Vì vậy phạm trù “Đạo”Đạo” đợc rất nhiều ngời quan tâm và nhiềunhà khoa học nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau: Nguyễn Khắc Viện với “Đạo”Bàn về đạo Nho” Nhà xuất bản thế giới, Nguyễn
Trang 1Mục lục Trang
3.1.4 “Đạo”Đạo” trong “Đạo”Tả truyện” và “Đạo”Quốc ngữ” 7
3.2.3 “Đạo”Đạo” trong “Đạo”Dịch truyện” 12
3.4.1 Quan điểm của các Pháp gia ở giai đoạn đầu 24
Chơng 2: ý nghĩa của phạm trù Đạo đối với triết học Trung Quốc “Đạo” ” 30
1 “Đạo”Đạo” là phạm trù xuất phát để các nhà t tởng xây dựng học
Trang 2Lời cảm ơn
Với tính chất là làm khoá luận tốt nghiệp, tôi đã thực hiện đề tài Phạm“Đạo”
trù Đạo và ý nghĩa của nó đối với triết học Trung Quốc thời Tiên Tần“Đạo” ” ”.
Đề tài đợc thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn Ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và các bạn
sinh viên trong toàn khoa Giáo dục chính trị, đặc biệt là thầy giáo Nguyễn
Tr-ờng Sơn - ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Nhân dịp đề tài hoàn thành tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các bạn sinh viên.
Đề tài đợc hoàn thành trong một thời gian ngắn và đây cũng là một đề tài khó nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên.
Vinh, tháng 5 năm 2005 Tác giả
Cao Huy Hoàng
Trang 3A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Trung Quốc là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại ở
đó, ngay từ buổi bình minh của lịch sử đã có nhiều nhà t tởng lớn với nhiều họcthuyết nổi tiếng T tởng triết học đó không chỉ có ảnh hởng trong phạm viTrung Quốc mà còn ảnh hởng lớn tới nhiều nớc phơng Đông, nhất là ViệtNam, một nớc có nhiều nét văn hoá tơng đồng Trong triết học Trung Quốc,
“Đạo”Đạo” là một phạm trù xuất phát điểm, phạm trù trung tâm Nghiên cứu phạmtrù “Đạo”Đạo” không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu thêm t tởng triết học Trung Quốc
mà còn giúp chúng ta học tập, rèn luyện t duy lôgic, t duy trừu tợng
Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn : “Đạo”Phạm trù Đạo và ý nghĩa của nó“Đạo” ”
đối với Triết học Trung Quốc thời Tiên Tần ” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Phạm trù “Đạo”Đạo” là phạm trù trung tâm trong hệ thống các phạm trù triếthọc Trung Quốc Vì vậy phạm trù “Đạo”Đạo” đợc rất nhiều ngời quan tâm và nhiềunhà khoa học nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau: Nguyễn Khắc Viện với
“Đạo”Bàn về đạo Nho” (Nhà xuất bản thế giới), Nguyễn Hiến Lê trong “Đạo”Khổng Tử” (Nhà xuất bản văn hoá); Trần Trọng Kim với Nho Giáo“Đạo” ” (NXB văn hoá thông
tin); Trơng Lập Văn với Đạo“Đạo” ” (NXB Khoa học xã hội)…Qua các công trìnhQua các công trìnhnghiên cứu của các tác giả trên chúng tôi thấy rằng:
- Phần lớn các tác giả mới bàn về “Đạo”Đạo” một cách chung chung, chỉ nêumột số quan điểm về phạm trù “Đạo”Đạo” chứ cha đi sâu nghiên cứu, phân tích vềphạm trù “Đạo”Đạo”
- Trơng Lập Văn là tác giả giải quyết một cách hệ thống và toàn diệnnhất về phạm trù “Đạo”Đạo” thời Tiên Tần
- Đa số các công trình nghiên cứu cha đề cập đến ý nghĩa của phạm trù
“Đạo”Đạo” Song, những thành tựu của họ là những t liệu vô cùng quý báu để chúngtôi tham khảo và hoàn thành luận văn của mình
3 Mục đích nghiên cứu.
- Có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về phạm trù “Đạo”Đạo” thời Tiên Tần trongtriết học Trung Quốc
- Thấy đợc ý nghĩa của phạm trù “Đạo”Đạo” thời Tiên Tần đối với triết họccũng nh việc xây dựng t duy trừu tợng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Trang 4- Tìm hiểu quan điểm của các nhà triết học Trung Quốc về phạm trù
“Đạo”Đạo” thời Tiên Tần
- Rút ra ý nghĩa của phạm trù “Đạo”Đạo” đối với triết học cũng nh việc xâydựng t duy trừu tợng
7 ý nghĩa của luận văn.
- Thứ nhất: Có thể giúp những ai quan tâm đến triết học Trung Quốchiểu thấu đáo hơn về phạm trù “Đạo”Đạo” thời Tiên Tần
- Thứ hai: Có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngànhchính trị
8 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm hai chơng:
Chơng 1: T tởng của các nhà triết học Trung Quốc thời Tiên Tần về
T tởng của các nhà triết học Trung Quốc
thời Tiên Tần về phạm trù "Đạo"
