưới chân núi Tùng còn có mộtloạt các địa danh như cánh đồng Lăng Chúa, đồng Vườn Hoa, đồng Xoắn Ốc,tương truyền đó là các tên cũ còn truyền lại khi Bà Triệu đắp luỹ xây thành

Trang 31

Cảm phục chí khí kiên cường của Bà Triệu, dân chúng theo nghĩa quâncủa Bà rất đông Từ một ông già mù miền núi cũng đi khắp nơi, dùng lời catiếng đàn của mình để cổ vũ mọi người gia nhập nghĩa quân Bà Triệu Một

mẹ già miền xuôi đến doanh trại xin cho con gái duy nhất của mình được đầuquân, còn mình thì đem cả chõng chuối, chum nước chè ủng hộ nghĩa quân

Từ bao đời nay người dân xứ Thanh còn truyền tụng bài ca dao nói lên lòngdân nô nức theo Bà Triệu đánh giặc:

“Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi Muốn coi lên núi mà coi Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng Túi gấm cho lẫn quần hồng Têm trầu cánh kiến cho chồng ra quân”.

(Ca dao) Theo dòng sông Mã có câu chuyện kể rằng: Thời xưa, sông Mã cònmột nhánh chảy từ đầm Hàn về cửa Lạch Trường cũng gọi là Mã Giang Ởđây quân Ngô chiếm giữ chiến thuyền san sát như lá tre Một chàng thanhniên vô danh đã trộm ngựa chiến của quân giặc trốn về với Bà Triệu và trởthành dũng tướng của nghĩa quân Trong một trận giao tranh trên sông nước,

vì anh đi chân vòng kiềng nên đã vấp phải dây chằng mà tử trận Giặc Ngôđang ăn mừng thắng lợi thì hai bờ sông chuyển động, đất trời nổi cơn giận dữ,rừng cây núi đá bị hắt xuống lấp cạn dòng sông chôn vùi cả mấy vạn xác thù

Mã Giang bị cạn là vì như thế Nhân dân còn bảo, ngày nay hàng năm vàotháng 7, tháng 8 đất đá vẫn cứ theo bão táp mà đổ xuống bãi lầy để vùi sâuthêm xác quân xâm lược [47, tr.42]

Hay như xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung có câu chuyện về đền Cô Thị.Một cô gái rất thích quả thị, người yêu của cô đang tham gia nghĩa quân Bà

Trang 32

Triệu Một ngày kia cô chết biến thành cây thị và chỉ có một quả không ai háiđược vì hễ ai thò tay bẻ thì cành thị lại tự dưng vút hẳn lên cao Cành ấy luônngả về phía đông nam theo hướng người yêu cô đang ở trong quân dinh BàTriệu Một ngày thắng trận, chàng trai được phép Bà Triệu cho về thăm xómlàng thì cành cây ấy mới chịu sà xuống và quả thị rơi vào tay áo chàng [47,tr.42-43].

Nhân dân ta vốn có truyền thống tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, đãdành cho Bà Triệu những tình cảm đặc biệt sâu sắc Mặc dầu sử sách xưabưng bít, xuyên tạc, nhân dân vẫn lưu truyền mãi hình ảnh người con gái kiêncường và trong sáng Hình ảnh Bà đã được định hình trong văn học dân gian

và thành văn Chính vì lòng quý mến Bà mà nhân dân ta không thừa nhận sựthất bại của Bà trước kẻ thù một cách bình thường mà đã bắt kẻ thù - Lục Dận

- một danh tướng thời Ngô, phải dùng đến mưu kế hèn hạ và Bà thua chỉ vìbản chất trong sạch của mình Theo truyền thuyết dân gian kể rằng: Về sau có

kẻ phản bội mách với Lục Dận rằng: Bà là nữ tướng “Ái khiết uý ô” (Yêu cái

trong sạch, ghét cái nhơ bẩn) Lục Dận bèn cho quân Ngô trần truồng tiếnđánh Bà Bà hổ thẹn giao binh cho ba tướng họ Lý rồi lên núi Tùng tự vẫn.Với lòng thành kính và ngưỡng mộ, mặc dù Bà Triệu chưa một ngày làm vuanhưng Bà vẫn được nhân dân tôn vinh là “Vua Bà”

