Nhiệm vụ nghiêm cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng mô hình động để dạy học sinh học ở trường THPT; - Tìm hiểu tình hình sử dụng mô hình động trong dạy học sinh h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN THỊ THANH HỘI
VINH, 2009
Trang 2Lêi c¶m ¬n
Hoàn thành bản luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên
hướng dẫn khoa học TS Phan Thị Thanh Hội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của tập thể các Giáo sư, phó
Giáo sư, Tiến sĩ, các Nhà khoa học trong hội đồng Khoa học đã giúp đỡ tác giả hoàn
thiện và bảo vệ thành công luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn phương pháp dạy học Sinh học cùng các thầy cô giáo của khoa Sinh - trường Đại Học Vinh, đã động viên, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Xin cám ơn Ban Giám hiệu trường THPT – DTNT Tân kỳ, Ban giám đốc Sở Giáo
Dục – Đào tạo Nghệ An đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả học
tập, nghiên cứu
Xin cám ơn các bạn đồng nghiệp và các em học sinh lớp 10 trường THPT – DTNT
Tân Kỳ -Tân Kỳ - Nghệ An, trường THPT Quì Hợp I – Quì Hợp - Nghệ An và trường THPT Thái Lão - Hưng Nguyên - Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi và hợp tác cùng
tôi trong quá trình nghiên cứu.
Xin cảm ơn tất cả bạn bè, người thân đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn
Trang 3-MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục Trang
PHẦN I MỞ ĐẦU 01
PHẦN II NỘI DUNG 07
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TAÌ 07 1.1 Cơ sở lý luận 07
1.1.1.Tình hình nghiên cứu mô hình động và việc vận dụng lý thuyết mô hình động trong dạy học 07
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc thiết kế và sử dụng mô hình động trong quá trình dạy học 08
1.1.3 Bản chất và vai trò của các mô hình động 10
1.1.4 Các nguyên tắc xây dựng mô hình động trong dạy học 13
1.1.5 Phương pháp thiết kế và hiệu chỉnh mô hình động 15
1.2.Cơ sở thực tiễn ……… ……… 31
1.2.1 Thực trạng sử dụng mô hình động trong dạy và học Sinh học 10 THPT 31
1.2.2 Phân tích nội dung, cấu trúc phần kiến thức “Sinh học tế bào” - Sinh học 10 THPT ………33
Chương 2: THIẾT KẾ, SƯU TẦM, HIỆU CHỈNH VÀ SỬ DỤNG MÔ HÌNH ĐỘNG ĐỂ DẠY HỌC PHẦN KIẾN THỨC TẾ BÀO HỌC - SINH HỌC 10 THPT 43
2.1 THIẾT KẾ, SƯU TẦM VÀ HIỆU CHỈNH MÔ HÌNH ĐỘNG ĐỂ DẠY HỌC PHẦN KIẾN THỨC TẾ BÀO HỌC - SINH HỌC 10 THPT 43
2.1.1 Quy trình thiết kế, sưu tầm và hiệu chỉnh mô hình động 31
Trang 42.1.2 Hệ thống các mô hình động 47
2.2 SỬ DỤNG CÁC MÔ HÌNH ĐỘNG TRONG DẠY HỌC PHẦN TẾ BÀO HỌC SINH HỌC 10 THPT 52
2.2.1 Các phương pháp sử dụng mô hình động trong dạy 52
2.2.2.Các cách thức và quy trình sử dụng mô hình động 55
2.2.3 Thiết kế một số bài giảng theo hướng sử dụng mô hình động để thực hiện hoạt động dạy học……… ……… 59
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM …….………65
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm ……… ……… ….65
3.3 Nội dung thực nghiệm …….……… ………65
3.4 Phương pháp thực nghiệm 65
3.5 Kết quả thực nghiệm 67
3.5.1.Về mặt định lượng ……….67
3.5.2 Về mặt định tính 71
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Đề nghị ……… 76
Tài liệu tham khảo
Trang 5PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm cuối thế kỷ XX và đầu XXI, việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy ở các trường đại học và phổ thông đang được phổ biến rộng rãi CNTT được xem như là công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Thế kỷ XXI được đánh giá là thời đại của nền kinh tế tri thức và hơn thế nữa cùng với sự bùng nổ của Công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng và Khoa học công nghệ nói chung đang tác động mạnh
mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Trong bối cảnh đó, nếu muốn nền giáo dục phổ thông đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nếu muốn việc dạy học theo kịp cuộc sống, chúng ta nhất thiết phải cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh để nâng cao chất lượng đào tạo
Tuy nhiên, làm thế nào để việc ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao nhất đang là vấn đề được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm
Văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhất là chỉ thị 58 – CT/UW của Bộ chính trị ngày 07 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã chỉ ra trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về công nghệ thông tin, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ trọng tâm mà Thủ tướng chính phủ đã giao cho nghành giào dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ- TTg.Ngày 31/7, tại Hải Phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tổ chức hội nghị tổng kết năm học 2007-2008 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm học 2008-2009 Bộ GDĐT quyết định chọn chủ đề năm học 2008-2009 là "Năm học ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong ngành", tích cực nghiên cứu, đổi mới phương pháp giáo dục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
Trang 6Tuy nhiên, ứng dụng CNTT để giảng dạy còn nhiều bất cập: thiết bị thiếu, khả năng của GV kém về sử dụng máy tính, máy chiếu, đặc biệt là thiết kế các mô hình, tranh ảnh động để dạy rất khó khăn
Sinh học là môn học thực nghiệm, nó đề cập đến không chỉ các sự vật hiện tượng mà quan trọng hơn là các cơ chế, quá trình của sự sống Do vậy việc sử dụng mô hình động vào dạy học sinh học cũng sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học Mặt khác phần kiến thức sinh học tế bào thuộc chương trình Sinh học 10 THPT là phần kiến thức khá trừu tượng đối với học sinh Vì vậy để dạy phần kiến thức này cần thiết phải tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan, đặc biệt là các mô hình động Việc thiết kế và sử dụng các mô hình động sẽ giúp cho học sinh dễ tiếp thu bài học, hiểu bài một cách sâu sắc hơn, đồng thời nâng cao hứng thú học tập môn học
Do vậy, chúng tôi đã chọn đề tài “ Thiết kế và sử dụng các mô hình động để dạy
học phần sinh học tế bào, sinh học 10 THPT ”.
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng mô hình động để dạy học phần sinh học tế bào trong chương trình Sinh học 10 THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học
3 Nhiệm vụ nghiêm cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng mô hình động để dạy học sinh học ở trường THPT;
- Tìm hiểu tình hình sử dụng mô hình động trong dạy học sinh học ở trường THPT trong địa bàn tỉnh Nghệ An;
- Xác định nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng mô hình động trong phần kiến thức sinh học tế bào, Sinh học 10 – THPT;
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương trình và kế hoạch giảng dạy của phần kiến thức sinh học Tế bào 10 – THPT, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch và thiết kế một hệ thống mô hình động để dạy các bài phần sinh học tế bào, Sinh học 10 – THPT;
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của việc sử dụng mô hình động vào dạy bài mới phần Sinh học tế bào, Sinh học 10 – THPT
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Trang 7Quy trình thiết kế, sử dụng mô hình động vào dạy bài mới phần Sinh học tế bào - Sinh học 10 THPT.
