Giả thuyết khoa học: Nếu sử dụng câu hỏi trong qua trình dạy học tập đọc ở lớp 1,2,3 theo một quy trình hợp lý sẽ nâng cao chất lợng dạy học đồng thời phát huy đợc tính tích cực chủ động
Trang 1TrƯờng đại học vinhkhoa giáo dục tiểu học
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ và đóng góp
ý kiến của ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo ở khoa giáo dục tiểu học, ban giám hiệu, giáo viên các trờng tiểu học và của bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ của mọi ngời để tôi có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của cô giáo Lê Thị Thanh Bình
Vì bớc đầu làm công tác nghiên cứu khoa học nên tôi gặp không ít khó khăn
và bỡ ngỡ Do đó, bài khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót.Tôi rất mong đợc các thầy cô giáo cùng bạn đọc đóng góp ý kiến
Trang 3
Mục lục. A Phần mở đầu.–
Trang 1 Lý do chọn đề tài……… … 1
2 Mục đích nghiên cứu……… 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 2
4 Khách thể và đối tợng nghiên cứu……… 2
5 Giả thuyết khoa học……… 3
6 Phơng pháp nghiên cứu……… 3
7 Cấu trúc khoá luận……… … 3
B Phần nội dung– Chơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……….4
1.2 Một số khái niệm cơ bản……… 5
1.2.1 Định nghĩa câu hỏi………5
1.2.2 Câu hỏi trong dạy học……… 6
1.3 Câu hỏi trong dạy học tập đọc 8
1.3.1 Đặc điểm của câu hỏi trong dạy học tập đọc 8
1.3.2 ý nghĩa của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc lớp 1, 2, 3 9
1.4 Khái quát về phân môn Tập Đọc ở lớp 1, 2, 3 12
1.4.1 Mục đích – yêu cầu 12
1.4.2 Nội dung 13
1.5 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1, 2, 3 17
Chơng II : Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên trong việc sử dụng câu hỏi để dạy học Tập Đọc 19
2.2 Thực trạng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học Tập Đọc ở lớp 1, 2, 3 hiện nay 20
2.3 Hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi trong việc thực hiện mục tiêu của bàitập đọc 23
2.4 Nguyên nhân của thực trạng .24
Chơng III : Một số biện pháp để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học Tập Đọc ở lớp 1, 2, 3 3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 26
3.1.1 Nguyên tắc khoa học 26
3.1.2 Nguyên tắc hệ thống 27
3.1.3 Nguyên tắc vừa sức 28
3.2 Các biện pháp 28
Trang 43.2.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với mục tiêu của bài tập đọc 28
3.2.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi đảm bảo sự đa dạng, phong phú về kiểu loại câu hỏi 31
3.2.3 Hình thành quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học Tập Đọc ở lớp 1, 2, 3 34
3.2.4 Sử dụng câu hỏi kết hợp với các hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Tập Đọc 50
3.2.5 Sử dụng câu hỏi kết hợp với các phơng tiện dạy học 52
3.5 Thực nghiệm s phạm 54
3.5.1 Mục đích thực nghiệm……… ………54
3.5.2 Đối tợng thực nghiệm……… ……… 54
3.5.3 Nội dung thực nghiệm………55
3.5.4 Quy trình thực nghiệm………55
3.5.5 Phân tích thực nghiệm……….55
Kết luận ……… 64
Phụ lục ……… ………… .65
Tài liệu tham khảo……… ……… ……79
Trang 5A – phần mở đầu.
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã đạt đợc những thành tựu tực rỡ Loài ngời bớc sang nền văn minh đại công nghiệp Trong sự phát triển đó, đòi hỏi nghành giáo dục phải đào tạo những con ngời lao động mới năng động, sáng tạo, tự chủ để đáp ứng những yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội Nhiệm vụ đó phải đợc thực hiện ngay từ bậc tiểu học vì “Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con ng-
ời, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân’’ ( NQ số 2957/GDĐT ngày 14/10/1994 ) Nh vậy, ngay từ bậc tiểu học, chúng ta phải dạy cho học sinh biết cách suy nghĩ độc lập, biết tìm tòi khám phá, chủ động sáng tạo trong học tập, hình thành khả năng suy ngẫm, óc phê phán và tính độc đáo của từng nhân cách học sinh Đồng thời giúp các em bộc lộ những hiểu biết, kinh nghiêm sống, những năng lực sở trờng của mình Để thực hiện đợc điều đó vấn đề đặt ra là phải hớng học sinh vào các tình huống có vấn đề bằng hệ thống các câu hỏi, bài tập
1.2 Tiếng mẹ đẻ có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của mỗi ngời K.Ausinxki đã chỉ rõ: “trẻ em đi vào đời sống tinh thần của mọi ngời xung quanh nó, duy nhất thông qua tiếng mẹ đẻ và ngợc lại, thế giới bao quanh đứa trẻ đợc phản ánh trong nó chỉ thông qua chính công cụ này” Do tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ, tất cả quốc gia trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng luôn chăm lo đến viêc dạy học môn này trong nhà trờng, đặc biệt trờng tiểu học Vì vậy, môn tiếng việt chiếm 34,2% thời lợng học tập nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh công cụ sắc bén để t duy và giao tiếp Mục tiêu chung của môn tiếng việt ở tiểu học là: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng việt (nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt
động của lứa tuổi ở các lớp 1, 2, 3 mục tiêu này chủ yếu đợc thực hiện qua phân môn tập đọc Để thực hiện đợc mục tiêu đó, phơng pháp giao tiếp trở thành phơng pháp quan trọng nhất Nghĩa là trong quá trình dạy học giáo viên phải tạo ra các
Trang 6tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp ở học sinh Một trong những phơng tiện hữu hiệu nhất để thực hiện đợc điều đó là sử dụng hệ thống câu hỏi
1.3.Trong thực tế dạy học tập đọc ở tiểu học nói chung và ở các lớp 1, 2, 3 nói riêng còn có nhiều hạn chế Do nội dung đợc đổi mới, yêu cầu phải đổi mới phơng pháp dạy học Mặc dù trong quá trình dạy học giáo viên đã vận dụng nhiều phơng pháp dạy học mới Tuy nhiên, vẫn còn mang nặng phơng pháp dạy học truyền thống Chính vì vậy hiệu quả của giờ tập đọc cha cao, học sinh vẫn còn thụ động trong việc tiếp thu tri thức, làm hạn chế tính độc lập sáng tạo của học sinh Do đó học sinh khó thích ứng với hoạt động muôn màu, muôn vẻ của cuộc sống sau này Mặt khác, năng lực cá nhân của học sinh không có điều kiện
để bộc lộ và phát triển nên hứng thú học tập bị giảm sút, học sinh ít chú ý học tập
Để khắc phục đợc tình trạng trên và đáp ứng yêu cầu đổi mới phơng pháp trong dạy học tập đọc, cần thiết phải sử dụng câu hỏi trong quá trình dạy học tập đọc ở các lớp 1, 2, 3
Nhng sử dụng hệ thống câu hỏi nh thế nào để đạt đợc hiệu quả tốt nhất là vấn đề băn khoăn của tất cả các nhà s phạm Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài
“Sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc ở lớp 1, 2, 3”
2 Mục đích nghiên cứu.
Qua việc nghiên cứu cơ sơ lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học tập đọc
ở lớp 1, 2, 3 chúng tôi muốn làm rõ thêm ý nghĩa của vấn đề sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đởc các lớp 1, 2, 3và đề xuất quy trình sử dụng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc ở lớp 1, 2, 3
3.2 Thực nghiệm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập
đọc ở lớp 2
4 Khách thể và đối tợng nghiên cứu.
Trang 74.2 Đối tợng nghiên cứu:
Phơng pháp sử dụng dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học tập đọc ở lớp 1,2,3
5 Giả thuyết khoa học:
Nếu sử dụng câu hỏi trong qua trình dạy học tập đọc ở lớp 1,2,3 theo một quy trình hợp lý sẽ nâng cao chất lợng dạy học đồng thời phát huy đợc tính tích cực chủ động của học sinh
7 Cấu trúc khoá luận.
Khoá luận của chúng tôi gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Chơng 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chơng 3: Một số biện pháp để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc ở các lớp 1, 2, 3
Ngoài 3 phần chính thức, khoá luận còn có phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục gồm một số bài soạn và phiếu kiểm tra
B – Phần nội dung
Trang 8Chơng 1: cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Câu hỏi là phơng tiện không thể thiếu trong quá trình dạy học nói chung và dạy học môn tập đọc nói riêng Nâng cao chất lợng dạy học và đổi mới phơng pháp dạy học là vấn đề đợc nhiều giáo viên và các nhà s phạm quan tâm
Chính vì vậy, xung quanh vấn đề sử dụng câu hỏi trong dạy học nói chung
và dạy học tập đọc nói riêng đã có nhiều tài liệu đề cập đến Vấn đề này đợc đề cập cụ thể trong các tài liệu sau:
* Tài liệu nớc ngoài.