1 Vài nét về lịch sử Trung Quốc thời Tiên Tần.
Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử lâu đời và Tiên Tần là thời kỳ có
ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành và phát triển t tởng triết học
Trải qua hàng ngàn năm cộng sản nguyên thuỷ, Trung Quốc cổ đại bớcvào xã hội chiếm hữu nô lệ (xã hội phong hầu kiến quốc) với những biến độnglịch sử dữ dội và trải qua các triều đại: Hạ, Thơng, Chu Đến năm 221 TCNTần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ lập nên nhà nớc phong kiến đầu tiên Tấtcả giai đoạn lịch sử từ nhà Tần trở về trớc gọi là thời kỳ Tiên Tần
Trang 5Triều Hạ (khoảng thế kỷ XXI – XVI TCN), Triều Thơng (khoảng thế
kỷ XVI - khoảng năm 1066 TCN), Triều Tây Chu (khoảng năm 1066-771TCN) Đến năm 770 TCN, Chu Bình Vơng dời đô sang Lạc ấp ở phía đông,giai đoạn Đông Chu bắt đầu Giai đoạn Đông Chu bao gồm hai thời kỳ: XuânThu và Chiến Quốc Thời thứ nhất sở dĩ gọi là Xuân Thu vì lịch sử Trung Quốcthời này đợc phản ánh trong sách Xuân Thu, quyển sử nớc Lỗ do Khổng Tửsoạn; còn thời Chiến Quốc có thể lấy năm 403 TCN tức là năm ba nớc Triệu,Ngụy, Hàn đợc nhà Chu công nhận là ch hầu và kéo dài đến năm 221 TCN lànăm nớc Tần thống nhất Trung Quốc
Thời kỳ Tiên Tần là thời kì biến động dữ dội của lịch sử Trung Quốc cổ
đại, chiến tranh liên tiếp xẩy ra Chẳng những ch hầu đánh nhau với ch hầu mà
ch hầu còn đánh nhau với thiên tử Đó là biểu hiện cuộc đấu tranh giai cấp sâusắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đặc biệt là lĩnh vực đờisống tinh thần, các triết gia - đại biểu tinh thần của các giai cấp tiến hành cuộc
đấu tranh không khoan nhợng Sử cũ gọi đây là thời kỳ “Đạo”bách gia tranh minh, bách gia ch tử” mà ở đó vấn đề bản thể luận đợc hầu hết các triết gia đề cập
một cách thấu đáo nhất, triệt để nhất - trong đó cuộc đấu tranh xoay quanh nộihàm của phạm trù “Đạo”Đạo” là một minh chứng điển hình nhất
2 Đạo là gì?“Đạo” ”
Trong hệ thống phạm trù triết học truyền thống của Trung Quốc, “Đạo”Đạo”
là một phạm trù trung tâm Tuỳ theo từng quan niệm, tuỳ theo hoàn cảnh lịch
sử “Đạo”Đạo” có nhiều hàm nghĩa khác nhau:
- “Đạo”Đạo” là con đờng
- “Đạo”Đạo” là quy luật
- “Đạo”Đạo” là bản thể hoặc bản nguyên của vạn vật
- “Đạo”Đạo” là một, “Đạo”Đạo” là không
- “Đạo”Đạo” là tâm, “Đạo”Đạo” là khí
- “Đạo”Đạo” là nhân đạo (đạo ngời)
Tổng hợp tất cả các nghĩa trên, nội hàm của “Đạo”Đạo” có thể hiểu là:
- “Đạo”Đạo” là bản thể hay bản nguyên của vạn vật trong trời đất, chỉ về cáisiêu kinh nghiệm mà bộ máy cảm giác không thể nhận biết đợc, là hiện tợng tựnhiên, là cái sở dĩ nhiên ở sau lng hiện tợng tự nhiên Do nó ở trên và ở ngoàihiện tợng tự nhiên và xã hội, nên nhìn không thấy, sờ mó không đợc, chỉ có thểdựa vào t duy lý tính để nắm vững Vì thế, các nhà triết học thời xa của TrungQuốc đã quy định “Đạo”Đạo” bản thể là “Đạo”Đạo” vô hình, vô thanh, vô thể, là “Đạo”Đạo”
Trang 6của hình nhi thợng “Đạo”Đạo” này là căn cứ tồn tại của vạn vật trong trời đất, cũng
là bản nguyên sinh ra vạn vật
- “Đạo”Đạo” là bản chất của toàn bộ thế giới, là chỉ về tính chất căn bản của
sự vật, là mối liên hệ nội tại cấu thành các yếu tố cơ bản của sự vật Mọi ngờithông thờng gọi mối liên hệ nội tại tất nhiên, phổ biến và tơng đối ổn định của
sự vật là bản chất Vì thế bản chất và tính quy luật thuộc phạm trù trình độ
đồng đẳng, nhng rộng hơn một chút so với tính quy luật, nó là sự tổng hợp củamột loạt tính tất nhiên và quy luật đợc bao hàm bên trong sự vật
- “Đạo”Đạo” là quy luật của sự vật, chỉ mối liên hệ bản chất, tất nhiên và ổn
định vốn có của sự vật Mối quan hệ bản chất giữa các sự vật hay mối quan hệgiữa cái bản chất, đã thể hiện tính chất căn bản nội tại, vốn có và tiến trình pháttriển của bản thân sự vật đó Đó là mối liên hệ bản chất, quy luật phản ánh sựvật tất định nh thế xác định xu thế không thay đổi Nó là mối liên hệ tơng đối
ổn định và đợc củng cố, biến động không ở trong hiện tợng So sánh với quyluật cụ thể, quy luật đặc thù thì “Đạo”Đạo” là một quy luật phổ biến hay quy luậtchung
- “Đạo”Đạo” là quá trình vận động biến hoá, chỉ tiến trình khí hoá …Qua các công trình“Đạo”Đạo”không có cái gì là không chứa đựng, không đâu không có, “Đạo”Đạo” lớn không cóngoài, “Đạo”Đạo” nhỏ không có trong Bản thân nó đã chứa đựng sự mâu thuẫn vàthống nhất giữa âm và dơng, có và không, một và hai, động và tĩnh, lý và khí,
“Đạo”Đạo” và khí (khí cụ)…Qua các công trìnhTừ mâu thuẫn tơng quan với đồng nhất mà có quá trìnhvận động biến hoá của giới tự nhiên và tiến trình phát triển diễn biến của xã hộiloài ngời
- “Đạo”Đạo” là nguyên tắc chính trị, là quy phạm đạo đức luân lý, là đạo lýtrị quốc và xử thế Nguyên tắc chính trị là t tởng chỉ đạo việc trị quốc bìnhthiên hạ Quy phạm đạo đức luân lý là chỉ tam cơng, ngũ thờng, trung hiếu vàtam tòng, tứ đức…Qua các công trình(tam cơng, ngũ thờng là: Đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợchồng và nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; tam tòng là: Ngời phụ nữ cha chồng thì theocha, đã có chồng rồi thì theo chồng, chồng chết thì theo con Còn tứ đức là tiếthạnh, c xử với mọi ngời, t thế ăn mặc và nữ công gia chánh) Vì thế, “Đạo”Đạo” làmột phạm trù có ngoại diên bao quát rộng và chứa đựng ý nghĩa rất sâu sắc Dovậy, ở mỗi một nhà t tởng, mỗi một nhà triết học, không chỉ có một cách giảithích mà đã có nhiều cách giải thích về “Đạo”Đạo”với nhiều nội dung khác nhau