6 Giả thiết khoa học
Nếu thiết kế được hệ thống các mô hình động và sử dụng hợp lý vào dạy học bài mới phần kiến thức Sinh học tế bào thuộc chương trình Sinh học 10 THPT sẽ nâng cao được chất lượng dạy và học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các văn bản Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, Bộ giáo dục - Đào tạo
về đổi mới dạy học, về ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học;
Nghiên cứu nội dung chương trình Sinh học 10 THPT và các tài liệu liên quan với các kiến thức trong chương trình này;
Nghiên cứu quy trình xây dựng mô hình động bằng phần mềm Macromedia Flash và Microsoft Office PowerPoint;
Nghiên cứu các phương pháp sử dụng mô hình động để dạy bài mới;
Và nghiên cứu các tài liệu về phương pháp giảng dạy Sinh học ở trường THPT, các công trình khoa học và tài liệu có liên quan
7.2 Phương pháp điều tra
7.2.1 Điều tra chất lượng giảng dạy của giáo viên
Tiến hành dự giờ và trao đổi với giáo viên phổ thông, thăm dò bằng phiếu test nhằm tìm hiểu thực trạng trang bị và sử dụng phương tiện dạy học trong đó có mô hình động và tìm hiểu những hiểu biết của giáo viên về phương pháp tích cực
7.2.2 Điều tra tình hình học tập của học sinh
Trang 8Tiến hành dự giờ, thăm dò bằng phiếu test, sử dụng bài kiểm tra 15 phút để xác trình
độ và lĩnh hội của học sinh
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm có đối chứng song song một số giáo án Sinh học 10 ở các trường THPT nhằm đánh giá bộ mô hình động đã thiết kế và phương pháp sử dụng chúng trong dạy học sinh học
7.4 Xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Các số liệu thu được trong thực nghiệm khảo sát và thực nghiệm sư phạm được xử
lý bằng các tham số thống kê toán học trên phần mềm Microsoft Exel Phương pháp xử lý dựa trên cơ sở phân tích cá chỉ tiêu về độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy của bài thực nghiệm
và giá trị điểm trung bình, tần suất hội tụ tiến của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
+ Giá trị trung bình X : Đặc trưng cho sự tập trung của số liệu, nhằm so sánh mức học trung bình của HS ở các nhóm thực nghiệm với đối chứng
Trong đó xi: giá trị của từng điểm số nhất định
Trang 9+ Độ lệch tiêu chuẩn: Là tham số đo mức độ phân tán của kết quả học tập của HS quang giá trị X S càng nhỏ chứng tỏ kết quả học tập của HS phân tán quang giá trị X
+ Kiểm định độ tin cậy về sự chênh lệch của 2 giá trị trung bình cộng của TN và ĐC bằng đại lượng kiểm định tdtheo công thức
TN
n
S n
− Tiến hành phân tích chất lượng bài kiểm tra của HS để thấy rõ:
− Mức độ hiểu sâu sắc và khả năng vận dụng kiến thức đã học
kiến thức, khả năng suy luận sáng tạo của HS
− Khả năng vận dụng kiến thức trong các tình huống khác nhau
− Phương pháp học tập của học sinh
8 Cấu trúc của luận văn
Đề tài được trình bày bởi 3 phần:
Trang 10• Phần II: nội dung nghiên cứu: gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: Thiết kế và sử dụng mô hình động phần kiến thức Sinh học tế bào - Sinh học 10 THPT
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
• Phần III: kết luận và kiến nghị
Bước đầu thực nghiệm để xác định giá trị của phương pháp “sử dụng mô hình động
để dạy học bài mới ” phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
Trang 11PHẦN II NỘI DUNG
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Một trong những ứng dụng quan trọng của CNTT trong dạy học là tạo các hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ nói chung là các mô hình động Ở đây cụm từ mô hình động được hiểu trong phạm vi là các mô hình được tạo ra nhờ các phần mềm chuyên dụng, các thiết bị hiện đại Sự phát triển của CNTT trên thế giới diễn ra mạnh mẽ và trở thành bùng phát nên việc sử dụng các phần mềm để tạo các mô hình động là rất nhiều
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Theo trào lưu chung của thế giới, ở Việt Nam việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng đã được thực hiện vào những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX Tuy nhiên, việc ứng dụng các công nghệ thông tin trong nhà trường hay đặc biệt hơn là trong quá trình giảng dạy hầu như chỉ mới thực hiện trong những năm đầu của thế kỷ XXI Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở Việt Nam mới đầu chỉ là sơ bộ
ở một số môn học lẻ tẻ ở các trường đại học, về sau, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục học đã bắt đầu có những nghiên cứu mang tính hệ thống hơn, và thể hiện ở nhiều các cấp
độ khác nhau, không chỉ nghiên cứu ở trong các trường đại học, cao đẳng mà còn có một
Trang 12số nghiên cứu ở các trường phổ thông từ cấp trung học xuống đến cấp tiểu học Điển hình
là một số nghiên cứu như: vấn đề lịch sử thế giới theo phương pháp dạy học hiện đại” Giải pháp đoạt giải nhì tại Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đồng Nai ,“Thiết kế và sử dụng
mô hình động trong dạy học sinh học 10 bằng phần mềm macromedia flash” của TS Nguyễn Phúc Chỉnh và Nguyễn Đình Tâm (2008) ở trường Đại học Thái Nguyên
Ở các trường ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Hà Nội II và nhiều trường ĐH khác cũng đã có những đề tài về ứng dụng CNTT trong dạy học Toán học, Lịch sử, Địa lý
Tuy nhiên, trong một khảo sát gần đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tự đánh giá cho 20 trường ĐH đầu tiên của Việt Nam, việc sử dụng công nghệ thông tin vào xây dựng chương trình học cũng như giảng dạy của các trường còn rất nhiều hạn chế mà lý do chủ yếu là chưa có các chính sách hiệu quả và chưa có sự đồng tâm từ phía các giảng viên.Hiện nay sự phát triển của CNTT đang trải rộng khắp các lĩnh vực và giáo dục cũng đang trên đà phát triển, đổi mới trong phương pháp dạy học và việc ứng dụng CNTT vào các bài dạy cũng đã trở nên phổ biến ở các trường THPT, việc đưa các mô hình động vào các bài giảng điện tử cùng ngày càng nhiều Hiện nay việc tạo và thiết kế các bài giảng được sử dụng rộng rãi đó là phần mềm Microsoft Office PowerPoint, Violet, việc sử dụng
2 phần mềm này có thể tạo ra các bài giảng với các mô hình sinh động
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc thiết kế và sử dụng mô hình động trong quá trình dạy học
Quá trình truyền thông tin trong dạy học không chỉ từ giáo viên đến học sinh mà còn truyền từ học sinh đến giáo viên (liên hệ ngược), hoặc giữa học sinh và phương tiện dạy học, hoặc giữa học sinh với học sinh Như vậy, giữa giáo viên và học sinh, giữa phương tiện dạy học với học sinh, giữa học sinh với học sinh đều có các đường (kênh) để chuyển tải thông tin đó là: Kênh thị giác (kênh hình), kênh thính giác (kênh tiếng), kênh khứu giác trong đó kênh thị giác có năng lực chuyển tải thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất
Xử lý thông tin là sử dụng các thao tác tư duy nhằm phân tích thông tin, phân loại thông tin và sắp xếp các thông tin vào những hệ thống nhất định (thiết lập mối quan hệ giữa các thông tin) Hiệu quả của những thao tác đó phụ thuộc vào chất lượng thông tin
và năng lực nhận thức của từng học sinh
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, những tri thức lý thuyết ngày càng được đưa nhiều hơn vào chương trình học tập Mặc dù vậy, việc chuyển các kiến thức lý thuyết, các cơ chế, hoặc các hình ảnh trực quan trong dạy - học vẫn là một
Trang 13vấn đề đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao kết quả nhận thức của HS và chất lượng dạy - học ở nhà trường Về bản chất, nhận thức dù ở mức độ nào cũng là sự phản ánh hiện thực khách quan vào ý thức con người, trong đó cảm giác là bậc thứ nhất trong nhận thức thế giới, là cơ sở của mọi sự hiểu biết.