- “Phơng pháp và kỹ thuật lên lớp” của N.miacolep do Nguyễn Hữu Chơng dịch, NXB Giáo dục Hà Nội, 1973 Trong tài liệu này, tác giả đã khẳng định “Mỗi câu hỏi phải là một bậc thang dẫn đến khái quát việc đa ra chứ nhất quyết không đ-
ợc rẽ sang hớng khác ( 7 ; 174 )
- “Dạy học nêu vấn đề” của I.Ia.Lecne do Phan Tất Đắc dịch NXB GD
1997 Trong đó, tác giả khẳng định sự cần thiết phải đặt nhiệm vụ nhận thức cho học sinh trong suốt giờ học Bằng cách lập một hệ thống câu hỏi liên quan chặt chẽ đến nhau sao cho các câu hỏi hợp thành những bài toán nh trên con đờng đi tới lời giải cho bài toán cơ bản Các tài liệu đề cập đến vấn đề sử dụng câu hỏi dới nhiều góc độ khác nhau nhng đều thống nhất ở việc khẳng định sự cần thiết của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học
Tài liệu trong nớc:
- Vấn đề đặt câu hỏi của giáo viên ở lớp kiêm tra đánh giá việc học tập của“
học sinh” của Nguyễn Đình Chỉnh NXB Giáo dục Hà Nội – 1995 Trong tác
phẩm này, tác giả đã nêu lên sự cần thiếtcủa việc đặt câu hỏi trong quá trình dạy học, nêu lên những yêu cầu khi đặt câu hỏi cho học sinh và trình bày một số loại câu hỏi sử dụng trong dạy học, kiểm tra, đánh giá
- “Dạy văn cho học sinh tiểu học” của Hoàng Hoà Bình (NXB GD – 2000)
Trang 9sinh hiểu và cảm nhận đợc vẻ đẹp của tác phẩm văn học Theo Hoàng Hoà Bình thì:
“Những câu hỏi thông minh đặt đúng chỗ có thể làm cho trẻ nhìn thấy nhiều điều ẩn tàng sau những hàng chữ” ( 4 ; 95)
- “Dạy học đọc hiểu ở tiểu học” của Nguyễn Thị Hạnh (NXBGD-2002) đã
đề cập đếnvấn đề sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập trong dạy đọc hiểu xem đó
là phơng tiện chủ chốt để thực hiện quan điểm dạy học mới – Quan điểm dạy học hớng vào ngời học
- “Dạy học tập đọc”, Lê Phơng Nga ( NXBGD – 2002) đã phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học tập đọc, đồng thời đề ra một số phơng pháp và hình thức dạy học nhằm nâng cao chất lợng dạy học phân môn tập đọc ở tiểu học Ngoài những tài liệu trên còn có một số bài báo đợc công bố trên các tạp chí nghiên cứu giáo dục, một số luận văn của sinh viên, học viên cao học có liên quan đến đề tài
Nh vậy nhìn vào hệ thống các tài liệu nói về vấn đề sử dụng câu hỏi trong dạy học, chúng tôi thấy vấn đề sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc không phải
là một vấn đề mới nhng nó có ý nghĩa cấp thiết vì cha có tài liệu nào đi sâu và xây dựng quy trình cụ thể Chính vì vậy trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu có trớc, chúng tôi vận dụng vào việc thiết kế và đề xuất biện pháp sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc ở lớp 1, 2, 3
1.2 Một số khái niệm cơ bản:
1.2.1 Định nghĩa câu hỏi:
Trong cuộc sống, chúng ta thờng xuyên gặp và phải giải quyết vô số các câu hỏi Khi nói đến câu hỏi ngời ta thờng xét trên hai mặt: Nội dung và hình thức
2 Về mặt nội dung: Câu hỏi là những câu nêu lên điều cha biết hoặc còn hoài nghi mà ngời nói muốn ngời nghe trả lời
2 Về mặt hình thức: Câu hỏi có nhng dấu hiệu đặc trng nh :
+ Cuối câu có dấu chấm hỏi (?)
+ Có các từ để hỏi: ai; gì; nào; thế nào; sao; bao nhiêu; bao giờ ; bao lâu; mấy;đâu đặt vào vị trí của thành phần nghi vấn.…
Trang 10+ Các phụ từ : có không;đã; cha; rồi phối hơp với nhau tạo thành khuôn…mẫu câu hỏi.
+ Có từ “hay”đặt tại giữa hai vế câu dể thể hiện sự nghi vấn lựa chọn
+ Có các hình thái từ dặt ở cuối câu: à; ừ; hả; hở; chứ; chớ; nhỉ; nhé…
Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng có những câu hỏi không đặt ra yêu cầu phải trả lời Đó là những trờng hợp dùng hình thức câu hỏi nhng để khẳng định hoặc phủ định, bác bỏ một điều hoặc để thúc dục, sai khiến một hành động hoặc
để đánh thức, can ngăn, đe doạ hay từ chối một điều gì đó, cũng có thể dể bộc lộ một tình cảm, một cảm xúc trớc một sự việc hành động nào đó
1.2.2 Câu hỏi trong dạy học.
1.2.2.1 Khái niệm câu hỏi trong dạy học.
Dạy học la một quá trình thống nhất bao gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của thầy và hoạt động của trò Hai hoạt động này gắn bó với nhau và phán ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học Do vậy, câu hỏi trong quá trình dạy học
là câu hỏi do giáo viên hoặc học sinh đa ra trong quá trình dạy học nhằm gợi mở
để làm sáng tỏ những vấn đề mới Từ đó rút ra những kết luận cần thiết từ những tài liệu đã học hoặc những kinh nghiệm đợc tích luỹ trong thực tiễn cuộc sống hoặc tổng kết ôn tập, củng cố, mở rộng đào sâu tri thức hoặc kiểm tra kết quả học tập của học sinh
1.2.2.2 Phân loại câu hỏi trong dạy học:
Hiện nay, có nhiều cách phân loại câu hỏi trong dạy học Sau đây chúng tôi xin trình bày một số cách phân loại phổ biến
2 Phân loại theo đặc điểm :
Nếu coi câu hỏi là một trong những thành phần của bộ máy tổ chức, lĩnh hội, cho phép ta chia ra làm 3 nhóm câu hỏi sau:
+ Nhóm câu hỏi thứ nhất là các câu hỏi thực hiện chức năng củng cố tri thức nh: Tái hiện những điều đã học, hệ thống hoá bớc đầu các sự kiện, khái niệm rèn luyện các kỹ năng
Trang 11+Nhóm câu hỏi thứ hai: Là những câu hỏi góp phần làm cho học sinh nắm vững tính lôgic và các phơng pháp t duy sáng tạo gồm: Hoạt động phân tích, tổng hợp
độc lập nh so sánh khái quát, đánh giá rút ra kết luận, đào sâu làm giàu hệ thống tri thức
+ Nhóm câu hỏi thứ ba: Là những câu hỏi đòi hỏi ứng dụng những tri thức đã đợc học vào thực tế: Thể hiện các hành động, hình thành công việc, thể hiện việc ứng dụng các kỹ năng
2 Phân loại dựa vào tiến trình bài dạy gồm:
+ Câu hỏi kiểm tra bài cũ: Là những câu hỏi dùng để kiểm tra những kiến thức
đã học
+ Câu hỏi để dạy bài mới: Là những câu hỏi giúp học sinh khai thác bài học.+ Câu hỏi củng cố: Để củng cố kiến thức đã học
2Phân loại dựa vào mục đích gồm các loại:
+ Câu hỏi gợi mở: Giáo viên khéo léo dẫn dắt học sinh bằng các câu hỏi để các
2Phân loại theo hình thức thực hiện gồm :
+ Câu hỏi trả lời miệng
thực hiện gồm có : Câu hỏi dành cho cả lớp, câu hỏi dành cho nhóm học sinh, câu hỏi dành cho cá nhân, câu hỏi dùng cho học sinh đại trà, câu hỏi dùng cho
Trang 122 Phân loại theo mức độ tính độc lập của học sinh; tức xét đến đặc điểm hoạt động của học sinh khi tìm câu trả lời: Nh những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh tái hiện chi tiết, câu hỏi yêu cầu học sinh giải thích, cắt nghĩa, câu hỏi yêu cầu học sinh bàn luận, phát biểu ý kiến chủ quan, sự đánh giá của mình Theo cách chia này có thể chia câu hỏi thành các loại :
Việc phân loại câu hỏi thành một hệ thống lôgic chặt chẽ là một việc làm khó khăn Vì vậy cần lu ý rằng, phân loại câu hỏi chỉ có ý nghĩa tơng đối nhằm tìm ra cách sử dụng hợp lý
1.3 Câu hỏi trong dạy học tập đọc.
Câu hỏi đợc sử dụng rộng rãi trong tất cả các môn học Tuy nhiên, tuỳ từng môn học, câu hỏi có đặc điểm và ý nghĩa riêng
1.3.1 Đặc điểm của câu hỏi trong dạy học tập đọc.