3 Biểu hiện của Đạo ở các tr“Đạo” ” ờng phái t tởng.
Trang 73.1 Đạo trong Kinh dịch , Th“Đạo” ” “Đạo” ” “Đạo” ợng th , Kinh thi , Tả truyện và” “Đạo” ” “Đạo” ”
Quốc ngữ
3.1.1 Đạo trong Kinh dịch “Đạo” ” “Đạo” ”
“Đạo”Kinh dịch” là bộ sách về bói toán, đợc viết thành sách khoảng giữa thời
Ân Trong các quẻ bói của “Đạo”Kinh dịch”, chữ “Đạo”Đạo” thờng xuất hiện ở các ờng hợp sau đây:
tr “Đạo”Đạo” là quay trở lại Trong quẻ “Đạo”Tiểu súc” quẻ ngày mồng chín: phúc tự đạo , hà kỳ cứu cát
“Đạo” ” “Đạo” ” (quay lại đạo của mình đâu phải là điều dữ mà
là điều tốt lành) [9.42] Chữ phúc cũng có thể hiểu là phục Trong Tạp quải“Đạo”
truyện” có “Đạo”phục phản dã” (phục là quay lại, quay về) [9.42] Trong “Đạo”thuyết văn” có phục vãng lai dã“Đạo” ” (phúc là quay lại một lần nữa)[9.42], trở lại, quaylộn lại thì gọi là phúc Câu chữ ghi trên quẻ này có nghĩa là: Đi ra ngoài có thểtrở về bằng con đờng cũ không gặp nạn, mà ngợc lại, còn tốt lành nữa là đằngkhác
- “Đạo”Đạo” là con đờng dấn thân Quẻ “Đạo”Lữ” ý nói con đờng dấn thân vào mà
ngay thẳng thì dù có là kẻ bị đi đày đi chăng nữa cũng vẫn thấy mình thanhthản, trắng trong
- “Đạo”Đạo” là ngời đi đờng trở về Quẻ phục“Đạo” ” ý nói là những ngời đi lạitrên đờng, sau bảy ngày đã có thể trở về đợc, nh vậy là chuyến đi ra ngoài tốtlành
Trong các quẻ trên “Đạo”Đạo” đều có nghĩa là con đờng Từ đó có thể thấy
“Đạo”Đạo” trong Kinh dịch“Đạo” ” đều chỉ con đờng cụ thể chứ cha phải là khái niệmtriết học trừu tợng
3.1.2 Đạo trong Th“Đạo” ” “Đạo” ợng th ”
“Đạo”Thợng th” là cuốn sách tập hợp văn hiến của các triều đại Hạ, Thơng,
Chu, hàm chứa những mầm mống t duy lý luận thời cổ “Đạo”Thợng th” đã bàn về
“Đạo”Đạo” với nội dung nh sau:
-“Đạo”Đạo” là đạo hoàng thiên có hàm nghĩa là quy luật vận hành số trời
- “Đạo”Đạo” là “Đạo”Vơng đạo” về cơ bản là nguyên tắc, pháp luật Nó dùng để
chỉ những nguyên tắc - t tởng về hành vi do Chu thiên tử xác định
- “Đạo”Đạo” là nguyên tắc, ở đây là đạo xét xử, tức là đạo lý phán quyết hìnhphạt
- “Đạo”Đạo” là phơng pháp, là con đờng trị vì, quản lý đất nớc
Trang 8“Đạo”Đạo” trong sách “Đạo”Thợng th” vẫn chỉ là khái niệm của một danh từ, nhng
hàm nghĩa của nó đã trở nên khá phong phú và bắt đầu manh nha t duy lý luậntrừu tợng
3.1.3 Đạo trong Kinh thi “Đạo” ” “Đạo” ”
“Đạo”Kinh thi” là một bộ tổng hợp thi ca cổ đại Trung Quốc Nhiều bài trong
bộ sách này hàm chứa những t tởng triết học nhất định
Trong Kinh thi“Đạo” ” chữ “Đạo”Đạo” xuất hiện 29 lần và trớc hết nó có nghĩa làcon đờng, rồi từ đó mở rộng ra, có nghĩa là phơng pháp, là lời bàn luận Điều
đó phản ánh nhận thức của con ngời đã dần đợc nâng cao
3.1.4 Đạo trong Tả truyện và Quốc ngữ “Đạo” ” “Đạo” ” “Đạo” ”
Nhiều ngời cho rằng “Đạo”Tả truyện” và Quốc ngữ“Đạo” ” do sử quan nớc Lỗ làTả Khâu Minh viết xong vào khoảng cuối thời Xuân Thu, phản ánh bộ mặt xãhội, chính trị, kinh tế và t tởng thời Xuân Thu đa ra nhiều khái niệm triết học
đáng đợc chú ý Ông chia “Đạo”Đạo” thành hai phần: Thiên đạo (đạo trời) và Nhân
đạo (đạo ngời) đa “Đạo”Đạo” từ vơng quốc tự nhiên tiến vào vơng quốc triết học
Thiên đạo chỉ quy luật vận hành của mặt trời, mặt trăng, âm, dơng Sựbiến đổi vận động của sự vật cũng có tính tất nhiên, nội tại, giống nh vận độnggiữa các thiên thể Thiên đạo không chuyển đổi theo sự tốt xấu của con ngời.Nếu làm trái với thiên đạo thì bất luận ngời đó là ai (thiên tử hay thứ dân)không thể thành công đợc
Trong “Đạo”Tả truyện” và Quốc ngữ“Đạo” ” đôi khi lại coi thiên đạo là một thứsức mạnh thần bí mà con ngời không sao chế ngự nổi, mặt khác còn so sánhmột cách khiên cỡng những suy luận về bói toán, chiêm tinh với thiên đạo, tô
vẽ cho thiên đạo thêm màu sắc mê tín Điều đó chứng tỏ nhận thức của con
ng-ời về thiên đạo vẫn còn là ở bớc sơ khai
Nhân đạo là tất cả những căn cứ và nguyên tắc mà từ đó con ngời, vì conngời, bao quát tất cả bản tính tự nhiên và quy phạm luân lý đạo đức của conngời cùng tất cả những chế độ điển chơng, nguyên tắc tổ chức …Qua các công trìnhcủa cả mộtquần thể
Trang 9trời Lễ tơng hợp với thiên đạo Tôn trọng chữ Lễ, giữ Lễ chính là phù hợp vớithiên đạo Nếu phạm Lễ, vứt bỏ Lễ thì là trái với thiên đạo.