Như vậy, có thể thấy rằng, đã có rất nhiều truyền thuyết, sự tích liênquan đến vị nữ tướng Triệu Thị Trinh được sử sách và dân gian kể lại Nhữngcâu chuyện này góp phần tô hồng thêm cho hình ảnh của người con gái dũngcảm, kiên cường, dấy binh chống giặc ngoại xâm Những câu chuyện, truyềnthuyết, sự tích về Bà Triệu cũng là những bài học lịch sử, giáo dục truyềnthống đấu tranh cách mạng và rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ hôm nay vàmai sau

1.2.3 Khởi nghĩa Bà Triệu, kết quả và ý nghĩa lịch sử.

Trang 33

1.2.3.1 Khởi nghĩa Bà Triệu:

Sau một thời gian gấp rút xây dựng lực lượng, luyện tập binh đao, tíchtrữ lương thực, nghĩa quân của Bà Triệu đã đủ mạnh để tấn công quân giặc.Năm Mậu Thìn (248), vì quan lại nhà Ngô tàn ác, dân chúng khổ sở, TriệuQuốc Đạt khởi binh đánh giặc ở quận Cửu Chân Từ ngàn Nưa, Bà Triệu đãtrở về quê hương kết hợp với anh tiến đánh thẳng vào Tư Phố (nay thuộc làngGiàng, xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hoá), là quận trị của quận Cửu Chân,đầu não của quân đô hộ, có thành trì phòng thủ vững chắc Cuộc tấn côngthành Tư Phố mau chóng giành được thắng lợi Các thành ấp của giặc Ngôđều bị triệt hạ, quan lại từ Thái Thú đến huyện lệnh, huyện trưởng kẻ bị giết,

kẻ bị bắt kẻ chạy trốn Với chiến thắng bước đầu, nghĩa quân phấn khởi tintưởng vào hai vị thủ lĩnh Chẳng may sau đó Triệu Quốc Đạt lâm bệnh rồimất Quân sĩ của Triệu Quốc Đạt thấy Bà làm tướng có can đảm bèn tôn lênlàm chủ Khi ấy Bà ra trận thì cưỡi voi và mặc áo giáp vàng xưng là NhuỵKiều tướng quân

Sau khi đập tan quân đồn trú ở Tư Phố, Bà Triệu đã cho đại quân vượtsông Mã kéo ra Bồ Điền (làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc ngàynay) hợp lực với cuộc nổi dậy của cha con họ Lý Bồ Điền xưa là một thunglũng nhỏ hẹp nằm kẹp giữa hai dãy núi đá vôi thấp Dãy phía bắc (Châu Lộc)

là dãy cuối cùng của sơn khối phía bắc tỉnh nằm giữa Thanh Hoá và NinhBình, dãy phía nam cũng là đoạn chót của dãy núi dọc sông Mã (dãy TamĐa) Dưới chân dãy núi phía nam là một dòng sông lớn (sông Ấu) sau đó bịlấp dần nay đã thành ruộng lầy Nhờ dòng sông này xưa kia thung lũng liênlạc dễ dàng với miền tây Thung lũng mở rộng cửa về phía đồng bằng venbiển và bị chặn ngang về phía tây bởi dòng sông Lèn hiện nay Ở đây có mộtlàng cổ được hình thành từ rất sớm gọi là Kẻ Bồ (Bồ Điền)

Trang 34

Như vậy có thể nói cuộc khởi nghĩa Bà Triệu lôi kéo đông đảo nhândân tham gia Phạm vi cuộc khởi nghĩa khá rộng từ trung lưu bắc sông Mãcho đến miền nam quận Cửu Chân, đến miền Phú Điền và huyện Yên Mô tỉnhNinh Bình hiện nay [47, tr.27].