Câu hỏi có vai trò quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học tập
đọc các lớp 1, 2, 3 nói riêng Đó là “Vấn đề cơm ăn nứơc uống hàng ngày” nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quá trình lĩnh hội Nó gồm các đặc điểm sau:
2 Câu hỏi trong dạy học tập đọc khác với câu hỏi thông thờng trong cuộc sống Trong cuộc sống những câu hỏi đợc đặt ra do ngời hỏi cha biết hoặc biết một cách mơ hồ về điều đó Còn câu hỏi trong dạy học tập đọc không phải là những câu hỏi đa ra để đánh đố học sinh mà là những câu hỏi mở để hớng học sinh vào khai thác bài học Qua đó học sinh nắm đợc những tri thức, kỹ năng nhằm phục vụ cuộc sống và học tập
2Các câu hỏi đa ra phải có tính mục đích rõ ràng, mục đích của các câu hỏi là những kiế thức, kỹ năng cần đem đến cho học sinh Đáp án của những câu hỏi chính là những kiến thức cần đạt, sao cho trong quá trình tìm ra câu trả lời học
Trang 132Những căn cứ để soạn thảo các câu hỏi đó là môn học và đối tợng tiếp nhận Tức là căn cứ vào ngôn ngữ học và s phạm học ở đâychính là các bài tập đọc và học sinh cá lớp 1, 2, 3.
2Câu hỏi ở đây đợc hiểu theo quan điểm coi câu hỏi là khái niệm rộng nhất
Nó bao gồm cả câu hỏi và bài tập Tuỳ theo yêu cầu và độ khó khi giải quyết, và
có khi là câu hỏi, có khi là bài tập
Những câu hỏi và nội dung của nó đã bộc lộ rõ ràng học sinh chỉ cần huy động vốn kiến thức đã học hoặc tìm kiếm trong SGK là có thể trả lời đợc mà cha yêu cầu t duy cao thì đó là những câu hỏi thông thờng
Ví dụ: Ngời ông đanh những quả đào cho ai?
(Những quả đào – TV2 –T2)Còn những câu hỏi mà để trả lời đợc nó, học sinh phải sử dụng những kiến thức đã học và trải qua những thao tác phức tạp để giải quyết những nhiệm vụ khó khăn hơn thì đó là bài tập
Ví dụ: Tóm tắt ý của mỗi đoạn bằng cách điền tiếp ý kiến vào từng chỗ trống
2Đoạn 1: Tả vẻ đẹp của…
2Đoạn 2: Tả vẻ đẹp của…
2Đoạn 3: Tả cảm xúc của…
(Ngôi trờng mới – TV2 – T1)
Nh vậy, dựa vào đặc điểm chung để chúng ta có thể xây dựng hệ thống câu hỏi cho từng bài tập đọc ở các lớp 1, 2, 3
ý nghĩa của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc lớp 1, 2, 3.
Nói đến vai trò của câu hỏi trong dạy học tập đọc tác giả Lê Phơng Nga đã khẳng định “Phơng pháp dạy học tập đọc mới đòi hỏi chúng ta phải xây dựng giờ học thành một hệ thống việc làm mà việc thực hiện chúng nh một lôgic tất yếu sẽ
đem lại kết quả giờ học ở phía học sinh Chính vì vậy, bài tập, câu hỏi rất quan trọng trong giờ học tập đọc Để tiến hành giờ dạy giáo viên phải xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập thích hợp Khi xem xét hệ thống câu hỏi, bài tập chúng
Trang 14ta có thể dễ dàng hình dung đích của giờ dạy, trình tự lên lớp của giáo viên cũng
nh dự tính đợc kết quả của một giờ tập đọc (1; 136)
Nh vậy, việc sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học tập đọc nói chung, dạy học tập đọc lớp 1, 2, 3 nói riêng có ý nghĩa to lớn trong việc định hớng cho những hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh, làm cho các hoạt động đó không đi lệch mục tiêu của giờ dạy Mặt khác sử dụng hệ thống câu hỏi trong giờ dạy học tập đọc lớp 1, 2, 3 góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục là
đào tạo ngững con ngời phát triển toàn diện cả về ba mặt: Giáo dục, giáo dỡng và phát triển
Về mặt giáo dỡng:
- Qua việc trả lời các câu hỏi, học sinh nắm đợc kiến thức của bài học, trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học, phát triển t duy và mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống Qua việc trả lời các câu hỏi tái hiện, phát hiện học sinh có thể tạo cho mình biểu tợng về các sự vật, hiên tợng
Ví dụ: Qua việc trả lời các câu hỏi trong bài “Cây đa quê hơng”, học sinh hiểu đợc đặc điểm, tác dụng của cây đa…
- Có một nhà tâm lí đã khẳng định: “Chỉ có trong phát triển t duy, học sinh mới có thể hiểu rõ bản chất của hiện tợng một cách có hiệu quả” Chính vì vậy trong quá trình tìm kiếm câu trả lời, kết quả học sinh tìm đợc là những tri thức của bài học sẽ khắc ghi bền vững trong trí nhớ Nhờ đó trí tuệ của các em đợc mở mang, nhận thức đợc nâng cao
- Với hệ thống câu hỏi đợc xây dựng hợp lí ngay từ đầu giúp cho ngời dạy
và ngời học đi đúng hớng Tránh đợc tình trạng lan man mà vấn đề cốt lõi vẫn không giả quyết đợc
Về mặt phát triển :
- Tập đọc là môn thực hành tiếng việt Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc đợc tạo ra từ bốn kỹ năng bộ phận cũng chính là bốn yêu cầu về chất lợng của đọc: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc
có ý thức và đọc hay Thông qua việc tìm kiếm, trả lời câu hỏi mà kỹ năng này
Trang 15đ Để trả lời đựơc các câu hỏi giáo viên đa ra trong giờ học, học sinh phải kết hợp một lúc nhiều hoạt động vừa lắng nghe vừa phải theo dõi tài liệu, huy động trí nhớ, suy nghĩ để tìm ra đáp án và trình bày đáp án Quá trình đó giúp cho học sinh có tính linh hoạt, nhạy bén trớc nhiệm vụ nhận thức Đồng thời góp phần nâng cao năng lực nhận thức, t duy của học sinh, cũng nh khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu Mặt khác các kỹ năng đọc, nghe, nói của học sinh cũng đợc củng cố và phát triển.
- Việc trả lời các câu hỏi gúp học sinh bồi dỡng đợc ngôn ngữ, biết cách diễn đạt ý kiến của mình một cách trong sáng, ngắn gọn, súc tích Đồng thời giúp học sinh mạnh dạn tự tin khi trình bày ý kiến của mình
Về mặt giáo dục:
- Giáo dục thấm mỹ, tình cảm đạo đức là một trong những nhiệm vụ của day học tập đọc ý nghĩa giáo dục của câu hỏi đợc thể hiện trớc hết ở nội dung câu hỏi đề cập đến Một khi câu hỏi đợc giải đáp thì nó tác động mạnh mẽ đến tình cảm, thái độ của học sinh Các em thấy đợc cái hay, cái đẹp của các hình t-ợng nghệ thuật, bồi dỡng t tởng, tình cảm, và tâm hồn trong sáng, lành mạnh Từ
đó các em biết yêu cái thiện, cái đẹp và xây dựng cho mình ýthức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu
- Mặt khác, việc tìm kiếm câu trả lời rèn luyện cho các em đức tính cần cù, chịu khó lòng kiên nhẫn vợt qua khó khăn hình thành ở các em lòng ham muốn
đọc sách, tìm tòi khám phá
- Việc sử dụng câu hỏi giúp giáo viên khai thác đợc vốn sống, vốn kinh nghiệm của học sinh Qua việc trả lời câu hỏi, giáo viên thấy đợc những u điểm, năng lực cũng nh những khuyết điểm, thái độ lệch lạc của học sinh Từ đó giáo viên có biện pháp phù hợp để phát huy năng lực của từng cá nhân đồng thời uốn nắn sửa chũa kịp thời những sai lầm trong cách hiểu của các em nhằm tạo ra những con ngời toàn diện vừa có tài, vừa có đức
Nh vậy, hệ thống câu hỏi trong dạy học có vai trò chủ đạo, có tính chất quyết định đối với chất lợng lĩnh hội của học sinh Nó tạo điêu kiện cho các em
Trang 16vậy, việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc ở lớp 1, 2, 3 là cần thiết, góp phần nâng cao chất lợng giờ học.
1.4 Khái quát về phân môn tập đọc ở lớp 1, 2, 3.
1.4.1 Mục đích, yêu cầu.
Phát triển các kỹ năng nghe, đọc, nói cho học sinh
+ Đọc thành tiếng:
− Phát âm đúng
− Ngắt hơi hợp lý
− Cờng độ đọc vừa phải
− Tốc độ đọc vừa phải (không ê, a ngắc ngứ đạt yêu cầu khoảng 10 tiếng/phút - đối với lớp1; 50 tiếng/1 phút - đối với lớp 2; 70- 80 tiếng/1 phút -
đối với lớp 3 )
+ Đọc thầm và hiểu nội dung:
− Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi
− Hiểu đợc nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh, nắm đợc nội dung của câu,
đoạn hoặc bài đã học
+ Nghe:
− Nghe và nắm đợc cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài
− Nghe – hiểu các câu hỏi và yêu cầu cảu thầy cô
− Nghe – hiểu và có khẳ năng nhận xét ý kiến của bạn
+ Nói:
− Biết trao đổi với bạn trong nhóm về bài đọc
− Biết trả lời các câu hỏi về bài đọc
Trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học, phát triển t duy mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống:
− Làm giàu và tích cực hoá vốn từ, vốn diễn đạt
− Bồi dõng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình thành
Trang 17đọc thời khoá biểu, nhận và gọi điện thoại, điền vào tờ khai, làm đơn, viết th, phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của trờng lớp…
− Phát triển một số thao tác t duy cơ bản: Phân tích, tổng hợp phán đoán
Bồi dỡng t tởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, biết yêu cái
đẹp, cái thiện, thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, hứng thú đọc sách
và yêu thích tiếng việt, cụ thể:
− Bồi dỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn và yêu quý đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô Yêu trờng lớp, doàn kết giúp đỡ bạn bè, vị tha nhận hậu
− Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện xã giao tối thiếu
− Từ những mẫu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình thành lòng ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn học, cảm thụ vẻ đẹp của tiếng việt và tình yêu tiếng việt
Gia đình
Bàn tay mẹ – Cái bống – Vẽ ngựa – Ngôi nhà - Quà của bố – Bây giờ mẹ mới về – Ngỡng cữa – Kể cho bé nghe – Hai chị em – Bác đa th- Làm anh – Ngời trồng mạ.