Nhiều công trình nghiên cứu của Sapovalenco, Driga, Presman, Veix, Top, Tonligreria đã chứng tỏ rằng, PTTQ phải là một trong những điều kiện chủ yếu tạo nên chất lượng giảng dạy và học tập ở nhà trường Nó cũng đã, đang và sẽ mở ra những triển vọng và khả năng trong việc khắc phục những mâu thuẫn to lớn giữa sự phát triển nhảy vọt của khối lượng tri thức cần cung cấp cho HS và thời gian học tập có hạn trong nhà trường ở giai đoạn cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như ngày nay
Trong lý luận dạy học, quá trình dạy - học là một quá trình truyền thông tin bao gồm
sự lựa chọn, sắp xếp và phân phối thông tin trong một môi trường sư phạm thích hợp; sự tương tác giữa người học và các thông tin Trong bất kỳ tình huống dạy - học nào, cũng
có một thông điệp truyền đi, thông điệp đó thường là chủ đề của nội dung được dạy, cũng
có thể là các câu hỏi về nội dung cho người học, các phản hồi từ người dạy đến người học
về nhận xét đánh giá các câu trả lời hay các thông tin khác Các mô hình động được thiết
kế nhờ các phần mềm tin học chính là cầu nối truyền thông tin từ người thầy đến HS và ngược lại theo sơ đồ sau:
Mô hình động là dạng phương tiện trực quan đặc biệt, chúng được sử dụng trong quá trình dạy - học, giúp GV tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy - học Mô hình động nghiên cứu ở đây được thực hiện bởi các phần mềm tin học và được sử dụng để trình chiếu kết hợp với bài giảng điện tử và để việc sử dụng các mô hình động phát huy hiệu quả cao nhất thì GV phải biết cách kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp dạy học khác Còn đối với HS, thông qua việc quan sát các mô hình động để hình thành những tri thức, kỹ năng, thái độ và hình thành nhân cách
Các mô hình động là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học ở tất cả các khâu của quá trình dạy học Nó không thể thiếu được trong quá trình vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học cụ thể, giúp GV trình bày bài giảng một cách tinh giản nhưng đầy đủ
Phương pháp dạy học
Trang 141.1.3 Bản chất và vai trò của các mô hình động
1.1.3.1 Bản chất của mô hình động
Bản chất của mô hình và mô hình động
- Mô hình là những vật thay thế cho đối tượng nghiên cứu dưới dạng trực quan được vật chất hoá hoặc mô tả các cấu trúc, những hiện tượng, quá trình Mô hình còn cho phép
mô tả sự vật hiện tượng trong không gian ba chiều, có thể là tĩnh hay động làm cho quá trình nhận thức được đầy đủ, trực quan hơn
Theo Phan Trọng Ngọ “Mô hình là một hệ thống được hình dung trong óc hoặc được thực hiện bằng vật chất, phản ánh hay tái tạo lại đối tượng nghiên cứu nên có khả năng thay thế đối tượng đó, khiến cho việc tìm hiểu nó sẽ cung cấp cho người học những thông tin mới về đối tượng nó thay thế”[15]
Việc phân loại mô hình hiện nay chưa thống nhất, nên trong khuôn khổ luận văn chúng tôi chỉ phân loại mô hình theo hình thức của mô hình gồm có hai loại
- Mô hình cấu trúc đối tượng Trong mô hình này các dấu hiệu bản chất, các bộ phận
và mối quan hệ phổ biến giữa chúng của đối tượng phải được phản ánh một cách trực quan Vì vậy, mô hình cấu trúc là phương tiện hữu hiệu, giúp học sinh tìm hiểu bản chất
và cấu trúc của đối tượng học tập Ví dụ: Sơ đồ, biểu đồ,
- Mô hình vận động Khác với mô hình cấu trúc chủ yếu phản ánh bản chất và cấu
trúc của đối tượng tại một thời điểm nhất định nên có tính chất tĩnh tại, mô hình vận động phản ánh trực quan tính chất, quá trình và chiều hướng vận động của đối tượng Trong loại mô hình này, các đường biểu diễn không chỉ phản ánh số lượng các thành phần, mối quan hệ giữa chúng mà còn phản ánh lôgic vận động và phát triển của các đối tượng Mô hình động được thiết kế theo hai cách:
+ Cách 1: GV sử dụng mô hình có thể tháo rời ra các chi tiết Trong quá trình giảng dạy đến phần kiến thức nào thì GV cho HS ghép các chi tiết trong mô hình lại với nhau.+ Cách 2: Mô hình động được thiết kế trên các phần mềm tin học, như phần mềm Powerpoint, Macromedia Flash, Violet,
Ví dụ: Mô hình cơ chế vận chuyển chủ động, mô hình động về kỹ thuật di truyền,mô hình sự xâm nhập của virut vào trong tế bào chủ, sự xâm nhập của HIV
Mô hình hóa là phương pháp nghiên cứu bằng thực nghiệm trên mô hình của một hiện tượng (quá trình, sự vật ) thay vì nghiên cứu trực tiếp hiện tượng ấy ở dạng tự nhiên
Trang 15(“thực địa”) Vì vậy phải xây dựng mô hình sao cho những kết quả thí nghiệm trên mô hình có thể áp dụng tính toán trên thực thể “thực địa”.
Quá trình mô hình hoá bao gồm:
- Chế tạo mô hình
- Thí nghiệm trên mô hình
Đối với mô hình động được hiểu là sự chuyền tải nội dung lý thuyết, các cơ chế, các quá trình, các tranh tĩnh thành các quá trình diễn ra có tính logic và hệ thống Trong graph diễn đạt qua 2 mặt đó là mặt tĩnh và mặt động, thì ở đây mô hình động cũng có thể biễu diễn graph động
1.1.3.2 Vai trò của mô hình động
a Hiệu quả thông tin
Sinh học là một môn học nghiên cứu các đối tượng sống (đặc điểm cấu tạo, quá trình sinh lý, sinh hóa, mối quan hệ giữa các tổ chức sống với nhau và với môi trường sống) thì
sơ đồ là một kênh chuyển tải thông tin có ưu thế tuyệt đối bởi những ưu việt cơ bản sau:Ngôn ngữ sơ đồ vừa cụ thể, trực quan, chi tiết lại vừa có tính khái quát, trừu tượng
và hệ thống cao Sơ đồ hóa cũng như mô hình động cho phép tiếp cận nội dung tri thức bằng con đường logic tổng - phân - hợp, tức là cùng một lúc vừa phân tích đối tượng nhận thức thành các sự kiện, các yếu tố cấu thành lại vừa tổng hợp hệ thống hóa các sự kiện, các yếu tố đó thành một chỉnh thể thống nhất thuận lợi cho việc khái quát hóa, hình thành khái niệm khoa học - sản phẩm của tư duy lý thuyết
Sơ đồ hóa cho phép phản ánh một cách trực quan cùng một lúc mặt tĩnh và mặt động của sự vật hiện tượng theo không gian, thời gian Còn các mô hình động lại chuyển tải các kiến thức lý thuyết thành các mô hình, mô hình này có tính chất là các logic phát triển Trong dạy học Sinh học ưu việt này được khai thác một cách thuận lợi Mặt tĩnh thường phản ánh yếu tố cấu trúc, mặt động phản ánh hoạt động - chức năng sinh học của các cấu trúc đó
Qua nghiên cứu và tìm hiểu cho thấy mô hình động có thể có các vai trò chính sau:
- Có thể cung cấp kiến thức cho HS một cách chắc chắn và chính xác, như vậy nguồn tin họ thu nhận được trở nên đáng tin cậy và được nhớ lâu bền hơn
Trang 16- Làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể hơn, vì vậy tăng thêm khả năng của HS tiếp thu những sự vật, hiện tượng và những quá trình phức tạp mà bình thường HS khó nắm vững được.
- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà việc lĩnh hội kiến thức của HS lại nhanh hơn
- Giải phóng cho GV khỏi một khối lượng lớn các công việc tay chân, do đó làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy - học
- Dễ gây được cảm tình và sự chú ý của HS
- Bằng việc sử dụng các mô hình động, GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiến thức cũng như sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo của HS
b Hiệu quả phát triển năng lực nhận thức của học sinh
Hiệu quả này thể hiện rõ ở vai trò phát triển các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa ) và khả năng hình thành năng lực tự học cho HS Hiệu quả này lớn nhất khi việc sơ đồ hóa nội dung tri thức do chính học sinh tiến hành HS sử dụng ngôn ngữ sơ đồ để diễn đạt nội dung sách giáo khoa
và tài liệu đọc được Đây là quá trình gia công chuyển hóa kiến thức, bằng phép gia công biến hóa này đòi hỏi một trình độ sử dụng thao tác logic Sự gia công chuyển hóa kiến thức bằng cách thiết lập các grap và mô hình động đòi hỏi giáo viên phải là người không những giỏi về chuyên môn mà còn phải thành thạo vi tính đặc biệt là thiết kế các mô hình động
Mô hình động có thể có nhiều vai trò trong quá trình dạy - học, nó thay thế cho những hiện tượng, cơ chế, quá trình xảy ra mà GV và HS không thể tiếp cận trực tiếp được Chúng giúp cho thầy giáo phát huy tất cả các giác quan của HS trong quá trình truyền thụ tri thức, do đó giúp cho HS nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng và tái hiện được những khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất
Hiện nay việc tiếp cận và sử dụng máy tính thành thạo của các giáo viên đã góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy dạy học và tích cực ứng dụng CNTT trong dạy học, mặt khác hiện nay công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như bộ office, Cabri, Crocodile, sketchpad/Geomaster sketchpad, lessionEditor/Violet do sự phát triển của CNTT và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Vì việc thiết kế các mô hình động trong các bài dạy là phù hợp với xu thế, đáp ứng yêu cầu của sự đổi mới giáo dục
Trang 171.1.4 Các nguyên tắc xây dựng mô hình động trong dạy học
Nguyên tắc xây dựng mô hình động để dạy học là những nguyên lý, phương châm chỉ đạo việc thiết kế mô hình động Chuyển tải nội dung kiến thức lý thuyết thành các mô hình động nhờ các phần mềm tin học Quá trình đó được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
1.1.4.1 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy học
Nguyên tắc này đòi hỏi khi thiết kế mô hình động phải thống nhất được 3 thành tố
cơ bản của quá trình dạy học là mục tiêu - nội dung - phương pháp Ba thành tố này tác động qua lại với nhau một cách hữu cơ, khi giải quyết được mối quan hệ này quá trình dạy học sẽ đạt kết qua cao
Mục tiêu dạy - học là những tiêu chí về mặt nhận thức và kỹ năng phải đạt được khi thực hiện một hoạt động dạy - học, có thể là cho một bài hoặc một chương cụ thể Mục tiêu bài học được xác định chủ yếu dựa vào nội dung bài học, đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh và năng lực sư phạm của giáo viên Mục tiêu và nội dung kiến thức là cơ sở xác định phương pháp dạy học phù hợp theo hướng phát huy cao độ óc tư duy tìm tòi sáng tạo của học sinh
Để thống nhất được ba thành tố của quá trình dạy học việc thiết kế mô hình động phải trả lời được các câu hỏi
- Thiết kế mô hình động để làm gì?