Tả truyện“Đạo” ” và Quốc ngữ“Đạo” ” cho rằng: Thiên đạo và nhân đạo tuy khácnhau nhng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Điều đó chứng tỏ rằng “Đạo”Đạo” đãbắt đầu tiến vào vơng quốc của triết học và đã có mầm mống nảy sinh ra phạmtrù “Đạo”Đạo” Sự phát triển lớn mạnh của nó sẽ tạo thành lịch sử phát triển củaphạm trù “Đạo”Đạo” và t tởng đạo luận trong triết học Thời kỳ Ân, Chu là giai
đoạn chữ “Đạo”Đạo” xuất hiện, khái niệm “Đạo”Đạo” hình thành, phạm trù “Đạo”Đạo” bắt
đầu manh nha, nảy nở
3.2 T tởng Đạo của Nho gia.“Đạo” ”
3.2.1 Quan điểm của Khổng Tử.
Khổng Tử (551 - 479 TCN) cho rằng nhân đạo là quan trọng hơn cả ở
ông “Đạo” không dùng với ý nghĩa bản thể luận mà chỉ đợc sử dụng với ýnghĩa chính trị lý luận Từ toàn bộ cấu trúc t tởng triết học của Khổng Tử, cái
mà ông gọi là nhân đạo chủ yếu có hai phơng diện:
- Đạo là Nhân:“Đạo” ”
Nhân là nội dung cơ bản của “Đạo”Đạo” Khổng Tử Khổng Tử nói: “Đạo”Đạo”
chỉ có hai mặt: Nhân và bất nhân mà thôi“Đạo” ” [9.58] Nh vậy, Khổng Tử chia
“Đạo”Đạo” ra hai mặt: Nhân và bất nhân, chủ trơng đạo nhân và chống lại cái bấtnhân Cái hạt nhân của Nhân ở đây là lòng yêu thơng con ngời (lòng nhân ái).Cái Nhân lấy tình máu mủ ruột thịt trong gia đình là lớn nhất Con ngời màkhông có tình máu mủ ruột thịt thì không thể nào có lòng nhân ái đợc Mởrộng ra đó còn là trung với nhà vua, giữ chữ tín với bạn bè, có lòng khoandung, rộng mở đối với mọi ngời, biết suy bụng mình ra bụng ngời, đợc chomình thì cũng phải nghĩ đợc cho ngời khác nữa, biết tự kiềm chế bản thân đểgiữ trọn Lễ, Nghĩa
- Đạo là Lễ:“Đạo” ”
Khổng Tử rất coi trọng Lễ Ông nói : Bất tri lễ, vô dĩ lập dã“Đạo” ” (không
biết Lễ thì cũng không thể đứng vững trong xã hội đợc)[9.59] Cung nhi, vô lễ“Đạo”
- tắc lao, thận nhi vô lễ - tắc tỷ, dũng nhi vô lễ - tắc loạn, trực nhi vô lễ - tắc giảo” (cung kính mà không theo lễ thì sẽ trở nên nhút nhát, sợ sệt, dũng cảm
mà không theo lễ thì sẽ làm rối loạn, lung tung, thẳng thắn mà không theo lễthì sẽ làm lôi thôi, hỏng việc) [9.59]…Qua các công trình
Trang 10Giữa Nhân và Lễ của Khổng Tử luôn kết hợp với nhau Ông cho rằngcon ngời ta vừa phải cố làm đợc điều Nhân, vừa phải nghiêm khắc tuân thủ cái
Lễ, Nhân và Lễ thống nhất với nhau Lễ thể hiện bên ngoài của Nhân, Nhân lànội dung của Lễ Lễ là ngọn, Nhân là gốc Nhân và Lễ lồng vào nhau, thốngnhất với nhau Đó là điểm độc đáo của t tởng nhân đạo của Khổng Tử
Trong t tởng của Khổng Tử về “Đạo”Đạo” còn có một nội dung quan trọngnữa là mối quan hệ giữa “Đạo”Đạo” và Đức Đức của Khổng Tử là sự khái quát vềmặt thực tiễn đạo đức của t tởng nhân đạo của ông Khổng Tử không những coitrọng tri thức đạo đức, mà còn coi trọng thực tiễn đạo đức Đức chính là phẩmchất t tởng của con ngời thông qua học tập và thực hành Qua học tập và thựchành “Đạo”Đạo” mà theo đợc vào mình, giữ lại cho mình
“Đạo”Đạo” là căn cứ của Đức, Đức là thực tiễn của “Đạo”Đạo” “Đạo”Đạo” và Đức
luôn gắn bó mật thiết với nhau Chi vụ đạo cứ vô đức “Đạo” ” (cái chí ở nh đạo, chỗdựa ở nh đức)[9.62] Đức của Khổng Tử là một bộ phận hợp thành “Đạo”Đạo” của
ông
Khổng Tử đã kế thừa t tởng nhân đạo từ trớc đó, đồng thời cũng pháttriển thêm nhiều phần quan trọng Nếu nói rằng quy định về hàm nghĩa nhân
đạo trong Quốc ngữ“Đạo” ” và “Đạo”Tả truyện” còn đơn sơ, nông cạn, thì đến Khổng Tử,
ông đã trình bày và phân tích khá tờng tận và đã thúc đẩy sự hình thành phạmtrù “Đạo”Đạo” trên ý nghĩa nhân đạo Tuy nhiên, Khổng Tử cũng có khiếm khuyếtkhi coi nhẹ, không đi sâu vào nghiên cứu thiên đạo, nên cha thể đa đạo luận đạttới trình độ t duy bản thể
3.2.2 Quan điểm của Mạnh Tử
Mạnh Tử (372-289 TCN) đã lấy việc kế thừa và phát huy học thuyết củaKhổng Tử làm mục đích cuộc đời Ông đã phát huy nhân nghĩa của Khổng Tử,hình thành t tởng nhân đạo và nhân chính
“Đạo”Đạo” của Mạnh Tử là nhân đạo, mà nội hàm hạt nhân của nó là Nhân
(nhân đạo, nhân nghĩa) Ông nói: Nhân dã giả, nhân dã,“Đạo” hợp nhi ngôn chi,
đạo dã” ( Nhân - nhân nghĩa, nhân đạo - cũng là nói về con ngời, hợp chung
lại, đó là đạo) [9.63] Ngời mà có Nhân, đó là “Đạo”Đạo” Từ ý nghĩa này, “Đạo”Đạo”chính là nói về con ngời Giá trị của con ngời hoặc của Nhân đợc coi trọngthêm một bớc nữa
Nhân đã đợc Khổng Tử giải thích bằng nhiều mặt còn Mạnh Tử thì tập
trung giải thích đó là tình yêu con ngời Ông nói : Nhân giả ái nhân“Đạo” ” (Nhân
là tình yêu thơng con ngời) [9.63] Mạnh Tử nêu lên: Nhân bắt nguồn từ tính
Trang 11thiện của con ngời Con ngời sinh ra vốn nhiều trắc ẩn Nhân là kết quả củaviệc mở rộng, phát triển cái lòng trắc ẩn đó Để nhấn mạnh thêm, thậm chí
Mạnh Tử đã trực tiếp so sánh lòng trắc ẩn với Nhân: “Đạo”Trắc ẩn chi tâm nhân dã” (lòng trắc ẩn, nỗi trắc ẩn, ấy là nhân) [9.64], coi đó là một phần để tạo nên