Trang 18Lớp 2: Gồm 93 bài sắp xếp trong 15 chủ điểm.
Chủ điểm Bài đọc.
Em là học sinh
− Có công mài sắt có ngày nên kim.
− Tự thuật – Ngày hôm qua đâu rồi – Phần thởng.
Thầy cô Ngời thầy cũ – Thời khoa biểu – Cô giáo lớp em – Ngời mẹ
hiền – Bàn tay dịu dàng - Đổi giày.
Ông bà Sáng kiến của bé Hà - Bu thiếp – Thơng ông – Bà cháu – Cây
xoài của ông em - Đi chợ.
Cha mẹ Sự tích cây vũ sữa - Điện thoại – Mẹ – Bông hoa niềm vui –
Quà của bố – Há miệng chờ sung.
Anh em Câu chuyện bó đũa – Nhắn tin – Tiếng võng kêu – Hai anh
em – Bé Hoa – Bán chó.
Bạn trong nhà Con chó nhà hàng xóm – Thời gian biểu - Đàn gà mới nở –
Tìm ngọc – Gà tỉ tê với gà - Thêm sừng cho ngựa.
Bốn mùa Chuyện bốn mùa - Lá th nhầm địa chỉ - Th trung thu - Ông mạnh
thắng thần gió - mùa xuân đến - mùa nớc nổi.
Chim chóc
Chim sơn ca và bông cúc trắng - Thông báo của th viện vờn chim – Vè chim – Một trí khôn hơn trăm trí khôn – Chim rừng tây nguyên – Cò và cuốc.
Muôn thú Bác sĩ sói – Nội quy đảo khỉ – S tử xuất quân – quả tim khỉ
– Gấu trắng là chúa tò mò- Voi nhà.
Sơn Tinh, Thuỷ Tinh – Dự báo thời tiết – Tôm càng và cá con
Trang 19nát quả cam – Lá cờ – Lợm – Ngời làm đồ chơi - Đàn bê của anh Hồ giáo – Cháy nhà hàng xóm.
Lớp 3: Gồm 93 bài sắp xếp trong 15 chủ điểm
Măng non Cậu bé thông minh; Hai bàn tay em; Đơn xin vào đội;
Ai có lỗi? Khi mẹ vắng nhà; Cô giáo tí hon.
Mái ấm Chiếc áo len; Quạt cho bà ngủ; Chú sẻ và bông hoa
bằng lăng; Ngời mẹ; Mẹ vắng nhà ngày bão; Ông ngoại Tới trờng
Ngời lính dũng cảm; Mùa thu của em; Cuộc họp của chữ viết; Bài tập làm văn; Ngày khai trờng; Nhớ lại buổi
đầu đi học.
Cộng đồng Trận bóng dới lòng đờng; Lừa và ngựa; Bận; Các em
nhỏ và cụ già; Tiếng ru; Những chiếc chuông reo.
Quê hơng Giọng quê hơng; Quê hơng; Th gửi bà; Đất quý đất
yêu; Vẽ quê hơng; Chõ bánh khúc của gì tôi
Anh em một nhà
Nắng phơng nam; Cảnh đẹp non sông; Luôn nghĩ đến miền nam; Ngời con của Tây Nguyên; Vàm cỏ đông; Cửa Tùng; Ngời liên lạc nhỏ; Nhớ việt Bắc; Trờng tiểu học vùng cao; Hũ bạc của ngời cha; Nhà bố ở; Nhà rông
Hai bà trng; Bộ đội về làng; Báo cáo kết quả tháng thi
đua noi gơng chú bộ đội.
ở lại với chiến khu; Chú ở bên bác Hồ; Trên đờng mòn
Nhà ảo thuật; Em vẽ Bác Hồ; Chơng trình xiếc đặc sắc;
Đối đáp với vua; Mặt trời mọc ở đằng tây; Tiếng đàn.
Trang 20Nghệ thuật
Hội vật; Hội đua voi ở tây nguyên; Ngày hội rừng xanh;
sự tích lễ hội Chử Đồng Tử; Đi hội chùa hơng; Rớc đèn
ông sao.
Lễ hội
Cuộc chạy đua trong rừng; Cùng vui chơi; Tin thể thao; Buổi học thể dục; Bé thành phi công; Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục.
Thể thao
Gặp gỡ ở Lúc-xăm-bua; Một mái nhà chung; Ngọn lửa
ô-lim-pích; Bác sĩ Y-éc-xanh; Bài hát trồng cây; Con cò; Ngời đi săn và con vợn; Mè hoa lợn sóng; Cuốn sổ tay.
Ngôi nhà chung
Cóc kiện trời; Mặt trời xanh của tôi; Quà của đồng nội;
Sự tích chú cuội cung trăng; Ma; Trên con tàu vũ trụ.
Bỗu trời và mặt đất Cóc kiện trời; Mặt trời xanh của tôi; Quà của đồng nội;
Sự tích chú cuội cung trăng; Ma; Trên con tàu vũ trụ.
Nh vậy, các ngữ liệu đợc đa vào để dạy tập đọc rất đa dạng và phong phú
về nội dung và thể loại văn bản Bao gồm văn bản nghệ thuật và văn bản thông thờng nh: Khoa học, truyền thông, báo chí hành chính.Tỉ lệ các loại văn bản
- Các bài tập đọc đợc xây dựng theo quan điểm giao tiếp
Bên cạnh việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghe, nói, viết, thông qua hệ thông bài học phân môn tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con ngời, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học, góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh
- Phân môn tập đọc xây dựng theo quan điểm tích hợp với các phân môn khác: Từ ngữ, tập làm văn, chính tả, kể chuyện Tích hợp còn đợc thể hiện ở nội dung và phơng pháp dạy hợp với nhiều mức độ và hình thức khác nhau theo giai đoạn phát triển nhận thức của trẻ em lứa tuổi tiểu học
- Các bài tập tập đọc đa vào ở chơng trình các lớp 1, 2, 3 đơn giản, ngắn gọn, súc tích, gần gũi với đời sống hàng ngày của các em
Trang 21Quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức của học sinh Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, gioá viên không thể không quan tâm đến đặc điểm nhận thức của học sinh Tuỳ theo nhận thức của từng đối tợng để tìm ra các biện pháp, phơng pháp dạy học thích hợp nhằm nâng cao chất lợng dạy học Qua việc tìm hiểu các tài liệu tâm lí và tìm hiểu thực tế, chúng tôi thấy một số đặc điểm nhận thức của học sinh 1, 2, 3 nh sau:
- Học sinh các lớp này đang ở trong giai đoạn làm quen với hoạt động học là hoạt động chủ đạo Chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý thức cha mạnh ở lứa tuổi này, chú ý không chủ định phát triển Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ thờng dễ luôi cuôn sự chú ý của các
em Tuy nhiên, sự tập trung chú ý của các em học sinh các lớp 1, 2, 3 còn yếu, thiếu bền vững dễ bị phân tán Đó là do quá trình ức chế bộ não của các em còn yếu Vì vậy các em dễ quên những yêu cầu của cô giáo Để hạn chế điều đó, những câu hỏi giáo viên đa ra cần ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, có thể trình bài bằng phiếu bài tập
- T duy của học sinh ở giai đoạn này chủ yếu là t duy trực quan hình tợng Năng lực phân tích của học sinh cha phát triển Ví dụ: khi phân tích các nhân tố của tác phẩm, các em dễ dàng phân tích đợc những hành độngvẻ ngoài của nhân vật vì đó là những đặc điểm thể hiện trực quan dễ nhận biết Nhng các em khó đa
đề, sự khái quát thờng vội vã thiếu chiều sâu Do vậy những câu hỏi tìm đại ý của bài tơng đối khó đối với các em Đó là do vốn sống của các em con nghèo, trình
độ nhận thức còn hạn chế, làm cho các em không thể thể hiện đúng hết những
Trang 22suy nghĩ của mình Trong quá trình học tập khả năng chú ý và năng lực t duy của các em đợc phát triển và nâng cao dần.