- Mô hình động được thiết kế như thế nào?
- Việc thiết kế mô hình động liên quan với việc sử dụng mô hình động như thế nào?Thống nhất mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy học trong quá trình thiết kế và sử dụng mô hình động là đặt ra và trả lời được các câu hỏi trên Làm như vậy chúng ta sẽ thiết kế được những mô hình động đạt yêu cầu của nội dung một bài học không những về logic khoa học mà còn đảm bảo mục đích và cách sử dụng mô hình động đó
1.1.4.2 Nguyên tắc thống nhất giữa toàn thể và bộ phận
Mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận thực chất là tư tưởng tiếp cận cấu trúc hệ thống trong thiết kế mô hình động nếu giải quyết được mối quan hệ này tức là đã quán triệt được tư tưởng tiếp cận cấu trúc hệ thống trong thiết kế mô hình động
Quán triệt tư tưởng cấu trúc hệ thống trong việc thiết kế mô hình động để dạy học sinh học, cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Thiết kế mô hình động dạy học cho hệ thống nào?
Trang 18- Trong hệ thống có bao nhiêu yếu tố? Và đó là những yếu tố nào?
- Giữa các yếu tố trong hệ thống liên hệ với nhau như thế nào?
- Mối quan hệ của các yếu tố trong hệ thống có theo một quy luật không? Nếu có thì quy luật nào chi phối? Trong một hệ thống lớn sẽ có các hệ thống nhỏ, các hệ thống nhỏ
sẽ là yếu tố cấu trúc của hệ thống nhưng lại là hệ thống của các yếu tố cấu trúc nhỏ hơn
1.1.4.3 Nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng
Cái cụ thể là hệ thống của của toàn bộ những thuộc tính, những mặt, những quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng của sự vật hay hiện tượng khách quan Cái trừu tượng là bộ phận của cái toàn bộ, được tách ra khỏi cái toàn bộ và được cô lập với mối liên hệ với sự tương tác giữa các thuộc tính, các mặt, các quan hệ khác của cái toàn bộ ấy
Mô hình động được tạo bởi các yếu tố trừu tượng để tạo thành cái cụ thể vì vậy cần phải xác định rõ mối quan hệ giữa chúng để từ đó giúp cho chúng ta có được những mô hình như ý muốn đảm đảm được tính sư phạm của mô hình
Khi thiết kế mô hình động cần xác định rõ mối quan hệ giữa cụ thể và trừu tượng của từng đối tượng riêng biệt từ đó đề ra các giải pháp hữu hiệu
1.1.4.4 Nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học
Thống nhất giữa dạy và học trong dạy học bằng mô hình động tức là trong khâu thiết kế và sử dụng phải thể hiện rõ vai trò tổ chức, chỉ đạo của giáo viên để phát huy tính tích cực, tự lực của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức
Đối với GV, sử dụng mô hình động để truyền thụ kiến thức cho học sinh, hoặc tổ chức cho học sinh tự thiết lập các grap để rèn luyện cho HS thói quen của tính tích cực và tự lực.Đối với HS, sử dụng mô hình động để học tập như một phương tiện tư duy, qua đó hình thành những phẩm chất tư duy như: tính tích cực, tính độc lập trong suy nghĩ, trong hoạt động, trong nghiên cứu và tính tự lực tu dưỡng Qua đó, sẽ hình thành khả năng sáng tạo trong học tập và trong nghiên cứu
Để học sinh vừa nằm tri thức, vừa phát triển tư duy thông qua hoạt động dạy học bằng mô hình động cần thực hiện các định hướng sau:
- Tạo bầu không khí học tập tích cực
- Phát triển tư duy thông qua tổ chức tiếp thu và tổng hợp kiến thức
- Phát triển tư duy thông qua việc mở rộng và tinh lọc kiến thức
Trang 19- Phát triển tư duy qua việc sử dụng kiến thức có hiệu quả.
Ngoài các nguyên tắc thiết kế mô hình động trên khi thiết kế giáo viên cũng cần để
ý đến tính thẩm mỹ của các mô hình động, gam màu cũng phải phù hợp với nội dung, không nên lợi dụng quá tính chất đồ họa của phần mềm CNTT
1.1.5 Phương pháp thiết kế và hiệu chỉnh mô hình động
1.1.5.1 Phương pháp thiết kế
a Yêu cầu về phương diện phần mềm
Việc lựa chọn phần mềm hay công cụ thiết kế mô hình động đóng một vai trò quan trọng, các công cụ được lựa chọn phải đạt các tiêu chuẩn sau:
hoạt hình, văn bản… có như vậy mới có thể tạo ra những mô hình động có giá trị và mang tính sư phạm cao
b Một số phần mềm thiết kế mô hình động
Hiện nay có rất nhiều phần mềm có thể hỗ trợ việc thiết kế mô hình động, mỗi phần mềm đều có những ưu điểm và nhược riêng của nó Trong luận văn này chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng một trong 2 phần mềm để thiết kế mô hình động đó là phần mềm Macromedia Flash và phần mềm Microsoft Office PowerPoint Các phần mềm này không đòi hỏi phải lập trình bằng các ngôn ngữ bậc cao, người sử dụng không nhất thiết phải theo học lớp chính quy chuyên ngành CNTT
Phần mềm Microsoft Office PowerPoint là một trong những phần mềm của bộ office, nó là phần mềm trình diễn mạnh, linh hoạt và dễ học, chương trình có thế mạnh là làm gia tăng các chất liệu cho trình diễn có minh họa, do đó việc thiết kế các bài giảng điện tử, thiết kế các mô hình động có thể phục vụ cho học tập, xemina,…
Phần mềm Flash có ưu điểm là tạo ra những hình ảnh động cho tất cả các quá trình cần mô tả; tập tin kết xuất từ Flash hiển thị được trên hầu hết các hệ điều hành máy tính, thiết bị cầm tay, điện thoại và cả ti vi [3] Thiết kế và sử dụng mô hình động mô tả các quá trình sinh học bằng phần mềm Flash sẽ giúp học sinh dễ tiếp thu, hiểu bài một cách
Trang 20sâu sắc hơn, đồng thời nâng cao hứng thú học tập môn học, nâng cao niềm tin của học sinh vào khoa học
- Khi sử dụng Microsoft Office PowerPoint, Macromedia Flash để soạn thảo, thiết
kế mô hình động chúng tôi nhận thấy nó là chương trình mạnh, cụ thể nó có khả năng hỗ trợ quá trình dạy - học như sau:
kế các mô hình động…cho phép tạo ra một tập các slide theo cấu trúc logic của bài giảng được người soạn sắp xếp (các mô hình động sẽ được thiết kế trên một Slide hay trên nhiều Slide) Các Slide được liên kết với nhau trong một file và lần lượt xuất hiện theo một trình tự nhất định theo sự sắp xếp của người thiết kế
- Khi sử dụng mô hình động được thiết kế trên Microsoft Office PowerPoint không chỉ cho phép lưu trữ hệ thống các mô hình động của từng phần, từng môn theo từng năm mà còn cho phép cập nhật, chỉnh sửa để nâng cao chất lượng của các
mô hình đó, các bài giảng đó
dáng vẻ khác nhau, các mô hình đa màu sắc, rất đa dạng và phong phú chính vì lẽ đó mà kích thích được sự chú ý, hứng thú của học sinh tránh được tâm lý buồn chán, mệt mỏi khi phải thường xuyên làm việc với phấn trắng bảng đen
các công cụ khác để phục vụ cho việc giảng dạy các bài giảng… ngoài ra, Microsoft Office PowerPoint còn cho phép đưa các mô hình động được thiết kế từ các phần mềm khác vào sử dụng, hay đưa một đoạn video có sẵn vào để trình chiếu Ví dụ như nhúng flash vào Microsoft Office PowerPoint
động, có định thời gian, không định thời gian, như vậy khi giảng dạy sẽ giúp giáo viên khống chế được thời gian nên chủ động điều khiển quá trình dạy học
tượng sinh học có thể thao tác trên máy như đang tiến hành thí nghiệm thật từ đó đễ gây được hứng thú cho học sinh
cường khả năng nhớ, đào sâu kiến thức, phát triển tư duy, tạo sự chú ý cao độ ở học
Trang 21sinh đây chính là mục đích của quá trình dạy học trong mọi thời đại nhất là trong thời đại CNTT và truyền thông như ngày nay.