tính ngời Điều đó nói lên rằng Nhân không phải là ngoại tại mà thuộc về nộitại Từ đó Mạnh Tử cho rằng sự tu dỡng của từng ngời phải xuất phát từ nội
tâm, tự giác cởi mở lòng trắc ẩn, sao cho đạt tới đợc giới hạn “Đạo”mọi vật đều có sẵn ở nơi ta, làm cho lòng mình tràn ngập tinh thần nhân ái” Đó là những nội
dung căn bản của “Đạo”Đạo” khi đề cập đến Nhân
Mạnh Tử bàn về thiên đạo chỉ mô tả đặc tính đích thực của thiên đạo chứkhông đi sâu vào nghiên cứu và phân tích về bản thân thiên đạo Ông đã có ýcoi thiên đạo là quy luật khách quan Nhng dụng ý của Mạnh Tử không phải là
để nói ra nội dung của thiên đạo mà chính là ông muốn dùng những đặc trng
đó của thiên đạo để trình bày, phân tích và chứng minh về nhân đạo Ông nói:
T
“Đạo” thành giả, nhân chi đạo dã ” (biết thành tâm lo nghĩ những cái chân thực thì
đó là đạo của con ngời vậy) [9.65] Thực tâm, chân thành thực hành đạo nhânnghĩa cũng giống nh sự thành tâm, nhận thức của thiên đạo vậy
Ngoài ra, Mạnh Tử đã đa “Đạo”Đạo” từ lĩnh vực tu dỡng lý luận đạo đức mởrộng vào lĩnh vực chính trị, vì thế hình thành t tởng nhân chính trị quốc an dâncủa ông
Mạnh Tử chủ trơng xây dựng một xã hội yên ổn, thái bình, nhân ái Ôngcho rằng đề xớng nhân đạo, thực hành nhân chính là con đờng duy nhất để thực
hiện cái xã hội đó Ông nói: Nhân nhân thân kỳ thân, tr“Đạo” ờng kỳ trờng, nhi thiên hạ thái bình ” (mọi ngời đều quý mến ngời thân của mình, tôn kính ngời
đứng đầu của mình, thì thiên hạ sẽ thái bình) [9.66]
Thông qua việc thực hành nhân chính để thực hiện một xã hội nhân áithái bình, đó là nơi quy tụ của đạo luận Mạnh Tử Cũng giống nh Khổng Tử,Mạnh Tử không gắn bó mặn mà với thiên đạo, mà coi trọng nhân đạo Điều đó
đang là nhu cầu và cũng là mục đích mà ông theo đuổi để thực hiện
Có thể nói, “Đạo”Đạo” của Mạnh Tử là đạo làm ngời lấy cái nhân làm nộihàm cơ bản chỉ khi nào muốn nhấn mạnh vấn đề nào đó thuộc về nhân đạo,không thể nào khác đợc ông mới đề cập đến thiên đạo Trọng điểm luận “Đạo”Đạo”của Khổng Tử là đạo Nhân, đạo Lễ còn Mạnh Tử thì lại nêu bật nhân đạo, đồngthời mở rộng nhân đạo ra nền chính trị xã hội, đa ra t tởng nhân chính Đóchính là phát triển đạo làm ngời của Khổng Tử thành nhân chính Đạo làm ngời
Trang 12của Khổng Tử và Mạnh Tử, ngời sau gọi là đạo Khổng, Mạnh Nó trở thành nộidung cơ bản trong đạo luận của các Nho gia, tạo thành bộ phận quan trọng củatriết học Nho gia.
3.2.3 Đạo trong Dịch truyện “Đạo” ” “Đạo” ”
“Đạo”Dịch truyện” còn gọi là “Đạo”Thập Dực” không phải là tác phẩm của một ngời của một thời viết ra Nó dựa vào cái sờn của Kinh dịch“Đạo” ”, mợn hình thức
giải thích nội dung đạo nghĩa để giải thích Kinh dịch ,“Đạo” ” phản ánh t tởng từcuối thời Xuân Thu đến giữa thời Chiến Quốc
Trong Dịch truyện“Đạo” ” có bàn rất nhiều về phạm trù “Đạo”Đạo” Trớc hết,
“Đạo”Nhất âm nhất dơng gọi là đạo” (Cả âm cả dơng gọi là đạo) [9.69] Dịch“Đạo”
truyện” cho rằng “Đạo”Đạo” là quy luật vận động biến hoá của muôn loài Trong đó
có nói: "Nhất âm nhất dơng chi vị đạo" (cả âm cả dơng gọi là đạo) [9.69].
“Đạo”Đạo” là quy luật đối lập tơng hỗ và tác dụng tơng hỗ giữa hai phía âm và
d-ơng Vạn vật trong trời đất không ngừng sinh ra, không ngừng bị diệt vong, cáimới thay thế cái cũ Đó là một thuộc tính quan trọng của vạn vật trong thế giới
Sở dĩ vạn vật vận động biến hoá, biến đổi từ đời này qua đời khác là do bêntrong sự vật tồn tại hai mặt tơng phản tơng thành của âm dơng Hai mặt này
đối lập nhau, tác động lẫn nhau, thúc đẩy sự vật vận động, biến hoá và pháttriển
Thứ hai, Dịch truyện“Đạo” ” có chép: Cái hình nhi th“Đạo” ợng gọi là đạo, còn cái hình nhi hạ gọi là khí” (cái cao hơn hình thể của nó gọi là đạo, còn cái ở dới
hình thể của nó thì gọi là khí)
“Đạo”Đạo” là quy luật hoá sinh và biến đổi của vạn vật trong trời đất, là mốiliên hệ thuộc về bản chất bên trong của sự vật Tính tất nhiên nội tại đợc sảnsinh và biến hoá này của vạn vật là hoàn toàn trừu tợng, các cơ quan cảm giáccủa con ngời không thể nào trực tiếp nhận biết đợc, chỉ có dùng t duy lý tínhmới có thể nhận thức và nắm bắt đợc Nói về mặt đạo nội tại ở vạn vật trongtrời đất đợc thể hiện trong vạn vật trong trời đất thì nó là thuộc tính của vạn vậtrong trời đất Nếu nói về mặt “Đạo”Đạo” là quy luật sản sinh, vận động biến hoácủa vạn vật trong trời đất thì nó lại không chỉ giới hạn trong các sự vật cụ thể
Sự khác biệt nhau của “Đạo”Đạo” và vạn vật chính là ở chỗ “Đạo”Đạo” là "Hình nhi ợng”, còn vật thì lại là “Đạo”Hình nhi hạ ” Gọi là “Đạo”Hình nhi thợng” là để chỉ khi
th-“Đạo”Đạo” đã là một quy luật thì tức là nó đã có tính chất vô hình, trừu t ợng, cũng
tức là có đặc tính là Âm d“Đạo” ơng bất trắc chi vị thần” (cái mà âm dơng không ờng, không đo đếm đợc gọi là thần) [9.71] Gọi là “Đạo”Hình nhi hạ” là để chỉ
Trang 13l-những sự vật có tính chất hữu hình, tức là l-những sự vật có đặc tính của “Đạo”Cái có hình, và vẫn gọi là khí” [9.71].