- Đặc biệt ở lứa tuổi này, nhu cầu nhận thức của các em phát triển rõ rệt Các em có nhu cầu hiểu biết thể giới xung quanh Nhu cầu nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần Nhu cầu này có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của trí tuệ nó thôi thúc trẻ vơn tới lâu đài trí thức của nhân loại, tới đỉnh cao của khoa học và nghệ thuật Đây là điều kiện tốt để giúp giáo viên có thể tổ chức hoạt động cho học sinh đạt hiệu quả cao
- Để giờ học có hiệu quả cao giáo viên cần hiểu rõ đặc điểm nhận thức, đặc
điểm trình độ của học sinh Việc tìm hiểu là một quá trình lâu dài nhng rất cần thiết Giáo viên phải hiểu rõ những u điểm và hạn chế của học sinh để từ đó có biện pháp để phát huy những u thế và khắc phục những hạn chế của học sinh
Trang 23Chơng II.
Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
2.1.Thực trạng nhận thức của giáo viên trong việc sử dụng câu hỏi để dạy học tập đọc.
Vấn đề phơng pháp dạy học tập đọc đợc các nhà s phạm quan tâm nghiên cứu và đợc đề cập trong các tài liệu trong và ngoài nớc khá phong phú Nhng các tài liệu đều thống nhất ở việc nhận thức đợc vai trò quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc Tác giả Lađden Xcaia quan niệm: Nhiệm vụ cơ bản đề ra trong phát triển lời nói là tổ chức các hoạt động học tập, hoạt động gắn liền với văn bản có sẵn, việc tổ chức này thành công nhiều hay ít chủ yếu là do hệ thống câu hỏi, bài tập quyết định
T.S Lê Phơng Nga, Nguyễn Thị Hạnh cũng đã khẳng định sự cần thiết của việc sử dụng câu hỏi trong quá trình dạy học tập đọc nhằm nâng cao chất lợng dạy học và thực hiện quan điểm đổi mới phơng pháp dạy học
Tuy nhiên, trong thực tế giáo viên vẫn cha nhận thức đợc hoặc nhận thức sai vai trò của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc nên trong thực tế giờ tập
đọc vẫn là thầy diễn giảng, làm mẫu, trò làm theo, nhắc lại lời thầy, lời văn bản
Để tìm hiểu tình hình nhận thức của giáo viên đối với việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc lớp 1, 2, 3 Chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra nhận thức của giáo viên về việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc lớp 1, 2, 3 cho
100 giáo viên của các trờng: Tiểu học Hội Sơn – Anh Sơn – Nghệ An; Trờng tiểu học Lê Lợi – Thành phố Vinh; Trờng tiểu học Lê Mao - Thành phố Vinh
Trang 24Kết quả cho thấy:
- Có đến 62% giáo viên cho rằng việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập
đọc các lớp 1, 2, 3 là không cần thiết Vì theo họ, mục đích chính của việc dạy học tập đọc là dạy học sinh đọc nên chỉ cần học sinh đọc đúng là đạt yêu cầu
- 59,5% giáo viên không tán thành việc cho học sinh làm các câu hỏi dới dạng bài tập trong giờ tập đọc và không coi đây là một hoạt động học tập
- 80% giáo viên con lúng túng trong việc tổ chức cho học sinh trả lời các câu hỏi trong giờ tập đọc
- 75%giáo viên cho rằng phơng pháp sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc không phát huy đợc tính tích cực hoạt động tích cực của học sinh
- 83,5% giáo viên vẫn coi việc sử dụng phơng pháp diễn giảng, đàm thoại là phơng pháp dạy học chủ đạo trong giờ tập đọc
2.2 Thực trạng của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc các lớp 1, 2,
3 hiện nay
Trong thực tế dạy học hiện nay, khi dạy học tập đọc ở các lớp 1, 2, 3 giáo viên vẫn chủ yếu sử dụng các phơng pháp dạy học hớng vào hoạt đông của ngời dạy nh phơng pháp làm mẫu, thuyết trình giảng giải Ph… ơng pháp dạy học này nặng về truyền thụ một chiều, học sinh thụ động tiếp thu kiến thức Giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào chơng trình và tài liệu học có sẵn đợc thiết kế về lí thuyết theo một hệ thông chặt chẽ chung cho mọi học sinh, chung cho mọi hoàn cảnh Hầu hết giáo viên chỉ sử dụng các câu hỏi có sẵn trong SGK Các loại câu hỏi thờng đợc sử dụng là:
- Loại thứ nhất: Câu hỏi nhắc lại nôi dung miêu tả, nội dung thông tin của văn bản Những câu hỏi này bao gồm các dạng :
+ Nhắc lại những từ ngữ tạo nghĩa chính trong câu
- Ví dụ: Tìm những từ ngữ giúp em cảm nhận đợc vẻ đẹp riêng của mỗi loài chim?
(Mùa xuân đến - TV2 – T2)
+ Nhắc lại một câu hoặc một nhóm câu thể hiện trong tâm ý của đoạn
Trang 25Ví dụ: Tìm những chi tiết cho thấy Quang rất ân hận trớc tai nạn do mình gây ra?
(Trận bóng dới lòng đờng- TV3 – T1)
+Tìm chi tiết trong bài để minh hoạ một nhận định, một nhận xét về bài đọc
Ví dụ: Chi tiết nào nói lên tình cảm tha thiết của các nhân vật đối với quê
h-ơng?
(Giọng quê hơng -TV3 – T1)
- Loại thứ hai: câu hỏi làm rõ những ý bỏ lửng, những hàm ngôn, hàm ẩn trong bài Loại câu hỏi này gồm các dạng sau:
+ Câu hỏi làm rõ mối liên hệ giữa các sự kiện, tình tiết trong bài
Ví dụ: Vì sao thầy giáo không trách An khi biết bạn ấy không làm bài tập? (Bàn tay dịu dàng - TV2 – T1)
+ Câu hỏi làm rõ nghĩa hàm ẩn trong bài
Ví dụ: Em hiểu ý hai dòng thơ cuối bài thơ nh thế nào?
(Quê hơng - TV3 - T1)
- Loại thứ ba : Lập dàn ý của bài, loại này chiếm tỉ lệ rất ít, gồm những dạng sau:
+ Cho trớc sự phân đoạn rồi yêu cầu tìm ý từng đoạn
Ví dụ: Tìm những câu thơ cho thấy cả nhà luôn nghĩ đến nhau?
(Mẹ vắng nhà ngày bão – TV3 – T1)+Cho trớc ý của đoạn văn rồi yêu cầu tìm đoạn trong bài
Ví dụ: Tìm đoạn văn tơng ứng với từng nội dung sau:
.a Tả ngôi trờng từ xa
.b Tả lớp học
.c Tả cảm xúc của học sinh dớ mài trờng mới
(Ngôi trờng mới – TV2 – T1)
- Loại thứ t: câu hỏi yêu cầu phát biểu đại ý của bài
Ví dụ: Câu lục bát nào nào nói lên ý chính của cả bài thơ?
(Tiếng ru – TV3 – T1)
Trang 26- Loại thứ năm: câu hỏi nhận biết giá trị nghệ thuật của các từ ngữ, câu văn chi tiết h cấu Loại câu hỏi này gồm các dạng:
+ Nhận biết những câu văn hay, gợi hình, gợi cảm
Ví dụ: Tìm những câu thơ tả ánh nắng và bầu trời trên quảng trờng Ba Đình vào mùa thu?
Ví dụ: Câu chuyện khuyên em điều gì ?
(Kho báu – TV2 – T2)
Qua câu chuyện em nghĩ gì về giọng quê hơng?
(Giọng quê hơng – TV3 – T1)
Dựa vào những câu hỏi đã thống kê, chúng tôi thấy:
- Hệ thống câu hỏi và bài tập giáo viên sử dụng chỉ tập trung vào những câu hỏi tái hiện và phát hiện…
- Trong hệ thống câu hỏi đó, gần nh vắng mặt hoàn toàn của các câu hỏi nhằm rèn luyện các kỹ năng đọc đúng, đọc thầm, đọc lớt Cha có mặt các câu hỏi tìm nghĩa từ mới, nhận diện các đoạn ý trong văn bản Còn thiếu vắng những câu hỏi bộc lộ sự tiếp nhận nội dung văn bản, đích tác động của ngời viết gửi vào văn bản
Nh vậy, hệ thống câu hỏi mà giáo viên sử dụng cha toàn diện, hình thức câu hỏi cha phong phú nên việc thực hiện mục tiêu bài học còn hạn chế
Trang 27Mặt khác, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc sử dụng câu hỏi nên cha phát huy đợc tính tích cực của các câu hỏi Nhiều giáo viên chỉ sử dụng câu hỏi nhcái cớ để bình giảng, thuyết trình những điều mình hiểu Có lúc giáo viên cũng yêu cầu học sinh đặt câu hỏi để khai thác bài Tuy nhiên việc làm đó chỉ mang tính hình thức do đó không phát huy đợc vai trò tích cực hoạt động của học sinh và bản chât của giờ dạy vẫn là dạy học truyền thống: Thầy giảng – trò nghe.