Lực lượng nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, đã có nhiều kinh nghiệmchiến đấu Từ Cửu Chân cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan ra Giao Chỉ vàotận Cửu Đức, Nhật Nam và “toàn Châu Giao trấn động” Bọn đô hộ ở ChâuGiao và triều đình nhà Ngô vô cùng hoảng hốt trước thanh thế và sức mạnhcủa nghĩa quân và phong trào đấu tranh ở miền nam Chúng nhận ra rằng cuộckhởi nghĩa này là cuộc nổi dậy lớn nhất của toàn Châu Giao và đang uy hiếpnền đô hộ của chúng Chính quyền đo hộ vội vã tập trung sức lực để đàn áp

nó Nhà Ngô đã cử viên danh tướng Lục Dận sang làm thứ sử Châu Giao vớichức danh An Nam hiệu uý Lục Dận sang Châu Giao nhận chức mang theo

8000 quân tiếp viện có lâu thuyền yểm trợ để đàn áp cuộc khởi nghĩa của BàTriệu Lục Dận là viên tướng có nhiều mưu mô hiểm độc và từng trải trênchiến trường Mặc dù đến nhận chức giữa lúc “toàn Châu Giao trấn động”,nhân dân nổi dậy khắp nơi nhưng theo sử cũ Lục Dận không hấp tấp tung sức

ra mà cố dành lực lượng để đánh vào đối tượng chính đang làm cho triều đìnhnhà Ngô lo ngại là nghĩa quân Bà triệu Đặt chân vào đất Châu Giao, Lục Dậndùng mưu chước, tiền bạc mua chuộc được một số thủ lĩnh các cuộc khởinghĩa lẻ tẻ ở các địa phương thuộc Giao Chỉ để có thể yên tâm tiến đánh BàTriệu Lục Dận đã phần nào thành công trong âm mưu này, hàng trăm thủ lĩnhnghĩa quân và hơn ba vạn nhà dân đã buộc phải khuất phục như sử cũ đã ghi:

“Mậu Thìn 248, người Cửu Chân lại nổi lên đánh hãm thành ấp Châu quậnrối động Ngô vương cho hành dương đốc quân đô uý là Lục Dận làm thứ sửkiêm hiệu uý Dận đến nơi, lấy ân tình ra hiển dụ hàng phục đến 3 vạn nhà,trong Châu lại yên” [13, tr.21]

Trang 35

Tạm thời ổn định được Giao Chỉ, Lục Dận vội vã tiến quân vào CửuChân và vẫn lấy việc dụ dỗ mua chuộc làm đầu Bà Triệu đã gạt phăng mọithủ đoạn xảo trá của giặc và chủ động tấn công chúng Lục Dận đã cho mộtđạo quân thiện nghệ về thuỷ chiến theo đường biển vòng qua cửa sông Sung

và Vích (cửa Lạch Trường) và mũi từ tạc Khẩu qua hành lang Hoàng Cương Chính Đại - Bạch Ác ngược sông Lèn nhằm bao vây Bồ Điền ở hai mặt Nam

-và Bắc

Nghĩa quân Bà Triệu đã nhanh chóng xuôi sông Lèn tiến ra chặn đánhgiặc ở vùng Yên Mô (Ninh Bình) Ở đây trước kia có đền thờ Bà Triệu vàtruyền thuyết về trận giao chiến này Trong vòng hai tháng nghĩa quân BàTriệu đã đón đánh địch trên 30 trận Căn cứ địa Bồ Điền vẫn được giữ vững

Kẻ thù đã ngưỡng mộ gọi Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (vị nữ tướngyêu kiều) và giặc Ngô còn than rằng:

“Hoành qua đường hổ dị

Đối diện Bà Vương nan”

(Múa ngang ngọn giáo dễ chống hùmĐối mặt Vua Bà thì thực khó)Hình ảnh oai phong của Bà Triệu khi ra trận mặc áo giáp vàng, đi guốcngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trận vẫn in đậm nét trong tâm trí của nhân dânđược ca tụng từ đời này đến đời sau:

“Đầu voi phất ngọn cờ hồng

Sơn thôn một cõi chiến trường xông pha”

(Đại Nam Quốc sử diễn ca) [13; tr.22].Nghĩa quân dành được chiến thắng, nhân dân hai quận Cửu Chân và Giao Chỉ rất phấn khởi hân hoan Nhân dân còn tôn vinh Bà là Lệ Hải BàVương (Vua Bà ở vùng biển mỹ lệ) Sau một thời gian vây hãm không thành,lại bị tiêu hao một lực lượng quan trọng và đang đứng trước nguy cơ bị tiêu

Trang 36

diệt và nơm nớp lo sợ về thời tiết oi bức của mùa hè sắp tới, Lục Dận vội vãđiều thêm binh và tăng cường bao vây căn cứ Bà Triệu cùng nghĩa quânchiến đấu anh dũng để phá vòng vây của một đội quân nhà nghề mới đượctăng cường Do sức mạnh và mưu mô thâm độc, quỷ quyệt của địch, ngày 22táng 2 năm Mậu Thìn (248) trong một trận chiến đấu ác liệt, lực lượng bị tiêudiệt dần, liệu thế không chống nổi, Bà đã chạy lên núi Tùng tự vẫn Sau khi

Bà Triệu mất, Lý Thành, Lý Mỹ, Lý Hoằng đã cùng với nghĩa quân chiến đấukéo dài đến ngày 6 tháng 3 năm Mậu Thìn thì chấm dứt

Cuộc khởi nghĩa mang một mục tiêu cao cả là giải phóng đất nước Nó

đã từ một cuộc nổi dậy ở một địa phương liên kết được với các địa phươngkhác mà trở thành một cuộc nổi dậy có tính chất cả nước Cuộc khởi nghĩa BàTriệu mang tính nhân dân đậm nét Nó là sự vùng dậy của của các tầng lớpnhân dân dưới sự chỉ huy của một người con gái rất bình dị

Do các tính chất trên, cuộc khởi nghĩa Bà Triệu có ý nghĩa lịch sử tolớn, là cái mốc trên chặng đường dài chống ngoại xâm của dân tộc ta Câu

“toàn Châu Giao náo động” không chỉ nói lên sự rung chuyển của chế độ đô

Trang 37

hộ mà chính là sự thức tỉnh, sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức dân tộc lâu naycòn rời rạc lẻ tẻ Không có sự trấn động ấy thì làm sao thúc đẩy được phongtrào đấu tranh sau này để đưa đến cuộc đấu tranh giải phóng oanh liệt 300năm sau đó Nó là một bước nhảy vọt của ý thức dân tộc, của sức đấu tranhđoàn kết của dân tộc ta Đồng thời cuộc khởi nghĩa Bà Triệu đã làm phá sản

về căn bản âm mưu của kẻ địch đồng hoá dân tộc ta Nó đã nói lên ý chí quyếttâm và khả năng thực tế của dân tộc ta là luôn xả thân để bảo vệ cuộc sốngcủa mình và giải phóng đất nước

Tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa này nhằm phát huy truyền thống Bà Triệutrong nhân dân cả nước nói chung và của nhân dân tỉnh Thanh nói riêng.Ngày nay, ở mọi nơi, mọi người đều nhắc đến câu nói bất hủ mà mọi người