Dịch truyện“Đạo” ” dùng “Đạo”Hình nhi thợng” và Hình nhi hạ“Đạo” ” để phân biệt “Đạo”Đạo”mang tính quy luật và những vật tồn tại cụ thể, nh vậy chứng tỏ rằng nó đã dấnsâu vào nhận thức về quan hệ giữa “Đạo”Đạo” và Khí Những lý luận về mối quan
hệ giữa “Đạo”Đạo” và Khí này đã khởi đầu cho các quan niệm về “Đạo”Đạo” và Khí củacác Nho gia
Thứ ba, Dịch truyện“Đạo” ” nêu lên mối quan hệ giữa “Đạo”Đạo” và Thái cực:
Thái cực là một phạm trù triết học đợc nêu ra đầu tiên trong Dịch truyện “Đạo” ”
ảnh hởng của nó đối với hậu thế vô cùng to lớn Thái cực trong Dịch truyện“Đạo” ”
là một thực tại của vạn vật trong trời đất Thái cực sinh ra vạn vật, có một quátrình diễn biến hoá sinh “Đạo”Đạo” chính là đạo âm dơng của hình nhi thợng trongquá trình thái cực hoá sinh vạn vật, cũng nh trong quá trình biến hoá phát triểncủa vạn vật
Dịch truyện
“Đạo” ” lấy “Đạo”Nhất âm nhất dơng chi vị đạo [” 9.69] để xác định
nội hàm của “Đạo”Đạo”, lấy hình nhi th“Đạo” ợng giả vị chi đạo” [9.70] để mô tả đặc
tr-ng của “Đạo”Đạo” và đa ra phạm trù Thái cực Điều đó rõ ràtr-ng là đã hấp thu t tởtr-ngcủa các Âm dơng gia và Đạo gia về sự biến hoá của âm dơng và sự vô hìnhcủa đại “Đạo”Đạo” Từ đó đã hình thành nên đạo luận độc đáo của riêng mình Nó
đã có ảnh hởng quan trọng đối với sự phát triển của phạm trù “Đạo”Đạo” và đạoluận trong triết học Trung Quốc, đặc biệt là đối với sự phát triển của phạm trù
“Đạo”Đạo” và đạo luận trong triết học của Nho gia
3.2.4 Quan điểm của Tuân Tử.
Tuân Tử (khoảng năm 313 -238 TCN) lấy Đạo Nho làm tôn chỉ, tiếp thu
t tởng tự nhiên của Đạo gia và t tởng pháp trị của Pháp gia, đã hình thành đạoluận mà đặc trng là sự khác biệt nhau, nhng lại dựa dẫm vào nhau của đạo trời
và đạo làm ngời “Đạo”Đạo” và đạo luận của Tuân Tử là tập đại thành các t tởng đạothời Tiên Tần
Tuân Tử cho rằng “Đạo”Đạo” là quy luật chung của sự vận động, của vạn vậttrong trời đất “Đạo”Đạo” là căn cứ và là xu thế tất nhiên của sự vận động biến hoá
và sự hình thành muôn loài “Đạo”Đạo” là cái sở dĩ nhiên của sự vận động biến hoácủa vạn vật Mọi sự biến hoá phát triển của các sự vật đều đợc thể hiện ra ở
“Đạo”Đạo” “Đạo”Đạo” là chỉ quy luật chung của s vận động phát triển của vạn vật trongthế giới Tuân Tử lần lợt luận “Đạo”Đạo” từ hai phơng diện thiên đạo và nhân đạo.Thứ nhất, trời là cả một thế giới tự nhiên tồn tại bên ngoài con ngời Trời vẫn
Trang 14tồn tại khách quan, có xu thế tất nhiên và các quy luật cố hữu khách quan của
sự vận động biến hoá của nó Cái đó không thay đổi, chuyển dịch theo sự tốtxấu của con ngời Sự chuyển dịch của các vì sao, sự vận hành của mặt trời, mặttrăng, sự xoay vần của bốn mùa, sự biến hoá của âm dơng, tất cả đều là những
biểu hiện của quy luật vận hành của trời đất T tởng “Đạo”Trời thì có đạo vĩnh hằng, không đổi” [9.75] mà Tuân Tử nêu ra dựa trên cơ sở thừa nhận sự tồn tại
khách quan của trời đó là làm phong phú thêm nội hàm của “Đạo”Đạo” Thứ hai,con ngời sống trong xã hội, giữa ngời này và ngời kia vẫn có sự liên hệ vớinhau cũng nh có sự tranh chấp lẫn nhau Để hạn chế những ham muốn, nhữngtham vọng có tính tự nhiên của con ngời, điều tiết quan hệ giữa con ngời vớicon ngời, làm cho con ngời có thể chung sống hoà thuận với nhau mà khôngphát sinh ra sự rối loạn, phải quy định những chuẩn tắc để duy trì trật tự xã hội
Những chuẩn tắc đó chính là nhân đạo Đạo giả, phi thiên chi đạo, phi địa chi“Đạo”
đạo, nhân chi sở, đạo dã, quân tử chi sở, đạo dã ” (Đạo không phải của trời,không phải của đất, đạo là của con ngời, của các bậc quân tử) [9.76] “Đạo”Đạo” làphép tắc luật lệ xã hội mà mọi ngời đều phải cùng tuân theo
Theo Tuân Tử, nội dung của “Đạo”Đạo” bao gồm các mặt nh Nhân, Nghĩa,
Lễ, Nhợng, Trung, Tín, Hình phạt, Chính lệnh và Pháp lệnh Trong đó, Lễ vàPháp là hai thứ quan trọng nhất Cái gọi là Lễ chính là các loại chuẩn tắc vàquy phạm xác định sang hèn, già trẻ, vợ chồng, giàu nghèo, trên dới có thứ, cóbậc khác nhau Tuân Tử đặc biệt nhấn mạnh Lễ Ông cho rằng Lễ chính là đạo