2.3 Hiệu qủa của việc sử dụng câu hỏi trong việc thực hiện mục tiêu của bài tập đọc.
Nhìn về đại thể, phơng pháp dạy học tập đọc vẫn cha vợt khỏi quỹ đạo của
ph-ơng pháp dạy học truyền thống đã hình thành hàng trăm năm trớc Đó là phph-ơng pháp dạy học hớng vào hoạt động của ngời dạy và chủ yếu củng cố hoạt động của ngơì thầy nh: Làm mẫu (đọc mẫu, đa ra cách đọc), đàm thoại (hỏi, đáp); diễn giảng (giảng từ giảng ý) Song ngày càng nhận thức đợc tầm quan trọng của phơng pháp dạy học trong việc nâng cao chất lợng giáo dục, các cấp quản lý giáo dục đã tổ chức các buổi hội thảo, các buổi thao giảng nhằm đổi mối phơng pháp dạy học Nhờ đó, các phơng pháp dạy học truyền thống đợc cái tiến và vận dụng theo hớng phát huy tích cực của ngời học Điều đó đã dẫn đến việc xuất hiện một số yếu tổ mới trong cách tổ chức dạy học Các môn học nói chung và môn tập đọc nói riêng Trong quá trình dạy học môn tập đọc Nhiều giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi kết hợp với các phơng tiện dạy học, hình thức dạy học mới Nhờ đó, giờ dạy tập đọc phần nào tránh đợc tình trạng dạy bài tập đọc giống nh dạy bình giảng lúc giảng văn chơng, học sinh đợc chủ động trong việc tìm kiếm và tiếp nhận tri thức trong bài Mặt khác một số giáo viên đã sử dụng vở bài tập tiếng việt để làm phơng tiện trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lợng dạy học tập đọc
Mặc dù đã có những thành công đáng ghi nhận trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi để dạy học tập đọc Song trong thực tế, những thành công đó cha phải là nhiều Việc sử dụng câu hỏi trong việc thực hiện mục tiêu của bài tập đọc vẫn còn nhiều hạn chế:
- Giáo viên chỉ mới chú ý đến việc hớng dẫn rèn luyện kỹ năng đọc còn kỹ năng nghe, nói kỹ năng thông hiếu nội dung văn bản cha đợc chú trọng Do đó,
Trang 28giờ tập đọc chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh đọc nhanh, đọc đúng còn kỹ năng nghe, nói và cảm thụ văn bản còn hạn chế.
- Học sinh cha chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập và sáng tạo, năng lực cá nhân của học sinh không có điều kiện để bộc lộ và phát triển Điều đó đã làm giảm hứng thú học tập của học sinh
- Cha hình thành đợc ở học sinh thói quen đọc và suy nghĩ Đọc và trải nghiệm bản thân để từ đó rút ra cho mình bài học về nhận thức, về tình cảm, về hành vi, thái độ Mà hình thành cho học sinh cách học đơn giản và thụ động
2.4 Nguyên nhân của thực trạng.
2.4.1-Về phía giáo viên:
Qua việc điều tra, thăm giò ý kiến, tìm hiểu quan niệm của giáo viên về câu hỏi trong dạy học tập đọc, cách thức sử dụng câu hỏi của giáo viên,đồng thời tìm hiểu xem những khó khăn thờng gặp của giáo viên trong quá trình sử dụng câu hỏi, chúng tôi thấy:
- Hầu hết trong quá trình dạy học tập đọc, giáo viên đều sử dụng câu hỏi Một số giáo viên ít nhiều cũng đã giúp học sinh làm quen với câu hỏi nêu vấn đề bằng cách đặt các câu hỏi gợi mở Tuy nhiên các câu hỏi đó cha thực sự mang tính sâu sắc, Thực tế việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc vẫn còn nhiều bất cập Điều đó do các nguyên nhân sau:
- Do giáo viên cha nắm bắt đợc mục tiêu của dạy học tập đọc, vẫn còn nhiều quan niệm sai lầm về mục tiêu dạy tập đọc
- Một số giáo viên, do trình độ còn hạn chế nên chỉ sử dụng những câu hỏi trong sách giáo khoa Nhiều câu hỏi cần gia công s phạm nhng giáo viên không thực hiện đợc
Ví dụ: Trớc câu hỏi: “Tình cảm, của em học sinh dới mái trờng mới nh thế
nào?” ( Ngôi trờng mới ) Nhiều học sinh lúng túng, không trả lời đợc hoặc trả lời
không chính xác.Vì việc trả lời câu hỏi này là một quá trình Để thực hiện đợc quá trình đó cần hai yếu tố: Trớc hết học sinh phải hiểu đợc từ “Tình cảm” và các
em phải sử dụng một câu nhận định cùng với vài câu chứng minh Đây là một yêu cầu khó đối với học sinh lớp hai Khi đó giáo viên cần phải thay đổi câu trả lời nhng nhiều giáo viên không làm đợc
Trang 29- Các câu hỏi giáo viên đa ra chủ yếu là câu hỏi tái hiện và phát hiện nên học sinh chỉ cần huy động trí nhớ và tìm kiếm trong sách giáo khoa là có thể trả lời đợc do đó không kích thích đợc trí tò mò của học sinh.
- Trong quá trình dạy học, giáo viên chủ yếu dùng phơng pháp thuyết trình, cắt nghĩa giảng giải, nặng về truyền thụ một chiều, học sinh thụ động tiếp thu, giờ tập đọc trở thành giờ giảng văn và đàm thoại trực tiếp giữa giáo viên và học sinh
- Giáo viên tiểu học một mình phải đảm nhiệm tất cả các môn học.Một tuần phải chuẩn bị gần hai mơi tiết dạy của các môn học khác nhau, nên việc đầu t nghiên cứu để soạn các câu hỏi cho một tiết tập đọc gặp nhiều khó khăn
- Mặt khác, một số giáo viên vẫn coi học sinh tiểu học là đối tợng chỉ nghe theo nghe theo và làm theo khuôn mẫu nên họ vẫn còn e ngại khi sử dụng câu hỏi vì sợ học sinh không trả lời đợc làm mất thời gian, bài giảng không hoàn thành
2.4.2 Về phía học sinh.
- Lứa tuổi học sinh lớp 1, 2, 3 ngôn ngữ còn hạn chế nên việc trả lời câu hỏi còn gặp nhiều khó khăn Mặt khác, các em đang ở giai đoạn làm quen với môi tr-ờng học tập nên khi giao lu với thầy cô, bạn bè các em cha mạn dạn, tự tin, còn
có tâm lí sợ sai, sợ các bạn cời Các em cha tự tin vào khả năng của mình Ngoài
ra, do cách giảng dạy của giáo viên không gây đợc hứng thú học tập cho học sinh nên trong quá trình học tập học sinh không tập trung do đó làm giảm kết quả của giờ dạy
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi thấy việc nghiên cứu việc sử dụng“
câu hỏi trong dạy học tập đọc lớp 1,2,3 ” là cần thiết
Trang 30Chơng III:
Một số biện pháp để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng
câu hỏi trong dạy học tập đọc ở các lớp 1, 2, 3.
3.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp.
Câu hỏi giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học mang nhiều yếu tố chủ quan Các câu hỏi phụ thuộc trình độ, thói quen, thế mạnh của từng giáo viên Có giáo viên đặt câu hỏi nặng về trí nhớ, có giáo viên yêu cầu cao t duy, có giáo viên thiên về kỹ năng, có giáo viên chú ý đến yếu tố sáng tạo của học sinh.Tuy nhiên
để đạt đợc mục tiêu của bài dạy thì những câu hỏi đa ra phải hay và có chất lợng Vì vậy các câu hỏi giáo viên đa ra phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
đi theo hớng phân tích nào thì hệ thống câu hỏi phải đảm bảo tính chính xác, đáp ứng yêu cầu tiếp thu và rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh
- Cần tránh những câu hỏi gây khó khăn cho học sinh khi xác định câu trả lời
Ví dụ: trớc câu hỏi: “Vì sao lại nói: Ngày hôm qua chỉ ở lại trên cành hoa,
Trang 31thể hiểu “Vì sao ngày hôm qua chỉ có trên cành hoa, trong hạt lúa, trên vở hồng
mà không ở lại trên những đồ vật khác, cây cối khác?” Do đó học sinh khó có
Ví dụ: Hệ thống câu hỏi trong bài (Bạn của nai nhỏ - TV 2 – T1) nh sau:
- Nai nhỏ xin phép cha đi đâu? Cha Nai nhỏ nói gì ?
- Nai nhỏ đã kể cho cha nghe những hành động nào của bạn mình ?
- Khoanh tròn chữ cái trớc câu trả lời đúng cho câu hỏi sau:
-Bạn của Nai nhỏ là ngời nh thế nào?
Nh vậy, với hệ thống câu hỏi này, giáo viên đã dẫn dắt học sinh đi từ những
Trang 32diện ngôn ngữ; Rồi đến các câu hỏi làm rõ nội dung văn bản (câu 3, 4) Cuối cùng là câu hỏi thực hiện hành động hồi đáp văn bản (câu 6).