đều cho rằng đó là câu nói của Triệu Thị Trinh: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng giữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Câu nói đã phản ánh được khá trọn vẹn khí phách, tinh thần khát

khao và quyết tâm đòi độc lập tự do của Bà Triệu Câu nói ấy không nhữngphản ánh tinh thần, khí phách của Bà Triệu mà đồng thời cũng phản ánh tinhthần khí phách của dân tộc ta thưở ấy

Bà Triệu còn nổi lên vì Bà là một người con gái, một người trực tiếp kếtục sự nghiệp của Hai Bà Trưng làm vẻ vang cho phụ nữ nước ta và chứng tỏrằng phụ nữ nước ta luôn luôn là trụ cột của xã hội chứ không phải chỉ biết “tề

gia nội trợ” Người ta còn ca ngợi Bà Triệu khí phách anh hùng của tuổi 20

Như vậy cuộc khởi nghĩa Bà Triệu tuy thất bại nhưng hình ảnh người

con gái kiên trinh bất khuất, người nữ anh hùng quyết nối chí Bà Trưng

“giành lại giang san, cởi ách nô lệ” muôn thuở không phai mờ trong tâm tríphụ nữ và dân tộc Việt Nam:

“Tùng Sơn nắng quyện mây trời

Trang 38

Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh”.

1.3 Quần thể di tích đền Bà Triệ u.

Để tưởng nhớ công lao to lớn của Bà Triệu, nhân dân đã xây Lăng,dựng Tháp trên đỉnh núi Tùng - nơi ghi dấu ấn lịch sử của cuộc khởi nghĩachống quân Đông Ngô do Bà khởi xướng và lãnh đạo Đền thờ Bà dựa lưngvào sườn núi, nằm sát lề phía Đông đường Quốc lộ 1A, ngoảnh mặt về phíaTây Bắc nhìn thẳng lên tháp cao Ở phía Bắc cách đền Bà Triệu khoảng gần 1

km là làng xóm trù mật, đông vui trong đó có ngôi đình làng Phú Điền cũngthờ Bà Triệu với danh nghĩa Thành Hoàng làng Khu di tích đền Bà Triệu đãđược nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia (Đền thờ vàLăng tháp được công nhận theo Quyết định số 54/ QĐ-BVHTT ngày29/4/1979, đình làng Phú Điền được công nhận theo Quyết định số 310/ QĐ-BVHTT ngày 13/2/1996)

1.3.1 Đền Bà Triệu.

Đền Bà Triệu được xây dựng dưới chân ngọn đồi Gai thuộc dãy núiBần Đồi Gai cao 152, xung quanh cây cổ thụ bao bọc râm mát Truyền thuyếtdân gian kể rằng con voi một ngà theo Bà Triệu ra chiến trường, khi Bà mất,nhớ thương chủ cũ voi đã về phủ phục trước đền Bà và hoá thành ngọn núiGai bên đường quốc lộ, vì vậy ngọn núi này còn gọi là Tượng Sơn vì hìnhdạng từ xa trông lại giống như con voi

Núi Gai dài 1km, hướng Tây - Đông, đứng làm ranh giới giữa các xãTriệu Lộc - Tiến Lộc (huyện Hậu Lộc) với các xã Hoằng Trung, Hoằng Trinh(huyện Hoằng Hoá) Dãy núi Bần (tên chữ là Bân Sơn), đối diện với dãy núiTùng Sơn, nơi có lăng mộ Bà Triệu và ba vị tướng của Bà Theo truyền thuyếtcủa nhân xã Tiến Lộc sở dĩ dãy núi Bần có 99 ngọn là vì bị trời đánh nhiềulần để trừng trị sự bướng bỉnh dám “chửi trời”, “mắng đất” của nó:

“Bị đánh mấy chục lần tầm sét

Trang 39

Đầu vỡ tung tiếng thét vang trời Văng ra mỗi mảnh một nơi Thành 99 ngọn núi đồi mọc lên….