làm ngời cao nhất “Đạo”Lễ giả, nhân đạo chi cực dã” (Lễ, ấy là đạo làm ngời cao
nhất) [9.76] Nhng, chỉ dựa vào Lễ thôi thì vẫn cha thể nào quản lý tốt đợcquốc gia Nếu muốn làm cho thiên hạ đại trị, còn phải phối hợp, sử dụng thêmcả hình pháp nữa Hình pháp chính là chế độ pháp lệnh và hình phạt của Nhà n-
ớc Nó cũng là một chuẩn tắc mà mọi ngời phải tuân theo Tuân Tử nêu ra
“Đạo”Đạo” và bàn song song cả “Đạo”Đạo” lẫn Pháp Ông nói: “Đạo”Chi dữ pháp dã giả, quốc gia chi bản tác dã ” (Đạo cũng nh là luật pháp, là cái gốc rễ cơ bản củaquốc gia) [9.77] Lễ và Pháp đều là nguyên tắc và chế độ cơ bản nhất của mộtnớc Không có Lễ, Pháp thì không thể duy trì đợc trật tự xã hội, không quyphạm hoá đợc hành vi và t tởng của con ngời và cũng không thể nào nắm chắc
và quản lý đợc con ngời Vì vậy, Lễ và Pháp đều là nội dung quan trọng nhấtcủa đạo làm ngời Tôn sùng Lễ nghĩa coi trọng pháp luật thì quốc gia sẽ có
Th
“Đạo” ợng đạo” tức là “Đạo”Đạo” ổn định và kỷ cơng phép tắc đợc giữ vững Nhà nớc
nào có “Đạo”Đạo” Lễ, Pháp thì sẽ sinh tồn, phát triển Nhà nớc nào không có
Trang 15“Đạo”Đạo”, Lễ, Pháp thì sẽ hỗn loạn và đi tới bị diệt vong Tuân Tử còn nêu mốiquan hệ giữa thiên đạo và nhân đạo Với ông thiên đạo và nhân đạo tách biệtnhau Thiên đạo là thuộc tính của trời, là quy luật vận hành của trời Trời tồntại một cách khách quan, vận hành tự nhiên, vì thế thiên đạo cũng khách quan,
tự nhiên Con ngời không thể tuỳ ý thay đổi thiên đạo đợc, chỉ có thể nhận thức
và vận động theo nó Hoạt động xã hội của con ngời, dù là hoạt động sản xuất,phòng bệnh dỡng sinh hay là hoạt động chính trị, tu dỡng đao đức, đều cầnphải tiến hành tuân theo thiên đạo mới có thể thành công tốt đẹp Nếu khôngtuân theo thiên đạo thì chắc chắn sẽ thất bại
Nhng, khi ngời ta đứng trớc thiên đạo tự nhiên, thì không phải là thuần
tuý tiêu cực Ngời ta Có khả năng hiểu đ“Đạo” ợc nó ” [9.77] Nếu có thể Thông“Đạo”
hiểu đợc đại đạo" [9.77], nhận thức đợc quy luật vận hành của thiên đạo thì sẽ
lợi dụng thiên đạo để mu cầu phúc lợi cho con ngời
Tóm lại, theo Tuân Tử thiên đạo là quy luật vận hành của tự nhiên
“Đạo”Đạo” là ngời, là phép tắc của xã hội loài ngời Thiên đạo là tự nhiên, đạo làmngời là hành vi của con ngời Thiên đạo và nhân đạo là tách biệt nhau có mốiliên quan chặt chẽ với nhau Tuân Tử bàn về “Đạo”Đạo”, kế thừa đạo Nhân, đạo Lễcủa Khổng Tử và Mạnh Tử, nhấn mạnh t tởng Lễ của hai ông, tiếp thu thiên
đạo và tự nhiên của Lão Tử, Trang Tử, gạn đục khơi trong, loại bỏ những phầnvô vi tiêu cực, thụ động của nó, tiếp thu đạo pháp trị của các Pháp gia, tránhkhuynh hớng hình phạt quá khắc nghiệt của nó để từ đó đi sâu hơn nữa vàonhận thức về thiên đạo, nhân đạo và mối quan hệ tơng hỗ của chúng nhằm rút
ra thêm nhiều chân lý hơn
Nghiên cứu t tởng của các Nho gia về phạm trù “Đạo”Đạo” chúng ta thấyrằng đạo luận của Nho gia là coi trọng hiện thực xã hội, coi nhẹ những họcthuyết trừu tợng, những đạo lý sâu xa, khó hiểu Về mặt này, khác với các Đạogia Đồng thời, các Nho gia coi trọng đạo làm ngời ở chỗ xem trọng Nhân, Lễ,Nghĩa, Chế Nó cũng khác hẳn với đạo làm ngời chú trọng đến hình phạt màxem nhẹ Lễ, Nghĩa của Pháp gia Những đặc điểm này làm cho đạo luận củaNho gia về thiên đạo, đặc biệt về mặt bản thể luận có phần thua kém các Đạogia và Pháp gia; Nhng về mặt đạo làm ngời thì lại cao hơn hẳn các Đạo gia vàpháp gia
3.3 T tởng Đạo của các Đạo gia.“Đạo” ”
3.3.1 Quan điểm của Lão Tử.
Trang 16Lão Tử (Khoảng năm 580-500 TCN) là ngời sáng lập ra Đạo gia Ôngcoi “Đạo”Đạo” là một phạm trù triết học cao nhất Triết học thời Tiên Tần, Lão Tử
là ngời đầu tiên đa “Đạo”Đạo” đến bản thể cao độ Trong lịch sử phát triển củaphạm trù "Đạo”, Lão Tử giữ một vị trí hết sức quan trọng
Trớc hết, Lão Tử quan niệm Đạo giống nh“Đạo” tổ tông của muôn loài”
[9.82] Lão Tử cho rằng: “Đạo”Đạo” là bản thể và bản nguyên của vạn vật Vạn vật
trong trời đất đều do “Đạo”Đạo” sinh ra Ông nói: Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất“Đạo”
doanh, uyên hề tự vạn vật chi tông” (Đạo đợc sinh ta sử dụng nó không d thừa.