3.1.3 Nguyên tắc vừa sức.
Những thành tựu của khoa học hiện đại đã khẳng định: ở mỗi độ tuổi học sinh chỉ có thể nhận thức đợc hoặc làm đợc một số việc nhất định và theo những cách thức nhất định Nếu vợt quá ngỡng nhận thức thì sẽ ảnh hởng đến hiệu quả giáo dục và giáo dỡng Vì vậy việc xây dựng câu hỏi cần tính đến trình độ nhận thức, thiên hớng nhận thức của các em Tính vừa sức không có nghĩa học sinh không cần t duy khi giải quyêt câu hỏi mà thể hiện sự gợi mở khuyến khích học sinh tham gia đồng thời khơi dậy những sáng tạo mới từ ngời học
Mặt khác, vì mỗi lớp có bao nhiêu học sinh thì có bấy nhiêu đối tợng, mỗi
đối tợng có một lăng kính chủ quan riêng Vì vậy các câu hỏi đa ra phải có nhiều mức độ với tỷ lệ sử dụng khác nhau theo từng lớp Làm thế nào để tất cả học sinh
đều hứng thú tham gia vào việc gải quyết các câu hỏi Có nh vậy mới có khả năng nâng cao hiệu quả giờ dạy
Tóm lại, các nguyên tắc này là cơ sở của việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học tập đọc Bảo đảm các nguyên tắc này là điều kiện tiên quyết để đi
đúng hớng mục tiêu của bài tập đọc
3.2 Các biện pháp
3.2.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với mục tiêu của bài tập đọc.
Toàn bộ hoạt động giảng dạy và học tập đều hqớng vào thực hiện mục tiêu dạy học
Mục tiêu dạy học chi phối toàn bộ quá trình dạy học Bởi vậy các biện pháp dạy học phải xuất phát từ mục tiêu bài giảng và phục vụ cho nó Mặt khác, nhchúng ta đã tìm hiểu và thống nhất rằng các nội dung dạy học không thể đem đến cho học sinh dới dạng lý thuyết, diễn giải mà phải thông qua hệ thống việc làm,
hệ thống câu hỏi, bài tập Điều quan trọng là phải xác định đúng mục tiêu, nội dung của bài tập đọc vì nếu chúng ta không nắm đợc mục tiêu thì giống nh ngời
Trang 33không thể chủ động lựa chọn phơng pháp, chủ động tiến hành các bớc lên lớp Ngoài ra, chúng ta cần xét đến tính mức độ trong việc lựa chọn nội dung dạy học, cân nhắc xem những nội dung gì cần dạy cho học sinh.Sau khi xác định đợc mục tiêu, nội dung dạy học chúng ta triển khai thành hệ thống nhiệm vụ của thầy và trò ứng với từng bớc lên lớp bằng cách lựa chọn, soạn thảo các câu hỏi phù hợp với nội dung, mục tiêu của bài tập đọc đó
Ví dụ: Mục tiêu của bài Đàn gà mới nở (TV2-T1) chỉ dừng lại ở việc giúp
học sinh thấy đợc vẻ đẹp ngộ nghĩnh, đáng yêu của đàn gà con và tình cảm âu yếm, che chở của gà mẹ đối với gà con Từ đó học sinh có tình cảm yêu mến, thích chăm sóc gà Vì vậy nếu ta sử dụng các câu hỏi nh: “Qua đó, em thấy tình
cảm của ngời mẹ đối với ngời con nh thế nào” Để khai thác nội dung tình cảm
của ngời mẹ đối với ngời con là không hợp lý
Khi xây dựng hệ thống câu hỏi cần chú ý đến đặc điểm của từng thể loại văn bản Vì mỗi thể loại văn bản có một cách tiếp cận khác nhau Chúng tôi đã thống
kê ngữ liệu dạy tập đọc trong sách tiếng việt lớp 1, 2, 3 và thấy văn bản nghệ thuật chiếm tỷ lệ lớn hơn các thể loại thông thờng: Văn bản khoa học, truyền thông, hành chính Mỗi loại văn bản có một mục tiêu riêng Những văn bản khoa học, hành chính, công vụ, báo chí nặng về thông tin Đó là những văn bản thông thờng nh: Tự thuật; Danh sách học sinh; Mục lục sách; Thời khoá biểu; Nhắn tin; Thời gian biểu;Thông báo th viện vờn chim; Nội quy đảo khỉ; Dự báo thời tiết; Bạn có biết; Đơn xin vào đội; Cuộc họp của chữ viết Các văn bản nghệ thuật nặng về mục tiêu tự biểu diễn Những câu truyện cời nhằm mục đích chính là giải trí Còn các văn bản khác nh: Điện thoại, Bu thiếp là những văn bản nhằm mục
đích chính là thực hiện việc xác lập quan hệ Chính vì vậy, tuỳ từng thể loại văn bản để có hớng khai thác riêng, viêc xây dựng hệ thống câu hỏi phải phù hợp với
đặc trng từng thể loại văn bản
* Các văn bản thuộc thể loại thơ và văn miêu tả trữ tình không thể thiếu các câu hỏi phát hiện ra cái hay của các tín hiệu nghệ thuật Tín hiệu nghệ thuật đó là những từ giàu màu sắc biểu cảm nh các từ láy, từ đa nghĩa, những từ mang nghĩa
Trang 34là những biện phát tu từ, những hình ảnh thẩm mỹ, những cấu tứ hay, những chi tiết nghệ thuật tiêu biểu
Ví dụ: Tìm những từ ngữ chỉ màu xanh khác nhau của sông Hơng?
(Sông Hơng - TV 2-T2)
Ví dụ: Trong bài Mẹ (TV2 –T1) nhất thiết phải giải mã đợc câu thơ “Mẹ là
ngọn gió của con suốt đời” vì:
Đây là câu thơ có nhiều chất văn chơng nó về tình Mẹ vừa cụ thể vừa khái quát Do đó, ta có thể sử dụng câu hỏi:
Đánh dấu X vào ô trống trớc câu trả lời em cho là đúng
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời nghĩa là:
Mẹ ngồi quạt mát cho con suốt đời
Sự chăm sóc, tình yêu thơng của mẹ theo con suốt cả cuộc đời
Mẹ đối với con lúc nào cũng mát mẻ nh ngọn gió
* Các văn bản tự sự trình bày sự việc một cách cụ thể, chi tiết, có đầu có
đuôi Do đó khi tìm hiểu cần quan tâm đến mối quan hệ giữa các nhân vật, sự kiện, các tình tiết trong bài đọc
Ví dụ: - Đọc thầm đoạn 1 rồi khoanh tròn vào chữ cái trớc câu trả lời đúng:
Khi lớn lên, anh em trong gia đình sống với nhau nh thế nào?
a Rất hoà thuận
b Hay va chạm
c Rất đoàn kết
(Câu truyện bó đũa - TV 2-T1)
Ví dụ: Đánh dấu X trớc câu trả lời em cho là đúng:
Ngời bố biết bẻ cả bó đũa cùng một lúc là không thể nhng vẫn đố các con làm bởi vì:
Ông muốn khuyên các con: Đoàn kết thì mạnh, chia lẻ sẽ yếu
Vì không để các con nhận đợc túi tiền
Vì ông thơng các con
(Câu chuyện bó đũa - TV2 - T1)
Trang 35(Sự tích lễ hội Chử Đồng tử - TV3 -T2)
* Truyện cời phải tìm ra đợc chỗ thắt nút và những yếu tố gây cời
Ví dụ: Những chi tiết nào trong truyện làm cho em buồn cời?
(Đổi giày - TV 2 – T1)
* Các văn bản thông thờng: Khác với các văn bản văn chơng, văn bản thông thờng cung cấp những thông tin sự vật theo nghĩa hiển ngôn ngôn ngữ sử dụng trong các loại văn bản này mang tính khoa học, tính chính xác, từ thờng đợc dùng
đơn nghĩa và đợc kết cấu theo mẫu quy phạm và công thức Vì vậy, việc tìm hiểu các loại văn bản này đơn giản hơn việc tìm hiểu các văn bản nghệ thuật Với các văn bản này giáo viên cần giúp học sinh biết đợc các thông tin có trong văn bản
Ví dụ: Nội quy đảo khỉ có mấy điều?
(Nội quy đảo khỉ - TV 2 - T2)
Ví dụ: Các đoạn nói về cây gì?
3.2.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi đảm bảo sự đa dạng, phong phú về kiểu loại câu hỏi.
* Các câu hỏi phải đa dạng về nội dung, hình thức
+ Về nội dung: Ngoài các câu hỏi tìm hiểu nội dung, hình thức văn bản cần
có những câu hỏi liên hệ thực tế để tăng hứng thú học tập cho học sinh
Ví dụ: Hãy nói về cây cối ở lang, phố hay trờng em ?
a Cây cao nhất
b Cây thấp nhất
Trang 36(Bạn có biết - TV 2 – T2)
+ Về hình thức: Câu hỏi phải đợc xây dựng theo nhiều hình thức khác nhau
để tránh sự nhàm chán tăng yếu tố kích thích hng phấn t duy cho học sinh Mặt khác, nó phải phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh các lớp ở giai đoạn1, làm lôi cuốn sự chú ý của các em vào các nhiệm vụ học tập Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng các câu hỏi tự luận cần có các câu hỏi trắc nghiệm nh: Câu hỏi đúng – sai, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi ghép đôi, câu hỏi điền thế; Bên cạnh câu hỏi đóng cần
có các câu hỏi mở
- Câu hỏi tự luận: Đòi hỏi học sinh tự tìm câu trả lời và diễn tả bằng ngôn ngữ chính của mình Với những câu hỏi này, học sinh có thể bộc lộ những suy nghĩ của mình
Ví dụ: Em hiểu thế nào là ngời bạn tốt?