c Hướng dẫn sử dụng phần mềm để thiết kế mô hình động
I) Hướng dẫn sử dụng phần mềm Microsoft Office PowerPoint phiên bản 2003
Phần mềm MS PowerPoint là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc trình chiếu các bài thuyết trình với các chức năng như: tạo hiệu ứng cho chữ, hình ảnh minh họa, chèn âm thanh, phim tuy nhiên, vẫn còn một tùy biến mà ít người sử dụng đến đó là chức năng thiết kế các sơ đồ, mô hình động
Khi muốn thuyết trình một sơ đồ hay một nguyên lý làm việc của một hệ thống nào
đó, thay vì vẽ sơ đồ và in khổ lớn để thuyết trình thì với MS PowerPoint bạn sẽ làm cho việc thuyết trình dễ dàng hơn và người nghe tiếp cận nhanh hơn mà không cần phải dùng đến các phần mềm lập trình chuyên nghiệp rắc rối
Chuẩn bị
Máy tính cần được cài MS PowerPoint (có chung trong các bộ cài MS Office) Trước hết, vẽ mô hình cần thuyết trình trên nền MS PowerPoint hoặc chèn hình ảnh sơ đồ vào làm nền Sau khi hoàn tất phần vẽ sơ đồ, tạo mô hình thì bắt tay vào việc tạo hiệu ứng động cho sơ đồ, mô hình của mình Bấm phải chuột vào đối tượng vừa vẽ cần tạo hiệu ứng (chọn “Custom Animation”) hoặc vào menu: “Slide Show\Custom Animation” để mở bảng điều khiển
Khi bấm Add effect để chọn hiệu ứng, thay vì chọn các hiệu ứng sẵn có, có thể bấm vào More Effect bên dưới để có thể lựa chọn được nhiều hiệu ứng hơn đồng thời bấm chọn Preview trong hộp thoại để có thể xem trước hiệu ứng
Sau khi đã lấy bảng điều khiển hiệu ứng ra bên phải màn hình, căn cứ theo chuyển động của mô hình cần thuyết trình: mô hình xâm nhập của virut vào tế bào chủ, sự phân
Trang 22đôi của TB vi khuẩn từ đó sẽ chọn các hiệu ứng tương ứng bằng cách bấm vào nút “Add Effect” các hiệu ứng hỗ trợ như sau: Entrance, Emphasis, Exit và motion Paths.
Hiệu ứng Entrance tạo ra cách thức mà đối tượng sẽ xuất hiện trên Slide Hiệu ứng này bao gồm các chức năng khác nhau: các hiệu ứng cơ bản (basic) các hiệu ứng nhẹ (Subtle), vừa phải (Moderate), các hiệu ứng mạnh (Exciting)
Hiệu ứng Emphasis tạo ra các hiệu ứng thay đổi đối tượng: màu sắc đối tượng, màu nền, kích thước, các chuyển động quay, lắc đồng thời nó cũng bao gồm bốn mức độ như hiệu ứng Entrance
Hiệu ứng Exit trái ngược lại với hiệu ứng Entrance, nó tạo ra phương thức mà đối tượng sẽ biến mất trên slide, bao gồm các tính năng: làm mờ đi, chuyển động ra khỏi slide
Trang 23Hiệu ứng Motion Paths bao gồm các chức năng để tạo ra sự chuyển động cho đối tượng Chúng bao gồm các chuyển động cơ bản (basic): làm đối tượng chuyển động theo các hình vuông, lục giác, tròn, hình sao ; các chức năng chuyển động thao các đường (Lines & Curves): các đường cong, đường thẳng, dích dắc, uốn khúc ; chức năng đặc biệt (Special): chuyển động theo các hình dáng hình học phức tạp Nếu bạn muốn đối tượng chuyển động theo ý muốn thì phải chọn Draw Custom Path để vẽ đường chuyển động.
Định thời gian và thứ tự hiệu ứng cho các đối tượng
Sau khi đã tạo hiệu ứng hoàn chỉnh cho một mô hình, cần định thời gian cụ thể cho từng hiệu ứng và cách thức mà hiệu ứng sẽ xảy ra với đối tượng như sau: bấm phải chuột vào hiệu ứng đã tạo trên bảng điều khiển hiệu ứng và chọn Effect Options để mở hộp thoại điều khiển hiệu ứng Hộp thoại này bao gồm hai thẻ (Tab) là Effect và Timing
Trang 24
Thẻ Effect bao gồm chiều chuyển động của hiệu ứng (Direction), chèn âm thanh đính kèm (sound), tác động sau khi kết thúc hiệu ứng (After Animation)
Thẻ Timing dùng để định thời cho các hiệu ứng: thứ tự tiến hành hiệu ứng (Start); thời gian trễ (Delay); tốc độ; chế độ lập lại hiệu ứng (Repeat) Các bạn cũng có thể định chính xác thời gian bằng cách kéo dài hay thu ngắn thanh thời gian của hiệu ứng
Các chuyển động cơ bản trong một sơ đồ, mô hình
Trang 25Trong hàng loạt các hiệu ứng như trên của MS PowerPoint, để dễ dàng hơn trong việc
vẽ một sơ đồ, mô hình động, chúng tôi xin liệt kê ra các chuyển động hay dùng như sau:Khi muốn tạo chuyển động của một đối tượng trong một mô hình, có thể vào Add Effect\Entrance\Wipe để chọn hiệu ứng ban đầu, sau đó bấm phải chuột vào dòng hiệu ứng trên bảng quản lý bên phải, chọn Effect Options…để quy định hướng chuyển động của đối tượng ở thẻ Effect\Direction: từ bên trái (from left), từ bên phải (from Right)…; định thời gian ở thẻ Timing: khi nào đối tượng bắt đầu chuyển động (Start), nhanh hay chậm (Speed), thời gian trễ (Delay), chế độ lặp (Repeat)
Chuyển động tịnh tiến: trong các chế độ hiệu ứng MS PowerPoint chỉ hỗ trợ các chuyển động của đối tượng theo một quỹ đạo hoặc theo một hướng, còn chuyển động tịnh tiến lại bao gồm hai chuyển động là tiến và lùi (lên hoặc xuống) do đó ta cần định hướng chuyển động cho đối tượng bằng chức năng: Motion Paths\Draw Custom Path\Curve Sau
đó, vẽ một đường tới và một đường lùi (ấn và giữ phím Shift để vẽ đường thẳng, ấn phím Alt để tăng chính xác), định chế độ Repeat là Until next slide để chuyển động liên tục không bị dừng trong quá trình thuyết minh sơ đồ, mô hình động
Ngoài ra còn các chuyển động hay gặp khác như: chuyển động quả lắc: Emphasis
\Teeter; chuyển động quay quanh trục tâm: Emphasis\Spin; chuyển động tròn: Motion Paths\Circle, chuyển động bán cầu: Motion Paths\ Arc…
Tóm lại, có thể dựa theo các chuyển động như trên và ứng dụng để có thể hoàn thành một mô hình động theo ý thích của từng người
II) Hướng dẫn sử dụng phần mềm Macromedia Flash 8
Quy trình thiết kế mô hình động nhờ Macromedia Flash 8
Để có phần mềm Macromedia có thể tải từ mạng Internet hoặc mua đĩa CD từ các cơ
sở bán đĩa có bản quyền
Bước 1: Chọn màu nền
Bước 2: Tạo các hình ảnh Bitmap (hình ảnh rời rạc phục vụ cho đoạn phim)
Trang 26
Trên thẻ Name đặt tên cho Bitmap
OK Sau đó thực hiện vẽ các hình ảnh cần thiết bằng cách sử dụng các công cụ vẽ trên Tools.
Các công cụ Tools:
Bước 3: Sau khi tạo đủ các Bitmap thì nhấn chuột vào Scene để trở về giao diện
chính của vùng làm việc
Bước 4 : Tạo các Layer
Đưa chuột vào 1 Layer bất kỳ, nhấn chuột phải rồi chọn Insert Layer hoặc đưa
chuột vào biểu tượng tạo Layer mới
Selection tools (v) Di chuyển và lựa chọn Bitmap
Subselection tools (A)
Chỉnh sửa hình bằng các điểm
Trang 27( SH 10) Bước 5: Đặt tên cho Layer
Kích đúp vào Layer, chọn tên cho Layer (tên phù hợp với đối tượng hình ảnh xuất ra) → Enter
Bước 6: Tạo đoạn Frame tương ứng thời gian xuất ra.