Nó sâu xa tựa nh tổ tông của vạn vật) [9.82] “Đạo”Đạo” h và vô hình là căn cứ đểvạn vật dựa vào đó mà tồn tại, lại là bản nguyên của vạn vật phát sinh Vạn vật
trong trời đất đều do “Đạo”Đạo” biến hoá mà ra Quá trình đó Đạo sinh nhất, nhất“Đạo”
sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật ” (Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, haisinh ra ba, ba sinh ra vạn vật) [9.83] “Đạo”Đạo” là nguồn gốc của muôn loài, từ
“Đạo”Đạo” sinh sôi nảy nở ra tất cả
“Đạo”Đạo” sinh ra vạn vật trong trời đất, mà đồng thời cũng tồn tại ở vạn vậttrong trời đất Nhìn chung quy luật này là phản, là ngợc lại Quy luật vận động
đạo phản có hai hình thức biểu hiện: Một là, tuần hoàn lặp đi lặp lại “Đạo”Đạo” vàvạn vật trong trời đất do đạo sinh ra đều biểu hiện những đặc điểm vận độngtuần hoàn lặp đi lặp lại Vạn vật sản sinh, trởng thành, nói cho cùng luôn tuầnhoàn, thể hiện sự vận động của “Đạo”Đạo” Hai là, “Đạo”Đạo” là sự chuyển hoá lẫn
nhau Vạn vật trong trời đất đều là Cái âm gánh vác và bao bọc cái d“Đạo” ơng”
[9.83], đợc cấu tạo thành bởi hai mặt đối lập là âm và dơng ngợc nhau, nhng lạikết hợp với nhau để sinh thành Hai mặt âm và dơng trong các vận động đốilập, không ngừng giảm bớt đi hay tăng thêm lên, không ngừng chuyển hoá lẫnnhau
Lão Tử cho rằng: “Đạo”Đạo” là đạo vô vi Tức là thuận theo tự nhiên, khônglàm gì cả Ông cho rằng “Đạo”Đạo” là nguyên tắc cơ bản để quản lý xã hội của mộtNhà nớc, dùng “Đạo”Đạo” để trị quốc Một là, tự nhiên vô vi, không liều lĩnh can dựvào, hãy để cho trăm họ thuận theo cái tự nhiên của nó Hai là, ruồng bỏ cácbậc tài cao học rộng trở lại trạng thái nớc nhỏ, dân hèn, đa xã hội quay trở vềthời đại chất phác thật thà, không tranh giành, đố kỵ lẫn nhau Dùng “Đạo”Đạo” đểtrị quốc, có thể làm cho trăm họ lạc nghiệp xã hội phong phú, sung túc
Lão Tử cho rằng: “Đạo”Đạo” là đạo đức “Đạo”Đạo” của Lão Tử lại là nấc caonhất của bậc thang tu dỡng đạo đức của con ngời Việc tu dỡng đạo đức củacon ngời phải tiến hành theo yêu cầu của “Đạo”Đạo”, lấy “Đạo”Đạo” làm nội dung Lấybản thể “Đạo”Đạo”, hành đạo làm giới hạn cao nhất “Đạo”Đạo” là một thứ tự nhiên vô
Trang 17vi, vì thế việc tu dỡng đạo đức của con ngời cũng phải lấy việc quay trở về bảntính thuần phác tự nhiên làm mục tiêu, thông qua rèn luyện tu dỡng, làm chomình là thánh nhân có “Đạo”Đạo”.
Thứ hai, Lão Tử quy nạp “Đạo”Đạo” thành ba đặc trng chính:
Tính hình thể: “Đạo”Đạo” không thể nhìn đợc, không thể nghe thấy cũngkhông thể sờ nắm đợc Nó là sự tồn tại siêu cảm giác
Tính thực tồn: “Đạo”Đạo” là một cái gì đó mờ mở ảo ảo, chợt bừng tỉnh, nghĩmờng tởng ra thì trong đó hình bóng nó hiện ra đây, chợt suy nghĩ ra thì thấy
nó nh là một vật gì đó còn e ấp, kín đáo, chìm trong cái u hoài, xa thẳm mà bêntrong chứa đựng cái tinh hoa, hoàn mỹ “Đạo”Đạo” tuy là một cái gì đó mờ mờ ảo
ảo, không thành hình rõ rệt để ngời ta cảm giác thấy đợc, không biết đợc, nhng
sự tồn tại của nó là xác thực Vì thế mọi ngời có thể căn cứ vào nó để nhậnthức đạo lý bản nguyên của vạn vật
Tính vận động: “Đạo”Đạo” vẫn tồn tại từ xa tới nay, độc lập không đổi nhngvận động không ngừng Đó chính là cội nguồn của tất cả các sự vật đang vận
động biến hoá
Những đặc tính đó của “Đạo”Đạo” đã làm cho “Đạo”Đạo” có thể trở thành bản thể
và bản nguyên sản sinh ra vạn vật Đồng thời, những đặc tính đó cũng đặt nềntảng cho “Đạo”Đạo” trở thành phạm trù triết học
Thứ ba, Lão Tử nêu mối quan hệ giữa “Đạo”Đạo” và các khái niệm Có,Không, Đế, Thần, Tự Nhiên, Vô Vi, Đức
Về quan hệ giữa “Đạo”Đạo” và các khái niệm Có, Không: Trong kết cấulôgic triết học của Lão Tử, “Đạo”Đạo” là một thể thống nhất của có và không
“Đạo”Đạo” là sự tồn tại u ẩn, vô hình, là Cái trạng thái không có trạng thái“Đạo” ”[9.89].Vì thế, “Đạo”Đạo” có thể gọi là Vô (không) Nhng nh vậy không có nghĩa “Đạo”Đạo” là
cái gì đó h vô tuyệt đối, “Đạo”Đạo” tuy u ẩn, vô hình nhng lại “Đạo”Kỳ trung hữu tợng”
(bên trong có hình ảnh)[9.89] Đó là một sự tồn tại chân thực Vì thế nó cũng
có thể coi là Hữu (có) Hữu và Vô thống nhất với nhau
Quan hệ giữa “Đạo”Đạo” với Đế, Thần: Dới con mắt ngời thời Ân, Chu, Đế làphần trên hết, sáng tạo ra vạn vật, là chúa tể của vạn vật Lão Tử đa ra “Đạo”Đạo” là
tổ tông của môn loài, ông xếp Đế dới “Đạo”Đạo” và cho rằng “Đạo”Đạo” ở trớc, ở trên
Đế và Thần Lão Tử còn chủ trơng thánh nhân cũng cần phải trị vì thiên hạbằng “Đạo”Đạo”, chứ không dựa vào quỷ thần Trong lĩnh vực chính trị xã hội, Lão
Tử cũng bài trừ địa vị của thợng đế và quỷ thần