(Ngời bạn tốt - TV 1 – T1)
- Câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai :
Là nghững câu hỏi gồm hai câu trả lời đúng hoặc sai để học sinh lựa chọn Những câu hỏi này đơn giản, dễ dàng nhng có độ chính xác thấp do tính ngẫu nhiên cao
Ví dụ: ghi chữ Đ hoăc S vào ô trống trớc câu trả lời cho câu hỏi sau :
Những đoạn thơ nào tả cảnh gà con quây quần vui vẻ bên gà mẹ ?
- câu hỏi đối chiếu cặp đôi:
Loại câu hỏi này cho sẵn 2 nhóm đôí tợng sắp xếp tách rời nhau học sinh phải nối một đối tợng thứ nhất với đối tợng thích hợp của nhóm thứ 2
Ví dụ: Nối các từ ngữ ở cột (A) với từ ngữ ở cột (B) để tạo thành câu văn
Trang 37- Chót vót giữa trời xanh.
- Nh một tào nhà cổ kính
(Cây đa quê hơng – TV2 – T2 ).
- Câu hỏi diễn thế:
Học sinh điền vào chỗ trống theo yêu cầu cụ thể
Ví dụ: Điền các từ ngữ chỉ hoạt động của ngời chơi và hoạt động của quả cầu nói lên sự tài giỏi và khéo léo của các bạn chơi đá cầu
+ Hoạt động của ngời chơi:………
+ Hoạt động của quả cầu:………
(Cùng vui chơi – TV3 – T2 ).
- Câu hỏi có nhiều lựa chọn:
Loại câu hỏi này gồm có hai phần:
+ Phần thân: Nêu vấn đề và cách thực hiện
+Phần thông tin: nêu các câu trả lời để giải quyết vế đề Trong các câu trả lời chỉ có một câu trả lời đúng còn các câu trả lời khác đều sai Khi trả lời học sinh chỉ lựa chọn một trong các câu trả lời sẵn ở phần thông tin Loại câu hỏi này làm giảm cơ may đoán đúng cho nên có độ tin cậy cao hơn các loại khác
Ví dụ: khoanh tròn chữ cái trớc câu trả lời đúng cho câu hỏi sau:
Bố của Nai Nhỏ đồng ý cho Nai Nhỏ đi chơi xa cùng bạn vì:
a Nai bố chiều Nai Nhỏ
b Bạn của Nai Nhỏ khoẻ mạnh
c Vì bạn của Nai Nhỏ vừa thông minh, nhanh nhẹn vừa khỏe mạnh và luôn sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ ngời khác
(Bạn của Nai Nhỏ – TV2-T1)
- Câu hỏi đóng: Là những câu hỏi chỉ có một phơng án trả lời
Trang 38Ví dụ: Thấy cụ già trồng na, ngời hàng xóm khuyên cụ điều gì?
- Câu hỏi mở: là những câu hỏi mà học sinh có thể có nhiều phơng án trả lời Thông thờng những câu hỏi này gây nhiều hứng thú cho học sinh Các em tự
3.2.3 Hình thành quy trình sử dụng câu hỏi trong dạng học tập đọc ở lớp 1, 2, 3.
3.2.3.1 Yêu cầu của việc sử dụng:
* Yêu cầu đối với giáo viên
_ Câu hỏi phải kích thích đợc hứng thú tham gia của cả lớp Một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của tiết dạy là khả năng của giáo viên trong việc lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, tạo không khí sôi nổi học tập cho học sinh Vì vậy, khi sử dụng câu hỏi đòi hỏi giáo viên phải có nghệ thuật kích thích cả lớp tham gia vào quá trình suy nghĩ, trả lời câu hỏi để giải quyết các vấn
đề của bài học Trong quá trình giảng bài, việc trả lời câu hỏi không chỉ nhằm vào một số ít các học sinh khá, giỏi tích cực mà cần kích thích tất cả học sinh trả lời Tuy nhiên, tránh tình trạng coi việc trả lời câu hỏi nh một hình phạt đối với học sinh ít chú ý Làm nh vậy tạo tâm lí căng thẳng, học sinh luôn ở trạng thái lo
sợ gọi trả lời Do đó giờ học không thoải mái, tự nhiên Để học sinh có hứng thú giải quyết vấn đề thì câu hỏi đa ra không quá khó, cũng không quá dễ Nếu câu hỏi quá dễ gây ra sự nhàm chán, nếu câu hỏi quá khó, học sinh không trả lời đợc dần dần sẽ chán nản, tự ti
- Câu hỏi phải đợc diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu:
Trang 39Để học sinh hiểu đợc yêu cầu của câu hỏi và thuận lợi hơn trong việc tìm ra
đáp án thì giáo viên phải nêu câu hỏi một cách ngắn gọn, súc tích, đầy đủ về nội dung, đúng về ngữ pháp đồng thời phải có âm điệu, ngữ điệu Giáo viên cần sử dụng ngôn ngữ chuẩn, trong sáng, dễ hiểu không dùng những lời lẽ từ ngữ xa lạ với học sinh Không cần dùng kiểu câu, nửa là cầu khiến, nửa là câu hỏi Ví dụ:
Em hãy tóm tắt nội dung chính của 3 đoạn này là gì
- Số lợng câu hỏi vừa phải
Trong việc sử dụng câu hỏi cho bài học, giáo viên phải lựa chọn phù hợp, cơ bản nhất đầy đủ để làm rõ nội dung cốt lõi của bài học Tránh trờng hợp giáo viên quá lạm dụng câu hỏi biến giờ học thành giờ vấn đáp Tuy nhiên không thể ẩn
định số lợng câu hỏi cho tất cả các bài học mà tuỳ theo nội dung từng bài đặc
điểm thể loại và đặc điểm của học sinh mà giáo viên xây dụng hệ thống câu hỏi hợp lý
- Sử dụng câu hỏi phải kết hợp chặt chẽ với các phơng pháp dạy học khác
Sử dụng câu hỏi trong dạy học là những phơng pháp có nhiều u điểm nhng không phải là phơng pháp độc tôn Bên cạnh những u điểm phơng pháp dạy học này vẫn có nhợc điểm nhất định Nếu không sử dụng một cách nhuần nhuyễn cùng với các phơng pháp dạy học khác thì nó sẽ trở thành khô cứng và phản tác dụng
- Khi học sinh trả lời câu hỏi giáo viên phải chú lắng nghe Để nhận xét,
đánh giá, bổ sung Với bất kì câu trả lời nào của học sinh giáo viên cũng phải nhận xét Tuy nhiên, nhận xét nh thế nào là nghệ thuật của giáo viên, làm thế nào để học sinh không cảm thấy tự ti, chán nản khi trả lời sai và không tự mãn với những câu trả lời đúng Giáo viên phải luôn đặt ra nhiệm vụ mới để làm nảy sinh ở các em khát vọng vơn tới chiếm lĩnh tri thức, làm giàu vốn hiểu biết của mình
* Yêu cầu đối với học sinh.
Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động gắn bó chặt chẽ với nhau, tác
động qua lại đó là hoạt động dạy và hoạt động học của trò Một giờ học đạt kết
Trang 40sử dụng những phơng pháp, phơng tiện tân tiến nào mà không có sự tham gia tích cực của trò thì sẽ không có kết quả Chính vì vậy, để việc sử dụng câu hỏi trong dạy học có kết quả bên cạnh những yêu cầu đối với giáo viên, học sinh cũng phải
có những yêu cầu nhất định
- Học sinh phải có ý thức học tập tự giác, tích cực, phải chuẩn bị nghiên cứu bài ở nhà
- Học sinh tích cực, mạnh dạn tham gia giải quyết các câu hỏi, tập cách trả lời thành câu tơng đối hoàn chỉnh với vốn từ ngữ của mình
Tóm lại, để việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc có hiệu quả cao thì giáo viên và học sinh phải thực hiện những yêu cầu cơ bản trên Những yêu cầu
đó, giúp giáo viên và học sinh chủ động hơn trong quá trình dạy học
3.2.3.2 quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc lớp 1,2,3.
Trong quá trình dạy học , học sinh là nhân tố quan trọng nhất Mục đích của dạy học là học sinh sự phát triển của các em học sinh,những lợi ích của các
em Chính vì vậy chúng tôi hình thành quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc theo hớng lấy học sinh làm trung tâm, lấy lợi ích của các em làm đích và
tổ chức quá trình dạy học để các em tự tìm ra kiến thức Đồng thời chúng tôi hình thành quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc dựavào các hoạt động chính trong giờ học tập đọc Quy trình sử dụng câu hỏi trong dạy học tập đọc lớp
1, 2 , 3 của chúng tôi nh sau:
*Sử dụng câu hỏi để kiểm tra bài cũ:
Kiểm tra bài cũ, thờng sử dụng hình thức kiểm tra miệng Vì vậy, thờng sử dụng các câu hỏi tái hiện, yêu cầu học sinh nhắc lại những kiến thức đã học ở bài tập đọc trớc
Ví dụ : Khi học bài “ Bím tóc đuôi sam” có thể hỏi bài cũ:
- Em hãy đọc thuộc lòng bài thơ “ Gọi bạn”
- Vì sao Bê Vàng phải đi tìm cỏ
- Khi Bê Vàng quên đờng về, dê trắng đã làm gì?