Nhấn chuột vào Frame tương ứng với thời gian dự định xuất hình ảnh đó ra (cứ 12 Frame tương ứng với 1 giây), rồi nhấn F5
Bước 7: Làm việc trên mỗi Layer.
+ Nhấn chuột vào vị trí đầu tiên của đoạn Frame
chuột vào tên của Bitmap muốn đưa ra, gắp ra và thả vào vùng làm việc ở vị trí mong muốn trên Layer tương ứng
Tween để tạo ra sự gắn kết liên tục trong các chuyển động nhỏ của hình ảnh rồi nhấn
tượng tuỳ ý Khi đó chúng ta sẽ có một chuyển động của đối tượng đó
Chú ý: Mỗi một đối tượng chuyển động phải được đặt trên một layer Nếu các bạn
không tuân thủ điều này thì chuyển động của đối tượng này giống chuyển động của đối tượng kia
Bước 8: Xử lý hình ảnh
Trang 28Đưa chuột vào vị trí đầu của đoạn Frame, chọn vị trí và thuộc tính ban đầu cho hình ảnh trong hộp Properties, nhấn chuột vào vị trí cuối cùng của đoạn Frame chọn vị trí và
thuộc tính kế tiếp cho hình ảnh trong hộp Properties.
Với tất cả các Bitmap khác, việc xử lí hình ảnh thực hiện tương tự
Bước 9: Tạo nút điều khiển
+ Insert → Newsymbol → Button Có thể đặt tên là “Nút”.
+ Thông thường người ta đặt tên cho nút để dễ sử dụng: Play, Continue, Palyagain bằng cách viết tên rồi kéo vào hình ảnh nút
+ Đưa chuột lên Layer, nhấn F6 để chọn 4 thuộc tính Up, Over, Down, Hit
+ Để đoạn phim dừng lại khi xem xong, cần tạo một Layer cho lệnh dừng (đặt tên
là “Lệnh dừng”) Lệnh dừng và nút ở 2 Frame tương ứng trên 2 Layer
Bước 10: Kiểm tra lại đoạn phim bằng cách nhấn tổ hợp Ctrl+ Enter.
Bước 11: Tạo một File hoàn chỉnh.
File → Export → Export Movie trong ô File name đặt tên xong nhấn save.
Ví dụ: Thiết kế mô hình động “cơ chế vận chuyển chủ động”
Vận chuyển chủ động là hình thức tế bào có thể chủ động vận chuyển các chất qua màng nhờ tiêu dùng năng lượng ATP Tế bào hấp thụ nhiều phân tử ngược chiều gradien nồng độ như: đường, axit amin, một số ion (Na+, K+)…
Sau đây là quy trình thiết kế mô hình động mô phỏng cơ chế vận chuyển các phân tử đường từ nước tiểu (nơi có nồng độ đường thấp) vào máu (nơi có nồng độ đường cao)
Bước 1: Khởi động Flash 8
Bước 2: Chọn màu nền (để màu nền mặc định).
Bước 3: Tạo các hình ảnh Bitmap (hình ảnh rời rạc phục vụ cho đoạn phim).
* Tạo Bitmap màng tế bào
+ Nhấn chuột vào Insert → New symbol (Ctrl+F8)
Trên thẻ Name đặt tên cho Bitmap là màng
Trên thẻ Behavior chọn thuộc tính cho Bitmap là Graphic →OK sau đó thực hiện
vẽ các hình ảnh cần thiết bằng cách sử dụng các công cụ vẽ trên Tools.
Trang 29- Tạo các Bitmap protêin màng, phân tử glucozơ, ATP, ADP tương tự.
Bước 5: Tạo các Layer
Tạo 20 layer đặt tên lần lượt là: mang (màng tế bào), protrang (protein màng nền trắng), protein màng, co1 (phân tử glucozơ 1), ATP, ADP, co 2 (phân tử glucozơ 2), ATP, ADP, co3 (phân tử glucozơ 3), co4 (phân tử glucozơ 4), co5 (phân tử glucozơ 5), co6 (phân tử glucozơ 6), co7 (phân tử glucozơ 7), co8,9 (phân tử glucozơ 8,9), chữ (nước tiểu, máu), tiêu đề (cơ chế vận chuyển tích cực), chú thích (protein màng, gluoczơ, màng TB), nút, lệnh dừng
Bước 6: Làm việc trên mỗi Layer
- Tại Frame 1 của Layer màng ta mở thư viện (Ctrl + L) kéo màng tế bào ra
- Tương tự tại Frame 1 của các Layer protrang, protein màng, co1, co 2, co3, co4, co5, co6, co7, co89 ta kéo protêin trắng, prôtein màng, phân tử glucozơ ra
- Tại Frame 1 của các Layer chữ, tiêu đề, chú thích ta dùng công cụ Text (A) viết
các chữ: nước tiểu, máu; cơ chế vận chuyển tích cực; protein màng, glucôzơ, màng TB
Ở các Layer màng, protrang, co3, co4, co5, co6, co7, co8, 9, chữ, tiêu đề tại Frame
300 ta nhấn F6 Mục đích của thao tác này để các đối tượng trên các Layer đó luôn hiển thị đến hết đoạn phim
Trang 30Hình 2: Bố trí các đối tượng ở Frame 1
Bước 7: Tạo các chuyển động
màng.
->Layer co1/ Frame 20/ F6/ chuột phải/ Create Motion Tween/ Frame 33/ F6/ di chuyển phân tử glucozơ 1 tiến về phía gần protein màng/ Frame 45/F6 / di chuyển phân tử glucozơ khớp với protein màng/ Frame 55/ F6
glucozơ tiến về tiến về phía protein màng.
glucozơ 1 / nhấp chuột vào phân tử ATP/ Properties / Color / Alpha: 50%/ Frame 20/ chuột phải/ Create Motion Tween/ Frame 25/ F6/ nhấp chuột vào phân tử ATP/ Properties / Color / Alpha: 100%/ Frame 38/ F6/ di chuyển phân tử ATP xuống dưới phân tử glucozơ 1 / Frame 45/ F6/ di chuyển phân tử ATP xuống dưới phân tử glucozơ 1/ Frame 55/ F6
Hình 3: Hình ảnh các đối tượng ở Frame 55
Trang 31 Protein màng bắt đầu quay; phân tử glucozơ 1 và phân tử ATP cũng di chuyển theo và chuyển thành phân tử ADP.
trái/ Frame 116/ F6/ chọn công cụ Free Transform Tools và quay tiếp phân tử protein màng một góc 90o về bên phải / Frame 135/ F6
→ Layer co1/ Frame 85/ F6/ di chuyển phân tử glucozơ 1 khớp với kênh protein màng/ Frame 116/ F6/ di chuyển phân tử glucozơ 1 khớp với kênh protein màng/ Frame 125/ F6/ Frame 135/ F6/ di chuyển phân tử glucozơ sang bên phải
Khi đó, tại các Frame 85, 116 thì phân tử glucozơ 1 và phân tử protein màng chuyển động khớp nhau nhưng ở các Frame khác chúng chuyển động không khớp nhau Để điều chỉnh, rất đơn giản ta có thể làm như sau:-> Layer co1/ Frame 58/ F6/ dùng phím mũi tên
di chuyển phân tử glucozơ khớp với protein màng Với cách làm như vậy ở các Frame 63,
68, 73, 79, 91, 97, 103, 110 ta sẽ thấy chuyển động của 2 phân tử đó khớp nhau
Frame 97/ phân tử ATP/ Properties / Color / Alpha: 0% Cũng như trên, khi đó phân tử ATP chuyển động không khớp với phân tử glucozơ 1 ta làm tương tự như trên ở các Frame 63, 68, 73, 79, 91
ATP/ Frame 97/ phân tử ADP / Properties / Color / Alpha: 50%/ Frame 97/ chuột phải/ Create Motion Tween/ Frame 101/ F6/ phân tử ADP / Properties / Color / Alpha: 100%/ Frame 125/ F6/ di chuyển phân tử ADP ra ngoài bên phải/ Frame 135/ F6/ phân tử ADP / Properties / Color / Alpha: 0%
Hình 4: Hình ảnh các đối tượng ở Frame 127
Trang 32Với cách làm như vậy, các bạn sẽ làm được protein quay lại vị trí ban đầu và mang phân tử glucozơ thứ 2 từ nước tiểu qua màng vào máu từ Frame 135-> 300 (với các Layer protein màng, co2, ATP 2, ADP 2).