Dãy núi trong cầu Lèn Hậu Lộc Vẫn hiên ngang gan góc dạn dầy

Cứ theo truyền thuyết xưa nay Nếu đủ trăm ngọn đất này làm vua…” [46, tr.172].

Năm 1999, tại chân núi Bần, nhân dân Triệu Lộc đã tìm thấy một trốngđồng Đông Sơn có niên đại cách chúng ta trên dưới hai nghìn năm và nhândân xã Đại Lộc (bên cạnh xã Triệu Lộc) đã tìm thấy một số Niếng đồng(Chõ), và Sanh đồng cũng là những hiện vật đồ đồng Đông Sơn, hiện đangđược lưu giữ tại phòng truyền thống huyện Hậu Lộc

Địa chí xã Tiến Lộc (huyện Hậu Lộc) còn cho biết: Ở phía Tây núi Bần,

cách đền thờ Bà Triệu khoảng 1.000 mét, trong khi ủi đất làm vườn người ta

đã tìm thấy nhiều di vật đáng chú ý như lưỡi rìu đá, vòng ngọc bích bằng đá,lưỡi giáo đồng dài 20 cm, một số mảnh đồng bị vỡ và rất nhiều tiền đồng thờiĐông Hán, Tây Hán Tháng 3 năm 1974 một người dân làng Xuân Hội (xãTiến Lộc) đào móng xây nhà thấy nhiều xương người như ống tay, ống chân,sọ… to và dài hơn hẳn so với xương thông thường của người Việt ngày nay[46, tr.126] Những di vật trên đây có thể có quan hệ với thời kỳ Bà Triệu (thế

kỷ thứ III) Vùng này đã diễn ra nhiều cuộc giao tranh quyết liệt giữa nghĩaquân của Bà Triệu với quân xâm lược Đông Ngô Và người nữ anh hùng họTriệu đã ngã xuống vùng đất lịch sử này

Đền thờ Bà Triệu có lịch sử lâu đời Theo lời kể dân gian truyền lại, lúcban đầu đền Bà Triệu được làm bằng tre nứa, cột kèo bằng luồng, vách đất,chỉ có 3 gian lợp bằng tranh, bên trong có một bệ thờ Bà Triệu Hàng nămnhân dân làng Bồ Điền khói hương cúng tế

Trang 40

Đến thời Lý Nam Đế (542 - 546), khi vua Lý Nam Đế đem quân đi dẹpgiặc ở phương Nam qua đây đã dừng quân tại làng Bình Lâm (thuộc xã HàLâm, huyện Hà Trung) cách Bồ Điền khoảng 4km Vua Lý Nam Đế đã đếnthăm đền và cầu xin Bà phù hộ giúp đánh thắng quân giặc Bên cạnh đó nhàvua đã lấy tấm gương Bà Triệu để động viên binh sĩ Được Bà Triệu báomộng, lúc thắng giặc trở về, nhà vua phong Bà làm thần và cấp tiền cho dânlàng Bồ Điền sửa sang ngôi đền tranh cũ Việc làm ấy của một anh hùng cứunước kế tục trực tiếp sự nghiệp của Bà Triệu nói lên rằng người xưa đã đánhgiá Bà Triệu rất cao Trải qua nhiều thế kỉ do phong hoá của thiên nhiên ngôiđền phải tu sửa nhiều lần.

Năm Canh Thìn 1820, đời Minh Mệnh đã cho tu sửa ngôi Hậu cungtheo kiến trúc đền thờ cuốn tò vò, phần mái không sử dụng hiện vật gỗ đểtránh sự phá hoại của mối mọt do môi trường núi đất, đá sinh ra, đồng thờitrang trí phía trước cung thứ hai