Để học sinh chú ý vào hiện tượng vận chuyển, các bạn nên làm cho các chú thích
Tween/ Frame 15/ F6/ chọn vào các cụm từ chú thích / Properties/ Color / Alpha: 0%
Tạo nút điều khiển bằng cách sử dụng nút nhấn có sẵn trong thư viện
- Tạo một Layer riêng đặt tên là nut
Mở menu Window/Common Libraries/ Buttons Thư viện Button sẵn có của Flash hiện ra Muốn sử dụng Button nào ta chỉ cần gắp button và thả vào góc trái của khung làm
On (release) {stop();}
File → Export → Export Movie → trong ô File name đặt tên là: Vận chyển tích
cực xong nhấn nút save.
Khi đó file xuất ra của các bạn có định dạng là Flash movie (*swf) Tuy nhiên bạn muốn
xuất ra ở định dạng khác thì bạn phải chọn trong ô save as type trước khi nhấn nút save.
Trang 331.1.5.2 Phương pháp sưu tầm và hiệu chỉnh mô hình động
a Sưu tầm mô hình động
+ Trên Internet
Đây là nguồn tài liệu về mô hình động dồi dào, phong phú, thế nhưng một số mô hình động được thiết kế còn quá sơ sài đòi hỏi phải hiệu chỉnh nhiều, có những mô hình động phản ánh nội dung kiến thức thiếu chính xác do đó trước khi sử dụng cần có sự hiệu chỉnh.+ Trên các tài liệu tập huấn
Đây là nguồn tài liệu về mô hình đã được kiểm chứng có độ tin cậy cao nhưng số lượng còn ít không phản ánh hết lượng kiến thức của sách giáo khoa và tài liệu nâng cao, một số mô hình động sử dụng được lấy từ nước ngoài nên ngôn ngữ sử dụng của nuớc ngoài đòi hỏi người hiệu chỉnh phải dịch sang tiếng Việt và hiệu chỉnh lại
Quá trình hiệu chỉnh có thể tuân theo các bước sau:
Bước 1: Xác định nội dung cần hiệu chỉnh chỉnh (dịch, làm chậm, nhanh )
Bước 2: đưa mô hình động vào một thư viện làm việc.
Bước 3: Khởi động Flash 8
Bước 4: Đưa mô hình động cần hiệu chỉnh vào vùng làm việc của phần mềm
Macromedia Flash cụ thể như sau:
Vào File → import → import → to Library → chọn mô hình động trong thư viện →
video in SWS and play in timeline → next → Finish)
Trang 34Bước 5:Tạo một số hình ảnh Bitmap nếu cần bổ sung thêm (hình ảnh rời rạc phục
vụ cho đoạn phim)
Bước 6: hiệu chỉnh mô hình động
Tùy vào nội dung cần hiệu chỉnh để hiệu chỉnh cho phù hợp (Ví dụ: làm cho tốc độ chậm lại kéo dài Frame hoặc làm tốc độ chạy nhanh thì rút ngắn Frame còn nếu cần thêm đối tưọng vào mô hình động thì thực hiên giống như quá trình thiết kế mô hình động như
đã nêu )
Bước 7: Kiểm tra lại đoạn phim bằng cách nhấn tổ hợp Ctrl+ Enter.
Bước 8: Tạo một File hoàn chỉnh.
File -> Export -> Export Movie trong ô File name đặt tên xong nhấn save.
Trang 351.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Thực trạng sử dụng mô hình động trong dạy và học Sinh học 10 THPT
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát tình hình sử dụng các phương pháp dạy học ở một số trường THPT ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Nghệ an, chúng tôi đã tổng kết ở bảng sau:
Bảng : Tình hình sử dụng các phương pháp dạy học trường THPT ở
Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh
xuyên
Không thường xuyên
Trong khi đó các phương pháp dạy học tích cực: Sơ đồ hoá, mô hình động, biểu diễn thí nghiệm, hợp tác theo nhóm có rất ít giáo viên sử dụng thường xuyên
Phương pháp dạy học sử dụng các mô hình động trong thời gian gần đây cũng được đưa vào sử dụng với tần suất cao nhưng tập trung trong các trường điểm, trường thành phố nhưng việc sử dụng vẫn chưa phát huy được hết hiệu quả vốn có của nó
Thực tế cho thấy không có một phương pháp nào là vạn năng hay là duy nhất mà phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung của từng bài, yêu cầu nhận thức và đặc điểm tâm lí
Trang 36học sinh, đôi khi người ta kết hợp nhiều phương pháp để có một phương pháp mang lại hiệu quả dạy học cao nhất.
Sử dụng mô hình động trong dạy học là một phương pháp mới và không được sử dụng thường xuyên, theo chúng tôi do những nguyên nhân sau:
- Về phía chủ quan người dạy: để sử dụng mô hình động đòi hỏi giáo viên phải nắm
vững quy trình lập mô hình động thời gian đầu tư cho bài soạn nhiều và công phu, trong khi đó giáo viên còn dành thời gian cho cuộc sống hàng ngày Mặt khác, dạy học mô hình động còn thiếu những nghiên cứu về phương pháp và biện pháp sử dụng grap, nên việc thiết kế bài soạn theo phương pháp mô hình động gặp rất nhiều khó khăn
- Về phía khách quan: trong dạy học, việc sử dụng mô hình động và thành công của
việc sử dụng phương pháp này phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tham gia thiết kế grap, tìm hiểu bài của học sinh, điều này đòi hỏi HS phải hoạt động tìm tòi độc lập trong quá trình nhận thức Mà học sinh thì đã quen với lối học thuộc lòng một cách thụ động theo vở ghi không đọc sách giáo khoa, học theo thầy một cách máy móc không chịu tư duy, suy nghĩ, không có thói quen sáng tạo chủ động trong việc tiếp thu tri thức Bên cạnh đó, để tiến hành một bài giảng theo phương pháp mô hình động cần thời gian nhiều để tiến hành đầy đủ các bước và cần những phương tiện kĩ thuật hỗ trợ Điều này mâu thuẫn với thời gian của một tiết học và cơ sở vật chất đang còn chưa đầy đủ ở các trường phổ thông như máy chiếu…Chính vì những nguyên nhân trên mà phương pháp mô hình động hiện nay còn được
sử dụng rất ít ở các trường THPT, điều này phần nào hạn chế việc nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay
Ngoài ra, theo chúng tôi còn một số nguyên nhân khác khiến phương pháp sử dụng
mô hình động còn chưa được áp dụng triệt để và chưa đạt được hiệu quả cao là do việc nắm bắt và đưa CNTT vào dạy học còn chậm, khả năng vi tính của các giáo hiện nay chưa tốt Mặt khác, hiện nay ở phần lớn các trường học trang thiết bị hiện đại để dạy học hầu như là còn ít, hoặc chưa có, có trường thì có trang thiết bị lại chưa áp dụng được vào dạy học đó là những bất cập Việc giảng dạy bằng mô hình động, sử dụng giáo án điện tử (phương tiện dạy học) hiện nay đã được nhiều giáo viên sử dụng nhưng vẫn còn là chậm
so với tiến trình đổi mới giáo dục của nước nhà
1.2.2 Phân tích nội dung, cấu trúc phần kiến thức “Sinh học tế bào” - Sinh học
10 THPT
Trang 37II Cấu trúc của
tế bào
6
Bài 7:Tế bào nhân sơBài 8:Tế bào nhân thựcBài (9+10): Tế bào nhân thực (tiếp theo)Bài 11:Vận chuyển các chất qua màng sinh chất
Bài 12: Thực hành: Thí nghiêm co và phản co
nguyên sinh Bài tập Kiểm tra 1 tiết
Tiết 6Tiết7Tiết 8Tiết 9Tiết 10
Tiết 11Tiết 12
Tiết 19
IV Phân bào
Bài 18: Chu kỳ tế bàovà qua trình nguyên phânBài 19: Giảm phân
Tiết 20Tiết 21
Trang 381.2.2.1 Tính hệ thống, tính kế thừa, tính lô gic của phần “ Sinh học tế bào” SH
10 -THPT
Chương trình sinh học THPT được xây dựng trên sự kế thừa của chương trình THPT cải cách, những kiến thức trong chương trình cơ bản đã đưa thêm kiến thức mới vào, được cấu trúc lại theo một định hướng chung về đổi mới nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Mở đầu của SH 10 là phần “Giới thiệu chung về thế giới sống” giúp cho học sinh có cái nhìn tổng quát về sinh giới Sinh giới rất đa dạng và phong phú, từ những dạng sống đơn giản và nhỏ bé nhất như vi rút (kích thước tính bằng nm) đến những dạng động vật có