Năm Canh Ngọ - Bảo Đại năm thứ 5 (1930), ngôi đền được tu sửa 5gian Bái Đường (4 hàng cột đá có câu đối được triều đình Huế và nhân dâncông đức) Theo số liệu của quan chức cai tổng, lý trưởng xã Triệu Lộc ghinăm 1935 và 1942 thì đền Bà Triệu đến thời điểm đó đã tu sửa 14 lần.Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, máy bay Mĩ đã nhiều lần trút bomđạn xuống ngôi đền đã gây hư hại ngôi Hậu Cung và nhà Bái Đường

Sau khi bị giặc Mĩ ném bom phá hoại, năm 1970 Ty văn hoá ThanhHoá đã cho tôn tạo và tu sửa ngôi đền Trong cuộc ném bom phá hoại miềnBắc lần thứ hai, ngôi đền lại bị hư hỏng nghiêm trọng Sang năm 1973, Ty

Văn hoá Thanh Hoá lại cho tu sửa ngôi đền lần thứ hai và xây tường hoa xungquanh hồ sen

Ngay sau khi hoà bình lập lại, trong muôn vàn công việc nhằm nhanhchóng khôi phục hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế, văn hoá,

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Anh, Văn Lang, Quỳnh Cư, (1993), Danh nhân đất Việt, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân đất Việt
Tác giả: Nguyễn Anh, Văn Lang, Quỳnh Cư
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1993
[2]. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, (2005), Danh nhân Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá, Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2005
[3]. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá, (1994), Lịch sử Thanh Hoá, Tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
[4]. Phan Kế Bình, (1999), Việt Nam phong tục, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bình
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1999
[5]. Phan Bội Châu, (1961), Việt Nam Quốc sử khảo, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Quốc sử khảo
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1961
[6]. Ngô Thị Kim Doan, (2004), 250 đình chùa nổi tiếng Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 250 đình chùa nổi tiếng Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Kim Doan
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2004
[7]. Ngô Đăng Duy, (1996), Văn hoá tâm linh, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tâm linh
Tác giả: Ngô Đăng Duy
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1996
[8]. Hà Minh Đức, (2008), Một nền văn hoá văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nền văn hoá văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
[9]. Nguyễn Hữu Đức, (2001), Việt Nam những cuộc chiến chống xâm lăng trong lịch sử, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những cuộc chiến chống xâm lăng trong lịch sử
Tác giả: Nguyễn Hữu Đức
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2001
[10]. Trần Hồng Đức, (2009), Lược sử Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử Việt Nam
Tác giả: Trần Hồng Đức
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2009
[11]. Mai Thanh Hải, (2004), Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2004
[12]. Nguyễn Văn Hảo, Lê Thị Vinh, (2003), Di sản văn hoá xứ Thanh, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hoá xứ Thanh
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo, Lê Thị Vinh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2003
[13]. Mai Thị Hoan, (2008), Lệ Hải Bà Vương và đền thờ Bà Triệu, NXB Thanh Hoá, Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ Hải Bà Vương và đền thờ Bà Triệu
Tác giả: Mai Thị Hoan
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2008
[14]. Nguyễn Thị Hồng, (2008), 150 trò chơi dân gian Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 trò chơi dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2008
[15]. Vũ Ngọc Khánh, (2000), Đền miếu Việt Nam, NXB Thanh niên, Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền miếu Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2000
[16]. Vũ Ngọc Khánh, (2007), Văn hoá dân gian người Việt, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn hoá dân gian người Việt
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2007
[17]. Vũ Ngọc Khánh, (2009), Từ điển văn hoá Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hoá Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2009
[18]. Lê Văn Kỳ, (1997), Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ các anh hùng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ các anh hùng
Tác giả: Lê Văn Kỳ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
[19]. Lê Văn Kỳ, (2001), “Trò thổi cơm thi trong lễ hội cổ truyền”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (số 3), Tr 6 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò thổi cơm thi trong lễ hội cổ truyền”, "Tạp chí Văn hoá nghệ thuật
Tác giả: Lê Văn Kỳ
Năm: 2001
[20]. Ngô Sĩ Liên, (1983), Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1983

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w