vú to lớn cấu tạo cơ thể phức tạp, nhưng chúng đều có những đặc điểm chung.Tất cả các
cơ thể sống bất luận hình dạng và kích thước như thế nào, đều được cấu tạo từ tế bào Chính vì vậy sau khi học sinh có cái nhìn tổng thể về sinh giới, về cơ thể sinh vật, sinh học 10 đã đi sâu nghiên cứu về đơn vị cấu tạo nên cơ thể đó là tế bào Phần “ sinh học tế bào” giúp học sinh tìm hiểu về tế bào: Thành phần hoá học của tế bào, cấu trúc của tế bào, chuyển hoá năng lượng và sự phân bào
Phần “Sinh học tế bào” là phần kiến thức khá trừu tượng, học sinh không thể dễ dàng quan sát được, vì thế học sinh phải có tính tư duy lô gic cao Đồng thời kế thừa những hiểu biết từ các lớp dưới, về thực vật, động vật, cơ thể người, nghiên cứu những kiến thức cụ thể về những đối tượng này ở mức độ đại cương, tìm hiểu về sự phân bào, về ADN, ARN, prôtêin Vì thế phần “ Sinh học tế bào” lớp 10 có nhiệm vụ kế thừa, khái quát hoá, hệ thống hoá, những kiến thức về tế bào mà học sinh đã được học, đồng thời bổ sung những kiến thức về thành phần hoá học của tế bào, cấu trúc tế bào và nâng cao những hiểu biết về ADN, ARN, prôtêin, về sự phân bào
Chương trình “ Sinh học tế bào” có cấu trúc hệ thống cao: Từ việc tìm hiểu các thành phần hoá học của tế bào, học sinh hiểu sâu hơn về cấu trúc tế bào ( sinh vật nhân sơ
và sinh vật nhân chuẩn), sau đó sẽ đi nghiên cứu sự chuyển hoá vật chất và năng lượng trong tế bào, và cuối cùng là sự phân bào
Tế bào là đơn vị cấu tạo nên cơ thể sinh vật , chính vì vậy những nhân tố cấu tạo nên
tế bào cũng chính là nhân tố cấu tạo nên cơ thể sống, sự chuyển hoá vật chất và năng lượng trong tế bào thể hiện quá trình trao đổi chất của cơ thể, quá trình nguyên phân của
tế bào giúp cơ thể lớn lên, quá trình giảm phân của tế bào giúp cơ thể sinh sản, duy trì sự
ổn định bộ nhiễm sắc thể qua các thế hệ tế bào và thế hệ cơ thể
Trang 39Như vậy, phần “Sinh học tế bào” SH 10 - THPT thể hiện tính kế thừa, tính logic và tính hệ thống về kiến thức tế bào giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc, chặt chẽ.
1.2.2.2 Nội dung chương phần kiến thức Sinh học tế bào - Sinh học 10 THPT Nội dung chương trình SH phổ thông được bố trí theo cấu trúc đồng tâm mở rộng,
tức là chương trình THPT kế thừa và phát triển nội dung chương trình THCS ở lớp 6, HS
đã được học về SH cơ thể thực vật, vi khuẩn và nấm, đến lớp 7 được học về SH cơ thể động vật, lớp 8 là SH cơ thể người, lên lớp 9 học di truyền, biến dị và sinh thái Như vậy
ở THCS, nội dung kiến thức được trình bày theo hướng chuyên khoa của từng lĩnh vực ở bậc THPT, chương trình được trình bày theo hướng SH đại cương, gồm các cấp độ tổ chức sống từ thấp đến cao đó là SH TB, SH cơ thể, SH trên cơ thể (loài, quần thể, quần
xã, hệ sinh thái, sinh quyển) ở trong mỗi phần, nội dung kiến thức được trình bày từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ hiện tượng đến bản chất
Sinh học 10 gồm có 3 phần Phần đầu giới thiệu về tổ chức sống nhằm khái quát, hệ thống hoá nội dung kiến thức đã được học ở chương trình THCS (phần này gồm có 6 bài) Phần SHTB có 4 chương, được trình bày theo lô gích từ cấu tạo đến biểu hiện hoạt động sống Trong suốt chương trình, các hoạt động sống của TB như: trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản đều được trình bày khá chi tiết, đủ để HS vận dụng vào việc giải thích các hiện tượng xẩy ra trong thực tiễn cuộc sống Phần 3 giới thiệu về SH vi sinh vật, thực
tế đây là SH cơ thể sinh vật nhưng do có đặc thù riêng nên được tách khỏi phần SH cơ thể Phần SH vi sinh vật được trình bày trong 3 chương (gồm có 15 bài), trong đó nội dung tập trung chủ yếu vào các biểu hiện hoạt động sống của vi sinh vật (như chuyển hoá vật chất và năng lượng, sinh trưởng, sinh sản, gây bệnh, ) và các ứng dụng vào thực tiễn đời sống
Phần Sinh học tế bào, SH10 nhằm cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản,
hệ thống về cấu trúc, chức năng các thành phần tế bào của sinh vật nhân chuẩn và sinh vật nhân sơ, chuyển hoá vật chất cũng như năng lượng sinh sản của tế bào.Trong phần SHTB, nội dung kiến thức được trình bày theo lô gích đi từ cấu tạo đến hoạt động sống, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Về cấu tạo có 2 chương, chương 1 trình bày về thành phần hoá học của TB (ở ban cơ bản có 4 bài, ở ban nâng cao được trình bày thành 6 bài)
và chương 2 trình bày cấu trúc của TB (ở ban cơ bản có 6 bài, ban nâng cao có 8 bài),
Trang 40cuối chương 2 có một bài ôn tập về cấu tạo của TB Các biểu hiện hoạt động sống của TB bao gồm chuyển hoá vật chất và năng lượng được trình bày ở chương 3 (gồm có 5 bài đối với ban cơ bản, 7 bài đối với ban nâng cao) Sự sinh trưởng và sinh sản của TB được trình bày ở chương 4 (gồm có 3 bài đối với ban cơ bản, 4 bài đối với ban nâng cao) Cuối chương 4 có một bài ôn tập về nội dung của chương 3, chương 4
* Chương 1 - Thành phần hoá học của tế bào.
Chương này giới thiệu về các thành phần hoá học cơ bản của TB, bao gồm thành phần nguyên tố và thành phần hợp chất TB được cấu tạo từ khoảng 25 nguyên tố có trong tự nhiên nhưng tỷ lệ % của các nguyên tố ở trong TB không giống như ở trong tự nhiên, trong đó nguyên tố đa lượng có hàm lượng chiếm từ 10-4 trở lên còn nguyên tố vi lượng có hàm lượng dưới 10-4 Thành phần hợp chất ở trong TB có 2 loại là chất hữu cơ
và chất vô cơ
Trong TB có nhiều loại hợp chất vô cơ nhưng giáo trình chỉ trình bày loại hợp chất
vô cơ quan trọng nhất đối với sự sống - đó là nước Do cặp elestron dùng chung giữa O với H bị kéo lệch về phía O nên phân tử nước có tính phân cực (nguyên tử ôxi tích điện
δ−, nguyên tử hiđrô tích địên δ+ ) Tính phân cực đã quy định các đặc tính còn lại như dễ hoà tan các chất, có nhiệt độ bay hơi tương đối cao, dễ hình thành các liên kết hiđrô, Các đặc tính của nước quy định các chức năng của nó Ví dụ như như: dễ hoà tan các chất nên trở thành dung môi tốt, trở thành môi trường diễn ra các phản ứng hoá sinh Có nhiệt
độ bay hơi tương đối cao nên khi bay hơi làm giải phóng nhiệt dẫn tới có chức năng điều hoà nhiệt cho cơ thể Dễ hình thành các liên kết hiđrô với các phân tử phân cực khác nên
có vai trò gắn kết để bảo vệ các cấu trúc của TB, sức căng mặt ngoài lớn dẫn tới giúp nhiều loài sinh vật có khả năng di chuyển trên mặt nước, Vì vậy nên có thể nói “không
có nước thì không có sự sống”
Trong TB có nhiều loại hợp chất hữu cơ khác nhau nhưng ở chương trình SHPT chỉ nghiên cứu 4 loại đại phân tử quan trọng nhất là prôtêin, axít nuclêic, lipít và hiđratcacbon Hiđratcacbon có 3 nhóm là đường đơn, đường đôi và đường đa trong đó phải xác định được công thức tổng quát của hiđratcacbon, phân biệt điểm khác biệt về cấu tạo và chức năng giữa các loại đường đơn, đường đôi và đường đa Có 4 loại đường
đa (pôlisacarit) nhưng phải đặc biệt chú ý đến tinh bột và xenlulôzơ, HS phải phân biệt